KANGAROO KÝ 2

                 (*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).

Kangaroo Ký

                                      (tiếp theo) (KỲ 2)

                              Nguyễn Xuân Quang

clip_image002

Gần trưa ngày thứ năm 23 tháng 12, chúng tôi đến Sydney. Vượt qua đường ranh thời gian quốc tế, mất một ngày. Phi cơ đến phi trường quốc tế Sydney đúng giờ giấc. Chuyến bay thật thoải mái. Nhân viên hướng dẫn địa phương chờ đón đưa chúng tôi về ở khách sạn Sofitel Wentworth Sydney ở đường Phillip. Tắm rửa, nghỉ ngơi. Hai giờ chiều hướng dẫn viên địa phương dẫn chúng tôi thả bộ đi một vòng định hướng những vùng chung quanh khách sạn. Sofitel rất tiện lợi có thể đi bộ đến những tụ điểm nổi tiếng của Sydney. Tôi chỉ vẽ bản đồ ghi nhớ trong óc những nơi mình thích như vùng bến cảng, vườn Thảo Mộc, Bảo Tàng Viện Sydney (ở ngay sát cạnh hotel), Thư Viện… Đường đi bộ thật dễ nhớ. Cứ thả dốc là đi tới bến cảng, bờ biển. Nước chảy xuôi dòng. Dĩ nhiên người hướng dẫn viên không quên đưa các bà đến những nơi mua sắm. Dừng chân khá lâu ở những tiệm bán sản phẩm địa phương như ngọc opal, những sản phẩm may mặc bằng lông cừu thượng hạng… Chỗ nào họ cũng biết là phải đãi đằng các ông cho chu đáo để có thể cầm chân các bà ở lại lâu hơn. Có chỗ ngồi thoải mái sang trọng lịch sự cho các ông. Có nước, có rượu, bia Úc, có bánh kẹo, có phim ảnh và có thuyết trình viên giải thích về những sản phẩm đặc thù địa phương giúp cho các ông thấu hiểu được cái đẹp và giá trị của món hàng. Nên khi thấy các món hàng này trên người các bà, các ông không còn thấy chúng là những thứ rởm, rẻ tiền, cảm thấy hãnh diện lây và hăng hái làm việc thêm. Tôi học bài học về opal lần này là lần thứ hai. Lơ đãng nghe, mà thấy thấm hơn lần đầu nên thấy mấy món họ đãi đằng ăn thấy ngon miệng và đã khát hơn.

Opal chỉ là một thứ giao hay keo (gel) silica đọng lại trong các kẽ đất đá lâu ngày kết tinh lại mà thành (gel = giao, theo g=c=k, /gieo/ = keo). Một vùng rộng lớn nội địa Úc ngày xưa là biển, những trầm tích rất thích hợp cho sự cấu tạo thành opal. Một vài trường hợp hiếm hoi, có những địa khai (fossils) hóa opal, silica thay thế lớp vỏ sò ốc hay xương động vật khởi sự từ thời khủng long. Một trong những bảo vật quốc gia quí nhất của Úc là con vật gần giống như khủng long pliosaur đã opal-hóa tên là Eric, sống cách đây 120 triệu năm (plio-, pleo, gần như và -saur có nghĩa là thằn lằn, -saur chính là Việt ngữ sấu. Cá sấu là một loại thằn lằn, liên hệ với khủng long) (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Pliosaur là loài bò sát sống dưới nước có đầu nhỏ, cổ dài, đuôi ngắn và bốn chân giống như bốn cái bơi chèo. Mầu sắc huy hoàng của opal là do sự khuếch tán của ánh sáng trắng trên những tinh thể hình cầu tròn silica giống như hiện tượng cầu vồng hay chất dầu trên mặt nước. Opal có mầu đỏ cam đắt giá nhất. Nước Úc ngày nay sản xuất hơn 95% opal trên thế giới.

Xế chiều chúng tôi trở về khách sạn. Bà xã lo chọn những optional tours và hoạch định những free time ở Sydney. Sau đó chúng tôi đi tham quan khách sạn. Sofitel Wentworth Sydney là hậu duệ của khách sạn vương giả Wentworth ngày trước. Cũng vào dịp lễ giáng sinh này, trước đây, nữ tài tử mà chúng tôi yêu thích là Audrey Hepburn, trong lúc viếng thăm Sydney, đã lưu lại khách sạn này, chào mừng lễ giáng sinh tại đây. Hoàng tế Philip, Duke of Edinburgh, cũng dừng chân nơi đây vào năm 1967. Tháng 11 năm 1969, ba phi hành gia Hoa Kỳ, những người đặt chân đầu tiên lên mặt trăng, cũng để lại dấu chân tại khách sạn này. Công nương Diana cũng đã từng dự đại tiệc dạ vũ nơi này, vân vân và vân vân.

Buổi tối chúng tôi dự tiệc chào đón tại phòng ăn sang trọng của khách sạn. Một bữa ăn Tây hòa đồng với nghệ thuật nấu ăn Úc thật tuyệt vời.

Sau đó anh chị Liêu Vĩnh Bình ghé thăm và đưa chúng tôi ra ngoài bến cảng hóng mát. Một tình cờ thú vị là con tầu hải du lớn nhất thế giới Saphir Princess chở được cả chục ngàn du khách vừa ghé Sydney hôm qua, sửa soạn rời bến. Sydney đốt pháo bông tiễn biệt. Quả thật nghệ thuật móc túi du khách của dân Wallaby đã tới mức thượng thừa. Mình cũng được vui lây. Cứ nhận vơ là họ đốt pháo bông tiễn người đi và chào mừng người đến là mình.

Chúng tôi ngồi ở dẫy quán ăn ngoài trời sát bờ nước ngắm cảnh. Anh Bình đeo collar vì bị whip lash vì lo cho đại hội nhiều quá, phải giữ cho cổ đỡ đau để còn có thể nhìn thẳng vào cử tọa mà đọc diễn văn khai mạc đại hội. Chị Bình trông trẻ đẹp hơn. Chúng tôi vì đã ăn no nên chỉ uống nước. Anh Bình “chia cơm xẻ áo” nên sớt cho tôi một miếng thịt mà anh bảo là thịt kangaroo. Tôi nghi ngờ. Gần đến ngày khai mạc đại hội rồi, với cái cổ đeo collar thế kia mà anh còn dám gọi ăn món thịt kangaroo nữa thì. . . đáng nghi lắm. Tôi không từ chối lòng tốt của anh. Thịt kangaroo thật hay giả thì đêm nay tôi sẽ biết rõ.

Khi trở dậy, bước ra khỏi giường, việc đầu tiên tôi biết ngay là cái tiệm ăn tối hôm qua bán thịt… đuôi kangaroo giả cho bác sĩ Lưu Vĩnh Bình. Treo đuôi kangaroo bán thịt bò. Ngày hôm nay thứ sáu 24, chúng tôi đi ngọan cảnh Sydney. Buổi sáng ăn điểm tâm ở Garden Court Restaurant. Món ăn Âu Mỹ, Úc và đặc biệt nhất là có thức ăn điểm tâm Nhật thay vì Tầu. Điều này cho thấy du khách Nhật lưu lại khách sạn này rất đông và người Nhật đi du lịch học hỏi thế giới và mua sắm nhiều nên có một sức mạnh du lịch rất mạnh. Đến đâu họ cũng được chiêu đãi tận tình. Đã nhiều nơi đi qua, họ cứ tưởng tôi là người Nhật nên xổ tiếng Nhật ra chào đón tôi. Họ chào Ko-ni-chi-wa, tôi chỉ mỉm cười đáp lại “Không nói chi a”. Nói tiếng Việt mà họ cũng hiểu. Tôi còn nhớ, hồi nhỏ, nghe bọn lính Nhật đến Việt Nam thường nói là “con gái dô tô cà, bà già dô tô nay”. Đồ ăn điểm tâm Nhật có cơm, canh tương miso, các loại dưa như dưa leo, củ cải, mơ non, rong biển…, thịt cá, mấy thứ muối gia vị rắc vào cơm. Lấy một quả trứng, khi đập bóc vỏ thì ra trứng còn sống nguyên. Người Nhật thích ăn trứng sống. Họ đập trứng sống vào canh hay dùng làm nước chấm. Từ khi có nạn trứng bị nhiễm trùng E. coli, tôi đã phải bỏ thói quen ăn trứng ốp-la, trứng lòng đào, trứng gà soda kiểu Pháp, nên dĩ nhiên không dám đụng tới trứng sống kiểu Nhật này. Tôi phải nhờ người bồi đi luộc trứng.

Ăn xong, lên đường đi thăm Sydney. Xe bus chở chúng tôi đi qua những khu chính của Trung Tâm Sydney: Khu The Rocks, Circular Quay, The City Center gồm cả Botanic Garden và The Domain, phía Tây có Darling Harbour, về phía đông là Kings Cross, Darlinghurst và Paddington.

The Rocks và Circular Quay là khu cổ nhất của Sydney. Circular Quay còn gọi theo đúng hình dáng của nó là Semi-Circular Quay là nơi “chôn nhau cắt rốn” của Úc. Tháng giêng năm 1788, Đệ Nhất Hạm Đội của Anh cập vào đây, đổ lên những tội phạm cùng quân đội và nhân viên. Thuộc địa Anh tên New South Wales thành hình. Ngay sát bên Circular Quay là The Rocks (dĩ nhiên nơi đây vốn là những tảng đá lớn).

Ngày xưa The Rocks là khu ổ chuột, quán bán rượu, bài bạc, đĩ điếm, băng đảng. Ngày nay The Rocks đã được chùi rửa, đánh bóng sạch sẽ, là nơi khách thăm viếng để tìm lại “hình bóng cũ và hương xưa”. The Circular Quay và the Rocks là tụ điểm của dân Wallaby trong những ngày lễ lạc lớn như đêm giao thừa xem pháo bông. Darling Harbour ngày trước là thương cảng quốc tế và khu kỹ nghệ làm len sợi, ngũ cốc, gỗ và than đá. Về sau trở thành khu xuống dốc và được tân trang lại vào năm 1980. Đây là chương trình tái kiến thiết lớn nhất ở Úc. Tại đây có National Maritime Museum, Sydney Aquarium và Trung Tâm Hội nghị Convention Center, nơi Đại Hội Quốc Tế Y Nha Dược sĩ Việt Nam Tự Do kỳ 5 sẽ tổ chức, đây cũng có Chinatown. Kings Cross và Darlinghurst trước năm 1920 là khu băng đảng và tội ác. Kings Cross ngày nay là một thứ “Làng xã hàng quán cà phê văn hóa” và nơi đây vẫn còn khu Đèn Đỏ. Người hướng dẫn viên cho biết mãi dâm ở Úc hiện nay vẫn còn là một nghề hợp pháp. Hàng năm vào khoảng tháng ba lễ hội Madri Gras của giới Gay và Lesbian tổ chức tưng bừng ở đây. Paddington với khu Victorian terrace có những căn nhà cổ trang trí bằng những cổng, những riềm sắt nung mỹ thuật. Paddington cũng nổi tiếng với những tiệm ăn quốc tế, những phòng tranh ảnh và tiệm đồ cổ.

Ra ngoài phạm vi thành phố. Xe bus đưa chúng tôi đi đến bãi biển nổi tiếng nhất của Sydney là Bondi, thánh địa của dân yêu mặt trời, lướt sóng và là bãi phơi cau, phơi bánh dầy, phơi mướp. . . Một Wallaby gốc Việt (muốn dấu tên) đã cho tôi một cái mẹo để nhớ cái tên Bondi này. Bondi là một bãi biển của giới trung lưu, chỉ có tiền mua quần che chỗ quí nhất, còn chỗ quí ít thì để hở, nói theo tiếng Anh là topless. Anh ta bảo Bondi (phát âm “Bon đai”) gần với âm Việt ngữ “Buồn đ’….”. Các ông nhìn các bà topless nên lom khom đứng nối đuôi thành hàng dài như rồng rắn trước các nhà ngơi rest room. Có nhiều ông phải xuống biển ngâm nước lạnh.

Trên đường về, chúng tôi được cho đi thăm khu nhà giầu và các nhà tài tử như Nicole Kidman… giống như đi thăm một vùng ở Hollywood, Hoa Kỳ.

Buổi chiều được tự do. Tôi đi thăm khu Thổ Dân Úc châu ở Australian Museum. Nơi đây trưng bầy về đời sống văn hóa của những con người đầu tiên của Úc châu, từ Thời Mơ (Dreamingtime) qua thời bộ tộc, tới thời đòi quyền đất đai. Như đã viết, về hội họa, thổ dân Úc có có lối vẽ theo cái nhìn của con mắt quang tuyến X (X-ray painting) và lối hội họa hình chấm (dot). Sự liên hệ của hai lối vẽ này với chữ viết nòng nọc trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn giúp ta rút tỉa được nhiều điều quí hơn vàng cho nền văn hóa Đông Sơn lẫn văn hóa thổ dân Úc châu. Điểm này cho thấy thổ dân Úc Châu vào thời cổ từ Á châu đến Úc đã đến ở hay đi qua vùng Đông Nam Á. Ngược lại cũng cho thấy rõ trống đồng Đông Sơn với hai lối vẽ này còn ghi khắc lại dấu tích của một nền văn hóa tối cổ, cổ cả hàng chục ngàn năm của Á châu. Tôi cũng tìm được một vài tài liệu về ngôn ngữ Úc châu.

 

Sau đó chúng tôi trở về đi tản bộ dọc Circular Quay. Khi bóng chiều buông xuống, chúng tôi vào một tiệm ăn ngay bờ nước ở Vũng Campbells nhìn hoàng hôn xuống trên mái nhà Hát Nghêu và trên cái “Móc Áo (“Coathanger”) Cầu Cảng Sydney (Sydney Harbour Bridge).

Ngồi nhâm nhi ly rượu Úc, từ (Circular) Quay lại quay cuồng trong đầu óc tôi. Anh ngữ Quay (phát âm là Ki) liên hệ với Pháp ngữ quai (phát âm là ke), Anh ngữ key (như Key West), Carribean ngữ cay . Anh ngữ Quay chính là Việt ngữ ki, kì, Pháp ngữ quai chính là Việt ngữ ke, kè, kẻ que, Carribean ngữ cay chính là Việt ngữ cây. Bờ nước, bến thuyền nguyên thủy chỉ là một cái ki, cái kì, cái que cắm xuống nước để cột thuyền bè. Về sau, quay, quai, cay, ki, kì có thêm nghĩa là kè, cừ chỉ cọc, cây đóng ở bờ nước để ngăn cản đất lở (làm bến thuyền) hay ngăn nước tràn bờ. Ta có từ đôi quai đê với quai = đê. Ta thấy rất rõ Việt ngữ đê là một thứ quai (Pháp ngữ).

Đêm trước Xmas năm nay hai vợ chồng chúng tôi sống “xa nhà”. Một mùa Noel không gia đình, không bạn bè. Chỉ có nhau. “Hai đứa” lại tìm thấy cái gần cận nhau nhất thuở mới quen nhau, của thuở hãy còn là vợ chồng son ngày nào, ở giữa một khung trời Noel rực rỡ của Sydney. Sydney Noel đang trao cho hai đứa tôi những món quà giáng sinh tuyệt vời. Sydney với thiên nhiên trời cao biển rộng thơ và mộng. Có một sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên. Sydney với những món ăn quốc tế thượng thừa. Sydney là một thành phố cảng đẹp nhất thế giới, nhất là vào mùa lễ như thế này. Ăn xong, chúng tôi “bát phố” đêm Noel như ngày nào ở Saigon. Thả bộ loanh quanh bến cảng và “The Rocks”. Dĩ nhiên chúng tôi phải tìm đến xem cái dấu mốc lịch sử “tảng đá” “The Rocks”. Con đường Argyle Cut (cut chính là Việt ngữ cắt) đã được những phạm nhân chỉ dùng đục và búa đục xuyên qua những khối đá núi khổng lồ trong suốt 18 năm trời mới hoàn thành xong. Con đường chỉ dài có vài blocks. Không biết có phải vì lâu không đi bộ đêm hay vì rượu Úc có quá nhiều cồn không, mà tôi có cảm giác lao chao, có cảm tưởng như đang lội ngược dòng nước chẩy siết. Xe cộ như muốn leo lên lề đâm vào mình. Một lúc sau, mới nhận ra là dân Wallaby, thần dân của Nữ Hoàng Anh quốc lái xe bên trái. Mình đi bộ bên phải và quen nhìn phải khi băng qua đường. Chúng tôi bèn chuyển qua đi bên trái cùng dòng xe chẩy, quả thật thấy tâm thần mình êm xuôi thuận buồm xuôi gió ngay lập tức. Tại sao Anh quốc và các nước trong Liên Hiệp Anh lại thích lái xe bên trái nhỉ? Điều này, nếu muốn, ta có thể giải thích theo nòng nọc, âm dương, theo Dịch. Nữ Hoàng là nòng, là âm. Đọc theo chữ nòng nọc, theo Dịch thì phía tay trái là phía âm, chiều từ phải qua trái, tức cùng chiều kim đồng hồ là chiều âm. Ví dụ thấy rõ nhất là ta lật bất cứ một quyển sách, một tờ báo nào ra, trang bên trái bao giờ cũng có số chẵn tức số âm và trang bên phải bao giờ cũng có số lẻ tức số dương. Trái là âm, phải là dương. Dân Úc theo Nữ Hoàng nên lái xe bên tay trái, theo âm, theo nữ là vậy.

Gần nửa đêm, chúng tôi trở về một quán nước bên bờ nước gần chân Cái Móc Áo nghỉ chân và chờ ngày Chúa ra đời. Bao quanh chúng tôi, dân Úc và du khách uống rượu như hũ chìm, họ tu rượu, tu bia, “tu hũ”, Toohey’s! (tên một loại bia Úc).

Đúng nửa đêm chúng tôi ôm nhau và thiên hạ cũng bắt chước làm theo. Bà xã tôi trao tặng cho một món quà Noel mà bà đã bí mật mua lúc nào tôi không biết. Tôi mở món quà giáng sinh ra xem. Một cuốn sách viết về thổ dân Úc châu. Trong có những hình khắc trên đá (petroglyphs), một thứ chữ viết cổ của thổ dân Úc châu nói riêng và của loài người nói chung. Mới liếc mắt nhìn qua vài hình ngữ tôi đã “nổi da gà”. Tôi đã thấy những dấu vết của nền văn hóa cổ Á châu, của nền văn hóa Đông Sơn, của loài người trên những hình khắc trên đá này. Những hình ngữ khắc trên đá mang dấu tích của chữ nòng nọc, thứ chữ cổ nhất của nhân loại, còn ghi khắc lại tuyệt vời trên trống đồng Đông Nam Á. Những hình ngữ khắc trên đá này rất cổ có thể có từ thời tân thạch. Để nghiên cứu chữ nòng nọc, tôi đã đi sưu tầm tất cả các hình khắc trên đá ở khắp năm châu bốn biển. Và giờ đây trước mặt tôi, những hình khắc trên đá của thổ dân Úc châu, những con người sống ở một lục địa cách biệt với những nền văn minh gọi là tân tiến khác có những hình khắc giống như trên trống đồng Đông Nam Á và nhiều nơi khác trên thế giới. Xin chia xẻ với độc giả vài ba hình ngữ căn bản ở đây.

.Hình khắc trên đá của thổ dân Úc diễn tả người nam, con trai, đàn ông bằng hình cây nọc, cây cọc thẳng đứng.

clip_image004
clip_image002[4]

 

Hình khắc trên đá của thổ dân Úc diễn tả người nam, con trai, đàn ông.

Cây nọc, cọc hiểu theo nghĩa nguyên sơ nhất là bộ phận sinh dục nam (con trai gọi là thằng cu). Ta thấy rõ như ban ngày ý nghĩa này ruột thịt với Việt ngữ nọc là đực như heo nọc, cọc là cược. “Quân tử có thương thì đóng cọc…” (Hồ Xuân Hương). Nói theo Dịch thì nọc là dương, là mặt trời (như nọc obelisk của Ai Cập cổ biểu tượng cho tia sáng mặt trời, cho mặt trời, mặt trời có một khuôn mặt là số 1, có hình nọc đứng, ví dụ solo ruột thịt với sol).

.Hình khắc trên đá của thổ dân Úc diễn tả người nữ, con gái, đàn bà bằng hình cái chuông úp, hình vòm:

clip_image002[8]

Hình khắc trên đá của thổ dân Úc diễn tả người nữ, con gái, đàn bà.

Cái chuông úp hiểu theo nghĩa nguyên sơ nhất là bộ phận sinh dục nữ (âm đạo, túi dạ con). Ta thấy rõ như ban ngày hình vòm có vòm liên hệ với wom-, womb (dạ con), với wom-, woman, đàn bà. Người Việt gọi nhà mái vòm là nhà lồng. Lồng biến âm với l… Nói theo Dịch thì vòm là nòng, là vòm hư không, không gian, vòm trời, là khôn. Đàn ông là nọc dương, mặt trời, đàn bà là vòm không gian, vòm trơi. Thổ dân Mỹ châu ở vùng Tây Nam Hoa Kỳ cũng có những hình khắc trên đá mang cùng một ý nghĩa nòng nọc này như thấy qua hình ngữ làm tình.

clip_image007

hình ngữ làm tình khắc trên đá của thổ dân Mỹ châu ở vùng Tây Nam Hoa Kỳ (Rick Harris, Easy Field Guide To Rock Art Symbols of The SouthWest, tr.15)

 

Hình ngữ làm tình này hiểu theo dân dã giang hồ Việt Nam thì chính là “nõ” trong “nường, chính là “con chim vào lồng nó chẳng muốn ra”. Câu ca dao “con chim vào lồng biết thuở nào ra” hiểu theo nghĩa tự do hiện nay mang nghĩa hiện đại. Nói theo nòng nọc, âm dương thì không có một ai lại đem ví con gái, đàn bà với chim.

Hình khắc trên đá của thổ dân Úc diễn tả Tứ Dân (Four People). Hình dưới đây hiện nay được giải thích theo nghĩa duy tục là “bốn người đàn bà ngồi với bốn cây gậy đào đất”.

clip_image002[12]

 

                                  Hình khắc trên đá của thổ dân Úc diễn tả Tứ Dân.

Theo tôi, phải hiểu thêm một ý nghĩa nữa là bốn nhóm đàn ông (cây gậy, cây nọc phải hiểu là đàn ông) và đàn bà tức bốn đại tộc, Tứ Dân vì còn có hình vòng tròn đồng tâm ở giữa có một nghĩa là Trứng Vũ Trụ, Tạo Hóa, Mặt Trời-không gian.

Thổ dân Mỹ châu cũng có quan niệm loài người gồm có Four People ở bốn góc trời do Tạo Hóa sinh ra:

clip_image010

 

 

                                                          Tứ Dân của thổ dân Mỹ châu.

Quan niệm Tứ Dân này ăn khớp với chúng ta (nên nhớ thổ dân Úc và Mỹ châu có gốc hay đã đi qua Đông Nam Á). Họ Hồng Bàng bao gồm có Tứ Dân ở bốn phương trời ứng với Tứ Tượng (người Trung Hoa đã phỉ báng chúng ta nên gọi là Tứ Di, Tứ Man) (xem Giải Đọc Trống Đồng Đông Nam Á).

Còn nhiều nữa, tôi sẽ đề cập tới khi có dịp. Như thế ta thấy những hình khắc trên đá của thổ dân Úc mang ý nghĩa nòng nọc của Vũ Trụ giáo. Điểm này có đáng tin không? Dĩ nhiên đáng tin cậy. Thứ nhất là họ liên hệ với Đông Nam Á. Thứ nhì họ có ba vật tổ rắn mang ý nghĩa Vũ Trụ tao sinh: Rắn Qui Đầu là rắn lưỡng hợp nòng nọc âm dương, Rắn thái cực, rồi phân sinh ra Lưỡng Nghi là Rắn Cầu Vồng, tức rắn ánh sáng thuộc lửa, dương và Rắn Nước là âm. Thứ ba họ có vũ trụ quan là những vòng tạo sinh (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Thứ tư, tôi đã nói tới có sự tương đồng về ngôn ngữ và nghệ thuật vẽ theo con mắt quang tuyến và hình chấm trăng trời nòng nọc âm dương giữa họ giống và người Đông Sơn, v, v…

Ở đây ta cũng thấy rõ cái ý niệm nòng nọc âm dương nền tảng của Vũ Trụ giáo của Dịch có thể đã manh nha từ thời Tân Thạch vì thế quan niệm này còn lưu lại trong tất cả những nền văn mình tiến hóa sau này, nhất là trong những nền văn minh theo Vũ Trụ giáo và Mặt Trời giáo.

Và ta cũng thấy thổ dân Úc châu có một nền văn minh tối cổ, thế mà từ trước cho mãi tới năm 1967, người Úc vẫn coi họ là cây cỏ, là muông thú chứ không phải là người. Thật là một điều đáng xấu hổ.

Hy vọng các nhà văn hóa Úc gốc Việt hiện đang sống tại Úc châu đem văn hóa cổ Á châu của mình, nhất là Vũ Trụ giáo, Mặt Trời giáo tức Dịch học khai quật lại nền văn hóa cổ của Thổ Dân Úc châu. Mới nhìn thoáng qua, ta đã thấy văn hóa Thổ dân Úc châu có những nét giống nền văn hóa Đông Sơn. Những con cháu Thổ dân Úc và người Úc da trắng hiện nay đang diễn giảng nền văn hóa cổ của Thổ dân Úc một cách sai lệch và chưa tới. Ví dụ như đã nói ở trên, hình khắc hình bốn người đàn bà hình vòm trời và bốn cây nọc ở cạnh bên phía tay phải được giải nghĩa là “bốn người đàn bà ngồi bên bốn cây gậy đào đất”. Thật ra cây gậy có nghĩa là đàn ông và để ở phía tay phải cũng nhấn mạnh cây gậy là cây gậy dương, là nọc, cọc chỉ đàn ông (phía tay phải là phía dương). Bốn nhóm đàn bà và đàn ông này được xếp theo hình chữ thập ngay ngắn đàng hoàng có chủ ý, ta phải hiểu là Tứ Dân ứng với tứ tượng, tứ phương, bốn hướng dương của vũ trụ (đàn bà đào đất sao lại ngồi ở vị thế bốn phương như thế?). Ở giữa có hình hai vòng tròn là Trứng Vũ Trụ, mặt trời sinh tạo đĩa tròn nằm trong vòng tròn không gian tức Thái Cực, Lưỡng nghi, càn khôn. Vũ trụ, càn khôn sinh ra Tứ Tượng, con người ở tứ phương tức Tứ Dân ứng với Tứ Tượng. Chúng ta cũng có thể dùng các nền văn minh thờ mặt trời như Ai Cập cổ và của các thổ dân Mỹ châu để giải nghĩa văn hóa Thổ Dân Úc (và ngược lại). Ví dụ hình Nữ Thần Vòm Trời Nut của Ai Cập cổ có hình vòm trời ruột thịt với hình ngữ đàn bà của Thổ dân Úc hình vòm trời và Thần Đất Keb (hay Geb, theo biến âm k=c=g) có bộ phận sinh dục nam hình cây cọc, cây nọc dựng đứng ruột thịt với hình ngữ đàn ông hình noc của Thổ dân Úc châu. Keb chính là Việt ngữ Kẻ (que nhỏ) ke (que), kè (cọc cắm ở bờ nước), kì (cây, vùng đất dương, núi hình nọc như núi Kì). Núi nọc, núi kì biểu tượng cho Đất thế gian, Kì Dương Vương là vua Đất Thế Gian của Việt Nam…

clip_image002[16]

 

 

Nữ Thần Bầu Trời Nut và Thần Đất Keb (Geb) của Ai Cập cổ.

Hình Nữ Thần Bầu Trời Nut và Thần Đất Keb ruột thịt với hình khắc trên đá diễn tả đàn bà và đàn ông của Thổ dân Úc. Trời Nut và Đất Keb giao hòa, giao hợp sinh ra vũ trụ muôn loài, hiểu theo nguyên sơ, nguyên thủy chính là hình ngữ khắc trên đá nữ có hình vòm trời của Thổ dân Úc úp trên hình ngữ nam có hình nọc đứng của Thổ dân Úc châu. Hình Nữ Thần Bầu Trời Nut giao hợp với Nam Thần Đất Keb chính là hình ngữ khắc trên đá “làm tình” của Thổ dân Mỹ châu vùng Tây Nam Hoa Kỳ.

…….

Chúng tôi trở về tới khách sạn trời đã ngả về sáng. Cây Noel ở đại sảnh trông rực rỡ huy hoàng hơn sau giờ phút Chúa giáng sinh. Tôi bỗng chợt nhớ tới một ngày Giáng Sinh trước đây, Audrey Hepburn đã từng trang hoàng một cây Noel ở khách sạn này. Hình như, có một bóng dáng thon gầy trang đài, thanh cao đâu đây. Mùi hoa thơm phảng phất trong gió sớm…

Cây Noel ngày nay người Tây phương theo Thiên chúa giáo hiểu theo một ý nghĩa nào đó nhưng nó có nguồn gốc sâu sa từ Cây Đời, Cây Vũ Trụ, Cây Tam Thế của một tín ngưỡng tối cổ của loài người là Vũ Trụ giáo, Mặt Trời giáo. Cây Đời, Cây Vũ Trụ sinh ra Tam Thế, vạn vật, muôn loài, sinh ra con người nguyên khởi, tổ mẫu hay tổ phụ của loài người. Như đã biết, theo truyền thuyết và cổ sử Mường Việt, chúng ta theo duy âm, Cây Si (cùng họ Cây Đa) sinh ra người đàn bà đầu tiên, Mẹ Đời của nhân loại và là cũng Tổ Mẫu của Mường Việt là Dạ Dần, diễn tả bằng hình người đàn bà ngồi ở tư thế sinh con hai tay giơ cao lên đầu mang hình ảnh Cây Đời. Cây Giáng Sinh trang trí trong ngày Chúa sinh ra đời cũng mang hình ảnh của Cây Đời, Cây Vũ Trụ sinh ra Chúa Jesus, một đấng Chúa Tể của loài người. Chúng ta theo duy âm, theo mẹ, mẫu hệ nên chọn cây đa, cây si mang âm tính có vòm cây hình vòm không gian, vòm trời, có rễ phụ treo lòng thòng từ cành buông xuống trông rất âm u, có lá là… lá đa (!) (vì thế sau này thời phụ quyền, chúng ta thường nhìn cây đa dưới con mắt “quá âm”, coi cây đa là loại cây có âm hồn, là ma quái nên hình ảnh cây đa gắn liền với ma quỉ như thấy qua câu ca dao Gió đánh cành đa, Gió đập cành đa, Thầy tưởng là ma, Thầy ù thầy chậy…), trong khi đó, Tây Phương, theo duy dương, chọn một loại cây mang dương tính có chóp nhọn, cây có hình mũi mác, cây phi lao hay các loài thuộc họ cây thông có hình tháp, chóp nhọn mang dương tính liên hệ với dương, mặt trời (Chúa là Chúa Trời, có một khuôn mặt thay thế mặt trời) làm cây giáng sinh, một hình bóng của Cây Đời, Cây Vũ Trụ.

Khi leo lên giường, tôi nhủ lòng phải cố gắng ngủ vài ba tiếng để lấy sức cho ngày tới, nhưng lại sợ ngủ quên nên phải gọi dặn nhân viên khách sạn gọi điện thoại đánh thúc dậy sớm. Tám giờ sáng, chúng tôi khởi hành đi thăm “Hai Chị Em”.

(còn tiếp).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: