HỌC ANH NGỮ BẰNG TIẾNG VIỆT

(*Nếu cần, bấm hai lần vào tựa bài để mở file). 

 

 

HỌC ANH NGỮ BẰNG VIỆT NGỮ 

                                         (1)

                   Nguyễn Xuân Quang

 

Những chữ Viết tắt và qui ước:


-Chữ trong  hai  gạch nghiêng  /…/ thanh, thinh, âm, âm vị chỉ  phát  âm theo tiếng Việt, hay tiếng Anh.
-Dấu bằng (=)  có nghĩa là liên hệ với, tương đương, gần cận nhau, giống nhau.
-Mẫu tự trong ngoặc đơn của một từ có nghĩa là bỏ đi hay câm ví dụ Anh ngữ cổ brus (breast), vú  = b(r)u- =  bú, vú (r câm)…
* = dấu (*) có nghĩa là gốc tái tạo không có trong ngôn ngữ thành văn (written records).
AA: Afro-Asiatic
Adv. = trạng ngữ (từ).
Affix: tiếp tố.
Alliterative: láy phụ âm đầu.
Alt = Altaic
Conj. = conjuction, liên từ
Copula = hệ từ
Drav. = Dravidian (Nam Ấn).
Ev. = Evenki
Fj. = Fijian
Gl. = Goldi, còn gọi la Nanai
Ma. = Manchu (Mãn Châu).

Finn. = Phần Lan.
IE gốc Indo-European (Ấn-Âu) ngữ.
Ital. = Italia
Interjection = cảm từ như dạ, vâng, ôi chao
Kart. = Kartvelian
L. = Latin
Ml. = Malay (Mã Lai)

Nostr. = Nostratic, “ngôn ngữ của chúng ta”.
Noun, danh từ
Om. =  omato, tượng thnah
Pai. = Paiwan
PAN = Proto-Austronesian
Participle, phụ từ, mạo từ
Prefix = tiền tố, tiếp đầu ngữ
Pron. = pronoun = đại danh từ, đại từ
Scand. = Scandinavian
Skt = Phạn ngữ
Tag. = Tagalog
Tung. = Tungusic, Đông Quốc (ngày xưa thuộc “rợ” Đông Di).
Tk. = Turkic
Ural. = Uralic như  Phần Lan
Verb = động từ, động ngữ

.Ŝ  giống như sh trong Anh Ngữ  ví dụ ship.

-Tôi chỉ giới hạn vào các nghĩa gốc tương đồng và để qua bên các nghĩa phụ, nghĩa bóng bẩy, nghĩa lóng. . .
-Cần phải lưu tâm là ngôn ngữ thay đổi theo thời gian nên chúng ta không thể đem áp dụng một cách mù quáng những qui luật ngữ pháp, văn phạm của chữ quốc ngữ hiện nay vào công việc nghiên cứu tiếng cổ Việt. Thời cổ Việt không có chữ quốc ngữ, nên không thể nói người cổ Việt nói n, l, ch, tr, s, ch… hỏi, ngã, sắc, nặng, huyền, không dấu  sai ngữ pháp hiện nay hay nói ngọng. Các vần ngày nay như ch, tr, l, n… khác cổ Việt thứ nhất là do sự biến âm lịch sử tự nhiên theo dòng tiến hóa của ngôn ngữ chung của loài  người do biến đổi di truyền (nguyên nhân nội tại) hay ngoại cảnh (nguyên nhâ ngo ại tại) như hàm, lưỡi của con người thái cổ ăn tươi nuốt sống khác với con người hiện tại ăn đồ chín, đồ xay, đồ nghiền bằng máy, con người thái cổ dầm sương dãi nắng hơi thở, miệng lưỡi, giọng nói hiển nhiên khác với con người hiện tại sống trong môi trường điều hòa khí.. và thứ nhì là do những nguyên nhân nhân tạo. Các nhà ngữ học, ngữ pháp học, các “thầy cô” dậy chữ nghĩa đã sử đổi, hệ thống hóa ngôn ngữ cho tiện dụng và tránh không bị lầm lẫn. Hãy lấy một ví dụ là từ between là ở giữa, dữa, ở khoảng giữa. Việt ngữ dữa đúng nghĩa hơn giữa. Dữa liên hệ với với đũa (hai cái que), với đôi, với trưa là giữa ngày (theo d=tr), với duo, dual… (xem twonoon).  Dữa là ở điểm hay khoảng nằm cách đều, bằng hai đầu, hai bên. Anh ngữ between là between (là two, hai) là “be two in”, nằm giữa hai. Một thời “be” được coi như một mạo từ cổ (old article) như thấy trong believe, begin, berate. So sánh between và Đức ngữ  zwischen ta thấy rất rõ. Ngày nay chúng ta dùng giữa đã mất chính thống. Đây là một ví dụ điển hình cho thấy không thể áp dụng các qui luật ngữ pháp hiện nay một cách mù quáng vào việc nghiên cứu tiếng Việt cổ.
Tôi nhận thấy tiếng cổ Việt gần âm với Phạn Ngữ. Ví dụ Phạn ngữ dantdăng (ngày nay ta viết răng), Phạn Ngữ lambh, to obtain, to get (nắm, giữ, lấy) có lam- = lắm, tiếng Việt hiện kim nắm, Phạn Ngữ rasa, ram, taste (nếm, nêm) có biến âm thường thấy (như ở người Trung Hoa) r=l, ram = lếm, tiếng Việt hiện kim nếm, v…v…

Tôi khám phá ra có sự liên hệ mật thiết giữa Việt ngữ và Phạn ngữ (xem (Tiếng Việt Huyền Diệu).  Ta cũng đã biết Anh, Pháp, Đức… thuộc đại tộc Ấn-Âu ngữ (Indo-Europian Language) nghĩa là có gốc Ấn (Indo-) tức Phạn ngữ. Như vậy Việt ngữ và Ấn Âu ngữ nói chung, Anh, Pháp, Đức ngữ. . . nói riêng có liên hệ với nhau. Sự liên hệ này có thể là ruột thịt máu mủ hay liên hệ do môi trường (tiếp xúc, vay mượn). Tôi xin để qua một bên sự liên hệ này như thế nào (sẽ viết rõ trong tác phẩm Sự Liên Hệ Giữa Việt Ngữ và Ấn= Âu Ngữ) . Ở đây tôi chỉ rút tỉa ra một ứng dụng, một thực dụng  rất hữu ích từ sự liên hệ này là ta có thể học tiếng Anh nói riêng và Ấn Âu ngữ nói chung bằng tiếng Việt và ngược lại. Vì Anh ngữ là tiếng được dùng nhiều trên thế giới nên tôi chú trọng nhiều tới việc học Anh ngữ bằng tiếng Việt. Hơn nữa, vì sống ở Hoa Kỳ  nên Anh ngữ đối với tôi dễ truy cứu hơn các ngôn ngữ khác của Ấn-Âu ngữ (các người Việt khác sống ở Pháp, Đức, Ý… cũng có thể theo dấu chân của tôi dùng tiếng Việt học tiếng Pháp, Đức, Ý…).  Học Anh ngữ bằng Việt ngữ giúp những người Việt nhất là giới lớn tuổi  giỏi tiếng Việt có thể dùng tiếng Việt học Anh ngữ và các thế hệ trẻ sinh đẻ ở hải ngoại và các người ngọai quốc giỏi Anh ngữ  có thể dùng tiếng Anh học tiếng Việt.  Sự liên hệ này trong trường hợp lý tưởng tức liên hệ mẹ con (xem dưới) chúng ta thấy hai từ giống nhau như đúc, giống y chang về cả từ lẫn ý nhưng trong những trường hợp khác vì ngôn ngữ là một sinh ngữ, nó sinh ra, lớn lên, già đi, mai một đi, đẻ ra những từ khác… nên chúng không còn giống nhau như mẹ con nữa mà chỉ như chị em, anh  em, họ hàng thân thích và bà con xa. Trong những trường hợp này ta phải nhờ tới những hiện tượng biến âm lịch sử,  gốc chữ, chữ câm… Hiện tượng biến âm lịch sử  như  b = m = v (trong Việt ngữ b là dạng cổ của m như bồ hôi = mồi hôi, ngày nay nhiều địa phương còn dùng từ bầm, có nghĩa là mẹ, người vú nuôi, chị vú nuôi, theo b=m, ta có bầm = mầm = mama, maman, má…), mẫu tự b vũng là dạng cổ của v như bó = vó (ngựa) (Từ Điển Việt Bồ La, Alexandre de Rhode). Mẫu tự h có thể là dạng cổ của k, c như bệnh hen là bệnh kèn (h=k). Người bị bệnh hen thở cò cử như thổi kèn:
Chồng hen lấy vợ cũng hen,
Đêm nằm cò cử như kèn thổi đôi.
                (ca dao).
vân vân. Đây là những cái chìa  khóa vàng (xin đọc kỹ ba chương này trong Tiếng Việt Huyền Diệu).  Hồi nhỏ khi tôi còn học lớp đệ thất,  đệ lục ở trường trung học  Phan Châu Trinh, Đà Nẵng, một vị giáo sư dậy Anh văn, đã khuyến khích học sinh học ngữ vựng Anh ngữ bằng cách chia lớp ra làm hai phe, mỗi phe lên bảng viết một mẫu tự và phe kia viết tiếp. Phe nào tìm được chữ làm phe kia bị bí không viết thêm được nữa thì thắng. Tôi là một tay  “cự phách”  trong trò chơi  ghép chữ này, là vì tôi đã học thuộc một quyển từ điển Anh-Việt loại bỏ túi chỉ trong vài tuần. Lúc ấy các bạn tôi gọi tôi là “Quang từ điển” (và bây giờ tôi viết từ điển thật sự). Lúc bấy giờ tôi chưa biết gì về các qui luật của ngữ học, chỉ học bằng “trực giác”  nối kết sự liên hệ giữa tiếng Anh và tiếng Việt. Và bây giờ tôi  tìm ra những cái chìa khóa vàng để học Anh ngữ bằng Việt ngữ  và ngược lại. Xin trao lại những cái chìa khóa này cho những ai thích chữ nghĩa.

Để tránh nhức đầu cho độc giả ở đây tôi chỉ nhắc sơ qua một vài điểm chính yếu  để dẫn dắt độc giả, giúp độc giả có một ý niệm tổng quát,  tôi cô đọng lại thành một vài qui tắc ngắn gọn,  trước khi bước vào phần chính yếu là phần từ vựng tức Từ Điển Tương Đồng Việt Ngữ và Ấn Âu Ngữ. Cũng xin nói là học Anh ngữ có nhiều phần như ngữ pháp, phát âm, nói và từ vựng. Ở đây tôi chỉ chuyên chú về từ vựng. Từ vựng là những viên gạch làm nền tảng, ít ra cũng giúp  đọc được sách báo, tài liệu… và dĩ nhiên cũng giúp rất nhiều trong việc học ngữ pháp và nói. Sau đây chỉ là một vài mấu chốt chính yếu, còn những giải thích cặn kẽ vànhững điểm thứ yếu tôi sẽ đề cập tới khi gặp dịp ở những chỗ khác (nếu muốn nghiên cứu thêm xin đọc Tiếng Việt Huyền Diệu).

Ta có thể dùng tiếng Việt học Anh ngữ qua nhiều phương diện như:

. Biến âm

Dựa vào biến âm để truy tìm sự tương đồng. Những từ có cùng một gốc nghĩa nhưng âm khác nhau coi như là những từ biến âm với nhau.
Có thể chia biến âm ra nhiều trường hợp:

a.    Biến âm mẹ con: cùng âm, cùng vần, cùng nghĩa, cùng mặt chữ  như cut = cắtdais, bệ cao = đài; bad, xấu, tồi = bét (chót), bết (tồi, xấu), bê bối.
b.    Biến âm chị em: cùng vần, khác âm, cùng nghĩa như mù = mờ,  fly, bay = phi (Hán Việt), bay; blue = bleu, chat (Pháp ngữ) , mèo = cat (Anh Ngữ) , (h câm).
c.    Biến âm họ hàng gần (con chú con bác): khác vần cùng âm, cùng nghĩa: đây = này, nầy, đó = nọ, nớ; blank (để trắng, trống), blanc (Pháp ngữ)  = trắng (bl = tr như Chúa Blời = Chúa Trời).
d.    Biến âm họ hàng xa:  khác vần và nghĩa đã xa hay nghĩa lệch đi  như đó = nớ = . Nó có gốc hai ba đời là đó. Nó là người nớ, người đó, nghĩa  đã xa nếu không để ý khó mà biết là “nó” do “đó” mà ra.   Từ y là nó cũng vậy, ta có đấy = ý (cái đấy = cái ấy = cái ý). Với đ câm đấy = ấy, với a câm, ấy = ý (hay biến âm ay = y cũng vậy). Ở đây đã biến âm hai lần, đã khác âm, khác vần, nếu không truy tìm kỹ thì không biết là “y” (nó) có biến âm từ  “đấy” (đó). Anh ngữ  foot, chân = boot, giầy (biến âm f=b với nghĩa đã biến đi, giầy liên hệ với chân).

.Dạng âm cổ:

Các âm càng cổ, càng gần gốc tổ càng gần cận nhau:
Tiếng Việt và tiếng Anh cổ càng liên hệ mẹ con với nhau ví dụ cổ ngữ Anh buan, dwelling, chính là Việt ngữ buôn, bản, mường; cổ ngữ Anh bog (arm, cánh tay) = bồng. Ta cũng thấy rất rõ Việt ngữ ãm, ẵm (bồng) chính là Anh Ngữ arm (ãm ẵm, bồng là dùng cánh tay “arm” để  mang một vật gì); Anh Ngữ cổ bur,  apartment, chung cư = buồng. Maori ngữ ở New Zealand bure, nhà. Bur, bure, buồng liên hệ với Phạn ngữ pur-, chỗ ở, buôn, bản, búa, phủ, phố, phường, phòng, mường (Tiếng Việt Huyền Diệu), Anh ngữ cổ brus (breast), vú  = bú, vú (r câm)… Thep p=b=m, pur– = mùa, ta có từ quê mùa, nhà quê nhà mùa với mùa hàm nghĩa buôn, bản, mường. . . Nhà quê nhà mùa là dân ở quê, dân ở buôn, ở bản, ở mường…

Ta cũng suy ra các từ Việt càng “nôm na mách qué” bao nhiêu tức càng thuần Việt bao nhiêu thì càng liên hệ mẹ con với Anh ngữ bấy nhiêu ví dụ Anh Ngữ “bum”, người lười biếng, rong chơi, cầu bơ cầu bất;  “bum”  chính là Việt ngữ “bợm”;  Anh Ngữ “dud”, dở, kém, ngu như  “Im a dud at language” (tôi là một thằng dở về ngôn ngữ). Dud  chính là Việt ngữ  đụt (các cụ ta mắng “thằng đụt”, sao mày “đụt” thế), câu Anh ngữ vừa nói nếu nói theo nôm na là “tôi là một thằng đụt về ngôn ngữ”;  dummy, người ngu ngốc có dum- =  đần;  Anh ngữ rum, kỳ cục, kỳ dị, a rum fellow, một người kỳ cục, rõ như ban ngày rum = rởm, thói rởm. Ta thường nghe các em trẻ hiện nay nói thằng đó là thằng “jerk”. Từ jerk có nghĩa là giựt, kéo lẹ và đột ngột lên như lên cơn động kinh (kinh giựt), phản xạ gân khi bác sĩ dùng búa cao su  gõ vào đầu gối, chân giựt mạnh lên. Việt ngữ không có mẫu tự  “j”. Mẫu tự j  tương đương với d, ch của Việt ngữ. Theo j = d như jeep = dép, díp (xe), ta có jerk = dựt, dật,(giựt, giật). Như thế thằng “jerk” là thằng “ giựt”. Nhưng nếu theo biến âm j = ch  như Java = Chà Và (người miền Nam gọi người Java là Chà Và. Người Chà Và ở miền Nam bây giờ gọi tắt là người Chà như  người Chà Châu Giang là những người Hồi giáo gốc Java), ta có  “jerk” = chớn. Thằng “jerk” là thằng “cà chớn”. Theo ch = tr, chớn = trợn, ba trợn. Như vậy  thằng “jerk” là thằng cà giựt,  cà chớn,  ba trợn. Ta cũng thấy “dựt” liên hệ với “chớn” như chiếc xe để “ga-răng-ti” già quá, tức có  nhiều “chớn”, có “chớn” quá, lúc khởi chạy thường  giựt mạnh, cà giựt, cà giựt. (xin mở một dấu ngoặc ở đây để nhắc lại rằng vì ngôn ngữ thay đổi theo thời gian nên chúng ta không thể đem áp dụng một cách mù quáng những qui luật ngữ pháp, văn phạm của chữ quốc ngữ hiện nay vào công việc nghiên cứu tiếng cổ Việt nói chung và nghiên cứu sự liện hệ giữa Việt ngữ và ngoại ngữ nói riêng. Thời cổ Việt không có chữ quốc ngữ, nên không thể nói người cổ Việt nói n, l, ch, tr, s, ch… hỏi, ngã, sắc, nặng, huyền, không dấu, sai ngữ pháp hiện nay hay nói ngọng. Như trường hợp ở đây ta thấy rõ jerk cùng âm với d, ch mà theo đúng ngữ pháp hiện nay ta phải viết là giựt và chớn và trợn đều  có nghĩa như nhau và tùy theo từng vùng,  có chỗ nói cà chớn, có nơi nói ba trợn.  Xin đừng câu nệ. Có nhiều người nhái tiếng địa phương để châm chọc, đùa giỡn, đây là một hành vi bất nhã và ngu xuẩn. “Chửi cha không bằng pha tiếng”.

.Mỗi dân tộc nói một âm của cùng một gốc chữ, cùng một nghĩa.

Không nên trông chờ nhiều có những âm giống hệt  nhau trong các ngôn ngữ liên hệ vì ngôn ngữ hiện kim đã xa rời gốc tổ chung ví dụ như Pháp và Anh là hai ngôn ngữ chị em nhưng có cách phát âm khác nhau. Tiếng Việt và tiếng Anh cũng vậy. Âm khác nhưng nghĩa giống nhau là có thể chấp nhận được rồi. Ví dụ  người Anh nói blue (bờ-lu) thì người Pháp nói blue (bờ-lơ) giống như chúng ta nói , mờ như nhau. Cũng nên nhắc lại là tiếng Việt biến âm được với tất cả các âm của ngôn ngữ loài người vì thế Việt ngữ liên hệ với nhiều ngôn ngữ ví dụ như cộc liên hệ với Anh ngữ short, Tây Ban Nha ngữ  corto và ta cũng có từ cụt, cộc liên hệ với Đức ngữ kurz, Pháp ngữ court; Việt ngữ mạ, má, măng, mầm,  me, mẹ, mệ,  mị, mợ, mụ liên hệ với tất cả các ngôn ngữ có từ mẹ khởi đầu bằng mẫu tự m, b, v. . . như maman, mère (Pháp ngữ), madre (Tây Ban Nha, Ý ngữ), màe (Bồ Đào Nha ngữ), mama, mother, mom v. v… (xem thêm chương Biến Âm trong  Tiếng Việt Huyền Diệu).
. . . . . .

. Gốc Chữ

Gốc chữ cũng giữ một vai trò rất quan trọng để tìm sự liên hệ giữa hai ngôn ngữ.
Cũng nên biết trong Việt ngữ có những những danh từ chuyên biệt (specific nouns) như từ người, rau…, trời… thường đi kèm với các danh từ tổng quát (general nouns) đôi khi có nhiệm vụ như một tự loại hay loại từ (classifier). Những nhóm danh từ cùng đi chung một danh từ chuyên biệt này có thể coi như cùng nhóm, cùng gốc ví dụ như người nam, người nữ, người con trai, người con gái; rau diếp, rau bí,   rau mùi; trời nắng, trời mưa, trời gió, trời bão, trời sáng, trời tối. . . Thổ dân Úc cũng nói in hệt như chúng ta (xem Tiếng Việt Huyền Diệu).

Hãy lấy một vài ví dụ:

–gốc chữ Việt cổ blời là trời.

Từ trời có thể hiểu là bầu trời, hư  không (cõi trên), không gian,  không khí, mặt trời, thượng đế, thiên đường, như trên vừa nói những từ về thời tiết như trời nắng, trời gió, trời mưa cũng coi như có cùng gốc trời… Ta có:
-blue, bleu, màu trời có gốc blời (blời là danh từ tức là gốc còn tính từ  bleu, blue chỉ là một thứ phụ từ là ngọn).
-bloke, người, đàn ông (còn dùng nhiều trong khối Liên Hiệp Anh).  Bloke có gốc blời. Người là ngời là sáng là rạng (Mã-Nam Dương orang là người), là tỏ là đỏ là mặt trời. Người là trời, là con trời. Bloke có gốc blời, trời.
-blaze, chói sáng, chói lọi (mặt trời), cháy.
-bleak, ảm đạm (trời).
-bleach, bạc phếch, phai màu vì ánh nắng (ngày nay có thể dùng hóa chất để tẩy trắng).
-bless, blessing, hồng ân, hồng phước mà trời (thượng đế) ban cho.
-blight, nắng làm khô héo cây.
-blind, mành mành che nắng.
-blimp, khinh khí cầu.
-blast, luồng gió, luồng hơi mạnh (“gió mưa là bệnh của trời”).
-blow, thổi liên hệ với trời với nghĩa là khoảng không, không khí.
-blizzard, bão tuyết.
. . . . . .
–Gốc na- là nác nước, gốc ke là que (xem chương Gốc Chữ Trong Việt Ngữ, Tiếng Việt Huyền Diệu).

Một điểm nữa liên hệ tới gốc chữ, tiếng ngọai ngữ thường đa âm, trong đó có Anh ngữ, vì thế, khi chuyển từ Anh ngữ qua Việt ngữ ta phải tìm phần gốc, phần cốt lõi của từ ví dụ adapter, vật ráp, nối, lắp vào như cái lắp điện. Từ adapter có phần cốt lõi, phần gốc là = -dap- (còn “a-“ là vào, “-ter” là vật, người), –dap-  chính là Việt ngữ “dáp” (ráp), lắp (d=l). Commerce, buôn bán, giao thương  có com- (cùng, chung, với) + mer- = mại, mãi, mua bán. Commerce = cùng mua bán với nhau, giao thương, thương mại. Disease, bệnh, bệnh tật có dis- (gốc chữ có một nghĩa tiêu cực như mất, bất) + ease (thoải mái, an lành, yên bình, take it easy, đừng lo buồn, phiền muộn, hãy thoải mái đi, tương đương với “no worry” của người Úc hay dùng); ease =  yên, an. Disease = bất an, không yên tức không được khỏe, khó ở, bị bệnh.
…….

.Chữ Câm

Ta có thể dùng chữ câm để truy tìm sự liên hệ giữa Việt ngữ và ngoại ngữ trong đó có tiếng Anh. Hiện tượng chữ câm trong Việt ngữ rất phổ thông và sâu rộng. Tất cả những nguyên âm và phụ âm trong Việt ngữ đều có thể ở dạng câm. Tuyệt vời nhất là trong cùng một từ hiện tượng chữ câm có thể xẩy ra cho bất cứ phụ âm nào từ đầu tới cuối chữ. Hãy lấy một hai ví dụ:
–từ “chết”. Nếu chữ “c” đầu câm ta có chết = hết. Chết là hết. Nếu chữ “h” kế tiếp câm ta có chết = cết = kết. Mường ngữ kết là chết. Chết là kết thúc, là chấm dứt. Nếu chữ “t” cuối câm ta có chết = chế. Tang chế liên hệ tới chết. Nếu hai chữ “ch” đầu câm ta có chết = ết. Ết biến âm với út là chót, cuối cùng hàm nghĩa kết. Nếu cả ba phụ âm đều câm một lúc ta có chết = ế. Ế có nghĩa là không như ế chồng là không có chồng, ế khách là không có khách. Không, không còn  có một nghĩa là mất, chết. Chết là trở về với hư không.
–từ cháng, chạng chỉ chỗ ngã ba cành hay thân cây. Với c câm, cháng = háng (chỗ ngã ba thân người, chỗ cháng, chạng thân người). Với h câm, cháng, chạng = cáng, càng. Người cổ dùng cáng cây để tải thú, thức ăn, ngày nay ta dùng cáng để  chở người, tải thương. Cáng nguyên thủy là cành cây chẻ hai, hay cháng cây. Để hai nhánh chẻ xuống mặt đất, để dồ lên trên rồi kéo phần  cán, phần thân. Cáng là cháng cây còn thấy rõ qua Pháp ngữ brancard, cáng, ruột thịt với branche, branch, cành cây. Càng  là cái cháng tức cành cây chẻ hai. Càng cua, càng tôm mang hình ảnh của cháng cây chẻ hai. Với n câm, cháng, chạng = chág, chạg = chạc (cùng nghĩa với cháng, chạng). Với g câm, cháng = chán, chạn. Chạn nguyên thủy là cái giá cây làm bằng cháng cây để gác, cất hay phơi thức ăn. Ngày nay chạn là chỗ cất giữ thức ăn. Anh Ngữ  crotch, chạc, chạng, cháng cây, háng, bẹn; “crotch itch” là chứng ngứa ở bẹn hay háng tức bị hăm vì bị vi nấm mọc. Với r câm,  c(r)ot- = cột, cọc. Ta thấy háng crotch có gốc từ cây, từ chạc cây  giống hệt Việt ngữ háng. Háng và croth là chỗ ngã ba thân người giống như chạc, cháng, chạng cây.
–tôi có làm một bài thơ dựa vào hiện tượng chữ câm trên chữ CHỬI, xin viết ra đây để độc giả giải trí.  Bài thơ như sau:

Câm CH… mày đi,  những thằng  hay ỬI!
Chửi mà  văng”xê” (c)  thì  chúng mày HỬI.
Chửi mà không  “hát””(h) không hò  như CỬI.
CHỬI  CH…  chúng mày nếu như không ỬI.    

CHỬI  với CH câm = Ửi (ửi có nghĩa là hửi, ngửi). “Những đứa hay ửi” hay hửi hay ngửi thường đánh hơi để chửi bậy. Dưới một khía cạnh “Những đứa hay ửi” hay đánh hơi là một thứ chó má. Có thể hiểu nghĩa “CH…” tùy ý (chó, cha, chủ, chúa, chùa…). Chửi mà văng “xê” là từ CHỬI văng mất chữ C (c câm) = HỬI; C là cứt… Chửi văng cứt, văng đái ra thì “hửi”. Chửi  mà không “hát” tức từ CHỬI mất chữ H (h câm) = CỬI. Chửi mà không hát không hò như kiểu chửi mất gà, không hay ho, không có vần có điệu, không bằng văn thơ, chửi tục tĩu  như bọn vô học thì chẳng khác gì cửi  (cởi) đồ ra cho thiên hạ… xem dòng giống chín đời nhà mình.  Câu cuối  CHỬI không có ỬI (nguyên âm “ửi” câm) thì còn CH. Như thế chẳng khác gì chửi CH… chúng nó (xem thêm Tiếng Việt Huyền Diệu).

Xin đưa ra một vài ví dụ chữ câm giữa Anh ngữ và Việt ngữ.

.Bỏ b  hay b câm.

Trở lại với gốc chữ cổ blời (trời, giời).

Nếu b câm ta có blời = lời như Chúa Blời = Chúa Lời.  Ví dụ:
-blời, bleu, blue với b câm còn lời, -leu, -lue ruột thịt với  lux (Tây Ban Nha ngữ), lumière (Pháp ngữ), ánh sáng mặt trời, light, ánh sáng, với lupus (Latin), loup (Pháp ngữ), chó sói. Theo biến âm s=ch, sói = chói (sáng). Coyote (thổ nhân Mỹ châu ngữ), chó sói có coy- = chói (sáng). Ta thấy rõ sói = coy- (s=c).
-blight, nắng làm khô héo cây. Với b câm, blight = light, ánh sáng mặt trời tức nắng. Light ruột thịt với lửa, với lạn (sáng) như thấy qua từ đôi sáng lạn. Hán Việt lạn là nóng quá. Light liên hệ với quẻ Li, có một nghĩa là lửa. Tất cả đều có gốc blời, mặt trời.
-blaze, chói sáng, chói lọi (mặt trời), cháy. Với b câm ta có “-laze” liên hệ với lamp, đèn, với lamb, cừu con, con chiên: the lamb of God tức Chúa Jesus, trong khi tín đồ ngoan đạo của Chúa Jesus gọi là con chiên. Hiển nhiên lamb liên hệ tới trời (thượng đế), tới Chúa Blời hay Chúa Lời. Ta cũng có -laze liên hệ với lazy, lười, biếng. Nắng, nóng quá tức blaze sinh ra lười lazy. Điểm này cũng thấy rõ qua Việt ngữ lười biến âm với lửa và Hán Việt lạn (nóng quá) cùng âm với lãn là lười như đại lãn chờ sung (rất lười nằm dưới gốc sung há miệng chờ cho sung rụng rơi vào miệng). 

. . . . . .

.Bỏ r thứ nhì hay r câm.
như chef de train = xếp “tanh”, transport = “tăng bo”, troupe (Pháp và Anh Ngữ ) = tốp (nhóm, phường, đoàn), vân vân.
-drain = d(r)ain = dãnh, rãnh.
-break = b(r)e- = bể, bẻ.
-bring = b(r)ing  = bưng
-dragon = d(r) agon =  nagon = naga, rồng Ấn giáo =  nạ (tiếng Miền Nam chỉ loài thủy quái), nác (nước). Việt ngữ rồng = dòng (nước), thuồng luồng là thòng lòng, dòng dòng liên hệ với nước. Con long của Trung Hoa biến âm với dòng (nước). Con rồng, thuồng luồng, naga, long, dragon có vật chủ (host) là loài sống ở dưới nước như rắn nước, cá sấu (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

. . . . . .

.Bỏ l thứ nhì hay l câm

-bladder, bóng, bọng (mật, tiểu), với l câm, bladder  có badd- = ball = bóng, bọng, bàng (Hán Việt), bàng quang.
-blur, mờ, lem nhem, với l câm, blur = bur- =  bu- = mù, mờ (b=m).
-fly, bay, với l câm và f=b (hay fl =b),  fly =  -by (/bai/)  =  bay.
. . . . . .
(còn tiếp)

One comment

  1. Marie Dzung · · Reply

    Very interesting study, thank you, i am glad i came across your website…i AM IMPRESSED WITH THE LIST OF BOOKS YOU HAVE WRITTEN (SORRY i HAVE NOT READ ANY OF YOUR BOOKS) AND CERTAINLY
    YOUR LANGUAGE STUDY…
    tHE FUTURE OF
    OUR vIETNAMESE HERITAGE BADLY NEEDS MORE SCHOLARS ( AND PRACTITIONERS) LIKE YOU.
    kEEP ON WITH YOUR EXCELLENT WORK!

    tHANK YOU SO MUCH FOR SHARING.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: