Học Anh Ngữ Bằng Việt Ngữ (4)

 (*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).

  

HỌC ANH NGỮ BẰNG VIỆT NGỮ (4)

      NHỮNG TỪ VỀ THÂN NGƯỜI 

Nguyễn Xuân Quang

 

Những từ về thân người được cho là những từ căn bản (basic words) hay cân bằng bền (stable words) dùng đề so sánh hai ngôn ngữ (ở đây là Việt và Anh) để tìm sự liên hệ ruột thịt với nhau.  Sau đây là một số nhỏ các từ về thân người.

 Những chữ viết tắt và qui ước:


-Dấu bằng (=)  có nghĩa là, liên hệ với, tương đương, gần cận nhau, giống nhau.
-Chữ trong  hai  gạch nghiêng  /…/ là thanh, thinh, âm, âm vị, chỉ  phát  âm theo tiếng Việt hay tiếng Anh.
-Mẫu tự trong ngoặc đơn của một từ có nghĩa là bỏ đi hay câm ví dụ Anh ngữ cổ brus (breast), vú  có b(r)u- =  bú, vú (bỏ r hay r câm)…
-Dấu (*) có nghĩa là gốc tái tạo không có trong ngôn ngữ thành văn (written records).
-Tôi chỉ giới hạn vào các nghĩa gốc tương đồng và để qua bên các nghĩa phụ, nghĩa bóng bẩy, nghĩa lóng. . .

 

                   A

 

A biến âm mật thiết với   E, I, O, U. . .
A=E=I=O=U…
Như   mạ, má = mẹ, mệ = mị = mợ = mụ…

 

arm, cánh tay, cẳng tay.

Theo Buck, trong Ấn-Âu ngữ, nhiều từ chỉ arm thuộc về một nhóm di truyền phát xuất từ ý niệm về joint và áp dụng cho cả hai armshoulder. Trong một vài ngôn ngữ, những từ chỉ hand nới rộng ra cả arm (4.31). Điểm này giống hệt trong Việt ngữ. Từ tay có thể hiểu là bàn tay và cánh tay. Bàn ruột thịt với bằng. Bàn tay chỉ phần bằng của tay. Bàn gần âm với palm, lòng bàn tay. Palm có pal- = bàn (xem hand và palm).  Còn từ cánh cùng với cành một vần, cánh có cùng gốc nghĩa với cành. Cành cây tương đương với tay người. Hán Việt chi (cành) và tay chân người cũng gọi là chi (tứ chi). Theo tiến hóa cánh chim = tay người (chim tiến hóa thành khỉ, đười rồi mới thành người) như thấy qua từ đôi cánh tay nghĩa là cánh = tay. Như thế cành = cánh = tay = cẳng = chi. Ta thấy rất rõ qua từ limb, tay chân mà cũng có nghĩa là chi, cành, nhánh cây. Việt ngữ cẳng thường hiểu là chân, thật ra cẳng liên hệ với chánh, chành, chi cũng chỉ cả chân và tay (tức tứ chi) như thấy qua các từ đôi “cẳng chân, cẳng tay” ví dụ như “thượng cẳng tay, hạ cẳng chân”. Dùng “cẳng tay” không có sai ngữ pháp như có người đã nghĩ.
.arm = ãm, ãm, ẵm, ôm (dùng tay mang, ôm vật gì), dùng arm để ãm, ẵm, ôm. Arm, ãm, ẵm ruột thịt với gốc Phạn ngữ  am, lấy đi, mang đi, ẵm đi. Ví dụ như  ãm, ẵm em, nó ẵm (ãm) cái đó đi mất rồi. Cánh tay có chức vụ là ôm, ãm, ẵm vật gì. Cổ ngữ Anh bóg, bog(as) Anglo-Saxon bóg, bóh, có nghĩa gốc là cánh tay (arm) ruột thịt với Việt ngữ bồng; Pháp ngữ bras, Ý ngữ  braccio, Hy Lạp ngữ   brachio-, Phạn ngữ  bahus, cánh tay có ba- =  bả (vai) (nghĩa hoán vị) = bá (vai) có một nghĩa là ôm như bá vai, bá cổ = ôm vai, ôm cổ. Bóg, bahus có bo-, ba- = bồng, bế.
.arm có ar– = gốc Phạn ngữ ar, cầy, có cùng gốc với arbor, cây, cây cối. Điều này giải thích cho thấy rõ thêm là cánh tay tương đương với cành cây, Hán Việt chi là tay chân và cũng có nghĩa là cành cây.  Anh ngữ bough, nhánh, cành cái, lớn (cây)  chính là bóg, cánh tay (xem chữ hand).

                    B

 

B biến âm mật thiết với M, P, Ph, V. . .
.B=M=P=Ph=V…

body, thân, thân thể, mình, vóc (ăn vóc học hay), thể (water body)…


Theo Buck, những từ chỉ body có thể dùng trong Tân Anh ngữ  như là body, dead body, corpse. Một vài từ nguyên thủy chỉ phần chính thân thể “trunk” để phân biệt với tay chân và phản ánh quan niệm, ý nghĩ như “swelling, curved, bulging shape”… vài từ chỉ flesh (4.11). Điểm này cũng thấy trong Việt ngữ.
1. body với ý nghĩa thân thể.
có bod- = vóc, Phạn Ngữ vapus, vera là body. Phạn ngữ vera là vóc, vẻ như vóc người, như vẻ người thon gọn “mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười Nguyễn Du, Kiều. Body liên hệ với Pháp ngữ corp, Latin corpus, Phạn ngữ karp (thân). Ta thấy rõ cor-, kar- = xác.
2. body là thân mình và với ý nghĩa “swelling, bulging shape”.
theo b=m, body =  móc, theo biến âm kiểu móc máy ta có móc =  mẩy. Từ đôi mình mẩy có mình = mẩy. Vậy body = móc = mẩy = mình. Mẩy là mình như  thấy qua câu tục ngữ đầu chấy mẩy rận (đầu đầy chấy, mình đầy rận).  Ta thấy rõ mẩy là mình, thân và mẩy cũng có nghĩa là  “swelling, bulging shape” như  hạt lúa, hạt thóc rất mẩy. Theo m=ph, mình = phình (swelling). Đại Hàn ngữ mom, body.
3. body là thân mình và với ý nghĩa vỏ che, lớp bao.
Việt ngữ có từ to xác, lột xác (rắn), xác như vờ. Con vờ là loài phù dung chỉ sống một thời gian ngắn ngủi lúc tinh sương. Khi mặt trời mọc, con vờ biến mất chỉ còn vỏ xác trên mặt sông vì thế mới có câu xác như vờ. Phạn ngữ  çarira, covering có çar- = xác.
Hy Lạp ngữ kalupto, cover có kal- = xác.
4. body là thân mình và với ý nghĩa xác chết, thây, thi (tử).
Anh ngữ cadaver, carcass, corpse, Phạn ngữ çava- có cad-, car-, çav-, cor- = xác
5. body là thân mình và với ý nghĩa xác, thịt, xác thịt (flesh).
Latin carò, Ý, Tây Ban Nha, Lỗ Ma Ni ngữ carne, Pháp ngữ chair (thịt) charnu (xác thịt) và charcuterie, người bán thịt lợn, thịt nguội.  Ngoài nghĩa thịt để ăn có nghĩa là cắt, chặt (xem meat) ở đây, theo c= ch=x, caar-, char- = xác. Thịt ở đây có nghĩa là xác. Từ đôi xác thịt có xác = thịt.

breast, vú, ngực phụ nữ. 

brus  là dạng cổ của breast có bu- = bú,  bụ (phương ngữ Huế) = vú.
theo Buck, trong Ấn-Âu ngữ , nhiều từ chỉ breast chỉ phần trước ngực phụ nữ và vú.  Nghĩa chính của breast là swelling, u, phồng, sưng, curved shape, hình cong tròn (4.40). Điểm này giống hệt Việt ngữ. Những từ chỉ teat hay nipple (đầu vú, núm vú) thường dùng trong tiếng dân dã chỉ vú (4.41). Từ udder chỉ vú loài vật thường phân biệt với vú phụ nữ nhưng vài khi cũng dùng chồng lên nhau (4.42).
1. vú có nghĩa là chỗ u lên, phồng lên.
Vú là chỗ  u, chỗ phồng lên ở ngực phái nữ. Anh ngữ brus, breast  có nghĩa gốc là “swelling” (sưng, phồng). Brus = b(r)u- = bu, bú, bù, bụ = vú.  Với v câm vú = ú, u. Ú có nghĩa là phồng to như mập ú, mập ù, mập ú ù. U là sưng, phồng như u đầu, u nhọt, u bướu. Việt ngữ u cũng có nghĩa là mẹ (người Bắc gọi mẹ là u), vú cũng có nghĩa là mẹ (người Trung Nam gọi mẹ là vú). U (vú, mẹ) còn gọi  là bu, bú, bụ, bù cũng có nghĩa là vú, mẹ (Bắc gọi u, mẹ là bu, người Huế gọi vú là cái bụ; từ bụ như bụ bẫm, bụ sữa có nghĩa liên hệ với vú. Bụ là bú nhiều sữa trông ú, ù, tròn trịa).
Việt ngữ  u, nguyên nghĩa là chỗ u, phồng lên ở ngực phái nữ, rồi có nghĩa là cái bú, là vú, là mẹ và là một địa khai của nguồn gốc ngôn ngữ loài người (xem thêm Tiếng Việt Huyền Diệu).

 

                        C

 

C biến âm mật thiết với  CH, G, H, K, Q, QU, S. . .
C=CH=G=H=K=Q=QU= S…
1. c=g, corner, góc có cor- = góc.
2. c=h: cut, cắt, hớt = hớt (cắt tóc = hớt tóc).
3.  c=q: Pháp ngữ  biscuit, bánh bích-quy (biscuit có bis- là hai lần, -cuit là nấu chín. Bánh nướng chín hai lần) có -cuit = quy (c=q).
4. c=s: corn = sừng, sỏ.

 

-cap

1. đầu.
2.  đỉnh, chóp.
3. chốc,  trốt  (phương ngữ Huế), đứng đầu,  trước tiên, cả, lớn nhất.
Latin caput, đầu Tây Ban Nha ngữ cabeza, đầu, Pháp ngữ chapeau, mũ, có:
.cap = cấp (đầu) như thủ cấp.
.cap =  cáp (cứng). Ta có từ đôi cứng cáp với cáp = cứng. Ta cũng có từ đi đôi với nhau cứng đầu nghĩa là cứng = đầu = cáp = cap.  Theo c=s, cứng = sừng. Ta thấy rõ sừng = cứng qua gốc Hy Lạp kera- = sừng cũng có nghĩa là cứng  như ceramic (đồ sành) có cera- là cứng. Đồ sành là đồ cứng như đá, như sỏi (vì vậy mà dân dã  Việt Nam mới có câu ví lồn sành, da đa, đít mảnh cong,  rõ ràng sành đi đôi với đá, cứng như đá) nên ta mới có từ đôi sành sỏi nghĩa là sành = sỏi. Gốc Ky Lap cir-, cirrho-, cứng liên hệ với ker-, kera- cũng có nghĩa là cứng, chai cứng như  hepatic cirrhosis, chai gai, cứng gan.
Ta cũng có từ đôi sừng sỏ với sỏ (đầu sỏ) = sừng (xem skull).  Tóm lại cáp = cứng = sừng = sỏ = đầu.
Cáp liên hệ với  đầu với Anh Ngữ cap.
.cap = cả (lớn, đầu tiên) như   vợ cả, con cả, chị, anh cả.
.cap = cái, đầu có nghĩa là lớn, đứng đầu,  trên cao,  cap = cái, cai. Cái có một nghĩa là đầu như  “đầu lâu hoa cái nhà mày”, thợ cái là thợ đứng đầu, cai thợ là thợ đứng đầu (xem head); chữ cái là chữ to ứng với caps., capitals, capitula, chữ cái có cap là lớn, to. Ainu ngữ sapa, đầu, theo s=c, sapa = cap, cấp, cái và sa- = sỏ. Phạn ngữ kapâla, skull có kap-.
.theo c=ch, cap = chóp,  trên đỉnh, trên đầu cùng chóp bu, chóp núi.
.cap = chốc, đầu: Mặc áo tới vai, không ai mặc quá chốc.
.đầu có nghĩa là đầu tiên, trước tiên, theo c=ch, cap = chóp, chốc. Chốc là đầu và cũng có nghĩa là trên, trước tiên, đầu tiên, đứng đầu, hàng đầu ví dụ ăn trên ngồi chốc là ăn trên ngồi đầu, ngồi trước tiên.
.cap = cup, cốc uống nước = cốc. Cốc là vật dùng uống nước. Thời thượng cổ con người thường dùng sọ làm vật đựng nước, uống nước. Phật giáo Tây Tạng La-Ma dùng những cốc bằng sọ người dâng vật cúng lễ. Ta có thể kiểm chứng lại, trong ngôn ngữ Middle High German có “koft”, ‘drinking cup’, tuy nhiên vài khi cũng có nghĩa là cái sọ, đầu (hence sometime ‘skull, head’) (REW 8682).

cap, mũ, vật chụp lên trên như mũ nón.

1. mũ, nón, mão.
2. chóp, mào của chim (Việt ngữ mào biến âm với mão là mũ).
3. vật giống hình mũ, chóp như  đầu nấm.
4. nắp, bao miệng chai lọ.
.theo c=ch, cap = chap = chụp. Pháp ngữ  chapeau, mũ có chap- = chụp (mũ), với h câm, chap- = cap.
.cap = chỏm, phần đỉnh cao, đầu cao của núi, cây như chỏm núi, chỏm cây.
.cap = chùm, phần đầu cây: chòm cây. Chòm biến âm với chỏm.
.cap = chùm, trùm là phủ, che kín đầu như chùm, trùm khăn, mền. Trùm là đứng đầu như ông trùm xóm đạo, tên trùm tướng cướp.
.cap = chũm, phần chóp trái cau gọi là chũm cau:


Vú em nhu nhú chũm cau,
Để anh bóp thử có đau không nào?

(ca dao)


cheek, má

.theo ch=k, cheek  có chee-=  kế, kề (bên) . Việt ngữ má biến âm với mé. Má là mé bên của mặt. Phạn ngữ vâ, on the one side, trên một mé, một bên, rõ như ban ngày vâ = má, mé. Malar, thuộc về má có ma- = má, mé (xem malar).
.Mặt khác cheek liên hệ với chin, cằm, cầm. Buck nhận thấy rằng “ther is considerable interchange between jaw, cheek and chin notably in a widespread cognate group” (4.208) (có sự hoán đổi đáng kể giữa jaw, cheek và chin, đáng kể là trong nhóm các chữ họ hàng có liện hệ rộng lớn). Ta cũng thấy Việt ngữ má liên hệ với Anh ngữ maxillary, mandibule, Latin màla, Pháp ngữ mâchoir, hàm. Cheek cũng liên hệ với jaw, hàm (ch=j). Jaw ruột thịt với Pháp ngữ joue, má. Theo h=c, Việt ngữ hàm = càm, cằm, cầm, cấm vì thế hàm còn gọi là cấm, răng hàm = răng cấm.

                    D

 

D biến âm mật thiết với  Đ, T, L, N . . .
D= Đ =T= L=N…

 

dent- (tiền tố), dăng (răng).

 ví dụ như  denture, dentifrice, dentine (xem những chữ này).

dant– = dăng, răng. Theo d=t, dont– = tooth (xem chữ này).
.theo d=th, dant, dăng = Mường ngữ thăng (răng).
.theo d=t,  dant, dăng = tẫng (mất vài cái răng) = tăm (que xỉa răng)
.dant = đanh, đinh (vật nhọn).
.theo d=n, dant = nanh (như răng nanh).

dental, thuộc về răng.

răng, dăng liên hệ với với ăn. Với d câm, dăng = ăn, phương ngữ Huế đẫn là đớp, ăn tạp. IE * dont-, *dnt là quá khứ phân từ của động từ *ed, eat (ăn). Liên hệ với Latin dens, Pháp ngữ dent , Old Indic dant-, Phạn ngữ dant, dăng, răng.

                   E

 

 

E biến âm mật thiết với A,  I, O, U. . .
E=A=I=O=U…
Như mẹ, mệ = mạ, má =  mị =  mợ = mụ…

elbow, khuỷu tay, cùi chỏ, cùi tay.


trong Ấn-Âu ngữ  elbow thường mang ý nghĩa cong, quẹo. Trong Việt ngữ cũng vậy. Từ khuỷu có nghĩa là cong, quẹo như khúc khuỷu. Khuỷu liên hệ với khoẻo, khoèo, khoeo, kheo có nghĩa là cong queo, quẹo, quèo (kh=qu), eo, ẹo, éo, uốn éo (kh, qu câm). Khuỷu ta là eo tay. Cổ ngữ Việt khoeo, kheo cũng có nghĩa là đầu gối (tương đương với khuỷu tay) như thấy qua câu tục ngữ “cầy chạm vó, bừa mó kheo”. Cái cầy phải mắc vừa chạm vó chân, còn bừa thì vừa chạm kheo (đầu gối) thì trâu bò mới di chuyển dễ dàng khi đi cầy bừa. Khúc, khủyu,  ruột thịt với Phạn ngữ kurpata (u có dấu mũ ^), elbow. Rõ ràng kurpa- =  khúc = khuỷu = cong, cung.
Elbow có bow, cung (tay) và el =  ell, đơn vị đo chiều dài, phần lớn là đo vải. Ell là chiều dài  của cung tay bow từ đầu cùi chỏ đến đầu ngón tay chỏ.
Ta có el- = eo tay = IE *el-, *ele-, cong. Từ cùi tay, cùi chỏ dùng nhiều ở miền Trung Nam, có cùi = Pháp ngữ coude, Tây Ban Nha ngữ codo, khủy tay.
Chữ “eo-lờ” L liên hệ với Việt ngữ eo mang hình ảnh của khủyu tay elbow để thẳng góc. Những chỗ nối ống dẫn  chất lỏng, khí có hình chữ L cũng gọi là elbow.

                        F

 

F biến âm mật thiết vời B, M, P, Ph, V…
F=B=M=P, Ph=V…

 

face, mặt.

 liên hệ với Phạn ngữ muka, mặt.
.theo f=m, face = mặt. Mặt là vật sáng như mặt trăng, mặt trời, mặt người cũng vậy: mặt sáng như gương tầu. Việt ngữ mặt biến âm với mắt, có một nghĩa là sáng như sáng mắt ra, người có mắt là người sáng, là người nhìn thấy sự vật, người không có mắt, không sáng là người tối, người mù. Pháp ngữ visage, mặt ruột thịt với vision, nhìn, thấy.
.theo m=b, mặt = bật,  như bật đèn, bật lửa, bật quẹt, bật sáng lên, liên hệ với gốc Phạn ngữ bhà, sáng, làm cho sáng lên. bhà-; theo f=m=b, face = mặt = bật = bhà-.Việt ngữ  mặt liên hệ với Anh ngữ mask, mặt nạ.
 

                        G

 

G biến âm mật thiết vời C, H = K, Q…
G=C=H=K=Q …

 

gall,  mật (cơ quan động vật), bear gall, mật gấu, gall bladder, túi mật.


gall = gan (nghĩa hoán đổi). Gan và mật có nghĩa hoán đổi, chéo nhau, gall (gan) = mật trong khi chole (mật) =  gan. Theo ch=c=g, chole- = con, cốn (người Hoa phát âm can là cốn) = Hán Việt  can = gan, xem chữ chole.
gall, mối cay đắng, người Tây phương tin mật là nơi sinh ra cay đắng như mật đắng, trong khi Trung Hoa cho  đảm, đởm (mật) là gan dạ như can đảm, đảm lược.

                    H

 

H biến âm mật thiết vời C, G, K, Q. . .
C=G=K=Q. . .
H thường thấy rất nhiều ở dạng câm.

 

hand, tay, chi (Hán Việt  chi là tay chân như tứ chi, cành).
theo Buck, trong Ấn-Âu ngữ , nhiều từ chỉ hand thuộc về một nhóm  có nghĩa gốc là seize (bắt, giữ), take (cầm, lấy), collect (thu lượm, thu thập) hay với nghĩa tương tự. Một số  có nghĩa gốc chỉ  hand, một phần của cánh tay, bàn tay hay nắm tay, bao gồm cả cánh tay arm (4.31). Điểm này giống hệt Việt ngữ. Ngoài ra tay chân người tương đương với cành cây, cánh chim, đuôi thú vật,  vi cá, vòi tua động vật và thực vật.
1. với nghĩa là cầm, nắm, lấy…và những nghĩa tương tự:
.Việt ngữ tay liên hệ với táy như táy mót (mót nhặt), táy máy, tháy máy (Mường ngữ tháy là tay), thẩy (ném), thả (buông tay ra), thuổng (ăn cắp), thộp (cổ), tóm, túm. Tay, bàn tay liên hệ với take, tap (gõ), tear (xé), với proto-Nostratic *tary (y nhỏ, cao) to grasp, to embrace.
.từ handle (tay cầm, chuôi, cán)  có hand, theo h=c, han- = cán, cầm, cần. Phạn Ngữ harana, the hand, taking (cầm, lấy…) có hara- = hand.
2. với nghĩa một phần của tay hay cánh tay.
.tay liên hệ với cổ ngữ Anh tà, Anh ngữ hiện kim toe (ngón chân), (nghĩa lệch, tay chân đều là chi cả).
.cổ ngữ Anh mund, Latin manus, Pháp ngữ main, Tây Ban Nha ngữ manos là tay, liên hệ với mân, mân mê, mân mó, mần mò, mần (làm), mó, mò, mò mẫm, mơn trớn . . .
3. với nghĩa là chi. Chi có nghĩa là tay chân và cành nhánh.
a. chi là chân tay:
.theo h=c=ch, hand = cẳng, chân, chi. Phạn ngữ janghâ (reduplicated han+a), the leg có jan- = han- = jambe (Pháp ngữ), cẳng, chân, háng và han- cũng là hand. Ta thấy hand = cẳng vì thế ta có tay = cẳng, nên ta mới nói cẳng tay, cẳng chân. Từ cẳng tương đương với từ chi. Dân dã Việt Nam nói cẳng tay, thượng cẳng tay hạ cẳng chân không có sai như có người đã nghĩ. Từ đôi cẳng tay có cẳng = tay (cẳng và tay đều là chi cả).
.gốc Hy Lạp cheir-, chiro-, tay như chiropractice (chữa trị bằng tay, dùng thủ thuật, tiếng lóng gọi là thầy mần với mần là làm bằng tay) = chi (Hán Việt).
b. chi là cành, nhánh cây. Tay người tương đương với cành nhánh của loài thực vật.
theo h=c, hand = cần, can (gậy), cành, chành, chánh (cây). Con người được biểu tượng bằng chiếc cây. Con người nguyên thủy do Cây Đời hay Cây Vũ Trụ sinh ra. Theo truyền thuyết Mường Việt, người đàn bà đầu tiên  hay Mẹ Đời của loài người là Dạ Dần sinh ra từ cây si thuộc họ cây đa, tức Cây Đời, Cây Vũ Trụ. Mẹ Đời (thời phụ hệ là Cha Đời)  có hình cây: đầu là Cõi Trên (Mường Then), hai tay là cành cây Cõi Giữa (Mường Bưa), hai chân là Cõi Dưới (Mường Khú) và thân là Trục Thế Giới nối liền ba cõi (Ca Dao Tục Ngữ, Tinh Hoa Dân Việt). Điều này giải thích tại sao tay lại tương đương với cành, chi.
4. với nghĩa là cánh.
cánh của loài chim tương đương với tay người; theo h=c, hand = cánh liên hệ với Phạn ngữ garut, gal, cánh; theo g=c, garu-, gal = cánh. Tay liên hệ với  cánh vì thế ta mới có từ ghép điệp nghĩa cánh tay với cánh = tay. Ta cũng thấy gốc Hy Lạp    pteros, -ptera = cánh như  coleoptere, cánh màng bao (sâu bo) có –ter = tay.
5. với nghĩa là vi, vây cá.
vi, vây cá là phần còn sót lại của tay chân loài cá trong sự tiến hóa. Ta thấy fins (vi, vây cá) ruột thịt với finger, với Việt ngữ vin, vịn, víu. Ngày nay còn nhiều loại cá dùng vi bụng để “đi” như cá trê, cá lóc, cá rô. Cá trê còn gọi là “walking fish” (“cá đi bộ”), (xem chữ fin).
6. với nghĩa là đuôi.
đuôi của một vài loài động vật tương đương với tay người. Chúng dùng đuôi như tay để nắm, giữ.
tail = tay (xem tail).
7. với nghĩa là vòi, tua (tentacle).
vòi, tua của động vật và thực vật tương đương với tay, chân (chi) ví dụ vòi tua của con bạch tuộc octopus được gọi là -pus, có nghĩa là chân. Từ bạch tuộc là dạng nói sai đi của từ bát túc (tám chân). Con bạch tuộc là con bát túc có tám chân (xem octopus). Tentacle liên hệ với tenable, Pháp ngữ tenir, nắm giữ, liên hệ với Việt ngữ  tay.

-handle (tay cầm, chuôi, cán).
có han- = cán.

 

                   I

 

I biến âm mật thiết với A,  E, O, U. . .
I=A=E=O=U…
Như  mị = mạ, má = mẹ, mệ = mợ = mụ…

 

intestine, ruột, lòng, ở trong, nội bộ.

 

Trong Ấn-Âu ngữ, những từ chỉ intestine mang ý nghĩa:
–inside (trong): intestine, entero-, entrail ruột thịt với intero-, enter-, entre-(Pháp ngữ). Điều này cũng thấy trong Việt ngữ. Từ ruột, lòng cũng có nghĩa là ở trong và long có nghĩa là dạ, đôi khi cũng có một nghĩa là tim  như lòng mẹ = tim mẹ (vì tim cũng có một nghĩa là ở trong, ở giữa như tâm điểm, trung tâm).
–string, rope, cord, winding band;  theo  r=d=n,Việt ngữ ruột =  duột = nuột, nuộc, nạt (dây cột), lạt (dây tre) = nịt (dây thắt lưng); Anh ngữ tripe, tripes, ruột lòng thú vật, theo t=d=đ có /trai/ = dải (dây), đai. Anh ngữ bowel, ruột có bow =  bó, buộc, dây bao. Pháp ngữ boudin, dồi  = bó, buộc, dây bao.

–dài, Việt ngữ lòng còn có nghĩa là dài, dài quanh co (cái ống xoắn của nồi cất gọi là ruột gà) như lòng thòng, lòng vòng, Hán Việt trường là ruột như đại trường (ruột già), tiểu trường (ruột non) và trường cũng có nghĩa là dài như trường giang. Việt ngữ  lòng = Anh ngữ long, dài (xem chữ này). Đức ngữ wurst, dồi, xúc xích có gốc từ OHG werdan, quanh co liên hệ với winding, uốn khúc (Buck trang 367).  Theo w=uu và u = o, wurst  có wur- = uốn, uốn khúc liên hệ với  Việt ngữ khúc (ruột). Kim Trọng ngồi nghe Kiều đánh đàn:

        Khi tựa gối, khi cúi đầu,
Khi vò chín khúc, khi chau đôi mày.
(Nguyễn Du, Kiều).

Chín khúc ở đây theo Đông Y là chín khúc ruột. Vò chín khúc là chín khúc ruột bị vò nát, vo tròn bóp lại. Ruột vo tròn lại làm quặn đau khiến cho Kim Trọng “khi tựa gối” nghĩa là chàng ta ép bụng vào đầu gối cho bớt đau, “khi cúi đầu”, Kim Trọng cúi đầu thấp xuống, thu người nhỏ lại cho bớt đau và “khi cau đôi mày”, rõ ràng là vì đau quá nên phải nhăn mặt cau mày. Hiển nhiên Kim Trọng có những triệu chứng “nát lòng”, “nát dạ”, “nẫu lòng”, “não lòng”, tức rầu thúi ruột, tức đau bao tử. Tiếng đàn của Kiều là tiếng đàn đoạn trường, đứt ruột (Ca Dao Tục Ngữ, Tinh Hoa Dân Việt).
Wurst = Việt ngữ vặn, vẹo. Theo w=u, wurst = uuon = uốn (khúc). Theo v=d, wurst = duột, ruột.
.Anh ngữ gut, Phạn ngữ guda-, ruột, theo g=d=r,  gut, gud- = ruột (dân miền Rạch Giá còn phát âm g=r như  con cá rô rẫy trong rổ rau răm = con cá gô gẫy trong gổ gau găm). Ruột liên hệ với IE *reu-to-, intestine.

 

                   J

 

J biến âm mật thiết với CH, C (H câm), KH, K (h câm), D, Gi, Đ (T, TH), G…
J= CH, C=KH, K=D, Gi=Đ (= T= TH) = G…

.Việt ngữ không có j.    

1. j=ch: j tương đương với ch như Java = Chà Và, những người Hồi giáo gốc Java ở miền Nam; ngày nay gọi tắt là người Chà như người Chà Châu Giang. Ta cũng thấy qua Bồ Đào Nha ngữ junk phiên âm Hoa ngữ chwan (thuyền), theo ch=j, chwan = junk.

2.J=d như Jeep = dép, díp (xe), jean = din (quần).
3.J=gi, trong chữ quốc ngữ cổ j=gi như jà = già; jó = gió; jờ = giờ… (Alexandre de Rhodes).
4. J=d=nh như Japan gọi tắt là Jap = Dặt, phát âm Quảng Đông của Nhật và pan = bản. Japan là “Dặt pủn”,  Nhật Bản.
5.j=đ  như jack = đặc (đặc có một nghĩa là đực như tre đặc = tre đực)  đực.
6. j=g: giữa Pháp và Anh ngữ j=g như jardin = garden, vườn.
. . . . . .

jaw, hàm.

 .theo j=ch, jaw = chàm, với h  câm chàm = cấm. Răng cấm là răng hàm, theo c=h, cấm = hàm. Phạn ngữ jambha (jabh+a), jaw, có jam- = hàm.
.Hàm cũng liên hệ với nhai như “tay làm hàm nhai”,  maxillar (hàm trên) liên hệ với Latin macerare, to chew. Ta thấy jaw = chew = chệu, chạo, chệu chạo (nhai chệu chạo).
.theo j=d= g, jaw = gặm, gậm.
.hàm cũng hoán đổi cho cằm, cầm, má. Trong các ngôn ngữ họ hàng có hiện tượng hoán đổi các từ chỉ các phần kề cận nhau (xem cheek). Theo h=c, hàm = cằm, cầm. Trong khi đó jaw hoán đổi với Pháp ngữ joue, má, maxillar (hàm trên) hoán đổi với Việt ngữ má (xem chữ này). Theo j=ch, jaw = cheek, má = chin, cằm cầm. Phạn ngữ hanu, hàm, theo h=c, han- = cằm, cầm.
 

                    K

 

K biến âm mật thiết với C, CH, H, Q, QU. . .

K=C=CH =Q=QU…

 

knee, đầu gối,  khuỷu (chân), kheo, khoeo.

Khoeo, kheo là tiếng cổ,  tục ngữ có câu:

 Cầy chạm vó bừa mó khoeo.

Cầy phải để vừa chạm vó chân, còn bừa vừa chạm đầu gối của con thú thì nó mới di chuyển được dễ dàng trong lúc cầy bừa. Việt ngữ gối có nghĩa là chỗ gập lại, gấp lại, theo biến âm kiểu hấp hối  và h=g, ta có gấp = gối. Theo g=c=kh, ta có gấp = khấp = khớp (chỗ gấp, gập lại, chỡ nối). Ta cũng có biến âm khấp khúc và khúc khủyu nghĩa là khấp = khúc = khuỷu = kheo, khoeo.
.theo k=g, knee = genu (Latin), genou (Pháp ngữ) và theo g=j (garden = jardin), genu =  Phạn ngữ jânu, đầu gối.
.có kee- = kheo, khoeo. Theo biến âm kiểu  kì kèo, ta có kee = keo, kheo, khoeo. Rõ hơn cổ ngữ Anh cneo (knee) có ceo = keo, kheo, khoeo. Gothic kniu = khuỷu.
.có -nee = nối (joint). Theo n=g như nút = gút,  ta có nối = gối.
Cũng cần phân biệt đầu gối (knee) với gối đầu, cái gối (pillow). Như đã nói ở trên đầu gối có nghĩa là chỗ gập lại, gấp lại, là khấp, khớp (chỗ gấp, gập lại, chỡ nối). Gối = gấp = khấp = khớp (joint) trong khi gối (pillow) biến âm với hồi (đầu). Theo g=h, gối = hồi (đầu).
.theo k=qu, có kee- = quì (xem kneel).

kneel, quì.

.ruột thịt với knee. Theo k=c=qu, có kee = quì. Việt ngữ quị (quị gối xuống, ngã quị là ngã chống đầu gối xuống đất), có tác giả dịch stroke là đột quị tức ngã quị xuống một cách đột ngột, nếu hiểu theo nguyên nghĩa ngữ thì không chính xác vì không phải ai bị stroke cũng ngã quị chống đầu gối xuống đất!
.theo k=kh, Gothic kniu (đầu gối) có kiu = khịu, khuỵu (chân xuống).

                   L

 

L biến âm mật thiết với D, Đ, N, NH, NG, R. . .
L=D=Đ=NH=R.

 

langue (Pháp ngữ), lưỡi

cổ ngữ Việt lãn là lưỡi: lãn heo là lưỡi heo (G. Hue), Radé lah, lưỡi. Mường ngữ lai là lưỡi, phương ngữ Huế lại là lưỡi. Việt ngữ  mối lái có nguồn gốc là môi lưỡi. Rõ ràng lái trong mối lái = lai, lại. Mối lái là biến âm của môi lưỡi. Việt ngữ lắt léo cũng liên hệ tới lưỡi, lãn, langue:
Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo.
Hy Lạp ngữ glotta, Ý ngữ language, Tây Ban Nha ngữ . lengua; Ý ngữ lingua…           Nostr. k’alha (2 a with 2 dots) đều liên hệ với lưỡi.

language

.ngôn ngữ,  cũng nói là tongue, ngôn ngữ, lưỡi ruột thịt với Pháp ngữ langue, lưỡi, ngôn ngữ, có lan- = lãn, lưỡi (xem langue).
.tiếng nói (của một dân tộc) như Vietnamese language (tiếng Việt), từ láy nói năng có nói = năng =  lăng = langue. L là dạng nam hóa của N (Tiếng Việt Huyền Diệu).
.lời, lời nói như bad language (lời nói thô tục, xấu xa); lời liên hệ với lưỡi, lãn, language.
.những từ như liếm,  lấp liếm, líu (lưỡi),  líu lo (trẻ con nói líu lo), lịu (nói nhịu), lém, lém lỉnh (miệng lưỡi), liến (thoắng), lẻo (mép, mồm), lắt léo, léo nhéo vân vân, cũng liên hệ với lưỡi, lãn, langue, language.

lap, liếm.


lap = láp, liếm láp. Láp là thành tố láy của liếm cũng có nghĩa là liếm.
Từ đôi lấp liếm có  lấp = liếm = Anh ngữ lap.

lip, môi. 

trong Ấn-Âu ngữ có hiện tượng hoán đổi vị trí của những phần, nhất là ở thân thể  hay có hiện tượng nghĩa lệch trong một ngôn ngữ  hoặc giữa các ngôn ngữ với nhau. Ví dụ Phạn ngữ  ostha-(s, t có chấm dưới), môi,  hoán đổi vị trí với Latin os là miệng; Pháp ngữ bouche, Tây Ban Nha ngữ  boca, miệng hoán đổi với Latin bucca (má phình, má phính). Việt ngữ  cũng vậy, môi hoán đổi với mouth, muzzle, mug của Anh ngữ.  Ngoài ra:
1. lip =  lấp (che) = liếp (vật che).
Môi là phần che (miệng, bộ phận sinh dục nữ). Môi biến âm với mai, vật che (như mai rùa, mai cua), mái (nóc nhà che mưa nắng, mái tóc che đầu), mài (vẩy che như mài ốc che miệng ốc), mày (lông che mắt), mui (mái che thuyền, xe như mui thuyền, mui xe…), mi ( mi = mày, chúng mi = chúng mày), lông mi che mắt giống như lông mày. Anh ngữ “lip” (môi) biến âm với lid (nắp che, đậy). Lip chính là Việt ngữ  liếp (vật che).
Hy Lạp ngữ  cheilos, lip có che- = che. Việt ngữ chề, trề (môi) liên hệ với cheilos.
2. lip = lép, lép nhép (cái môi miệng lép nhép cả ngày). Theo l=nh, lép = nhép, nhếch (môi). Hát nhép là hát nhép môi theo bài hát đã thâu sẵn rồi phát ra. Hát nhép = lip sing. Rõ ràng lip = lép = nhép. Từ đôi lép bép  có nghĩa đen là môi mép Theo b=m, bép = mép).
3. lip = mép = miệng (hoán đổi vị trí), từ đôi môi mép có môi = mép ví dụ  mép vải là cả bờ vải chứ không phải chỉ một góc đầu bờ vải, khâu hai mép vải vào nhau là khâu hai môi vải vào nhau và môi miệng có môi = miệng ví dụ như bẻo mép với mép ở đây có nghĩa là miệng. Từ đôi lép bép có lép = bép. Theo l=b=m, ta có lip = lép =  bép = mép = miệng.

                       M

M biến âm mật thiết với B, F, P, PH, V…
M=B=F=P=PH=V…

 

malar, thuộc về má.

 có ma- = má. Việt ngữ má biến âm với mé. Má là mé bên mặt. Ngôn ngữ Lettic mala, edge, mé. Latin màla, maxilla, hàm. Anh ngữ cheek liên hệ với chin, cầm, cằm (xem cheek).
.hàm ruột thịt với nhai, ăn. Theo h =c=g = hàm = cấm (răng) = gậm, gặm.
có mandible có mand- = màng. Mường ngữ màng là nhai:

 

Em có dạ lòng thương,
Thì em lấy trầu mà màng.
     (Hoàng Anh Nhân, Tuyển Tập Thơ Mường, t. II, tr.227).

màng là nhai ruột thịt với mandible, hàm. Tục ngữ có câu “Tay làm hàm nhai”. Màng, nhai liên hệ với Pháp ngữ manger, ăn. Tục ngữ cũng có câu “Ăn có nhai, nói có nghĩ”.

.xương hàm dưới  hoán đổi cho malar (xương gò má) và Việt ngữ má. Trong các ngôn ngữ họ hàng có hiện tượng hoán đổi các từ chỉ các phần kề cận nhau (xem cheek). Ta có ma- = ma(lar) = má. Răng hàm là răng ở phía bên má.

                   N

 

N biến âm mật thiết với Đ, D, L, T…
N=Đ=D=L= T…

 

nose, mũi, khứu giác, đầu nhọn như mũi thuyền, chỗ nhô ra như mũi Cà Mau…

trong Ấn-Âu ngữ nose là cơ quan để ngửi, thở và cũng có nghĩa là phần nhô ra, đâm ra, mỏm, phía trước như mũi thuyền,  đằng mũi (đi với đằng lái), mũi Cà Mau, nhọn, vật có mũi nhọn.

1. mũi là cơ quan để ngửi.
.theo n= ng,  nose  liên hệ với ngửi, ngạt (nghẹt, tắc mũi), ngát, ngạt ngào (hương thơm). Rõ hơn, Phạn Ngữ nas, nâsa, mũi có na- = ná liên hệ với ngát, ngạt ngào, ngạt. Việt ngữ mũi ruột thịt với mùi (hương).

2.  mũi là cơ quan để thở.
.nose liên hệ với ngạt, nghẹt (không thở được như ngạt thở, nghẹt thở, ngạt nghẹt mũi)
liên hệ với Phạn ngữ nâha, obstruction, với nas, nâsa, mũi. Việt ngữ  ná thở là mệt thở không được, muốn hết thở có ná liên hệ với ngạt thở, với nâha, obstruction.

3. phần nhô ra, đâm ra, mỏm (như mũi đất, mỏm đất), phía trước. Ta có nose = nhô (với h câm nhô = nose),  Việt ngữ né là mũi đất như mũi Né ở Phan Thiết, nguyên thủy dân chúng nói đi ra ngoài né (mũi đất) sau né thành tên Mũi Né. Né ruột thịt với Pháp ngữ nez, Phạn ngữ nas…

4. nhọn, vật có mũi nhọn.
nose có no- = nõ, cọc nhọn. Nose chỉ chỗ nhô ra như cái cọc nhọn. Tiếng cổ Việt nõ chỉ bộ phận sinh dục nam như “nõ nường” (nọc nòng). Nõ là cái cọc, cái nọc như đóng cọc mít cho mau chín gọi là đóng nõ mít. Nõ nam hóa thành lõ. Trong từ Điển Việt Bồ La của Alexandre de Rhodes có từ “lô, “con lô: cơ quan sinh dục của đàn ông” và từ “lõ”: làm dương vật cương lên như khi con vật giao cấu. Blỏ cùng một nghĩa” . Hiển nhiên lõ, lô là biến âm của nõ. Lõ trong tiếng Việt hiện nay chỉ vật gì đâm ra như cái cọc nhọn ví dụ mũi lõ, cặc lõ hay lõ cặc. Đúng ra phải nói “mũi nõ” là cái mũi đâm ra trông như cái nõ, cái cọc nhọn và từ cặc cũng vậy. Còn từ “lõ” vô nghĩa (L là dạng nam hóa của N).
.nose liên hệ với nỏ, ná vật bắn mũi nhọn (tên). Ta thấy rõ nose, mũi, narine, lỗ mũi , nasal, thuộc về mũi; Phạn Ngữ nas, nâsa, mũi có na- = ná, nỏ (xem naze, nez).
.nose liên hệ với Việt ngữ náp (cái lao), lù náp (Hỳnh Tịnh Paulus Của).
.nose, nez (Pháp ngữ) liên hệ với nể, lể là dùng vật có mũi nhọn để khêu như lể ốc hay chích máu như lể giác.

 

                   P

 

P  biến âm mật thiết với B, M, Ph, V…
B=M= Ph=V…

 

palm, bàn tay; gan, lòng bàn tay.


phần bằng của bàn tay. Ý nghĩa bằng có trước  nghĩa lá palm giống bàn tay.
.theo p=b, pal- = bằng = bàn (tay), Phạn ngữ pâni, tay.
.theo p=b= v, palm = bụm = vụm = vốc (đầy một lòng bàn tay)
.Việt ngữ  phần lõm bàn tay cò gọi là lòng bàn tay hay gan bàn tay. Từ gan bàn tay có gốc từ Phạn ngữ gal-, hand, bàn tay. Việt ngữ  gang tay (chiều dài bàn tay) cũng có gốc từ Phạn ngữ gal-.

                         R

 

R biến âm mật thiết với L, D, T, N. . .
R=L=D=T=N . . .
Người Trung Hoa nói R thành L (nói fried rice thành fried lice).

 

rib, sườn, xương sườn, lườn.

.theo r=l, rib =  lườn.
.xương sừơn hàm nghĩa dàn cột chống đỡ, rib = rường (cột), ràng, dàng, dàn, Nga ngữ kost, Balan ngữ kosc, sườn,  có kos- = cột.
.khung sườn nhà, tầu giống như cái lồng. Rib với nghĩa này hoán đổi vị trí cho chest, hòm, tủ, hộp, lồng ngực (xem chữ này). Rib = lường = lồng.
.theo Buck, rib có một nghĩa là “cover with a roof” (4.162), ta thấy rib = roof = rợp, lợp. Theo r=l, rib = liếp, vật che.
.cạnh, bên cạnh, sườn hàm nghĩa hai bên cạnh lồng ngực, Ta có từ đôi cạnh sườn với cạnh = sườn, Pháp ngữ  côte, sườn, có một nghĩa gần cận với côté, cạnh, cạnh sườn.
.gân (lá), vân (lông chim), vạch, vết rạch, lằn (vỏ hầu, vỏ hến), luống (cầy, bừa);
rib =  rạch = dạch = vạch. Theo r=l, rib = lằn, luống.

 

                     S

 

S biến âm mật thiết với, C, CH, G, K, S, X, SH…
S=C=CH=G=K=S=X= SH…

 

shank, shanks

.cẳng, chân, xương ống chân; theo s=c, shan- = chân, cẳng.
.thân (cây, cột), tay chèo, cán dao; shan- = cành, cán.
Ở đây ta cũng thấy cẳng chân ruột thịt với cành cây như thấy qua Hán Việt chi vì thế shank vừa có nghĩa là chân, cẳng, thân cây (ruột thịt với cành cây, nghĩa lệch), cái dầm chèo đò thường làm bằng gỗ, bằng cành cây và coi như là nối dài của hai tay. Cán dao là chỗ tay cầm, Anh ngữ là handle có hand-, ta có thể nói là “tay dao”. Cán dao cũng thường làm bằng cây. Như đã biết  tay cũng gọi là cẳng như thượng cẳng tay, hạ cẳng chân, cũng gọi là chi (xem arm). Do đó shank là cẳng, chân, thân (cây, cột), tay chèo, cán dao là vậy.

shoulder, vai, bá vai, bả vai; phần hai bên như ở hai bên đường, phần bằng như của đồi núi, phần nâng đỡ.

theo Buck, trong Ấn-Âu ngữ, một vài từ vai  có gốc là shoulder blade (xương bả vai), hàm nghĩa bằng, rộng ngang hay nối kết (4.30). Điều này cũng đúng trong Việt ngữ. Vai cũng có nghĩa là rộng, bề ngang như từ vai ngang, vai năm tấc rộng, thân mười thước cao (Kiều, Nguiyễn Du).   Theo v=m, vai = mai. Cái mai là cái thuổng có mặt bằng giống như blade. Xương vai là xương mai. Mường ngữ gọi vai là mai. Thời tiền sử, con người dùng xương bả vai dẹp để xúc, đào, sau này chế ra cái mai đào đất dựa theo xương vai. Mai biến âm với moi (đào, bới).
Ta thấy rất rõ shoulder = suổng (thuổng), một thứ mai đào đất. Shoulder ruột thịt với shove, xô, đẩy  có sho- = sô, xô; với shovel, xẻng, vật để xúc, động từ shove, xúc, với h câm, shov- = súc, xúc.
shoulder (động từ)
.xổ đẩy bằng vai, sho- = xô.
.khuân,  mang vật gì bằng vai, theo sh=kh, shoul- = khuân.
.vác, mang vật gì trên vai. Việt ngữ vác chính là Mường ngữ vác có nghĩa là vai. Vác liên hệ với PIE *wed [h} (h nhỏ và cao), với Proto-Nostratic *wad- (to carry, to bring).
.Việt ngữ gánh, tức mang vật gì bằng cái đòn trên vai, ruột thịt với Phạn ngữ  skanda, shoulder. Rõ ràng theo s=k=g, sand-, kand- = gánh.

 

                    T

 

T biến âm mật thiết với Đ, D, TH, TR, N…
T=Đ=D=N=TH= TR…

 

temple, màng tang, bên tai, thái dương.

có temp- =  tầm, hoa tai. Ta thường nghe câu hát:

           Đêm qua tát nước đầu đình,
Để quên cái áo trên cành hoa sen.
Em có bắt được thì cho anh xin,
Hay là em để làm tin trong nhà.
. . . . . .

            Giúp em đôi chiếu em nằm,
Đôi chăn em đắp, đôi TẦM em đeo.
Giúp em quan tám tiền cheo,
Quan năm tiền cưới, lại đèo buồng cau.

Hay
Gái khôn con đã đến thì,
Để mẹ sắm sửa cho đi lấy chồng.
Mẹ sắm cho con cái yếm nhất phẩm hồng,
Dép cong, nón trẫm với dây thao điều,
Đôi TẦM vàng rực con đeo…

Có người viết là đôi TẰM và giải thích bông tai giống như con tằm là sai. Tôi không thấy có đôi bông tai nào  giống như con sâu tằm cả. Có người  viết là TRẦM hay giải thích TẦM là trầm, các ca sĩ cũng hát là “đôi trầm” đều sai cả. Trầm là thứ gỗ quí dân dã Việt Nam ít biết đến, chỉ dùng trong tín ngưỡng và làm vật dụng như quạt trầm dành cho giới vương giả mà thôi. Bông tai không bao giờ làm bằng gỗ trầm cả. TẦM, TẰM chính gốc là do Phạn ngữ “uttamsa” (m có dấu ngã ỏ trên) có nghĩa là “ear-ring” (hoa tai). Giải tự từ uttamsa có ut- là trên, “ut” đẻ ra Anh ngữ “up”, Gothic và Anglosaxon ut, Old High German uz (u có dấu mũ) có nghĩa là trên. Phạn ngữ tams (to adorn) trang sức, trang điểm, trang trí. Dĩ nhiên hoa tai là một thứ trang sức. Tams cũng có nghĩa là “to shake”, rung. Đồ trang sức “rung”, “đu đưa” là hình ảnh của hoa tai. Vì thế đôi bông tai còn gọi là đôi tòng teng. Kiểm điểm lại ta cũng thấy Việt ngữ có từ đôi “tiếng tăm” hay “tăm tiếng” nghĩa là ta có tiếng = tăm. Ta thấy rất rõ “tiếng” là âm thanh đi với “tai” vì thế “tăm” trong Việt ngữ hàm nghĩa tai. Tăm và tai đều có cùng gốc “ta” cùng với từ “tang”. Tang cũng hàm nghĩa là tai, gần tai, ở hai bên giống như hai tai ở hai bên ví dụ như màng tang, tang trống. Ta cũng thấy tầm hay tằm đi đôi với “tang” qua từ đôi “tầm tang” có nghĩa là con tằm đi đôi với cây dâu như thế rõ như ban ngày tầm hay tằm là hoa tai đi đôi khắng khít với tang là tai. Bằng chứng hùng hồn nhất là Chàm ngữ “tang” có nghĩa là tai. Trung Nam nói màng tang  là bị ảnh hưởng Chàm, trong khi miền Bắc nói theo Hán Việt  gọi là thái dương. So sánh  bất phương trình:    

            tăm tiếng > <  tai tiếng
Ta có ngay        

tăm = tai.
Như thế đôi tằm hay tầm có nghĩa là đôi hoa tai liên hệ với Phạn ngữ uttamsa, hoa tai một trăm phần trăm.  Mã ngữ tempeleng (e đầu tiên có dấu ă): “a box on the ear”, hoa tai hình hộp, có tem- phát gốc từ Phạn ngữ tams, trang sức ở tai. Pháp ngữ tempe, Anh ngữ temple, temporal (màng tang, thái dương) có tem- gần cận với gốc Mã ngữ tem-. Đây cũng là một ví dụ cho thấy Việt ngữ, Mã ngữ, Anh Pháp ngữ (Ấn-Âu ngữ) có thể đã cùng lấy từ gốc Phạn chứ khó có thể nói từ tầm, tằm (hoa tai) của Việt Nam lấy từ Mã ngữ hay Ấn-Âu ngữ (Tiếng Việt Huyền Diệu).


toe, ngón chân, chân tường, đầu mũi giầy.

.phần đầu chót của bàn chân cũng gọi là ngón chân giống như trường hợp ở bàn tay gọi là ngón tay. Ngón biến âm với ngọn, phần chót, phần đỉnh của cây, của tay chân. Nên nhớ là tay chân ruột thịt với cành, cây như thấy qua từ  Hán Việt chi là tay chân và cũng có nghĩa là cành (xem arm). Cành, cây thì có phần ngọn gọi là chỏm, đỉnh, đầu tận, đầu chót, đầu tót (cao). Ngón chân, ngón tay là phần ngọn của bàn tay, bàn chân. Vì vậy ta phải nói kèm theo từ chân hay t ay với từ ngón để phân biệt. Điểm này cũng thấy rõ qua Ý ngữ  dito del piede (toe), Tây Ban Nha ngữ dedo del pie (toe).
Buck cũng nhận xét thấy cổ ngữ Anh ta, Anh ngữ  hiện kim toe thường cũng diễn tả finger” (4.38). Điều này dễ hiểu vì toe chỉ có nghĩa là ngón, ngọn nên chỉ cả ngón tay finger.
Ta thấy rõ toe ruột thịt với top (phần cao nhất, tận cùng nhất như ngọn, chỏm, đỉnh, đầu, phần đầu, đứng đầu), tip (đầu, mút, đỉnh, chót) (xem những chữ này), toe = Việt ngữ tót (tót vót, cao tót vót), tột (tột đỉnh), tận (tận cùng). Cổ ngữ Anh tà (toe), Đan Mạch ngữ taa, Thụy Điển ngữ tả =  Việt ngữ tận (cùng, chót).
.Việt ngữ tò tò là đi, đến mà không được chấp thuận như  thằng bé tò tò đi theo mẹ; anh ta tò tò vác mặt đến dù không được mời. Rất rõ, toe  liên hệ với  tò tò. Hiển nhiên tò tò (hàm nghĩa đi) liên hệ với toe giống như mần mò liên hệ với finger (xem chữ này).

 

                    U

U biến âm mật thiết với V, O, OO, A, E, I = K, Q…
U = V= O = OO = A =E = I…

 

uterus, dạ con, tử cung.

 

có u- = u (mẹ); -uterus, Việt ngữ dạ  biến âm với da lá cái túi cái bao, dạ con là cái túi đựng con,  dạ dầy là túi đựng đồ ăn. Mường ngữ dạ là người đàn bà có con, mẹ. Theo d=n, dạ = nạ, ná là mẹ: có nạ là mạ thiên hạ tức  có mẹ là mẹ thiên hạ. Trong khi từ womb, dạ con, tử cung (cung, chỗ ở của con) có wom- = vòm, chỗ có hình vòm, hình cung tròn như cung vua cùng nghĩa với từ cung của tử cung.

 

V

 

U biến âm mật thiết với V, O, OO, A, E, I = K, Q. . .
V=U=O=OO=A=E= I…

 

.Latin cổ U = V hiện kim, Latin vox, Anh ngữ voice = Việt ngữ u, ơ, vowel,      nguyên âm = u, ơ.
.wagon = va-gông.
.Pháp ngữ  vagabond = ma-cà-bông (phiên âm), dân lang bang, lang thang.
 

vulva, lồn, mu lồn, cửa mình, âm hộ, âm môn.

 .vu- = ví (bao, túi), và vul- = vọc, bọc, bóp. Ví là từ lóng chỉ bộ phận sinh dục nữ.
.theo v= m, vu- = mu, Latin pudenda, pudendum, vulva có pu- = mu, Phạn ngữ buli, vulva có bu- = mu.
-theo v=b,  vul- = bẹn có một nghĩa chỉ bộ phận sinh dục nữ (Từ Điển Việt Bồ La, Alexandre de Rhode), vul- = bọc,  vulv- = bọng, bộng,  bụng liên hệ với bộ phận sinh dục nữ (nghĩa lệch). Phạn ngữ buli, vulva có bul- = bọc, bọc, bộng, bụng. Ta thấy rất rõ Latin vulva có nghĩa là womb,  dạ, bụng, bọc chứa con (xem chữ này).
-theo y=d, Phạn ngữ yoni, vulva có yon- = dôn = lồn. Ở Thái Bình có một lo ài sò có tên là con don. Sò, hến, nghêu có một nghĩa chỉ lồn ví dụ như con lồn tiên. Con don là con yoni, \con lồn.

Ta cũng thấy Tây Ban Nha ngữ dona, Ý ngữ donna, Bồ Đào Nha ngữ dona, lady (đàn bà) có don- = lồn. Đàn bà là phái có yoni, có lồn. Điểm này in hệt như trong Việt ngữ, nàng có nường (hiểu theo nghĩa bộ phận sinh dục nữ như trong nõ nường).

                    W


W biến âm mật thiết vời V, D,  U, Q, QU, K, C, H…

W = V = D (người Nam dùng D thay V) =U= Q= QU=K=C= H…

w=h như hoa! = whoa! (xem chữ hoa), Hán Việt wa, wah = hoa, hòa như nhà băng San Wa = Tam Hòa, chợ Man Wah = Văn Hoa…

waist

1. chỗ thắt lưng, ngang lưng, ngang hông, chỗ eo, eo ếch, yêu, kích (Hán Việt).
2. chỗ eo lại của vĩ cầm.
3. phần giữa sân tầu.
4. áo chẽn thân người của đàn bà.
được cho là liên hệ với wax, mọc, tăng trưởng (wax and wane), Trung cổ Anh ngữ wast, có nghĩa là “tăng trưởng”, “mọc” chỉ phần thân thể, nơi kích thước và sức mạnh  phát triển (the part of the body where size and strength are developed), Trung cổ Anh ngữ wacst, sức mạnh. Nếu chấp nhận như thế thì  theo w=vv = b=m, có wai-, wac- = mạnh, mọc. Theo biến âm với Việt ngữ ta thấy:
.theo w=v=d=y, wai- = yêu (Hán Việt)  có nghĩa là eo như bát chiết yêu là bát thắt eo, với y câm, yêu = eo.
.theo w=h=k. wais- = kích, chỗ eo thân người, thân áo như hẹp kích, rộng kích. Ta thấy  kích cũng đi đôi với kích tấc, kích thước tức size, đúng như Trung cổ Anh ngữ wast, có nghĩa là “tăng trưởng”, “mọc”, chỉ phần thân thể, nơi kích thước và sức mạnh  phát triển, tức là cái kích (cái eo). Tại sao chỗ eo thân người lại liên hệ tới sự tăng trưởng và sức mạnh. Về y học chỗ eo thân người là nơi có hai quả thận và nang thượng thận. Tuyến nang thượng thận tiết ra kích thích tố giúp liên hệ với kích thích tố tăng trưởng giúp cho thân thể tăng trưởng vàkích thích tố giúp cho con người có sức mạnh. Ta cũng thấy kidney = cật, liên hệ với kích (eo, hông), xem chữ kidney.

 

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: