HỌC ANH NGỮ BẰNG TIẾNG VIỆT QUA TỪ GHÉP.

(*Nếu cần, bấm hai lần vào tựa bài để mở file). 

 

HỌC ANH NGỮ BẰNG TIẾNG VIỆT VÀ NGƯỢC LẠI.

 

HỌC ANH NGỮ BẰNG TIẾNG VIỆT

QUA TỪ GHÉP.

Nguyễn Xuân Quang.

 

Ghi Chú:

 

-Dấu bằng (=) có nghĩa là liên hệ với, tương đương, gần cận nhau, giống nhau.

-Chữ trong hai gạch nghiêng / / là thanh, thinh, âm, âm vị, chỉ phát âm theo tiếng Việt hay ngoại ngữ.

-Mẫu tự trong ngoặc đơn của một từ có nghĩa là bỏ đi hay câm, ví dụ Anh ngữ cổ brus (breast), vú có b(r)u- = bú, vú (bỏ r hay r câm)….

-Dấu (*) có nghĩa là gốc tái tạo không có trong ngôn ngữ thành văn (written records).

-Tôi chỉ giới hạn vào các nghĩa gốc tương đồng và để qua bên các nghĩa phụ, nghĩa bóng bẩy, nghĩa lóng.

-Tôi dùng từ liên hệ hiểu theo nghĩa tổng quát. Còn liên hệ như thế nào không nằm trong phạm vi bài viết này (sẽ nói rõ trong tác phẩm Sự Liên Hệ Giữa Việt Ngữ và Ấn Âu Ngữ.) Chỉ xin hiểu một cách tổng quát dù là liên hệ qua môi sinh như tiếp xúc, vay mượn, qua trung gian một ngôn ngữ khác hay di truyền (DNA), ruột thịt, máu mủ thì nói chung vẫn là liên hệ. Có sự liên hệ giữa Việt ngữ và Anh ngữ thì sự liên hệ đó cũng đủ giúp ta học Anh ngữ bằng Việt ngữ một cách dễ dàng và ngược lại.

Ở đây chỉ xin rút tỉa ra một ứng dụng, một thực dụng rất hữu ích từ sự liên hệ này là ta có thể học một cách tường tận, dễ hiểu và dễ nhớ tiếng Anh nói riêng và Ấn Âu ngữ nói chung bằng tiếng Việt và ngược lại. Học Anh ngữ bằng Việt ngữ giúp những người Việt nhất là giới lớn tuổi giỏi tiếng Việt có thể dùng tiếng Việt học Anh ngữ và các thế hệ trẻ sinh đẻ ở hải ngoại và các người ngoại quốc giỏi Anh ngữ có thể dùng tiếng Anh học tiếng Việt.

-TTG = Thành Tố Ghép.

...

Từ ghép trong ngôn ngữ Việt là những từ gồm một cụm từ do hai từ trở lên ghép lại, kết hợp lại (nên cũng gọi là từ kết hợp). Từ ghép hay kết hợp có ba từ trở lên như dài lòng thòng, trong leo lẻo, đen thui thủi… Trong trường hợp chỉ có hai từ ghép lại với nhau thôi ta có thể gọi là từ kép hay từ đôi như bạc phai, mỏng dính, tối om… Tôi gọi chung là từ ghép vì ghép có nghĩa là hai (theo gh=k), ghép = kép (hai) và ghép cũng có nghĩa rộng ra chỉ nhiều thứ ghép lại với nhau.

Những từ phụ trong một từ ghép đều có thể coi là những thành tố ghép (TTG, tạo ra từ ghép). Những thành tố ghép này có âm khác với từ chính mà nó ghép với (có thể coi như là từ mẹ). TTG vì thế khác với thành tố láy. Như đã biết thành tố láy có âm là âm láy (âm lai đi) của từ mẹ. Tôi chỉ gọi là từ ghép khi những từ kết hợp lại hoàn toàn khác âm với nhau mà thôi.

 

Xin lưu tâm:

Từ láy và từ ghép dễ lầm lộn với nhau bởi vì có phần chồng lên nhau (overlapping) của hai loại tiếng này ví dụ phố phường. Ta thấy phố và phường vừa láy âm có thể coi như là hai từ láy vừa là hai từ riêng rẽ vì đứng riêng ra vẫn là hai từ phố và phường có nghĩa riêng rẽ trọn vẹn. Ở đây phố và phường cùng âm, cùng vần ph nên coi như là từ láy. Về nghĩa, thành tố ghép cũng khác. Nghĩa của thành tố ghép theo tính chất âm dương trong tiếng Việt. Có hai trường hợp. Trường hợp thứ nhất, theo âm dương tương hòa, thành tố ghép có nghĩa giống như hay gần giống như từ chính (giống như thành tố láy). Đây là trường hợp từ ghép điệp nghĩa. Ví dụ gà qué: con gà là con qué, ta có gà = qué; ăn hút: hút cũng có một nghĩa là ăn như ăn thuốc = hút thuốc; đớp hít: hít cũng có một nghĩa là đớp, là ăn như hít thuốc = hút thuốc = ăn thuốc. Trường hợp thứ hai, theo âm dương đối nghịch, thành tố ghép có nghĩa khác hay ngược với từ chính. Đây là trường hợp từ ghép nghịch nghĩa. Ví dụ nõ nường, trăng trời, đen trắng, đứng ngồi (không yên)… [đứng là dương, ngồi là âm, điểm này thấy rõ trên trống đồng những người đánh trống (trống có một nghĩa là đực tức dương như gà trống) thường ở vị thế ngồi (âm) và những người giã chầy (dương) vào cối (âm) thường đứng (dương) để cho âm dương hôn phối với nhau mang nghĩa sinh tạo…

Một trong những công dụng của từ ghép hay kết hợp là tạo ra thêm từ mới trong Việt ngữ. Sự cấu tạo thêm từ mới này có thể là lấy từ các gốc, các từ có sẵn của Việt ngữ hay lấy từ các ngôn ngữ khác. Từ mới được cho kết hợp với từ cũ đã dùng quen và biết rõ nghĩa rồi, từ mới dần dần không còn “xa lạ’, ‘khó hiểu’ và được từ cũ đi kèm bên ‘dìu dắt’ đi vào dòng ngôn ngữ Việt không một chút bỡ ngỡ. Trong trường hợp vay mượn từ ngôn ngữ khác, từ mới được từ Việt đi kèm bên dần đà được Việt hóa trở thành tiếng Việt. Từ láy và từ ghép cho thấy Việt ngữ là một ngôn ngữ đa dạng và liên hệ với nhiều ngôn ngữ. Hãy lấy một ví dụ Việt ngữ mỏng. Ta có từ láy mỏng manh với thành tố láy manh chính là Pháp ngữ mince (mỏng). Từ ghép mỏng dính có thành tố ghép dính chính là Anh ngữ thin. Theo qui luật Grimm, d=th, Đức ngữ das, die, der = Anh ngữ the, ta có dính = dín = Anh ngữ thin; từ ghép mỏng tang, mỏng tanh có thành tố ghép tang, tanh chính là Aryan Phạn ngữ tan, mỏng. Ta đã thấy từ láy mỏng manh có thành tố láy manh chính là Pháp ngữ mince. Manh biến âm với mảnh có nghĩa là mỏng, gầy như mỏng mảnh, mảnh mai và có nghĩa là gầy như mảnh khảnh giống như Anh ngữ thin có nghĩa là mỏng và cũng có nghĩa là gầy. Manh, mảnh liên hệ với Latin macer, mảnh, mảnh khảnh, mỏng. Từ ghép mảnh dẻ có thành tố ghép dẻ chính là Quan thoại ngữ (Bắc Kinh) diè có nghĩa là mỏng…

Từ ghép nhìn chung cũng hữu ích như từ láy. Ta có thể dùng từ ghép kết hợp trong công cuộc truy tìm nghĩa, nguồn gốc nghĩa của cổ ngữ Việt và ngôn ngữ loài người.

QUI LUẬT VỀ TỪ GHÉP

 

Từ ghép là những từ kết hợp với nhau theo âm dương. Có hai trường hợp:

.theo âm dương tương thuận có nghĩa như nhau hay có cùng một gốc nghĩa, tôi gọi là từ ghép điệp nghĩa.

.hoặc theo âm dương đối nghịch có nghĩa đối nghịch nhau theo âm dương, tôi gọi là từ ghép nghịch nghĩa.

Qui luật về từ ghép trong Việt ngữ của nguyễn Xuân Quang:

 

Từ ghép trong ngôn ngữ Việt là những từ gồm một cụm từ do hai từ trở lên ghép lại, kết hợp lại. Trong trường hợp chỉ có hai từ ghép lại với nhau thôi ta có thể gọi là từ kép hay từ đôi. Từ ghép có nghĩa theo âm dương. Theo âm dương tương thuận, từ ghép có nghĩa như nhau hay có cùng một gốc nghĩa, tôi gọi là từ ghép điệp nghĩa. Theo âm dương tương phản, từ ghép đối nghịch có nghĩa đối ngược nhau, tôi gọi là từ ghép nghịch nghĩa.

 

Trong Tiếng Việt Huyền Diệu, tôi đã so sánh TTG với cả ngôn ngữ loài người. Ở đây trong phạm vi bài học Anh Ngữ Bằng Tiếng Việt và Ngược Lại, tôi giới hạn vào TTG của từ ghép điệp nghĩa của Việt ngữ thấy trong Ấn Âu ngữ. Dùng từ ghép của Việt ngữ để học Anh ngữ và ngược lại. Vì phạm vi bài viết, mỗi vần chỉ xin đưa ra vài ba từ.

A

 

.Ánh sáng

TTG sáng chính là Anh ngữ shine, sáng, chiếu sáng. Shine = /sai/ = sao (sao có nghĩa là sáng, xem chữ star) = sáng. Shine ruột thịt với Phạn ngữ chand, to shine, theo ch=s, chand = sáng.

.Ao đầm

TTG đầm có gốc đa-, nước (đác là nước, sông Đà là sông Nước, Đà Lạt, Đà Nẵng… là vùng sát sông hồ nước) ruột thịt với Anh ngữ dam, đập nước, damp, ướt, ẩm ướt, ẩm thấp.

.Ẩm ướt

TTG ướt chính là Anh ngữ wet, ướt. Theo w=u (Mường ngữ wễ = uế, ô uế), ta có wet = ướt.

B

.Bạc phai

TTG phai chính là Anh ngữ fad, lạt, lợt, phai.

.theo f=ph (fỏng = phỏng), fade = phai.

.theo f=b, fad– = bạc (mầu). Ta thấy rất rõ bạc phếchbạc = phếch = fade. Phạn ngữ mlai, to fade có –lai = lạt (nhạt, nhạt phai), lợt (nhợt, nhợt nhạt).

.Bén sắc

TTG sắc chính là Anh ngữ sharp, sắc, bén, có sar– (h câm) = sắc.

.Biện bạch

Biện là lý luận như biện luậnbạch là nói, thưa như bạch thầy. TTG bạch chính là Anh ngữ speak, có một nghĩa là nói, lời nói, diễn thuyết. Theo p=b, ta có (s)peak =/pích/ = bích = bạch. Bạch, speak ruột thịt với Phạn Ngữ vach, speaking (nói vanh vách). Ta thấy rất rõ Phạn ngữ vach = bạch (v=b).

C

.Cắt xén

TTG xén chính là Anh ngữ shear, xén (như xén lông cừu, xén hàng rào cây), sắn (cắt) (như sắn ra làm đôi tức là cắt xén ra làm hai). Theo s=c=k, shear = kéo, Hy Lạp ngữ keiro, shear liên hệ với cắt, xén, kéo. Theo s=k, shear liên hệ với gốc tái tạo Ấn-Âu ngữ (Indo-European, IE) *ker-, Anh ngữ cut, Việt ngữ cắt, xẻ, sén.

.Chạm khắc

TTG khắc chính là Anh ngữ carve, khắc, chạm, đục.

.theo c=kh, carv– = khắc.

.theo c=ch, carv– = chạm.

.carve có car– = cắt.

ruột thịt với Phạn ngữ kshad, to carve, ta có kshad = khắc.

.Chợ búa

TTG búa có nghĩa là chợ nhỏ, biến âm với buôn, bản, phố, phường, mường chính là Anh ngữ burg, chỗ ở, thị xã, thị trấn, thành phố như Saint Peterburg, Strassburg, Pháp ngữ bourg như Luxembourg, Scandinavian ngữ bir, bur, chỗ ở, thành phố, Iceland ngữ byr, thành phố, ruột thịt với gốc Phạn ngữ pur-, –pura, chỗ ở, miền, thành phố như Singapura hay Singapore (Thành phố Sư Tử), Manipur. TTG búa chính là Phạn ngữ pur-.

.Cống rãnh

TTG rãnh chính là Anh ngữ drain, rãnh. Với d câm, (d)rain = rãnh hay với r câm, d(r)ain = dãnh.

D

.Dài lòng thòng

Đây là một từ ghép có ba từ. TTG lòng thòng = dài. Thòng là tiếng láy của của lòng (theo biến âm l=th) cũng có nghĩa là dài như thấy qua từ đôi dài thòng. TTG lòng có một nghĩa là dài như lòng thòng, lòng vòng. Lòng với nghĩa là ruột cũng có một nghĩa là dài thấy rõ qua Hán Việt trường là ruột như dạ trường, tiểu trường (ruột non), đại trường (ruột già) và trường cũng có nghĩa là dài như trường giang. TTG lòng biến âm với long cũng có một nghĩa là dài như đi long rongđi rong đi dài. TTG lòng và biến âm long chính là Anh ngữ long, có một nghĩa là dài, ruột thịt với gốc Ấn Âu ngữ *dloongho, dài.

.Dù ô

TTG ô ruột thịt với Anh ngữ awning, Pháp ngữ auvent, vật che nắng, che mưa, có aw-, au– = ô (dù che nắng mưa).

.Dốt đặc

dốt là ngu, tối, tối dạ. TTG đặc chính là Anh ngữ dark, tối.

 

Đ

 

.Đâm thọc

TTG thọc biến âm với thọt, thục, thúc, thụt, đục chính là Anh ngữ thrust, thúc, thọc vào, đâm bằng vật nhọn, động tác làm tình của phái nam. Ta có th(r)ust = thục, thúc, thọc. Theo th=đ, thrust = đục, đụ (đụ là do đục cắt bỏ c, Tiếng Việt Huyền Diệu). Việt ngữ thậm thụt có một hàm ý là làm tình như con đó với thằng ấy thậm thụt với nhau (thậm biến âm với đâm, thậm thụt biến âm với đâm thọc).

.Đần đụt

TTG đụt chính là Anh ngữ dud, dở, kém, ngu như I’am a dud at history (tôi là đứa ngu về sử ký), dud chính là Việt ngữ đụt (các cụ ta mắng thằng đụt, sao mày đụt thế), câu Anh ngữ vừa nói nếu hiểu theo nôm na là “tôi là một đứa đụt về sử ký”.

.Đỏ lét

TTG lét chính là Anh ngữ red, đỏ (r=l).

.Đổi trác (chác)

TTG trác hay chác chính là Anh ngữ trade, trao đổi, đổi trác. Buôn bán trade khởi đầu bằng sự đổi chác hiện vật.

G

 

.Gà qué

TTG qué phải có cùng gốc nghĩa với gà. Từ đôi gà qué với = qué. Qué biến âm với que là nọc, cọc, chỉ dương tính, bộ phận sinh dục nam. Con qué là con que, con ke. Ke chỉ bộ phận sinh dục nam (Alexandre de Rhode, Từ Điển Việt-Bồ-La). Con qué, con que, con nọc là con gà đực, gà trống.

Việt ngữ trống là chống (que nâng đỡ), chông (cọc nhọn), trống là đực, nọc (heo nọc là heo đực). Que, chống, chông, nọc (heo nọc), cọc (Quân tử có thương thì đóng cọc, Xin đừng mân mó nhựa ra tay, hay Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không, Hồ Xuân Hương) nói chung là vật nhọn biểu tượng cho bộ phận sinh dục phái nam. Gà trống biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam. Anh ngữ con cock, Pháp ngữ coq, gà trống là con cọc, con cặc. Từ cock, coq chính là Việt ngữ cọc, cặc vì thế cock còn có nghĩa là bộ phận sinh dục nam. Việt ngữ gà là con cà, con (chuyện cà kê), Hán Việt kê là gà. Kê biến âm với ke, kè, kẻ, que, qué. Cổ ngữ Việt cũng có nghĩa là gà như trói thúc kétrói ghịt cánh gà. Ta thấy rõ ke = = que = qué. Gà trống còn gọi là sống mà trống là nọc, là que thì sống cũng phải có nghĩa là nọc, que. Thật vật ta có từ ghép xương sống còn gọi là cột sống (vertebral column). Theo qui luật về từ ghép, cột sốngsống = cột. Cột là cây, là nọc, là que, là qué.

Tóm lại qué là con que, con cọc, con cock, con coq, con ke, con , con , con cột, con sống, con trống. Gà trống, gà qué biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam.

.Gan dạ

TTG dạ chính là tiền tố Hy Lạp ngữ gastro-, dạ dầy, bao tử,

gastro– có gốc Phạn ngữ gar-, dạ, túi bọc, ví dụ gastro-, dạ dầy, Phạn ngữ garbha, the womb, dạ con. Gốc Phạn ngữ gar– = jar– = dạ (xem jar-). Dạ dầy là chiếc túi đựng thức ăn. Nên biết dầy ở đây không phải là dầy mỏng. Dạ dầy không phải là chiếc túi dầy, túi mỏng. Dầy nói trại của từ đẫy là chiếc túi, bọc bằng vải. Dạ dầy là dạ đẫy, chỗ ruột giống như một chiếc túi, chiếc đẫy chứa thức ăn. Ta có một loài chim có chiếc bìu rất lớn gọi là chim già đẩy, thật ra tên nó là chim dạ đẫy tức chim có chiếc túi bìu như cái đẫy. Gốc Hy Lạp gastro– (dạ dầy) liên hệ với garjar: dạ con, túi đựng con cho thấy rõ như hai năm là mười là dạ dầy là chiếc túi đựng thức ăn, là dạ đẫy. Anh ngữ maw chỉ một chiếc túi đựng thức ăn trong dạ dầy nhiều túi của loài nhai lại. Maw liên hệ với Việt ngữ mo là cái bọc, cái bao như mo nang là cái bọc hoa cau (Mường ngữ nang là cau).

.Gặt hái

TTG hái chính là Anh ngữ harvest, hái, gặt, gặt hái, thu hoạch. Harvest có

.har– = hái, hoạch (thu).

.theo h=g (hồi = gồi), har– = gặt.

H

 

.Hôi tanh

TTG tanh chính là Anh ngữ stink, hôi tanh, hôi thối. Từ stink có thể lấy theo âm (s)tink và âm s(t)ink.

a. lấy theo âm –tink: –tink = tanh, tanh tưởi, hôi tanh.

b. lấy theo âm s(t)inh = sink = xình (thối), xác chết xình

thối, xình lầy (xình là bùn hôi thối).

.Hầu bao, hồ bao

TTG bao chính là Anh ngữ pouch, bao, bào, bọc, túi. Theo p=b, pouch = /pao/= bao (túi, bị), bào, liên hệ với Anh ngữ pocket, Pháp ngữ poche, bọc, bao, túi, bị (người Trung gọi túi áo bị). Ta có poc– = bọc.

.Hèn mọn

Hèn mọn là hèn hạ và nhỏ mọn, nhỏ nhen. TTG mọn chính là Anh ngữ mono-, một, mỗi, mọn. Mọn là ít, nhỏ; nhỏ mọn, ruột thịt với mean, nhỏ mọn, hèn hạ, đê tiện và với small, nhỏ, bé, vụn vặt, nhỏ mọn, với Đan Mạch smaa, Thụy Điển smà là small.

I

 

.Im lìm.

TTG lìm liên hệ với Anh ngữ sleep, ngủ, có –lee– liên hệ với li, hàm nghĩa ngủ như ngủ li bì tức ngủ say, với Phạn ngữ ni là ngủ, ni = li (bì), ni = nghỉ (nghỉ có một nghĩa là nằm, ngủ). Tiếng miền bắc miền Trung là ngủ:

Gió mùa thu mẹ ru con lú.

(ca dao).

Từ (biến âm với li, ni), ngủ cũng có nghĩa là mê (đánh thuốc mê đánh thuốc ngủ), mê man liên hệ với ngủ say như lú lẫn, cho ăn cháo lú. (S)leep = lịm, mê, mê man liên hệ với ngủ như nó lịm người đi. TTG lìm biến âm với lịm, li, li bì, ni, . Ngủ liên hệ với chết như an giấc ngàn thu và chết, ngủ hàm nghĩa lặng, yên, im như yên nghỉ ngàn đời. Ta cũng thấy với l câm, lìm = im.

.Ỉu thiu

như bánh mì để lâu bị ỉu thiu. TTG thiu chính là Anh ngữ stale, thiu. Stale có –tale = thiu.

 

K

.Kêu gào

TTG gào ruột thịt với Anh ngữ howl, hú, hét, gào, thét. Theo h=g, howl =/hao/ = gào. Theo g=s=sh, gào = Anh ngữ shout (/sao/), la lớn, hò hét, kêu gào.

.Ký lục

TTG lục (Hán Việt) là biên chép, ghi vào sổ như ký lục, mục lục, mạn lục, tạp lục. Lục chính là Anh ngữ log. Ngày xưa ghi lại sự việc bằng cách khắc trên cây cọc, cây nêu, thân cây, tấm ván, tấm bảng (xem Học Anh Ngữ Bằng Các Từ Vi Tính).

.Khám xét

với nghĩa là khám, TTG xét chính là Anh ngữ check, xét, soát (lục soát, kiểm soát), sát (thị sát), theo ch=x (chef = xếp), check = xét. Check, xét liên hệ với Phạn ngữ chaksk, to see và với caksus, eye.

 

L

 

.Lạnh cóng

TTG cóng ruột thịt với Anh ngữ cold, lạnh.

.Lăn lộn

TTG lộn chính là Anh ngữ roll, lăn, lộn (r=l).

.Lăn lóc

TTG lóc chính là Anh ngữ rock, lắc, lay, ruột thịt với roll như thấy qua cụm từ rock and roll và qua từ láy lăn lóc, ta có lăn = lóc = roll = rock. Ngoài ra rock còn có nghĩa là đá, cũng đi đôi với lăn lóc như thấy qua câu ca dao:

Gió đưa hòn đá lăn cù,

Con chị có thiếu thì bù con em.

và qua tên ban nhạc The Rolling Stone.

.Lừa phỉnh

TTG phỉnh chính là Anh ngữ feign:

1.phỉnh, phỉnh gạt, phỉnh phờ, giả bộ, giả vở, giả đò, làm bộ, to feign death, giả vờ chết.

2. phịa ra, bịa ra, bày chuyện, đặt chuyện.

3. giả mạo, ngụy tạo (văn kiện).

.feign = phỉnh, phờ, phỉnh phờ (theo ph=v như phành ra = vành ra, ta có phờ = vờ).

.theo f=b, feign = bịa.

.theo f=ph, feign = phịa (ra).

M

.Mập phì

TTG phì ruột thịt với Anh ngữ fat, mỡ, mập, phì.

-theo f=ph: theo mặt chữ hay theo âm Việt, fat = phát. Hai từ phát phì nếu coi là hai từ đi riêng rẽ thì phát là động từ có nghĩa là trở thành, trở nên như phát tướng, còn coi như là hai từ láy hay hai từ ghép thì ta có phát = phì. Trong trường hợp sau này ta có phát = phì = Anh ngữ fat. Ta thấy:

fat = phì (phì lũ, béo phì, mập phì, phát phì).

fat = pháp, phốp (phốp pháp).

fat = phệ (béo phệ), bụng phệ. Theo ph=x, phệ = xệ, mập trông thấy xệ ra, xã xệ là ông xã mập. Xã xệ và lý toét là ông xã mập và ông lý ốm.

-theo f=m, fat = mập, từ láy mập mạp có thành tố láy mạp = fat. Fat = mẫm (béo mẫm), mụ mẫm, bụ bẫm.

.Muông thú

Muông có một nghĩa chỉ thú vật, Mường ngữ mong, thú vật. Theo qui luật Grimm th=d (=z), TTG thú = dú =/du/ = zoo, sở thú.

.Mường bản

TTG bản, buôn biến âm với búa (chợ), phủ, phố, phường, chính là Anh ngữ burg (xem từ ghép chợ búa ở trên).

N

.Nóng hốt

TTG hốt chính là Anh ngữ hot, nóng.

.Ngọt sắc

TGG sắc cũng có nghĩa là ngọt, sắc chính là Anh ngữ sugar, Pháp ngữ sucre, Tây Ban Nha ngữ suca, đường.

.Ngọt sớt

TTG sớt chính là Anh ngữ sweet, ngọt.

.Nhẩy phốc, nhẩy phóc

TTG phốc, phóc chính là Anh ngữ frog, ếch. Con ếch có một nghĩa là con nhẩy (xem Con Cóc Là Cậu Ông Trời).

.Nhẩy tót

TTG tót chính là Anh ngữ toad, con cóc. Con cóc có một nghĩa là con nhẩy.

 

O

 

.Ốm yếu

TTG yếu chính là Anh ngữ ill, ốm, yếu, đau yếu, ill = yếu (đau yếu).

 

P

 

.Pháp luật

Pháp là phép, phép tắc, lề lối, luật lệ ruột thịt với luật như pháp đình, pháp lệ, pháp lý. TTG luật chính là Anh ngữ law, luật, lệ, lề, lối, ruột thịt với Pháp ngữ loi. Các nhà tầm nguyên ngữ học Tây phương cho rằng law liên hệ với lie, “nằm”, “laid down”, “đặt nằm xuống” hàm nghĩa “đã vạch định ra” hay “cố định”. Các tác giả này hiểu law liên hệ với lie, nằm vì cho rằng law ruột thịt với Phạn ngữ ni có nghĩa là nằm, ngủ. Việt ngữ nghỉ, nằm, ngủ cũng phát gốc từ Phạn ngữ ni. Phạn ngữ ni = nghỉ (nằm nghỉ cũng hàm nghĩa ngủ). Tuy nhiên, Phạn ngữ ni còn có thêm một nghĩa nữa (có thể là hai từ ni đồng âm dị nghĩa) là ni tấc, mực thước, kích thước như lấy ni may quần áo. Ta thấy rõ law = luật, lệ, lề (lối), Pháp ngữ loi = lối. Law loi = lề lối. Anh ngữ law, Pháp ngữ loi, Việt ngữ luật, lệ, lề (lối), nề nếp phát gốc từ Phạn ngữ ni, có thể hiểu theo Việt ngữ là ni tấc, mực thước, nề nếp, lề lối haỳ hiểu theo Tây phương nilie, nằm, đúng hơn có lẽ phải hiểu theo laidown với nghĩa là nền tảng, nền móng. Ta thấy Phạn ngữ ni với nghĩa ni tấc biến âm với nề (giấy rách phải giữ lấy nề), nề nếp, nền nếp, lề lối, lệ (lệ làng), Hán Việt (pháp lý) có vẻ hữu lý hơn là ni với nghĩa là “nằm”, nghỉ. Một lần nữa cho thấy ta có thể học Anh ngữ bằng Việt ngữ một cách tường tận hơn.

.Phí tổn

phí chính là Anh ngữ fee, phí, lệ phí, phí tổn, tốn phí, học phí, tiền công, tiền thưởng và tổn chính là Anh ngữ toll, tiền lệ phí, mãi lộ, Anh ngữ có từ toll free, miễn lệ phí, miễn lộ phí.

.Phố tỉnh

TTG tỉnh ruột thịt với Anh ngữ town, thành phố, thành thị, tỉnh, thành tỉnh, tỉnh lỵ. Theo biến âm kiểu tỉnh táo, ta có tỉnh = táo = town (/tao/). Phạn Ngữ sthâna+ka, town có –thâna- = thành (tỉnh).

 

Q

 

.Quan sát

TTG sát ruột thịt với Anh ngữ see, sát, xét, xem xét, nhìn, thấy, trông, ngó, chộ (phương ngữ Huế), thăm, nom, gặp, viếng (người nào); sát, xét, xem = see, ruột thịt với Phạn ngữ chaksk, to see, với shas, caksus, mắt.

.Què cụt

TTG cụt có nghĩa liên hệ với què như cụt chân hàm nghĩa què chân. Cụt có một nghĩa là ngắn như áo cụt, quần cụt biến âm với cộc (áo cộc, quần cộc). TTG cụt liên hệ với Anh ngữ short, Old Norse, Icelandic skorta, Old High German scurz, Latin curtus, Pháp ngữ court, Phạn ngữ krdhuh, cộc, cụt, ngắn. Short phiên âm thành soóc, soọc (quần soóc, soọc). Theo s=sh=c, short = soọc = cộc. Pháp ngữ court, Latin curtus = cụt. Đức ngữ (s)cur– = cụt.

Với nghĩa cụt là ngắn, từ ghép què cụt cho biết người què chân có một chân ngắn. Ngoài ra cụt còn liên hệ với cắt như thấy qua từ ghép cắt cụt (theo qui luật từ ghép, ta có cụt = cắt). Với nghĩa cắt này, cụt chính là Anh ngữ cut, cắt và què cụt có nghĩa là người có một chân bị cắt (cụt).

.Quê mùa.

Quê chỉ chỗ ở vùng cao đồi núi. Quê biến âm với quẻ, que, kẻ có nghĩa gốc là cây, cọc, con cọc (hươu) có một biểu tượng cho núi (Núi Trụ Chống Trời, Núi Trụ Thế Gian). Kẻ là chỗ ở và cũng chỉ người ở vùng cao, vùng núi hay thuộc tộc Hươu (Kì Dương Vương) như Kẻ Sặt (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc). Theo qui luật từ ghép đồng nghĩa, TTG mùa phải có cùng nghĩa với quê: quê = mùa. TTG mùa ruột thịt với gốc pur-, chỗ ở, phố, chợ, mường, bản buôn, búa (chợ) như Singapura hay Singapour là Thành phố Sư Tử. Quê mùa chỉ thôn dã, dân dã, mộc mạc. Ta thấy rất rõ mộc mạc ruột thịt với cây, ki, kì, kẻ, que và dĩ nhiên liên hệ với quê, quê mùa.

 

R

 

.Ràng buộc

TTG buộc chính là Anh ngữ bound, bind, buộc, bó, ruột thịt với Phạn ngữ pac, to bind, bound, theo p=b, pac = buộc.

.Rậm rật, rậm rựt

No cơm ấm cật, rậm rật tối ngày.

(tục ngữ)

rậm = Phạn Ngữ ram, làm tình (xem chữ này) biến âm với Việt ngữ đâm (đâm, đục, thục, thúc, thrust chỉ động tác làm tình), với Hán Việt dâm. TTG rật biến âm với rựt chính là Anh ngữ rut (thời kỳ động cỡn, nứng của cừu, hươu, dê đực). Rật, rựt biến âm với dật. Từ ghép rậm rật biến âm với dâm dật.

.Rực rỡ

TTG rỡ chính là Anh ngữ red, đỏ, đỏ hoe (tóc), cực tả (chính trị). Mầu đỏ gọi theo mầu mặt trời, đỏ là tỏ (sáng, mặt trời).

Red liên hệ với rực, rỡ, rạng, rạng-rỡ (liên hệ với mầu mặt trời), Nam Đảo ngữ *rara, ‘red’, Pháp ngữ rouge, đỏ có ro– = rỡ, rou– = rực (đỏ rực), rỡ (rực rỡ); russe, hung đỏ có rus– = rực. Phạn ngữ ruc, shine (rực sáng), ranj, đỏ (ranj = rạng), rohita, đỏ, liên hệ với rohit, mặt trời, có ro– = rỡ. Gốc tái tạo IndoEuropean (IE) *reudh-, đỏ.

S

.San xẻ

TTG xẻ chính là Anh ngữ share, /xe/, san xẻ, chia xẻ, chia, phân chia, phần chia, cổ phần. Theo âm /se/ = sẻ, xẻ, chia xẻ. Theo mặt chữ share = san như san ra làm hai, san sẻ.

Ngôn ngữ người Việt hải ngoại ở những vùng nói tiếng Anh có từ “se phòng” cùng nghĩa với “sẻ phòng”, “san phòng”, chia phòng.

.Sáng láng, sáng lạn

TTG láng, lạn chính là Anh ngữ light, ánh sáng, sự soi sáng, chiếu sáng, lửa (xem lighter)… Theo biến âm kiểu lai láng, ta có /lai/ = light = láng. Light, lai, láng, lạn, lửa liên hệ với Latin lux, ánh sáng, Phạn ngữ ruck, to shine, chiếu sáng, gốc Phạn ngữ ruk, luk, chiếu sáng. Gốc Phạn ngữ luk = lửa. Phạn ngữ ruck, gốc ruk = rực (rực sáng, rực rỡ, rực lửa).

.Sưng phồng

TTG phồng chính là Anh ngữ puff có một nghĩa là phồng, phùng, phình, thổi phồng (quảng cáo láo, tin láo), theo p= ph, puff = phồng.

T

 

.Thăm viếng

TTG viếng ruột thịt với gốc Anh ngữ vid-, vis– (tiền tố Latin), viếng, xem, nhìn ví dụ như video, vis-à-vis, visit, view, vân vân. Video có tiền tố vid-, viếng, xem.

.vid-, vis- = viếng (xem).

.theo v=m, vid-, vis = mắt.

.view, nhìn, xem, mục, viếng, cảnh, liên hệ với Pháp ngữ vue, voir, Latin videre, Tây Nha ngữ ver, gốc Phạn ngữ wid, to see, observe, to know (thấy là biết), IE *weid, see. Ta có view = viếng = vọng (Hán Việt), lầu vọng nguyệt là lầu nhìn, ngắm trăng.

.Thề thốt

TTG thốt chính là Anh ngữ talk, nói như thốt ra lời.

.Thù hận

TTG hận chính là Pháp ngữ haine, Anh ngữ hate.

 

U

 

.Úa héo

TTG héo chính là Anh ngữ wilt, héo tàn. Theo w=h, (Mường ngữ wễ lan = huệ lan), wil– = héo. Theo w=u (Mường ngữ wể = uế, ô uế), wil– = úa.

.Uốn cong

TTG cong chính là Anh ngữ curve, cong, đường cong, quẹo.

.curve có curv– = cong, cong cớn, ruột thịt với Phạn ngữ krunch, to curve có k(r)unc- = cong, với gốc tái tạo PIE *ker-/*k’or-/*k’r, to twist, vặn, to turn, bẻ quẹo, to bend, uốn cong…

.Ướt sũng

TTG sũng chính là Anh ngữ soak, sũng nước, thấm, nhúng, ngâm, đẫm nước, sấp (nước, nhúng nước như bánh tráng sấp nước).

 

V

 

.Vang động

TTG động ghép với vang (tiếng) liên hệ với tiếng, âm thanh. TTG động chính là Anh ngữ tone, Pháp ngữ ton, tiếng, âm, âm điệu, thanh, thanh điệu, thinh. Theo t=đ, tone = ton = động = đổng, đông đổng (nói), Phù Đổng là ông tạo ra tiếng động và nổi dông nổi gió tức ông Sấm Dông (Ca Dao Tục Ngữ, Tinh Hoa Dân Việt).

.Vá mạng

TTG mạng chính là Anh ngữ mend, mạng, ruột thịt với gốc Phạn ngữ wa, wad, wadh, wi, to bind, plait, weave. Phạn ngữ wa = vá và wi = víu (nhíu), ta có từ đôi vá víu. Mạng và vá họ hàng với nhau.

.Vùi dập

Có nghĩa đen là vùi lấp (theo d=l, dập = lấp), chôn, thường dùng với nghĩa bóng chỉ sự phá hoại đời phụ nữ như vùi dập đời hoa. Với nghĩa sau này, TTG dập có nghĩa là giao hợp. Theo d=l, dập = lắp, giao hợp (Alexandre de Rhodes, từ điển Việt Bồ La), theo d=t, dập = Anh ngữ tup (cho thú đực nhẩy cái như cừu đực nhẩy cái chẳng hạn). TTG dập chính là Anh ngữ tup (tupped, tupping).

 

X

 

.Xa lìa

TTG lìa chính là Anh ngữ leave, rời bỏ, lìa bỏ, phân ly, ly khai. Ta có leave = /li/ = ly (Hán Việt) như ly hương (rời bỏ quê hương), ly cách, chia ly, ly khai.

.lea- = lìa, lìa bỏ, lìa xa.

.lea- = lơi (bỏ lơi), theo l=r, lea- = lơi = rời.

.Xanh mét

TTG mét biến âm của vert có nghĩa là cây xanh trong rừng, mầu ve, mầu xanh ve, ruột thịt với verdancy, mầu xanh của cây cỏ. Mầu ve phiên âm Pháp ngữ vert, Tây Ban Nha ngữ verde, Latin viridis, màu xanh lá cây, liên hệ với cổ ngữ Anh wise, mầm, cọng cây. Theo v=m, vert-, verd– = mét (xanh) như xanh mét, tái mét, men mét (hơi xanh). Theo v=b, verd-, vert = biếc (xanh) như mắt biếc.

.Xoay vần

TTG vần chính là Anh ngữ vert, có nghĩa là:

1. vần (vần là xoay như vần tảng đá, vần xoay, chuyển vần), vặn, xoay, quay, xoay, trở hướng, đổi, chuyển hướng, nhìn qua.

2. người bỏ đạo, trở đạo (bỏ đạo này qua đạo khác).

Latin versus, vặn, quay, trở, đường đi, hàng lối. Versus quá khứ phân từ của vertere, vặn, quay, trở, liên hệ với gốc Phạn ngữ wart, war, to turn. Ta thấy rất rõ Phạn ngữ war– = vần

.vertver– = vần (xoay), vẹo, vặn (qua).

.theo v=qu, ver– = quẹo (qua).

.theo v=qu=c=s=x, ver– = xoay.

Y

 

.Yêu quái

quái có một nghĩa là quỉ quái, quỉ quyệt. Với nghĩa này, TTG quái liên hệ với Anh ngữ weird, kỳ quái, quái dị. Theo w=qu (Mường ngữ wál = quá, nhọc wál = nhọc quá), ta có wei– = quái.

 

 

 

 

 

 

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: