CHỮ NÒNG NỌC (tiếp theo)

(*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).           

CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE 

 (kỳ 4)

Ngữ Pháp (Grammar) Của Chữ Viết Nòng  Nọc Vòng Tròn-Que.

     Dấu Chữ Viết Nòng Nọc Vòng Tròn-Que. 

(tiếp theo)

Nguyễn Xuân Quang

2. Dấu Nọc

Xin nói sơ qua một chút về chữ nọc (xem chi tiết ở phần chữ viết nòng nọc, ở dưới).

Chữ nọc tổng quát có ý nghĩa và chức vụ đối nghịch với chữ nòng vòng tròn qua tấm gương nòng nọc, âm dương của Dịch lý. Chữ nọc thường thấy ở dưới bốn dạng căn bản:

1. Dạng sinh tạo (nguyên sinh, nguyên tạo, tạo sinh, tạo hóa)

Dạng sinh tạo này có hình chấm đặc, tôi gọi là nọc chấm hay chấm nọc mang ý nghĩa sinh tạo của Tạo Hóa, Cõi Trên, Thượng Thế. Dạng này do nòng vòng tròn tí hon hay rỗng sinh tạo dương hóa đẻ ra (nhắc lại hư không, vô cực hình nòng vòng tròn O, vô tính khi cực hóa thành lưỡng tính phái nòng nọc, âm dương, thì biến thành âm trước, biến thành không gian trước (không gian âm có trước mặt trời dương, xã hội loài người theo mẫu hệ trước rồi sau mới thành phụ hệ) rồi sau đó mầm dương, hạt dương (nguyên thể của mặt trời) mới xuất hiện sau. Vòng tròn hư vô vô tính rỗng O, khi âm hóa ở cõi sinh tạo (vẫn giữ nguyên dạng tròn, không mở ra), vỏ dầy lên, vòng tròn càng dầy càng mang âm tính (xem dưới), âm hóa càng ngày càng lớn, cho tới khi cả vòng tròn đặc kín lại thành vòng tròn đặc, chấm đặc, đạt tới mức âm cực đại rồi thì trở thành dương (âm hóa cực độ sẽ biến thành dương, âm cực sinh dương như thấy rõ qua hình đĩa thái cực của Đạo giáo Trung Hoa, đàn bà về già trở thành đàn ông và ngược lại). Vì thế phải phần biệt chấm đen có hai khuôn mặt theo duy âm mang tính âm và theo duy dương mang tính dương.

Nọc chấm sinh tạo, ứng với nguyên tạo, tạo hóa, với Trứng Vũ Trụ, thái cực (đối ứng với nòng vòng tròn tí hon sinh tạo).

Xin lưu ý:

.Các tộc theo phụ quyền cực đoan về sau, dĩ nhiên cho rằng dương có trước âm. Họ giải thích ngược lại.

.Dạng nòng vòng tròn tí hon rỗng và chấm nọc sinh tạo này có thể coi như dạng vi thể mầm (“vi hạt mầm”) nguyên sinh (như đã nói khởi thủy mọi vật đều ở dưới dạng vi thể như hạt nguyên tử).

Điểm này thấy rõ qua ngôn ngữ Việt. Trứng là dạng vi thể mầm, tế bào mầm, mầm sinh tạo. Người Bắc nói cái trứng, trong khi Trung, Nam nói hột trứng (hột gà, hột vịt, hột vịt lộn). Trứng lưỡng tính mang tính sinh tạo có tròng trắng (âm) và tròng đỏ tương đương với hột, hạt (dương). Khi gọi cái (trứng) là gọi trứng theo duy âm, theo ngành nòng, mẹ, khi gọi hột (trứng) là gọi trứng theo duy dương, theo ngành nọc, cha. Như đã viết trong Tiếng Việt Huyền Diệu, tiếng Việt còn dấu vết cho thấy có hai dòng ngôn ngữ mẹ, cha là dòng mẹ Âu Cơ thấy nhiều ở miền Bắc và dòng cha Lạc Long Quân thấy nhiều ở Trung Nam (dân Trung Nam phần lớn vốn là dân vùng Cổ Loa, Bắc miền Trung, vùng châu Hoan cũ, con dân của Lạc Long Quân di cư vào). Vì thế mà người Bắc hay nói hươu (Mẹ Âu Cơ có biểu tượng là con hươu sao cái), cây đa, buồi... là gọi theo ngành nọc lửa (hươu biến âm với hèo, roi vọt, vật nhọn, đa biến âm với ta, tá là lửa, buồi biến âm với bổ, búa, vật nhọn) trong khi Trung Nam hay nói là nai, cây da, cặc (nai biến âm với nái, ná, nạ là mẹ, da là cái túi, cái nang, cái bao bọc thân người, nang biến âm với nàng, nường, nòng và cặc biến âm với cọc. Cọc cũng là vật nhọn nhưng “ít dương tính” hơn thuộc ngành nòng nước vì không nhọn bằng bổ, búa của ngành nọc lửa (xin đừng hiểu lệch lạc).

 2. Dạng nọc que

 Đây là dạng sinh trưởng tức trưởng thành. Một hạt chấm nọc phân sinh thành hai, nối lại ta có một nọc que. Nọc que là một dạng hai chấm nọc kết hợp lại. Nọc que là đời thứ 2, bậc hai trong quá trình Vũ Trụ Tạo Sinh.

Nọc que sinh trưởng ứng với lưỡng nghi (đối ứng với nòng vòng tròn lớn sinh trưởng do nòng vòng tròn tí hon trưởng thành lớn lên mà thành).

3. Dạng nọc hai nọc que kết hợp lại.

Hai nọc que ghép lại, kết hợp lại thành dấu, chữ, biểu tượng mang tính sinh động ví dụ như hình mũi mác Λ (mũi tên, răng cưa, răng sói), hình chữ V, chữ T, chữ thập, thước thợ… Đây là dạng sinh động, năng động trong quá trình tạo sinh.

Nọc sinh động do hai que kết hợp lại tương ứng với lưỡng nghi sinh động (đối ứng với nòng sinh động do hai nòng vòng tròn kết hợp lại)

4. Ba nọc que ghép lại, kết hợp lại thành dấu, chữ, biểu tượng mang tính sinh thành ví dụ hình quẻ Càn (III), chữ Y, chữ Z… Đây là dạng sinh thành, giai đoạn tạo thành trong quá trình tạo sinh.

Nọc sinh động do ba que kết hợp lại tương ứng với tứ tượng (đối ứng với nòng sinh động do ba nòng vòng tròn kết hợp lại). Điểm này thấy rõ qua các quẻ diễn tả tứ tượng đều do ba nọc que như quẻ Càn (III), ba nòng vòng tròn như quẻ Khôn (OOO) hay ở dạng ba chữ nòng nọc hỗn hợp như quẻ Li (IOI), vì thế mà Anh ngữ dịch từ quẻtrigram (“tam ký’, ba ký biểu).

Xin lưu tâm

 Cần phải phân biệt nọc chấm với chấm đen mang âm tính và chấm số nút (chữ số hình nút tròn). 

 Hiểu rõ về chữ nọc như vậy rồi bây giờ chúng ta đi vào các dấu nọc.

a. Dấu nọc chấm

 -Dấu chấm đặc (dot). 

Dấu hình chấm đặc (.) là dạng nọc nguyên tạo chỉ thị nọc, dương đối ứng với dấu vòng tròn tí hon hay hình chấm rỗng. Tổng quát có ý nghĩa và chức vụ đối nghịch với dấu vòng tròn tí hon hay hình chấm rỗng qua tấm gương nòng nọc, âm dương của Dịch lý. Dấu nọc chấm biểu tượng cho dương, nọc, đực sinh tạo như mặt trời nguyên tạo, sinh tạo, hạt lửa sinh tạo (bụi tàn lửa), hạt nước sinh tạo (mist), hạt bụi đất sinh tạo, hạt gió sinh tạo (tăm hơi) v.v… Đây là dạng, nọc, dương nguyên thể, nguyên tạo, sinh tạo, tạo hóa, Cõi Trên.

.Dấu một nọc chấm sinh tạo, tạo hóa.

Ví dụ như trên đã nói Mặt Trời Tạo Hóa (Sun as Creator) Ra của Ai Cập cổ được diễn tả bằng linh tự vòng tròn có chấm. Nếu coi chấm là một dấu nọc chấm thì khi đó linh tự vòng tròn có chấm đọc là vòng tròn nọc sinh tạo = mặt trời nọc đĩa tròn sinh tạo của ngành mặt trời nòng âm. Đây là khuôn mặt dương của thần mặt trời Ra lưỡng tính phái đối ngược với vòng tròn có dấu nòng vòng tròn rỗng tí hon là vòng tròn nòng sinh tạo = mặt trời đĩa tròn nòng sinh tạo. Nếu coi chấm là một chữ nọc sinh tạo tức vòng tròn có chấm hay chấm vòng tròn là hai chữ nòng nọc thì đây là lưỡng tính phái, sinh tạo, tạo hóa, không gian-mặt trời, vũ trụ. Ta phải đọc theo hai chữ (xem dưới).

Ta thấy rất rõ ở đây dấu chấm nọc là dương tạo hóa, nguyên tạo, sinh tạo qua khuôn mặt sinh tạo, Tạo Hóa của thần Ra.

.Dấu hai nọc chấm xếp thành hình nọc que chấm

Dấu này diễn tả tính sinh tạo chấm nọc ở dạng trưởng thành nọc que, ví dụ như trên trống Quảng Chính trong các vành mũi mác (răng sói, răng cưa) có dấu hai chấm ở dạng thẳng đứng hình nọc que mang nghĩa nọc thái dương sinh tạo ở dưới dạng trưởng thành.

clip_image002

                                                       Một góc trống Quảng Chính

Trống Quảng Chính có mặt trời 16 nọc tia sáng Khôn tầng 3, Khôn hôn phối với Càn. Trống này có một khuôn mặt Càn ở tầng 3 thế gian nên trong các vành răng sói có hai chấm nọc nguyên tạo xếp thẳng đứng theo hình nọc que. Các vành giới hạn (border bands) cũng có các chấm nọc nguyên tạo mang dương tính, bốn hình chim có mỏ nhọn nọc lửa, không có bờm (cò không có bờm thường thường biểu tượng cho ngành lửa Càn, Li), đuôi có hai nọc mũi mác lồng vào nhau mang nghĩa thái dương lửa Càn (xem dưới).

Trên trống Ngọc Lũ I ở thân người những con thú như con hươu có hai hàng chấm nhỏ mang ý nghĩa hai nọc chấm sinh tạo, đây là hai nọc que dưới dạng chấm cũng mang nghĩa thái dương và chấm nọc cũng biểu tượng cho bụi đất, đất dương nguyên tạo.

Vậy con hươu sừng nàylà hươu mặt trời thái dương có một khuôn mặt tạo hóa. Hai nhóm hươu 10 con, một nhóm có khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa ứng với Cõi Trên tức Càn và một nhóm biểu tượng cho Cõi Giữa, Cõi Đất thế gian, dương trần tức Li, khuôn mặt sau này mang tính chủ (vì hươu là thú bốn chân sống trên mặt đất). Ta cũng thấy rõ hươu có khuôn mặt chủ là thế gian vì trống có cảnh sinh hoạt nhân sinh trên mặt trống.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt thì đây là thú biểu của Hươu Cọc Mặt Trời Thái Dương Lộc Tục Kì Dương Vương, vua tổ thế gian đầu tiên của Đại Tộc Việt có khuôn mặt chủ Li và cũng có một khuôn mặt sinh tạo đội lốt thần mặt trời Viêm Đế họ Khương (Sừng) ở cõi Tạo Hóa (di thể gene Khương, Sừng của Viêm Đế truyền xuống cho con Hươu Sừng Lộc Tục Kì Dương Vương) và đội lốt Đế Minh ở cõi sinh tạo thế gian tức Càn (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á).

 .Dấu ba nọc chấm xếp thành hình tam giác.

Dấu này mang tính chấm nọc sinh tạo ở cõi thế gian. Ví dụ như trên trống Làng Vạc II, trong các vành răng sói có dấu ba chấm ở dạng hình tam giác, delta, hình tháp mang một nghĩa chủ, trội (dominant) là núi tháp dương ứng với Li.

clip_image004

                                                                      Một góc trống Làng Vạc II

 

Trống Làng Vạc II có mặt trời 10 nọc tia sáng Khảm tầng 2 hôn phối với Li. Trống Làng Vạc II có một khuôn mặt Li nên trong các vành răng sói có ba chấm nọc nguyên tạo xếp theo hình núi tháp. Các vành giới hạn cũng có các chấm nọc nguyên tạo mang dương tính sinh tạo. Trống không có hình chim bay biểu tượng cho cõi trời, cho biết trống này biểu tượng cõi đất thế gian, khoảng không gian giữa các tia sáng mặt trời có 5 nọc mũi mác chồng lên nhau. Chữ nọc mũi mác có một nghĩa là dương, lửa sinh động. Số 5 là số Li, lửa thế gian. Năm nọc mũi mác là lửa sinh động thế gian (núi lửa, đất đương) (xem giải đọc trống này).

 .Dấu nhiều nọc chấm.

-Trên trống đồng, các vành giới hạn (border bands) có các chấm nọc nguyên tạo mang dương tính cho biết trống đó thuộc ngành nọc, dương, lửa thái dương như đã thấy ở hai trống Quảng Chính và trống Làng Vạc II ở trên. Vành chấm nọc này đối ứng với vành giới hạn trống không (blank border bands) có nghĩa là nòng, âm, nước thái âm.

Trong các ngôi nhà và trên thuyền ở trống Ngọc Lũ I có các vật hình trống có “phụ đề” (đánh dấu, bỏ dấu) các dấu nọc chấm cho biết đây là những chiếc trống. Như đã thấy ở trên, trong hình ngôi nhà nọc, nhà trống ở bán viên âm của 6 người nhẩy múa có vật trông như cái cối hình chữ U có góc cạnh mang dương tính, có rất nhiều dấu nọc chấm nên ta nghiêng về phía cho đây là chiếc trống cối. Rõ nhất là ở dàn trống bên nhà, trên các trống này có các nọc chấm xác thực (dùng như một determinative) cho biết đó là trống. Một số tác giả đã hiểu lầm cho các dấu chấm này là những hạt thóc, hạt gạo. 

 Trên trống Thành Vân có hình người thể điệu hóa là người của tộc đất dương Li được diễn tả theo motifs hình “người chim-sừng hươu” có hai sừng có dấu chấm nọc dương được xếp theo hai hình nọc que có nghĩa là lửa thái dương, những chấm nọc cũng biểu tượng cho bụi đất (đất dương), biểu tượng cho Tượng Đất dương.

 

clip_image006

 

Những hình người thuộc tộc đất dương thiếu âm Li thể điệu hóa tối đa trở thành các motifs hình hươu trên trống Thành Vân có hình hai sừng có chấm nọc dương.

 Kiểm chứng lại ta thấy rất rõ:

. trống này có 10 nọc tia sáng là trống thuộc nhóm thiếu dương Li, Lửa đất dương.

. khoảng không gian giữa các tia sáng mặt trời hình núi tháp vách kép có sọc Li (xem chương Ý Nghĩa Cực Âm Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á ).

.vành chim có 10 chim bay với số 10 là Khảm thế gian hôn phối với Li.

.trên người chim cũng có hình núi tháp, mắt “vòng tròn có chấm” Li, mỏ to nhọn, ngắn không có bờm gió mang dương tính Li.

.tổng cộng có 28 người, số 28 là số Cấn tầng 4. Cấn là non, núi âm, có Li núi dương là đại diện (Li số 5 là số dương của Cấn số 4)…

 b. Dấu Nọc que

Dấu nọc que đơn hay kết hợp lại mang tất cả ý nghĩa của chữ nọc que đơn hay kết hợp lại ở dạng nọc trưởng thành (sinh tạo bậc hai).

.Một nọc que

Ví dụ như

.Triều đại đầu tiên thống nhất hai vùng Hạ Rắn Hổ Mang và Thượng Chim Kên Kên của Ai Cập cổ là Narmer tức Triều Đại Thứ Nhất (3100 BC). Có tác giả coi Narmer là vua tổ của Ai Cập cổ. Tên Narmer được diễn tả theo linh tự n’r bằng hình con cá nheo (cá bông lau) hay cá trê (catfish) và m’r bằng hình chiếc đục, chiếc chàng (chisel). M’r, chiếc đục, một vật nhọn biến âm với Việt ngữ mác (một thứ dao lớn nhọn), Mường ngữ vác cũng là một thứ vật nhọn. Nếu coi chiếc đục là một dấu nọc que thì Narmer có nghĩa là con Cá Nheo Đục, Cá Nheo Nọc, Cá Nheo Đực. Cách gọi tên này y hệt cách gọi tên Lộc Tục trong cổ Việt. Lộc là con hươu và Tục biến âm của Đục (nói tục là nói chuyện… đục). Lộc Tục là con Hươu Đục, Hươu Đực, Hươu Cọc. Với nghĩa này Narmer thuộc dòng Cá Nước dương hay thái dương thuộc ngành nòng âm (con cá nheo sống dưới nước mang âm tính và có râu, ngạnh sắc mang dương tính tương ứng với cá chép cũng có râu). Cũng xin nói thêm là các vua Pharaohs đều là những vua mặt trời con cháu của thần mặt trời Horus (tương đương với các vua Hùng Vương lịch sử đều là con cháu của Tổ Hùng Tạo Hóa sinh ra từ bọc trứng). Hùng Vương Tạo Hóa tương đương với Horus. Hùng Vương thế gian hay lịch sử tương đương với Pharaohs. Mặt trời là dương, đực, phái nam vì thế các tượng Pharaohs đều có râu cầm (râu dê). Hoàng hậu Hatchepsut là một “nhiếp chính vương” (co-regent), bà coi mình như một Pharaoh nên ở lăng miếu do bà cho xây cất, các tượng của bà cũng có râu cầm. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, điểm này giải thích tại sao bọc trứng chim của Mẹ Tổ Âu Cơ nở ra toàn con trai, một trăm lang hùng là vì các Hùng Vương thế gian, lịch sử đều là vua mặt trời thuộc dòng thần mặt trời Viêm Đế. Đây là lý do tại sao phải chọn loài cá có râu biểu tượng cho các vua mặt trời dòng nước. Cá chép có thể hóa rồng. Cá chép là cá biểu của Rồng Nước Lạc Long Quân do đó Narmer là vua Cá Nheo thái dương dòng Nước thái dương mang cùng một hình bóng của Cá Chép, Rồng Nước Lạc Long Quân. Ta cũng thấy Narmer có gốc Việt ngữ na– là nước (xem Gốc Chữ Trong Tiếng Việt Hưyền Diệu). N’r, Na-, cá (nheo) ruột thịt với nước như thấy qua từ đôi cá nước (cá = nước). Ta thấy rất rõ Nar- = nác, nước, Lạc (nước dương, thái dương). Ai Cập ngữ nag là làng, nahar là sông. Nguyên khởi làng xóm có gốc từ một bờ nước ven sông suối. Làng xóm là một quốc gia thu nhỏ. Điều này giải thích tại sao chúng ta gọi lãnh thổ, quốc gia Việt Nam là nước Việt Nam. Đại Hàn ngữ Nara là Nation có cùng gốc nar- = nác, nước (Đại Hàn là Đông Di thuộc Lạc bộ trãi liên hệ với chúng ta con cháu Lạc Long Quân, với Lạc viết với bộ trãi). Anh, Pháp ngữ nation, nước, quốc gia cũng có cùng gốc na-, nước. Narmer là Vua Cá Nheo thái dương là vua mặt trời Nước.

Nếu đọc chiếc đục, chiếc chàng là một chữ nọc thì Narmer là Cá Nheo (nước, âm) và chiếc đục (lửa, dương) là vật nhọn, cọc nhọn mang dương tính có một khuôn mặt là chim. Qua từ láy chim chóc ta có chim = chóc. Với h câm chóc là cọc, chim = chóc = cọc. Thái ngữ nok là chim. Nok ruột thịt với Việt ngữ nọc. Narmer là cá-chim, vị vua thống nhất hai vùng Hạ Rắn Hổ Mang nước và Ai Cập Thượng Chim Kên Kên lửa mang cùng hình ảnh của chim lửa-rắn nước, Tiên-Rồng của chúng ta. Narmer tương đương với An Dương Vương thống nhất hai ngành Âu Lạc thuộc ngành mặt trời nước Lạc Long Quân.

.Những kiến trúc ngày nay như các tháp nhọn, nóc nhà, các vòm (dome) có nọc nhọn ở trên, đôi khi cũng dùng như những dấu nọc que chỉ nọc, dương. Ví dụ như các kiến trúc hình vòm của Ấn giáo, Hồi giáo, Thiên Chúa giáo và các kiến trúc Tây Phương tân thời như điện Capitol của Hoa Kỳ có chỏm vòm hình nọc que thì đôi khi cũng là một thứ dấu nọc que cho biết vòm mang dương tính, lúc này kiến trúc vòm nòng dương này thường đi đôi với trụ nọc hình obelisk theo nguyên lý lưỡng hợp như nòng vòm dương điện Capitol đi đôi với trụ nọc đài Tưởng Niệm Washington hình obelisk. Cần phân biệt khi chỏm nhọn coi như là một chữ nọc que thì khi ấy vòm ở dạng nòng nọc, lưỡng tính, nhất thể…

.Trên trống đồng nòng nọc, âm dương cũng thấy rất nhiều dấu này. Như trên trống đồng nòng nọc, âm dương Duy Tiên có những con chim cắt đầu có mũ sừng (Mường ngữ chim Khướng biến âm với Hán Việt Khương, sừng, Anh ngữ Hornbill, “mỏ sừng”) đứng trên mặt đất. Chim cắt có mỏ rất lớn nên còn có tên là chim Rìu (mỏ như cái rìu), đây chính là Chim Việt, chim tổ tối cao tối thượng của Đại Tộc Việt, mặt trời thái dương. Chim Cắt, Chim Khướng, Chim Sừng là chim biểu của Thần Mặt Trời Viêm Đế có họ Khương (Sừng) biểu tượng cho nọc, dương, đực, mặt trời vì thế mà trong mỏ của nó có phụ đề dấu (hay chữ) nọc que.

    hornbill 2

Chim Cắt trên trống Duy Tiên.

 

Và như đã thấy trong bài Chim Lạc hay Cò Lang? ở mặt trống Đông Sơn IV trong đầu những con cò có các dấu nọc que xác định những con cò này là con cò nọc, cò Lửa. Để ý ta thấy đầu cò hình bộ sinh dục nam đang cương cứng, không có bờm (cò có bờm thường là cò thuộc ngành nòng gió, nước) mang tính dương, cường dương, mang tính dương (I) thái dương (II) tức Càn (III), Lửa vũ trụ.

clip_image002[4]  

                                                                      Một góc trống Đông Sơn IV 

 

Xin lưu ý là hình nọc trong đầu cò dài nên cũng có thể coi đây là một chữ nọc que dùng như một dấu nọc que.

Hai vành thái dương nọc mũi mác (răng cưa, răng sói) cũng xác định đây là trống Lửa thái dương Càn (xem dưới).

(còn tiếp).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: