SỬU LÀ SẨU LÀ SỪNG

 

TÊN NÔM NA MÁCH QUÉ CỦA 12

                     CON GIÁP.

SỬU LÀ SỠU LÀ SẨU LÀ SẬU LÀ SỪNG.

                                                     Nguyễn Xuân Quang

Tác giả Nguyễn Cung Thông qua loạt bài viết về Nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp đã chứng minh hết sức cặn kẽ, hết sức thâm cứu là tên các con giáp không phải có gốc từ tiếng Hán, mà có gốc từ tiếng nôm hay thuần Việt.

Tôi cũng đồng ý là như vậy và xin chứng minh theo một cái nhìn khác. Nếu tên của 12 con giáp là thuần Việt thì chúng phải là những từ nôm na mách qué hiểu theo nghĩa của những người Việt dân dã chứ không phải hiểu theo nghĩa bác học. Cái gì ruột thịt của một dân tộc nào đó thì phải thấm nhuần vào tâm hồn và thể xác, vào đời sống tức vào tiếng nói, ngôn ngữ hàng ngày của cả nước, cả làng của dân tộc đó.

Cũng xin nhắc lại nghĩa cụm từ nôm na mách qué. Từ Nôm ở đây chỉ dùng với nghĩa là từ Nam, ngôn ngữ của người Nam, chứ không phải của người phương Bắc Trung Hoa, không phải là chữ Nôm, một thứ chữ viết có nguồn gốc từ chữ Hán. Phải hiểu rõ là tiếng Nôm là biến âm của Nam là tiếng nói của dân gian Việt Nam, từ nôm hay thuần Việt ở đây phải hiểu là những từ không phải là Hán Việt. Từ nôm hay thuần Việt có thể có gốc hay liên hệ với tất cả các ngôn ngữ khác của loài người (ngoại trừ Trung Hoa). Tiếng Nôm na là tiếng phương Nam. Còn mách qué có máchnói, bảo như mách u, mách mẹ, mách bảo, mách lẻo, thóc mách… và qué có gốc que là nọc, cọc (gà qué là gà que, gà cọc, gà cock), biến âm với ke chỉ bộ phận sinh dục nam (Alexandre de Rhode, Từ Điển Việt-Bồ-La). Mách qué là nói chuyện que, chuyện cọc, chuyện cược, chuyện c. . .c, chuyện nọc, chuyện đọc (đọc ong = nọc ong), chuyện đục, chuyện tục (d=t). Mách qué là nói tục, nói thô tục.

Qua bài viết Nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp (phần11): Sửu/*tlu/trâu, tác giả Nguyễn Cung Thông (1) đã chứng minh Sửu là biến âm của từ klu/tlu-trâu.

Như đã nói, nếu Sửu có nguồn gốc Việt Nam thì Sửu phải là một từ nôm na mách qué. Trong Việt ngữ có nhiều từ gọi tên con trâu. Những từ này nhìn chung giống như tên các loài vật khác được gọi dựa theo một cá tính đặc thù của con vật như về hình dáng bên ngoài chẳng hạn ví dụ như ở bài viết trước ta đã thấy tên Dần gọi theo những vệt vằn đặc thù của con cọp. Từ Dần là từ nôm na mách qué biến âm với dằng, rằng, vằn (2).

-Sửu là Sỡu, Sẩu, Xẩu, S, Sọ, Sừng

Trước hết ta thấy ngay Sửu là một từ cổ Việt. Sửu biến âm mẹ con (cùng một vần s hay s=s, trong khi biến âm khác vần như s=c=k= kl=tl là biến âm anh chị em, họ hàng) với cổ ngữ Việt Sỡu (Alexandre de Rhodes, Từ Điển Việt Bồ La), với sậu, sẩu, xẩu, sỏ, sọ. Sậu cứng như ngô sậungô cứng (Lê Ngọc Trụ, Việt Ngữ Chính Tả Tự Vị). Sáo sậu còn có tên là sáo đá. Đá hàm nghĩa cứng như thấy qua câu ví cứng như đá. Sẩu hay xẩu có nghĩa là xương, sọ (hộp xương cứng) như thấy qua bài đồng dao Rồng Rắn:

Xin khúc đầu những xương cùng xẩu…

Xẩu là xương cũng thấy rất rõ qua qui luật từ láy xương xẩu. Xương cũng có nghĩa là cứng. Theo biến âm x=c=s (sắt = xắt = cắt), ta có xương = cương = cứng = sừng (xương là phần cứng, thịt là phần mềm). Sừng là vật cứng như xương liên hệ với sọ, sỏ, đầu (đầu sỏ). Theo biến âm ưng = ô như cứng = cố (thể cứng = cố thể), ta có sừng = sỏ. Qua từ đôi sừng sỏ ta cũng có sừng = sỏ. Từ đôi cứng đầu cũng cho thấy cứng = đầu = sỏ = sừng. Theo Buck, trong Ấn-Âu ngữ “most of the words for ‘horn’ belong to a single group of cognates which includes words for horn, head, summit, etc” (tr.208). Anh ngữ hard, cứng ruột thịt với gốc Phạn ngữ kar-, to be hard (cứng). Theo h=c=k=g, har(d)- = kar = gạc (sừng).

Ta thấy rất rõ Sửu ruột thịt với Averan srù, horn; sarah-, head; New Persian surù, horn, Phạn ngữ çrnga (r có chấm, n có huyền), çira liên hệ với sừng, cứng (çira ruột thịt với gốc Hy Lạp ngữ cirrho-, chai cứng như hepatic cirrhosis, chai cứng gan).

Như thế Sửu = sỡu = sậu = sẩu = xẩu = sọ = xương = sừng = cứng. Con Sửu được gọi tên theo chiếc sừng cứng như xương ở trên sọ. Đây là một cách gọi tên loài vật dựa vào những nét đặc thù của thể chất của con vật.

Mường ngữ hẻohúc (bằng sừng). Hẻo liên hệ với hèo (nọc, cây, roi) liên hệ với nọc nhọn, sừng như thấy qua từ con hươu, hưu, hiêu là con hèo, con có nọc nhọn, con horn (sừng), con hart (hươu nọc, hươu sừng). Theo h=s (hói = sói), ta có Sửu, Sỡu = hẻo = hèo. Con Sửu là con hèo, con hẻo, con húc, con sừng.

Con trâu, con Sửu gọi tên qua chiếc sừng thấy rõ qua Cổ ngữ Việt gọi con trâu con là con he:

Trâu he còn hơn bò khỏe.

(ca dao).

He ruột thịt với Phạn ngữ heramba, trâu. Theo biến âm với h=k (hết = kết), ta có he = ke. Cổ ngữ Việt ke là nọc, cọc, cược, bộ phận sinh dục nam (Alexandre de Rhodes, từ điển Việt Bồ La). Ke biến âm với kẻ (nọc, cọc, cây như thước kẻ), (cây có thân thẳng như trụ, cột, không có cành, nhánh), (cây, nọc cắm ở bờ nước). Ke là vật nhọn hàm mghĩa sừng liên hệ với Hy Lạp ngữ kera-, sừng. Con he là con ke, con kera-, con sừng. Theo h=ngh như hào = nghêu, ta có he = nghé (trâu con). Nghé biến âm với nghê, con vật thần thoại có cốt là con hươu sừng. Như đã biết Việt ngữ hươu, hưu, hiêu là con hèo (cọc), con horn (sừng) con hart (hươu sừng, hươu nọc, hươu cọc), theo g=h như hồi = gồi, con hart = con gạc (sừng). Con hươu là con hèo, con cọc vì thế tiếng cổ gọi hươu là con cọc (xem Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc). Theo ngh = k như nghẹt = kẹt, ta có nghê = Hán Việt (lân) với ruột thịt với kè, kẻ, ke, kera-, he.

Như thế con he, con nghé (con nghê, con kì) cũng như Sửu gọi tên theo cái sừng.

-Sửu là Sậu là Gâu (theo biến âm s=c=k=g).

Cổ ngữ Việt gâu là con trâu. Ta thấy theo s=g như sừng = gừng (một thứ củ có hình sừng nên gọi là gừng), Sửu = sẩu = sậu = gâu. Ở Bắc Việt còn địa danh Cửu Cao thuộc huyện Văn Giang, ở mé dưới ga Phú Thụy. Cửu Cao tên nôm gọi là Kẻ Gâu (Kẻ là Người và cũng là chỗ ở, mường, bản như Kẻ Sặt). Huyện Văn Giang ngày nay có các làng Đa Ngưu, Kim Ngưu, xưa thuộc tổng Đa Ngưu có “Vũng Trâu Đầm” đều là các địa danh có dính dáng đến trâu (3).

Cổ ngữ Việt gâu ruột thịt với Anh ngữ gaur, trâu rừng, với Phạn ngữ gáuh, go-, Averan gàus, bò cái, gao, bò đực và với gốc Ấn Âu ngữ tái tạo *gwou, trâu, bò.

Trâu rừng là tổ tiên của trâu nhà.

-Sửu là Sậu là Gâu là klu/tlu-trâu (theo biến âm s=c=k=g=kl =tl).

Cổ ngữ Việt tlâu (Alexandre De Rhodes, tự điển Việt Bồ La) và Mường ngữ trâu gọi là klu, tlu. Địa danh Cửu Cao nói ở trên, thời Hán thuộc Giao Chỉ có tên là Hán là Câu Lậu âm cổ là kiw-liw hay ku-lu, klu, kliu, chuyển âm thành klu, klâu (3). Câu Lậu là từ phiên âm của klâu, trâu. Tác giả Nguyễn Cung Thông cũng tìm thấy trâu được phiên âm là ko lou 革v (cách lâu HV) hay *klâu trong ‘An Nam Dịch Ngữ’- Vương Lộc giới thiệu và chú giải (NXB Đà Nẵng-Trung Tâm Từ Điển Học-Hà Nội-Đà Nẵng 1995). Ta cũng thấy rất rõ theo k=t như kịt = tịt (mũi), kết = tết (tóc), kia = tê (mai), kia kìa = tê tồ…, ta có klu, klâu = tlu, tlâu. Ta cũng thấy theo c=s=tr như cừu = trừu, ta có Sửu = Cửu (hay Cao) = trâu. Tác giả Nguyễn Cung Thông cũng đã cho biết rằng các tổ hợp phụ âm kl- hay tl- đã từng hiện diện trong tiếng Việt như trong cách viết chữ nôm:

.cl = kl = tr như cách viết (cổ + lộng) clip_image002 trống ,

.cl = s như cự + lẫm clip_image004sấm , (cự + lang) clip_image006sang , (cổ + lộng) clip_image007sống

Và cl = kl = s trong Mường ngữ và các ngôn ngữ láng giềng như clip_image008Sông/Việt là klong (tiếng Bru), khlông (Miến Cổ), khlon (Mường Hung)…, Sống/Việt là klông (Mường Úy-Lô), klung/kluong (Ruc), khổng (Mường Bi)…, clip_image008[1]clip_image008[2]Sửu klu/tlu (trâu, tiếng Mường), tơla (Bahna), krapư (Bru), krobây/khây (Khme), krâu (Wa) … Giọng Quảng Trị vẫn còn có dạng tlâu… (1).

-Sửu là Sậu làTrâu (theo biến âm s=tr).

Theo biến âm s=tr như sống = trống (gà), ta có sửu = sậu = trâu.

Trâu bò được gọi tên theo chiếc sừng cũng thấy trong nhiều ngôn ngữ khác.

.Mã Lai ngữ (một thứ ngôn ngữ liên hệ mật thiết với cổ ngữ Việt)

Mã Lai ngữ gọi con trâu là kerbau (có tộc Trâu tên là Menang Kerbau). Kerbau có ker– ruột thịt với gốc Hy Lạp ngữ ker-, kera- là sừng như keratitis, sưng màng sừng (mắt), Pháp ngữ cerf, con sừng (hươu), Anh ngữ rhinoceros, con vật có sừng –ceros ở mũi rhino– tức con tị giác, con tê giác, con Tây ngưu (con trâu ở phương Tây). Ta cũng thấy rõ con trâu ở phương Tây này được gọi tên theo cái sừng. Ta cũng thấy rất rõ kera-, cera- (sừng) có nghĩa là cứng qua từ ceramics (đồ sành) là thứ đồ đất nung cứng như sỏi đá (sành sỏi) như sừng. Sành với nghĩa cứng thấy đi với sỏi với đá qua câu ví “l… sành, da đá, đít mảnh cong”.

.Ấn Âu ngữ

Trong Ấn-Âu ngữ, trâu bò gọi chung là cattle, trong một vài ngôn ngữ cattle có nghĩa là sinh vật, có sừng, đầu (living creature, horned, head). Anh ngữ ox, bò đực liên hệ với Ái Nhĩ Lan oss, sừng; Lithuanian karvé, Giáo hội Slavic karva, cow, cổ ngữ Prussian curvis, Balan karw, ox liên hệ với Latin cervus, sừng. Theo k=c=g, ta có kar- = gạc và cer- = kẻ, kè, ke, que (như trên).

Qua ký tự chữ viết ta cũng thấy rõ chữ chỉ trâu bò thời cổ diễn tả nét đặc thù của trâu bò là hai chiếc sừng.

.Chữ A trong mẫu tự Phoenician ABC được diễn tả theo hình vẽ đầu bò có cặp sừng.

.Chữ níu (ngưu) của Hán Tự cổ như trong giáp cốt văn, kim văn (khắc trên đồ đồng), cổ văn, triện văn cũng diễn tả theo cặp sừng chính yếu (4).

clip_image010

Chữ níu (ngưu) trong giáp cốt văn, kim văn, cổ văn, triện văn được diễn tả theo cặp sừng chính yếu (4).

Trâu bò thuộc loài bovidae. Chúng ta có hai từ trâu bò riêng rẽ. Trung Hoa gọi chung trâu bò là ngưu. Thủy ngưu là trâu (bò nước) và hoàng ngưu là bò.

Bây giờ ta hãy so sánh các từ sửu, trâu, bò của Việt ngữ với các ngôn ngữ khác (ngoài Trung Hoa). Cũng nên biết trong Ấn-Âu ngữ, trong nhiều ngôn ngữ từ trâu và bò dùng hoán đổi cho nhau. Từ bò đực trong ngôn ngữ này là từ bò cái hay trâu trong ngôn ngữ khác và ngược lại ví dụ gốc Ấn Âu ngữ tái tạo *gwou trong ngôn ngữ dòng La Mã chỉ ox nhưng trong dòng Celtic, Germanic, Lettic, Armenian chỉ cow (Walde P. 1.696f).

1. Sumerian ngữ

Gâu liên hệ với Sumerian gu 4, gud, bò.

2. Akhadian ngữ

Sửu liên hệ với Akhadian ngữ sùru, bò đực.

3. Ấn Âu ngữ

Sửu là câu là cow (bò cái) là châu là trâu (theo biến âm s=c=ch=tr).

Cổ ngữ Anh, Anglosaxon , Old High German , chuo, Armenian kov là cow /cao/. Con /cao/ là con câu, con châu, con trâu (giống như trong Ấn Âu ngữ, dùng hoán đổi giữa Việt và các ngôn ngữ khác). Theo c=s =k, cù = kò, kô = sâu, sậu, sửu.

Biến âm /cao/ = châu cũng thấy qua Anh ngữ county/cao ty/, châu (huyện) có /cao/ = châu.

.Trâu là Tâu, Tau- (theo biến âm tr=t).

Ơ một vài vùng ở Việt Nam nói tr=t như trâu trắng = tâu tắng, ta có trâu = tâu.

Trong Việt ngữ cũng có biến âm tr = t như trui = tui (luyện). Trâu, tâu liên hệ với Hy Lạp ngữ tauros, Latin taurus, Tây Ban Nha ngữ toro, Romania taur, cổ ngữ Pháp tor, Pháp ngữ hiện kim taureau, gốc tiền cổ Ấn Âu ngữ *ty[h]auro, bò mộng.

.Sửu là Gâu là Trâu (theo biến âm s=g=tr).

Ơ trên ta đã thấy cổ ngữ Việt trâu là gâu. Theo biến âm g=s như ông gầm = ông sấm, gâu = sậu = sửu. Gâu ruột thịt với Anh ngữ gaur, trâu rừng, với Phạn ngữ go-, gáuh, Averan gàus, bò, với Gothic gavi, gauja, bò, với gốc Ấn Âu ngữ tái tạo *gwou.

4. Á-Phi ngữ

Sửu liên hệ với Ethiopic sor, bò đực, liên hệ với gốc tái tạo Tiền cổ Á Phi *cụ-r-, bò đực, bò mộng.

5. Ả Rập ngữ

Trâu, tâu liên hệ với Ả Rập ngữ tawr, bò mộng.

6. Do Thái ngữ

Sửu liên hệ với Do Thái ngữ r, bò đực, bò mộng.

Vì từ trâu bò trong các ngôn ngữ khác dùng hoán đổi cho nhau nên trâu liên hệ với các ngôn ngữ khác (ngoài Trung Hoa ra) thì Việt ngữ bò cũng phải liên hệ với các ngôn ngữ khác nhất là với Ấn-Âu ngữ. Ta thấy liên hệ với bovis, bovines, bovidae (loài trâu bò), với Pháp ngữ boeuf, Latin bos, Anh ngữ buffalo, trâu, beef, thịt bò, bison, trâu hoang, Ý bove, bue, Tây Ban Nha ngữ buey, Romania bou chỉ bò đực… có bo-, bu- = bò. Đặc biệt là tiếng cổ Ái Nhĩ Lan, tiếng Gael giống y chang Việt ngữ bò.

Việt ngữ (bò con) liên hệ với cổ ngữ Anh fearr (theo f=b như fỏng = bỏng), với Anh ngữ hiện kim veal, Pháp ngữ veau (theo v=b như ve = be), Old High German far, Hòa Lan var, bò đực con. Cổ ngữ Việt con bê gọi là con me, , mế (m=b) như thấy qua câu ca dao:

Được bạn thì lại bỏ bè,

Được con trâu chậm bỏ con me không cầy.

Hay qua bài đồng dao:

Mế ơi là mế,

Mế, mế, mế, mế,

Mế hương, mế hoa,

Mế cà, mế rợ.

Mế ở ba mùa,

Ai mua không bán,

Ai hoạn không cho.

Cắt cỏ ăn no,

Kéo cầy đỡ mẹ.

Việc nặng việc nhẹ,

Mẹ đỡ cho con.

Gánh cỏ nào ngon,

Con để phần mẹ.

Mế ơi là mế,

Mế, mế, mế, mế…

Thui me là thui bò (Alexandre de Rhodes, từ điển Việt Bồ La). Theo m=b, mê, me, mế = bê liên hệ với Anh ngữ moo (tiếng bò kêu), Hy Lạp ngữ morxos, Armenian mozi, com me, con mê, con bê.

Như thế ta thấy rõ Sửu liên hệ với nhiều ngôn ngữ thế giới ngoài Trung Hoa.

Tóm lại tên Sửu có gốc từ một từ nôm na mách qué Sỡu, sậu, sẩu, sỏ, sọ, sừng.

Cũng nên biết trâu rừng chỉ sống ở những rừng mưa như ở Đông Nam Á, Mã Lai, Nam Dương, Nam Ấn Độ, châu Phi. Trung Hoa không có trâu rừng vì thế Sửu của Trung Hoa là con Ox (bò đực), năm Sửu là năm bò đực. Vua Thần Nông, ông tổ nông nghiệp của Trung Hoa là ông thần đầu bò có sừng bò chứ không phải là sừng trâu. Điểm này cũng cho thấy rõ từ sửu/trâu không có gốc từ Hán ngữ mà là một từ vay mượn từ ngôn ngữ khác.

Tóm lại con Sửu với các tên khác là gâu, châu, trâu, tlu, tlâu, klu, klâu là những tên nôm na mách qué liên hệ với nhiều ngôn ngữ thế giới ngoài Trung Hoa. Trong mười hai con giáp, con Sửu là con Sỡu, sậu, sẩu, sỏ, sọ, sừng.

Con Sửu được gọi tên theo cặp sừng hay đặc tính hẻo, húc bằng sừng của nó giống như ở bài viết trước ta đã thấy tên Dần gọi theo những vệt vằn đặc thù của con vật. Từ Dần là từ nôm na mách qué biến âm với dằn,dằng, rằng, vằn.

Cộng chung với công cuộc khảo cứu của tác giả Nguyễn Cung Thông, tên 12 con giáp là những từ nôm na mách qué của tôi cho thấy một điều chắc chắn là tên của 12 con giáp không phải là có nguồn gốc của Trung Hoa.

Tài Liệu Tham Khảo

1.Nguyễn Cung Thông, Nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp (phần 11): Sửu, *tlu/trâu, khoahoc.net 17-4-2008.

2.Nguyễn Xuân Quang:

-Tên Nôm Na Mách Qué của 12 Con Giáp: Dần-Dằng-Rằng-Vằn, khoahoc.net 10-01-2008.

-Con Trâu là ‘Cow’, Y Học Thường Thức, số 21, bộ III, tháng 1-2, 1997.

-Tiếng Việt Huyền Diệu (Hừng Việt, 2004).

-Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc (Y Học Thường Thức, 2006).

3.Trần Quốc Vượng, Từ Truyền Thuyết Ngôn Ngữ đến Lịch Sử, Hùng Vương Dựng Nước, tập I, tr. 152-153.

4.Wang Hongyuan, The Origins of Chinese Characters, Sinolingua Beijing, 2004.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: