TỪ ĐIỂN TƯƠNG ĐỒNG ANH-VIỆT NGỮ

(*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).

TỪ ĐIỂN TƯƠNG ĐỒNG ANH-VIỆT NGỮ

Nguyễn Xuân Quang

LỜI MỞ ĐẦU

Tôi khám phá ra có sự liên hệ mật thiết giữa Việt ngữ và Phạn ngữ (Tiếng Việt Huyền Diệu). Sự liên hệ này có thể là:

1. liên hệ trực tiếp, ruột thịt, mẹ con giữa Việt ngữ và Phạn ngữ.

2. liên hệ qua trung gian như:

-Việt ngữ liên hệ với Hán ngữ (có tác giả cho là có tới 60 % từ Hán Việt trong Việt ngữ) mà một số Hán ngữ liên hệ với Phạn ngữ nên Việt ngữ liên hệ với Phạn ngữ qua Hán ngữ.

-Việt ngữ liên hệ với Nam Đảo, Mã-Nam Dương ngữ (quá nửa tiếng Java có gốc hay liên hệ với Phạn ngữ) nên Việt ngữ liên hệ với Phạn ngữ qua Nam Đảo, Đa Đảo ngữ.

-Việt ngữ liên hệ với Thái ngữ mà một số lớn Thái ngữ liên hệ với Phạn ngữ (chữ Thái ruột thịt với chữ Phạn ngữ) nên Việt ngữ liên hệ với Phạn ngữ qua nhóm Thái-Tầy ngữ.

-Việt ngữ liên hệ với Champa ngữ (Chiêm, Chàm, Chăm) mà một số Champa ngữ liên hệ với Phạn ngữ (một phần lớn người Champa theo Ấn giáo, chữ Champa trên tấm bia cổ Võ Cạnh ruột thịt với chữ Phạn) nên Việt ngữ liên hệ với Phạn ngữ qua Champa ngữ.

-Việt ngữ liên hệ với Khmer (Campuchia) ngữ mà một số Campuchia ngữ liên hệ với Phạn ngữ (chữ viết Campuchia ruột thịt với chữ Phạn ngữ) nên Việt ngữ liên hệ với Phạn ngữ qua Môn-Khmer mgữ.

vân vân và vân vân…

Ngoài ra cũng liên hệ qua ngả giao lưu văn hóa như Phật giáo đã cung cấp một số không ít những từ Việt gốc Phạn.

Nên nhớ liên hệ phải hiểu theo hai chiều là các ngôn ngữ trên cũng có thể liên hệ với Phạn ngữ qua Việt ngữ.  Tôi cũng đã chứng minh Việt ngữ là một ngôn ngữ tối cổ, hay liên hệ với một ngôn ngữ tối cổ, là nguồn gốc hay  liên hệ với nguồn gốc ngôn ngữ loài người (Tiếng Việt Huyền Diệu). Vì thế ngay chính Phạn ngữ cũng có thể liên hệ với Việt ngữ.

Mặt khác ta cũng đã biết Anh, Pháp, Đức… thuộc đại tộc Ấn-Âu ngữ (Indo-Europian Language) nghĩa là có gốc Ấn (Indo-) ruột thịt với Phạn ngữ. Như vậy ở khía cạnh Phạn ngữ , Việt ngữ và Ấn Âu ngữ nói chung, Anh, Pháp, Đức ngữ. . . nói riêng có liên hệ với nhau qua mẫu số chung Phạn ngữ.

Như thế thu nhỏ lại, có sự liên hệ giữa Việt ngữ và Anh ngữ và sự liên hệ này có thể là ruột thịt máu mủ hay liên hệ do môi trường (tiếp xúc, vay mượn) hay qua trung gian một ngôn ngữ khác liên hệ với Việt ngữ . Tôi xin để qua một bên sự liên hệ này như thế nào (sẽ viết rõ trong tác phẩm Sự Liên Hệ Giữa Việt Ngữ và Ấn-Âu Ngữ) . Ở đây tôi chỉ rút tỉa ra một ứng dụng, một thực dụng rất hữu ích là từ sự liên hệ này ta có thể học tiếng Anh nói riêng và Ấn Âu ngữ nói chung bằng tiếng Việt và ngược lại. Vì Anh ngữ là tiếng được dùng nhiều trên thế giới nên tôi chú trọng nhiều tới việc học Anh ngữ bằng tiếng Việt. Hơn nữa, vì sống ở Hoa Kỳ nên Anh ngữ đối với tôi dễ truy cứu hơn các ngôn ngữ khác của Ấn-Âu ngữ (các người Việt khác sống ở Pháp, Đức, Ý… cũng có thể theo dấu chân tôi dùng tiếng Việt học tiếng Pháp, Đức, Ý… và soạn ra các quyển từ điển tương tự). Học Anh ngữ bằng Việt ngữ giúp những người Việt nhất là giới lớn tuổi giỏi tiếng Việt có thể dùng tiếng Việt học Anh ngữ và các thế hệ trẻ sinh đẻ ở hải ngoại và các người ngoại quốc giỏi Anh ngữ có thể dùng tiếng Anh học tiếng Việt.

Sự liên hệ này trong trường hợp lý tưởng tức liên hệ mẹ con (xem Học Anh Ngữ Bằng Việt Ngữ) chúng ta thấy hai từ giống nhau như đúc, giống y chang về cả từ lẫn ý nhưng trong những trường hợp khác vì ngôn ngữ là một sinh ngữ, nó sinh ra, lớn lên, già đi, mai một đi, đẻ ra những từ khác… nên chúng không còn giống nhau như mẹ con nữa mà chỉ như chị em, anh em, họ hàng thân thích và bà con xa.

Trong những trường hợp này ta phải nhờ tới những hiện tượng biến âm lịch sử, biến nghĩa, gốc chữ, chữ câm, từ ghép, từ đôi, từ láy… Ở đây chỉ xin nếu ra một hai ví dụ. Hiện tượng biến âm lịch sử như b = m = v (trong Việt ngữ b là dạng cổ của m như bồ hôi = mồi hôi, ngày nay nhiều địa phương còn dùng từ bầm, có nghĩa là mẹ, người vú nuôi, chị vú nuôi, theo b=m, ta có bầm = mầm = mama, maman, má…), mẫu tự b vũng là dạng cổ của v như = (ngựa) (Từ Điển Việt Bồ La, Alexandre de Rhode). Mẫu tự h có thể là dạng cổ của k, c như bệnh hen là bệnh kèn (h=k). Người bị bệnh hen thở cò cử như thổi kèn:

Chồng hen lấy vợ cũng hen,

Đêm nằm cò cử như kèn thổi đôi.

(ca dao).

vân vân…

Biến âm dựa vào các qui luật biến âm lịch sử thấy trong Việt ngữ và Ấn-Âu ngữ.

Biến âm có thể theo phát âm của Việt ngữ hay Anh ngữ và biến âm cũng có thể theo mặt chữ.

Về biến nghĩa thì hiện tượng biến âm có thể làm nghĩa đã biến đổi, nghĩa đã lai đi nhưng vẫn còn liên hệ với nghĩa gốc. Những từ càng gần âm tức biến âm càng ruột thịt bao nhiêu thì nghĩa càng gần cận bấy nhiêu. Ví dụ cành cùng với cánh một vần thì cành có cùng nghĩa với cánh. Cành cây tương đương với tay người. Hán Việt chi (cành) và tay chân người cũng gọi là chi (tứ chi). Theo tiến hóa cánh chim = tay người (chim tiến hóa thành khỉ, đười rồi mới thành người) như thấy qua từ đôi cánh tay nghĩa là cánh = tay. Như thế cành = cánh = tay = cẳng = chi. Việt ngữ cẳng thường hiểu là chân, thật ra cẳng liên hệ với chánh, chành, chi cũng chỉ cả chân và tay (tức tứ chi) như thấy qua các từ đôi cẳng chân, cẳng tay ví dụ như “thượng cẳng tay hạ cẳng chân”. Người Bắc dùng cẳng tay không có sai ngữ pháp như có người đã nghĩ. Sự biến âm khác vần thì nghĩa sẽ lai đi nhưng vẫn liên hệ với nhau. Biến âm cùng nhóm âm sẽ ruột thịt hơn (xem Tiếng Việt Huyền Diệu). Ví dụ foot, chân với boot, giầy (biến âm f=b với nghĩa đã biến đi nhưng giầy liên hệ ruột thịt với chân).

Nghĩa ngữ có thể chia ra ít nhất là bốn loại: nghĩa giống trực tiếp, nghĩa lệch, nghĩa chéo và nghĩa hoán đổi vị trí.

1. Nghĩa trực tiếp hay thẳng:

Hai từ Việt và Anh ngữ có nghĩa y chang như nhau. Trường hợp lý tưởng thường thấy nhất là khi có biến âm mẹ con. Ví dụ:

deuce, đều nhau (như trong tennis, hai bên có cùng số điểm 40 gọi là deuce), có deu- = đều.

char (đốt cháy thành than, thiêu rụi, nướng than như char-broiled hamburger) = chả (thịt nướng than, nướng lửa).

pouch = bao (túi, bị).

. . . . . .

2. Nghĩa lệch:

Cùng gốc nhưng hai từ Việt và Anh ngữ có nghĩa lệch, nghĩa đã lái, đã lai đi. Nghĩa càng lệch khi biến âm càng nhiều lần hay càng khác vần. Trường hợp này có thể coi là khi có biến âm chị em, họ hàng thân thích. Ví dụ:

blue, màu trời = blời, từ cổ của trời (Việt ngữ blời là danh từ là từ gốc trong khi blue là tính từ do blời đẻ ra).

lake (hồ) = lạch. Hồ lake và lạch cả hai cùng có gốc la-, na là nước.

tía (Quảng Đông ngữ, Quảng Đông thuộc địa bàn Bách Việt), cha = tio (Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha), cậu (uncle).

thronetrôn (Nga ngữ) là ngai, ngôi = Việt ngữ trôn (đít, phần để ngồi, bán trôn nuôi miệng).

……

3. Nghĩa chéo:

Cùng gốc nhưng hai từ Việt và Anh ngữ có nghĩa chéo nhau, trao đổi nghĩa cho nhau. Trường hợp này có thể coi là khi có biến âm bà con. Ví dụ:

buffalo (trâu) có bu- = bò trong khi đó cow (bò cái) phát âm là /cao/ đọc thêm hơi vào thành chao, châu, trâu. Trâu trong Anh ngữ là bò Việt ngữ trong khi bò trong Anh ngữ lại là trâu trong Việt ngữ.

cheese (fromage, Pháp ngữ ) = chi (Hán Việt), dầu = Hindu ghee (mỡ lỏng).

wide, rộng có /wai/ = vài = dài trong khi Anh ngữ long (dài) có long = lộng = rộng (l=r).

chole, mật gan. Theo ch= c=g, gốc chol- = cốn (người Hoa phát âm gan là cốn), can (Hán Việt) = gan (c=g). Gan và mật có nghĩa chéo nhau, gall =/gan/ = mật trong khi chole (mật) = cốn, can, gan.

. . . . . .

4. Hoán Đổi vị trí:

Trong cùng một ngôn ngữ hay trong những ngôn ngữ ruột thịt bà con với nhau có hiện tượng hoán đổi vị trí những từ có vị trí nằm kế cận nhau ví dụ trong ngôn ngữ này lại là cằm, cầm trong ngôn ngữ khác. Buck nhận thấy rằng “ther is considerable interchange between ‘jaw’, ‘cheek’ and ‘chin’ notably in a widespread cognate group” (4.208) (có sự hoán đổi đáng kể giữa jaw, cheekchin trong nhóm các chữ họ hàng có liên hệ rộng lớn). Ta thấy Việt ngữ hoán đổi với Anh ngữ maxillary (hàm trên), mandibule (hàm dưới), Latin màla, Pháp ngữ mâchoir, hàm. Jaw hoán đổi với Pháp ngữ joue, má. Theo h=c, Việt ngữ hàm = càm, cằm vì thế hàm còn gọi là cấm, răng hàm = răng cấm. Việt ngữ cấm (răng) = hàm (răng) = machoir = má cho thấy cheek hoán đổi vơi chin, cằm, cầm.

……

Vì biến âm dẫn đến biến nghĩa. Biến nghĩa trực tiếp hay thẳng có nghĩa y chang; biến âm lệch, biến âm chéo, biến âm hoán đổi vị trí nghĩa có khác đi nhưng vẫn có cùng một gốc nghĩa mẹ. Vì thế các nhà tầm nguyên ngữ học Tây phương giải nghĩa các từ theo biến âm trong ngôn ngữ Tây phương, trong khi tôi giải nghĩa theo biến âm trong Việt ngữ nên có thể có dị biệt nhưng không hẳn là ai sai ai đúng mà cả hai đều có thể đúng cả nếu hiểu theo các qui luật biến nghĩa, ví dụ như trường hợp từ banquet, tiệc, yến tiệc theo Tây phương là “ăn ngồi băng’, banquet có banq- = Pháp ngữ banc, Anh ngữ bank (ghế)”, trong khi, theo tôi, banquet có ban- là bàn, là ‘ăn ngồi bàn’ tức (ăn) cỗ bàn (xem banquet). Ăn ngồi bàn đàng hoàng và đúng nghĩa yến tiệc hơn là ăn ngồi ghế. Xin đừng quá tin vào sách vở ngoại ngữ mà vội vã cho rằng tôi sai.

Trong Việt ngữ tiếng láy, tiếng ghép, tiếng đi đôi với nhau thường có nghĩa như nhau hay gần như nhau, nhìn chung chung có cùng một gốc nghĩa (Tiếng Việt Huyền Diệu).

…….

Ngoài ra cũng xin lưu tâm thêm vài điểm chính yếu.

.Ngôn ngữ thay đổi theo thời gian nên chúng ta không thể đem áp dụng một cách mù quáng những qui luật ngữ pháp, văn phạm của chữ quốc ngữ hiện nay vào công việc nghiên cứu tiếng cổ Việt. Thời cổ Việt không có chữ quốc ngữ, nên không thể nói người cổ Việt nói n, l, ch, tr, s, ch… hỏi, ngã, sắc, nặng, huyền, không dấu sai ngữ pháp hiện nay hay nói ngọng. Các vần ngày nay như ch, tr, l, n… khác cổ Việt, thứ nhất là do sự biến âm lịch sử tự nhiên theo dòng tiến hóa của ngôn ngữ chung của loài người do biến đổi di truyền (nguyên nhân nội tại) hay ngoại cảnh (nguyên nhân ngoại tại) như hàm, lưỡi của con người thái cổ ăn tươi nuốt sống khác với con người hiện tại ăn đồ chín, đồ xay, đồ nghiền bằng máy, con người thái cổ dầm sương dãi nắng hơi thở, miệng lưỡi, giọng nói hiển nhiên khác với con người hiện tại sống trong môi trường điều hòa không khí… và thứ nhì là do những nguyên nhân nhân tạo. Các nhà ngữ học, ngữ pháp học, các “thầy cô” dậy chữ nghĩa đã sử đổi, hệ thống hóa ngôn ngữ cho tiện dụng và tránh không bị lầm lẫn. Hãy lấy một ví dụ là từ dữa, (theo qui luật ngữ pháp hiện nay phải viết là giữa). Việt ngữ dữa đúng nghĩa hơn giữa. Dữa liên hệ với với đũa (hai cái que), với đôi, với trưa (giữa ngày, theo d=tr), với duo, dual… (xem two noon). Dữa là ở điểm hay khoảng nằm cách đều, cách bằng hai đầu, hai bên. Anh ngữ betweenbetween (là twin, two, hai) là “be two in”, nằm giữa hai. Một thời “be” được coi như một mạo từ cổ (old article) như thấy trong believe, begin, berate… So sánh between và Đức ngữ zwischen ta thấy rất rõ. Ngày nay chúng ta dùng giữa đã mất “gốc” vậy mà các nhà nhiều chữ nghĩa hiện nay cho là viết dữa là sai, nhiều người châm chọc người ở một số vùng đất tổ miền Bắc nói theo âm cổ dữa là nói ngọng. Đây là một ví dụ điển hình cho thấy không thể áp dụng các qui luật ngữ pháp hiện nay một cách mù quáng vào việc nghiên cứu tiếng Việt cổ.

.Tôi chỉ giới hạn vào các nghĩa gốc tương đồng và để qua bên các nghĩa phụ, nghĩa bóng bẩy, nghĩa lóng…

.Ngoài ra quyển Từ Điển Tương Đồng Anh Việt này thật sự ra là một thứ Từ Điển Tương Đồng Ấn-Âu Ngữ-Việt Ngữ thu gọn lại. Vì đi tìm sự tương đồng nên phải truy tìm nguồn gốc nghĩa ngữ nên đây cũng là một thứ Từ Điển Tầm Nguyên Nghĩa Ngữ Anh-Việt.

.Cuối cùng để giúp trí nhớ, những từ có âm gần nhau nhưng gốc có thể không liên hệ với nhau tôi cũng viết vào đây để giúp học viên dễ học (trường hợp này thường được ghi chú hay nói rõ là trùng hợp hay dùng nhóm từ nghi vấn như phải chăng… ).

Nguyễn Xuân Quang

3 comments

  1. Bài viết của Bác sĩ có dày công nghiên cứu.

  2. Bí-Bầu là “người” và Tương đồng với English là “people” / Phát âm của anh ngữ đọc chữ nầy là “Pí-pồ/Bí Bầu” theo Việt ngữ!
    Những bằng chứng Bí và Bầu, Bậu, Bù, Bu v v… là “người” trong tiếng Việt từ cổ xưa là:

    -Bầu ơi thương lấy Bí cùng!
    tuy rằng khác giống mà chung 1 giàn.

    -Ví dầu tình Bậu muốn thôi.
    Bậu gieo tiếng dữ cho rồi Bậu đi.

    -Bạn, bạn bè, bè bạn, bầu bạn…

    -Có “bầu” nghĩa là có mang thai nhi, nghĩa là có Bầu là có “người”

    => Bí bầu/Việt cùng People/English có sự tương đồng thật là thú vị về phát âm và ý nghĩa! Tôi có thể đưa ra cả trăm và hy vọng là cả ngàn sự tương đồng như vậy để giúp người Việt học tiếng Anh hay người Anh học tiếng Việt dể dàng hơn, chỉ mong là có thời giờ để viết từ từ…vì nhiều lắm!
    Lâu lắm rồi mới lại have time và have fun ghé thăm trang blog của anh…ủa sao mà tôi và anh lại có nhiều nhận xét hay phát hiện rất tương đồng trong những nghiên cứu về cội nguồn và văn hóa!
    Lâu nay mới lại ghé thăm blog, cầu chúc anh luôn vui khỏe.
    NNP

    1. Quang Nguyen · · Reply

      Anh Thành ơi,

      Rất hạnh phúc là đã có một người cùng đi chung với mình trên con đường Học Việt Ngữ bằng ngoại ngữ trong đó có Ấn Âu ngữ (Anh Pháp, Đức,…).

      Anh có hành trang Hán ngữ và chữ Nôm Bách Việt. Tôi có hành trang Phạn ngữ, Ấn Âu ngữ và chữ Nôm Việt (thuần Việt). Hai người cùng đi một đường sẽ không còn cô đơn nữa, sẽ đi nhanh hơn, không bị lạc đường nhiều và thuyết phục được nhiều hơn, ít nhất là hai lần.

      Theo tôi, Bí ruột thịt với Bị cái túi như ông ba bị chín tai, mười hai con mắt, chứng bệnh quai bị. Người miền Trung gọi túi áo là bị. Bị biến âm với mẹ con với Hán Việt Bì lá cái bao như phòng bì; cân trừ bì là cân trừ bao; Hán Việt bì (bì phu) là da như cuốn bì, cơm tấm bì. Da là túi bọc thân người. Thái ngữ gọi da là nang (túi, bao, bọc). Pháp ngữ peau là da, theo p=b=m, peau = bồ (vật đựng như cái bao lớn quây lại như bồ thóc) = mo (mo là bao như mo nang là bao hoa cau). Anh ngữ maw, một ngăn túi trong dạ dày loài nhai lại có nhiều ngăn. Peau = mo maw = bao, bồ.

      Bầu biến âm với bao, bào (có bầu là có bao, bào, có bào thai). Bầu là cái ao lớn như bầu sen. Bầu, ao là cái bọc nước. Anh ngữ pond, ao ruột thịt với Việt ngữ bọng (bọng tiểu), bóng (bong bóng heo)… Bọng, bóng cũng có nghĩa là bao. Pond là cái bọc nước. Anh ngữ pool, ao, hồ tắm cũng vậy, ta có pool, /pun/ = Việt ngữ bụng, bọng. Có bụng là có bầu, có bào thai…

      Ta thấy rõ bì bầu tuy khác giống nhưng chung một giòng. Bí là trái bị, trái bì, trái bao cùng giàn nhà quả bầu.
      .Bao, Hoa ngữ pao, páo (như pao, páo lá bánh bao), bầu ruột thịt với Anh ngữ pouch /pao/ ( bao, bọc, túi).
      .Bọc ruột thịt với Anh ngữ poc(ket) (bọc, túi, bị), purse (ví, túi đựng)…
      ….
      Học ngoại ngữ trong đó có Ấn Âu ngữ (Anh, Pháp, Đức…) bằng Việt ngữ (nôm Việt, nôm Bách Việt) là một vấn đề trọng đại giúp ích cho người Việt học Anh, Pháp ngữ, Đức ngữ… và giúp người ngoại quốc học Việt ngữ rất dễ dàng. Đây cũng là một dịch vụ thương mại hái ra tiền. Nếu lọt vào mắt xanh của một nhà xuất bản nào thì có thể thâu về hàng triệu Mỹ kim…
      …….
      Nguyễn Xuân Quang

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: