Bac Si Nguyen Xuan Quang’s Blog

May 13, 2011

NƯỚC TIỂU CÓ THỂ GIÚP LOÀI NGƯỜI SIH TỒN

Filed under: Nước Tiểu Giúp Con Người Sinh Tồn — Quang Nguyen @ 4:49 am

 NƯỚC TIỂU, CÓ THỂ GIÚP LOÀI NGƯỜI  SINH TỒN.

Nguyễn Xuân Quang

Gần đây có đọc một điện thư ‘Rùng Mình với trứng luộc bằng nước tiểu’. Người Triết Giag, Trung Quốc có một món ăn đặc biệt là trứng luộc bằng nước tiểu. Đây là một món ăn truyền thống đã có từ lâu đời. Nước tiểu dùng để luộc trứng là của những bé trai dưới 10 tuổi lấy tại những trường học địa phương. Đầu tiên họ cho trứng vào luộc với nước tiểu, sau khi chin, họ bóc vỏ và tiếp tục luộc trong vòng một ngày, một đêm nữa. Theo những người dân địa phương thì những quả trứng này tốt cho sức khỏe và giúp nâng cao khả năng tãp trung của trí óc.

    Bên trong quả trứng luộc bằng nước tiểu (nguồn internet).

Một ông đầu bếp tên Ming nói: “Những quả trứng này rất ngon và tốt cho sức khỏe. Nó có tác dụng làm hết sốt và còn giúp bạn cảm thấy minh mẫn hơn khi nếu bạn có dấu hiệu mệt mỏi hay buồn ngủ. Chúng tôi mong muốn xuất khẩu món trứng này ra nơi khác bởi chúng tôi muốn tất cả mọi người đều được thưởng thức hương vị món trứng nói riêng cũng như cách nấu nướng của chúng tôi nói chung”.
Những quả trứng luộc này được bán với giá 1.5 tệ  (một Nhân Dân tệ gần bằng 25 xu Hoa Kỳ).

Có thật sự nước tiểu giúp ích cho sức khỏe con người như thế không?

Đúng trăm phần trăm nước tiểu là chất bài thải đáng kinh tởm mà đem luộc trứng ăn thì quả thật là… “rùng mình”. Tuy nhiên, nước tiểu có nhiều vị thuốc hữu ích và là một mỏ… phân bón, một nguồn lợi có thể kiểm bạc triệu… đô la, giúp một tay vào công cuộc bảo vệ môi sinh và còn đóng góp một tay giúp loài người sinh tồn.

Urea là thành phần chính, là chất bài thải chinh trong nước tiểu của người (và cũng có trong nước tiểu của vài loại có vú khác cũng như loài lưỡng cư và cá) do sự biến dưỡng chất protein. Urea cho ra nhiều phó sản (by-products) có nhiều Nitrogen.

Nhưng urea là một chất độc khi bị ứ đọng lại trong cơ thể con người. Những bệnh nhân bại thận, không làm ra được nước tiểu để thải chất urea ra ngoài nên bị ứ đọng chất urea trong máu (BUN, Blood Urea Nitrogen) và cần phải lọc máu thận lấy ra. Cũng vì vậy người bị bại thận phải theo một thực chế giới hạn chất protein (chất thịt) có khi phải giảm xuống khoảng 2 gm một ngày (chất thịt porotein là nguồn chính sinh ra urea).

Urea tổng hợp làm từ ammonia và Carbon dioxide.

Urea tổng hợp dùng nhiều trong phân bón hóa học, dùng chế tạo vài loại plastics, dùng làm thức ăn cho thú vật, để sản xuất chất keo dán, chất tẩy rửa bồn cầu, thuốc rửa chén, thuốc nhuộm tóc, thuốc diệt trùng và diệt nấm mốc. Trong y học dùng làm thuốc.

1.Nước tiểu là những vị thuốc.

Từ cổ thời, Đông và Tây đã dùng nước tiểu để chữa bệnh. Nước tiểu là một kho dược phẩm. Điều này đã được xác thực qua câu ca dao của ViệtNam:

 Một cốc nước giải bằng một vại thuốc.

 Xin kể ra một vài công dụng của nước tiểu dùng làm thuốc.

a. Nước tiểu là một thứ thuốc lợi tiểu thẩm thấu (osmotic diuretics).

Nước tiểu là một chất bài thải vô ích, “vô bổ” nên cơ thể mới thải bỏ đi. Như đã nói ở trên, thành phần chính trong nước tiểu là chất urea. Từ ngàn xưa Đông Phương đã biết dùng nước tiểu làm thuốc lợi tiểu. Hãy lấy một cách trị liệu tiêu biểu của dân dã ViệtNam.

Sau khi sanh, các bà đẻ thường nằm bếp lửa và ăn mặn như ăn thịt rim mặn, ăn đậu phụng chưng nước mắm. Tại sao? Xin thưa đây là những kinh nghiệm dân gian rất hay. Sở dĩ sau khi sanh bà đẻ nằm bếp lửa vì khi sanh mỗi sản phụ trung bình bị mất một nửa lít máu, đó là chưa kể bị “làm băng” tức băng huyết, lượng máu bị mất còn nhiều hơn. Người xưa chưa biết truyền máu và truyền huyết tương. Vì mất máu nên thiếu máu do đó chịu đựng lạnh không được, tay chân bị tê cóng vì không đủ lượng máu lưu thông vì thế cần có lò lửa để sưởi ấm. Vì thiếu máu nên cần phải ăn mặn để uống nước cho thật nhiều giúp cho lượng máu và áp huyết tăng cao lên, giống như ngày nay y học Tây phương cho truyền nước biển tức truyền nước “mặn” có muối. Lượng máu gia tăng khiến cho đỏ da thắm thịt vì thế mới có câu:

               Ăn mặn uống nước đỏ da,

              Nằm đất, nằm cát cho ma nó hờn.

Tại sao lại phải ăn mặn mới tốt? Bởi vì nếu uống nước mà không ăn mặn thì lượng nước sẽ không giữ lại trong cơ thể, áp huyết không tăng lên. Nếu chỉ uống nước thường thì thận sẽ thải ngay ra ngoài lượng nước dư thừa, phải có muối thận mới giữ nước lại. Điều này cũng đúng, khi đi nắng hay chơi thể thao mất nhiều mồ hôi, mất nhiều chất muối, uống một ly chanh muối hay xí muội tốt hơn là uống một ly nước lã hay một ly chanh đường. Ngày nay dùng các loại nước giải khát có chứa muối khoáng như Gatorade.

Các bà các cô sau khi có kinh nhất là các người bị chứng đa kinh kinh nguyệt bị mất máu nhiều làm thiếu máu thích ăn xí muội, ô mai mặn, uống nước xí muội, chanh muối… Cũng vì ăn mặn uống nước nhiều và nước giữ lại được trong mạch máu nên làm tăng áp huyết do đó các người bị cao áp huyết tránh ăn quá mặn là vậy (nếu bị áp huyết quá cao nhất là khi đã bị suy thận thì không được ăn quá 2 gam muối một ngày).

 Đôi khi vì ăn quá mặn và vì ‘nằm cữ’ quá kỹ không  vận động nhiều nên các sản phụ thường bị chứng giữ nước trong cơ thể, bị phù sưng, dễ gây ra chứng sưng tĩnh mạch. Vì thế mới đi kèm theo một tục lệ rất quí nữa của dân dã là các bà đẻ sau khi sanh thường uống nước tiểu. Thường thường các bà đẻ uống nước tiểu của một cậu bé con đồng trinh để tránh những bệnh nhiểm trùng nhất là bệnh lan truyền tình dục (giống như người Triết Giang dùng nước tiểu trẻ em để luộc trứng). Dĩ nhiên đây chưa phải là cách tránh bệnh tuyệt hảo. Cách dùng trị bệnh này cũng như các cách trị liệu theo Đông Y vẫn còn là con dao hai lưỡi. Vì ngoài các chất hữu ích cho chữa trị bệnh bên cạnh đó cũng còn có những chất, những chế phảm độc hại nguy hại. Nước tiểu trẻ em không phải là hoàn toàn tinh khiết trăm phần trăm. Những biến chất kết quả của nước tiểu và cây cỏ, trứng có thể hữu ích cho người này và có thể hết sức nguy hại cho người khác ví dụ người bại thận mà uống nước tiểu hay ăn trứng luộc với nước tiểu thì lượng chất urea trong máu (BUN) sẽ tăng vọt lên nếu không được lọc máu lấy ra thì người đó sẽ đi dần vào hôn mê…

Hồi nhỏ ở nhà quê, mỗi sáng sớm người sản phụ cầm bát đứng chờ tôi ở đầu hiên nhà để tôi tè vào một cái bát. Trời đất Bắc giá lạnh, nước tiểu vừa mới tè ra nóng hổi bốc khói. Người sản phụ ngửa cổ nốc ừng ừng ực hết ngay bát nước tiểu như uống một cốc nước trà tươi xanh. Bà ta cám ơn rồi dúi cho tôi một cái kẹo hồng.

Nước tiểu lấy vào buổi sáng sớm vì nước tiểu ban đêm rất đậm đặc. Để tránh cho con người khỏi phải trở dậy đi tiểu ban đêm, nên hai quả thận có một chức năng làm đậm đặc nước tiểu về đêm. Nước giải là chất cơ thể bài tiết thải bỏ đi, dĩ nhiên chẳng có bổ ích gì cơ thể mới bài thải đi. Tại sao sau khi sanh uống nước giải lại tốt? Xin thưa các bà đẻ uống nước tiểu tức là uống chất urea vào. Cơ thể thấy chất urea là chất cặn bã nên không còn chần chờ gì nữa, tống xuất ra khỏi cơ thể ngay lập tức. Chất này khi bị bài thải ra kéo theo nước ra ngoài cơ thể tức tạo ra nước tiểu nên là một chất lợi tiểu loại thẩm thấu (osmotic diuretics). Do đó uống nước tiểu, là uống chất urea, một thứ thuốc lợi tiểu giúp cho không bị phù thũng sau khi sanh.

Ăn trứng luộc nước tiểu của người Triết Giang không biết sau đó người ăn có đi tiểu nhiều không?

Trước đây, tác dụng rút nước, trị phù sưng này của urea cũng dùng chữa chứng sưng phù óc do chấn thương sọ não. Một bệnh nhân bị hôn mê nặng do chấn thương sọ não gây ra mà dùng các phương pháp chữa trị thông thường kể cả chích các chất steroids cho bớt phù sưng não mà không thuyên giảm, các bác sĩ về chấn thương sọ não thường tham khảo nhờ các bác sĩ chuyên khoa thận chúng tôi để xin cho bệnh nhân một liều chất urea thật mạnh. Chất urea sẽ hút nước trong chỗ não phù sưng ra. Sau đó các bác sĩ chuyên khoa thận sẽ lọc máu thận lấy chất uera ra….

Khi còn bé tôi cũng đã thấy tận mắt người ta đổ nước tiểu vào miệng một người bị hôn mê, bất tỉnh.cho là bị “trúng gió”!

b. Urea còn dùng trong các dược phẩm khác.

Urea dùng chế barbiturates, Ureacin, Urecholine…,  các sản phẩm dùng ngoài da, các mỹ phẩm để cho da lấy lại nước cho tươi mát. Ngày xưa có giai nhân tắm nước tiểu để có được một làn da trẻ đẹp…

 c. Các trị liệu khác của nước tiểu.

Ví dụ trong nước tiểu của các phụ nữ mang thai có chứa kích thích tố estrogen có thể trích ra dùng làm dược phẩm.

d. Nước tiểu dùng trong các quá trình chế tạo dược phẩm.

Ngày còn bé, bà ngoại tôi là một thầy thuốc Nam, cụ dùng cỏ ấu (cỏ có củ giống củ ấu) làm thuốc. Chúng tôi sáng ngủ dậy, thường ra góc vườn tiểu vào cái vại củ cỏ ấu ngâm nước tiểu. Chất urea và các khoáng chất trong nước tiểu giúp cho các quá trình chế tạo thuốc của các chất trong củ ấu.

Người Triết Giang luộc trứng với nước tiểu trẻ em thì các hóa chất trong nước tiểu cũng tác dụng vào các hóa chất trong trứng tạo ra những “dược chất” gì đó.

Dĩ nhiên ăn trứng luộc nước tiểu của người Triết Giang cho bổ khỏe và cho đầu óc được minh mẫn là một cách chữa trị hãy còn man dã.

2. Nước tiểu là một mỏ phân bón.

Chúng ta ai cũng biết là ở Á châu và nhiều nơi người ta dùng nước tiểu tưới cây và cây rất xanh tươi, tươi tốt. Nước tiểu là một thứ phân bón.

Phân bón nước tiểu và phân bón hóa học có khác nhau không?

Trước hết ta thử xem phân hóa học hay vô cơ ngày nay nhà nông dùng là một hỗn hợp hóa chất có chứa những nguyên tố chính yếu nào? có liên hệ với các chất trong nước tiểu không?

Phân hóa học có chứa nhiều ba yếu tố NPK (Nitrogen, Phospahte và Kalium hay Potassium). Trên các bao phân hóa học thường có các con số như 10-10-10, 5-10-5, 5-10-10 vân vân cho biết thành phần  NPK.

Con số đầu là lượng N (Nitrogen). N là chất dinh dưỡng chính yếu nhất của rau cỏ giúp cho rau cỏ mọc lớn, xanh tốt, tuy nhiên nếu nhiều N trái sẽ nhỏ.

Nó là thành phần chủ yếu của tế bào và giữ một vai trò quan trọng trong trong sự quang hợp (photosynthesis), giúp cây tăng trưởng nhanh và giúp ra quả và hạt nhiều.

Con số thứ nhì là lượng P (Phosphorus). P giúp phát triển rễ, hoa và quả. P hữu ích cho các loại rau ăn củ như cà rốt, củ cải đường, xu hào… P cũng giúp quang hợp và giúp cây tổng hợp đường, bột và

dầu. P giúp tăng trưởng và giúp thống rễ khỏe mạnh và phát triển hoa. Cây có đủ P dễ chịu đựng trong các hoàn cảnh khó khăn của trồng trọt.

Con số thứ ba là K (Potassium). K giúp cây cỏ kháng cự lại bệnh tật và cải thiện phẩm chất của quả. K tạo protein và phụ giúp quá trình quang hợp.

Sau đây là một vài loại phân urea và ammonium thường dùng:

.Phân Urea nitrate 

Một thứ phân bón hóa học có tiềm năng phát nổ, dùng chế chất nổ như đã được dùng ởWorldTradeCenternăm 1993. Ngày trước ở Châu Âu người ta dùng nước tiểu để chế thuốc súng.

.Phân ammonium nitrate (NH4NO3)

Phân có chứa nhiều nitrogen cũng dùng làm chất nổ.

.Phân Ammonium sulfate  (NH4)2SO4

Phân này có mùi nước tiểu (mùi amôniac), là loại phân bón tốt vì có cả N và lưu huỳnh S là hai chất dinh dưỡng thiết yếu cho cây. Sulfatre làm giảm pH của đất nên dùng cho đất alkaline.

.Phân Ammonium chloride (NH4Cl) 

 Phân cung cấp nguồn nitrogen.

 .Phân Ammonium phosphate  NH4)3PO4 

Phân cung cấp nguồn cao Nitrogen.

Chất này cũng được dùng trong chất làm chậm cháy (flame retardant) và giúp cho meo mốc mọc nhanh dùng trong kỹ nghệ làm bánh mì.

……

So sánh phân hóa học với nước tiểu ta thấy, như đã nói ở trên, nước tiểu là một nguồn lớn cung cấp Nitrogen từ thành phần chính là chất urea, ammonium, ngoài ra còn có các chất khoáng khác và có một lượng phosphate. Vi sinh vật còn có thể biến nước tiểu và các muối khoáng như magnesium thành một nguồn phospate đáng kể. Nước tiểu ở cống rãnh thành phố chứa một lượng phosphate cao vì đã nhiễm trùng (xem dưới).

Các bệnh nhân bị bại thận không bài thải được phosphate ra ngoài cơ thể đưa tới chứng ngộ độc phosphates làm rối loạn sự hoạt động của tuyến phó giáp trạng (parathyroid gland) và sự biến dưỡng của xương vì thế các bệnh nhân bị bại thận phải được cho uống các chất cấu kết với phosphate gọi chất gắn bó-phosphate (phosphate binders) để tống phosphate ra ngoài bằng đường ruột.

Như thế nước tiểu là một nguồn lớn của Nitrogen (từ urea) và một lượng đáng kể Phosphate, hai chất chính trong các loại phân hóa học và một lượng nhỏ Potassium. Nước tiểu chỉ chứa một lượng nhỏ K vì thế ở thôn quê, hồi nhỏ tôi thấy người ta đi tiểu xuống các hố tro để làm phân bón. Potassium hay Kali có nhiều trong tro.Từ Potassium phát gốc từ potash (tro) phiên âm thành bồ tạt. Potash chính là pot-ash tức ‘tro nồi’. Như thế phân tro-nước tiểu có đủ cả ba yếu tố NPK.

Các khảo cứu cho thấy tác dụng phân bón của nước tiểu tương đương với các loại phân bón thương mại về tỉ lệ NPK.

(^ a b “Urine Separation – Closing the Nitrogen Cycle” (PDF). Stockholm Water Company. 2001.).
Chế Tạo Phân Bón Từ Nước Tiểu

Ta thấy rõ nước tiểu là một mỏ Nitrogen và là nguồn cung cấp lớn Phosphate sinh học có thể dùng chế tạo phân bón. Cách bón phân bằng nước tiểu và tro-nước tiểu cổ truyền dĩ nhiên có điểm nguy hại là có thể truyền bệnh khi con người ăn rau quả, thực vật còn sống.

Vấn đề cốt yếu là phải trích lấy chất Nitrogen và Phosphate từ nước tiểu ra bằng các phương pháp khoa học khử trùng.

Trước hết người ta nhận thấy các bệnh nhân bị sạn thận có người bị một loại sạn nhiễm trùng gọi là sạn struvite. Sạn loại này thường thấy nhiều ở các bệnh nhân có hệ thống ‘cống rãnh’ và bồn chứa (bọng tiểu) bị ứ nghẹt hay tắc nghẽn làm nước tiểu bị ứ đọng lại và vi trùng có thời gian sinh sôi nẩy nở. Vi trùng gây ra loại sạn này là nhóm vi trùng tách urea tạo ra ammonia (Urea-splitting organisms) gồm có Proteus, KlebsiellaStaphylococcus, và Mycoplasma. Chúng có tiềm năng gia tăng trong nước tiểu kiềm (alkaline urine) có chứa nhiều magnesium (ăn rau quả có nhiều magnesium).

Ammonium kết hợp với chất magnesium, phosphate tạo ra các hạt struvite gồm ba chất ammomium, magnesium, phosphate. Các hạt này hợp lại thành sạn struvite có chứa nhiều phosphate. Sạn struvite thường đổ khuôn theo hình dạng của phần thoát dẫn của đường tiểu ví dụ như ở phần trên của ống dẫn tiểu ở chỗ gọi là đài thận (calices) sạn

thường có hình như ‘củ gừng’ tức hình sừng (từ gừng có nghĩa là sừng, theo g=s, gừng = sừng, củ gừng là củ sừng). Vì vậy mà sạn struvite này còn có tên là sạn sừng hươu staghorn.

 Sạn nhiễm trùng struvite hình sừng hươu (staghorn calculus) (nguồn dev.stonedisease.org).

Thật ra bất cứ loại sạn nào cũng có thể có hình sừng hươu nhưng hơn 75% sạn struvite cò hình sừng.

Cũng nên biết là nước tiểu của người lành mạnh khi mới đi tiểu ra không có mùi vì chưa có sự vấy nhiễm vi trùng. Đây là lý do các bà sản phụ uống nước tiểu mới từ vòi ra còn nóng hổi của các bé trai ‘đồng trinh’ giống như uống một bát nước chè tươi.

Cũng nên biết nước đầu ối (amniotic fluid) liên hệ mật thiết với nước tiểu tinh khiết, vô trùng. Các thai nhi ‘tè’ trong ước đầu ối và uống lại nước đầu ối. Khi bị vi trùng phân hóa thành Ammoniac nước tiểu mới có mùi khai làm ngộp thở. Các phòng vệ sinh không được chăm sóc sạch sẽ thường bay mùi khai vì nước tiểu bị vi trùng biến thành ammomiac và khí carbonic.

Áp dụng điểm này vào kỹ nghệ chế biến nước tiểu thành phân bón người ta cho vi trùng tách urea vào nước tiểu và cho thêm magnesium để có được các hạt struvite kết tinh có chứa nhiều phosphate.

Nếu cho thêm sulfuric acid vào sẽ có được một loại phân bón dùng trong nông nghiệp có chứa sulfate ammonium.

….

Nước Tiểu, Một Đầu Tư Kiếm Bạc Triệu Đô La.

Kỹ nghệ thu hồi chất phosphate trong nước tiểu dùng làm phân bón chắc chắn là một dịch vụ hái ra tiền vì nhu cầu nuôi sống con người càng ngày càng cần tới phân bón trong khi nguồn phosphate trong thiên nhiên dùng làm phân bón càng ngày càng cạn dần. Nước tiểu là một mỏ sinh học phosphate và Nitrate, một mỏ phân bón.

Một Ước Mơ Giữ Thơm Quê Hương Việt Nam.

Những năm hành nghề chữa bệnh thận, tôi có một ước mơ là được trở về ViệtNamđể “giữ thơm cho quê hương” bằng cách lập ra một hãng tinh chế biến nước tiểu thành phân bón và dược phẩm.

Chế tạo ra một hệ thống nhà vệ sinh, một hệ thống bồn tiểu tân kỳ để thu hứng nước tiểu từ các phòng tiểu công cộng. Tách các hóa chất trong nước tiểu ra làm phân bón, dược phẩm và dùng phần nước tái tạo làm nguồn nước sạch để tưới cây. Cũng có thể tinh chế nước tiểu thành nước uống. Nước là một vấn đề sinh tử của loài người hiện nay ở nhiều nơi.

Việc làm này ngoài một dịch vụ hái ra tiền còn là một việc làm gìn giữ vệ sinh công cộng, bảo vệ sức khỏe quần chúng, bảo vệ môi trường, giúp tránh ô nhiễm môi sinh, tránh ô nhiễm sông hồ bởi một lượng lớn nitrate và phosphate từ nước thải ra. Đi du lịch ở Trung Quốc, có nhiều nơi bước vào phòng vệ sinh, tôi đã nôn ọe, ngộp thở, ôm quần chạy ra ngoài vì mùi khai nồng nặc chịu không nổi. Khi đi du lịch về Việt Nam như tôi đã viết trong bài Những Phòng Vệ Sinh Tôi Đã Đi Qua: “Đền Ngọc Sơn ở Hồ Hoàn Kiếm giữa thủ đô Hà Nội là chỗ thờ các đấng thiêng liêng, thần thánh, một trong những biểu tượng tiêu biểu của thủ đô ngàn năm văn vật, tiếp đón hàng trăm du khách một lúc, vậy mà chỉ có một cái “nhà ỉa” kiểu ngồi xổm nhỏ như cái chuồng xí, mùi nồng nặc, nước rửa tràn ra ngoài lênh láng, chắc chắn làm ô nhiễm nước hồ. Rồi đây Rùa Thần chắc sẽ về chầu trời sớm để được siêu thoát”.

Cũng nên biết trước đây ở Mỹ một số cô bò sữa trắng răng ‘La vache qui rit” bỗng lăn đùng ra chết hàng loạt. Làm giảo nghiệm thi cho thấy các cô chết vì ngộ độc nitrate. Các cô đã được nuôi bằng cỏ xanh tươi quá vì cỏ đã được bón quá nhiều phân nitrate. Như thế một ngày nào đó nước Hồ Hoàn Kiếm bị ô nhiễm bởi nitrate do nước tiểu thấm xuống hồ, các cụ Rùa Thần sẽ ngắc ngư nổi lên mặt nước ngáp ngáp rồi về chầu trời.

Một ngày nào đó khi kỹ nghệ chế biến nước tiểu thành phân bón được nhiều người đầu tư vào thì các du khách đến một số quốc gia trên thế giới sẽ không còn phải đi đổi tiền lẻ mỗi khi đi tè. Vì cạnh tranh nghề nghiệp có khi du khách không còn phải mất tiền mà có thể trong tương lại còn được trả tiền vì các nhà biến chế nước tiểu làm phân bón cần có nước tiểu nên phải mua nước tiểu. Lúc đó không còn thấy người ViệtNambị chứng ‘đái đường’ nữa. Đường phố không còn bay mùi khai nồng nặc. Trên tường không còn thấy các ‘khẩu hiệu’ Cấm Đái Bậy nữa.

Cách hữu hiện nhất để giữ thơm quê hương Việt Nam là làm sao để những người Việt được trả tiền khi đi tiểu.

 Ước mơ Giữ Thơm Quê Hương này là một đầu tư hái ra tiền, hữu ích cho dân Việt và cả loài người. Nếu không có dịp thực hiện được thì xin chuyển niềm ước mơ này cho những ai thấy việc làm này là một ước mơ.

Hãy Giữ Thơm Quê Hương ViệtNam.

Tóm lại nước tiểu là nguồn phân bón giúp cung cấp thực phẩm và là nguồn nước cho con người có thể  đóng góp vào sự sinh tồn của loài người.

June 5, 2009

GHÉP CƠ QUAN THÂN NGƯỜI

Filed under: Ghép Cơ Quan Thân Người — Quang Nguyen @ 8:46 am

 

                GHÉP CƠ QUAN THÂN NGƯỜI

                   bác sĩ Nguyễn Xuân Quang 

Ghép cơ quan thân người đã thấy nói trong truyền thuyết. Tại bảo tàng viện Wuerttembergische Landesmuseum, ở Suttagrt, Đức quốc còn lưu giữ bức tranh “Phép Lạ Ghép Chân” do thánh Cosmos và Damian thực hiện của Swabian vẽ trên bản gỗ vào năm 1500. Theo truyền thuyết hai vị thánh trên đã ghép thành công chân của một người Moor da đen đã chết cho một bệnh nhân người da trắng. Chân người da trắng này đã bị cắt bỏ vì bị luỗng chết. Tất cả các nhân viên nhà mổ đều là những vị thánh thần cả (Y Học Thường Thức số 7 tháng 10, 1995). 

 

ghep chan0001 

“Phép Lạ Ghép Chân” do thánh Cosmos và Damian thực hiện của Swabian vẽ trên bản gỗ vào năm 1500.

 

Ngày nay chúng ta nghe nói tới ghép thận, ghép tim, ghép gan, ghép tụy tạng, ghép phổi hàng ngày như cơm bữa rất thành công mà không cần tới phép lạ.
Ghép cơ quan thân người chia ra làm hai loại chính: ghép đồng chủng (homotransplantation) là ghép các cơ quan giữa người và người và ghép ngoại chủng (xenotransplatation) là ghép cơ quan giữa các loài vật khác nhau như ghép cơ quan thú vật cho người. Bài viết này chỉ nói hết sức tổng quát về ghép cơ quan  đồng chủng giữa người với người.

Ghép Đồng Chủng

Ghép đồng chủng là ghép các cơ quan giữa người và người (cơ quan đem ghép lấy từ người chết, cadaveric donors hay từ người sống, living related donors). Công cuộc ghép cơ quan tiên phong là ghép thận. Vào đầu thế kỷ thứ 20, hai bác sĩ Alexis Carrel và C.C. Guthrie đã mở màn cho kỷ nguyên ghép cơ quan là ghép thận. Vào năm 1905 hai ông tường trình kết quả cuộc thí nghiệm “ghép hai quả thận từ một con chó đực qua một con chó cái sau khi đã cắt bỏ hai quả thận gốc của con chó cái”. Kết quả này đã dẫn đến công cuộc ghép thận giữa người và người đứng vào hàng đầu về thành công hiện nay. Hàng triệu trái thận đã được ghép cho những người bại thận. Sau đó bác sĩ Carrel hợp tác cùng các nhân viên ở viện Rockerfeller ở New York sáng chế ra những bộ phận phụ tùng khác cho cơ thể con người. Năm 1928, ông và một người nữa chế ra máy bơm máu giữ cho cơ quan trong người còn sống. Người cộng tác với bác sĩ Carrel không ai xa lạ chính là Charles Lindbergh, viên phi công đã bay xuyên Đại Tây Dương. Máy thận nhân tạo để lọc máu (hemodialysis) được cấp môn bài năm 1943. Máy này lúc đó to bằng chiếc xe đẩy trẻ em và ống dẫn máu vào người và ống thoát dẫn chất cặn bã ra khỏi người bệnh nhân làm bằng vỏ bao dồi xúc xích (sausage).

Những Điểm Tối Quan Trọng trong Việc Ghép Cơ Quan.

  Hiện Tượng Chối Bỏ (Rejection).

Vấn đề chủ yếu trong công cuộc ghép cơ quan là hiện tượng chối bỏ cơ quan đem ghép vào của cơ thể người nhận. Trời sinh ra con người có khả năng tự vệ, cơ thể sẽ tìm cách chống trả, tiêu diệt hay đẩy ra ngoài tất cả các vật lạ xâm nhập vào cơ thể con người. Hãy lấy một vài ví dụ dễ hiểu như một viên đạn bắn vào tim một người không thể lấy ra được vì lấy ra bệnh nhân có nguy cơ bị chết nhiều hơn là sống còn. Để lại trong tim lâu ngày cơ thể có thểsẽ tạo ra một lớp bao sơ chôn kín viên đạn hay dần dần đẩy viên đạn ra ngoài tim. Một vật lạ dính vào răng, lưỡi tìm cách đẩy ra hay làm ta khó chịu phải dùng tăm lấy ra. Cơ quan của người khác cho vào cơ thể người nhận cũng coi như là một vật lạ nên cơ thể người nhận chối bỏ tìm cách trừ khử đi. Hiện tượng này gọi là hiện tượng chối bỏ (rejection), có tác giả gọi là hiện tượng thải ghép. Do đó vấn đề sinh tử là làm sao cho cơ thể người nhận chấp nhận cơ quan đem ghép vào để sống chung hòa bình với vật lạ đó. Có hai cách chính:

-Tìm sự tương hợp

Phải tìm các cơ quan đem ghép tương hợp (matching) nói cho dễ hiểu là “môn đăng hộ đối” với cơ thể người nhận. Trước đây chưa có những thứ thuốc làm giảm sự chối bỏ của cơ thể người nhận, những công cuộc ghép cơ quan thân người thành công nhiều hay ít tùy thuộc vào sự tương hợp hay vào các bộ phận thân người ít gây ra hiện tượng chối bỏ ví dụ như ghép giác mạc (màng sừng mắt, cornea) không cần phải có môn đăng hộ đối hoàn toàn.
Dựa vào những điểm nào để biết có được sự tương hợp tốt?
Các chuyên gia dựa vào kháng sinh (antigen). Kháng sinh là một dấu ấn (marker) hóa học dạng protein mang tính di truyền của tế bào. Nếu là một kháng sinh lạ đối với cơ thể thì cơ thể sẽ được báo động ngay để tạo ra kháng thể (antibody) để chống lại, để tiêu diệt kháng sinh đi nhằm mục đích để bảo vệ cơ thể. Khi một quả thận, một lá gan, một trái tim lạ ghép vào cơ thể một người với các kháng sinh không tương hợp thì chiến tranh giữa kháng sinh và kháng thể sẽ xẩy ra, cuối cùng là các cơ quan đem ghép vào cơ thể bị chối bỏ, bị loại trừ tức sự ghép cơ quan thất bại. Trường hợp lý tưởng nhất cho sự tương hợp là trường hợp hai người sinh đôi có kháng sinh giống nhau. Ghép cơ quan giữa hai ngưới này có thể đưa đến thành công hoàn toàn. Anh chị em ruột thịt có cơ may có cùng kháng sinh theo đinh luật di truyền Mendel là ¼ (25%). Hai người dưng nước lã (không liên hệ gì với nhau) có cơ may có kháng sinh tương hợp là 1/1000.
Ngoài ra nhiều khi hệ thống phòng thủ của cơ thể người nhận quá yếu, hiện tượng chối bỏ bị thất bại và bị kháng sinh của cơ quan ghép vào tràn ngập có thể làm người nhận nguy hiểm tới tính mạng ví dụ như ghép tủy xương (bone marrow). Tủy xương là cơ quan tạo ra máu và là phần mấu chốt của hệ thống miễn nhiễm của cơ thể con người. Ghép tủy xương thường cần cho những người bị ung thư máu hoặc bị những bệnh thuộc hệ miễn nhiễm thường gọi là “suy yếu miễn nhiễm kết hợp trầm trọng” (severe combined immunodeficiency). Một vấn đề nguy hiểm khi ghép tủy xương thường tạo ra những kháng thể nơi người nhận, những kháng thể này tràn ngập quay lại giết người bệnh từ từ mà danh từ y học gọi là phản ứng của cơ quan ghép với người nhận (graft versus host reaction). Vì thế cho mãi tới năm 1983 ghép tủy xương đòi hỏi phải có một sự tương hợp hoàn toàn. Theo điều kiện này, 2/3 những người cần ghép tủy xương không tìm được người matching hoàn toàn. Đến năm 1983, các khoa học gia đã phát kiến ra được một phương pháp “thanh lọc” tủy xương. Họ khám phá ra rằng những tế bào T (T cells) là thủ phạm gây ra phản ứng cơ quan ghép đối với người nhận. Phương pháp thanh lọc tìm cách loại lấy ra các T cells. Với phương pháp này đã cứu sống được rất nhiều bệnh nhân cần ghép tủy xương.
Do đó khi ghép cơ quan bác sĩ thường cho thử nghiệm tìm sự tương hợp, matching hay môn đăng hộ đối dựa vào nhóm máu ABO, nhóm kháng sinh bạch huyết cầu HLA (Human Leucocyte Antigen)… 

-Ngăn cản sự đối kháng.

Cách thứ nhì là tìm cách kềm hãm sự đối kháng của cơ thể người nhận gọi là sự kềm hãm hệ thống miễn nhiễm (immunosuppression) tức hệ thống phòng thủ của người nhận.
Đây chính là những thủ thuật, những các chữa trị. Dược liệu giữ một vai trò quan trọng. Có nhiều lại thuốc “cổ điển” như Prednison, Imuran, Cyclophosphamide, Cyclosporin A… và nhiều loại thuốc thuộc thế hệ mới dùng để kềm hãm hệ thống miễn nhiểm làm giảm bớt hiện tượng chối bỏ. Nhờ những thuốc này sự ghép cơ quan ngày nay không còn đòi hỏi phải có độ tương hợp matching hoàn toàn hay thật cao nữa. Ngày nay hai người lạ có thể cho nhau những “món quà đời sống” (gift of life) như vợ chồng, bạn bè có thể cho nhau một quả thận. Thậm chí ngày nay có những “siêu thị” bán các cơ quan thân người dùng để ghép như ở Ấn Độ.

MỘT VÀI ĐIỀU CẦN LƯU TÂM KHI GHÉP CƠ QUAN.

-Danh Sách Chờ
Trung bình mỗi ngày có thêm trên 50 người mới ghi vào danh sách chờ (waiting list) để được ghép cơ quan trên toàn quốc Hoa Kỳ. Hiện nay tại Hoa Kỳ mỗi ngày có khoảng một chục người trong danh sách chờ qua đời vì chưa có cơ quan ghép.
-Beeper
Bệnh nhân có tên trong danh sách chờ được cấp phát cho một beeper. Cần phải mở beeper 24 giờ trên 24 giờ, không được đi ra ngoài tầm hoạt động của beeper mà không thông báo cho cơ quan liên hệ.
-Sau khi đã được ghép cơ quan phải uống thuốc đều đặn. Tôi có một bệnh nhân được ghép thận, anh là một bác sĩ. Anh về Việt Nam chơi và khi thuốc hết, không có thuốc uống cho tới khi quả thận ghép vào có triệu chứng không còn hoạt động nữa, anh mới trở về lại Hoa Kỳ. Gặp lại tôi anh nhe răng cười thật… nham nhở.
-Nguy cơ nhiễm trùng nhất là những bệnh lạ về siêu vi trùng, bệnh nấm vì hệ thống miễn nhiễm bị kềm chế do tác dụng của các loại thuốc dùng ngăn ngừa hiện tượng chối bỏ.
-Tuyệt đối phải tuân thủ theo lời bác sĩ khuyên dặn. Nên nhớ là mình có bổn phận với sự sống của chính mình, với công lao của thầy thuốc và nhất là đối với người đã cho mình “món quà sống”.
. . . . . .

MỘT VÀI THẮC MẮC

Sau đây là một vài thắc mắc các bệnh nhân thường hỏi tôi khi ghép và cho thận:

-Cho thận có nguy hiểm không?

Câu trả lời là một khi bác sĩ đã định giá, khám nghiệm tỉ mỉ rồi và cho phép tặng một quả thận (hay một phần cơ quan nào đó) thì không có gì là nguy hiểm cả. Một người sau khi cắt cho một quả thận đôi khi cảm thấy phía bên hông chỗ quả thận lấy ra “trống vắng” hay có cảm tưởng quả thận đã cho đi vẫn còn “nhúc nhích”, “cục cựa” trong một khoảng thời gian ngắn như một hình bóng ma gọi là “phantom” như người bị cụt tay vẫn cảm thấy cánh tay bị mất vẫn còn… sờ mó được gọi là “phantom limb” (xem truyện ngắn Cánh Tay Ma của tác giả đăng trong báo Bách Khoa trước 1975 ở Saigon).
Một người có hai cơ quan giống nhau như thận, phổi cho đi một, thường thường nửa phần còn lại sẽ gia tăng hoạt động vài khi tăng trưởng lớn thêm để bù trừ lại, giúp người cho cơ quan sống như bình thường.

-Nhận cơ quan đem ghép vào người có bị lây những bệnh hiểm nghèo của người cho hay không?

Trong cả hai trường hợp cơ quan do người sống tặng và lấy từ xác chết, vấn đề loại trừ những bệnh lan truyền cho người nhận là một vấn đề hệ trọng.  Ví dụ một người bị AIDS hay bị các bệnh não tủy do siêu vi trùng gây ra không thể cho các cơ quan đem ghép được. Năm 1979, một người được ghép giác mạc của một người thợ rừng bị chết vì hội chứng Guillain Barré (GB), một hội chứng bệnh thần kinh làm tê liệt dần dần. Năm mươi ngày sau người đàn bà chết. Bà cũng có hội chứng GB. Tuy nhiên giảo nghiệm thi không tìm thấy loại siêu vi gây ra hội chứng GB mà tìm thấy một loại siêu vi khác. Bác sĩ quật mồ người thợ rừng lên khám nghiệm lại và tìm thấy cùng một loại siêu vi đã giết chết người đàn bà. Người thợ rừng và người đàn bà được ghép giác mạc của người thợ rừng không chết vì hội chứng GB. Siêu vi giết hai người là siêu vi bệnh dại (rabies). Người thợ rừng đã tiếp xúc với thú hoang nên bị nhiễm siêu vi bệnh dại. Vì thế việc khám nghiệm trước khi ghép cơ quan rất chặt chẽ ở Hoa Kỳ. Tuy nhiên ở các quốc gia khác rất lỏng lẻo. Một số bệnh nhân ở Hoa Kỳ vì chờ đợi lâu quá đã đi qua các quốc gia khác có các siêu thị bán cơ quan thân người và các bác sĩ ở các quốc gia này ghép cơ quan thân người với giá rẻ so với giá ở Hoa Kỳ như ở Ấn Độ chẳng hạn. Trong số các bệnh nhân ghép thận mua ở ngoại quốc khi về Hoa Kỳ khám nghiệm lại có khoảng 25% bị nhiễm AIDS. Phần lớn những người bán thận hay các cơ quan khác ở các nước này thuộc thành phần ghiền nghiện, chích choác, đĩ điếm hay nghèo túng.

-Tại sao tôi chờ lâu hơn người khác?

Ngoại trừ trường hợp ghép cơ quan từ một người tặng cho thì việc chờ đợi không thành vấn đề, còn ghép cơ quan từ người chết thì phải nằm trong danh sách chờ là điều bắt buộc. Có người được ghép nhanh hơn người khác, tại sao? Như đã biết ghép cơ quan cần phải có sự tương hợp thật cao mới có kết quả tốt. Vì thế vần đề nhanh chậm là tùy nhóm máu, tế bào, mô của người chờ ghép. Ví  dụ nếu dựa vào nhóm máu ABO chẳng hạn thì người có nhóm máu O được gọi là người cho phổ quát (universal donor). Người có nhóm máu này có thể cho bất cứ ai thuộc bất cứ nhóm nào O, A, B, AB nhưng chỉ nhận được máu từ người có nhóm O. Người có nhóm máu AB có thể nhận được máu của tất cả các nhóm nhưng chỉ cho nhóm AB của mình.  Người nhóm B chỉ nhận được máu của người thuộc nhóm B, O và chỉ cho nhóm B, AB. Người nhóm A chỉ nhận từ nhóm A, O và chỉ cho nhóm A, AB. Như thế một người chờ ghép cơ quan có nhóm máu AB có thể nhận được từ nhiều người nhất nên thời gian chờ đợi có thể ngắn hơn các người thuộc nhóm máu khác.
. . . . . .

Một Vụ Gặt Hái Cơ Quan

Để chấm dứt xin mời tham dự một vụ gặt hái các cơ quan đem ghép.

Một người bị tai nạn xe gắn máy bị hôn mê, chở vào phòng cấp cứu. Mọi cách thức làm hồi sinh đều thất bại. Người bệnh đã đi vào cơn mê trầm, phải cho vào máy giúp thở life support. Nạn nhân được coi như bị não chết “brain dead”. Nguyễn báo cho thân nhân điều tuyệt vọng này và cố gắng mở miệng nói ra điều khó nói nhất là xin các cơ quan đem ghép. Những món quà vô giá cho đời. Những món quà cho đời sống. Bác sĩ không được làm áp lực, không dược khuyến dụ. Gia đình bệnh nhân phải hoan hỉ tự nguyện cho.
Rất may mắn, gia đình bệnh nhân ưng thuận. Nguyễn lấy chữ ký ưng thuận cho cơ quan. Hỏi kỹ bệnh sử gia đình nhất là những bệnh lây lan, những chứng bệnh không thể cho cơ quan đem ghép được. Cuộc chạy đua giữa y giới và thời gian bắt đầu. Giờ đã điểm. Kể từ giây phút này bệnh nhân không còn được coi là ở trong tình trạng trợ sinh nữa mà phải được coi là ở trong giai đoạn duy trì cơ quan (organ maintenance). Sự phân biệt này không phải chỉ là về mặt triết lý, pháp lý mà còn bao gồm cả y lý. Thuốc men và nước tiêm truyền được điều chỉnh lại. Các dung dịch dược liệu nuôi sống các cơ quan được cho thêm vào. Hệ thống điện toán báo đi khắp toàn quốc Hoa Kỳ là có một vụ gặt hái cơ quan đem ghép. Cơ sở địa phương được ưu tiên báo trước. Sau đó loan báo cho các cơ quan khác ở khắp các nơi trong Cali và các tiểu bang khác để họ ứng trực và… hy vọng. Máu và tế bào nạn nhân được tái khám nghiệm một lần nữa tìm và phân loại kháng sinh để dùng trong việc định sự tương hợp. Bác sĩ giảo nghiệm thi được thông báo. Vị này ra lệnh không được đụng tới các thương tích để còn lấy tang chứng. Ông cho người đến chụp hình và lấy dữ kiện. Kể từ khi một người được coi là “brain dead” thì từ lúc đó về phương diện pháp lý thân xác người đó thuộc quyền của văn phòng giảo nghiệm thi của quận hạt. Dĩ nhiên bác sĩ giảo nghiệm thi không chống đối lại việc gặt hái cơ quan nhưng ông có trách nhiệm pháp lý về cái chết của nạn nhân. Trung Tâm Y Khoa Đại Học Standford, Bắc Cali được chia cho trái tim. Tại Trung Tâm này một người bệnh đang chờ thay tim có máu và mô có kháng sinh tương hợp nhất với nạn nhân. Một chiếc máy bay phản lực được thuê bao sẽ chở toán thợ gặt tim bay xuống ngay nếu trái tim của nạn nhân còn trong tình trạng hoàn hảo. Đại Học Y Khoa USC được chia cho lá gan, Đại Học Y Khoa UCLA hai lá phổi, Đại Học Y Khoa Loma Linda lá mía (pancreas). Tất cả đã thuê bao máy bay trực thăng chờ sẵn. Đại Học Y Khoa UCI giữ lại một quả thận, còn một quả đưa cho cơ quan ghép cơ thể vùng để phân phối. Trong tích tắc các món quà tặng cho đời đã được phân phối. Bổn phận của nhóm bác sĩ chủ nhà của Nguyễn là phải kiểm điểm xem các món quà có trong tình trạng hoàn hảo hay không và phải duy trì cho tốt đẹp cho tới lúc gặt hái. Nạn nhân được chuyển tới phòng thông tim. Đại Học Y Khoa Standford được thông báo cho biết tình trạng quả tim tuyệt hảo. Tiếng reo vui bên kia đầu dây điện thoại. Toán thợ gặt tim lên đường ra phi trường lập tức. Phòng mổ báo động soạn mổ. Người bệnh chờ ghép tim được lệnh “truy nã”. Nhóm thợ gặt hái lá gan USC và lá mía Loma Linda cũng lên đường. Riêng lá phổi bên phải bị dập và nạn nhân bị ứ máu lồng ngực. Nhóm thợ gặt phổi ở UCLA được thông báo.  UCLA quyết định hủy bỏ vì họ muốn cả hai lá phổi nguyên vẹn.  Tin UCLA không lấy phổi loan đi khắp toàn quốc. Trong tích tắc, điện thoại cho biết ở Nevada có người cần lá phổi trái của nạn nhân. Toán thợ gặt Nevada xin nhận và lên đường…
Quần hùng thợ gặt bốn phương tới đông đủ. Tất cả rửa tay soạn mổ. Quyền tổng tư lệnh điều khiển công cuộc gắt hái cơ quan được trao cho thủ lãnh nhóm hái tim Standford. Một đường dao rạch ngực thật ngọt. Kềm cắt xương sườn lồng ngực kêu rau ráu. “Xà beng” nậy nắp  lồng ngực lên. Thủ lãnh nhìn trái tim đập điều hòa sảng khoái nói lớn “What a great heart”! Đưa mắt cho tất cả các tay dao tay kéo sẵn sàng cho giây phút gọi là “cross-clamp time”. Đây là giây phút tắt máy giúp thở và kẹp lại động mạch chủ của tim. Đây là thời gian trái tim cũng như các cơ quan khác bắt đầu không còn máu nuôi dưỡng nữa. Kể từ giây phút cross clamp time này một trái tim chỉ sống còn được khoảng từ ba cho tới năm giờ, một lá gan sống còn được 12 tiếng và một quả thận sống được từ một tới hai ngày. Thủ lãnh gật đầu và ra lệnh “go”. Tất cả bác sĩ trở thành những con người máy robot vừa được bấm nút. Tiếng bíp bíp của máy thở không còn kêu nữa. Phổi xì ra những hơi cuối cùng. Chiếc kẹp bóng loáng kẹp động mạch chủ lại. Thời gian đã điểm. Không Giờ Zero hour bắt đầu tích tắc. Không giờ là giờ tính từ lúc các cơ quan được bơm rửa và tiêm truyền dung dịch “độn” (“buffer”) và tồn trữ giá lạnh. Trái tim được đánh ra cả cụm mạch máu và dây thần kinh, được bỏ vào chậu  nước biển vô trùng giá lạnh. Toán thợ gặt tim rút lui trong nháy mắt. Nhóm thợ hái phổi nhào tới. Trong lúc đó ở phần dưới bụng nhóm thợ gặt hái lá gan, lá mía và thận đang múa dao, vung kéo.  Trong khoảnh khắc tất cả đám thợ gặt biến mất. Những chuyến bay chở cơ quan gặt hái lao vút trong không trung. Trơ vơ chỉ còn lại đám bác sĩ chủ nhà phải dọn dẹp chiến trường, khâu vá, nhíu lại thân xác ân nhân…
Kể từ lúc con bệnh được chở vào phòng cấp cứu, cho tới lúc xác được bỏ vào tủ lạnh, Nguyễn đã làm việc không ngừng nghỉ 27 tiếng đồng hồ.

Nguyễn thấy thèm ăn một tô phở…

(xin xem thêm truyện ngắn Hái Thận của tác giả trong tập truyện Những Mảnh Đời Tị Nạn do Xuân Thu xuất bản 1988).

May 18, 2009

BIỂU TƯỢNG Y HỌC TÂY PHƯƠNG NHÌN DƯỚI CON MẮT LƯỠNG HỢP NÒNG NỌC, ÂM DƯƠNG, VIỆT DỊCH NÒNG NỌC.

Filed under: Biểu Tượng Y Học — Quang Nguyen @ 10:31 am

 

BIỂU TƯỢNG Y HỌC TÂY PHƯƠNG NHÌN DƯỚI CON MẮT LƯỠNG HỢP NÒNG NỌC, ÂM DƯƠNG, TIÊN RỒNG, VIỆT DỊCH NÒNG NỌC.

Nguyễn Xuân Quang

Ai cũng biết rằng Con Rắn (một hay hai con rắn) với Cây Gậy được dùng làm biểu tượng cho y học Tây phương. Dĩ nhiên người Tây phương giải thích biểu tượng này theo truyền thuyết Tây Phương mà tác giả Trịnh Nguyễn Đàm Giang mới đây đã thu thập rất đầy đủ dữ kiện trong bài viết Biểu Tượng Của Ngành Y (1).

Qua bài viết này, tôi xin nhìn biểu tượng Gậy và Rắn của y học Tây phương dưới lăng kính lưỡng hợp nòng nọc, âm dương, Vũ Trụ Tạo Sinh, Việt Dịch nòng nọc. Tôi có nhiều lý do vững chắc để thoải mái nhìn biểu tượng này dưới lăng kính lưỡng hợp, nòng nọc, âm dương…

Biểu tượng Cây Gậy-Con Rắn tối cổ, không phải do người Hy Lạp hay La Mã phát kiến ra mà họ lấy từ nền văn minh cổ xung quanh họ. Hình Cây Gậy và Một (hay hai) con này đã thấy ở vùng Lưỡng Hà như thấy hình chạm khắc trên một cái ly rượu (goblet) cổ thời Sumer khoảng 2.600 BC, cũng thấy trên những tấm thệ ước (votive tablets) ở Ấn Độ (2) và Tây Tạng… Dĩ nhiên sự giải thích biểu tượng này ở nơi nguồn cội Lưỡng Hà khác với trong truyền thuyết y học của La-Hy. Tôi truy tìm nguồn gốc nguyên thủy của biểu tượng Một Cây Gậy và Một Con Rắn của thần y học Asclepius chưa thấy nhưng của biểu hiệu caduceus thì Robert Beer trong The Encyclopedia of Tibetan Symbols and Motifs đã viết “The caduceus, as an emblem of the alchemical god Mercury or Hermes, first originated within the ancient Assyrian, Hittite and Phoenician cultures as sun-moon symbol, consisting of a central rod crowned by a sun disc with two lunar horns on either sides…” (3) (Caduceus, một biểu hiệu của thần luyện đan Mercury hay Hermes phát gốc đầu tiên trong nền văn hóa Assyria, Hittite và Phoenix dùng như là biểu tượng cho trời-trăng, gồm có một cây gậy ở giữa trên đội một đĩa mặt trời với hai sừng trăng hai bên…”). Ta thấy rất rõ như ban ngày biểu tượng trăng trời là biểu tượng cho âm dương.

Hiểu tổng quát như vậy cũng đủ rồi, nhưng nếu muốn tỉ mỉ hơn ta có thể phân tích tiến xa thêm nữa. Mặt trời trên cây gậy chính nó có nghĩa là mặt trời nhưng vì nó không phải là chủ thể so với cây gậy (người ta thường gọi biểu tượng là Cây Gậy và Con Rắn, không gọi là Mặt Trời và Hai Mặt Trăng Sừng, ít ai để ý tới mặt trời hơn cây gậy) nên nó cũng có thể có một khuôn mặt nữa là dùng như một dấu xác định (determinative), một tính từ (adjective) cho biết cây gậy là mặt trời, là dương, là nọc thái dương. Nhìn chung cả hai bổ túc nghĩa cho nhau, mặt trời là mặt trời nọc thái dương trên Trụ Thế Giới và gậy là gậy thái dương. Cây gậy là nọc, dương được nhấn mạnh thêm bằng hình mặt trời trên đỉnh cây gậy. Khi nhìn dưới diện Tứ Tượng thì coi cây gậy là Tượng Đất Dương tức Núi Trụ Chống Trời, Núi Trụ Thế Gian, Núi Vũ Trụ, Trục Thế Giới thì đây là mặt trời thiên đỉnh Trên Trục Thế Giới, mặt trời chính ngọ, chói chang nhất dòng thái dương (xem dưới). Hai mảnh trăng sừng cũng vậy, hai mảnh trăng sừng có hai mũi nhọn ở hai đầu là hai chữ nọc mũi mác có nghĩa là hai nọc dương sinh động (Chữ Nòng Nọc Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á), hai dương là thái dương. Trăng sừng là dạng thái dương của trăng tròn nòng vòng tròn thái âm. Đây là hai mảnh trăng sừng của dòng thái dương, hai nòng âm thái dương, theo thái âm là nòng thái âm mang tính thái dương, nước thái dương. Như thế tại Lưỡng Hà, nguyên thủy Cây Gậy và Hai Con Rắn biểu tượng cho sự giao hòa Trời-Trăng dòng thái dương, Lửa Nước thái dương, nòng nọc, âm dương thái dương. Trăng sừng cũng có thể dùng như một dấu xác định cho biết hai con rắn là hai nòng âm biểu tượng cho nước (rắn có một khuôn mặt biểu tượng cho nước, nước có một khuôn mặt thái âm liên hệ với trăng như thấy qua từ đôi trăng nước) với “dấu” trăng thái dương thì hai con rắn là nước thái dương. Nhìn chung cả hai rắn và trăng thì trăng đi với hai nòng rắn là trăng âm thái dương và rắn đi với trăng sừng là nước thái dương.

Vậy nói một cách giản dị thì rõ như ban ngày caduceus nguyên thủy biểu tượng cho trăng trời là biểu tượng cho nòng nọc, âm dương.

 

Khi người La Hy lấy đem dùng làm biểu tượng cho y học, dĩ nhiên, họ biến đổi đi, không còn giữ lại hai mảnh trăng sừng nữa mà thay vào đó bằng đôi cánh. Tại sao? Xem câu trả lời ở dưới. Về ý nghĩa, họ cũng thay vào đó những ý nghĩa khác cho hợp với văn hóa La-Hy. Sự giải thích thường rời rạc. Cây gậy của thần y học Asclepius cũng chỉ được nhìn theo một chiều con rắn. Họ cho rằng con rắn lột được da trẻ lại nên dùng nó làm biểu tượng cho sức khỏe. Còn cây gậy ít được nhắc tới hơn. Tuy nhiên, trong nhiều nghĩa giải thích có một nghĩa cũng còn cho thấy rất rõ nguyên lý lưỡng hợp nòng nọc, âm dương như Robert Beer cũng đã cho biết “Medically the two serpents symbolize poison and its antidote or venom and serum as the homeopathic principle of ‘like cure like’. Alchemically the two serpents symbolize cinnanbar and mercury or menstrual blood and semen, which through their transmutation create the ‘elixir of immortality’ “ (Về y học, hai con rắn biểu tượng cho chất độc và chất giải độc hay nọc độc và huyết thanh như là một nguyên lý đồng căn trị liệu “tương đồng trị liệu”. Về thuật luyện đan, hai con rắn biểu tượng cho thần sa và thủy ngân hay kinh nguyệt và tinh khí, qua sự chuyển biến của chúng tạo ra ‘thuốc bất tử’ “.

Còn cây gậy và hai con rắn quấn quanh của Tây Tạng có tên là sbrul rtse gsum mang triết thuyết vũ trụ quan của Phật giáo mật tông Tây Tạng. Biểu tượng này đã được dùng vào thời tiền Phật giáo đại thừa như một biểu hiệu của Bồ Tát Avalokiteshvara dưới thể dạng Tiếng Sư Tử Gầm Simhanada (“Lion Roar”) (3).

 

 tibet caduceus 2 

                      “caduceus” của Tây Tạng (Robert Beer).

 

Cây gậy có hình đinh ba giống gậy của Shiva mà ta biết Shiva có một khuôn mặt là Trụ Lửa (Pillar of Fire) có biểu tượng là linga. Rõ ràng cây gậy trong caduceus của Tây Tạng là gậy lửa, dương.  Vị Bồ Tát này là tiền thân của các Dalai Lama hiện nay. Ngài vốn là một người nam ở Tây Tạng và lúc đầu ở Trung Hoa cũng là một người nam nhưng về sau trở thành Phật Bà Quán Thế Âm Bồ Tát. Như thế vị Bồ Tát này có bản thể lưỡng tính phái. Phật Bà Quán Thế Âm Bồ Tát lưỡng tính phái thấy dưới dạng trăng trời là Phật Bà Nhật Nguyệt của Trung Hoa ở Bảo Sơn có tay phải cầm mặt trời, tay trái cầm mặt trăng. Ta thấy rất rõ biểu tượng caduceus Tây Tạng của Bồ Tát Avalokiteshvara mang nghĩa nòng nọc, âm dương, trời trăng qua hình ảnh Phật Bà Nhật Nguyệt của Trung Hoa.  Bồ Tát Avalokiteshvara Tây Tạng cầm caduceus nòng nọc, âm dương, trăng trời giống hệt Phật Bà Nhật Nguyệt Trung Hoa hai tay cầm mặt trăng mặt trời. Ý nghĩa nòng nọc, âm dương, trăng trời của caduceus Tây Tạng in hệt ý nghĩa trăng trời của caduceus của các nền văn hóa cổ Assyria, Hittite và Phoenix.

Ngoài phần nói ở trên, nếu ta đem soi những giải thích biểu tượng Cây Gậy và Một (hay hai) con Rắn của Asclepius hay của Mercury của Hy-La dưới ánh sáng của lưỡng hợp, nòng nọc, âm dương thì ta cũng còn tìm thấy dấu vết ít nhiều ý nghĩa nòng nọc, âm dương của nguồn cội Lưỡng Hà.

Đúng thế, như tôi đã nói ở một email gởi cho tác giả Trịnh Nguyễn Đàm Giang là những tài liệu giải thích ý nghĩa áp dụng cho y học La Hy của biểu tượng này trong bài viết của tác giả Trịnh Nguyễn Đàm Giang cũng mang nghĩa gốc nòng nọc, âm dương nằm trọn vẹn trong thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh, Dịch lý, ví dụ như:

Cây gậy có một khuôn mặt nọc, dương, lửa, cõi dương, sự sống.

Cây gậy năng lực trên đây thường thấy bầy bán ở nhiều tiệm bán đồ ma thuật phù thủy miêu tả một cây gậy như dương vật tượng trưng cho tiềm năng của đàn ông, được cuốn sát quanh bằng hai con rắn đang giao hợp” (1).

Con rắn biểu tượng cho âm, nữ, nước, sự chết, cõi âm.

Rn có mt khuôn mt biu tượng cho âm, n.

.“rắn đã được biết đầu tiên như là động lực làm Eva quyến rũ Adam với trái cấm của Cây Kiến thức” (1).

Cũng nên biết là con rắn quấn quanh thân cây ở vườn Địa Đàng là hình bóng của Eva và Adam. Nguyên thủy cây này là Cây Đời Sống (Tree of Life). Trong Thánh Kinh cây này trở thành cây táo. Cây biểu tượng cho nọc, dương. Người viết Thánh Kinh là ông Ezra đã tạo ra hai nhân vật thủy tổ loài người là ông Adam và bà Eva lấy từ Ai Cập cổ. Theo d=t, Adam = Atam, Atum, thần Mặt Trời Ai Cập cổ dòng lửa, nọc dương ứng với cây táo và theo v=u (như và cơm = ùa cơm, Alexandre de Rhodes, từ điển Việt Bồ La), ta có Eva = Eua = Ea, nữ thần Nước của Lưỡng Hà (4) dòng nước, nòng âm. Eva là người đàn bà đầu tiên của nhân loại tương tự như Nữ Oa của Đại Tộc Việt. Nữ Oa có đuôi rắn, có cốt rắn nên Eva cũng có cốt là con rắn. Adam và Eva có biểu tượng là con rắn quấn quanh cây táo. Điều này cho thấy rõ biểu tượng con rắn quấn quanh thân cây táo tức Nước Eva quấn quanh Lửa (mặt trời) Adam, tức âm dương hôn phối với nhau thì biểu tượng con rắn quấn quanh cây gậy của thần y học Asclepius cũng vậy.

.“ Huyền thoại nguyên thủy về cây gậy thần có đôi rắn cuốn quanh đã được miêu tả trong câu chuyện “Bộ ngực của Tiresias”, chuyện kể nhà tiên tri Tiresias Poulenc thấy hai con rắn đang giao hợp nên dùng gậy thần đâm vào giữa để chia rẽ đôi rắn. Ngay sau đó Tiresias lập tức bị biến thành một người đàn bà trong 7 năm trường. Cái quyền lực biến đổi trong câu chuyện này mạnh đủ để hoàn tất sự đảo ngược ngay cả lưỡng cực thể chất của nam nữ, từ sự hợp nhất của hai con rắn, truyền lên cây gậy” (1).

Tôi giải thích hai con rắn này theo nòng nọc, âm dương, hai con rắn là hai nòng âm nên có khả năng biến Tiresias thành đàn bà, có người trích dẫn truyền thuyết Tây phương không chấp nhận cho rằng trong hai con rắn rõ ràng có một con đực và một con cái. Dù cho rằng có con rắn đực đi nữa thì nó vẫn thuộc dòng nòng, âm ví dụ như Lạc Long Quân có cốt là con rắn nước và là rắn nước đực (vì là đàn ông) nhưng vẫn thuộc dòng nòng, âm, nước nên mới dẫn năm mươi con xuống biển. Truyền thuyết Tây phương thường giải thích theo duy dương với nam tính trội, thường chỉ nhìn bằng con mắt phải (dương), trong khi tôi nhìn theo nòng nọc, âm dương là nhìn bằng hai con mắt phải dương và con mắt trái âm. Đông Tây khác biệt là vậy. Ở đây tại sao tôi lại chọn giải thích theo âm dương? Vì có “sự đảo ngược ngay cả lưỡng cực thể chất của nam nữ”. Trong dương có âm, trong âm có dương, dương tăng thì âm giảm, âm tăng cực đại thì thành dương. “Hợp nhất của hai con rắn lên cây gậy“chính là dạng âm dương nhất thể có nghĩa là cây gậy là một cá thể dương và hai con rắn cũng chỉ là một cá thể âm. Hai cá thể âm dương hợp nhất lại thành Tổng Thể (Totality), Nhất Thể (Oneness).

Con rn có thân hình ngon ngoèo biu tượng cho nước.

Như đã biết rắn có một khuôn mặt biểu tượng cho nước.

Biểu tượng con rắn bằng đồng có tên Nehushtan (của Moses) đã được nhắc đến trong Thánh kinh” (1). Cây gậy có con rắn quấn quanh bằng đồng của Moses này có tên theo Do Thái ngữ là nahash có một nghĩa là con rắn. Nahash có gốc Việt ngữ na- là nước, có nah- = nác, nước, Ấn giáo có con rồng naga gốc rắn nước, Anh ngữ snake có –nak = nác, nước, Lạc Long Quân có Lạc là dạng nam hóa của nác là nước. Rồng Lạc Long Quân có gốc là rắn nước…

Trong lịch sử Ai-cập, rắn giữ một vai trò quan trọng với con rắn hổ mang của sông Nile trang điểm trên vương miện của pharaoh ngày xưa”(1) . Ai Cập cổ có hai vùng là Ai Cập Thượng ở vùng núi cao phía nguồn sông Nile có biểu tượng là con chim kên kên (tức cọc, nọc, dương, lửa) và Ai Cập Hạ ở vùng châu thổ sông Nile, sát Địa Trung Hải có biểu tượng là con rắn hổ mang (tức nòng, âm, nước). Điểm này tương tự như truyền thuyết và cổ sử Việt, Mẹ Tổ Âu Cơ thuộc dòng Chim, Lửa, núi (đem 50 con lên núi) còn Lạc Long Quân thuộc dòng rắn Rồng, Nước (đem 50 con xuống biển)…

Rắn liên hệ với chết, cõi âm

.“Trong thần thoại Hy-lạp, rắn thường được liên kết đến đối kháng chết người và nguy hiểm”…

.”Rắn liên quan đến khoa học gắn liền với chất độc và chết chóc”.

.“Và sau cùng rắn cũng là biểu hiệu cho Satan trong bộ Tân Ước Kinh”(1).

Sng, chết liên h vi tái sinh, hng cu, bt t trong Vũ Tr giáo da trên lưỡng hp nòng nc, âm dương.

Hades than phiền với Zeus rằng càng ngày càng ít người xuống âm phủ, và uy tín của diêm vương Hades có thể bị suy giảm. Hades nêu lên rằng chỉ có thần mới được bất tử, nay nếu Asclepius được phép làm người chết sống lại thì loài người cũng trở nên bất tử” (1).

…..

Như thế biểu tượng Cây Gậy và Con Rắn từ nguồn gốc Assyria, Hittite và Phoenix cho tới khi dùng làm biểu tượng y học của La-Hy đều hàm chứa ý nghĩa lưỡng hợp nòng nọc, âm dương, Vũ Trụ Tạo Sinh, Dịch lý.

 

Bây giờ ta hãy thử tìm hiểu tại sao hai sừng trăng nguyên thủy ở Assyria, Hittite và Phoenix lại biến thành hai chiếc cánh trong caduceus hiện nay. Dĩ nhiên có những giải thích theo La-Hy nhưng tôi xin giải thích theo nòng nọc, âm dương tức theo nguồn cội trăng trời của Assyria, Hittite và Phoenix. Nếu nhìn dưới dạng Tứ Tượng thì mặt trời trên đỉnh cây gậy là Tượng Lửa vũ trụ, cây gậy là Núi Trụ Thế gian tức Tượng Đất dương, hai con rắn là Tượng Nước và hai mảnh trăng sừng ở đây coi như là khuôn mặt dương của âm là thiếu âm khí gió tức Tượng Gió dương (ở đây là gió trăng).

Điều này giúp ta hiểu tại sao trăng sừng gió lại biến thành cánh chim, bởi vì cánh chim biểu tượng cho gió, cánh chim bằng lướt gió. Như thế caduceus có cây gậy, trên có mặt trời, hai con rắn, hai cánh biểu tượng cho Tứ Tượng, giai đoạn sinh thành ở phần cuối của Vũ Trụ Tạo Sinh.

Tóm lại

Biểu tượng một cây gậy thái dương và một con rắn quấn quanh của Asclepius là dạng nòng nọc, âm dương nhất thể hay lưỡng hợp nòng nọc, âm dương tức là dạng sinh tạo ở phần đầu của quá trình Vũ Trụ Tạo Sinh của ngành thái dương. Còn caduceus hai con rắn quấn quanh cây gậy, có hai cánh, mặt trời trên đỉnh cây gậy là dạng Tứ Tượng ở phần cuối của quá trình Vũ Trụ Tạo Sinh.

Để vững tin hơn xin đối chiếu biểu tượng này với chữ viết nòng nọc (xem chi tiết trong chương Chữ Nòng Nọc Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á hay trên blog của tôi).

Cây Gậy-Con Rắn và Chữ Viết, Biểu Tượng Nòng Nọc

Cây Gậy-Con Rắn ruột thịt với chữ viết và biểu tượng nòng nọc. Với những hình dạng, mầu sắc và trang trí khác nhau, mỗi gậy, mỗi loại rắn mang một ý nghĩa ứng với một giai đoạn cùa Vũ Trụ Tạo Sinh. Vì thế cây gậy và con rắn phải hiểu theo mọi khía cạnh dưới lăng kính Vũ Trụ Tạo Sinh. Không phải cây cọc nào, con rắn nào cũng có nghĩa như nhau. Mỗi loại cọc, loại rắn với hình dạng, mầu sắc, trang trí khác nhau mang một ý nghĩa khác nhau trong Vũ Trụ Tạo Sinh. Riêng về rắn, xin xem thêm bài tôi đã viết rất chi tiết về Biểu Tượng Rắn trong Vũ Trụ giáo ở Y Học Thường Thức số 40 tháng 1 và 2, 2001.

Trong các loại này có một loại nọc mang biểu tượng cho nọc I và một loại rắn mang biểu tượng cho nòng vòng tròn O.

Cây gậy là nọc, dương (nói chung là vật nhọn, chim, bộ phận sinh dục nam, lửa, mặt trời, núi trụ, trục thế giới…) rất giản dị, điều này không cần phải nói nhiều chúng ta ai cũng đã biết như vậy. Chỉ xin đưa ra một vài ví dụ hình nọc thấy khắc trên đá (petroglyph) cho thấy cái tính chất tối cổ của nguồn gốc chữ viết nòng nọc như: thứ nhất là của thổ dân Úc châu, cây nọc biểu tượng cho đàn ông, hình vòm chuông úp biểu tượng cho đàn bà; thứ hai là hình nọc lồng vào hình chuông úp của thổ dân miền Tây Nam Hoa Kỳ có nghĩa là làm tình, thứ ba là hình người bắn cung cho thấy cây nọc, cây gậy của phái nam được diễn tả tương đương với mũi tên (vật nhọn).

clip_image002

Người bắn cung khắc trên đá.

(dẫn lại trong Wang Hongyuan, The Origins of Chinese Characters, Sinolingua Beijing, 2004).

 

Con Rắn là nòng, âm (bộ phận sinh dục nữ, nữ, nước, không gian, mặt trời đĩa tròn âm…).

Con rắn là nòng, âm thấy rõ nhất khi diễn tả bằng con rắn cắn đuôi của nó tạo thành hình nòng vòng tròn O. Xin đưa ra vài ba ví dụ:

-Con rắn uraeus của Ai Cập cổ cũng có dạng cắn cái đuôi thành hình nòng vòng tròn.

-Con rắn Ouroboros của Hy Lạp lấy của Ai Cập cổ mà tác giả Trịnh Nguyễn Đàm Giang đã trích dẫn lại trong bài viết:

clip_image004

“Với lời giải thích của Tây phương “Chữ Ouroboros (Hy-lạp) hay Oroboros là một biểu hiệu cổ miêu tả một con rắn nuốt đuôi của chính nó và tạo thành một vòng tròn. Vòng tròn này tượng trưng cho đời người và tái sinh, dẫn đến bất tử” (1). Rõ ràng con rắn nòng vòng tròn O được giả thích theo nghĩa chữ viết nòng O của lưỡng hợp nòng nọc, âm dương, sống chết, tái sinh, hằng cửu, vòng tử sinh của Vũ Trụ Tạo Sinh, của Vũ Trụ giáo mà người Tây phương không nhận ra.

-Mỹ châu: Maya

 

 

clip_image005

 Kukulcan

 

clip_image007

Kukulcan dùng làm vòng “gôn” trong trò chơi bóng của Maya cổ, ở Chichen Itzá (ảnh của tác giả chụp từ một poster).

Maya có con Rắn-Chim tên Kukulcan (Kukulcan là tiếng Việt, Kuku- = chim cúc cu, -can = chăn, trăn) cũng ở dạng ngậm đuôi tạo thành nòng vòng tròn O. Họ thuộc dòng nòng, âm, họ di cư từ vùng duyên hải Nam Á qua Trung Mỹ, một thứ Bộc Việt (giáo sư Kim Định) có tiếng nói liên hệ với Nam Đảo (Bình Nguyên Lộc), với tiếng Việt (Đức Chúa Jesus Nói Tiếng Việt của tác giả). Gần đây phân tích DNA cho thấy Maya ruột thịt với dân vùng Đông Nam Á trong đó có Việt Nam (Nguyễn Đệ, Đặc San HYSVN Florida, số kỷ niệm 20 năm thành lập).

-Cây Tam Thế Yggdrasill của Bắc Âu (Nordic).

clip_image009

 

Cây Tam Thế Yggdrasill của Bắc Âu.

Cây Tam Thế có phần vòm cây biểu tượng cho vòm vũ trụ Thượng Thế được biểu tượng bằng con chim ưng, là loài bay được trên trời. Phần giữa biểu tượng cho Trung Thế tức cõi giữa nhân gian được biểu tượng bằng con hươu sừng là một loài thú bốn chân mang dương tính sống trên mặt đất. Cõi Hạ Thế là phần gốc cây biểu tượng bằng con rắn độc có lưỡi đỏ thè ra ngoài miệng như đang phun ra lửa. Trung Thế lại chia ra ba cõi: cõi trời biểu tượng bằng hình vòm cầu vồng, cõi đất dương thế gian được biểu tượng bằng ngọn núi đá nhọn đỉnh hình tháp (núi dương), hình ảnh của Núi Trụ Thế Gian, Núi Trụ Chống Trời và cõi nước là hồ hay biển nước được biểu tượng bằng con rắn nước (không có trang trí gì cả) ngậm đuôi tạo thành một nòng vòng tròn.

Ta thấy rất rõ ở cây Tam Thế Yggdrasill, con rắn nước đơn giản ngậm đuôi thành vòng tròn là biểu tượng cho cõi nước nhân gian trong khi con rắn độc thè lưỡi đỏ như phun ra lửa ở gốc cây biểu tượng cho Hạ Thế, Âm Thế; Ai Cập cổ có rắn uraeus như đã nói ở trên cũng có nhiều loại, mỗi loại mang một ý nghĩa khác nhau, cũng có con uraeus thè lưỡi phun ra lửa gọi là spitting fire biểu tượng cho chung sự, tang ma, cõi âm; con rắn hai đầu cuộn tròn, một đầu đen, một đầu trắng của người Naga ở Vân Nam có thể mang biểu tượng cho âm dương nhất thể, âm dương còn quện vào nhau tức Trứng Vũ Trụ, Thái Cực (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt), còn Rắn Lông Chim Quetzal của Aztec là nòng dương (dương của âm là thiếu âm khí gió; chim, lông chim có một khuôn mặt biểu tượng cho gió ) vì thế nó là biểu tượng cho Thần Gió…

Vì thế khi lấy rắn làm logo cho y nghiệp hay hội y sĩ xin lấy con rắn không thè lưỡi ra ngoài miệng nếu không thì ông, bà bác sĩ hay hiệp hội bác sĩ đó toàn là bác sĩ… rắn độc cả, là hội y sĩ Diêm Vương ở cõi âm, sẽ giết người không gớm tay vì có bằng “to kill”.

Nói tóm lại, con rắn và cây gậy có một khuôn mặt mang biểu tượng nòng nọc, khi đứng riêng rẽ có thể có những nghĩa khác nhau, tuy nhiên khi con rắn quấn quanh cây gậy thì ưu tiên nếu không muốn nói là “BẮT BUỘC PHẢI” chọn lấy nghĩa Nòng Nọc, Âm Dương Giao Hòa, HÔN PHỐI với nhau. Đây chính là ý nghĩa mà ta phải hiểu của biểu tượng y học của thần y học Asclepius.

Cây Gậy và Con Rắn Trong Truyền Thuyết Và Cổ Sử Việt.

 

Xin thật vắn tắt ở đây, qua ba bộ sử của tôi: sử sách Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt, sử miệng Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt, sử đồng Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á và Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc, tôi đã chứng minh cốt lõi của văn hóa Việt có chủ thể là lưỡng hợp nòng nọc, âm dương, chim rắn, Tiên Rồng, nền tảng của Vũ Trụ giáo và Việt Dịch nòng nọc. Như thế hiển nhiên có hình bóng Cây Gậy và Con Rắn trong truyền thuyết và cổ sử Việt. Xin lấy một ví dụ tiêu biểu: chúng ta có vị vua tổ thế gian đầu tiên của nước Xích Quỉ là Kì Dương Vương có vợ là bà Thần Long hay Long Nữ.

Kì Dương Vương có những khuôn mặt chính sau đây:

-Kì Dương Vương có có nghĩa là Cây, Cọc, Gậy, Trụ Chống như kì đi với kèo, qua từ đôi kì kèo, ta có kỳ = kèo (cọc nhỏ). Kì biến âm với , với cừ (cọc cắm ở bờ nước), với ke, bộ phận sinh dục nam (Alexandre de Rhodes, từ điển Việt Bồ La), theo c= k=qu, ke = que… Kì Dương là Nọc Dương, Nọc Mặt Trời thái dương. Như thế Kì Dương Vương có một khuôn mặt là vua mặt trời Núi Kì, Núi Trụ Thế Gian, Núi Vũ Trụ, Núi Trụ Chống Trời biểu tượng cho Đất dương gian, thế gian.

-Kì có nghĩa là cọc nhọn nên cũng có nghĩa là sừng như thấy qua kì biến âm với gốc Hy Lạp ngữ kera- sừng, với Pháp ngữ cerf, Latin cervus con cọc, con hươu sừng, Maya-Naga Á châu ngữ Keh, con hươu và cũng là con người đầu tiên của nhân gian (theo Jame Churchward, Children of Mu), Keh chính là Kì (Dương Vương) vua tổ đầu tiên của chúng ta. Kì Dương là Con Cọc Đực, Hươu Đực, Con Hươu Sừng và ta cũng thấy Kì Dương ruột thịt với Mã Lai ngữ kijang là con hươu sủa barking deer, munjac (munjac chính là Việt ngữ muông gạc, mang gạc, hươu sừng). Vì thế mà Kì Dương Vương mới có tên mẹ đẻ là Lộc Tục (Hươu Đục, Hươu Đực). Ngoài ra dương còn có nghĩa là mặt trời, Kì Dương là con Cọc Mặt Trời, Kì Dương Vương là vua Cọc Mặt Trời, Hươu Mặt Trời. Ở trên, ta đã thấy trên Cây Tam Thế yggdrasill của Bắc Âu, con hươu biểu tượng cho Trung Thế nhân gian ăn khớp trăm phần trăm với Vua Hươu Sừng Mặt Trời Kì Dương Vương là vua Thế Gian của họ Hồng Bàng Thế Gian của chúng ta.

Còn nhiều nữa nhưng ở đây đã đủ kết luận là Kì Dương Vương là Vua Mặt Trời Núi Trụ Thế Gian trong có Trục Thế giới, có biểu tượng là con Cọc mặt trời, con hươu mặt trời. Kì Dương Vương là mặt trời trên đỉnh Trục Thế Giới, là mặt trời chính ngọ, chói chang nhất (trong khi Hùng Vương là Vua Mặt Trời Mọc và Lạc Long Quân là Vua Mặt Trời Hoàng Hôn) có hình ảnh chính là Cây Gậy có hình mặt trời ở trên giống y chang cây gậy có hình mặt trời trong biểu tượng Cây Gậy có Con Rắn quấn quanh của y học Tây phương.

Vì có một khuôn mặt là Trục Thế Giới nên Kì Dương Vương có tài đi lại ba cõi, đi xuống cõi nước lấy bà Thần Long (Rồng Nước) có cốt là con rắn nước. Như thế Kì Dương Vương Cây Gậy và vợ là Con Rắn Nước hai người lấy nhau tức Con Rắn quấn quanh Cây Gậy. Đây chính là biểu tượng Cây Gậy có Con Rắn quấn quanh của y học Tây Phương. Kì Dương Vương là Núi Đất dương thế gian ứng với Li (lửa thế gian) tức dương và bà Thần Long Rồng Nước ứng với Khảm (nước) âm, cho thấy rõ cây gậy và con rắn quấn quanh là Li Khảm, Lửa Nước hôn phối với nhau. Nọc, cọc mặt trời Kì Dương Vương và con rắn nước Thần Long tương đồng với cây táo Adam và con rắn nước Eva.

Như vậy cây Gậy có Con Rắn quấn quanh phải được nhìn dưới lăng kính của nòng nọc, âm dương của Dịch mới thấu triệt được hết ý nghĩa.

Cây Gậy Liên Hệ Với Chữa Bệnh Trong Truyền Thuyết Và Cổ Sử Việt

 

Truyền thuyết Việt có nói về một vị thần ở núi Tản Viên tên là Kì Mang. Như đã biết Kì Mang là con thú có sừng, con mang có sừng, con hươu sừng. Đây chính là hình bóng của Kì Dương Vương.

Thần vốn là đứa trẻ ở trong rừng được dê rừng nuôi cho bú, chim chóc ấp ủ. Sau thần được một người tiều phu thấy đem về nuôi. Lớn lên theo nghề cha vào rừng đốn củii. Một hôm chặt một cây to đến tối vẫn chưa xong. Sáng hôm sau trở lại, những chỗ đã chặt lại lành lại như cũ. Kì mang chặt nhiều lần khi qua đêm trở lại vẫn xẩy ra cùng hiện tượng như thế. Tò mò một đêm Kì Mang rình xem. Vào khoảng nửa đêm thấy một bà lão hiện ra cầm gậy chỉ vào chỗ cây bị chặt, các vết chặt tự nhiên lành lại như cũ. Kì Mang tức giận nhẩy ra chặn người đàn bà già hỏi cớ sự tại sao. Bà già trả lời bà là thần Thái Bạch đang sống ở cái cây đó nên không muốn cây bị chặt. Kì Mang than là phải chặt cây kiếm sống. Bù lại bà lão trao cho Kì Mang cây gậy thần rồi biến mất. Nhờ cây gậy thần Kì Mang và gia đình sống sung túc và Kỳ Mang cũng dùng gậy làm phép cứu giúp những người nghèo đói bệnh tật. Một hôm Kì Mang đi chơi gặp một con rắn nước bị lũ trẻ giết quăng xác bên đường. Kì Mang dùng gậy thần cứu sống con rắn. Vài ngày sau có người đến tìm tự xưng là Tiểu Long Hầu, con của Lạc Long Quân, đem theo nhiều châu báu vàng bạc đến tạ ơn cứu tử. Anh ta chính là con rắn nước bị lũ trẻ giết chết. Kì Mang theo lời mời của con Lạc Long Quân xuống biển chơi và được Lạc Long Quân cho quyển sách ước… Kì Mang ra tay cứu độ người đời, khi về già lên núi Tản Viên ở luôn trên đó (Lĩnh Nam chích quái).

Thần Kì Mang Tản Viên đội lốt Kì Dương Vương-Thần Long tức đột lốt Cây Gậy-Con Rắn quấn quanh chữa bệnh nhờ cây gậy thần. Cây gậy (là dương) này của nữ thần Thái Bạch (mang âm tính) là một thứ gậy âm dương. Có cây gậy rồi phải nhờ cứu con rắn nước Tiểu Long Hầu, con của con rắn nước cha Lạc Long Quân thì mới được con rắn nước dòng mặt trời âm Lạc Long Quân phụ một tay vào  bằng cách cho quyển sách ước thì cây gậy mới mang trọn vẹn hình bóng cây gậy và con rắn, cây gậy âm dương để chữa bá bệnh.

Đi Tìm Một Biểu Tượng Chính Đáng, Lý Tưởng

Bây giờ ta hãy đi tìm một logo thích đáng nhất làm biểu tượng cho ngành y Việt Nam. Sau đây là ý kiến của cá nhân tôi nhìn bằng cả hai con mắt trái và phải, âm và dương của một thầy thuốc Việt Nam yêu văn hóa lưỡng hợp Tiên-Rồng:

1. Lấy một con rắn thay vì hai con rắn.

Vì sao?

-Vì một con rắn (là một nòng âm) quấn quanh cây gậy (một nọc dương) tức một âm, một dương hôn phối với nhau, âm dương đề huề.

-Âm dương đề huề mới hôn phối theo đúng luật sinh tạo của tạo hóa sinh ra vũ trụ muôn loài. Mọi thứ đều do âm dương sinh ra.

-Âm dương là nền tảng của y lý như đã thấy y lý Đông phương dựa trên âm dương và Tây phương cũng vậy (nhưng không ai nhận ra). Âm dương sinh tạo ra Đại Vũ Trụ, con người là Tiểu Vũ Trụ, con của Đại Vũ Trụ. Sự mất quân bằng ở Đại, Tiểu Vũ Trụ hay giữa con người và vũ trụ tạo ra sự bất an tức bệnh tật như thấy qua từ disease, có dis-, mất, bất, -ease, an, diseasebất an.

-Âm có một khuôn mặt là Chết, Dương là sống. Sống chết liên hệ mật thiết với y học.

-Một con rắn quấn quanh cây gậy diễn tả nòng nọc, âm dương nhất thể (thái cực) hay nòng nọc, âm dương hôn phối (lưỡng nghi) ở ngay giai đoạn đầu của Vũ Trụ Tạo Sinh, Trong khi một cây gậy và hai con rắn như đã biết là dạng sinh tạo ở giai đoạn Tứ Tượng, ở phần cuối của quá trình sinh tạo. Có âm dương mới có tứ tượng, không có âm dương thì không có tứ tượng.

-Một con rắn và một cây gậy chính thống hơn, đa số y giới Hoa Kỳ cho rằng cây gậy của Aesculapius thường được coi là chính đáng hơn, chính thống hơn để biểu tượng cho nghề y (xem ở hình gậy Asclepius ở dưới).

Theo thống kê năm 1992 của Walter J. Friedlander tìm hiểu về cách sử dụng biểu hiệu y khoa ở Hoa kỳ thì 62% nghề nghiệp liên quan đến ngành y dùng cây gậy và một con rắn của Asclepius, còn 76% tổ chức thương mại dùng dấu caduceus (1).

-Chọn một con rắn quấn quanh cây gậy thích hợp với ngành y Việt Nam hơn vì cốt lõi văn hóa Việt là lưỡng hợp nòng nọc, âm dương, Tiên Rồng, Vũ Trụ giáo và Việt Dịch nòng nọc. Như đã thấy cây gậy có con rắn quấn quanh mang hình ảnh của vợ chồng vị vua tổ thế gian đầu tiên của chúng ta là Kì Dương Vương-Thần Long. Chữa bệnh phải chữa cả ba mặt thể xác, tâm thần và xã hội của người bệnh. Chữa người bệnh Việt Nam không phải chỉ chữa phần thân xác giống như thân xác của các tộc người khác mà phải chú trọng tới văn hóa Việt có chủ thể là lưỡng hợp, Tiên Rồng.

2. Cây gậy biểu tượng cho nọc, dương

-Cây gậy phải mang dưong tính tức là một vật nhọn, có đầu dưới nhọn, nếu tô mầu thì phải có mầu đỏ.

-Trên đầu phải có hình mặt trời đĩa tròn xác định là cây gậy dương, gậy lửa, mặt trời, gậy của sự Sống vì mặt trời có một biểu tượng cho sự Sống. Gậy mặt trời đối nghịch với con rắn hình dòng nước, sóng nước có một khuôn mặt là nỗi Chết, cõi âm. Không có mặt trời thì chữa bệnh thiếu mất sự Sống và nỗi Chết của khuôn mặt cõi âm của con rắn sẽ ngự trị. Ông, bà bác sĩ hay hiệp hội y khoa dùng biểu tượng cây gậy không có hình mặt trời đĩa tròn ở trên này chắc chắn chữa bệnh không… mát tay.

Gậy lửa mới hôn phối được với rắn nước.

3. Con rắn biểu tượng cho nòng, âm

Con rắn phải là

-con rắn đơn giản không có trang trí gì, uốn khúc như dòng nước hay sóng nước, có cốt là con rắn nước thuộc dòng nòng, âm, nếu tô mầu thì có mầu đen.

Phải là rắn nước mới hôn phối được với gậy lửa.

-đầu rắn phải quay về phía tay trái tức quay về phía chiều âm. Con rắn âm mới hôn phối được với gậy dương.

-miệng rắn không có lưỡi thè ra. Rắn thè lưỡi ra là rắn độc.

 

Asclepius staff 3

Biểu tượng gậy Asclepius nòng nọc, âm dương đề huề lý tưởng cho ngành y Việt Nam.

(gậy lửa nhọn đầu có mặt trời đĩa tròn ở trên, con rắn nước uốn khúc hình sóng, không có lưỡi lè ra, quay về phía trái, âm, rắn quấn

quanh hết chiều dài của cây gậy).

 

-Cây gậy và con rắn phải cân bằng nhau để cho có nòng nọc, âm dương đề huề.

tức con rắn phải quấn quanh hết chiều dài của cây gậy, đuôi của nó chấm dứt ờ đầu mút dưới cây gậy.

 

Tổng kết

Ta thấy biểu tượng y học T ây phương là  gậy và rắn mang nghĩa nòng nọc, âm dương, trăng trời từ ngàn xưa ở các nền văn hóa cổ xưa Assyria, Hittite và Phoenix, nó cũng có nghĩa biểu tượng cho lưỡng hợp trăng trời thấy ở caduceus của Tây Tạng, qua hình bóng Phật Bà Nhật Nguyệt của Trung Hoa, lưỡng hợp  nòng nọc, âm dương gậy và r ắn c ũng thấy qua truyền thuyết và cổ sử Việt, như thế ta có những chứng cứ vững vàng để k ết luận biểu tượng gậy và rắn của y học Tây phương mang ý nghĩa  dựa trê n nòng nọc, âm dương, Vũ Trụ Tạo Sinh, Dịch l ý. Y giới Việt Nam phải chọn một logo lý tưởng hòa hợp nòng nọc, âm dương, ăn khớp với nền văn hóa lưỡng hợp Tiên Rồng của Việt Nam. Đó là hình logo trên đây. Logo này cũng đã được một số y giới Tây phương dùng.

 

Tài Liệu Tham Khảo

.(1) Trịnh Nguyễn Đàm Giang , Biểu Tượng Ngành Y, Báo Online Chim Việt Cành Nam.

 http://chimviet.free.fr/index2.htm
 
 số 35  ngày 8 tháng 5, 2009.
 .(2) Georges Jean, Signs, Symbols and Ciphers, Discoveries, Harry N. Abrams, Inc., Publishers, 1998.

.(3) Robert Beer, The Encyclopedia of Tibetan Symbols and Motifs, Serindia Publications, London, 1999.

.(4) Nguyễn Xuân Quang, Biểu Tượng Rắn trong Vũ Trụ giáo ở Y Học Thường Thức số 40 tháng 1 và 2, 2001.

Và các tác phẩm khác.

May 11, 2009

GIẢI ĐÁP Y HỌC TRÊN ĐÀI VOA

Filed under: Giải Đáp Y Học Trên VOA — Quang Nguyen @ 7:32 am

GIẢI ĐÁP THẮC MẮC Y HỌC TRÊN ĐÀI TIẾNG NÓI HOA KỲ (VOA).

Muốn xem hay nghe các giải đáp y học xin mời vào địa chỉ voanews.com, chọn phần Tiếng Việt, mục Y Học rồi tìm tên Nguyễn Xuân Quang

hay

http://www1.voanews.com/vietnamese/news/medical-qa/

April 19, 2009

Thượng Mã Phong

Filed under: Thượng Mã Phong — Quang Nguyen @ 7:40 pm

Thượng Mã Phong Cao Máu

Bác sĩ Nguyễn Xuân Quang

Thượng mã phong là gì? Thượng mã phong có nghĩa là “ bị phong trên lưng ngựa”. Theo dân gian Việt Nam thì có hai loại  phong. Thứ nhất là bệnh gì xẩy ra bất thình lình, làm chết người bất thình lình (bất đắc kỳ tử) thì bảo là trúng gió. Ví dụ lên cơn đứng tim (heart attack), đứt gân máu não lăn đùng ra chết thì cho là bị trúng gió, bị tê liệt thần kinh mặt (Bell’s palsy) làm méo miệng cho là do trúng gió… Muốn rủa ai cho chết tươi thì bảo họ bị trúng gió, là « phải gió » (thằng phải gió, đồ phải gió mắc toi)…Loại thứ hai là các thứ bệnh « oái oăm » khó trị thì gọi là phong như phong cùi, phong tình, phong giật, phong ngứa, phong đòn gánh…

Thượng mã phong thuộc loại phong thứ nhất. Thượng mã phong tạm dịch sang Anh ngữ là “Sudden death on the saddle back”. Nói cho dễ hiểu là chết bất đắc kỳ tử trong khi làm tình. Nếu tôi nhớ không lầm thì trước đây có một trường hợp nổi tiếng một dạo ở Việt Nam là có một vị tướng bị “trúng gió” kiểu này, không phải ở sa trường (da ngựa bọc thây) mà ở một quân trường. Đông y có thể giải thích theo quan niệm là bị “phong” của y lý phương Đông. Có người bảo cách chữa trị cấp thời theo phong cách Đông Y hay nhất là người nữ nhổ ngay mấy sợi lông gần hậu môn của người “bị trúng gió ngã ngựa” thì có thể cứu được. Tây Y dĩ nhiên giải thích và chữa trị theo một cách khác. Trong khi làm tình, nhịp tim và áp huyết tăng cao. Huyết áp có trường hợp quá nhậy cảm có thể nhẩy vọt lên tới 50%. Một thí nghiệm làm ở Middlesex, England cho thấy áp huyết tăng cao 48% ở phái nam và 57% ở phái nữ khi làm tình (điểm này cho thấy phái nữ có nhiều người hào hứng hơn phái nam). Sự gia tăng áp huyết này khiến cho một số phụ nữ bị xây xẩm, ngất xỉu trong khi làm tình, gây ra nhức đầu khủng khiếp ở một số phái nam và gây ra tai biến mạch máu não hay đứt gân máu não (stroke) ở cả hai phái. Vì thế bị đứng tim (heart attack) gây ra chứng thượng mã phong không phải là hiếm thấy trong lúc đạt tới đỉnh cao nhất của kích thích.

Những người bị cao máu không ổn định hay dễ chao đảo lên xuống dễ dàng hay cao máu ác tính dĩ nhiên có nguy cơ cao hơn người có áp huyết bình thường.

Ngoài ra cũng nên biết là những cuộc phiêu lưu tình ái cũng có thể phải trả một giá của chúng: chết bất đắc kỳ tử do thượng mã phong thấy xẩy ra nhiều trong các cuộc ngoại tình (những cuộc phiêu lưu tình ái dĩ nhiên làm… lên máu). Chắc chắn ông tướng nọ cũng đã chết trên một mình ngựa…hoang. Hiển nhiên một con ngựa hoang nữ mà “ngựa” quá thì có nguy cơ cao bị thượng mã phong nhiều hơn. Còn những tay “phải gió” thích quất ngựa truy phong hay thích chuyện gió trăng dĩ nhiên chơi dao có ngày bị đứt tay, gặp lúc trái gió trở trời cũng có nguy cơ cao bị trúng thượng mã phong (phải gió mà gặp trái gió thì bị trúng gió quay mòng mòng như trong cơn gió lốc bị chóng mặt lăn quay ra ngay).

Phải hiểu bệnh mới khắc phục được bệnh dễ dàng.

 

HÚT CẦN SA THEO TOA BÁC SĨ

Filed under: Hút Cần Sa Theo Toa BS — Quang Nguyen @ 3:23 pm
 

HÚT CẦN SA THEO TOA BÁC SĨ

Bác sĩ NGUYỄN XUÂN QUANG

 

Cần sa là một trong những cây cỏ dùng làm thuốc giải trí gây ra nhiều tranh luận nhất kể từ trước tới nay. Trước và cho tới gần đây vẫn có những phong trào đòi hợp pháp hóa việc dùng cần sa ở Hoa Kỳ. Mới đây trong tờ báo y học của Hiệp Hội Y Sĩ Hoa Kỳ (JAMA), hai bác sĩ Lester Grinspoon và James Bakalar, tác giả sách “Marijuana, The Forbidden Medicine” (Cần sa, Một Vị Thuốc Bị Cấm Đoán) đã duyệt xét dược tính của cần sa và xin tái cứu xét việc kê toa cho hút cần sa (Marijuana as medicine, JAMA 273:185-186, 1995). Nghĩa là hút cần sa theo toa bác sĩ.

Trước khi xem cần sa có phải thực sự là một vị thuốc hữu ích trong việc trị liệu hay không, chúng ta hãy liếc mắt nhìn qua vài khía cạnh khác của cần sa.

Tại sao gọi là cần sa?

Cần sa có thể do Phạn ngữ “ganja” mà ra, vì nguồn cội nguyên thủy của cần sa mọc ở vùng Caucasus, Ba tư (Persia) và ở vùng đồi núi Bắc Ấn Độ. Sau đó cần sa lan tràn ra khắp nơi trên mặt trái đất. Trước đây người ta đã cho là cần sa ở vùng này mới thật sự là hảo hạng, vì khí hậu nóng giúp cho sự phát triển mạnh của hoạt chất cần sa (cây có nhiều nhựa).

Ganja nghĩa là gì? Theo chúng tôi, ganja gần cận với Phạn ngữ gal-, Mông cổ gar, có nghĩa là tay (tổng quát số ít gar-un). Phạn ngữ garut, gal (danh từ) là wing (cánh; cánh của chim tương đương với tay của người) và theo g=h, gần cận với Phạn ngữ harana (hand; taking; seizing)… Ganja hàm nghĩa là tay, bàn tay. Được gọi như vậy vì lá cần sa xòe ra như bàn tay xòe ngón. Theo g=h, gan(ja)= han = hand.

Theo chuyển hóa g=c (gà=cà, góc = corner) ta có ganja = canja = cần sa. Từ cần gần cận với chân (đọc thêm hơi vào) và cẳng. Chân cẳng là chuyển hóa lệch của tay vì tay, chân, cẳng, cánh, cành như nhau, tất cả Hán Việt đều gọi chung là chi.

Việt ngữ “Cần sa” cũng có thể là mấy chữ đầu của tên khoa học CANnabis SAtiva mà ra. Trường hợp này giống như người miền Trung Nam Việt Nam gọi quả trám là trái cà na là do lấy từ mấy chữ đầu của canarium (trám). Từ marijuana phổ thông ở Hoa Kỳ ngày nay có nghĩa là nàng Mariachàng Juana (Juan). Có lẽ được gọi như thế vì người ta tin marijuana là một thứ thuốc làm cường dương, cường dục, giúp Chàng và Nàng yêu nhau thắm thiết. Nếu quí phái thì Mari và Juan là Cậu Ấm Cô Chiêu, trai anh hùng, gái thuyền quyên. Còn nếu là dân đứng đường đứng chợ thì Mari và Juan là trai giang hồ, gái tứ chiếng, Thằng Ngô Con Đĩ.

Còn tên khoa học, có người giải thích sở dĩ cần sa được gọi cannabalis vì gần cận với từ cannibal, cannibalism, ăn thịt người, vì các tác giả Tây phương đã liên hệ việc một số thổ dân ghiền cần sa và có tục ăn thịt người. Tại Trung Đông, đọt cần sa dùng phơi khô hay trích lấy nhựa gọi là hashish. Kẻ “phi” hashish đâm ra lì lợm và có máu sát nhân, giết người không biết sợ. Hashish được dùng làm “thuốc liều” cho những kẻ giết người, binh lính. Hashishism cho ra từ assassin (ám sát, giết người). Người Trung Hoa gọi cần sa là đại ma.

Vài hàng về thảo dược học

Cần sa là cây mọc quanh năm, cao từ 4 đến 8 bộ hay cao hơn, thẳng đứng, chia nhánh, cọng có góc cạnh. Lá xen kẽ hay mọc đối tẻ ra như ngón tay, có từ 5 đến 7 “ngón” hình mũi mác có răng cưa. Hoa trổ ở nách. Quả hình trứng có một hạt. Ngày nay có loại cần sa lai giống không có hạt gọi là sinsemillas (tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là không có hột), giống này chứa tới 13% hoạt chất (bình thường chỉ có từ 2 đến 6 %). Cây có lông tơ mịn khó thấy bằng mắt thường và sờ có cảm giác dinh dính.

Cần sa đã được con người dùng từ thượng cổ. Cần sa được liệt kê trong danh sách dược thảo của Thần Nông (!) từ năm 2737 trước Tây lịch. Người Scyth cổ thời đã dùng trong các tang lễ. Hột cần sa thấy trong các lọ chôn cất từ thế kỷ thứ 5 trước Tây lịch.

Các phần của cây đều được dùng trong Hoa y. Hột cần sa dùng như chất bổ dưỡng, điều kinh, nhuận trường, trị đau, lợi tiểu, trị sán lãi, sán gan, các chứng hậu sản, mửa bất trị và dùng ngoại khoa chữa lở loét, thương tích, và chốc đầu. Chữa đau bụng, ung thư, lở bao tử, trị bán đầu thống, đau dây thần kinh (neuralgia) và phong thấp (Crevost & Pételot 37: 1000). Hột còn làm thuốc chữa sa dạ con, trợ sinh và trị sốt (Foucaud A., 1953, Contribution à l’étude des plantes medicales du Nord-Vietnam, Trav. Lab. Mat. Méd. Pharm. Gal. Fac. Pharm. Paris 38 (1) p.36.)

Tây phương từ lâu đã dùng làm thuốc trị mất ngủ, đau nhức và làm giảm bứt rứt. Trong U.S Dispensatory, 1918, cần sa được liệt kê như chất ma túy (narcotic) và thuốc chống co bóp (antispamodic). Cần sa dùng để an thần, chữa ý bệnh (hysteria), ưu uất, âu sầu và nhược thần kinh (neurasthenia). Tính chất chống đau và xoa dịu của nó giống như á phiện nhưng hơn á phiện ở chỗ là nó không gây ra táo bón và làm mất ngon miệng (người hút thuốc phiện còm nhom vì không thích ăn). Dùng như thuốc chống co bóp, trị đau rút trong việc chữa trị các chứng như đau nhức dây thần kinh, các chứng ho rụt cổ như ho gà, suyễn; phong đòn gánh, chứng sợ nước và các chứng đau do co rút. Mặc dầu cần sa đã được biết đến từ thời thượng cổ, nhưng mãi cho tới năm 1964, hoạt chất chính của cần sa là delta-9-tetrahydro-cannabinol (THC) mới được nhận diện và tổng hợp. Cần sa chứa tổng cộng 241 hóa chất. Trong đó có 61 chất giống THC gọi là cannabinoids.

Cần sa, một tệ trạng xã hội

Cần sa là một loại cấm dược được dùng nhiều nhất ở Hoa Kỳ, cao điểm là cuối thập niên 60 đầu 70, lúc chiến tranh Việt Mỹ cũng đang ở cao điểm. Cần sa có lẽ cũng đã “tham chiến” trong cuộc chiến này. Tổng thống Clinton, bị một số người coi là kẻ “trốn lính”, cũng đã từng thú nhận là đã hút cần sa nhưng chỉ “hút” và “phà” khói ra chứ không hít vào phổi khi còn là sinh viên vào thuở đó. Lúc đó có tới 50 triệu người Mỹ hút cần sa ít nhất là một lần. Tỉ số cao nhất ở giới thành niên tuổi từ 18 đến 25, chiếm tới 21 triệu, kế tiếp là giới vị thành niên tuổi từ 12 đến 17, chiếm 7 triệu người. Lá cần sa được dùng làm cờ, phướn, vật biểu cho trào lưu “Phản văn hóa” (counter culture), chống cưỡng bách (anti-authoritarianism) và chối bỏ vật chất, duy vật (materialism).

Mặc dầu ngày nay con số đã giảm bớt nhưng giới học sinh trung học Mỹ một số lớn vẫn còn hút cần sa hàng ngày. Hút cần sa đã làm cho sự học hành bê bết. Số học sinh bỏ học ngang hay không vào đại học gấp đôi so với những sinh viên không dùng cần sa. Những học sinh ghiền cần sa thường ghiền nghiện các thứ khác nữa như uống bia, rượu. Năm 1982, số cần sa thu hoạch hàng năm ước tính là 10 tỉ Mỹ kim.

Theo đúng định nghĩa danh từ y học thì cần sa không phải thật sự là một chất ma túy “narcotic”, không phải là “chất sinh ra ảo giác” (hallucinogen). Cần sa không gây ra “ghiền nghiện” (addicting), cũng không gây ra ảo giác ngoại trừ khi dùng với một liều lượng thật cao. Tuy nhiên, những nghiên cứu khác chứng minh rõ rằng cần sa có tác dụng trong một tầm rộng lớn về tâm lý và sinh học, một số trong đó, ít nhất trong vài điều kiện làm tổn hại đến sức khỏe con người.

Tác Dụng Dược Học

Khi khám bệnh một người, bác sĩ khó có thể biết người đó ghiền cần sa hay không dù ngay cả trong trường hợp người đó đã dùng kinh niên. Những người dùng dài lâu từ 10 đến 30 năm thường chỉ có những triệu chứng khó chịu về đường ruột và xuống cân.

Hoạt chất THC trong cần sa có những tác dụng như sau:

- Tim mạch:

Làm gia tăng mạch từ 30 đến 60%, làm tăng lưu lượng tim, nhưng ngược lại, làm giảm lưu thông máu ngoại biên (khiến tay chân lạnh, tê…).

- Hô hấp:

Làm giảm trao đổi không khí trong phổi tạm thời; dùng kinh niên cuống phổi bị co thắt gây khó thở; làm nở cuống phổi ngay khi mới hút (khiến người ghiền kinh niên thấy cần hút để có cảm giác dễ thở).

- Máu:

Dùng kinh niên đôi khi thấy suy giảm việc máu lấy oxygen.

- Miễn nhiễm:

Đôi khi thấy có sự kềm hãm hoạt động bạch huyết cầu đơn hạch T (T lymphocytes).

- Nội tiết:

Làm giảm lượng kích thích tố nam (testosterone) trong máu khi dùng lượng cao.

- Mắt:

Nở hay co con ngươi; giảm áp suất trong mắt.

- Thân nhiệt:

Đôi khi thấy giảm thân nhiệt.

- Dinh dưỡng:

Mới dùng tăng ngon miệng; lên ký vì ít hoạt động.

- Thần kinh:

Đôi khi thấy thay đổi não điện đồ EEG (Electroencephalogram); tăng hoạt động hệ thần kinh đối giao cảm và giảm hệ giao cảm.

- Tâm thần:

Chưa có sự đồng ý thống nhất nào rõ ràng về hậu quả của cần sa. Có khảo cứu cho rằng cần sa làm hư tổn nhiệm vụ tương đối của hai bán cầu não về nhận thức. Cần sa tinh tế hơn rượu, dùng lâu dài, óc sẽ khó tránh khỏi bị độc tính của cần sa.

- Sự diễn đạt vận động và trí não:

Khảo cứu cho thấy ở những người mới dùng hay dùng kinh niên dù với lượng nhỏ cũng có sự rối loạn về điều hợp vận động. Tùy theo lượng dùng, cơ thể mất quân bằng và sử dụng vụng về tay và bàn tay. Phản ứng với các kích thích âm thanh và ánh sáng trì trệ. Thời gian sinh học của người dùng cần sa rối loạn. Thời gian kéo lê thê. Nói chuyện không đâu vào đâu với những ngôn từ và ý tưởng trên trời dưới biển… Và còn nhiều thứ còn đang tranh cãi.

Cần sa và tình dục

Cần sa dù sao cũng được coi là chất hưng phấn (euphoriant drug). Freud đã nói: “Óc phục dịch cho tuyến sinh dục”. Y học ngày nay đã chứng minh lời nói này. Những cơ chế sinh hóa và sinh lý học của não “thảo chương” (program) các chức năng tình dục. Đồi hạ thalam trên não (hypothalamus) kiểm soát việc tiết ra các kích thích tố hướng động tuyến sinh dục gonodatrophins ở tuyến yên (pituitary gland) và các “trung tâm khoái lạc” (pleasure center) của bó giữa não trước (medial forebrain bundle). Các chất hưng phấn tâm động (psychoactive) tác dụng lên trên trung tâm khoái lạc.

Từ cổ thời ở Ấn Độ và các quốc gia Hồi giáo, như trên đã nói, đàn ông cho rằng cần sa làm gia tăng dũng tính, hùng tính (đó là lý do đàn bà ở các xứ này cấm không được dùng cần sa). Ngày nay những người dùng cần sa cho là cần sa làm tăng sự diễn xuất tình dục và khoái lạc. Điều này có thể giải thích, THC trong cần sa là một chất hưng phấn kích thích lên trung tâm khoái lạc trên óc (ở người thường trung tâm này cũng được kích thích khi làm tình). THC làm cho sự vận truyền cảm giác chậm lại khiến cho người dùng có cảm giác chủ quan là cực khoái được lâu dài. Tuy nhiên chưa có bằng chứng nào xác định điều này. THC không những chỉ tác dụng lên trung tâm khoái lạc mà còn tác dụng lên nhiều phần cảm giác khác của não tùy theo tâm thái của người dùng. Nếu lúc đó người dùng đang trong lúc lãng mạn, thanh thản trong một khung cảnh đầm ấm, thoải mái, thú vị, thì có thể sẽ thấy khoái cảm gia tăng, trái ngược lại, có thể sẽ cảm thấy nghi kỵ, lo âu và bất an. Tác dụng cường dương chỉ thấy khi dùng liều nhỏ. Với liều lớn, cần sa có tác dụng như rượu, vừa kích thích vừa hủy diệt: kích thích sự thèm muốn nhưng làm mất đi sự diễn xuất. Những người nghiền rượu và cần sa, nghĩ và nói rất nhiều mà làm chẳng tới bao nhiêu.

Mặc dầu thỉnh thoảng dùng cần sa có thể làm gia tăng nhục cảm chút đỉnh, nhưng khi dùng đã thành thói quen rồi, nó sẽ đưa đến những hậu quả trầm trọng về chức năng hoạt động của cơ quan sinh dục nam cũng như nữ.

- Tác dụng trên chức năng sinh dục nam:

Các kết quả khảo nghiệm cho thấy dùng cần sa hàng ngày làm giảm lượng cũng như tính chất của tinh trùng. Điều này chứng minh những gì Galen từ thế kỷ thứ 2 sau Tây lịch đã nói: “cần sa làm khô cạn tinh khí”.

- Tác dụng trên chức năng sinh dục nữ:

Như đã biết, điều hòa sự trưởng thành, rụng trứng và kinh kỳ là do đồi hạ thalam điều khiển, khiến tuyến yên tiết ra các kích thích tố gonadotrophins. Một lượng nhỏ THC cũng đã ảnh hưởng lên sự điều hòa sự tiết kích thích tố vừa kể. Kết quả của sự xáo trộn kích thích tố này đưa đến chứng kinh nguyệt bất thường và không rụng trứng. Ở chuột và khỉ, cần sa còn có tác dụng độc trên phôi thai làm thai nhi chết khi sinh ra. Với trẻ em bú sữa mẹ, cần sa có thể sang cơ thể trẻ qua sữa mẹ.

Tóm lại, cần sa không thật sự là một chất cường dục. Hơn thế, nó còn gây những hậu quả tai hại. Nhất là ở giới trẻ tuổi dậy thì, cần sa có thể làm xáo trộn kích thích tố đang thời kỳ khởi sự hoạt động.

Cần sa là một vị thuốc?

Như đã nói, từ cổ thời, Đông Tây đã dùng cần sa làm vị thuốc. Vấn đề mới đây được nêu ra ở Hoa Kỳ là xin tái cứu xét để bác sĩ có thể viết toa cho dùng cần sa chữa bệnh.

Năm 1970, Điều Lệ về Chất Kiểm Soát Đồng Nhất (Uniform Controlled Substances Act) xếp cần sa vào Bảng I (Schedule I), coi cần sa là chất có tiềm năng cao gây ra lạm dụng, thiếu các chỉ thị y học khả dĩ chấp nhận được và coi như không an toàn. Năm 1972, Tổ Chức Quốc gia Cải cách Luật Cần sa (National Organization for the Reform of Marijuana Laws) đòi đổi qua bảng II, thay đổi này giúp bác sĩ viết toa hợp pháp. Năm 1988, Drug Enforcement Administration (DEA) cho rằng có thể dùng cần sa trong vài trường hợp đặc biệt dưới sự giám sát y học nhưng vận động đổi qua bảng II bị đánh bại vào năm 1989.

Hiện nay có một thể dạng của THC bán theo toa để trị ói mửa và làm ngon miệng là chất dronabinol với nhãn hiệu Marinol (gồm có delta-9-THC trong dầu mè dưới dạng viên bọc). Sau đây là những tác dụng của Marinol:

1. Trị nôn mửa:

Y giới ngày nay đã thừa nhận là cần sa làm giảm buồn nôn và ói mửa ở những người ung thư đang được chữa bằng hóa chất. Năm 1985, Cơ Quan Kiểm Thực Dược (FDA) đã chấp thuận cho dùng Marinol. Những người bệnh ung thư trị bằng hoá chất hay bị ói mửa; có người ói mửa đến độ gẫy xương sườn, rách thực quản và xuống cân nguy tới tính mạng (vì ung thư vốn đã làm mất cân).

Hiện nay có những thứ thuốc trị ói mửa như prochlorperazine (Compazzine) tuy hữu ích nhưng không trăm phần trăm hiệu nghiệm. Hiệu nghiệm hơn, có thuốc ondansetron (Zofran), xuất hiện ngoài thị trường thời gian gần đây. Trong trường hợp các thuốc này vô hiệu quả, phải cần tới Marinol. Tuy nhiên nếu bệnh nhân ói mửa nặng, thuốc viên Marinol trở thành vô dụng. Bác sĩ nghĩ tới việc cho bệnh nhân hút cần sa. Qua đường phổi tránh khỏi bị ói mửa ra, lượng chất THC trong cần sa hít vào sẽ đáng tin cậy hơn. Năm 1990, Doblin và Kleiman so sánh việc hút cần sa và uống Marinol trị ói mửa. Hai phần ba bác sĩ tham dự báo cáo là hút cần sa có hiệu quả 50% trường hợp, trong khi chỉ có 56% bác sĩ báo cáo là có tác dụng giống như uống Marinol.

44% bác sĩ chuyên khoa về ung thư thú nhận rằng họ đã lén khuyên bệnh nhân của họ tìm đến cần sa để làm giảm bớt ói mửa.

2. Trị cao áp suất mắt hay cườm xanh (glaucoma):

Glaucoma là chứng bệnh cao áp suất trong mắt mà có người đã dịch là cườm xanh. Người bị chứng cườm xanh lâu ngày tròng mắt cứng và có màu xanh lá non hình vòng (vì thế có tên là cườm xanh).

Như trên đã biết, cần sa có tính chất làm giảm áp suất trong mắt. Thử cho người bệnh glaucoma hút cần sa thấy áp suất mắt giảm xuống kéo dài khoảng 4-5 giờ. Trong sách của Grinspoon và Bakalar nêu ra là nếu bệnh nhân bị nặng và bị các phản ứng phụ của các thuốc hiện có để trị glaucoma, cần sa có thể là một giải pháp. Tuy nhiên tác dụng hạ áp suất mắt của cần sa còn cần nhiều khảo cứu và thời gian quan sát nữa. Mặt khác, ngày nay với phẫu thuật dùng tia Laser trị glaucoma sẽ không cần tới cần sa, một vị thuốc có nhiều độc hại.

3. Giúp ăn ngon miệng:

Sách vở ghi nhận rằng những kẻ ghiền cần sa hay ăn vặt, nhấm nháp luôn mồm. Cần sa đã được ghi nhận là làm đói bụng và thèm ăn.

Hiện nay có vài thứ thuốc trị bệnh được dùng “lệch lạc” đi để chữa chứng ăn mất ngon miệng như một vài thứ thuốc trị ưu uất, ví dụ amitryptyline (Elavil), làm cho lên cân. Tuy nhiên các loại thuốc này có những phản ứng phụ và chưa được chính thức khảo cứu đàng hoàng trong việc dùng chữa chứng xuống cân vì không ngon miệng.

Trong những trường hợp bị gầy mòn như trong bệnh AIDS mà ở châu Phi dân dã gọi là chứng “sài mòn”(!) do mất ngon miệng không ăn được. Nhiều khảo cứu cho người bị AIDS hút cần sa. Bệnh nhân báo cáo là họ thấy đói và thèm ăn, ít ra cũng là về phương diện chủ quan. Những người bị ung thư đến giai đoạn chót cũng bị mất cân vì không còn muốn ăn nữa. Tuy nhiên còn cần phải nhiều khảo cứu nữa mới có thể rút tỉa ra được những kết quả khả dĩ có thể tin cậy được.

4. Làm dãn bắp thịt:

Co rút bắt thịt vân và trơn tạo ra đau đớn như khi bị vọp bẻ, bị thương tổn tủy sống, đau bụng thường, đau bụng đẻ… Những thuốc chống co rút bắp thịt hiện có nhiều khi vô hiệu quả. Hai tác giả trên nêu ra việc sử dụng cần sa trong các trường hợp đau đớn do co rút bắp thịt quá độ. Năm 1990, các bác sĩ thần kinh Thụy-sĩ tường trình là THC làm giảm đáng kể sự co rút bắp thịt ở những người bị liệt bại.

Ngoài những dược tính trên cần sa còn được đề nghị dùng trong các bệnh khác như multiple sclerosis, động kinh, bán đầu thống (migraine), đau nhức kinh niên…

Dựa vào những dược tính trên hai tác giả Grispoon và Bakalar xin tái cứu xét cần sa hầu các bác sĩ có thể kê toa hợp pháp. Dĩ nhiên đây là một vấn đề liên hệ tới đạo lý, xã hội, luật pháp…, còn nhiều điều phải xét tới và cân nhắc. Nhưng hiện nay nhiều nơi ở Hoa Kỳ, trong đó có California, đã hợp pháp hóa cần sa trong một vài lãnh vực y học.

Bác sĩ Nguyễn Xuân Quang

April 16, 2009

SÂM VÀ HỘI CHỨNG LẠM DỤNG SÂM

Filed under: Sâm, Lạm Dụng Sâm — Quang Nguyen @ 6:32 am

              SÂM VÀ HỘI CHỨNG LẠM DỤNG SÂM

     (GINGSENG  AND GINSENG BUSE SYNDROM  or  GAS  SYNDROME)

clip_image002

                                              NGUYỄN-XUÂN-QUANG

· Tên dược thảo: Radix Ginseng

· Tên thảo mộc: Panax ginseng C.A. Mey.

· Tên Trung Hoa Rén Shèn (Quan thoại).

· Tên Nhật: Ninjin

· Tên Đại hàn: Insam.

· Tên Mỹ: Ginseng root.

Nhân sâm thường gọi tắt là sâm được người Đông phương coi như là một thần dược, một thứ thuốc trị bá bệnh, một thứ thuốc tiên, thuốc thánh. Vì thế người Trung Hoa còn gọi nhân sâm là Thần Thảo. Sâm là một vị thuốc danh tiếng nhất trong Đông Y. Sâm đã được vinh danh từ cổ thời. Sách Thần Nông Bản Thảo, Nội Kinh đã nói đến sâm. Hoa Đà thời Tam Quốc đã viết trong sách Trung Tàng Kinh Luận bàn nhiều về tính cách của vị thuốc nhân sâm. Ngày nay sâm cũng vẫn còn được tôn vinh. Đại Hàn trước đây được thế giới biết tới nhiều là nhờ nhân sâm.

Dựa vào ý nghĩa sâm là thần dược đó, người Tây phương đã dịch nhân sâm là ginseng xếp vào loại Panax. Chữ Panax phát gốc từ chữ Panacea có nghĩa là thuốc trị bá bệnh, thần dược. Danh từ Panacea này rút ra từ truyện thần thoại Hy Lạp. Thần Y Học Asclepius có người con gái chữa bệnh rất giỏi. Nàng rất mát tay chữa đâu khỏi đấy, không bệnh gì chữa không khỏi, chữa bá bệnh, bệnh nào cũng chữa khỏi. Nàng tên là Panakeia. Từ tên nàng Panakeia phát sinh ra từ Panacea và panax.

Ngày nay dân Tây phương dùng sâm rất nhiều và vì bản tính thái quá nên đã có nhiều trường hợp bị ngộ độc sâm gọi là Hợp Chứng Lạm Dụng Sâm Ginseng Abuse Syndrome, gọi tắt do ba chữ đầu G-A-S ghép lại là GAS Syndrome (xin đừng lầm với Hợp chứng Hơi!).

Đặc Tính Thảo Mộc:

Sâm thích mọc ở những vùng đồi núi ẩm thấp, dưới bóng rợp của rừng cây um tùm, rậm rạp.

Sâm có rễ quanh năm, mỗi năm nẩy chồi mọc thành cọng thân tròn, trơn, cao chừng 1 bộ, tại đỉnh tẽ ra 3 cuống lá. Muỗi cuống có lá kép gồm 3-7 lá nhỏ, thường thường trung bình 5 lá. Hoa nhỏ, xanh xanh, xếp theo hình tán đơn đỡ bởi cuống hoa. Quả gồm những trái nhỏ hình thận màu đỏ son, có chứa 2, đôi khi 3 hột.

Rễ dài từ 1-3 inch, mọng thịt, to bằng ngón tay. Thường chẻ hai ở dưới trông giống hai chân người. Đó là lý dó người Trung Hoa gọi là nhân sâm. Tận cùng và dọc theo thân có những rễ phụ gọi là nhân sâm chi (bán trên thị trường dưới tên là nhân sâm bách chi, rễ phụ chia nhánh tới trăm lần vẫn còn được gọi là chi) và những rễ sợi nhỏ dài trông như râu tóc gọi là nhân sâm tu. Những râu nhỏ đâm ngang thân rễ cái gọi là sâm nhị hồng.

Khi khô, rễ sâm màu vàng trắng và nhăn nheo ngoài mặt. Những vành nhăn ngang này gọi là hoành văn. Sâm mọc tự nhiên càng có nhiều vành nhăn càng lớn tuổi. Sâm Cao Ly (Đại Hàn) “cứ xem bao nhiêu vành là biết củ sâm ấy đã mọc được bao năm rồi” (Nguyễn Văn Minh, Dược Tính Chỉ Nam, tr.470).

Lõi rễ cứng bao bọc bởi phần thịt và vỏ mềm. Có mùi ngọt nhẹ, hơi thơm. Nhiều nơi trước khi làm khô người ta làm cho rễ trong sáng khiến nó trông trong suốt và giống như sừng.

clip_image004

Sâm Việt Nam gọi là Bố Chính Sâm.

 
  clip_image006

                                                        

Giải tự từ Hán sâm có chữ nhân là người. Chữ sâm mượn âm chữ sam clip_image002[4]  gồm có ba gạch như chữ tam (ba) nhưng viết nghiêng tượng hình cho lông, lông dài. Ba gạch tượng hình cho vằn lông, bờm lông, “râu ria ba si“.

Chẳng hạn như từ sam thấy trong bộ tiêu: clip_image008 tóc, râu, lông dài và thấy trong chữ phát (tóc) clip_image007,

chữ tu (râu).clip_image009

 

.(Đây là lý  do những sợi rễ sâm nhỏ gọi là sâm tu).

Trên đầu chữ sâm có chóp gồm có ba chữ “tư” clip_image002[6] 

xếp theo hình cái nón lá, cả chữ sâm trông như người đội nón lá. Tôi khám phá ra một điều lý thú là cái nón 3 chòm lá trên chữ sâm diễn tả phần ngọn cây nhân sâm tại đỉnh tẽ ra ba chòm lá kép.
 

Tán rộng thêm ra nữa là cây sâm đội nón lá 3 chòm nên kỵ nắng, sợ nắng, chỉ mọc trong bóng rợp, dưới sàn rừng cây um tùm rợp bóng mát, người Đại Hàn trồng sâm phải làm liếp che nắng cho sâm.

Hơn thế nữa, chữ âm đồng âm với chữ sâm clip_image002[8]

 
viết bằng ba chữ mc (cây) tụ lại mà thành, có nghĩa là rậm rạp um tùm, (ba cây chụm lại thành rậm rạp, um tùm. Rậm rạp hơn cả chữ “lâm” là rừng chỉ do hai chữ mộc hợp lại). Sâm mọc ở chỗ rừng cây rậm rạp um tùm. Muốn tìm sâm mọc trong thiên nhiên (dã sơn sâm) phải đến những chỗ “sâm” (chỗ rợp, có bóng mát) mới có sâm!
 
clip_image006[1]

Đúng ra phải giải tự chữ sâm như sau: bộ sam có nghĩa là hình dáng, màu sắc. Sam là một phần của chữ hình: clip_image012có nghĩa là hình dáng, hình tượng bởi vì ngày xưa dùng lông thú (sam) như lông thỏ làm bút lông để vẽ hình, viết chữ. Giải tự theo cách này, chữ sâm có nghĩa là có hình dáng giống người, giống người trên đầu đội nón ba chòm lá che nắng, sợ nắng, thích bóng mát, bóng rợp, thích dâm (mát).

Ngày nay, để giản tiện cách viết, người Trung Hoa đã giản lược bớt chỉ viết một chữ “tư” trên đầu chữ nhân, thay vì ba chữ “tư” như trước. Đây này là một điểm đáng tiếc và cũng chứng tỏ người Trung Hoa đã mấy ngàn năm rồi mà không hiểu ẩn ý người sáng tạo ra chữ sâm trên đầu viết ba chữ “tư” là dựa vào ba chòm lá trên đỉnh đầu cây sâm mà tác giả đã khám phá ra. Viết giản lược như vậy, người học về cây sâm mất đi một cách nhớ là chỏm cây sâm có ba chòm lá khi nhìn vào chữ sâm viết theo cách giản tiện (thì cây sâm chỉ còn có một chòm lá!).

Vậy cây sâm dáng tựa như hình người có râu ria, đầu đội nón lá ba chùm, sợ nắng, thích bóng mát.

“Sâm thì phần nhiều các sách viết là Nhân sâm bởi nghĩa là con sâm nó giống như hình người cũng có đầu có mình rễ chánh tựa như chân tay. Tuyệt nhất là cái gốc nếu nó thắt cổ trông rất giống đầu người rồi lại phụ thêm mấy cái rễ con nhỏ xíu hình như bộ râu thật, có củ đẹp trông rất ngộ” (Nguyễn Văn Minh, Dược Tính Chỉ Nam, tr.469).

 
 
  clip_image002[10]

 

 

Một điểm lý thú nữa là sâm được coi như là một thứ thuốc cường dương. Và thuốc cường dương kích thích tố nam (androgen) là chất làm cho râu tóc mọc rậm rạp. Sâm có chứa những hoạt chất thuộc nhóm nang thượng thận, bà con họ hàng với kích thích tố nam. Râu tóc là biểu tượng của hùng tính, của nam tính, các quan hoạn thường mày râu nhẵn nhụi. Nam tu nữ nhũ. Chữ sâm có bộ sam diễn tả “lông tóc” “rậm rạp, um tùm” viết ở giữa hai chân chữ nhân!

Quả đúng là thâm nho! Chữ sam ở đây nói lên dược tính cường dương của sâm.

Nói tóm lại chỉ nhìn chữ sâm ta có thể nhớ đến:

. Thảo mộc tính của cây sâm hình dạng giống người, có nhiều lông tóc (sâm tu, sâm bách chi, sâm nhị hồng) đầu đội nón lá ba chòm, sợ nắng, thích bóng rợp, “thích dâm”! (vừa ưa bóng mát, vừa là thuốc cường dương). Dược tính của sâm có thể làm mọc râu ria xum xuê, lông tóc giữa hai chân râm rạp. Sâm là chất cường dương. Dùng sâm, con người sẽ “thích dâm” (dâm dục). Sâm thích dâm (bóng mát), người dùng sâm cũng thích dâm.

Nhân Sâm Thần Thảo Panax

Sâm có 22 giống nhưng chỉ có các giống thuộc họ thần thảo panax mới có dược tính mà thôi, nên chỉ xin nói qua các loại sâm thuộc họ này. Họ sâm thần thảo có bốn loại chính:

1. Panax qinquefolius: Nhân sâm Hoa Kỳ, Tây Dương Sâm:

Sâm Mỹ mọc ở những vùng đồi núi thuộc các tiểu bang miền bắc, trung và tây Hoa Kỳ.

Một số các bộ lạc thổ dân da đỏ có nguồn gốc cổ Á châu vượt eo biển Bering qua Mỹ Châu vốn đã biết dùng và tôn sùng sâm, nên mò tìm ra sâm Hoa Kỳ này. Họ dùng sâm này làm thuốc ái ân, làm thuốc cường dương, bổ thận.

Sâm Mỹ có hai loại:

a. Panax qinquefolius (năm lá):

 
  clip_image002

Là loại thường thấy, 90-95 % thâu hoạch từ những cây mọc dại (gọi là dã sơn sâm Hoa Kỳ) hay được trồng trọt tại Mỹ và Canada. Một thời sâm này đã xuất cảng bán qua Trung Quốc rất nhiều.

b. Hồng sâm Hoa Kỳ (Red American ginseng): Rumex hymenosepalus (polygonaceae):

Cây này nguồn gốc ở vùng tây nam Hoa Kỳ, sau đó được trồng ở nhiều nơi. Rễ được đem bán dưới tên là sâm hồng Hoa Kỳ. Rễ củ trông giống củ thược dược màu vàng. Thổ dân Navajos dùng làm thuốc nhuộm len sợi. Thổ dân Hopi và Papago dùng rễ cây này làm thuốc trị cảm cúm và đau cổ họng. Sau đó người MỸ nhất là dân Texas dùng làm thuốc cây nhà lá vườn trị cảm cúm, răng lung lay, đau cổ họng và lở lói. Các thổ dân Hoa Kỳ dùng cuống lá làm bánh.

Những người cung cấp, buôn bán “hồng sâm Hoa Kỳ” gán cho là rễ cây này có dược tính giống như nhân sâm, nhất là về phương diện cường dương. Sự thật không có bằng chứng nào “sâm hồng” này giống nhân sâm. Rễ loại cây này có chứa một lượng lớn chuyển hóa chất anthraquinone có dược tính nhuận trường. Vì thế nếu mua sâm uống mà bị tiêu chẩy phải nghi là mình đã mua phải loại sâm hồng Hoa Kỳ này. Sâm hồng Hoa Kỳ thật sự không phải là sâm.

2. Panax pseudo-ginseng: Nhân sâm thần thảo giả: gốc ở Viễn Đông. Dr H. L. Li cho rằng tất cả các loại sâm trồng ở trung, tây, nam Trung Quốc đều thuộc về các giống từ Ấn Độ và nhân sâm loại Panax giả.

3. Panax japonicus: sâm Nhật Bản, Đông Dương sâm, Đông sâm.

(Người Trung Hoa gọi Nhật Bản là Đông Dương không có ý nói Đông Dương Việt Cambodia, Lào)

Gốc ở Nhật được trồng nhiều ở vùng núi Đông Dương, Vân Nam (Pételot A., Les Plantes du Cambodge, du Laos et Du Vietnam. I. Arch. Recherces Agron., 1952, 1:402)

4. Panax ginseng: Nhân sâm Thần thảo.

Thấy mọc ở Mãn Châu và Đại Hàn.

DƯỢC TÍNH CỦA NHÂN SÂM

Theo Đông Y, sâm vị cam (ngọt), hơi đắng, hơi ấm. Sâm vào hai kinh chính là tỳ (spleen) và phế (phổi)

Như trên đã nói Sâm gồm có 22 giống nhưng chỉ có những giống có họ hàng với giống thần thảo panax mới có dược tính và được coi là tốt. Nhiều loại sâm thương mại bán ở thị trường chẳng có chứa một hoạt chất có dược tính trị liệu gì cả. Sâm là một dược thảo đắt tiền nhất. Vì thế mua phải chọn đúng giống panax cho đáng đồng tiền bát gạo và không bị lừa. Các loại thuộc giống Ethelerococcus senticosus (sâm Tây Bá Lợi Á) không có hoạt chất glycosides và loại hồng sâm Hoa Kỳ, hay sâm sa mạc Rumex Hymenosepalus (còn gọi là Canaigre) có chứa tannin và oxalate rất có độc tính và làm tiêu chẩy.

Sâm được coi như là một thứ thuốc giúp con người thích ứng với hoàn cảnh (adaptogen). Nó giúp cơ thể con người thích ứng với những kích động, kích thích, với những biến động, với stress. Sâm điều hòa tuyến nang thương thận, tuyến giáp trạng (tuyến nội tiết ở cổ có hình giống cái khiên, cái giáp, thyroid gland) và tuyến não thùy. Sâm vì thế làm gia tăng biến dưỡng, làm điều hòa huyết áp và lượng đường trong máu. (xin mở một dấu ngoặc ở đây, vì thế người ta hay đổ sâm vào miệng những người hấp hối sắp chết để làm tăng áp huyết và lượng đường cho con bệnh hồi tỉnh. Các người tuyệt thực uống sâm để chữa những triệu chứng thiếu đường trong máu hypoglycemia cho đỡ bớt thấy đói, lao đao, xây xẩm, muốn xỉu, vã mồi hôi, trống ngực đổ hồi, bủn rủn tay chân…).

Nhân sâm có 13 chất khác nhau dưới dạng saponin. Mỗi chất có một tác dụng riêng. Trong một cây các saponin này có thể kết hợp lại với nhau hoặc không và tính chất thay đổi tùy theo vùng địa lý, điều kiện trồng trọt và thời gian gặt hái.

Hoạt chất của sâm gồm một hỗn hợp các chất glycosides còn gọi là gensinosides thuộc nhóm chất steroid. Một vài glycosides sâm dưới dạng đậm đặc có năng tính gây ra ngộ độc. Một vài loại chỉ có bổ tính khi đem chích, nếu uống hoặc dùng các cách khác trở thành vô bổ. Phần xử dụng thông thường nhất là dễ sâm. Phân tích 100gam rễ nhân sâm thấy có chứa 338 calorie, 12.2g protein, 70g carbohydrate, những loại sinh tố A, B1, B2, B12, C và E, Niacin, Calcium, sắt và phốt pho.

Ở Trung Quốc có khi cho dùng tới liều thật mạnh 50g. Dùng quá liều sẽ đưa tới chứng mất ngủ (xin mở một dấu ngoặc nơi đây, người nhậy cảm với sâm không nên uống sâm buổi chiều hay tối sẽ bị mất ngủ), ưu sầu, trầm cảm (depression) và các biến loạn thần kinh. Tại Hoa Kỳ hơn 6 triệu người dùng sâm và đã có nhiều trường hợp ngộ độc sâm gọi là Hội Chứng Lạm Dụng Sâm (Ginseng Abuse Syndrome hay GAS syndrome).

SẢN PHẨM

Cơ Quan Kiểm Thực Dược FDA Hoa Kỳ chỉ công nhận cho dùng một dược phẩm có sâm là kem sâm dùng bôi để làm dịu da.

Tuy nhiên trong các chợ, đông y dược phòng, các tiệm bán đồ dinh dưỡng… ở Mỹ bầy bán nhan nhản sâm dưới mọi hình thức như sâm củ, sâm rễ, râu sâm, sâm bào, sâm dầm rượu, sâm nước, trà sâm, sâm bột, cao sâm, dầu sâm, kẹo sâm, kẹo cao su sâm, lá sâm, thuốc lá sâm… Sâm ngậm, sâm nhai, sâm nuốt, sâm hít, sâm uống, sâm nhét, sâm chích, sâm dán…

HỘI CHỨNG LẠM DỤNG SÂM

Hội chứng ngộ độc hay lạm dụng sâm, GAS syndrome thấy ở những người dùng sâm lâu dài. Dù chỉ dùng một lượng nhỏ 3mg mỗi ngày trong nhiều năm cũng sẽ đưa đến hội chứng GAS (JAMA số 241, 1979).

Người bị hội chứng này thường có những triệu chứng sau: dễ bị kích thích, sảng khoái, sáng suốt, minh mẫn, bị tiêu chẩy buổi sáng khi thức dậy, nổi mần ở da, giọng trầm đi, mất ngủ, căng thẳng thần kinh, tăng áp huyết, phù thũng, gia tăng hoạt dục, giảm ngon miệng, ưu sầu, đôi khi giảm áp huyết, đàn bà không thấy kinh hoặc có huyết hư…

Trước đây một bác sĩ sản phụ khoa tại Đại Học Michigan phát hiện một trường hợp kem sâm bôi mặt gây ra chứng huyết hư ở một bà đã tắt kinh (American Journal of Obstetrics and Gynecology, December 1988). Khi đã hết kinh mà thấy huyết hư bác sĩ thường nghi bị ung thư cổ hay dạ con. Vì thế khi dùng sâm mà bị huyết hư phải khai rõ cho bác sĩ biết để tránh khỏi bị mất tử cung một cách oan uổng.

Các chuyên gia khác cảnh cáo không nên dùng sâm ở những bà bầu, phụ nữ đang tuổi mang thai và trẻ em vì sâm có tính chất của một kích thích tố.

Nhưng đang dùng sâm mà bỏ sâm đột ngột (giống như đang dùng thuốc steroid mà bỏ đột ngột không giảm dần) sẽ gây ra hội chứng cai sâm. Hội chứng này gồm có căng thẳng thần kinh, tay chân run rẩy, kiệt lực và áp huyết tụt xuống thấp gây ra xây xẩm chóng mặt, có cảm giác muốn xỉu…

Tóm lại sâm là loại dược thảo đắt tiền nhất, chỉ có loại thuộc họ thần thảo panax mới có dược tính nên phải tìm mua đúng loại này. Chất sâm thuộc loại steroid là loại thuốc có nhiều phản ứng phụ phải dùng thật cẩn thận.

Theme: Silver is the New Black. Blog at WordPress.com.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.