HÚT CẦN SA THEO TOA BÁC SĨ

 (*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).

HÚT CẦN SA THEO TOA BÁC SĨ

Bác sĩ NGUYỄN XUÂN QUANG

Cần sa là một trong những cây cỏ dùng làm thuốc giải trí gây ra nhiều tranh luận nhất kể từ trước tới nay. Trước và cho tới gần đây vẫn có những phong trào đòi hợp pháp hóa việc dùng cần sa ở Hoa Kỳ. Mới đây trong tờ báo y học của Hiệp Hội Y Sĩ Hoa Kỳ (JAMA), hai bác sĩ Lester Grinspoon và James Bakalar, tác giả sách “Marijuana, The Forbidden Medicine” (Cần sa, Một Vị Thuốc Bị Cấm Đoán) đã duyệt xét dược tính của cần sa và xin tái cứu xét việc kê toa cho hút cần sa (Marijuana as medicine, JAMA 273:185-186, 1995). Nghĩa là hút cần sa theo toa bác sĩ.

Trước khi xem cần sa có phải thực sự là một vị thuốc hữu ích trong việc trị liệu hay không, chúng ta hãy liếc mắt nhìn qua vài khía cạnh khác của cần sa.

Tại sao gọi là cần sa?

Cần sa có thể do Phạn ngữ “ganja” mà ra, vì nguồn cội nguyên thủy của cần sa mọc ở vùng Caucasus, Ba tư (Persia) và ở vùng đồi núi Bắc Ấn Độ. Sau đó cần sa lan tràn ra khắp nơi trên mặt trái đất. Trước đây người ta đã cho là cần sa ở vùng này mới thật sự là hảo hạng, vì khí hậu nóng giúp cho sự phát triển mạnh của hoạt chất cần sa (cây có nhiều nhựa).

Ganja nghĩa là gì? Theo chúng tôi, ganja gần cận với Phạn ngữ gal-, Mông cổ gar, có nghĩa là tay (tổng quát số ít gar-un). Phạn ngữ garut, gal (danh từ) là wing (cánh; cánh của chim tương đương với tay của người) và theo g=h, gần cận với Phạn ngữ harana (hand; taking; seizing)… Ganja hàm nghĩa là tay, bàn tay. Được gọi như vậy vì lá cần sa xòe ra như bàn tay xòe ngón. Theo g=h, gan(ja)= han = hand.

Theo chuyển hóa g=c (gà=cà, góc = corner) ta có ganja = canja = cần sa. Từ cần gần cận với chân (đọc thêm hơi vào) và cẳng. Chân cẳng là chuyển hóa lệch của tay vì tay, chân, cẳng, cánh, cành như nhau, tất cả Hán Việt đều gọi chung là chi.

Việt ngữ “Cần sa” cũng có thể là mấy chữ đầu của tên khoa học CANnabis SAtiva mà ra. Trường hợp này giống như người miền Trung Nam Việt Nam gọi quả trám là trái cà na là do lấy từ mấy chữ đầu của canarium (trám). Từ marijuana phổ thông ở Hoa Kỳ ngày nay có nghĩa là nàng Mariachàng Juana (Juan). Có lẽ được gọi như thế vì người ta tin marijuana là một thứ thuốc làm cường dương, cường dục, giúp Chàng và Nàng yêu nhau thắm thiết. Nếu quí phái thì Mari và Juan là Cậu Ấm Cô Chiêu, trai anh hùng, gái thuyền quyên. Còn nếu là dân đứng đường đứng chợ thì Mari và Juan là trai giang hồ, gái tứ chiếng, Thằng Ngô Con Đĩ.

Còn tên khoa học, có người giải thích sở dĩ cần sa được gọi cannabalis vì gần cận với từ cannibal, cannibalism, ăn thịt người, vì các tác giả Tây phương đã liên hệ việc một số thổ dân ghiền cần sa và có tục ăn thịt người. Tại Trung Đông, đọt cần sa dùng phơi khô hay trích lấy nhựa gọi là hashish. Kẻ “phi” hashish đâm ra lì lợm và có máu sát nhân, giết người không biết sợ. Hashish được dùng làm “thuốc liều” cho những kẻ giết người, binh lính. Hashishism cho ra từ assassin (ám sát, giết người). Người Trung Hoa gọi cần sa là đại ma.

Vài hàng về thảo dược học

Cần sa là cây mọc quanh năm, cao từ 4 đến 8 bộ hay cao hơn, thẳng đứng, chia nhánh, cọng có góc cạnh. Lá xen kẽ hay mọc đối tẻ ra như ngón tay, có từ 5 đến 7 “ngón” hình mũi mác có răng cưa. Hoa trổ ở nách. Quả hình trứng có một hạt. Ngày nay có loại cần sa lai giống không có hạt gọi là sinsemillas (tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là không có hột), giống này chứa tới 13% hoạt chất (bình thường chỉ có từ 2 đến 6 %). Cây có lông tơ mịn khó thấy bằng mắt thường và sờ có cảm giác dinh dính.

Cần sa đã được con người dùng từ thượng cổ. Cần sa được liệt kê trong danh sách dược thảo của Thần Nông (!) từ năm 2737 trước Tây lịch. Người Scyth cổ thời đã dùng trong các tang lễ. Hột cần sa thấy trong các lọ chôn cất từ thế kỷ thứ 5 trước Tây lịch.

Các phần của cây đều được dùng trong Hoa y. Hột cần sa dùng như chất bổ dưỡng, điều kinh, nhuận trường, trị đau, lợi tiểu, trị sán lãi, sán gan, các chứng hậu sản, mửa bất trị và dùng ngoại khoa chữa lở loét, thương tích, và chốc đầu. Chữa đau bụng, ung thư, lở bao tử, trị bán đầu thống, đau dây thần kinh (neuralgia) và phong thấp (Crevost & Pételot 37: 1000). Hột còn làm thuốc chữa sa dạ con, trợ sinh và trị sốt (Foucaud A., 1953, Contribution à l’étude des plantes medicales du Nord-Vietnam, Trav. Lab. Mat. Méd. Pharm. Gal. Fac. Pharm. Paris 38 (1) p.36.)

Tây phương từ lâu đã dùng làm thuốc trị mất ngủ, đau nhức và làm giảm bứt rứt. Trong U.S Dispensatory, 1918, cần sa được liệt kê như chất ma túy (narcotic) và thuốc chống co bóp (antispamodic). Cần sa dùng để an thần, chữa ý bệnh (hysteria), ưu uất, âu sầu và nhược thần kinh (neurasthenia). Tính chất chống đau và xoa dịu của nó giống như á phiện nhưng hơn á phiện ở chỗ là nó không gây ra táo bón và làm mất ngon miệng (người hút thuốc phiện còm nhom vì không thích ăn). Dùng như thuốc chống co bóp, trị đau rút trong việc chữa trị các chứng như đau nhức dây thần kinh, các chứng ho rụt cổ như ho gà, suyễn; phong đòn gánh, chứng sợ nước và các chứng đau do co rút. Mặc dầu cần sa đã được biết đến từ thời thượng cổ, nhưng mãi cho tới năm 1964, hoạt chất chính của cần sa là delta-9-tetrahydro-cannabinol (THC) mới được nhận diện và tổng hợp. Cần sa chứa tổng cộng 241 hóa chất. Trong đó có 61 chất giống THC gọi là cannabinoids.

Cần sa, một tệ trạng xã hội

Cần sa là một loại cấm dược được dùng nhiều nhất ở Hoa Kỳ, cao điểm là cuối thập niên 60 đầu 70, lúc chiến tranh Việt Mỹ cũng đang ở cao điểm. Cần sa có lẽ cũng đã “tham chiến” trong cuộc chiến này. Tổng thống Clinton, bị một số người coi là kẻ “trốn lính”, cũng đã từng thú nhận là đã hút cần sa nhưng chỉ “hút” và “phà” khói ra chứ không hít vào phổi khi còn là sinh viên vào thuở đó. Lúc đó có tới 50 triệu người Mỹ hút cần sa ít nhất là một lần. Tỉ số cao nhất ở giới thành niên tuổi từ 18 đến 25, chiếm tới 21 triệu, kế tiếp là giới vị thành niên tuổi từ 12 đến 17, chiếm 7 triệu người. Lá cần sa được dùng làm cờ, phướn, vật biểu cho trào lưu “Phản văn hóa” (counter culture), chống cưỡng bách (anti-authoritarianism) và chối bỏ vật chất, duy vật (materialism).

Mặc dầu ngày nay con số đã giảm bớt nhưng giới học sinh trung học Mỹ một số lớn vẫn còn hút cần sa hàng ngày. Hút cần sa đã làm cho sự học hành bê bết. Số học sinh bỏ học ngang hay không vào đại học gấp đôi so với những sinh viên không dùng cần sa. Những học sinh ghiền cần sa thường ghiền nghiện các thứ khác nữa như uống bia, rượu. Năm 1982, số cần sa thu hoạch hàng năm ước tính là 10 tỉ Mỹ kim.

Theo đúng định nghĩa danh từ y học thì cần sa không phải thật sự là một chất ma túy “narcotic”, không phải là “chất sinh ra ảo giác” (hallucinogen). Cần sa không gây ra “ghiền nghiện” (addicting), cũng không gây ra ảo giác ngoại trừ khi dùng với một liều lượng thật cao. Tuy nhiên, những nghiên cứu khác chứng minh rõ rằng cần sa có tác dụng trong một tầm rộng lớn về tâm lý và sinh học, một số trong đó, ít nhất trong vài điều kiện làm tổn hại đến sức khỏe con người.

Tác Dụng Dược Học

Khi khám bệnh một người, bác sĩ khó có thể biết người đó ghiền cần sa hay không dù ngay cả trong trường hợp người đó đã dùng kinh niên. Những người dùng dài lâu từ 10 đến 30 năm thường chỉ có những triệu chứng khó chịu về đường ruột và xuống cân.

Hoạt chất THC trong cần sa có những tác dụng như sau:

– Tim mạch:

Làm gia tăng mạch từ 30 đến 60%, làm tăng lưu lượng tim, nhưng ngược lại, làm giảm lưu thông máu ngoại biên (khiến tay chân lạnh, tê…).

– Hô hấp:

Làm giảm trao đổi không khí trong phổi tạm thời; dùng kinh niên cuống phổi bị co thắt gây khó thở; làm nở cuống phổi ngay khi mới hút (khiến người ghiền kinh niên thấy cần hút để có cảm giác dễ thở).

– Máu:

Dùng kinh niên đôi khi thấy suy giảm việc máu lấy oxygen.

– Miễn nhiễm:

Đôi khi thấy có sự kềm hãm hoạt động bạch huyết cầu đơn hạch T (T lymphocytes).

– Nội tiết:

Làm giảm lượng kích thích tố nam (testosterone) trong máu khi dùng lượng cao.

– Mắt:

Nở hay co con ngươi; giảm áp suất trong mắt.

– Thân nhiệt:

Đôi khi thấy giảm thân nhiệt.

– Dinh dưỡng:

Mới dùng tăng ngon miệng; lên ký vì ít hoạt động.

– Thần kinh:

Đôi khi thấy thay đổi não điện đồ EEG (Electroencephalogram); tăng hoạt động hệ thần kinh đối giao cảm và giảm hệ giao cảm.

– Tâm thần:

Chưa có sự đồng ý thống nhất nào rõ ràng về hậu quả của cần sa. Có khảo cứu cho rằng cần sa làm hư tổn nhiệm vụ tương đối của hai bán cầu não về nhận thức. Cần sa tinh tế hơn rượu, dùng lâu dài, óc sẽ khó tránh khỏi bị độc tính của cần sa.

– Sự diễn đạt vận động và trí não:

Khảo cứu cho thấy ở những người mới dùng hay dùng kinh niên dù với lượng nhỏ cũng có sự rối loạn về điều hợp vận động. Tùy theo lượng dùng, cơ thể mất quân bằng và sử dụng vụng về tay và bàn tay. Phản ứng với các kích thích âm thanh và ánh sáng trì trệ. Thời gian sinh học của người dùng cần sa rối loạn. Thời gian kéo lê thê. Nói chuyện không đâu vào đâu với những ngôn từ và ý tưởng trên trời dưới biển… Và còn nhiều thứ còn đang tranh cãi.

Cần sa và tình dục

Cần sa dù sao cũng được coi là chất hưng phấn (euphoriant drug). Freud đã nói: “Óc phục dịch cho tuyến sinh dục”. Y học ngày nay đã chứng minh lời nói này. Những cơ chế sinh hóa và sinh lý học của não “thảo chương” (program) các chức năng tình dục. Đồi hạ thalam trên não (hypothalamus) kiểm soát việc tiết ra các kích thích tố hướng động tuyến sinh dục gonodatrophins ở tuyến yên (pituitary gland) và các “trung tâm khoái lạc” (pleasure center) của bó giữa não trước (medial forebrain bundle). Các chất hưng phấn tâm động (psychoactive) tác dụng lên trên trung tâm khoái lạc.

Từ cổ thời ở Ấn Độ và các quốc gia Hồi giáo, như trên đã nói, đàn ông cho rằng cần sa làm gia tăng dũng tính, hùng tính (đó là lý do đàn bà ở các xứ này cấm không được dùng cần sa). Ngày nay những người dùng cần sa cho là cần sa làm tăng sự diễn xuất tình dục và khoái lạc. Điều này có thể giải thích, THC trong cần sa là một chất hưng phấn kích thích lên trung tâm khoái lạc trên óc (ở người thường trung tâm này cũng được kích thích khi làm tình). THC làm cho sự vận truyền cảm giác chậm lại khiến cho người dùng có cảm giác chủ quan là cực khoái được lâu dài. Tuy nhiên chưa có bằng chứng nào xác định điều này. THC không những chỉ tác dụng lên trung tâm khoái lạc mà còn tác dụng lên nhiều phần cảm giác khác của não tùy theo tâm thái của người dùng. Nếu lúc đó người dùng đang trong lúc lãng mạn, thanh thản trong một khung cảnh đầm ấm, thoải mái, thú vị, thì có thể sẽ thấy khoái cảm gia tăng, trái ngược lại, có thể sẽ cảm thấy nghi kỵ, lo âu và bất an. Tác dụng cường dương chỉ thấy khi dùng liều nhỏ. Với liều lớn, cần sa có tác dụng như rượu, vừa kích thích vừa hủy diệt: kích thích sự thèm muốn nhưng làm mất đi sự diễn xuất. Những người nghiền rượu và cần sa, nghĩ và nói rất nhiều mà làm chẳng tới bao nhiêu.

Mặc dầu thỉnh thoảng dùng cần sa có thể làm gia tăng nhục cảm chút đỉnh, nhưng khi dùng đã thành thói quen rồi, nó sẽ đưa đến những hậu quả trầm trọng về chức năng hoạt động của cơ quan sinh dục nam cũng như nữ.

– Tác dụng trên chức năng sinh dục nam:

Các kết quả khảo nghiệm cho thấy dùng cần sa hàng ngày làm giảm lượng cũng như tính chất của tinh trùng. Điều này chứng minh những gì Galen từ thế kỷ thứ 2 sau Tây lịch đã nói: “cần sa làm khô cạn tinh khí”.

– Tác dụng trên chức năng sinh dục nữ:

Như đã biết, điều hòa sự trưởng thành, rụng trứng và kinh kỳ là do đồi hạ thalam điều khiển, khiến tuyến yên tiết ra các kích thích tố gonadotrophins. Một lượng nhỏ THC cũng đã ảnh hưởng lên sự điều hòa sự tiết kích thích tố vừa kể. Kết quả của sự xáo trộn kích thích tố này đưa đến chứng kinh nguyệt bất thường và không rụng trứng. Ở chuột và khỉ, cần sa còn có tác dụng độc trên phôi thai làm thai nhi chết khi sinh ra. Với trẻ em bú sữa mẹ, cần sa có thể sang cơ thể trẻ qua sữa mẹ.

Tóm lại, cần sa không thật sự là một chất cường dục. Hơn thế, nó còn gây những hậu quả tai hại. Nhất là ở giới trẻ tuổi dậy thì, cần sa có thể làm xáo trộn kích thích tố đang thời kỳ khởi sự hoạt động.

Cần sa là một vị thuốc?

Như đã nói, từ cổ thời, Đông Tây đã dùng cần sa làm vị thuốc. Vấn đề mới đây được nêu ra ở Hoa Kỳ là xin tái cứu xét để bác sĩ có thể viết toa cho dùng cần sa chữa bệnh.

Năm 1970, Điều Lệ về Chất Kiểm Soát Đồng Nhất (Uniform Controlled Substances Act) xếp cần sa vào Bảng I (Schedule I), coi cần sa là chất có tiềm năng cao gây ra lạm dụng, thiếu các chỉ thị y học khả dĩ chấp nhận được và coi như không an toàn. Năm 1972, Tổ Chức Quốc gia Cải cách Luật Cần sa (National Organization for the Reform of Marijuana Laws) đòi đổi qua bảng II, thay đổi này giúp bác sĩ viết toa hợp pháp. Năm 1988, Drug Enforcement Administration (DEA) cho rằng có thể dùng cần sa trong vài trường hợp đặc biệt dưới sự giám sát y học nhưng vận động đổi qua bảng II bị đánh bại vào năm 1989.

Hiện nay có một thể dạng của THC bán theo toa để trị ói mửa và làm ngon miệng là chất dronabinol với nhãn hiệu Marinol (gồm có delta-9-THC trong dầu mè dưới dạng viên bọc). Sau đây là những tác dụng của Marinol:

1. Trị nôn mửa:

Y giới ngày nay đã thừa nhận là cần sa làm giảm buồn nôn và ói mửa ở những người ung thư đang được chữa bằng hóa chất. Năm 1985, Cơ Quan Kiểm Thực Dược (FDA) đã chấp thuận cho dùng Marinol. Những người bệnh ung thư trị bằng hoá chất hay bị ói mửa; có người ói mửa đến độ gẫy xương sườn, rách thực quản và xuống cân nguy tới tính mạng (vì ung thư vốn đã làm mất cân).

Hiện nay có những thứ thuốc trị ói mửa như prochlorperazine (Compazzine) tuy hữu ích nhưng không trăm phần trăm hiệu nghiệm. Hiệu nghiệm hơn, có thuốc ondansetron (Zofran), xuất hiện ngoài thị trường thời gian gần đây. Trong trường hợp các thuốc này vô hiệu quả, phải cần tới Marinol. Tuy nhiên nếu bệnh nhân ói mửa nặng, thuốc viên Marinol trở thành vô dụng. Bác sĩ nghĩ tới việc cho bệnh nhân hút cần sa. Qua đường phổi tránh khỏi bị ói mửa ra, lượng chất THC trong cần sa hít vào sẽ đáng tin cậy hơn. Năm 1990, Doblin và Kleiman so sánh việc hút cần sa và uống Marinol trị ói mửa. Hai phần ba bác sĩ tham dự báo cáo là hút cần sa có hiệu quả 50% trường hợp, trong khi chỉ có 56% bác sĩ báo cáo là có tác dụng giống như uống Marinol.

44% bác sĩ chuyên khoa về ung thư thú nhận rằng họ đã lén khuyên bệnh nhân của họ tìm đến cần sa để làm giảm bớt ói mửa.

2. Trị cao áp suất mắt hay cườm xanh (glaucoma):

Glaucoma là chứng bệnh cao áp suất trong mắt mà có người đã dịch là cườm xanh. Người bị chứng cườm xanh lâu ngày tròng mắt cứng và có màu xanh lá non hình vòng (vì thế có tên là cườm xanh).

Như trên đã biết, cần sa có tính chất làm giảm áp suất trong mắt. Thử cho người bệnh glaucoma hút cần sa thấy áp suất mắt giảm xuống kéo dài khoảng 4-5 giờ. Trong sách của Grinspoon và Bakalar nêu ra là nếu bệnh nhân bị nặng và bị các phản ứng phụ của các thuốc hiện có để trị glaucoma, cần sa có thể là một giải pháp. Tuy nhiên tác dụng hạ áp suất mắt của cần sa còn cần nhiều khảo cứu và thời gian quan sát nữa. Mặt khác, ngày nay với phẫu thuật dùng tia Laser trị glaucoma sẽ không cần tới cần sa, một vị thuốc có nhiều độc hại.

3. Giúp ăn ngon miệng:

Sách vở ghi nhận rằng những kẻ ghiền cần sa hay ăn vặt, nhấm nháp luôn mồm. Cần sa đã được ghi nhận là làm đói bụng và thèm ăn.

Hiện nay có vài thứ thuốc trị bệnh được dùng “lệch lạc” đi để chữa chứng ăn mất ngon miệng như một vài thứ thuốc trị ưu uất, ví dụ amitryptyline (Elavil), làm cho lên cân. Tuy nhiên các loại thuốc này có những phản ứng phụ và chưa được chính thức khảo cứu đàng hoàng trong việc dùng chữa chứng xuống cân vì không ngon miệng.

Trong những trường hợp bị gầy mòn như trong bệnh AIDS mà ở châu Phi dân dã gọi là chứng “sài mòn”(!) do mất ngon miệng không ăn được. Nhiều khảo cứu cho người bị AIDS hút cần sa. Bệnh nhân báo cáo là họ thấy đói và thèm ăn, ít ra cũng là về phương diện chủ quan. Những người bị ung thư đến giai đoạn chót cũng bị mất cân vì không còn muốn ăn nữa. Tuy nhiên còn cần phải nhiều khảo cứu nữa mới có thể rút tỉa ra được những kết quả khả dĩ có thể tin cậy được.

4. Làm dãn bắp thịt:

Co rút bắt thịt vân và trơn tạo ra đau đớn như khi bị vọp bẻ, bị thương tổn tủy sống, đau bụng thường, đau bụng đẻ… Những thuốc chống co rút bắp thịt hiện có nhiều khi vô hiệu quả. Hai tác giả trên nêu ra việc sử dụng cần sa trong các trường hợp đau đớn do co rút bắp thịt quá độ. Năm 1990, các bác sĩ thần kinh Thụy-sĩ tường trình là THC làm giảm đáng kể sự co rút bắp thịt ở những người bị liệt bại.

Ngoài những dược tính trên cần sa còn được đề nghị dùng trong các bệnh khác như multiple sclerosis, động kinh, bán đầu thống (migraine), đau nhức kinh niên…

Dựa vào những dược tính trên hai tác giả Grispoon và Bakalar xin tái cứu xét cần sa hầu các bác sĩ có thể kê toa hợp pháp. Dĩ nhiên đây là một vấn đề liên hệ tới đạo lý, xã hội, luật pháp…, còn nhiều điều phải xét tới và cân nhắc. Nhưng hiện nay nhiều nơi ở Hoa Kỳ, trong đó có California, đã hợp pháp hóa cần sa trong một vài lãnh vực y học.

Bác sĩ Nguyễn Xuân Quang

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: