HỌC ANH NGỮ BẰNG TỪ LÁY VIỆT NGỮ (1)

(*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).

 

HỌC ANH NGỮ BẰNG TIẾNG VIỆT

VÀ NGƯỢC LẠI.

HỌC ANH NGỮ BẰNG TỪ LÁY TRONG

VIỆT NGỮ.

(phần 1).

Nguyễn Xuân Quang

 

 

Chi Chú:

-Dấu bằng (=) có nghĩa là liên hệ với, tương đương, gần cận nhau, giống nhau.

-Chữ trong hai gạch nghiêng // là thanh, thinh, âm, âm vị, chỉ phát âm theo tiếng Việt hay ngoại ngữ.

-Mẫu tự trong ngoặc đơn của một từ có nghĩa là bỏ đi hay câm ví dụ Anh ngữ cổ brus (breast), vú có b(r)u- = bú, vú (bỏ r hay r câm)….

-Dấu (*) có nghĩa là gốc tái tạo không có trong ngôn ngữ thành văn (written records).

-Tôi dùng từ liên hệ hiểu theo nghĩa tổng quát. Còn liên hệ như thế nào không nằm trong phạm vi bài viết này (sẽ nói rõ trong tác phẩm Sự Liên Hệ Giữa Việt Ngữ và Ấn Âu Ngữ.) Chỉ xin hiểu một cách tổng quát dù là liên hệ qua môi sinh như tiếp xúc, vay mượn, qua trung gian một ngôn ngữ khác hay di truyền (DNA) như ruột thị, máu mủ thì nói chung vẫn là liên hệ. Có sự liên hệ giữa Việt ngữ và Anh ngữ thì sự liên hệ đó cũng đủ giúp ta học Anh ngữ bằng Việt ngữ một cách dễ dàng và ngược lại.

Ở đây chỉ xin rút tỉa ra một ứng dụng, một thực dụng rất hữu ích từ sự liên hệ này là ta có thể học một cách tường tận, dễ hiểu và dễ nhớ tiếng Anh nói riêng và Ấn Âu ngữ nói chung bằng tiếng Việt và ngược lại. Học Anh ngữ bằng Việt ngữ giúp những người Việt nhất là giới lớn tuổi giỏi tiếng Việt có thể dùng tiếng Việt học Anh ngữ và các thế hệ trẻ sinh đẻ ở hải ngoại và các người ngoại quốc giỏi Anh ngữ có thể dùng tiếng Anh học tiếng Việt.

*

*        *

 

 

TỪ LÁY TRONG VIỆT NGỮ

 

 

Từ láy gồm một từ gốc và một từ tố lặp lại theo âm điệu, vần điệu nhịp nhàng, uyển chuyển với từ gốc. Tôi gọi từ tố láy với từ gốc là thành tố láy (TTL), ví dụ liếm láp thì láp là TTL của liếm. Đa số các nhà ngữ học Việt Nam cho rằng ngoài một số nhỏ TTL có nghĩa còn hầu hết TTL vô nghĩa như bết bát, liếm láp, tắm táp… thì TTL bát, láp, táp không có nghĩa. Tôi khám phá ra rằng các TTL hầu như đều có nghĩa. Chúng ta cho là vô nghĩa vì chúng ta không biết nghĩa đó thôi. Nói một cách tổng quát, giản dị cho dễ hiểu thì TTL trong tiếng Việt dù ở dưới dạng nào đi nữa nó đều phát xuất ở từ gốc, từ mẹ mà nó ‘láy’ sinh ra. Như thế nó mang những di tính của từ gốc, từ mẹ không những âm, vần mà kể cả nghĩa ngữ. Nghĩa của TTL có thể còn giữ nguyên nghĩa ngữ của từ mẹ (rõ nhất là dạng láy giữ nguyên dạng như ào ào) hay vì đã láy, đã “lái”, đã “lai” đi thì nghĩa cũng sẽ lai đi, đã thay đổi theo luật biến nghĩa… Nói gọn lại, từ láy trong tiếng Việt láy cả âm đọc lẫn ý nghĩa. Những TTL này

-có thể là những từ cổ Việt đã biến thể đi, đã mai một đi hay đã bị chôn vùi ở đâu đó nên chúng ta không biết nghĩa, ví dụ từ láy kiêng khem có TTL khem là tiếng biến âm của từ cổ Việt hèm có nghĩa là kiêng, taboo. Theo biến âm kh = h như khì khì = hì hì, ta có khem = hèm.

-có thể chúng là những từ còn hiện diện ở một ngôn ngữ nào đó của nhân loại nhất là những ngồn ngữ có liên hệ với Việt ngữ. Sự liên hệ này có thể ruột thịt hay vay mượn, tiếp xúc. TTL của Việt ngữ là một từ trong ngôn ngữ khác. Ví dụ bụi bậm, TTL bậm cũng có nghĩa là bụi, bậm chính là Phạn ngữ pâmsu (m có dấu ngã), pâmçu (m có dấu ngã), bụi. Rõ ràng pâm– = bậm.

. . . . . .

(xem thêm chương Từ Láy Trong Tiếng Việt trong Tiếng Việt Huyền Diệu).

Qui luật về thành tố láy của từ láy trong Việt ngữ của Nguyễn Xuân Quang:

 

Thành tố láy của từ láy trong Việt ngữ thường đều có nghĩa. Nghĩa có thể còn giữ nguyên nghĩa của từ gốc, từ mẹ mà nó láy hay đã láy đi, lai đi, lái đi. Thành tố láy thường là một từ thấy trong Việt ngữ (đôi khi là một từ cổ Việt mà ngày nay ta còn nhận ra và biết nghĩa hay là một từ còn bị chôn vùi ở đâu đó) hay là một từ thấy trong một ngôn ngữ khác, nhất là ở những ngôn ngữ càng ruột thịt, họ hàng với tiếng Việt. Từ láy thuần túy hay mẹ con có thành tố láy cùng vần, cùng chữ với từ mẹ mà nó láy với (ví dụ từ mẹ khởi đầu là một nguyên âm thì thành tố láy cũng phải khởi đầu là một nguyên âm và từ mẹ khởi đầu là một phụ âm (như chữ b chẳng hạn) thì thành tố láy cũng phải khởi đầu là một phụ âm cùng vần (với chữ b như bết bát).

HỌC ANH NGỮ BẰNG TỪ LÁY TRONG VIỆT NGỮ.

Trong Tiếng Việt Huyền Diệu, tôi đã so sánh thành tố láy của từ láy trong Việt ngữ với tất cả ngôn ngữ loài người. Ở đây trong phạm vi bài Học Anh Ngữ Bằng Tiếng Việt và Ngược Lại, tôi giới hạn vào những thành tố láy của từ láy trong Việt ngữ thấy trong Anh ngữ và trong một vài ngôn ngữ thuộc nhóm Ấn-Âu ngữ. Ta có thể dùng thành tố láy của Việt ngữ để học Anh ngữ và ngược lại. Vì phạm vi bài viết, mỗi vần chỉ xin đưa ra vài ba từ làm ví dụ.

A

 

.Á à

 

Có một nghĩa theo duy âm là không, không được. Dạng này thấy nhiều trong ngôn ngữ trẻ em (baby talk) còn dùng nhiều nguyên âm và gần như tất các trẻ em của loài người đều nói. Ví dụ như con ăn cơm không? –á à.

TTL à = á.

TTL à = Việt ngữ ỏ (không) = Mường ngữ ó (không). = Hán Việt á (không) = tiền tố Hy Lạp ngữ a, an có một nghĩa là không như aphasia, á khẩu.

Tóm lại TTL à = Việt ngữ ỏ (không) = Mường ngữ ó (không). =Hán Việt á (không) = tiền tố Hy Lạp ngữ a, có một nghĩa là không.

 

.Âm âm

Âm âm là tối mờ mờ, trời nhiều mây. Từ láy này có TTL láy giống như từ mẹ thuộc loại phân sinh một tách ra làm hai.

 

TTL âm = từ mẹ âm.

 

Ta đã thấy tất cả các nguyên âm trong Việt ngữ đều có thể biến âm với nhau a = e = i = o = u với nghĩa có thể lai láy đi ít nhiều như mạ = mẹ = mị (Mị Nương = Mẹ Nàng) = mợ (có nơi gọi cha mẹ là cậu mợ) = mụ (có một nghĩa là mẹ như bà Mụ là Mẹ đỡ đầu của trẻ em) (Tiếng Việt Huyền Diệu). Tất cả nguyên âm (a, ă, â, e, ê, i, o, ô, u, ư) đều có gốc từ chữ nòng nọc (O và I). Ở đây có nghĩa mang âm tính. Tất cả các từ láy ở đây đều mang âm tính. Nên nhớ các mẫu tự trong Việt ngữ phải hiểu theo Dịch, ít nhất phải nhìn theo hai diện âm dương (Tiếng Việt Huyền Diệu). Ở đây ta có các biến âm sau: âm âm = êm êm = im im = om om = um um. Ta có âm âm cùng nghĩa với um um (xem dưới).

B

 

.Bảnh bao

 

Sang, đẹp, trưng diện.

Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao.

(Nguyễn Du, Kiều).

TTL bao = bảnh.

Bảnh là đẹp như bảnh chọe, ăn mặc trông rất bảnh. Theo qui luật thành tố láy ta có bảnh = bao. Ta thấy bảnh = bao = Anh ngữ beau (số nhiều beaus, beaux), người ăn mặc bảnh bao, sang trọng = beaut, beauty, đẹp, vẻ đẹp = beauteous, beautiful, đẹp = Pháp ngữ beau, belle, đẹp, bảnh, bảnh bao.

.beau– = (tiếng Huế là đẹp) = bao, bảnh bao, “” (phiên âm) như “bô” trai.

.theo b=m, beau = miều (mỹ miều), mỹ, mỵ, mầu. Mầu là sắc cũng hàm nghĩa đẹp như trông rất mầu là trông rất đẹp. Từ đôi mầu mè có mầu = beau, beautiful = belle (Pháp ngữ, giống cái) = bella (Ý ngữ). Mẽ như trông có mẽ lắm, chỉ được cái mẽ, như nói mẽ cũng có thể liên hệ ở đây.

Anh ngữ beau, beautiful = Việt ngữ bảnh, bao, bảnh bao, “”, (phương ngữ Huế), mỹ, miều, mầu

 

Tóm lại TTL bao = Việt ngữ phiên âm = (tiếng Huế là đẹp) = bao, bảnh bao = Anh ngữ beau, beautiful = Pháp ngữ beau, belle.

 

.Bận bịu

 

Có nhiều việc phải làm, không rảnh tay cũng cùng gốc nghĩa với bấn bíu, bấn bít, bấn búi (Hoàng Văn Hành, Từ Điển Từ Láy Tiếng Việt).

TTL bíu = bận.

Theo b=m, từ bận biến âm với mần có nghĩa là làm như mần ăn = làm ăn, mần tình= làm tình.

Đồn rằng Hà Nội vui thay,

Rủ nhau bớt bận mấy ngày đi chơi.

Vui thì vui thật là vui,

Nhưng mà cũng chẳng bằng nơi quê nhà.

(ca dao).

Bớt bận là bớt làm, bớt việc.

Ta cũng thấy rất rõ bận có nghĩa là làm qua từ Anh ngữ occupied có một nghĩa là bận như đường dây điện thoại đang bị occupied (bận) ruột thịt với occupation, việc làm, nghề nghiệp. Mần là làm bằng tay. Mần = gốc chữ man-, manu– (như manipulation, manual, manuscript) liên hệ với cổ ngữ Anh mund, Latin manus, Pháp ngữ main, Tây Ban Nha ngữ manos, Ấn Âu ngữ IE man-, bàn tay. Hiển nhiên nguyên thủy con người làm bằng đôi tay vì thế khi bận bịu thì nói là làm việc không rời tay và khi không bận bịu thì nói là được rảnh tay.

Theo biến âm kiểu cút kít, bus (xe) = buýt = bít, ta có TTL bít, bíu, bịu = Anh ngữ busy, bận (bận việc, nhiều việc, nhiều họat động, đông đúc, nhiều xe cộ).

Busy ruột thịt với business. Business có nghĩa là busy-ness, bận bịu, bận làm một chuyện gì. Ngày nay dùng với nghĩa rộng ra là 1. việc, công việc, việc làm, 2. buôn bán, kinh doanh, 3. nghề, nghề nghiệp.

Tóm lại TTL bịu, bíu, bít = bận = Anh ngữ busy, business.

 

.Bết bát

tồi tệ.

TTL bát = bết.

Bết là tồi, xấu như học bết quá như bết bát, bê bết, bê bối. Bết biến âm với bét (chót, hạng bét).

.Bết, bét chính là Anh ngữ bad phát âm là /bét/. Nếu phát âm theo tiếng Việt bad = /bát/ = bát (bết).

Tóm lại TTL bát = Việt ngữ bết, bét = Anh ngữ bad phát âm theo Anh ngữ /bét/ = Việt ngữ bét và theo Việt ngữ /bát/ = Việt ngữ bát.

Anh ngữ bad = bét, bết, bê (bối), bết bát.

C

.Cong cớn

Thường nói về phụ nữ chỉ sự chua ngoa diễn tả bằng cách cong môi, vênh mặt lên, cái mặt trông như cái mảnh sành cong.

TTL cớn = cong.

cớn = Anh ngữ curve, cong, đường cong, quẹo.

.curve có curv– = cớn, cong, cong cớn, theo c=qu (cuốn = quộn), cur- = queo, quẹo = Phạn ngữ krunch, to curve có k(r)unc- = cong.

.TTL cớn liên hệ với gốc tái tạo Tiền-Ấn Âu ngữ PIE *ker-/*k’or-/*k’r, to twist, vặn, to turn, bẻ quẹo, to bend, uốn cong…

Tóm lại TTL cớn = cong = Anh ngữ curve = Phạn ngữ krunch, to curve = gốc tái tạo PIE *ker-/*k’or-/*k’r, to twist, vặn, to turn, bẻ quẹo, to bend, uốn cong…

.Cứng cáp

TTL cáp = cứng.

TTL cáp = Anh ngữ cap, với các nghĩa:

1. đầu.

2. đỉnh, chóp.

3. chốc, trốt (phương ngữ Huế), đứng đầu, trước tiên, cả, lớn nhất.

4. mũ.

TTL cáp = Latin caput, đầu Tây Ban Nha ngữ cabeza, đầu = Pháp ngữ chapeau, mũ.

TTL cáp = Anh ngữ cap = Hán Việt cấp (đầu) như thủ cấp.

Từ đôi cứng cáp với cáp = Anh ngữ cap = cứng. Từ đi đôi cứng đầu cũng cho thấy cứng = đầu. Như thế cứng cápcứng = cáp = cap = đầu. Theo c=s, cứng = sừng. Ta cũng có từ đôi sừng sỏ với sỏ (đầu sỏ) = sừng (xem skull). Tóm lại cáp = cứng = sừng = sỏ = đầu. Cáp có nghĩa là cứng liên hệ với sừng, sỏ, đầu với Anh Ngữ cap.

TTL cáp liên hệ với Phạn ngữ kapâla, skull. Kapâlakap– = cáp = Anh ngữ cap.

Tóm lại TTL cáp = cứng = Việt ngữ cáp = Hán Việt cấp = Anh ngữ cap, đầu, sỏ, mũ = Phạn ngữ kapâla, skull có một nghĩa là sừng, cứng.

.Cứng cát

giống như cứng cáp.

TTL cát = cứng.

Cát là một thứ sỏi đá mịn cũng có nghĩa cứng (cứng như đá). Ta thấy rất rõ cát = Anh ngữ sand = Pháp ngữ sable. Anh ngữ sandsan– = sạn (sỏi sạn), sable có sab– = sạn, Anh ngữ calculus, sạn, sỏi có cal– = sạn; callose, callous, callosity, callus, chai cứng (ở da), chai đá (lòng), chỗ xương gẫy đóng thành cục vôi cứng như đá), có cal– = sạn (sỏi). Cát, sạn, sỏi, chai đá ruột thịt với Phạn ngữ çaila, stony (như đá), mountainous (như núi, thuộc về núi) có çai– = chai. Qua từ ghép chai đá, chai sạn ta có chai = đá = sạn.

Tóm lại TTL cát = cứng = chai = sạn = sỏi = Anh ngữ sand, Pháp ngữ sable = Anh ngữ callose, callous, callosity, callus = Phạn ngữ çaila, stony.

.Cứng cỏi.

TTL cỏi = cứng.

Theo biến âm c=s như cắt = sắt, cỏi = sỏi. Sỏi là một thứ sạn, đá cũng có nghĩa là cứng.

.Pháp ngữ caillou, sạn sỏi, Phạn ngữ çaila, stony (như đá), Anh ngữ callus chai cứng, calculus, sạn, có có cai-, çai– , cal- = chai = cỏi = sỏi = sạn.

Tóm lại TTL cỏi = cứng = sỏi = sạn = Pháp ngữ caillou = Anh ngữ callus, calculus = Phạn ngữ çaila, stony.

D

.Dốt dát

dốt, ngu, tối, tối dạ.

TTL dát = dốt.

dát = dark, tối. Việt ngữ cũng có từ ghép dốt đặc với đặc = dốt. Ta thấy rõ đặc = dark, tối, đen như trời đêm đen đặc.

Dốt có nghĩa là tối (thằng ấy tối lắm), tối dạ, u tối, u mê (u có nghĩa là tối, u tối), ngu. Theo d=n, ta có dốt = dát = nát, dốt nát. Dốt = nát = Ý ngữ notte = Tây Ban Nha ngữ noche = Nga ngữ nock, tối, đêm. Nát = Việt ngữ nắc. Nắc là đêm như thấy qua tên con nắc nẻ là con bướm đêm. Loài bướm này có tiếng kêu như một tràng cười rộ vì thế mới có câu ví “cười như nắc nẻ”. Nắc chính là Đức ngữ nac(ht), Phạn Ngữ – nak-, tối, đêm. Nắc liên hệ với Hán Việt nặc, bí mật hàm nghĩa kín, tối như thư nặc danh. Nát = Đức ngữ nacht, Phạn ngữ nak-, naktam, đêm, tối. Đêm có một nghĩa là tối như tối nay = đêm nay.

Tóm lại TTL dát = dốt = nát = nắc = Đức ngữ nacht = Phạn ngữ nak– = Ý ngữ notte =Tây Ban Nha ngữ noche = Nga ngữ nock, tối, đêm…

 

.Dại dột

ngu dại và dốt, khờ khạo, tối dạ.

TTL dột = dốt = dại, dại dột. Dại là dốt như cũng thấy qua ngu dại = ngu dốt. Theo d=n= dại = Anh ngữ night = /nai/, tối đêm. Rõ ràng dại là dột là dốt là Tây Ban Nha ngữ noche (tối) là night.

Ta thấy rất rõ dốt nát với nát biến âm với nacht; dốt đặc với đặc biến âm với dark; dại dột với dốt, dột biến âm với noche và dại với night

Tóm lại TTL dột = dại = tối (dạ) = Anh ngữ night = Tây Ban Nha ngữ noche = Đức ngữ nacht, tối, đêm, có một nghĩa chung là tối.

 

.Dài dòng

Dài lòng vòng.

TTL dòng = dài.

Dòng

= Việt ngữ dong là dài như đi dong dài.

= dông là dài như nói dông dài, đòn dông là đòn dài trên nóc nhà.

= gốc Hy Lạp ngữ dolicho-, dài như dolichocolon, ruột già dài lòng thòng.

= gốc tái tạo Ấn Âu ngữ *dloon-gho, dài.

Theo biến âm d=l như dần dần = lần lần,

dòng = Việt ngữ long (có một nghĩa là dài) như đi long rong là đi rong, đi dài.

= Anh ngữ long, dài = Đức ngữ lang, dài = Việt ngữ lang, cũng hàm nghĩa dài như đi lang thang là đi long rong, rông dài.

= lòng có một nghĩa là dài như lòng thòng, lòng vòng. Lòng cũng có nghĩa là ruột. Lòng ruột cũng có nghĩa là dài thấy rõ qua Hán Việt trường ruột như đại trường (tràng) ruột già trường cũng có nghĩa là dài như trường giang.

Tóm lại TTL dòng = Việt ngữ dong, dông (dài) = Việt ngữ long, lòng (dài) = Việt ngữ lang (thang), (dài) = gốc Hy Lạp ngữ dolicho-, dài = gốc tái tạo Ấn Âu ngữ *dloon-gho, dài = Anh ngữ long (dài) = Đức ngữ lang (dài)…

 

Đ

.Đàn đúm

túm tụm lại với nhau.

TTL đúm = đàn.

TTL đúm = đám, theo d=t, TTL đúm = túm, tụm tụm = Anh ngữ troop, Pháp ngữ troupe, đàn, đoàn, đám, tốp. Anh ngữ t(r)oop = Pháp ngữ t(r)oupe = tốp, túm, đám, đàn.

.

Tóm lại TTL đúm biến âm với đám với túm như túm tụm = Anh ngữ troop, Pháp ngữ troupe, tốp, đàn, đoàn, đám, túm tụm.

 

.Đen đủi.

đen và xấu, bẩn.

TTL đủi = đen = tối.

Theo biến âm đ=t=th, đậm = tăm = thẫm đủi = túi, tối = thui. Đen thủi đen thui = đen đủi = đen túi = đen tối. Theo biến âm t=n (túm = núm), đủi = túi = Pháp ngữ nuit (đêm) (có nui- = túi = tối = thủi = đủi). Từ ghép đen nháy với TTL nháy = láy như đen nháy = đen láy, với h câm, nháy = náy = /nai/ = night, tối, đêm hàm nghĩa đen và đen đặc với TTL đặc = đen. Đặc có một nghĩa là đen như tối đặc = tối đen, đặc chính là Anh ngữ dark, tối, đen.

Tóm lại TTL đủi = túi, tối = thui, thủi = Pháp ngữ nuit, Anh ngữ nigh, có một nghĩa chung là đen, tối.

.Đứng đắn

 

Ngay thẳng, đàng hoàng.

TTL đắn = đứng.

.theo t=đ, đắn = Anh ngữ stand, đứng; theo t=đ (thẳng tuột = thẳng đuột), stand có -tand = đắn, đứng đắn.

.stand có –tand = tênh, tễnh (đứng) như tênh tênh là đứa trẻ mới tập đứng, mới biết đứng, người lớn thường buông tay ra để đứa bé đứng một mình rồi nói tênh tênh nào; tập tễnh là mới tập biết đứng, biết đi một hai bước, đứa bé mới tập tễnh.

Tóm lại TTL đắn = đứng = Anh ngữ stand, đứng = tênh tênh, tễnh.

E

 

.Èo uột.

là yếu ốm.

TTL uột = èo. Theo kiểu biến âm như eo = Hán Việt yêu (chỗ eo ếch, tiểu yêu đại huyệt), ta có èo = yếu. Ta thấy ngay èo = yếu = Anh ngữ ill (yếu, ốm). Ta thấy uột biến âm với èo, yếu hay ốm. Theo u=v=w, èo = uột = weak, yếu giống như kiểu eo = yêu = waist, chỗ eo ếch.

Tóm lại TTL uột = èo = ill = yếu = weak.

 

.Ê ẩm

là đau nhức, đau rêm rêm.

TTL ẩm = ê.

Ê, ê ê có nghĩa là đau nhức như ê răng, ê mình, ta cũng có tiếng lóng “ê càng”.

Ta có ê = Anh ngữ ache, đau, nhức.

TTL ẩm = Hy Lạp ngữ algos, gốc –algia, đau, như neuralgia, đau dây thần kinh, các chữ này có al– = ẩm (đau).

Tóm lại TTL ẩm = ê = Anh ngữ ache = Hy Lạp ngữ algos, gốc-algia.

 

.Êm ả.

 

Yên tĩnh, không xáo động.

TTL ả = êm.

ả biến âm với á như trên đã biết có một nghĩa là không như á khẩu (không nói được) = là không, vắng như ỏ vào, (xem chữ no) = Mường ngữ ó (không) = tiền tố Hy Lạp ngữ a-, không như aphasia, á khẩu. Không là vắng là yên là êm (xem chữ êm ắng).

Tóm lại TTL = êm = Việt ngữ (không) = Mường ngữ ó (không) = Hán Việt á (không) = tiền tố Hy Lạp ngữ a-, không.

 

.Êm ắng.

như im ắng , vắng lặng.

TTL ắng = êm. Ắng có nghĩa là vắng, lặng như chợ ắng người = chợ vắng, với v câm, vắng = ắng. Vắng hàm nghĩa lặng như vắng lặng, êm lặng, yên lặng. TTL ắng = Anh ngữ absence, vắng. Absent liên hệ với Latin absent có tiền tố a– là không, ab-, away, vắng, rời đi và –sens, being (là), absent có một nghĩa vắng.

Vắng có một nghĩa là lặng, là êm.

Tóm lại TTL ắng = êm = vắng = tiền tố Hy Lạp ngữ a– là không, ab-, away, ắng, vắng = Anh ngữ absence, vắng, có một nghĩa là lặng, là êm.

.Êm êm

 

Như đã thấy êm êm biến âm với âm âm (theo Dịch lý những gì mang âm tính thường mang tính êm), với um um (xem dưới).

G

.Gm ghé

 

Ngấp nghé, để mắt tới.

Làng cung kiếm rắp ranh bắn sẻ,

Khách công hầu gắm ghé mong sao.

(Nguyễn Gia Thiều, Cung Oán Ngâm Khúc bản của Tôn Thất Lương).

Gắm ghé biến âm với ngắm nghé như thấy qua bản của Nguyễn Can Mộng:

Làng cung kiếm rắp ranh bắn sẻ,

Khách công hầu ngắm nghé mong sao.

TTL ghé = gắm.

TTL gắm = Anh ngữ gaze, nhìn chăm chăm, đăm đăm.

 

.theo phát âm trong Anh ngữ gaze = ghé như ghé mắt qua, gắm ghé.

.theo phát âm trong Việt ngữ gaz = gắm, gắm nhìn.

.theo g=ng (như gẫm = ngẫm), gaz = ngắm, ngắm nghé.

.theo g=ngh (như gịt = nghịt, nghẹt mũi), gaz = nghé (ngắm nghé).

.theo g=nh (như gậm = nhấm), gaz = nhắm, nhắm nhé.

Tóm lại TTL gắm = ghé = Anh ngữ gaze.

 

.Gây gỗ, Gây gổ

gây gỗ có khi nói và viết là gây gổ là cãi nhau, cãi cọ, cãi vã. Tôi chọn TTL gỗ.

TTL gỗ = gây.

Từ gây biến âm với gậy, cây và TTL gỗ (wood) là cây và nếu nói gổ thì gổ biến âm với gỗ cũng có gốc cây. Gây = gỗ = gổ = gậy, cây. Gây gỗ có thể là một hình thức xung đột cãi nhau dùng tới gậy gộc, một thứ khí giới sơ khai.

Gây gỗ = Anh ngữ quarrel, gây gỗ, cãi nhau vã, cãi cọ, công kích. Anh ngữ quarrel cũng có nghĩa là một thứ tên, nỏ (khí giới), một thứ chạm, đục (vật nhọn). Ta thấy rất rõ quarrel có một nghĩa khá thích hợp với gốc chữ là công kích (tấn công bằng kích, một thứ khí giới nhọn). Quarrel có gốc Latin queri, kêu ca, khiếu nại. Queri có que– = Việt ngữ que (gậy gộc). Quarrel có qua– = Hán Việt qua, khí giới như cây que nhọn = Việt ngữ que (gậy gộc).

.theo c=qu (cuốn= quộn), quarrelqua– = ca (kêu ca) = cãi.

.theo q=c=g [cuốn = quộn = guồng (chỉ)], có qua– = gây, gây gỗ.

.theo q=v [quấn = vấn (khăn)], qua– = , cãi vã.

.theo qu=c =k, qua– = que = kè = cọ (cây kè = cây cọ là loài cây thân không có cành nhánh thẳng tuột như cây cột) = cãi cọ.

.theo qu=c=k, quarrel = Phạn ngữ kali, quarrel có ka(l)i = qua, que = cãi (cãi cọ, cãi nhau).

Ta thấy rất rõ gây gỗquarrel là dạng bất hòa trong xã hội sơ khai, tiền sử có liên hệ đến gậy gộc. Ở đây ta thấy TTL gỗ gần cận với cây, gậy hơn gổ. Đó là lý do tôi thích chọn gỗ thay vì gổ.

Tóm lại TTL gỗ, gổ, = gây = Anh ngữ quarrel.

.Gầy guộc

Gầy guộc là gầy như cây que. Việt ngữ gầy thường ví với một chiếc cây mảnh khảnh như gầy như que củi, gầy như cây sậy, gầy như cây tăm… một nhân vật Kim Dung người rất gầy có tên là Khô Lâu Trúc, người gầy trông như một chiếc đầu lâu khô cắm trên một cây tre.

TTL guộc = gầy.

Ta thấy rất rõ Việt ngữ gầy biến âm với gậy, cây như thế TTL guộc cũng phải liên hệ với cây, gỗ. Guộc biến âm với guốc.

Guốc làm bằng gỗ. Theo biến âm g=v=w như bà góa = bà và Mường ngữ w=v như wá = vả (quả), ta có guốc = Anh ngữ wood. Guốc nguyên thủy là một khúc gỗ dùng để đi. Theo g=c (gài = cài), guộc = cuộc = cược (đánh cuộc = đánh cược) = cọc (cây). Rõ ràng guộc, guốc liên hệ với cọc, với cây, với gỗ.

Tóm lại TTL guộc = guốc = gỗ = gầy = Anh ngữ wood. Rõ ràng gầy guộc là gầy như khúc cây, khúc gỗ.

 

 

H

.Hô hào

Kêu gọi, kêu lớn tiếng.

TTL hào = hô.

TTL hào = Anh ngữ howl = /hao/, tru, la hét, rít (gió) = Campuchia ngữ hao là gọi. Howl có ho- = = (hò là hét lớn như hò đò) = (hô khẩu hiệu, hô hoán). Theo h=g (hồi = gồi), howl = gào. Pháp ngữ hurlerhu– = hú.

Tóm lại TTL hào = = hò = hú = Campuchia ngữ hao = Anh ngữ howl = Pháp ngữ hurler.

 

.Hát hỏng

hát với xướng (có ý xấu).

TTL hỏng = hát.

Theo h=s, hói = sói, hỏng = Anh ngữ song (bài hát).

Tóm lại TTL hỏng = hát = Anh ngữ song.

.Héo hắt

 

Héo khô. Héo có một nghĩa là khô. Theo h= w như Mường ngữ = vả (quả), héo = Anh ngữ wilt, héo úa.

TTL hắt = héo.

Theo h=s như hói = sói, ta có héo = séo = sao (làm cho khô như sao thuốc bắc) = se.

TTL hắt = Anh ngữ hot, nóng, liên hệ với khô, nỏ. Theo h=s, hắt = sắt. Như thế héo hắt =se sắt. Từ láy se sắt là héo khô, ta có se = sắt (khô) ví dụ người hay mặt nó sắt lại, hay khô sắt lại. Sắt liên hệ với Ainu ngữ (thổ dân ở Nhật Bản) sat, khô. Từ se là khô như quần áo phơi đã se,

Đông chết se, hè chết lụt.

(tục ngữ)

Cây lúa về mùa đông ít nước dễ bị chết vì khô và mùa hè nhiều mưa dễ bị chết vì lụt. Như thế hắt = sắt = se (khô).

Se = sắt = gốc Hy Lạp ngữ xero-, se, sấy (khô), ví dụ xeroderma, da khô = Pháp ngữ sec = Ý ngữ secco = Tây Ban Nha ngữ seco = Latin siccus = Phạn ngữ çuska, khô.

Tóm lại TTL hắt = héo = Anh ngữ hot = sắt = se = gốc Hy Lạp ngữ xero– = Pháp ngữ sec = Ý ngữ secco = Tây Ban Nha ngữ seco = Latin siccus = Phạn ngữ çuska, khô.

.Hôn hít

 

Nói chung là hôn.

TTL hít = hôn.

TTL hít có một nghĩa là hôn. Hít là dạng nguyên thủy của hôn. Loài vật thường hít nhau. Di thể (gene) hít thấy ở loài vật truyền qua con người. Ngày nay ta còn thấy mẹ hôn con bằng cách hít con. Một vài tộc thổ dân Mỹ châu ngày nay còn giữ tục hôn nhau bằng cách chạm hai mũi vào nhau. Bước vào xã hội văn minh, hít trở thành hôn: hôn má, hôn môi, “nút lưỡi” (French kiss). Theo h = k, như hết = kết, ta có hít = kiss. Theo biến âm kiểu cút kít, kiss = Phạn ngữ kus, to embrace, hôn.

Tóm lại, TTL hít = hôn = Anh ngữ kiss = Phạn ngữ kus, hít, hôn, hôn hít.

I

 

.Im lìm

Im lặng như ngủ yên.

TTL lìm = im.

TTL lìm = Anh ngữ sleep, ngủ, lịm, ngủ. Thep m=b=p, (s)leep = lìm, lịm. Sleep có –lee– = li, hàm nghĩa ngủ say như ngủ li = Phạn ngữ ni là ngủ, ni = li, li bì = Tiếng Bình Trị Thiên là ngủ:

Gió mùa thu mẹ ru con lú.

(cadao)

Từ cũng có nghĩa là , mê mẩn cũng có một nghĩa là ngủ mê man như đánh thuốc mê là làm cho ngủ, lú liên hệ với ngủ như lú lẫn, cho ăn cháo lú. Leep = lìm, lịm, mê, mê mẩn liên hệ với ngủ như nó lịm người đi.

Tóm lại TTL lìm = lịm = im = sleep. Im lìm là im lặng như ngủ lịm, ngủ yên. Yên biến âm với im như yên lặng = im lặng.

.Ít xịt

Ít quá.

TTL xịt = ít. Ít có nghĩa là:

1. không nhiều.

Như một ít = một , một xị, một tí. Theo biến âm kiểu chi chít ta có xí, xị = xít, xịt. Với x câm như xôn xao = ồn ào, ta có xít = xịt = ít. Theo x=l như biến âm kiểu lao xao, lào xào, ta có xít = Anh ngữ little, ít, nhỏ, bé.

2. một.

như thấy qua từ ghép một ít, ta có một = ít. Với nghĩa là một này, ít

= Anh ngữ each (mỗi, một) == Nhật ngữ ichi là một.

= Phạn ngữ eka, ek-, một = Việt ngữ ạc, ạch, áy là một mình, (từ cổ) (Hỳnh Tịnh Paulus Của) = phương ngữ Huế éc, một mình như bừa éc là bừa với một con thú (trâu hoặc bò).

= Anh ngữ ace, số một, số “dách”, tên lá bài số một (con ách, con ết, con xì) hay cú giao banh tennis “ết” địch thủ bó tay không làm gì được, khi đánh golf, cú quất (drive) ace là chỉ đánh một cái mà trái cù rơi ngay vào lỗ.

3. nhỏ, , con con.

như con ít là con nhỏ, trẻ con. Con ít đọc nối qua là con nít (xem Hiện Tượng Đọc Nối Trong Việt Ngữ). Theo biến âm x=c=k ta có xịt, xít = kid, trẻ con, con nít.

Tóm lại TTL xịt = = ít = Anh ngữ each, Phạn ngữ ek-, eka = Anh ngữ ace = Việt ngữ nít = Anh ngữ little.

.Im Im

 

Như đã thấy im im biến âm với âm âm (theo Dịch lý những gì im, tĩnh, bất động mang âm tính), với um um (xem dưới).

K

.Kèn cựa

 

chén ép, cạnh tranh với ý xấu, làm hại nhau.

TTL cựa = kèn.

Cựa là vật nhọn sắc như sừng ví dụ như cựa gà. Con gà sống có cựa nhọn sắc nên gọi là gà qué. Qué biến âm với que, vật nhọn, với kẻ, cây, cọc như thước kẻ, với gốc Hy Lạp ngữ kera– sừng như keratitis, sưng màng sừng (mắt). Gà qué có cựa, có kẻ, có kera-, sừng, nói chung là có vật nhọn mang dương tính. Cựa liên hệ với vật nhọn, sừng. Còn kèn, theo k=c=h (kết = hết), kèn = còi = Anh ngữ horn, còi, kèn làm bằng sừng thú vật. Như thế nguồn gốc sâu thẳm của kèn cựa là dùng hai vật nhọn, một thứ khí giới, để cạnh tranh, chèn ép làm hại nhau.

Tóm lại cựa = kèn = Anh ngữ horn (kèn, còi, sừng), có gốc nghĩa là vật nhọn, dùng vật nhọn (khí giới) chèn ép nhau.

.Kềnh càng

lớn, to không gọn gàng, cồng kềnh.

TTL càng = kềnh.

Kềnh có một nghĩa là to, lớn, đứng đầu như con chấy kềnh, càng cũng có nghĩa là lớn như con kiến kềnh, kiến càng [thường hiểu là có càng (pincers) vì con kiến càng là con kiến lớn, to thường có càng]. Kềnh biến âm với kễnh có nghĩa là lớn, con cọp là con thú đứng đầu các loài thú, là chúa tể sơn lâm có tên là ông kễnh. Kềnh biến âm với Hán Việt kình, lớn, to, chúa tể như kình ngư, cá kình là loài cá to, lớn nhất, chúa tể loài cá, như cá voi, cá ông. Kềnh, kễnh, kình = Anh ngữ king, vua, chúa tể = Đức ngữ kaiser, vua. Kaiser có kai– = Việt ngữ cai, cái, có một nghĩa là lớn, đứng đầu như cai thợ, thợ cái.

Theo g=c, Anh ngữ grand, lớn, vĩ đại, có g(r)and = càng (kềnh).

Tóm lại TTL càng = kềnh = kễnh = kình = Anh ngữ king = Đức ngữ kaiser = Việt ngữ cai, cái = Anh ngữ grand.

.Kêu ca

kêu nài, kêu than.

TTL ca = kêu.

Việt ngữ kêu

= Anh ngữ call, gọi, kêu, gào.

= Phần Lan ngữ kerj, kêu, gào.

= gốc tái tạo Ngôn Ngữ của Chúng Ta (Nostratics) *kerj, shout, kêu, la, hò, hét.

= Phạn ngữ hve, to call, theo h=c, hve = kêu. Ta cũng thấy hve = hát = ca. Hát ca là một thứ kêu xin, kêu ca như ta thường nói ca bài con cá nó sống vì nước.

.theo c=g (cài = gài), call = gào, gọi.

.theo c=h (cùi = hủi), cal– = hào (hô hào), Campuchia ngữ haocall, = (gọi lớn như hò đò sang sông) = (gọi) như hú hồn = là gọi, nói to như hô khẩu hiệu, hô hoán = Phạn ngữ , call, = Việt ngữ (gọi), (hò đò).

Ca có một nghĩa là hát. Có những bài hát diễn tả sự kêu nài, kêu than, là những lời cầu xin, van xin tức kêu ca. Theo qui luật TTL ở đây ca có nghĩa gốc là kêu, kêu xin. Với nghĩa này ca = Anh ngữ call.

Tóm lại TTL ca = kêu = Anh ngữ call = Phạn ngữ hve, to call = gốc tái tạo Ngôn Ngữ của Chúng Ta (Nostratics) *kerj, shout, kêu, gào.

 

L

 

.Liếm láp

 

có nghĩa là ăn luôn miệng. Ví dụ mẹ mắng con: “cái miệng mày liếm láp cả ngày”.

TTL láp = liếm.

TTL láp chính là Anh ngữ to lap, liếm.

Tóm lại TTL láp = liếm = Anh ngữ lap.

 

.Lớn lao

 

to lớn.

TTL lao = lớn.

Lao chính là Anh ngữ loud (/lao/), lớn, to: loud speaker là máy phóng thanh, loud mouth = to mồm. Lao xao, lào xào chỉ tiếng động lớn, ồn ào. Ta có lao xao, lào xào = loud sound.

Tóm lại TTL xao = lao = Anh ngữ loud = sound, lao xao, lào xào = loud sound.

 

.Lỏng lẻo

lỏng và lơi ra, không chặt.

TTL lẻo = lỏng.

lỏng = Anh ngữ loose.

loose có nghĩa là:

1.lỏng, lơi, không chặt, nới ra.

.loose = Mường ngữ lãng, nới ra, cởi bớt ra.

.loose = /lu/ = lơi, lẻo, theo l=n, lơi = nới (nới ra cho lỏng, cho rộng).

2. loose = lỏng, lỏng le (lỏng như nước, Việt ngữ le là nước như chim le le là loài chim nước), loose stool là đi cầu lỏng.

Tóm lại TTL lẻo = lỏng = Anh ngữ loose.

M

.Mờ mịt, Mù mịt

quá mờ không thấy rõ.

TTL mịt = mờ, mù.

Mờ, mù chính là Anh ngữ mist, mù, sa mù.

Như nai nhẩy quẩng trong mù,

Nhìn lên thì đã mùa thu qua rồi.

(Tàn Thu, Nguyễn Xuân Quang)

 

Tóm lại TTL mịt = mờ = = Anh ngữ mist.

.Mặn mà

Mặn mà liên hệ với muối, mắm, với biển.

TTL mà = mặn.

mà = mặn, liên hệ với Phạn Ngữ pâkya (pâka+ya), một loại muối, có – = mà, với Anh ngữ marinade, tẩm, ngâm muối mắm, gia vị. Mà = Tây Ban Nha ngữ mar, biển = Pháp ngữ mer, biển = Anh ngữ marina (liên hệ với biển), marine (thuộc về biển, thủy quân lục chiến) = gốc tái tạo Ấn Âu ngữ IE * mori, biển, bể.

Tóm lại TTL = mặn = Tây Ban Nha ngữ mar, Pháp ngữ mer là biển = Anh ngữ marinade, tẩm, ngâm muối mắm, gia vị, marina, marine, thuộc về biển = Phạn Ngữ pâkya (pâka+ya), một loại muối = gốc tái tạo Ấn Âu ngữ IE * mori, biển, bể.

 

 

.Mân mê

 

Sờ nắn một cách kỹ lưỡng, lâu dài để tìm cảm giác ví dụ như mân mê cây bút.

TTL mê = mân.

Theo biến âm kiểu mê man, ta có = mân.

Việt ngữ mân ruột thịt với mần, như trên đã biết mần là làm bằng tay như đi mần = đi làm, mần răng = làm răng. Mần = gốc chữ man-, manu– (manual) liên hệ với cổ ngữ Anh mund, Latin manus, Pháp ngữ main, Tây Ban Nha ngữ manos, Ấn Âu ngữ IE man-, bàn tay.

Ta cũng thấy rất rõ là biến âm của mân nên mê liên hệ với các ngôn ngữ trên, TTL liên hệ với Anh ngữ meticulous có nghĩa gốc là tẩn mẩn, meticulous me– = = mần = mân có gốc tay. Việt ngữ tẩn có gốc tay như tao tẩn cho mày một trận bây giờ = tao đánh (bằng tay) cho mày một trận bây giờ, tẩn biến âm với Quảng Đông ngữ tả, đánh mẩn hiển nhiên biến âm với mân, mần có gốc tay. Mẩn hiển nhiên là mần thấy rất rõ qua các từ láy tẩn mẩn, tần mần.

TTL mê liên hệ với métier (Anh ngữ gốc Pháp ngữ) có nghĩa gốc là nghề nghiệp, việc làm, chuyên môn. Métier – = = mần = mân có gốc tay.

Tóm lại TTL = mân = Việt ngữ mần (làm bằng tay) = Anh ngữ meticulous, tẩn mẩn, Anh-Pháp ngữ métier, có nghĩa gốc là nghề nghiệp, việc làm = gốc chữ man-, manu– = Latin manus, Tây Ban Nha ngữ manos, Pháp ngữ main = cổ ngữ Anh mund = Ấn Âu ngữ IE man-, bàn tay, có nghĩa là sờ nắn một cách kỹ lưỡng, lâu dài để tìm cảm giác

(còn tiếp).

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: