THAY LỜI TỰA

(*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).

GIẢI ĐỌC TRỐNG ĐỒNG NÒNG NỌC ÂM DƯƠNG ĐÔNG NAM Á.

THAY LỜI TỰA

Nguyễn Xuân Quang`

Trong những năm hoàn tất tác phẩm này tôi có một nỗi lo sợ luôn luôn ám ảnh mình. Một nỗi lo, một cái sợ là mình chết đi mà không hoàn tất xong tác phẩm này.
Cái nỗi lo sợ này đã ảnh hưởng trầm trọng đến  đời sống hàng ngày của tôi. Tôi đã sống thật “giữ mình”, thật bảo trọng thân mình, thật trong sáng, gạt bỏ tất cả chuyện đời thế tục qua một bên. Tôi đã từ bỏ phòng mạch, đi làm bác sĩ công chức để có nhiều thì giờ suy gẫm, nghiên cứu. Tôi đã về hưu “non” để có thì giờ hoàn tất. Tôi đã sống như một ẩn sĩ tại Trúc Lâm Sơn Trang, một ngôi nhà ở “vùng quê” (rural area) bao quanh bởi tre trúc. Cái gì đã khiến tôi lo sợ như thế? Xin thưa, đó là vì tôi đã có trong tay cái chìa khóa mở kho tàng trống đồng âm dương Đông Sơn. Trống đồng âm dương Đông Nam Á là một tuyệt tác phẩm, một kỳ thư bằng đồng của người Đông Sơn nói riêng và của nhân loại nói chung. Đã hàng trăm năm nay chưa một học giả nào trên thế giới hiểu thấu được ý nghĩa đích thực của trống đồng. Vậy mà nay tôi lại là một người có cái may mắn thấu hiểu được cái kỳ bí của trống đồng. Có nhiều lúc, tôi tự hỏi, tôi chỉ là một thầy thuốc chẳng hiểu một tí gì vể khảo cổ học, về Dịch lý  tại sao người Đông Sơn lại trao cho tôi cái chìa khóa để mở kho tàng Đông Sơn này? Có nhiều lúc tôi phải tin là mình có duyên phận với người Đông Sơn và đã được người Đông Sơn trao cho sứ mạng giải đọc, giải mã những kỳ bí đó.
Trống đồng âm dương Đông Sơn là một thứ Dịch Nòng Nọc bằng đồng tuyệt vời nhất của nhân loại. Người Đông Sơn nếu không muốn nói là tác giả của Dịch thì họ cũng là những bậc sư, bậc thầy về Dịch. Họ đã diễn giải Dịch bằng chữ Nòng Nọc, bằng các hình ngữ, hình tượng nòng nọc thật tinh vi, chính xác, tuyệt đỉnh. Họ phải là những kẻ tôn thờ Dịch như một thứ tín ngưỡng nên mới ghi khắc lại Dịch trên trống đồng âm dương để thờ phượng. Họ đã không lưu truyền Dịch qua những cách khác như bằng sách vở, bằng những kiến trúc, những đền đài thờ phượng vì biết những thứ đó sẽ bị phá hủy đi vì thời gian, vì con người. Họ đã ghi khắc Dịch Nòng Nọc trên trống đồng vì họ biết khi cần đem chôn dấu trong lòng đất thì có thể còn lưu truyền lại được đời đời. Rồi một ngày nào đó sẽ có người giải đọc, giải mã được và đưa ra ánh sáng cho hậu thế thấu hiểu được.
Tôi đã suy gẫm, nghiên cứu và biên soạn tác phẩm này gần 30 năm. Ba mươi năm vặn óc, ba mươi năm trăn trở nhưng cũng là ba mươi tràn đầy hạnh phúc. Ba mươi năm “não khổ”, “tâm khổ”, “xác khổ” và ba mươi năm đam mê, hào sảng bởi vì trống đồng Đông Sơn là một bí tích thần kỳ, một kho tàng của nhân loại, một bộ Dịch tuyệt tác bằng đồng. Diễn giải Dịch không phải là một chuyện dễ. Hàng ngàn năm nay, Dịch vẫn là một thứ kỳ thư, mỗi người diễn Dịch một khác. Dịch đồng Đông Sơn, theo tôi lại là một bộ Dịch tuyệt vời nhất của nhân loại và viết bằng một thứ chữ cổ nhất của nhân loại đó là chữ Nòng Nọc. Dịch Đông Sơn có lẽ là một thứ Dịch nguyên thủy. Tôi cố gắng diễn giải Dịch đồng Đông Sơn theo phương pháp khoa học, toán học, số học, Vũ Trụ học,  coi nhẹ hay gần như loại bỏ qua bên tất cả những ứng dụng khác của Dịch như dùng trong phong thủy, bói toán. Những diễn Dịch loại này chỉ là những suy diễn duy tục để áp dụng vào đời sống thế tục của con người, nhiều khi đã đi quá xa Dịch nguyên thủy thấy trên trống đồng âm dương. Tôi đã viết đi viết lại quyển sách này hơn mười lần, có lần viết đến chương gần chót, lại ngưng lại vì khám phá ra mình đã giải đọc lầm một yếu tố âm dương. Tất cả các giải đọc từ trước đều ngược. Lại phải viết lại. Có lần đã định đưa đi in, lại phải giữ lại vì khám phá ra mình chỉ giải đọc theo một diện, còn thiếu sót nhiều. Lại phải viết lại.
Càng suy ngẫm về Dịch, càng nghiên cứu về Dịch, càng khám phá thêm ra những điểm chí lý của Dịch, càng thấy cái  phức tạp của Dịch, càng khám phá ra những sơ sót, thiếu
kém của mình. Tôi nhớ lại lời Không Tử đã nói đại khái là nếu trời cho ông sống thêm ít năm nữa thì ông sẽ hiểu Dịch thêm ít nữa. Có nghĩa là ngài đã nghiên cứu Dịch cả đời mà  chưa đủ, chưa quán triệt hết. Ngài đã được tôn lên hàng thánh sư, người nghiên cứu kinh sách suốt đời mà còn vậy, huống chi cá nhân tôi chỉ nghiên cứu Dịch một cách tài tử.  Tôi không dám so sánh mình với Khổng Tử, tôi nêu  Ngài ra làm ví dụ  chỉ muốn nói lên một điều là Dịch kỳ diệu như thế, nếu còn viết lại nữa, có lẽ tôi còn khám phá thêm ra nhiều điều tuyệt vời khác nữa của trống đồng âm dương.
Nhiều điểm khó khăn, trở ngại nữa mà tôi đã gặp phải, đã
khiến tôi phải viết đi viết lại nhiều lần là vì không có tài liệu hiện vật. Tôi chưa được sờ tận tay một chiếc trống đồng thực thụ nào, chỉ giải đọc qua những hình vẽ và hình chụp nên gặp nhiều trở ngại, khó khăn và chắc chắn có nhiều sai lệch, thiếu sót vì nhiều hình vẽ sai lệch thiếu những chi tiết mấu chốt. Xin đưa ra một hai ví dụ: chỉ cần thiếu một cái chấm nhỏ biểu tượng cho dương nguyên tạo thôi thì một hình ngữ thay vì dương sẽ đọc thành âm và hậu quả sẽ sai lệch theo một chuỗi dây chuyền. Nhiều chi tiết chỉ có tài liệu qua hình vẽ không hoàn toàn, chỉ có một phần như trên trống Ngọc Lũ I chỉ vẽ có vài hình cò trong 18 con cò bay, chỉ có  vẽ 6 con chim nông ở một bán viên còn 8 con chim ở bán viên bên kia không vẽ nên không rõ những nhóm chim này có cùng là chim nông hay nhóm chim kia là chim cắt. Chỉ cần nhìn con mắt là có thể phân biệt rõ ràng được. Chim nông âm, bồ nông có mắt âm mắt có hai vòng tròn, còn chim cắt hay chim bổ nông có mắt dương có chỉ có một vòng tròn. Chi tiết  nhỏ này chỉ khác nhau có một vòng tròn. Một con mắt mà làm thay đổi rất nhiều về ý nghĩa của toàn trống Ngọc Lũ I. Không thấy tận mắt nên không rõ, trong sáu con thuyền trên vai trống Ngọc Lũ I, con thuyền khởi đầu ở chỗ mép nối hai nửa trống là chiếc thuyền nào nên rất khó định cho chính xác được hai con thuyền nào là hai chiếc thuyền biểu tượng cho hai ngành ứng với hai cực âm dương, rồi từ đó suy ra bốn chiếc còn lại  biểu tượng cho bốn chi ứng với Tứ Tượng.
Vì không có hiện vật, nên phải vận dụng trí óc để suy đoán ra. Dĩ nhiên có nhiều nguy cơ sai lệch theo người vẽ, theo hình chụp.
Theo tôi, các học giả hiện nay đã và đang giải thích trống đồng Đông Sơn (nói chung) hãy còn sai lệch vì chưa hiểu đúng ý nghĩa của trống đồng. Hãy nêu ra đây một ví dụ rất nhỏ nhưng rất trọng đại là hiện nay không một ai biết rằng trống đồng để hở đáy là trống đồng nòng nọc, âm dương. Nòng nọc, âm dương là nền tảng của Vũ Trụ Giáo, của Dịch. Trống đồng nòng nọc, âm dương là trống biểu, giáo biểu của Vũ Trụ Giáo, của Dịch Nòng Nọc, là  họ biểu, ngành biểu, đại tộc biểu, tộc biểu và chi tộc biểu của họ Người Vũ Trụ, Mặt Trời-Không Gian, của Họ Hồng Bàng.
Sự khai phá của tôi về trống đồng âm dương, nhất là sự khám ra chữ Nòng Nọc nói chung và chữ nòng nọc trên trống đồng âm dương Đông Sơn nói riêng sẽ mở ra một cánh cửa giúp cho các nhà nghiên cứu các nên văn minh cổ thế giới nhất là những nền văn minh liên hệ với Vũ Trụ giáo, Mặt Trời giáo như Ai Cập cổ,  Việt Nam, Maya, Aztec, Thổ dân Mỹ châu, Thổ dân Úc châu, Châu Phi, Ấn Độ, Trung Hoa… Xin có lời nhắn gởi tới các học giả thế giới hiện nay là quí vị hiện đang nhìn các nền văn hóa cổ của nhân loại qua con mắt của một người chột mắt, xin hãy nghiên cứu các nền văn hóa cổ đã nói ở trên của nhân loại bằng cả hai con mắt trái và phải,  âm và dương theo Dịch nòng nọc thì mới mong tránh khỏi trở thành những ông thầy bói sờ voi. Xin hãy dựa vào chữ nòng nọc còn thấy rõ trên trống đồng âm dương Đông Sơn mà giải mã những hình tượng cổ của các nền văn minh cổ của loài người.
Tôi đã sai lầm viết đi viết lại hơn mười lần thì cũng có thể  còn nhiều sai sót nữa. Hy vọng những người đi sau sẽ điều chỉnh lại những sai sót đó. Muốn chính xác thì phải cần một học giả dùng hệ thống vi tính hiện nay để giải đọc Dịch đồng trên trống đồng âm dương bởi vì trống đồng âm dương viết theo chữ Nòng Nọc, theo nhị nguyên và máy vi tính cũng dựa trên nhị nguyên, âm dương. Dùng vi tính mới tìm ra một cách giải đọc chính xác, khoa học, chính thống, đáng tin cậy nhất vì những cách giải đọc khác của những tác giải đi theo vết chân tôi có thể nhìn dưới những góc cạnh khác, dựa trên các loại Dịch khác và văn hóa địa phương khác sẽ có những chi tiết không đồng nhất và dị biệt, đưa đến những tranh luận, nhất là các tác giả người Trung Hoa. Cho tới bây giờ họ vẫn ngoan cố cho rằng trống đồng là của họ và họ giải thích theo con mắt Trung Hoa và văn hóa Trung Hoa và dĩ nhiên họ sẽ  theo dấu chân tôi nhưng sẽ diễn giải theo Dịch Trung Hoa. Điểm mấu chốt là phải diễn giải  Dịch đồng Đông Sơn theo Dịch Nòng Nọc nguyên thủy và nghiêng về âm Dịch của người Đông Sơn sống ở vùng sông nước Đông Nam Á, bởi vì nhiều chi tiết trên trống đồng cho thấy chủ nhân ông của trống đồng âm dương  là những người thuộc ngành nòng dòng Mặt Trời Nước ứng với Lang Việt, Lạc Việt (như  có rất nhiều hình thuyền trên trống đồng, các nhà Nọc Mặt Trời có mái võng hình thuyền, hình trăng lưỡi liềm, hình sừng trâu, có rất nhiều hình chim nước như cò, chim nông…), trong khi đó người Trung Hoa vốn là dân săn bắn, võ biền nghiêng về dương Dịch, một thứ Dịch đã rất muộn ở vào thời phụ quyền cực đoan, một thứ Dịch võ biền.
Tuy nhiên, dù cho có những sai sót, lầm lẫn nhỏ, nhưng tôi vẫn tin chắc rằng công việc giải đọc này của tôi là một khai phá, một đóm lửa, một que diêm, một đuốc lửa, một ngọn hải đăng soi sáng vào kho tàng trống đồng âm dương Đông Sơn.
Nhìn tổng thể trống đồng nòng nọc âm dương diễn giải Vũ Trụ Tạo Sinh, là giáo biểu của Vũ Trụ giáo, là bộ Dịch nòng nọc bằng đồng, nền tảng của nền văn minh Đông phương nói riêng và của nhân loại nói chung. Trống đồng âm dương cũng là bộ sử đồng của Đại Tộc Việt. (Tôi đã viết  ba bộ sử qua ba tác phẩm: Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử  Hừng Việt là bộ Sử Sách, Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt là bộ Sử Miệng và tác phẩm này là bộ Sử Đồng. Ba bộ sử này bổ túc cho nhau, cho thấy vững chắc cái cốt lõi của Văn Hóa Việt là Vũ Trụ Giáo, Mặt Trời Giáo, Việt Dịch Nòng Nọc và trống đồng âm dương Đông Sơn của Đại Tộc Việt).
Các người đi sau có giải thích thêm bớt thế nào đi nữa thì cũng chỉ nằm trong những ý nghĩa này. Chỉ xin lưu ý một điều là nhớ ghi tâm là phải giải đọc trống đồng âm dương bằng Dịch nòng nọc nguyên thủy theo cái nhìn của người Đông Sơn. Không thể đọc theo bất cứ loại Dịch nào khác.
Hy vọng nghe được những phê phán, đóng góp sửa sai trong lúc tôi còn sống để có thể bàn luận và bổ túc những thiếu sót,
sai lệch trong lần tái bản và trong các quyển kế tiếp.
Bộ sách quá dài, tập I này (đã gần một nghìn trang nên phải in chữ nhỏ, thu hình nhỏ lại) chỉ nói tổng quát về trống đồng âm dương để giúp hiểu và giải đọc trống đồng. Quyển 2 sẽ giải đọc những trống chính yếu quan trọng.
Cuối cùng xin tri ân những tác giả tôi đã mượn những tài liệu và hình vẽ  mà tôi đã liên lạc không được hay không được trả lời, xin cám ơn những người thân quen, bằng hữu nhất là những ruột thịt, vợ con thân yêu đã hy sinh và giúp tôi hoàn tất tác phẩm này. Riêng vợ con thường trao tặng tôi những món quà rất ngọt ngào để tôi uống trà trong lúc ngồi viết sách. Đây là những giải thưởng mà tôi thường “nói tiếng Tây” là  giải thưởng Le Bon Bon (Kẹo), nói gọn  hơn là Le Bon, Lebon.  Giải thưởng kẹo bánh Lebon này là cái bóng hình của giải Nobel  trong chiếc gương nòng nọc,  âm dương của Dịch nòng nọc (Lebon đọc ngược lại là Nobel).
Nguyễn Xuân Quang
Cali ngày 22 tháng 5, 2007.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: