THE DA VINCI CODE và CHỮ NN

(*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).

DA VINCI CODE VÀ CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE

TRÊN TRỐNG ĐỒNG ÂM DƯƠNG 

ĐÔNG SƠN.


                        Nguyễn Xuân Quang

The Da Vinci Code của Dan Brown nói về những mật mã của Leonard da Vinci. Điểm mấu chốt chính yếu của toàn quyển sách là mật mã trên bức tranh The Last Supper (Bữa Ăn Tối Cuối Cùng) của Leonard da Vinci.

      

clip_image002

                     The Last Supper (Leonard da Vinci, 1498).

Mục đích của bài viết này là so sánh mật mã mấu chốt trên bức tranh này của Da Vinci với chữ nòng nọc vòng tròn-que khắc trên trống đồng âm dương Đông Sơn mà tôi đã khám phá ra.
Dựa vào những mật mã của Leonard da Vinci đã cố ý mã hóa trong bức tranh, Dan Brown cho rằng người đệ tử ngồi bên Chúa không phải là John mà là một nhân vật nữ.
Mật mã nào đã cho biết John là một người nữ? Trước hết về hình dáng, John là người ngồi bên tay phải Chúa  trông nhu mì, yểu điệu thục nữ, rất trẻ, dáng vẻ thành kính, ngoan đạo (pious-looking), khuôn  mặt đoan trang (demure face), có đầu tóc đỏ bay bềnh bồng, hai tay nắm vào nhau trông thanh nhã (delicate) trong khi các người khác đang khoa tay chỉ trỏ lung tung và có ngực phồng lên như gợi ý cho thấy có đôi vú (hint of a bosom). Về ăn mặc, theo Dan Brown, John và Chúa có trang phục ngược nhau theo âm dương. Chúa mặc áo dài (robe) mầu đỏ và áo choàng ngoài mầu xanh da trời. John mặc áo dài mầu xanh da trời và áo choàng ngoài mầu đỏ. Tôi xin giải thích thêm nữa dựa theo Dịch ở đây. Mầu đỏ là mầu mặt trời, lửa, mầu dương, mầu Càn. Chúa mặc áo đỏ là áo dương, thái dương, mặt trời và áo choàng  xanh da trời là áo mầu trời, không gian, màu âm, mầu Khôn. Chúa mặc áo Mặt Trời-không gian hay Càn/khôn mang dương tính thuộc nhánh dương Càn trong khi John mặc ngược lại mang ý nghĩa Không Gian-mặt trời, Không Gian dương hay Khôn/Càn mang âm tính thuộc nhánh âm Khôn dòng mặt trời. Hai người gộp lại thành Mặt Trời-Không Gian, thành Trụ và Vũ (của vũ trụ), thành Khôn Càn theo duy dương. John mang tính nòng, Khôn, âm. Ngoài ra John ngồi phía bên tay phải của Chúa tức phía bên trái của bức tranh. Phía trái là phía âm. Nhìn vào một bức tranh giống như nhìn vào một quyển sách mở ra trước mặt, trang bên trái bao giờ cũng có số trang là số chẵn tức số âm là trang âm và trang bên phải bao giờ cũng có số trang là số lẻ tức số dương là trang dương. John ngồi ở phía trái bức tranh nên mang âm tính. Như thế theo Dịch, mầu sắc đồ mặc và vị trí ngồi cho thấy John mang âm tính.
Nhìn kỹ vào bức tranh Chúa và John nối dính liền với nhau ở chỗ hông (hip) và ngả ra hai phía tạo thành một khoảng hở ở giữa hai người. Khoảng hở này hình \/ (chữ V) mà Dan Brown cho đây là biểu tượng cho phái nữ, đàn bà gọi là chalice.  Chalice hay calice, calyx  có nghĩa là cốc, chén. Dan Brown cho chalice còn có thêm nghĩa nữa là tử cung phụ nữ. Biểu tượng này liên hệ với phái nữ và sự mắn sinh. Nhìn theo diện bên ngoài thì hình chữ V giống âm hộ, còn hiểu theo nghĩa chalice là chén là vật đựng thì có nghĩa là bộ phận sinh dục bên trong. Vật đựng như chén, nồi, bình, ve biểu tượng cho âm, nữ, dòng nước (ví dụ như các bình, vật đựng ở dưới gầm đài Tam Thế trên những con thuyền ở trống Ngọc Lũ I và các trống họ hàng) (xem chương Ý Nghĩa Dấu, Hình, Biểu Tượng Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á). Về ngôn ngữ học, V (vê) là Vú như thấy qua từ láy vú vê. Từ láy và thành tố láy có cùng nghĩa như nhau tức là vú = vê = V (Tiếng Việt Huyền Diệu). Chữ V là chữ đầu của Vulva (âm hộ) Vagina (âm đạo), tiếng lóng Việt ngữ gọi vulva, vagina là cái “ví”. Ví là cái túi, bao biến âm với “vi” tức V phát âm theo Anh ngữ, ta thấy rất rõ, theo v=b, vagina có vag- = bag, túi, bao = ví.
Theo Dan Brown, hình chữ \/ chalice này biểu tượng cho nữ, phái nữ ngược với hình tượng nguyên thủy /\ biểu tượng cho đực, nam, phái nam, đàn ông mang hình bóng của một dương vật sơ khai (“a rudimentary phallus”) được gọi là lưỡi sắc (blade).
Người nữ này là ai? Tên là gì? Nhìn kỹ ta thấy cột sống lưng của Chúa và John  hợp với khoảng hở chữ V giữa hai người tạo thành chữ M. Người nữ này có tên khởi đầu bằng chữ M. Dan Brown cho rằng M là mật mã của từ Matrimonia hay Mary Magdalene. Người nữ này là người tình, người vợ của chúa tên là Mary Magdalene. Lúc Chúa bị đóng đinh trên thánh giá thì Magdalene đang có thai và được người cậu của Chúa bí mật đưa bà trốn qua một vùng ở Pháp (lúc đó có tên là Gaul) để bảo tồn dòng máu của Chúa. Magdalene sống trong một cộng đồng Do Thái, sau đó sinh ra một người con gái đặt tên là Sarah. Đây là dòng máu thế gian, là khuôn mặt thế gian của Chúa. Dòng máu thế gian này được ẩn dụ dưới tên là Holy Grail (Chén hay Cốc Thánh). Grail là chalice. Holy Grail có nghĩa là Chén của Chúa. Từ grail có g(r)ail biến âm với Việt ngữ “gáo”, vật dùng để uống có cán cầm giống như chalice có chân đế dài, cao. Grail có g(r)ail = gail = gal = girl = gái = cái. Như thế Holy Grail còn có một nghĩa là Thánh Nữ.
Vì bị ngăn cấm và bị truy nã bởi giáo hội thời đó, Mary Magdalene ở trong tình trạng phải sống trong bóng tối nên được biết đến qua các bí danh là Chalice, Holy Grail, Rose. Dan Brown dựa vào các nghiên cứu cho biết là hoa hồng mang biểu tượng cho dục tính phái nữ và nụ hồng trông giống cửa mình phái nữ (tr. 275). Nụ hồng mang hình ảnh cái “lá đa” của chúng ta (lá đa hình trái tim bầu phình đầu thon nhọn để đứng giống hình nụ hồng). Nụ hồng và lá đa có cùng một nghĩa ẩn dụ, ẩn ý (metaphor) như nhau. Vì thế Rose có cùng một nghĩa như Chalice. Ngoài ra Chalice dùng đựng rượu thánh trong các buổi lễ, rượu vang đỏ mang hình ảnh máu của Chúa. Chalice đựng máu Chúa là hình ảnh của Mary Magdalene mang giọt máu của Chúa trong người. Về ngôn ngữ ta cũng thấy, Holy Grail dịch từ Hy Lạp ngữ San (Thánh) Graal  sau biến thành Sang (máu) Real (vua, chúa). Như vậy Holy Grail còn có thêm nghĩa là dòng máu Chúa.
Tóm tắt lại Chalice hình chữ V, về hình dạng V biểu tượng cho âm hộ,  V hiểu theo vật đựng hình lõm, hình cốc chén calice thì biểu tượng cho bộ phận sinh dục nữ bên trong như âm đạo, dạ con. Chalice đựng rượu vang đỏ theo nghĩa ẩn dụ, ẩn ý là  Holy Grail là Chén của Chúa, Chén mang dòng máu Chúa, Thánh Nữ ám chỉ Mary Magdalena mang dòng máu của Chúa.

Xin gác qua một bên những khía cạnh về tôn giáo, tiểu thuyết. Ở đây, chủ điểm của bài viết này là so sánh Da Vinci Code (Mật Mã Da Vinci) và chữ nòng nọc vòng tròn-que trên trống đồng âm dương Đông Sơn. Những nhà nghiên cứu trống đồng hiện nay thường cho những “hoa văn” trên trống đồng là những mật mã nên thường hay nói là giải mã các hoa văn trên trống đồng. Tôi khám phá ra những mật mã này là những chữ nòng nọc vòng tròn-que. Xin nhắc lại chữ nòng nọc vòng tròn-que là một thứ chữ cổ nhất của nhân loại còn ghi khắc lại trên trống đồng âm dương Đông Nam Á. Chữ nòng nọc vòng tròn-que gồm có hai chữ cái căn bản là chữ Nòng là vòng tròn O (theo biến âm n=v như níu = víu, ta có nòng = vòng) và chữ Nọc có hình que I. Chữ nòng nọc vòng tròn-que là chữ Mẹ đẻ ra các chữ có dạng con lăng quăng, con nòng nọc, khoa đẩu sau này. Tôi dịch chữ nòng nọc vòng tròn-que sang Anh ngữ là Circle-Rod  Writing, để tránh hiểu nhầm xin đừng dịch là “tadpole writing”, thứ chữ viết hình con nòng nọc, lăng quăng, khoa đẩu (Tiếng Việt Huyền Diệu).
Bây giờ ta thử so sánh mật mã chalice \/ này với các chữ nòng nọc vòng tròn-que trên trống đồng âm dương Đông Sơn xem sao?
Theo duy dương, cả hai mật mã chalice và blade đều do hai que nọc (I) ghép lại. Hai nọc (II) là hai dương, thuần dương, thái dương, lửa, dòng mặt trời thái dương.
1. Nọc mũi nhọn /\ (mũi mác, mũi tên, mũi dao, mũi dùi) hay răng sói, răng cưa.
Hình nọc mũi nhọn /\ mà Dan Brown gọi là blade thật ra là nọc mũi nhọn do hai que nọc ghép lại, đây chính là một dạng hình “răng sói”, “răng cưa”. Dan Brown gọi là blade, lưỡi sắc, không được hoàn chỉnh, phải gọi là vật mũi nhọn. Nọc mũi nhọn mới hình dung trọn vẹn được chiếc nọc, chiếc nõ (đi với nường), chiếc cọc nhọn của phái nam (cọc biến âm với cược). “Quân  tử có thương thì đóng cọc”, “Cọc nhổ đi rồi lỗ bỏ không” (Hồ Xuân Hương). Du Tử Lê trong Khúc Thụy Du có câu: “Tình yêu như mũi nhọn, êm ái và ngọt ngào”.
Chữ nọc mũi nhọn này trên trống đồng âm dương thấy dưới hai dạng: dạng chữ và dạng dấu (marker, accent).
a. Chữ nọc mũi nhọn (mũi lao, mũi tên, mũi dùi), răng sói, răng cưa.
Dưới hình thức là một chữ thì nọc răng cưa, răng sói này tổng quát mang trọn vẹn ý nghĩa Vũ Trụ thuyết, Dịch lý theo duy dương nghĩa là có đủ các nghĩa ứng với các diện của âm dương, Tứ Tượng. Ở đây tôi chỉ viết giới hạn theo nghĩa bao quát là đực, dương, thái dương, dương vật để so sánh với các nghĩa này của chữ blade của Dan Brown hiểu theo diện bao quát âm dương mà thôi.

Xin lấy một vài ba ví du về chữ nọc mũi mác (blade của Dan Brown) có nghĩa là đực, dương, dương vật, thái dương, mặt trời thái dương:
.chữ nọc mũi nhọn biểu tượng cho đực, lửa, thái dương, mặt trời thái dương.

Ví dụ những thú vật có mõm, mỏ hình nọc mũi nhọn trên trống đồng có nghĩa là những con thú vật đực, lửa, thái dương, mặt trời thái dương.

clip_image002[4]

clip_image002[10]

clip_image001[4]

       Những thú vật có mõm, mỏ hình nọc mũi nhọn trên trống đồng.

Con cá sấu mõm nọc nhọn (>) trên trống đồng Hòa Bình là con cá sấu mõm dao gavial thuộc loài Tomistoma Schlegelii (Tomi- là cắt, -stoma là miệng, miệng sắc nhọn như vật cắt, như dao) thần thoại hóa thành con dao (giao) long. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, con sấu dao này là biểu tượng của tộc Giao Việt dòng Lạc Long Quân.
Con vật lưỡng cư (amphibian) có mõm nhọn (>) mang nhiều dương tính, theo duy dương, là con cóc (con cóc sống trên cạn nên có dương tính hơn ếch sống dưới nước vì nước mang âm tính). Ngược lại, theo duy âm có thể là con ếch. Ếch có mõm nhọn là con ếch ngành nước-lửa, thái dương (xem chương Thế Giới Loài Vật Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á).

.chữ nọc mũi nhọn (>) biểu tượng cho nọc tia sáng mặt trời thái dương.
Hầu hết các mặt trời trên trống đồng âm dương (ngoại trừ ở trống Đào Xá), tất cả các tia sáng mặt trời đều có hình nọc mũi nhọn (mũi lao, răng sói) nghĩa là các trống đồng phần lớn thuộc ngành nọc mặt trời thái dương.

clip_image002[12]

Tia sáng thái dương hình nọc mũi nhọn, mũi lao trên trống đồng.


.nọc mũi nhọn biểu tượng cho lửa thái dương vũ trụ ứng với tượng Càn như thấy trong hình thái Tứ Tượng mà các tác giả hiện nay gọi nhầm là “họa tiết lông công” như thấy ở trên trống Ngọc Lũ I.

clip_image002[14]

Một hình ngữ Tứ Tượng mà hiện nay các nhà nghiên cứu trống đồng gọi nhầm là “họa tiết lông công”.

Hình thái này có 4 chữ nòng nọc ứng với Tứ Tượng.
-Chữ thứ nhất có hình nọc mũi nhọn, răng cưa, răng sói.

clip_image002[16]

        Hình nọc mũi nhọn, răng cưa, răng sói biểu tượng Tượng lửa vũ trụ, thái dương, Càn.

Hai que là hai nọc (II) nói theo thuật ngữ  Dịch là hai hào dương là thuần dương, thái dương, nói theo vũ trụ học là lửa vũ trụ. Vậy hình nọc mũi tên răng sói là nọc lửa vũ trụ thuần dương ứng với Càn. Hình mũi nhọn Càn này giống hệt đầu  mũi nhọn của chiếc đòn càn gánh lúa.  Trong họa tiết gọi là “họa tiết lông công”, nọc mũi mác, mũi đòn càn này biểu tượng thái dương, tượng lửa vũ tru, Càn.
-Chữ thứ hai ở chính tâm có hình hai giọt nước có đuôi thuôn nhọn mang hình ảnh hai giọt nước mưa rơi từ trời xuống.

clip_image002[18]

        Hình hai giọt nước dương rơi từ trời biểu tượng Tượng nước vũ trụ, nước dương, thái dương, Chấn.

Đây là hai giọt nước mưa mang nghĩa nước không gian, vũ trụ. Trong hai giọt nước có hai chấm như hai con mắt nhỏ (vì thế mà  Parmentier gọi hình này là hình “hai con cá”). Hai chấm là hai “dấu chấm” (“dot markers”, “dot accent”),  ở đây mang nghĩa dương, lửa nguyên tạo. Vậy đây là nước dương, nước-lửa sinh tạo. Hai giọt nước là hình biến dạng của hai chữ nòng OO. Hai nòng là hai hào âm, nói theo thuật ngữ Dịch là thuần âm, thái âm, theo vũ trụ học là nước vũ trụ sinh tạo. Hai nòng có chấm là thái âm ngành nọc, dương ứng với Chấn.

Ở những trống muộn hay không còn chính thống hai giọt nước dương đã thể điệu hóa hay nam hóa  không còn hình thuôn tròn như hai giọt nước nữa mà trở thành hình con sò hai mảnh, hình hạnh nhân, hình tam giác hay hình bộ phận sinh dục nữ v. v……, tất cả vẫn còn hàm nghĩa thái âm ngành dương.

-Chữ thứ ba gồm một nét cong là chữ nọc mang âm tính (chữ nòng nọc cũng  “hiệp” hay “accord” với âm dương như trong Pháp ngữ ngày nay có hiện tượng hiệp với giống phái, nọc thẳng là nọc dương, nọc cong là nọc âm)  và các tua như răng lược cong trông giống rèm, bờm, phướn tua, cánh chim hay nửa lông chim.

clip_image002[20]

        Hình rèm, bờm, phướn tua, cánh chim hay nửa lông chim  biểu tượng Tượng gió dương Đoài vũ trụ.
Rèm, bờm, tua phướn, cánh chim, lông chim biểu tượng cho gió chuyển động, gió dương. Hình tua  này là một dạng âm của hình “răng lược” (âm nên có hình cong trong khi dạng răng lược thẳng mang nhiều dương tính).

Vậy đây là khí vũ trụ, gió không gian, là không khí mang tính dương tức gió dương, theo vũ trụ tạo sinh là thiếu âm (dương của âm vì thế mà nọc có hình cong), tượng khí vũ trụ ứng với Đoài Khí vũ trụ.
-Chữ thứ tư có hình tháp nhọn giống như kim tự tháp gồm hai hình mũi mác, răng sói (^) hay chữ V ngược lồng vào nhau.

clip_image002[22]

         Hình tháp biểu tượng Tượng đất dương Li.

Hình tháp nhọn biểu tượng cho núi nổng (núi nhọn như cái nống chống trời tức núi trụ, núi Kì), núi lửa, núi dương. Điểm này thấy rõ  bên trong thành tháp có đánh dấu bằng những “dấu chấm” nhỏ mang nghĩa dương, lửa, bụi trần.  Núi nổng, núi lửa ứng với tượng đất dương Li. Ở cõi vũ trụ là thiên thạch (meteorite). Ta cũng thấy từ “pyramid” (tháp) có gốc pyro-, lửa tương ứng với Li. Mọi người thường hiểu Li là lửa (đúng nghĩa phải hiểu là lửa thế gian). Như thế tháp hàm ý lửa thế gian. Tháp biểu tượng cho núi lửa, núi dương, núi Kì.

Tóm lại “họa tiết lông công” gồm có bốn chữ nòng nọc diễn tả nước, lửa, khí, đất vũ trụ dương, ứng với bốn nguyên sinh động lực lớn tức Tứ Tượng, nói theo Dịch ứng với Càn, Chấn, Đoài, Li. Tôi gọi họa tiết này là họa tiết hay hình thái TỨ TƯỢNG (Tiếng Việt Huyền Diệu). Trong đó nọc nhọn mũi mác biểu tượng cho đực, dương, thuần dương, thái dương, lửa vũ trụ, Càn.
Ta thấy rất rõ vòng tròn ở tâm trống là nòng là nang, là bọc biểu tượng nòng không gian, hư vô, vũ trụ. Mặt trời là dương là đực biểu tượng cho nọc dương. Âm nòng không gian, dương nọc mặt trời giao hòa sinh ra Tứ Tượng được diễn tả bằng họa tiết Tứ Tượng. Tiếp tục của quá trình vũ trụ tạo sinh là các phần còn lại của mặt trống và tang trống (xem chương Cơ Thể Học Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á). 

.Vành răng sói, răng cưa.

Trên trống đồng âm dương, những nọc răng cưa, răng sói này kết nối lại tạo thành một vành răng cưa, răng sói mang nghĩa đực, dương, thái dương như thấy ở ngoài biên trống Ngọc Lũ I.

b. dấu (^).
Nọc mũi nhọn (>) này còn có một dạng dùng làm dấu (marker, accent). Nọc mũi mác dùng làm dấu thường nhỏ hơn chữ nọc mũi mác. Hệ thống dấu trong chữ nòng nọc cũng giống như hệ thống dấu huyền, hỏi, ngã, nặng trong chữ Việt hiện nay. Dĩ nhiên dấu trong chữ nòng nọc dùng để chỉ tính âm dương theo Vũ Trụ giáo, theo Dịch lý. Dấu nọc nhọn đầu mũi tên, mũi lao (>) này có nghĩa là  đực, dương, thái dương mang tính sinh tạo, sinh động, năng động. Dấu nọc mũi mác mũi nhọn, hình răng sói này thấy viết trên người nhiều thú vật có nghĩa là đực, lửa, mặt trời, thái dương. Ví dụ:

clip_image002[24]

            Dấu nọc mũi nhọn răng sói, răng cưa  trên mỏ hai con chim cho bíết đây là hai con chim dương thuộc dòng nọc, dương, mặt trời thái dương .

clip_image002[26]

Một con hươu có dấu nọc mũi nhọn răng sói, răng cưa  trên mõm ở  trên trống Ngọc Lũ I cho bíết đây là hươu dương dòng nọc, dương, mặt trời thái dương.
Ta thấy rất rõ Dan Brown cho biết Nọc mũi mác là hình tượng nguyên thủy của đực, dương (original icon for male) gọi là blade và là dạng sơ khai của dương vật (“a rudimentary phallus”) ăn khớp trăm phần trăm với chữ  và dấu nọc mũi mác răng cưa, răng sói của chữ nòng nọc viết trên trống đồng âm dương Đông Nam Á.
2. Nọc mũi nhọn chữ V.
Tổng quát, hình nọc mũi nhọn chữ V là hình ngược với hình nọc mũi mác thẳng đứng nên có nghĩa ngược lại với nọc mũi mác răng sói /\. Nếu chỉ  nhìn dưới diện âm dương bao quát và theo thuần âm nữ mà thôi thì nọc chữ V mà Dan Brown gọi là chalice chỉ biểu tượng cho nòng, âm, nữ, dạ con…
Ở những trống đồng muộn, nhất là những trống đồng âm dương của dòng Mặt Trời Nước dòng nòng âm như các trống ở Nam Trung Hoa, trên chân trống (vùng biểu tượng Cõi Dưới, Cõi Âm) thường thấy những  hình nọc chữ V biểu tượng cho âm, Cõi Âm. Nhiều khi những hình này kết nối lại thành vành “hoa văn” hình gợn sóng răng cưa ngược chữ V.

clip_image002[28]

         Hình Nọc răng cưa ngược chữ  V ở chân một trống Nam Trung Hoa.

Nếu nhìn toàn diện trọn vẹn dưới lăng kính của Vũ Trụ giáo và Dịch lý thì nọc chữ V này mang trọn vẹn ý nghĩa âm dương của Dịch của nhánh âm nòng, Khôn.
Ví dụ trên trống Miếu Môn I, dưới mõm những “con thú lạ” và những con cò bay có chữ nòng nọc hình chữ V. Các nhà nghiên cứu trống đồng hiện nay cho đây là những con thú và chim đang “tha mồi”. Nếu hiểu theo nghĩa bao quát của chữ V (tức hiểu theo chalice của Dan Brown) như trên thì những con thú có hình ngữ chữ V này dưới mõm và mỏ là những con vật mang tính âm lửa, thái dương thuộc nhánh nòng, Khôn dòng mặt trời thái dương (ứng với phía John/Mary Madelene).

clip_image002[30]

 Hình thú, chim có hình ngữ chữ V dưới mõm và mỏ trên trống đồng Miếu Môn I.

Bây giờ ta đi xa hơn vào nghĩa của hình ngữ V dựa trên tính âm dương của Dịch. Theo Dịch, âm còn có âm của âm là thái âm, Khôn âm (có một khôn mặt là nguyên thể của nước) và âm còn có dương của âm là thiếu âm, Khôn dương (nguyên thể của gió). Như đã biết nòng O  theo duy âm nữ có một khuôn mặt biểu tượng cho âm, nữ, bộ phận sinh dục nữ, theo Dịch là Khôn. Khôn khi dương hóa mở ra thành chữ U và V. Ta thấy rõ điểm này qua các chữ viết của loài người hiện nay. Ta có U của ngôn ngữ này = V của ngôn ngữ kia  hay ở ngay cả trong cùng một ngôn ngữ, ví dụ Latin hiện kim Vox = Anh ngữ Voice = Latin cổ Uox (âm thanh, tiếng nói) = Việt ngữ U ơ (âm thanh, tiếng nói của trẻ thơ), Ú ớ (âm thanh, tiếng nói không ra lời). Rõ hơn trong chữ Việt, trong Từ Điển Việt Bồ La của Alexandre de Rhodes, có từ  cổ Ùa = từ hiệm kim Và. Và là Ùa thức ăn vào miệng. Rõ hơn nữa ta thấy rõ O = U = V qua từ O (phương ngữ Huế  o là mụ, cô, mệ; mụ có một nghĩa là mẹ như Thiên Mụ = Mẹ Trời) = U (người Bắc gọi mẹ là U) = V= Vê = Vú (Trung Nam gọi mẹ là Vú). Hiển nhiên ta thấy trước mắt cái vú, cái vê của U, của O, của Vú, của mẹ, của phái nữ có hình tròn nòng O. Rõ như ban ngày, V là biến dạng của O. Điểm này soi sáng thắc mắc của nhiều người khi đọc Dan Brown giải thích chalice hình chữ V có nghĩa là “dạ con” của phái nữ. Dạ con hình túi, hình bao làm sao mà giống hình chữ V được? Dan Brown đã lấy nghĩa chalice hình chữ V theo nghĩa nguyên thủy của chalice là vật đựng, bầu đựng, túi, nang đựng có gốc từ chữ U, chữ nòng O. Nòng O có một biểu tượng là lỗ sinh dục nữ, bọc dạ con phái nữ.
Trong chữ nòng nọc U, V là dạng dương hóa của O (U còn một vòng cung tròn ở đáy nên còn mang âm tính nhiều hơn chữ V nhọn đầu). Áp dụng ý nghĩa âm dương của chữ nòng nọc theo Dịch lý ở đây, hình ngữ V dưới mõm của những con “thú lạ” và của những con cò là dạng dương hóa của nòng O. Nói một cách khác hình ngữ V là O dương, nòng dương, Khôn dương tức biểu tượng cho khí gió vũ trụ (Đoài vũ trụ). Hình ngữ chữ V hay “cái mồi” của các tác giả hiện nay chính là cái bao, cái bọc, cái nang hình nòng O biểu tượng hư không, khí gió ở dưới dạng dương hóa, thái dương. Ta thấy rất rõ chữ V dưới mõm và mỏ tạo thành chiếc túi hình tam giác ngược ở đây là cái bọc O dương hóa biểu tượng túi khí gió Khôn dương sinh động. Túi gió chuyển động phát ra âm thanh. Đây chính là hình ngữ túi âm thanh (xem chương Ý Nghĩa Dấu, Hình, Biểu Tượng Trên Trống Đồng). Con thú lạ có túi âm thanh dưới cổ là con thú có đặc tính là hay hú hay tru tức thuộc về loài sói, lang, chó. Tôi gọi con thú có bọc âm thanh hình chữ V này là  linh thú lang sói. Nó có cốt là con chó sói, con lang, tương đương với từ thiên cẩu ngày nay dùng ở nhiều vùng quê ở Việt Nam. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, ta thấy thiên cẩu sói lang là hình bóng thú biểu thế gian của Hùng Vương có mạng khí gió vũ trụ (Đoài vũ trụ)  vì một trăm Lang Hùng sinh ra từ một cái BỌC, cái NANG (trứng). Lang là dạng dương hóa của Nang (L là dạng dương hóa của N, xem Tiếng Việt Huyền Diệu). Lang có một nghĩa là túi, bọc dương, bầu dương, Khôn dương tức khí gió vũ trụ. Tổ Hùng Vương có cốt là Bọc, Bầu Trứng Vũ Trụ, có mạng Khôn dương (khí gió), là Mặt Trời-Không Gian vũ trụ (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc).  Hùng Vương thứ nhất có hiệu là Lân Lang có một nghĩa là Con Sói Rạng Ngời (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Sói Mặt Trời thái dương rạng ngời Lân Lang là Sói Trời, Thiên Cẩu. Gần đây ở hồ Trúc Bạch vừa tìm thấy một miếu thờ Chó. Ngày nay ở vùng quê Việt Nam nhiều nơi còn múa thiên cẩu trong ngày lễ tết.
Những con cò có túi âm thanh là những con cò có thể “huýt sáo” là những con cò gió, cò lả, cò trắng (mầu trắng là mầu của khí gió trong suốt), cò lang (lang có một nghĩa là trắng, chứng lang da vitiligo là chứng da hóa trắng, mầu lang là mầu sáng, mầu trắng) (xem chương Thế Giới Loài Vật Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á). Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, những con cò Lang (lang có nghĩa là trắng và cũng có một nghĩa nữa là Lang, con trai tức trăm Lang Hùng), cò trắng, Bạch Hạc, Cò Gió là chim biểu của Hùng Vương vì thế Hùng Vương mới đóng đô ở đất Bạch Hạc Cò Trắng, ở Phong Châu tức Châu Gió.
Kiểm chứng lại ta thấy rất rõ trống Miếu Môn I là trống Đoài/Tốn có mặt trời 14 nọc tia sáng (Đoài ở cõi vũ trụ là khí gió dương, Tốn là gió âm) có một khuôn mặt biểu tượng cho Hùng Vương có mạng Đoài khí gió vũ trụ mang dòng máu Tốn gió âm của Mẹ Âu-Cơ, sinh ra từ bọc, bầu không gian, nang Trứng Vũ Trụ.

Tóm lại nhìn dưới diện mật mã, ta thấy mật mã chalice hình chữ V trên bức tranh The Last Supper của Leonard da Vinci có gốc từ chữ Nòng O. Chữ này có nghĩa ngược với chữ Nọc mũi mác blade do hai nọc (II) ghép lại. Nọc mũi nhọn /\ cũng có gốc từ chữ Nọc que I sinh ra (một nọc I tách ra thành hai nọc, hai nọc ghép lại thành nọc mũi mác, nọc mũi nhọn). Nọc mũi nhọn /\ là dạng sinh động của nọc hình que I. Rõ như “con cua tám cẳng hai càng, một mai hai mắt rõ ràng con cua” là hình biểu tượng cho dương, đàn ông, dương vật là blade /\ và biểu tượng cho âm, phái nữ, âm hộ là chalice \/ của Da Vinci Code có nguồn gốc từ chữ nòng nọc vòng tròn-que. Đây là hai chữ nòng nọc vòng tròn-que thấy trên trống đồng âm dương. Mã số Da Vinci có nguồn gốc từ chữ nòng nọc vòng tròn-que, một thứ chữ tối cổ của loài người còn ghi khắc lại trên trống đồng Đông Sơn (xem Giải Đọc Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á của tác giả).
Về phương diện mật mã, Da Vinci Code đã củng cố sự khám phá của tôi về chữ nòng nọc vòng tròn-que và kiểm chứng lại cách giải đọc của tôi về chữ nòng nọc vòng tròn-que trên trống đồng âm dương Đông Nam Á và ngược lại chữ nòng nọc vòng tròn-que trên trống đồng âm dương đã kiểm chứng và xác quyết lại ý nghĩa của Da Vinci Code.

Vào một dịp khác, tôi sẽ nói tới các mật mã khác của Da Vinci Code.

Tài Liệu Tham Khảo.

.The Da Vinci Code, Dan Brown, Anchor Books, New York, 2003.
.Nguyễn Xuân Quang:
-Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt (Y Học Thường Thức, 1999).
-Ca Dao Tục Ngữ, Tinh Hoa Dân Việt (Y Học Thường Thức, 2002).
-Tiếng Việt Huyền Diệu (Hừng Việt, 2004).
-Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc (phát hành vào dịp Tết Đinh Hợi).
-Giải Đọc Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á (Hừng Việt 2008)..

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: