HỌC ANH NGỮ BẰNG TỪ LÁY TRONG VIỆT NGỮ.

(*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).

 

HỌC ANH NGỮ BẰNG TIẾNG VIỆT VÀ NGƯỢC LẠI.

HỌC ANH NGỮ BẰNG TỪ LÁY TRONG

VIỆT NGỮ.

(phần 2 và hết).

Nguyễn Xuân Quang

 

 

N

.Nói năng

Nói chung là nói.

TTL năng = nói.

Theo qui luật L là dạng nam hóa hay dạng dương của N (Tiếng Việt Huyền Diệu), ta có năng = lăng = cổ ngữ Việt lãn là lưỡi như lãn heolưỡi heo (G. Hue) = Pháp ngữ langue, lưỡi, tiếng nói, ngôn ngữ = Anh ngữ language, tiếng nói, ngôn ngữ. Ngôn ngữ liên hệ với lưỡi nên Anh ngữ language còn gọi là tongue, lưỡi.

Tóm lại TTL năng = nói = lăng = lãn (lưỡi) = langue = language.

 

.Nằng nặc.

 

Nói dai, đòi cho bằng được, eo xèo, cằn nhằn, cãi nhau.

TTL nặc = nằng.

Nằng biến âm với năng với nghĩa là nói như trên đã thấy qua từ nói năng.

TTL nặc = Mường ngữ nặc nặc, nằng nặc = Anh ngữ nag, nagging, eo xèo, rầy rà, cự nự, cằn nhằn, cãi nhau.

Tóm lại TTL nặc = nằng = năng (nói) = Anh ngữ nag.

 

.Nhỏ nhít

 

Nhỏ, bé, con.

TTL nhít = nhỏ. Nhít là nhỏ như viết chữ lít nhít.

.TTL nhít = nhí (kép nhí, đào nhí) = Hán Việt nhi, trẻ con.

Theo nh=l như nhanh = lanh, nhít = lít = Anh ngữ little, nhỏ, bé, con con.

Tóm lại TTL nhít = nhỏ = lít = Anh ngữ little.

O

.Óc ách

 

tiếng nước kêu.

TTL ách = óc.

clip_image002clip_image002[1]Óc biến âm với ốc, loài sống dưới nước, cũng có nghĩa là nước như ốc đảo (oasis) có nghĩa là “đảo nước” trong sa mạc. Oasisoa-, liên hệ với oa là con ốc và cũng có nghĩa là nước. Bà Nữ Oa có đuôi rắn thuộc dòng Nước và theo truyền thuyết bà có một khuôn mặt là con sò có hai cái ngà tức loài ốc, bào ngư thái dương (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Đối chiếu với chữ nòng nọc, từ Oa có O và A. O có gốc từ chữ nòng O trong chữ viết nòng nọc. Dưới dạng thái âm O có một nghĩa là nước như thấy rõ qua show O ở khách sạn Bellagio ở Las Vegas là một show về Nước, O là phiên âm của Pháp ngữ Eau, nước. Oa có A và A có một dạng là nọc mũi mác (chữ A dạng là A dân dã “rustic capitals”) có gốc từ chữ nọc mũi mác /\, có nghĩa là nọc, dương, mặt trời, lửa trời mà Dan Brown trong The Da Vinci Code gọi là blade và cho là “a rufimentary phallus

(dương vật nguyên sơ). Tóm lại A có nghĩa là nọc, đực, dương, bộ phân sinh dục nam, thái dương, mặt trời (xem bài viết The Da Vinci Code và Chữ Nòng Nọc Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á trên khoahoc.net). Hai cái ngà của bà Nữ Oa là hai cái nọc tương đương với chữ A dạng rustic capitals = nọc mũi mác, răng cưa, blade, theo Dịch ta lấy nghĩa thái dương. Bà là O Nước Thái Dương A nên tên là OA. O là Mụ là Mẹ. Nữ Oa là O, Mẹ Nước Thái Dương. Vị thần Mặt Trời Nước Osiris của Ai Cập cổ tương đương với Mặt Trời Nước Lạc Long Quân, Osiris có Os– = ốc = nước (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

TTL ách, có nghĩa là nước = ếch, con vật sống dưới nước = Phạn ngữ ak-, aka, nước = gốc aqua-, nước như Tây Ban Nha ngữ aqua, nước, Anh ngữ aquatic, thuộc về nước.

Tóm lại ách = óc = ốc = Phạn ngữ ak-, aka = gốc aqua-, nước = Anh ngữ aquatic, thuộc về nước.

 

.Óng ả

Sáng, lóng lánh.

Óng biến âm với ánh như thấy qua từ ghép óng ánh nghĩa là óng = ánh. Ánh là sáng, là ánh mặt trời, lửa trời.

Theo duy dương ở đây, cũng có nghĩa như óng, ánh, ta thấy = á có nghĩa là ánh sáng, mặt trời, lửa như châu Á là châu lửa, châu ánh sáng, châu phía mặt trời mọc. Ả liên hệ với A, clip_image004 (chữ A dạng rustic capitals) như trên đã biết có nghĩa là nọc, dương, mặt trời, lửa trời, ánh sáng. Hầu hết các tia sáng của mặt trời trên trống đồng âm dương Đông Sơn đều có hình nọc mũi mác /\ này.

Tóm lại TTL = óng = mẫu tự (A) = nọc mũi mác /\ = ánh (sáng).

.Om om

 

Như đã thấy om om biến âm với âm âm (theo Dịch lý những gì tối tăm mang âm tính), với um um (xem dưới).

PH

 

.Phành phạch

tiếng gió hay tiếng quạt (quạt là tạo ra gió) liên hệ với phần phật (gió).

TTL phạch = phành.

.theo ph = f= b=v (như phành = banh = vành), phành = fan, quạt = Mường ngữ phán (phướn), một dạng cổ của cờ dùng trong các lễ hội, tang ma = Anh ngữ banner (phướn, phán). Ta thấy rất rõ cờ phướn, cờ phán, banner ruột thịt với quạt fan, liên hệ với gió. Tất cả liên hệ với Phạn Ngữ vát, to fan (quạt), vâta, gió. Bà Hồ Xuân Hương trong bài thơ Vịnh Cái Quạt có hai câu:

Phành ra ba góc da còn méo,

Xếp lại đôi bên thịt vẫn thừa.

Bà quả thật là một thiên tài đã dùng từ phành thật là tuyệt vời vì ngoài nghĩa vành ra, banh ra còn hàm nghĩa phành phạch liên hệ với quạt, với fan.

TTL phạch = Anh ngữ flag (cờ). Ta cũng thấy phất, phật trong phất phới, phất phơ, phần phật = flag.

Tương tự phần phậtphần = fanphật = flag cũng liên hệ với gió.

Tóm lại TTL phạch = phành = fan = flag = phán (phướn) = banner = Phạn ngữ vát (to fan), liên hệ với gió, Phạn ngữ vâta, gió.

.Phì phà phì phèo

 

thở ra khói, thả ra khói như phì phà điếu thuốc.

TTL phà = phì.

Ta có phì là thở, thổi ra khói phun ra như thở phì phì, phun phì phìphà cũng có nghĩa tương tự như phà khói thuốc, phà hơi độc… nói chung là các nguyên âm đều biến âm với nhau được: phì phà, phì phào, phì phè, phì phèo, phì phò, phì phù, phù phù đều cùng gốc nghĩa liên hệ với thở, thổi, phun ra hơi…

Cũng nên biết Anh ngữ respiration, thở, hô hấp, tiếng cổ là spirit, Latin spirare, thở đẻ ra từ respiration có tiền tố re-, và theo p=ph, pir– = phì (phì phà, phì phèo), phì phì (thở).

TTL phà = Anh ngữ fart, đánh hơi, đánh rắm, Trung Nam nói là địt = Phạn ngữ pard (to fart), Hy Lạp ngữ là perdo, Old High German là ferzan. Việt ngữ có từ phá thối nếu hiểu theo nghĩa thô tục thì gần cận với từ phà thối (Tiếng Việt Huyền Diệu). Ở đây ta có thể dùng Việt ngữ phà ra hơi, đánh hơi để hiểu ngọn ngành Anh ngữ to fart là phà ra hơi.

Việt ngữ phổi, Hán Việt phế (phổi, phế là cơ quan hô hấp) cũng liên hệ với phì phì, phì phà, phì phèo

Tóm lại TTL phà = phì = phổi, phế = Anh ngữ respiration = Anh ngữ fart = Phạn ngữ pard (to fart) = Hy Lạp ngữ perdo = Old High German ferzan.

.Phù phù

từ láy này có TTL láy giống như từ mẹ thuộc loại phân sinh một tách ra làm hai.

Phù liên hệ với thở, gió dông như thở phù phù, Phù Đổng thiên vương là ông thánh sấm dông gió, cửa Thần Phù là nơi có sóng to gió lớn. Phù ngoài nghĩa trên có thêm nghĩa liên hệ với phồng, sưng như sưng phù, phù thũng.

Ta có phù = Anh ngữ puff với các nghĩa chính:

.hơi thở, thở, hơi thổi ra, có puff = phù (thở phù phù), phì phà, phì phèo liên hệ với thở, với phổi (xem pulmonary).

Anh ngữ pulmonary, Pháp ngữ poumon, phổi, phế , theo p=ph, có pu-, pou– (phát âm là pu-, phu-) = phù, phồng (thở phập phồng) = phà, phì, phèo… liên hệ tới hơi, thở. Phổi là cơn quan thở phù phù… Việt ngữ phèo thường hiểu là lòng như phèo heo nhưng thật ra theo qui tắc của từ láy ở đây ta thấy qua từ láy phèo phổi ta có phèo = phổi.

.phồng, phùng, phình, puff = phồng.

.thổi phồng (quảng cáo láo, loan tin láo), puff = phồng (thổi).

Theo ph= fl, TTL phù liên hệ với Anh ngữ flue, ống khói, ống thông hơi, ống dẫn hơi và với flute, ống sáo, ông tiêu (ống dùng để thổi vào tạo ra tiếng).

Tóm lại TLL phù = từ mẹ phù = phèo = phổi = Hán Việt phế = Anh ngữ pulmonary = Pháp ngữ poumon = Anh ngữ puff, liên hệ với Anh ngữ flue, flute.

 

.Phèn phẹt

chẹt bẹt, dẹp bè bè (thường nói về mặt).

TTL phẹt = phèn.

Phèn phẹt có gốc nghĩa là phẳng, bằng, mỏng, phèn biến âm với phên (tấm mỏng) như cái phên tre, với phiến (miếng mỏng) như phiến đá, với phẳng, phản (tấm gỗ để nằm). Theo ph=b (phỏng = bỏng), phèn phẹt = bèn bẹt (bằng). Bèn biến âm với bàn, bản, bằng. Bẹt biến âm với bẹp.

TTL phẹt = Anh ngữ flat, phẳng, bằng.

.flat = phẳng.

.theo fl=b, có flat =/flét/ = bẹt, bẹp, theo phát âm tiếng Việt flat = /flát/ = bằng.

.flat có –lat = /-lét/ = lét (mỏng) = lép, dẹp lép và theo phát âm tiếng Việt –lat = /lát/ = lát (miếng mỏng).

.theo l=d, có -lat = /lét/ = dẹt, dẹp và theo phát âm tiếng Việt , –lat– = /lát/ = dát (làm mỏng) như dát mỏng.

Tóm lại TTL phẹt = phèn = Anh ngữ flat = phẳng = bằng, bẹt, bẹp, lát, lét (mỏng), lép (dẹp), dẹp.

Q

.Quàng quáng

nhanh như quàng lên kẻo trễ = nhanh lên kẻo trễ, quàng tay lên nào = nhanh tay lên nào, làm nhanh cho xong như làm quáng làm quàng cho xong, làm quếnh quáng, làm qua loa (làm sơ sài lấy nhanh cho xong).

TTL quáng = quàng = Anh ngữ quick.

.từ láy quàng quạc, nhanh có quàng = quạc = quick.

.quick = quít, qua từ ghép cuống quit, ta có cuống = quít = quick.

.theo qu =k như quốn = kuốn, quick = kịp, kíp như cần kíp, liên hệ với Hán Việt cấp (khẩn cấp, cấp tốc, cấp cứu).

Tóm lại TTL quáng = quàng = quít = kíp = Anh ngữ quick.

.Quảng quát

Biến âm với khoảng khoát, thông thoáng, thoáng khí, rộng rãi và có nhiều không khí, gió

Theo qu=v (quấn = vấn), quảng (khoảng) = Anh ngữ vast, khoảng khoát, rộng lớn, mênh mông. TTL quát biến âm với quạt. Theo qu=v, quát = quạt = Phạn ngữ vâta, gió. Ta cũng thấy Phạn ngữ vát, quạt = Anh ngữ van (quạt lớn để quạt sẩy lúa) = fan (quạt) = vane, chong chóng quay theo chiều gió để định hướng gió = vent, lỗ thông hơi cho thông thoáng = Pháp ngữ vent = gió.

Tóm lại, TTL quát = quạt = quảng = Anh ngữ vast = Phạn ngữ vát, quạt, vâta, gió. Quảng quát, khoảng khoát liên với gió, không

khí.

.Quay quồng

 

ngày nay viết là quay cuồng, là chuyển động vòng tròn rất nhanh làm cho có cảm giác chóng mặt.

Theo q=c=g, quồng = cuồng = guồng. Guồng là một thứ bánh xe quay tròn như guồng nước, guồng chỉ, guồng máy. Quay guồng = quay cuồng.

Theo qu=c=g=vv, TTL quồng, cuồng, guồng liên hệ với các vật có bánh xe quay hay xoay tròn như Anh ngữ wheel (bánh xe, xoay, xoay tròn, quay tròn), whirl (xoáy, xoay, quay tròn), whorl (xoáy ốc, hoa tay hình xoáy ốc), tất cả liên hệ với gốc chung hwarb hàm nghĩa quay tròn. Theo h=w=qu (bà hóa = Mường ngữ wá = quả phụ), hwarb = quay = cuồng = guồng.

Tóm lại TTL quồng = cuồng = quay = (liên hệ với) Anh ngữ whirl, whorl, wheel.

R

.Rậm rật, Rậm rựt

 

Rậm rật, rậm rựt là trạng thái động tình.

No cơm ấm cật, rậm rật tối ngày.

(tục ngữ)

TTL rật, rựt = rậm.

1. Rậm rật, rậm rựt biến âm với dâm dật.

.rậm = Phạn Ngữ ram có một nghĩa là làm tìnhnằm. Nằm cũng có nghĩa là làm tình như ăn nằm.

Anh ngữ ram ruột thịt với Phạn ngữ ram. Anh ngữ ram có những nghĩa sau này:

1.cừu đực chưa thiến, cừu nọc, đôi khi cũng chỉ dê núi đực. Thật ra nhìn chung chung, ram chỉ chung loài thú có sừng mang dương tính biểu tượng cho nọc, đực.

2.mũi nhọn (của tầu); chầy, vồ. Mũi nhọn, chầy… đều có nghĩa liên hệ tới đực, nọc.

3.đóng cọc. Có một nghĩa làm tình như Quân tử có thương thì đóng cọc, Hồ Xuân Hương.

4. đâm vào (to ram a car, đâm vào một chiếc xe). Đâm vào, thọc thụt = thrust là động tác làm tình.

Tất cả những nghĩa của Anh ngữ ram như cừu, dê đực, nọc, vật nhọn, đóng cọc, đâm, đục, thọc, thụt (thrust)… đều hàm nghĩa nọc, cọc, bộ phận sinh dục đực, làm tình. Theo r=d = đ như rứa = Mường ngữ dửa = đó, ta có ram = dâm = đâm.

Con cừu nọc, con dê nọc núi, con ram biểu tượng cho dương, nọc, cho đâm, cho dâm. Con cừu, dê nọc có khả năng dập, phủ, nhẩy cái cả một đàn cừu cái mỗi ngày. Con dê đứng ở hàng thứ 35 trong trò chơi thai đề nên có máu dâm, máu ram, máu dê gọi là máu 35. Các cung phi ngày xưa có nàng một đời chưa được thấy mặt vua một lần nên phải dùng lá dâu để dụ xe dê của vua:

Xe dê nọ rắc lá dâu mới vào.

(Ôn Như Hầu, Cung Oán Ngâm Khúc)

Tại sao chúng ta gọi là con dê? Theo biến âm kiểu dầm dề, suy ra biến âm với dâm, đâm. Rõ ràng con dê nọc là con đâm, (con dâm) con ram. Con dê có tên Hán Việt là con dương. Dương là đực, là nọc (heo nọc = heo đực), là mặt trời. Trong nhiều nền văn hóa, dê đực dùng làm biểu tượng cho mặt trời như Ai cập chẳng hạn. Từ goat cũng có nghĩa như ram. Theo g=c, goat = /gốt/ =

cột, cọc. Cột, cọc là nọc, là đực, là dương, là dê, biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam. Cũng nên biết con goat thường được dùng làm vật tế thần cột vào Cột Tế Thần, Cây Trụ Tế, mang hình bóng của Trục Vũ Trụ để cúng dâng lên Ba Cõi Tam Thế, có lẽ vì vậy mà tên nó mới dính dáng tới Cột [Thân trống đồng âm dương Đông Sơn là Trục Vũ Trụ nên trên đó thường thấy nhiều hình bò mộng, tương đương với goat, dưới một diện, các con vật này cũng có thể là những con vật tế thần, hy sinh, (xem chương Thế Giới Loài Vật Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á trong Giải Đọc Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á, đang in)]. Về sau goat (cột) có thêm nghĩa là scapegoat với scape có một nghĩa là thân cột, cột. Con dê cột vào Cột Tế Thần dùng làm vật tế thần, chịu tất cả tội lỗi cho người khác, được giáo sĩ thả ra sau khi làm lễ hay giết tế thần. Về sau có nghĩa bóng chỉ người chịu tất cả tội lỗi cho người khác và chỉ người, vật hy sinh.

Tại sao chúng ta gọi con ram là con cừu, con trừu? Cừu biến âm với cừ là cây cọc cắm ở bờ nước (ăn khớp với nghĩa đóng cọc của ram), cừ là (cọc đóng ở bờ nước) biến âm với kẻ (cọc nhỏ như thước kẻ), với gốc Hy Lạp ngữ kera-, sừng (như keratoma, cắt màng sừng mắt). Con cừu là còn cừ, con , con “đóng cọc”, con kera-, con sừng, con cọc, con chọc, con đâm, con ram. Tương tự con trừu biến âm với trừ, trự, trử, chử, trụ. Hán Việt Chử biến âm của cừ, cọc đóng ở bờ nước. Nhân vật Chử Đồng Tử là Cậu Bé Sống Bên Bờ Nước. Cậu bé Chử ruột thịt với cừ, cừu, trừu (cậu bé boy có “bòi”, có cọc, Pháp ngữ garçongar– = gạc, sừng, cọc nhọn, theo g=c, gạc = cặc) sống bên bờ nước = cọc cắm bên bờ nước = cừ, cừu, Chử, trừu. Con trừu là con trụ, con cột, con cọc, con chọc, con đâm, con ram.

Ở đây một lần nữa cho thấy Việt ngữ giúp tìm hiểu nguyên nghĩa ngữ của Anh ngữ đến nơi đến chốn.

2. rật, rựt, dật = Anh ngữ rut (thời kỳ động cỡn, động đực, nứng của con thú đực như cừu, dê, hươu đực).

Tóm lại TTL rật, rựt = Anh ngữ rut = Việt ngữ rậm = dâm = Anh ngữ ram, con thú đực = Phạn ngữ ram, làm tình.

.Rực rỡ

 

TTL rỡ = rực.

rực, rỡ, rạng, rạng-rỡ liên hệ với red, đỏ. Qua từ ghép đỏ rực, ta có rực = đỏ và rực sáng, ta có rực = sáng, tỏ. Rực liên hệ với mầu đỏ, mầu tỏ, tỏ rạng của mặt trời, với Nam Đảo ngữ *rara, ‘red’, Pháp ngữ rouge, đỏ có ro– = rỡ (rực rỡ), rou– = rực (đỏ rực), với russe, hung đỏ có rus– = rực, với Phạn ngữ ruc, shine (chiếu sáng, rực sáng), ranj, đỏ, rạng, rohita, đỏ, liên hệ với rohit, mặt trời, có ro– = rỡ. Gốc tái tạo Indo-European (IE) *reudh-, đỏ.

Tóm lại TTL rỡ = rực = Phạn ngữ ruc, shine (chiếu sáng, rực sáng) = rohita, đỏ = rohit, mặt trời = gốc tái tạo Ấn Âu ngữ Indo-European (IE) *reudh-, đỏ.

.Rầm rầm

Tiếng động lớn và liên tục.

TTL láy rầm = từ gốc rầm.

Rầm = Anh ngữ rumble, tiếng động rầm rầm, ầm ầm như tiếng sấm, tiếng động đất, tiếng xe chậy, tiếng sôi ruột.

rumble có rum– = rầm, với r câm, rầm = ầm, rầm rầm = ầmrầm.

Tóm lại TTL rầm = từ mẹ rầm = Anh ngữ rumble.

S

 

.Sối sả

Nước trút xuống như mưa sối sả.

TTL sả = sối.

Từ sối là đổ nước như sối nước, theo s=g (hàng sáo = hàng gạo), sối = gội.

TTL sả liên hệ với gốc chữ sa– ruột thịt với Phạn ngữ sara-, saras, nước. Sả liên hệ với nước như sả nước, sối sả, chim sả… Chim sả là chim “sống vì nước” là chim bói cá, thằng chài, phí thúy “nào lên rừng đào mỏ, nào xuống biển mò châu, nào hố bẫy hươu nai, nào lưới dò chim sả” (Nguyễn Trãi, Bình Ngô Đại Cáo). Theo s=ch=tr. Sả = trả. Chim sả là chim trả:

Con chim tra trả, ai vay mà trả,

Bụi gai sưng, ai vả mà sưng.

Đấy người dưng, đây cũng người dưng,

Cớ chi nước mắt cứ rưng rưng nhỏ hoài.

(Hò Miền Nam).

Cỏ sả (lemon grass) có nghĩa là cỏ nước vì dùng để đun nước làm trà, tắm gội và dùng làm gia vị nấu ăn. Lúa sạlúa nước, lúa mọc ngoi lên theo mực nước dâng cao hàng ngày…

Anh ngữ sea, biển liên hệ với sả, Phạn ngữ sara.

Tóm lại TTL sả = sối = Anh ngữ sea = Phạn ngữ sara-, saras, liên hệ với nước.

 

.Sài sể

mắng mỏ thường đi kèm với hình phạt.

TTL sể = sài.

Từ sài có nghĩa là dùng, làm biến âm với sai (sai bảo, sai khiến) cũng có nghĩa là làm, làm việc nặng để hành hạ như khổ sai (làm việc cực khổ, việc nặng), kẻ hầu hạ sai bảo. Như thế TTL sể = sài = làm, làm việc nặng, sai bảo.

TTL sể = sài = gốc chữ Anh ngữ -ser-, serv-, đẻ ra các từ serve, service, servant… có nghĩa là làm, sự, vụ, sự việc, dịch vụ, hầu hạ, phục dịch, ở đợ = Phạn ngữ sev, to serve, hầu hạ, phục dịch, ở (to inhabit) hàm nghĩa ở đợ = Phạn ngữ sevâ, service, dịch vụ, phục dịch = Phạn ngữ sevin, serving, dwelling (ở), liên hệ với gốc Phạn ngữ sar, to protect, bảo vệ, to keep, gìn giữ, to preserve, tồn giữ, make safe, giữ an toàn, chăm sóc.

.ser- = sể, xể, từ kép sài sể, xài xể có nghĩa là mắng chửi nhưng gốc là mắng chửi kèm theo hình phạt bắt làm việc cực khổ.

.serv- = sâu, xâu, Hán Việt sưu như đi làm xâu, Hán Việt sưu là công việc dân phải làm để phục dịch cho nhà nước như trốn xâu lậu thuế, sưu dịch, sưu cao thuế nặng.

.ser- = seo, (anh seo, anh sá). Seo, còn gọi là mõ. Mõ là người hầu hạ, phục dịch làng xóm, thường đi rao tin: “mõ này cả tiếng lại dài hơi”, theo m=b, mõ = , người hẩu lớn tuổi như bõ già.

.ser- = sai có nghĩa là bắt làm như sai bảo, sai làm, khổ sai; người sai bảo tức người làm, đứa ở, đầy tớ, nô lệ.

.ser-= sài (dùng làm việc).

.ser- = sãi, người làm, tôi tớ. Người làm công, làm mướn, phục dịch cũng gọi là sãi như thấy qua câu:

 

Thứ nhất là quản voi già,

Thứ nhì trầu miếng (bán lẻ), thứ ba sãi đò.

(ca dao.)

Sãi đò là người phu chèo đò, làm công chèo đò. Sãi biến âm với sai (sai bảo, sai làm), sài (dùng làm việc). Tôi của chúa (chỉ các giáo sĩ, tu sĩ, bà phước v.v…), những người phục dịch, tôi tớ của Phật cũng gọi là sãi như sãi chùa là người làm công (quả) ở chùa: Con vua thì lại làm vua, Con sãi ở chùa lại quét lá đa (ca dao). Trong Thiên Chúa giáo, sãi là bầy tôi của Chúa. Trong Thánh mẫu Thiên Chúa, trung quyển của Girolamo Maiorica, trang 38 (chữ Nôm thế kỷ 17) có câu “Các thánh tổ tông kính duệ vị la sãi. . . dỗ mệnh” tương ứng với “các thánh tổ tông kính dái (vái) vì là thầy dậy dỗ mình”. Ta thấy sãi Chúa dịch là thầy (tức thầy tu). Thái Lan ngữ chai là servant. Theo ch=s, chai = sãi, sai (bảo).

.theo s=ch, sev-, serv- = cheo. Việt ngữ cheo là tiền phạt cho làng, nếu không có tiền thì phải làm xâu cho làng cũng có thể có nguồn gốc ở đây. Tương tự từ sêu như sêu tết là đem quà cáp biếu nhà vợ, nguyên thủy có thể là vào dịp lễ tết người rể tương lai phải đến nhà vợ hầu hạ, phục dịch làm xâu. Sau đó dùng quà biếu thay cho phục dịch, làm xâu gọi là sêu. Từ đôi biếu sén có biếu = sén với sén biến âm với sev-, serv. Biếu sén có nghĩa là biếu quà và phục dịch.

.ser– = săn, sóc, săn sóc = chăn sóc = chăm sóc, liên hệ với gốc Phạn ngữ sar, to protect, gìn giữ, chăm sóc, có sar = săn, sóc.

.ser– = sửa (chữa), xem chữ service.

Tóm lại TTL sể = sài = gốc Anh ngữ -ser-, serv– (serve, service, servant) = Phạn ngữ sev, to serve, hầu hạ, phục dịch, sai bảo.

.Súc sắc

hột súc sắc (tào cáo) (dice) là hột lúc lắc.

TTL sắc = súc.

TTL sắc = Anh ngữ shake, lúc lắc, lắc lư, lay động, lung lay, rung, rung rinh, run, bắt tay (thường lắc tay nhau).

Từ súc = shook, dạng quá khứ của shake.

.shook= súc = sóc, xóc (lắc) như xe xóc, xóc dĩa, xóc bài. Theo biến âm kiểu xốc xếch ta có sóc, xóc = shake.

.shook, shake = xốc xếch như quần áo xốc xếch (nghĩa lệch): hàm nghĩa tụt lên tụt xuống cùng gốc nghĩa với lúc lắc, súc sắc, xóc lên xóc xuống (làm cho xốc xếch).

Tóm lại TTL sắc = súc = Anh ngữ shake = shook.

T

.Tắm táp

Nói chung là tắm.

TTL táp = tắm.

TTL táp chính là Anh ngữ tap, vòi nước, liên hệ với tub, bồn tắm. Tắm cần dùng tới vòi nước tap hay bồn tub.

 

Tóm lại TTL táp = tắm = Anh ngữ tap = Anh ngữ tub.

 

.Tối tăm

 

Rất tối, tối đặc.

TTL tăm = tối.

.theo t=đ, TTL tăm = đêm. Đêm có nghĩa là tối, đêm tối, tối đêm.

.tăm = Phạn Ngữ támas-, darkness có tam– = tăm.

.TTL tăm = gốc tái tạo Tiền-Ấn Âu ngữ PIE *tem/*tam/*tm, dark, darkness (Bombard, A.R. p.207, No 51).

Tóm lại TTL tăm = tối = đêm = Phạn Ngữ támas-, darkness = gốc tái tạo Tiền-Ấn Âu ngữ PIE *tem/*tam/*tm, dark, darkness.

 

.Thật thà

là ngay thẳng, thẳng thắn.

TTL thà = thật.

.TTL thà liên hệ với gốc tái tạo Ấn Âu ngữ IE *sta, stand, đứng, theo t=th, có –tand = thẳng, thắn (thẳng thắn).

.TTL thà ruột thịt với Phạn ngữ sthá, đứng, gốc Phạn ngữ sta, đứng, stak, stag, đứng vững chắc, Phạn ngữ sthâ-, sthal, to stand có –thâ = thà, –thal = thẳng, thắn.

Ta thấy rất rõ đứng thẳng là ngay thẳng, thẳng thắn, thành thật vì thế mà loài tre đứng thẳng nhất (fastuola bambusa) gọi là quân tử trúc (tre quân tử). Loài tre này dù mưa gió làm ngả nghiêng vẫn mọc ngay thẳng trở lại giống như người quân tử bị những kẻ tiểu nhân làm hại vẫn sống một đời chính trực.

Tóm lại TTL thà = thật = gốc tái tạo Ấn Âu ngữ IE *sta, stand = Phạn ngữ sthá, đứng, đứng thẳng, thẳng thắn.

U

.Uốn éo

uốn khúc cong queo.

TTL éo = uốn.

Từ uốn là cong liên hệ với Anh ngữ worm, sâu, giun, trùn. Theo w=u, wormwor– = uor- = uốn (éo), thấy rõ nhất qua từ Latin uermis, a worm, có uer– = uốn, éo. Pháp ngữ vers, con sâu, có ver- = éo, uốn. Trong nhiều ngôn ngữ cổ Ấn-Âu worm cũng có nghĩa là rắncon sâu không có chân là những con rắn tí hon, bằng chứng là sâu có gốc sa– cùng âm với , xà, rắn. Sâu và rắn là con uốn éo.

Cũng nên biết là từ Lạc trong tên Lạc Long Quân viết với bộ trãi với trãi có nghĩa là con sâu không có chân nên Lạc Long Quân có bản thể là loài rắn nước vì thế Rồng Lạc Long Quân là Rồng Rắn, Rồng Nước. Kiểm chứng lại ta cũng thấy theo tr=d, trãi = dải, con dải có một nghĩa là con rắn nước. Xin các nhà làm văn hóa Việt Nam ghi tâm nhớ điều này (ví dụ nếu quí vị có làm hình rồng để ở chiếc cổng vòm ở Little Saigon thì xin để Rồng Rắn, Rồng Nước Lạc Long Quân xin đừng để rồng Trung Hoa). Những con rồng đời Lý, Trần, Lê có thân uốn éo như rắn mới thật sự là rồng Lạc Long Quân.

TTL éo biến âm với eo cũng có nghĩa là cong như trái bầu bí bị eo là bị cong queo.

TTL éo, eo liên hệ với Anh ngữ ell, đơn vị đo chiều dài, phần lớn là đo vải. Ell là chiều dài của cung tay (bow của elbow) từ đầu cùi chỏ đến đầu ngón tay chỏ. Ell ruột thịt với el- của elbow, khuỷu tay, cùi chỏ, cùi tay. Trong Ấn-Âu ngữ elbow thường mang ý nghĩa eo, queo, quẹo, cong. Trong Việt ngữ cũng vậy. Từ khuỷu có nghĩa là cong, quẹo như khúc khuỷu. Khuỷu liên hệ với khoẻo, khoèo, khoeo, kheo có nghĩa là cong queo, quẹo, quèo (kh=qu), eo, ẹo, éo, uốn éo (kh, qu câm). Khuỷu ta là eo tay. Cổ ngữ Việt khoeo, kheo cũng có nghĩa là đầu gối (tương đương với khuỷu tay) như thấy qua câu tục ngữ “cầy chạm vó, bừa mó kheo”. Cái cầy phải mắc vừa chạm vó chân, còn bừa thì vừa chạm kheo (đầu gối) thì trâu bò mới di chuyển dễ dàng khi đi cầy bừa. Khúc, khủyu, ruột thịt với Phạn ngữ kurpata (u có dấu mũ ^), elbow. Rõ ràng kurpa– = khúc = khuỷu = cong, cung.

Ta có TTL eo (eo tay) = el- = gốc tái tạo Ấn Âu ngữ IE *el-, *ele-, eo, cong.

Chữ “eo-lờ” L liên hệ với Việt ngữ eo mang hình ảnh của khuỷu tay elbow để thẳng góc. Những chỗ nối ống dẫn chất lỏng, chất khí có hình chữ L cũng gọi là elbow.

Tóm lại TTL éo = eo = uốn = Anh ngữ ell = el(bow) = gốc tái tạo Ấn Âu ngữ IE *el-, *ele-, eo, cong.

.Ướt át

nói chung trạng thái ướt.

TTL át = ướt.

Từ ướt = Anh ngữ wet, ướt. Theo w=u, wet = uet = ướt.

TTL át chính là Phạn ngữ addrà, ướt phát xuất từ gốc Phạn ngữ ak-, aka, nước = gốc aqua-, nước.

Tóm lại TTL át = ướt = Anh ngữ wet, ướt = gốc aqua-, nước = Phạn ngữ addrà, ướt = gốc Phạn ngữ ak-, aka, nước.

.Um um

Như đã thấy um um = âm âm = êm êm = im im = om om.

Um là tối như tối um, um biến âm rõ nhất với om như tối om. Um có gốc u, có một nghĩa là tối, bị che tối như u tối, u u minh minh. Om có gốc nòng O trong chữ nòng nọc có một nghĩa là âm (như trời âm âm là trời có mây che, âm u), đen tối (nước thái âm có mầu đen). O = ô (vật che cho mát, cho rợp), ô cũng có nghĩa là tối đen như ngựa ô là ngựa đen. Ô, dù là vật che cho có bóng mát.

TTL um = từ mẹ um.

um, om (tối um, tối om) = Pháp ngữ ombre, bóng tối, bóng mát, bóng dâm = Anh ngữ umbel, umbella, chùm hoa hình tán, hình ô, dù = umbra, umbrage, bóng, bóng mát, che bóng = umbrella, ô, dù. Tất cả có um- = um = om = âm = ô (dù).

Tóm lại TTL um = từ mẹ um = om = u (tối) = o, ô = Pháp ngữ ombre = Anh ngữ umbra, umbrage = umbrella. Tất cả có nghĩa là tối, bóng tối, bóng mát, che sáng, che nắng.

V

.Vanh vách

nói lưu loát, thuộc làu.

TTL vách = vanh.

Theo v=b, từ vanh biến âm với ban như ban lệnh, vua ban rằng, với bàn như bàn luận với biện như biện hộ, hùng biện; theo b=ph, ban = phán. Ban, bàn, biện, phán là những hình thức nói. Vanh = Phạn Ngữ varh, bark, nói.

TTL vách = vạch, vạch ra (nói toạc ra) = Phạn ngữ vach, to speak, vâch, speaking, vachas, speech, gốc Aryan-Phạn ngữ wak, to speak.

Theo v=b, vách = bạch như biện bạch, bạch thầy. Theo v=m (man, màn = vạn), vách = mách (nói lại,) mách lẻo, mách bảo (chỉ báo).

TTL vách = Anh ngữ vocal, thuộc về phát âm, tiếng nói, thanh, âm = Anh ngữ voice, tiếng nói. Theo biến âm kiểu róc rách, ta có voc(al) = vách.

Tóm lại TTL vách = bạch = mách = vanh = ban, bàn, biện = phán = gốc Anh ngữ vocal = voice = Phạn Ngữ varh, bark, nói = Phạn ngữ vach, to speak, vâch, speaking, vachas, speech = gốc Aryan-Phạn ngữ wak, to speak.

.Vòng vèo

quanh co, uốn khúc.

TTL vèo = vòng.

Từ vòng có một nghĩa là cong như cong vòng như thế vèo cũng phải có nghĩa là cong. Nếu ta thay v=o, ta có vèo = oèo = oeo = eo. Eocong. Theo v=qu như vấn = quấn, ta có vèo = quèo, queo quẹo. Queo, quẹo là cong như cong queo.

Như thế TTL vèo = eo = éo = uốn. Ta trở lại trường hợp uốn éo ở trên, nghĩa là ta có vèo = eo = éo = Anh ngữ ell, el– = gốc tái tạo Ấn Âu ngữ IE *el-, *ele-, eo, cong.

Tóm lại ta có TTL vèo = eo = el– = gốc tái tạo Ấn Âu ngữ IE *el-, *ele-, eo, cong.

 

.Vù vù

vù vù tiếng kêu liên hệ với bay (của côn trùng, phi cơ) biến âm với vo vo. Với v câm, vù vù = ù ù, vo vo = o o.

TTL vù = từ mẹ vù.

Theo v=b, vù, vo = Anh ngữ buzz, tiếng kêu liên hệ với bay (của côn trùng).

Tóm lại = = Anh ngữ buzz.

X

.Xồ xề

Xồ xề hay sồ sề là người béo xệ, không còn thon gọn trông xồ xề như lợn nái sề.

TTL xề = xồ.

Từ xồ, sồ = Anh ngữ sow, heo cái, lợn sề, có so– = sồ, sồ sề = Cổ ngữ Anh sù = Latin sùs, lợn sề = Phạn ngữ su-kara, a hog.

TTL sề = Việt ngữ sề là lợn nái: Ba bà đi bán lợn sề.

Heo, lợn là con thú có nhiều mỡ vì thế ta thường nói mập như heo, Việt ngữ lợn biến âm với lờn, nhờn liên hệ với mỡ dầu, từ hợi biến âm Việt ngữ hoi (mùi mỡ bị oxýt hóa), với Pháp ngữ huile, dầu; Thái Lan ngữ moo, heo, moo chính là Việt ngữ mỡ. Các con vật như heo, lợn cũng như người khi mập, béo phì, mỡ thường đọng lại ở bụng, ở các cơ quan nội tạng (gọi là mỡ chài vì trông giống mạng lưới), ở mông, vú. Heo sề cũng như các phụ nữ đã sanh con khi lớn tuổi dễ bị béo phì và mỡ đọng ở bụng, mông nên các bà thường phải đi hút mỡ bụng, mỡ mông là vậy. Con lợn sề khi có mỡ dồn ở bụng làm bụng sa xuống sát mặt đất nên mới có từ xề, xệ như trông xệ quá, xã xệ, xồ xề, sồ sề chỉ những người mập người đầy những mỡ.

Ở đây là một ví dụ cho thấy rõ có sự dùng lẫn lộn giữa x và s giữa xồ xề và sồ sề. Có nhiều nơi nói và viết là sồ sề, có nhiều nơi viết là xồ xề. Nếu ta chọn cách viết sồ sề thì đây là cách viết lấy theo gốc sề là con heo nái sề hợp với các từ lợn sề trong Ấn Âu ngữ, nghĩa là sồ cùng vần với con sề, con sow, con , sus. Cách này giúp cho sự khảo cứu dễ dàng vì biến âm vẫn giữ theo vần s có nghĩa là biến âm mẹ con, ruột thịt. Nếu ta lý luận cho rằng sồ sề trong Việt ngữ có thể đã biến âm với con lợn sề và với Ấn Âu ngữ rồi và sồ sề bây giờ đã dùng làm một tính từ (adjective) xề, xệ như trông bề xề quá, xã xệ nên ta có thể viết theo biến âm x của s, cách này đã có biến âm từ gốc s qua x. Dĩ nhiên trong gian dân vùng nào nói theo cách nào cũng được, còn trong khoa bảng thì tùy thuộc theo giới thẩm quyền quyết định chọn một qui ước và học trò sẽ phải viết theo khi đi thi lấy bằng cấp để tiến thân. Còn trong nghiên cứu tiếng Việt cổ ta có thể dùng cả hai cách chẳng phải theo ông thầy nào cả.

Tóm lại TTL sề, xề = sồ, x = Việt ngữ sề = Anh ngữ sow = cổ ngữ Anh = Latin sùs = Phạn ngữ su-kara.

 

.Xôn xao

 

nhiều tiếng động.

Xôn xao ngoài ngõ thiếu gì yến oanh.

(Nguyễn Du, Kiều).

TTL xao = xôn.

từ xôn chính là Pháp ngữ son, tiếng, âm thanh, liên hệ với sonorific, sonority, sonorous (xem những chữ này). TTL xao chính là Anh ngữ sound, tiếng động, tiếng, âm. Xôn xao = sôn sao = sonsound. Ta thấy Tiếng Việt (thật là) Huyền Diệu, sôn sao là có nhiều tiếng, có cả tiếng chim yến, chim oanh, có cả tiếng Tây son và tiếng Anh sound. Hai từ sôn sao cũng cho thấy ngôn ngữ Việt Nam ở trên cây ngôn ngữ loài người có vị trí ở cành lớn trong nhóm Ấn Âu ngữ, cành Việt ngữ sôn sao chia ra hai nhánh nhỏ son (Pháp ngữ) và sound (Anh ngữ) hay sôn sao nằm ở thân cây, gốc cây. Việt ngữ là thân, là cành lớn, trong khi Pháp, Anh ngữ chỉ là cành hay nhánh nhỏ trên cây ngôn ngữ loài người. Với x, s câm, xôn xao, sôn sao = ồn ào.

Tóm lại TTL xao = x ôn = sao = sôn = Anh ngữ sound = Pháp ngữ son.

.Xốp xộp

cũng có thể viết sốp sộp, xốp sộp, không chắc, không cứng, mềm, ốp. Với x, s câm, xốp = ốp, sộp = ộp, xốp sộp = ốp ộp. Cua xốp sộp = cua ốp ộp.

TTL xộp = xốp.

xộp = xốp = sộp = sốp = Anh ngữ soft, mềm.

Tóm lại TTL xộp = xốp = sộp = sốp = Anh ngữ soft.

 

Kết luận

 

Qua các từ láy trong Việt ngữ, ta có thể học Anh ngữ nói riêng và nói chung, học các ngôn ngữ khác của ngôn ngữ loài người, nhất là các ngôn ngữ có liên hệ mật thiết với Việt ngữ và ngược lại.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: