Bac Si Nguyen Xuan Quang’s Blog

April 30, 2010

BỐ MỸ (Truyện Ngắn)

Filed under: Bố Mỹ — Quang Nguyen @ 5:32 am

BỐ MỸ

(Truyện ngắn trích trong Tình Thù).

Nguyễn  Xuân Quang

Họa sĩ, Nhà văn Võ Đình đã viết về  tuyển tập truyện ngắn Tình Thù:

Trong bối cảnh của những truyện tang thương tủi nhục, ông thường vẽ qua – nhưng với những nét rất sắc sảo, gần như tếu mà lại bàng hoàng một nỗi niềm ẩn kín – hình ảnh một cành hoa, một cây đào, một bụi dạ lý hương. Ở Nguyễn Xuân Quang, sự nuối tiếc nhớ thương không đậm nét và tôi cho đó là một thành công, cho bằng một sự trực diện với thực tại, một thực tại hàng ngày, tầm thường nhưng quái dị, ghê rợn, một thứ fantasme. Cách đây mấy năm tôi có viết một bài về Kuniyoshi, một họa sĩ Nhật-Mỹ bậc thầy. Ngày nay tôi tìm thấy lại, dầu chỉ một ít thôi, cái không gian ngỡ ngàng mà đột ngột, đắng cay mà bất thần đó…

(Đời Mới ngày 20-5-1982, trang 18).

*

Cuối cùng Nguyễn quyết định đi làm nghề giao báo vào buổi sáng sớm.

Nguyễn quyết định đi ném báo cho tờ Los Angeles Times buổi sáng sớm vì nhiều lý do. Điều thứ nhất ban ngày vợ đi làm, chàng phải ở nhà làm vú em giữ đứa con gái vừa mới sinh được vài tháng, ở nhà lo cơm nước, tối đến vợ ở nhà, chàng chui đầu vào đèn sách. Sáng sớm dậy đi giao báo nên rất thuận tiện. Ngoài ra cái nghề này nó cũng gần cận với cái thú viết lách của mình.

Sáng sáng tà tà đến đại lý báo giờ nào cũng được, không cần phải bấm giờ, miễn sao giao báo trước sáu giờ sáng là được. Bắt đầu từ nửa đêm về sáng, phân bộ ấn loát vùng đã cung cấp báo cho các đại lý, đến nơi Nguyễn chỉ việc lồng hai phần báo vào nhau, cho vào máy cột lại, quăng lên xe.  Phần ruột báo đã được in một tuần, nửa tháng trước còn phần vỏ in ngay chập tối hôm trước, gồm phần thời sự và các vấn đề cập nhật. Cột báo cũng cần phải có kinh nghiệm. Nếu chật quá chỉ sẽ cắt đứt báo, lỏng quá, khi ném, báo sẽ  tung ra bay như bươm bướm.

Khi tới đại lý, việc đầu tiên là xem tình hình thời tiết trong ngày, có những hôm nửa đêm trời quang mây tạnh, nhưng tới sáu, bẩy giờ sáng trời mới bắt đầu mưa. Trời mưa báo phải được lồng vào bao nylon cho khỏi ướt. Sau đó xem có những thân chủ nào mới đặt mua báo, có người nào thôi đặt báo nữa hoặc họ đi nghỉ hè không muốn mua báo trong những ngày vắng nhà…

Làm báo xong, lái xe tới vùng chỉ định, tà tà thẩy báo, cố gắng đừng giao báo quá trễ, có nhiều người già đêm ít ngủ, đứng chờ báo trong sương sớm hoặc những tay làm ăn hay đi chơi xa, ra khơi, lên rừng, lên núi, cần có báo sớm để đọc.

Ném báo là cả một nghệ thuật, tay phải cầm lái, tay trái quăng báo. Có nhiều nhà phải quăng báo qua nóc xe, phải quăng thế nào cho tờ báo rơi ngay trên lối đi hay trên sân nhà để xe tráng xi măng, nếu báo rơi trên cỏ đẫm sương đêm, báo sẽ ướt hoặc rơi xuống mương, nhà hàng xóm mở nước sớm tưới cỏ sẽ làm báo ướt sũng, người đọc sẽ gọi điện thoại đòi tờ khác. Báo ngày thứ năm và chủ nhật nặng cả kí lô. Báo thứ năm nặng vì có nhiều quảng cáo để cuối tuần bà con đi mua sắm. Sau một thời gian ném báo cánh tay trái khỏe và to không kém gì tay phải.

Điều khó khăn nhất là lúc khởi đầu vừa phải nhìn bản đồ tìm đường vừa phải tìm số nhà Mỹ trong đêm. Các số nhà in ở lề đường, nhiều khi xe đậu che khuất hoặc nhiều khi xe cập lề sát quá, lốp xe quẹt lem nhem không còn đọc được. Còn cái số nhà ở trên tường nhiều khi chỉ để làm cảnh không tài nào đọc được trong đêm, nhiều lúc phải dừng xe lại, bước xuống lấy đèn pin rọi tìm số nhà.

Khu bỏ báo thường là khu khá giả, giới có học vì phải có nhiều người đọc báo mới đủ số lượng để đại lý mướn một người đi bỏ báo.

Mặc dầu nhờ hiểu biết ít nhiều về lịch sử Mỹ, lịch sử của những kẻ di cư tới Hoa Kỳ, Nguyễn biết rằng tất cả những dân di cư tới đây đều phải khởi đầu bằng hai bàn tay trắng, khởi đầu từ mặt đất đi lên, nhưng những khi bỏ báo cho các nhà bác sĩ, nhìn hai chữ M. D. lòng cũng không khỏi xót xa. Nguyễn vẫn coi mình là một bác sĩ dù hiện tại đi ném báo vì bác sĩ y khoa là một tước vị quốc tế, trọn đời, bệnh tật là nhân bản, là con người, do đó người thầy thuốc không có biên giới dù là không gian hay thời gian.

Nguyễn cũng ngậm ngùi nhưng rất kiêu hãnh sáng sáng quăng tờ báo vào nhà người bảo trợ cũ giờ đã đổ vỡ vì cái bất đồng văn hóa. Dù sao thì gia đình họ cũng đã mở cửa đón nhận gia đình chàng. Có sớm mai, người bảo trợ đã trông thấy chàng quăng tờ báo lên hiên nhà. Trong sương mù chàng không đọc được gì trong đôi mắt sau khung cửa kính. Đôi mắt đóng khung trong sương mù sau ô kính.

Khu nhà khá giả, càng giầu, càng nuôi chó nhiều. Mỗi lần bước xuống xe đọc địa chỉ, chó sủa ran. Chó Mỹ sủa rất cộc cằn, thô lỗ, rất hỗn xược, có vẻ ta đây là chó cường quốc, có con kỳ thị ra mặt. Ngày xưa chàng thường nghe nói là người nào hay chào cờ Tây thường hay bị chó sủa dữ dằn, trường hợp Nguyễn, có lẽ là chó sủa áo rách. Khi còn ở quê nhà, mỗi lần về ấp thanh tra, những con chó ta chỉ dám lấp ló sau hàng rào khúm núm sủa. Phải thú thật là sau khi làm việc ở phòng chó dại ở viện Pasteur Saigon, Nguyễn là kẻ sợ chó nhất trần gian. Sợ bị chó cắn thì ít nhưng sợ nhất cái cảnh phải vén áo lên đưa cái bụng da non của mình ra nhận trên hai chục mũi thuốc ngừa  bệnh chó dại.

Bây giờ chàng lại sợ chủ nhà nghe chó sủa thức giấc trong đêm, trông mập mờ, thấy một tên thiểu số, sẽ cho mình là đạo tặc, xách súng ra cho chàng ăn kẹo đồng, nhà Mỹ nào mà chả có súng lớn, súng nhỏ, sống trong một nước chinh chiến chiếm hết một phần lớn đời người, đã từng vào sinh ra tử, bây giờ lại bị ăn đạn thì thật là lãng nhách, vì thế mỗi lần bước xuống xe xem số nhà, Nguyễn phải ôm theo một số lượng báo có dư  để sau khi bỏ xong chàng vẫn còn có  báo trên tay để nói cho những người giật mình thức giấc trong đêm biết là chàng đang đi hành nghề bỏ báo.

Chó Mỹ được nuôi nấng và tẩy nảo khác chó ta nhưng chó Mỹ cũng tưới cây giống chó ta.

Sau một thời gian ngắn, quen đường, nhớ nhà, công việc nhàn như kẻ lái xe đi dạo chơi lúc tinh sương. Nguyễn có thêm thì giờ học bài. Bài vở soạn thi lấy lại văn bằng Nguyễn đọc thâu vào băng, vừa ném báo vừa mở cassette học bài.

Những sáng sương mờ ẩn hiện, hư thực, những vườn cây cảnh tuyệt vời, chàng có cảm tưởng mình là một thi nhân lạc chốn thiên thai.

Giữa cảnh hoang lạnh của buổi sớm mai, một hình ảnh đập vào mắt chàng rất mạnh là một người già ngồi chồm hổm ở hiên nhà nhìn vu vơ sáng sáng. Người già ngồi theo kiểu hưởng thụ cái đệ tứ khoái rất ư là đồng ruộng Việt Nam. Chàng không nghĩ rằng cụ là một người già di tản vì khu gia cư này quá sang trừ phi cụ thuộc vào một trong bốn giai cấp trước đây là đĩ, cha, sư và tướng. Người già như có ý lẩn tránh, nhiều sáng Nguyễn cố ý cho xe sát vào lề, lấy hết sức ném tờ báo cả kí lô tới sát bên người già ngồi. Cụ vẫn bất động. Không hiểu sao dần dần chàng lại thấy gần cận với người già. Dường như có một cái gì của quê hương nơi người già, Nguyễn tự nhủ không biết chừng cụ là dân tị nạn được gia đình Mỹ này bảo trợ. Một sáng, chàng quyết định ngừng xe lại, bước xuống xe, giao báo tận tay người già. Nguyễn cố nói một câu tiếng Mỹ. Người già luống cuống rồi trả lời ngon lành “Ông cứ ném đó” bằng tiếng Việt.

-Ủa! Cụ là người Việt hả? Cháu cũng là Mít đây.

-Ủa! Cậu là người Việt hả? Tôi cũng là người Việt. Tôi cứ tưởng cậu là thằng Mễ.

-Cụ có căn nhà sang trọng quá.

-Nhà nào của tôi!

-Thế cụ ở đây với…

Nguyễn bỏ lửng câu nói, thăm dò.

-Với con gái tôi. Nhà này của thằng con rể Mỹ.

-Thì của con cái  hay của cụ cũng vậy.

-Ở Mỹ làm gì có chuyện cũng vậy!

Nguyễn lại tiếp tục hành nghề, sáng sáng ghé lại nói với người già năm ba câu. Một sớm người già đứng sẵn bên lề đường đón chàng, ra dấu cho chàng ngừng xe lại. Cụ ngỏ ý đi theo chàng ném báo trong vùng cho đỡ buồn.

Nguyễn từ chối nhưng người già năn nỉ, cuối cùng chàng cũng xuôi lòng vì cái lòng thầy thuốc thương người của mình.

Dần dà người già và Nguyễn trở thành hai người bạn thân thiết.

Có lần  đi gần khu nghĩa trang, cụ than thở đời sống ở đây còn thua cả thằng ăn mày ở quê nhà, chết chẳng có được một nấm đất như cái mả thằng ăn mày, nghĩa trang ở đây phẳng lì. Chàng cũng nhận ra cụ rất hận thù chó Mỹ. Mỗi lần quăng báo gây tiếng động, khiến chó sủa vang, cụ lại chửi chó mắng mèo:

-Mẹ kiếp, chủ nào tớ đó!

-Kệ nó cụ ạ, chó bên này có cái phong hóa khác chó ta.

-Cậu nghĩ coi, cái thân già này con thua cả con chó nữa.

-Sao cụ lại nghĩ vậy?

-Chúng nó coi con chó hơn bố nó!

-Ai vậy cụ ?

-Con tôi chứ ai.

-Làm gì có chuyện đó. Người và chó khác nhau, khác nhau là con người có văn hóa, mình có tới hơn bốn nghìn năm văn hiến, chó Mỹ giả dụ coi như là có văn hóa đi nữa thì cùng lắm cũng chỉ được hai trăm năm.

-Ấy thế mà tụi nó trọng chó hơn bố nó.

-Không có chuyện đó đâu cụ. Đồng ý cẩu quyền ở đây có khi còn cao hơn nhân quyền ở vài nơi như ở quê hương mình. Ở đây nhiều người sống cô đơn, không bố mẹ hay con cái, không bạn bè, đành chơi với chó, ăn nằm với chó… Nhưng không có chuyện con cái Việt Nam  lại coi con chó hơn bố mẹ…

-Chó nào thả ra mà chả ăn…

-Cái chuyện đó thì cháu không biết chó Mỹ có thèm khát hay không. Nhưng ở đây nếu mà cụ thí nghiệm, cụ sẽ bị hội bào vệ súc vật, hội bảo vệ cẩu quyền, thú quyền đưa cụ ra tòa ngay. Con chó bên này sống có người hầu kẻ hạ, chủ đi vắng có khách sạn, bệnh tật có bác sĩ, có nhà thương, chết có hòm, có xe tang, có vòng hoa, có tha ma, có người để tang…

-Nhiều lúc nghĩ tới những người ở lại quê nhà nhìn con chó mà rơi nước mắt.

-Đó là hai chuyện khác nhau, người ta quan niệm những kẻ khốn khổ, khốn nạn kia không đem lại hạnh phúc cho họ bằng con chó. Vả lại con cho nó không phản phúc như con người… Cụ cũng nghĩa như vậy chứ?

Người già như có một điều gì xung đột với con cái. Chàng muốn giúp cụ giải tỏa cái ẩn ức đó, nói ngọt không được chàng bèn hù:

-Chỗ quen biết, cháu nói cho cụ biết, cụ chửi chó mắng mèo vừa vừa thôi, lỡ người ta đưa cụ đi khám bệnh tâm trí, đọc báo thấy người ta bảo dân Mít tị nạn chiếm kỷ lục về bệnh tâm thần ở đây đấy. Bác sĩ sẽ định cho cụ một cái bệnh tâm thần như «ẩn ức lá mơ» hay «dồn nén củ riềng» rồi dùng phương pháp chó trị liệu để chữa cho cụ, tối ngày cụ phải làm bạn với chó…

-Nhưng cậu nghĩ xem…

-Sao cụ?

-Cậu nghĩ coi, hôm trước ngồi gậm xí quách, thấy con chó ngồi chầu, động lòng tôi quăng cho nó mấy cái xương. Thằng con rể Mỹ của tôi chửi toáng lên, con gái tôi cũng hùa theo chửi bố nó. Chúng nó bảo cho chó ăn xương hư răng hư lợi, cậu nghĩ coi, bố chúng nó chừng này tuổi đầu còn gậm xương có sao đâu. Mấy hôm sau chúng nó dắt con chó đi bác sĩ. Thằng bác sĩ chó má nào đó bảo rằng răng con chó bị lung lay, siêu vẹo phải đeo niềng răng, tốn tới mấy trăm đô.

-Cụ lo gì, các con chó nhà giầu có bảo hiểm sức khỏe, bên này mấy hãng bảo hiểm nhân đức và chu đáo lắm…

-Đâu có, con gái tôi nó đay nghiến tôi mãi, nó phải rút tiền trong quỹ tiết kiệm dùng để làm ma chay cho tôi. Cậu biết không? Răng tôi trước đây gậm xí quách có sao đâu, từ ngày giận chúng nó, cả hàm răng đâm ra ê ẩm, xô lệch.

-Chắc tại cụ nghiến răng trèo trẹo chứ gì?

-Đâu có, tại tôi  thấy con chó đeo niềng răng, hàm thiếc đâm ra cả hàm răng của tôi nó lung lay theo.

-Sao cụ không đi nha sĩ.

-Ấy chớ, hôm trước nha sĩ bảo tôi vặn hết hàm răng rồi mang hàm ếch.

-Ở Mỹ già mà không đeo răng giả không phải là một lão công dân tốt.

-Đeo răng giả rồi ăn bột à ! Còn gì cái thú gậm xương.

-Cháu cũng đồng ý với cụ là người Mỹ già và chó Mỹ không có cái thú gậm xương như mình. Nhưng mà thịt ê hề cần gì mà phải gậm xương.

-Nói cù nhầy như cậu tức bỏ mẹ.

Người già trầm ngâm một lúc, có vẻ lo ngại.

-Này cậu, con cái bên này chúng nó có quyền bỏ bố mẹ vào viện dưỡng lão hở cậu?

Nguyễn nhìn vào mắt người già.

-Vâng, nhưng đó là truyền thống văn hóa vì bố mẹ đã không nuôi con cái lúc chúng đã thành niên, nên có qua có lại.

-Tôi nghe nói nhiều người già phải sống bằng thực phẩm chó mèo trong khi con cái tỷ phú!

-Đó là văn hóa mà văn hóa nào cũng có những điểm không thể khen chê được cụ ạ.

Sau một thời gian Nguyễn đã chữa được cái bệnh căm thù chó Mỹ và con cái của người già. Nhiều lần cụ ngỏ ý mời chàng ghé lại nhà chơi…

-Này nói thật với cậu, tôi mến cậu lắm, cậu có vẻ có ăn có học, mặt mũi sáng sủa, sao không tiếp tục đi học, bằng cấp bên này đâu có khó lấy, tội gì đi làm cái thằng bán báo.

-…

-Tội gì, lãnh oen-phe ở nhà mà đi học.

-Tại cháu trót mang dòng máu ngông nghênh trong người.

-Nhiều lúc tôi nghĩ qua đây cuộc đời láo nháo như cháo trộn với cơm, chán thật.

-Cụ mà còn chán đời thì thiên hạ di tản biết thế nào nữa. Cụ có nhà cao cửa rộng, hưởng tiền trợ cấp, được làm ông ngoại, bố Mỹ. Cụ biết không? khi trước lúc quân Mỹ còn tham chiến ở Việt Nam, thấy con gái Việt Nam ăn khách Mỹ quá, cháu đã có lần mơ ước được làm bố Mỹ.

-Ô, mai mốt cậu được làm bố Mỹ như tôi rồi cậu sẽ biết. Các cụ nói « như bố vợ phải đấm », ở cái xứ này câu nói đó thật là thấm thía.

-Hồi đó cháu có làm mấy câu thơ để cháu đọc cụ nghe chơi:

Mìmh ơi,

-Gì ?

-Chiều anh tí đi,

May được con cái đĩ,

Lớn lên cho lấy Mỹ,

Chúng mình thiên hạ gọi:

“Bố Mẹ thằng Hoa Kỳ”!

Người già gật gù một lúc rồi cười khẩy:

-Cậu chửi bố tôi phải không?

-Đâu có cụ, bây giờ cháu cũng được làm bố Mỹ rồi. Các cụ ta bảo làm thơ nó vận vào người đấy.

Ánh đèn phía sau chiếu tới loang loáng, báo chất đầy xe, Nguyễn không thể nhìn qua kính chiếu hậu được. Người già thò đầu ra ngoài, sợ hãi:

-Xe cảnh sát.

-Mặc kệ nó cụ ạ, mình có làm gì phi pháp đâu mà sợ.

Chiếc xe qua mặt, viên cảnh sát ra dấu cho Nguyển ép sát vào lề, đậu lại.

-Chuyện gì vậy cậu?

-Chắc họ tỏ tình bạn dân với mình.

Viên cảnh sát xuống xe, tiến lại gần chàng, nói tiếng Mỹ lưu loát như tiếng mẹ đẻ, không cần biết hai người có hiểu gì không!

-Nó nói gì vậy cậu?

-Ông ta bảo là có người gọi điện thoại báo là cháu bắt cóc cụ.

-Mẹ kiếp, lại cái lũ chó má con tôi đó.

Không đủ ngôn ngữ, người già và Nguyễn lên xe cảnh sát, ung dung. Viên cảnh sát đưa hai người về nhà cụ già. Hai vợ chồng gia chủ, so le như đôi đũa lệch, đứng ở trước cửa nhà chờ sẵn.

Người đàn bà da vẫn còn mầu vàng đất sét, cái miệng và cái chỗ để ngồi trông có vẻ đã giống Mỹ. Người đàn bà mắng người già:

-Sao “đét” lại để nó dụ dỗ như thế, nó bắt cóc “đét” rồi đem đi hãm hiếp “đét” thì sao?

Người già, trước mặt Nguyễn, như muốn lấy lại oai quyền:

-Mày câm cái mồm chó của mày lại.

Người đàn bà giận dữ trút hết bực tức lên đầu Nguyễn:

-Ông có biết dụ dỗ bắt cóc người bên này nặng tội lắm không?

Nguyển im lặng, khinh mạn, nhìn xuống hai bàn chân người đàn bà tìm chân tướng. Hai bàn chân Giao Chỉ cổ lổ, bàn cuốc. Người đàn bà thấy nhột, quay lại góp chuyện cùng chồng và viên cảnh sát. Họ nói ríu rít. Có tiếng chó sủa nghẹn ngào sau hàng rào. Một thoáng sau, chàng mới sực nhớ ra con chó đang đeo niềng răng.

Kết quả cuộc đàm phán tay ba là viên cảnh sát bảo chàng lên xe. Nguyễn mang máng hiểu rằng người ta gán cho mình một cái tội gì đó liện hệ tới bắt cóc người.

Chiếc xe quẹo chữ U quay đầu lại, rồi lao vút đi. Trong một thoáng, Nguyễn thấy người già đưa tay áo lên quệt nước mắt.

January 22, 2010

HỌC CHỮ HÁN BẰNG TIẾNG VIỆT

Filed under: Bố Mỹ, Học Chữ Hán Bằng Việt Ngữ — Quang Nguyen @ 5:18 am

Tiếng Việt Huyền Diệu

HỌC TIẾNG VÀ CHỮ TRUNG HOA BẰNG TIẾNG VIỆT

Nguyễn Xuân Quang

Ta có thể học ngôn ngữ thế giới bằng tiếng Việt (Tiếng Việt Huyền Diệu), dĩ nhiên trong đó có tiếng Trung Hoa. Học tiếng Trung Hoa bằng tiếng Việt lại càng dễ dàng hơn, bởi vì một điều dễ hiểu là tiếng Việt và Trung Hoa liên hệ mật thiết, khắng khít với nhau. Thật vắn tắt ở đây, một trong những cách làm giầu thêm, phát triển, bành trướng thêm tiếng Việt là du nhập thêm tiếng ngoại ngữ khi tiếp cận với ngôn ngữ đó qua hiện tượng từ láy, tiếng đôi hay trực tiếp lấy tiếng ngôn ngữ đó, lấy nguyên con theo phát âm gốc hay có biến đổi, Việt hóa đi (như trường hợp chữ Hán Việt chẳng hạn).

Ai cũng biết từ Hán Việt nhan nhản trong tiếng Việt, có tác giả đã cho rằng có tới hơn 60% từ Hán Việt trong Việt ngữ. Hán Việt là từ lấy từ Hán ngữ nhưng đã Việt hóa theo những qui luật ngôn ngữ học có qui củ. Người Trung Hoa không hiểu từ Hán Việt dù là gốc của Hán Việt là Hán ngữ. Các nhà trí thức, khoa bảng Việt Nam đã Việt hóa Hán ngữ để giữ độc lập, giữ chủ quyền Việt đối với Trung Hoa. Ngày nay những từ Hán Việt dùng ở Việt Nam không còn theo những qui luật Việt hóa độc lập như xưa nữa mà dùng lung tung, hổ lốn, loạn xà ngầu, mạnh ai người ấy chế ra đem dùng. Hoặc vì ngu dốt, vì lười biếng, vì rơi vào chính sách đồng hóa của Trung Hoa, giới trí thức Việt Nam, báo chí truyền thông Việt Nam tự mình chế ra những từ Hán Việt đem vào ngôn ngữ Việt (một số giới báo chí, truyền thông Việt Nam ở hải ngoại mù quáng bắt chước lấy theo).

Áp dụng các qui luật ngôn ngữ học của tổ tiên ta ngày xưa ta có thể học tiếng Trung Hoa qua tiếng Việt bằng:

a. Từ đôi

Từ đôi là hai từ thường là danh từ khác âm đi đôi với nhau hay bắt cặp với nhau theo âm dương.

Có hai trường hợp:

.theo âm dương tương thuận có nghĩa như nhau hay có cùng một gốc nghĩa, tôi gọi là từ đôi điệp nghĩa ví dụ như gà qué: con gà là con qué, ta có gà = qué.

.hoặc theo âm dương đối nghịch có nghĩa đối nghịch nhau theo âm dương, tôi gọi là từ đôi nghịch nghĩa, ví dụ trăng trời.

Qui luật âm dương về từ đôi trong Việt ngữ của Nguyễn Xuân Quang:

Hai từ đôi theo âm dương tương thuận có nghĩa như nhau hay có cùng một gốc nghĩa, tôi gọi là từ đôi điệp nghĩa hoặc theo âm dương đối nghịch có nghĩa đối nghịch nhau, tôi gọi là từ đi đôi nghịch nghĩa.

Ta có thể dùng từ đôi, từ cặp đôi để học tiếng Trung Hoa ví dụ

./ Từ đôi gồm một từ Việt và một từ Hán phát âm theo piyin:

-đen xì

Theo qui luật từ đôi hay đi cặp đôi ta có đen = xì.

Xì là tiếng pinyin (phiên âm, giọng Quan Thoại) của Hán ngữ tịchlà tối, đêm bao hàm nghĩa đen (tối đen, đêm đen).

-mảnh dẻ

Mảnh là mỏng như mỏng manh. mỏng mảnh, mảnh khảnh. Theo qui luật từ đôi ta có mảnh = mỏng = dẻ. Từ dẻ chính là tiếng pinyin dié của gốc cổ Hán ngữ điệp có nghĩa là mỏng được diễn tả bằng cách vẽ hình cây có lá.

Dié là mỏng (cổ ngữ).

(Wang Hongyuan, The Origins of Chinese Characters, Sinolingua Beijing, 1993)

  

Dié, mỏng dạng chữ cổ như thấy trong hình vẽ hình cây có lá. Dẻ, dié biến âm với yè, điệp, lá. Ta thường ví mỏng như lá, áo lá là áo lót mỏng, mỏng như tờ giấy.

Cũng xin nói thêm là tiếng Việt rất đa dạng, từ mỏng của Việt ngữ biến âm với nhiều ngôn ngữ. Ta có từ đôi mỏng dính với dính chính là Anh ngữ thin (theo d=th, dính = thin), từl áy mỏng manh với manh chính là Pháp ngữ mince (mỏng) và mỏng tang, mỏng tanh với tang, tanh là Phạn ngữ tan, mỏng.

-xì hơi

Ta có xì = hơi.

Theo x=q= qu như xoăn xoắn = quăn, quắn, xì = qì. là pinyin của Hán Việt khí. Theo q=c=k = kh, = khí (khí mây, hơi…).

Tóm lại xì hơi có = pinyin = Hán Việt khí = hơi.

-xì mũi

Ta cũng có mũi liên hệ với khí, không khí, hơi nên có từ xì mũi, xỉ mũi: hỉ mũi (theo h= s = x như hói = sói, ta có xì, xỉ = hỉ)

nên xì ruột thịt với mũi, Hán Việt tị, tì 鼻, theo x=b, như xẹp = bẹp, xì, xí = bí (pinyin là mũi). Tị biến âm với xì thấy rõ qua từ Tỵ (chi thứ sáu trong 12 địa chi) có pinyin cũng là xì. Xì liên hệ với mũi thấy rõ qua tên con tê giác pinyin là xì. Con tê giác là con thú có sừng ở mũi (tê biến âm với tị, mũi) và xì biến âm với zì (tự) vẽ hình cái mũi.

Chữ Zì (tự) vẽ hình cái mũi.

-cũ xì

tích, xưa, trước, tích nhật ngày xưa.

Piyin là xì, cũ xìcũ xưa.

Xì cùng âm với xì là tịch, đêm giống như tích biến âm với tịch nên tích cũng có một nghĩa là đêm như nhất tích một đêm.

./ Từ đôi gồm một từ Việt và một từ Hán Việt:

-kẻ sĩ

Ta có kẻ = sĩ.

Việt ngữ kẻ = kẻ (cây thẳng dùng làm thước để gạch: thước kẻ), kẻ = kè (nọc đóng ở bờ nước) = ke (bộ phận sinh dục nam) = kì , ki (cây) = que (nọc, cọc)…

Tóm lại kẻ có gốc cây, nọc, cọc, c…c . Kẻ chỉ người nam, người cột trụ, người miền núi,người tộc hươu, tộc Kì Dương Vương,  chỉ núi kì, núi cột trụ thế gian. Hán Việt sĩ chỉ phái nam có học thức, học giả giữ vai cột trụ, rường cột, lương đống:

Trong lăng miếu ra tài lương đống,

Ngoài biên thùy rạch mũi can tương.

(Nguyễn Công Trứ, Kẻ Sĩ). 

là những người quan trọng nhất trong xã hội ngày xưa :

Tước hữu ngũ sĩ cư kỳ liệt,

Dân hữu tứ sĩ vi chi tiên. (1)

Có giang sơn thì sĩ đã có tên,

Từ Chu Hán, vốn sĩ này là quí…

(Nguyễn Công Trứ, Kẻ Sĩ). 

(1) Tước có năm bậc thì sĩ cũng dự vào; dân có bốn nghề thì sĩ đứng đầu tiên: sĩ, nông, công thương.

Và sĩ cũng rất quan trọng trong xã hội ngày nay như bác sĩ, văn sĩ, nghệ sĩ, binh sĩ (binh lính cũng được gọi là sĩ vì ngày xưa chỉ phái có sĩ, có cọc mới phải đi lính (lính ngày xưa phải có linga) và binh lính liên hệ với cọc nhọn, khí giới (Ngoài biên thùy rạch mũi can tương).

Nguồn gốc của từ sĩ cũng giống như từ kẻ có nghĩa là cọc, cược, bộ phận sinh dục nam.

 

 

  

 Chữ sĩ vẽ hình bộ phận sinh dục nam hay phát nguyên từ hình vẽ một thứ khí giới cổ.

 

Theo hình trên, sĩ vẽ hình bộ phận sinh dục nam hay phát nguyên từ hình vẽ một thứ khí giới cổ. Bộ phận sinh dục nam được biểu tượng bằng cọc, nọc vật nhọn (ví dụ penis có pen-, cây viết, nguyên thủy cây viết là một vật nhọn), giống như khí giới cổ đơn giản cũng chỉ là một vật nhọn.

Sĩ chỉ bộ phận sinh dục đực cũng thấy rõ qua từ , Hán Việt mẫu chỉ con thú đực có chữ sĩ như mẫu ngưu là con bò đực. Mẫu cũng còn có nghĩa là cây chốt cửa, nọc then cài cửa, như thế con vật đực có nghĩa là con thú có nọc, cọc. Mẫu biến âm với mâu, vật nhọn, khí giới nhọn như xà mâu, mâu thuẫn, với Việt ngữ mấu (ngạnh sắc), bấu (bằng móng nhọn sắc).

Ở hình trên cũng xin lưu ý ở phần tham khảo (for reference) của chữ mũ (đực, nọc, cọc) có vẽ hình con hươu sừng ở dưới bụng có phụ đề hình cây cọc cắm trên mặt đất có ý cho biết là con hươu cọc, hươu nọc, đực. Điểm này cho thấy hươu sừng biểu tượng cho thú đực, nọc, cọc. Con hươu, con hưu, con hiêu là con hèo (roi, nọc). Theo h=k như hết = kết, ta có hèo = kèo (cọc nhỏ), ta có từ đôi kì kèo nên kèo = kì ( ki, cây). Con hươu = con hèo = con kèo = con kì. Kì Dương Vương có một nghĩa là Vua Hươu Đực có nhũ danh là Lộc Tục (Hươu Đục, Hươu Đực). Hán Việt lộc = Việt ngữ nọc. Con lộc là con nọc, con cọc, con log (khúc cây). Vì thế con hươu là con cọc như thấy trên hình, tên cổ Việt con hươu sừng là con Cọc do đó trò chơi Bầu Cua có con hươu sừng, con Cọc nên phải gọi là Bầu Cua Cá Cọc thay vì gọi sai là Bầu Cua Cá Cọp (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc).

Cũng xin lưu ý chữ sĩ 士 tương tự như chữ thổ 土 đất, tại sao? là vì thổ, đất thế gian liên hệ với trụ chống trời được biểu tượng bằng Núi Trụ Thế Gian (núi Kì), trong ngũ hành của Trung Hoa khi diễn tả theo hình vuông thì hành Thổ ở giữa tâm hình vuông, tức là hành trục, cột trụ. Trong giáp cốt văn Thổ  được diễn tả bằng một trụ đá mang hình ảnh  núi trụ thế gian, núi Kì, trụ chống trời, hình ảnh ông Bàn Cổ (Bàn là phiến đá bằng như bàn thạch là đế giữ trụ cho vững và Cổ là cột trụ (cổ là cột trụ cắm đầu vào thân mình). Ông Bàn Cổ là ông Trụ Chống Trời biểu tượng cho cõi đất thế gian.

  

Trong giáp cốt văn Thổ (tũ) được diễn tả bằng một trụ đá.

 

 Thổ liên hệ với cột trụ, cọc như chữ sĩ nên giống chữ sĩ chỉ khác nét ngang ở đáy. Thổ là đất là cõi bằng vì thế nét ngang ở dưới biểu tượng cho mặt đất bắng nên phải cường điệu dài hơn nét ngang ở đáy chữ sĩ (nét này ở chữ sĩ chỉ thành bụng chỗ cái cọc đâm ra). 

(sẽ có một bài viết riêng về từ sĩ).

-ngạt thở

ngạt hiểu theo Việt ngữ là không thở được, ngạt thở liên hệ với chết (hết thở), chết ngạt. Ngạt đi với chết như thấy trong chữ “TỬ” , chết  nửa chữ bên trái có bộ ngạt : tan biến, tiêu tan, mất tiêu liên hệ với chết. Ngạt thở với ngạt hiểu theo Hán Việt là mất tiêu, hết thở.

 

./Từ đôi hoàn toàn là Hán Việt:

 

-bạch nhật:

sáng rõ, trời sáng rõ ví dụ như “Dậy đi, trời đã bạch nhật ra rồi đấy

ta có bạch = nhật,

Hán ngữ bạchcó chữ nhật.

-thế lực

Ta có thế = lực, Chữ Thế (quyền, sức, hình dạng, như trận thế, Thế lực, uy Thế) có Bộ LỰC

Muốn có thế phải có lực đẩy lên.

-tập hợp

Chữ hợp có phần trên là chữ TẬP cổ có hình cái lệnh. Gõ lệnh để tập hợp mọi người lại một điểm (chữ khẩu là dạng dương hóa của vòng tròn chỉ chỗ quây quần lại).

…….

b. Từ láy

Xin nhắc lại

Tiếng láy gồm một từ gốc và một từ tố lặp lại theo âm điệu, vần điệu nhịp nhàng, uyển chuyển với từ gốc thường cùng một vần, một mẫu tự (như b đi với b ví dụ bầu bì). Tôi gọi từ tố láy với từ gốc là thành tố láy (TTL), ví dụ liếm láp thì láp là TTL của liếm.

Qui luật về thành tố láy trong tiếng láy của Việt ngữ của Nguyễn Xuân Quang:

Thành tố láy trong tiếng láy của Việt ngữ thường có nghĩa gần nhau hay như nhau, thường là một từ ở trong Việt ngữ hay ở trong một ngôn ngữ khác, nhất là những ngôn ngữ ruột thịt, họ hàng với tiếng Việt.

 

Ta có thể học Hán ngữ qua từ láy

-Bầu bì

Ta có bầu = bì. Bầu là bao, bọc, túi. Hán Việt bì là da như bì phu. Da là cái túi, bao bọc thân người. Bì cũng có nghĩa là bao bọc thấy qua từ phong bì.

Bì biến âm với bị, bí. Cái bị là cái túi có quai (ông ba bị), người Trung gọi túi áo quần là cái bị. Bí cũng có nghĩa là bầu, bao, túi. Quả bí cùng họ nhà bầu tuy rằng khác giống: “Bầu ơi thương lấy bí cùng, Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”. Pinyin bì Hán Việt bí là bộ phận sinh dục nữ, âm đạo, l…

 

Bộ phận sinh dục nữ, âm đạo là cái túi. cái bao. Anh ngữ vagina, âm đạo, theo v=b, vagina có vag- = bag, túi bao. Cũng theo b=v, bí = ví (Việt ngữ ví là túi bao, tiếng lóng chỉ bộ phận sinh dục nữ).

-cà kê

Ta có cà = kê.

Mường ngữ cà là gà, theo biến âm c=g như cài = gài, ta có cà = gà. Hán Việt kê là gà. Kê viết với bộ chuy chim đuôi ngắn. Gà thuộc loài chim nhưng sống nhiều trên mặt đất, biểu tượng cho mặt trời thế gian, trên bàn Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc, con gà đội lốt thần mặt trời Viêm Đế ở cõi tạo hóa là mặt trời cõi thế gian. Qua Việt ngữ ta sẽ hiểu và nhớ từ kê hơn. Kê biến âm với kẻ (cọc, nọc), kè (nọc ở bờ nước), ke (bộ phận sinh dục nam, Alexandre de Rhodes, từ điển Việt Bồ La), que (nọc), qué, ké (gà như trói thúc ké là trói ghịt cánh gà)… Ta có từ đôi gà qué, con gà là con que, con qué, con kê biểu tượng cho nọc, dương, mặt trời. Anh ngữ cock là con cọc cũng có nghĩa chỉ bộ phận sinh dục nam. Do đó có từ Hán Việt kê gian là đồng tính luyến ái nam.

-khúc khuỷu

Hán ngữ khúc, Pinyin: qǔ, cong, không thẳng.
Việt ngữ khuỷu cũng có nghĩa là cong, gẫy như khuỷu tay. heo luật từ láy ta có khúc = khuỷu.

……… 

c. Lấy trực tiếp nguyên cách phát âm pinyin

Thu nhập từ Hán lấy nguyên cả cách phát âm pinyin, xin đưa ra một ví dụ điển hình là

-gié lúa

Gié chính là hé, pinyin của chữ hòa (hình gié lúa trên cây MỘC ). Theo g=h như gặt = hái, gié = hé.

 

-tính tình tang, tang tính tình

điệu hát tình tang, tính tình chính là piyin tĩng, tìng của 聽 thính, nghe, nghe bằng tai [Giản thể: ], còn Việt ngữ tang là tai, gốc champa ngữ tang là tai như màng tang, bên tai. Tình tang nghĩa đen là “tai nghe”.

-xịn

như hàng xịn, đồ xịn.

Xịn chính là pinyin của Hán ngữ mà Hán Việt là tân có nghĩa là mới như tân thời, tân tiến, hàm nghĩa “hiện đại” mới và đẹp. Đố xịn là đồ mới và đẹp, “gái xịn” là gái (còn) tân, còn mới (và đẹp).

…….

d. Theo cách diễn giải bằng Việt ngữ

-Xuân 

Tên một mùa trong bốn mùa.

 

Chữ Xuân cổ diễn tả cây, cỏ non mọc dưới ánh sáng mặt trời.

Trong giáp cốt văn , kim văn, cổ văn, triện văn, xuân diễn tả câycỏ non  

cỏ non có chữ tún (đồn) là mầm cây tức non và cũng có nghĩa là khai hoang làm ruộng, trồng cây như đồn điền liên hệ với cây cỏ (và tún cũng dùng lấy âm cho chùn, xuân),

Cỏ non mọc dưới ánh mặt trời:

 

Lưu tâm mặt trời nguyên thủy là chữ viết nòng nọc vòng tròn nòng có chấm nọc dương sau dương hóa thành hình chữ nhật ngày nay.

Xuân về cỏ non mọc xanh tươi dưới nắng mặt trời được diễn tả trong nhạc, thơ Việt Nam:

Xuân lại về trên bãi cỏ non.

(Phạm Duy, Hoa Xuân).

Hay

Cỏ non xanh tận chân trời

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

(Nguyễn Du, Kiều).

- Ngũ

Là năm, giống hình người ngồi bắc một chân lên chân kia, hai tay để ngang trên đầu:

Bắc chân chữ ngũ, đánh củ khoai lang,

Hỡi cô nhà hàng, rót anh chén nước.

(ca dao)

-Tử

Tử là con, là chữ liễu chỉ phái nữ có nét ngang:

Phận liễu sao đành nẩy nét ngang

(Hồ Xuân Hương).

-Tá

Tá là giúp.

Người phụ giúp, thường được cho là cánh tay trái của một người nào đó. Tá có chữ nhân người và chữ tả 左 là phía tay trái.

Việt ngữ có tứ giúp công và trong chữ tá, tả có chữ công.

……….

Ngoài ra còn có thể dùng các phương ngữ ở miền nam Trung Hoa thuộc địa bàn cũ của Bách Việt như Quảng Đông, Hẹ, Triều Châu, Choang… để học tiếng Trung Hoa. Xin đề cập tới vào dịp khác.

Tóm lại

Ta có thể học tiếng Trung Hoa bằng tiếng Việt. Khi học chữ Hán, chữ Nho hãy cố liên hệ với tiếng Việt để dễ hiểu nghĩa và dễ nhớ.

January 8, 2010

HÌNH TIÊU BIỂU THÁNG 01-2010

Filed under: 10. Hình T.B. Tháng 01-2010, Bố Mỹ — Quang Nguyen @ 2:08 pm

THÁNG MỘT 2010

GIẢI PHẨU TRỐNG ĐỒNG NÒNG NỌC ÂM DƯƠNG CỦA ĐẠI TỘC ĐÔNG SƠN.

Tác giả đang giải phẫu một chiếc trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn (Hình do bác sĩ Nguyễn Khắc Lân chụp).

Trống đồng của đại tộc Đông Sơn là trống nòng nọc, âm dương. Trống đồng diễn tả Vũ Trụ Tạo Sinh dựa trên nền tảng nòng nọc, âm dương, là trống biểu của Vũ Trụ giáo, của liên bang Văn Lang Hùng Vương, là trống Hùng Vương.

Ta đã biết âm dương lưỡng nghi sinh ra tứ tượng. Tứ tượng âm và dương vận hành, chuyển hành, liên tác với nhau dưới dạng năng động tạo ra vũ trụ vạn vật, muôn sinh, được phân chia ra thành Tam Thế và được biểu tượng bằng một hình cây gọi là Cây Tam Thế, Cây Vũ Trụ, Cây Đời, Chỏ

m cây, tán cây biểu tượng cho Thượng Thế, cõi trên vũ trụ, cành cây biểu tượng cho Trung Thế, cõi giữa thế gian, gốc và rễ cây biểu tượng cho Hạ Thế, cõi dưới. Thân cây là Trục Thế Giới thông thương Tam Thế. Đại tộc Đông Sơn chọn cây Nấm để diễn tả Cây Tam Thế cho chính xác trăm phần trăm vì nấm có chóp hình vòm diễn tả vòm vũ trụ, vòm trời. Một bằng chứng cây nấm được dùng làm biểu tượng cho Cây Tam Thế còn thấy là ngày nay người Thái ở Nghệ An còn dùng cây nấm làm biểu tượng cho Cây Vũ Trụ, Cây Tam Thế.

Trống đồng Đông Sơn loại có hình dạng Cây Nấm (bằng đầu) Tam Thế, Nấm Vũ Trụ, Nấm Đời Sống như trống Ngọc Lũ I mang trọn ý nghĩa Vũ Trụ thuyết. Trống cây Nấm Vũ Trụ hay gọi tắt là trống Nấm Vũ Trụ, trống Nấm là loại trống Nguyễn Xuân Quang VI (NXQ.VI) tức loại Heger I (H.I).

Giải phẫu một trống Nguyễn Xuân Quang Loại VI (Heger I) tức trống Nấm Vũ Trụ, Nấm Tam Thế, Nấm Đời Sống:


1. Trống Nấm Tam Thế, Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I) tức loại trống đồng âm dương Ngọc Lũ I.

Giải phẫu ra ta có:

2.  Thượng Thé và Trung Thế

a. Vòm Nấm Thượng Thế

chiếu xuống ở tâm mặt trống là vòng không gian-mặt trời

(vì trống cần có mặt bằng để đánh nên vòm nấm Thượng Thế được đập dẹpxuống hay được chiếu xuống mặt bằng trống).

b. Trung Thế

Phần còn lại của mặt trống (tầng đất) và phần tang trống (tầng nước) là Trung Thế.

3. Đế trống là Hạ Thế, cõi dưới.

4. Trục trống (eo trống) là Trục Thế Giới.

Tóm gọn lại:

Hình bìa tập I tác phẩm Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á.

(xem thêm Cơ Thể Học Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á hay Anatomy of the Bronze Drums).

December 22, 2009

TRÒ CHƠI, TRỜI CHO (Thơ Chữ Nghĩa).

Filed under: Bố Mỹ, Trò Chơi Trời Cho (T.C.N) — Quang Nguyen @ 9:43 pm

NHỮNG VẦN THƠ CHỮ NGHĨA

Những vần thơ CHỮ NGHĨA này cho thấy Tiếng Việt (thật là) Huyền Diệu.

Bài thơ này viết theo thể loại NÓI LÁI.

TRÒ CHƠI, TRỜI CHO (1).

Nguyễn Xuân Quang

Của  em có đấy, cấy đó tiên sò, (2)

Cò nọc ta đây, cò cứng cọc nò, (3)

Cò mới hến, duyên này hên mới có, (4)

Trò chơi cò với hến, của trời cho.

CHÚ THÍCH

1. Trò chơi nói lái là trời cho.

2. -Có đấy nói lái là cấy đó.

Từ cấy là biến âm của cái có cùng nghĩa với cái. Theo ay = ai như Yên Báy = Yên Bái, ta có cấy = cái.  Cái dùng như một danh từ và một phụ từ:

a.    Từ cái = cấy dùng như một danh từ

có nghĩa chỉ cái (giống phái) (xem Âm Dương Trong Tiếng Việt, Tiếng Việt Huyền Diệu), phái nữ (mẹ, con gái). Cái có nghĩa là mẹ như nàng về nuôi cái cùng con, con dại cái mang…… và cái, cấy có nghĩa là con gái (theo c=g, như cài = gài, ta có cấy = cái = gái) như thấy qua câu nói ở Huế:

Con trai họ Võ thì lấy,
Con cấy họ Võ thì đừng
.

(Bình Nguyên Lộc, Lột Trần Tiếng Việt).

Con cấy là con gái, từ này còn dùng nhiều ở Bình Trị Thiên.

b. Từ cái, cấy dùng như một phụ từ (article).

Ví dụ cái gì? = cấy gì?, cấy ni, cấy nớ, cấy nồi…

Ở đây cấy đó với cấy = cái có một khuôn mặt là một phụ từ có nghĩa là cấy đó = cái đó.
Từ đó chỉ bộ phận sinh dục nữ. Tại sao đó lại chỉ bộ phận sinh duc nữ? Có hai lý do, hiểu theo hai cách:

. Từ đó vốn là một đại danh từ chỉ nơi chỗ.

Ta có đó = đấy. Với đ câm như đủn = ủn (xe), đẩy = ẩy, ta có đấy = ấy, cái đó = cái đấy = cái ấy. Từ cái ấy là từ dùng tránh né nói thẳng, nói toẹt ra tên bộ phận sinh dục.
Từ ấy sau dùng như một danh từ, động từ (ấy ấy) hay dùng như một tiếng lóng chỉ bộ phận sinh dục để tránh thô tục.

. Từ đó là một danh từ chỉ vật bắt cá.

Cái đó, vật bắt cá, đơm đó, có hình cái túi hình ống bầu tròn. Vật hình túi, hình ống bầu tròn mang ý nghĩa biểu tượng cho bộ phận sinh dục nữ. Đó bắt cá chỉ bộ phận sinh dục nữ thấy qua câu:

Đó rách ngáng chỗ.
(tục ngữ).

Câu này ý nói mấy bà vợ già cái đó đã mòn, đã rách, đã cũ ngăn cản, ngáng chỗ các ông đi tìm những cái đó còn nguyên si, còn mới.

Cái đó là cái ấy và cũng là cái đó bắt cá, cả hai đều chỉ bộ phận sinh dục nữ. Ôi tiếng Việt thật là huyền diệu!

-Tiên sò là sò tiên. Sò của tiên, sò đẹp như tiên. Dân dã miền Nam gọi theo ngôn ngữ bình dân là con l… tiên.

3. Cò nọc nói lái là cọc nò.

là một thứ bẫy cá.

Chồng chài, vợ lưới, con câu,

Con trai đứng đáy, nàng dâu ngồi nò.

(ca dao)

Nò biến âm với lờ (n=I như nòng súng = lòng súng), họ hàng với lờ, đó. Chỗ dòng nước chẩy ngoài sông, người bắt cá đóng hai hàng cọc rào kín hình chữ V rồi cột nò vào chỗ thắt lại ở đầu chữ V. Cá theo dòng nước chẩy bơi vào lòng chữ V rồi lọt vào nò.
Nọc dùng đóng nò hay cọc nò phải thật cứng, chắc, vững để chịu được dòng nước chẩy siết. Cò cứng, cò nọc có cổ cứng như cọc đóng nò, cọc nò.
Trong thiên nhiên có hai loại cò: cò nọc, cò cọc, cò cứng là cò khi bay có cổ cứng, thẳng, Anh ngữ gọi là storkcò “mềmcổ cong khi bay gọi là heron. Stork, cò cứng với stork ruột thịt với stark, stiff, cứng. Loại cò này có hình dáng cứng đơ khi bay, cổ duỗi thẳng hàng với thân, chân khi bay, trong khi cò heron, khi bay cổ co lại có hình cong chữ S. Cò biểu tượng cho dương tính, Việt ngữ cò biến âm với cồ là đực, là nọc (vật nhọn). Cứng biến âm với cửng, cẩng. Cò cứng,  cò nọc, cò cọc, là loài mang tính cường dương hơn cò cổ cong, cò quăm (xem Con Cò Lăn Lội…). Ví dụ hình cò trên trống đồng Đông Sơn là loại cò cứng stork, khi bay cổ và thân thẳng hàng, mang nhiều dương tính, thấy rõ nhất là cò của tộc Lửa vũ trụ Càn tức siêu dương là con cò nọc, không có bờm, đầu cổ trông giống bộ phận nam cương cứng (cửng, cẩng), ở trong còn viế thêm chữ hay dấu nọc que nói cho biết đó là con cò nọc, đây là hình cò thấy trên trống Đông Sơn IV.

clip_image002

Cò Nọc Càn trên trống Đơng Sơn IV có đầu cổ giống hình cây nọc của phái nam đang cương cứng, trong có viết chữ hay dấu nọc que.

Cò nọc, cò cọc  biểu tượng cho Hùng Vương (Hùng có một nghĩa là đực, nọc), Lang Hùng (lang là con trai), cho mặt trời (dương), cho Việt (vật nhọn) mặt trời thái dương. Cò trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn là cò nọc, cò cọc, cò Việt, cò Hùng Vương mặt trời thái dương…  (Giải Đọc Trống Đồng Đông Nam Á). Vì vậy mà tác giả mới viết Cò nọc của ta… vì tác giả là con cháu Hùng Vương, Đại Tộc Việt mặt trời thái dương có cò biểu là con cò nọc.

4. Cò mới hến nói lái là hên mới có.

Lưu ý hai từ mới trong câu “Cò mới hến, duyên này hên mới có” khác nghĩa nhau từ mới thứ nhất có nghĩa là với (theo m=v như mời = vời, ta có mới = với) khác với nghĩa từ mới thứ hai ở sau.

December 18, 2009

SỰ TƯƠNG ĐỒNG GIỮA TRUYỀN THUYẾT VIỆT VÀ HY LẠP

Filed under: Bố Mỹ, Tương Đồng Với Hy Lạp — Quang Nguyen @ 5:47 am

ĐỐI CHIẾU TRUYỀN THUYẾT HY LẠP

VỚI TRUYỀN THUYẾT VIỆT NAM.

Nguyễn Xuân Quang

Hy Lạp là xứ của huyền thoại. Ở Hy Lạp cái gì cũng là huyền thoại. Một người theo Tây học thì ít nhất cũng nghe nói đến một vài huyền thoại Hy Lạp như ngưởi hùng Hercules, Nữ Thần Tình Yêu Aphrodite (Vệ Nữ Venus), Nữ Thần Chiến Thắng Nike, Thần Ánh Sáng, Sự Thật Apollo, mặc cảm Oedipus… Đi vào huyền thoại Hy Lạp như đi vào một mê cung, một mê hồn trận. Đọc và học huyền thoại Hy Lạp lung tung, chằng chịt, nhiều khi thật là khó hiểu, khó nhớ. Tuy nhiên nếu ta dùng cổ sử Việt Nam tức dựa trên Vũ Trụ giáo, Dịch nòng nọc mà đọc và học huyền thoại Hy Lạp thì dễ nhớ vô cùng, bởi vì cả hai Việt và Hy Lạp đều là giáo hữu của Vũ Trụ giáo. Có sự tương đồng giữa truyền thuyết Việt và Hy Lạp là chuyện tất nhiên. 
Như đã biết quan niệm nguyên lý lưỡng hợp nòng nọc, âm dương đã có từ lâu, dấu tích còn ghi lại trên các hình khắc, vẽ trên đá (petroglyphs) từ thời Tân Thạch.  Vũ Trụ giáo dựa trên lưỡng hợp là tín ngưỡng cổ nhất của loài người đã ảnh hưởng tới hầu hết các nền văn minh cổ, các tôn giáo lớn thế giới, dĩ nhiên trong đó có Hy Lạp. 
Truyền thuyết vũ trụ tạo sinh của Hy Lạp cũng có những dấu ấn của Vũ trụ giáo, của Dịch Nòng Nọc, dĩ nhiên đã biến đổi đi theo tín ngưỡng địa phương, khoác lên các màu áo đức tin địa phương. 

Hư không, Hư vô, Vô Cực

Theo thần thoại Hy Lạp khởi thủy là cõi hỗn mang, một thứ vực thẳm vô cùng tận như đại dương, tăm tối hoang sơ. Đối chiếu với Vũ Trụ giáo và Dịch Nòng Nọc, ta thấy ngay truyền thuyết vũ trụ tạo sinh Hy Lạp khởi đầu là cõi hỗn mang vô cùng tận tức tương ứng với bọc hư vô, vô cực. Ở đây vũ trụ mang âm tính vì là một cái vực thẳm như đại dương tăm tối (giống Ai Cập cũng quan niệm khởi thủy là Biển Vũ Trụ Cosmic Ocean),  tương ứng với ngành Thần Nông nòng âm của chúng ta.
Hư vô, hư không được diễn tả bằng vòng tròn. Chết là trở về với Hư Vô để được sống hằng cửu. Vì vậy mà Hy Lạp cổ cũng có tục chôn người trong các nghĩa trang hình vòng tròn như thấy ở khu nghĩa trang hình vòng tròn A và B (Grave Circle A and B) ở phế tích Mycenea.

clip_image002

Tác giả đứng ở khu nghĩa trang hình vòng tròn A (Grave Circle A), ở phế tích Mycenea,1600-đầu thế kỷ 15 TTL, Greece (ảnh chụp Dec. 2009).

Trứng Vũ Trụ hay Thái Cực

Hư vô, vô cực, hỗn mang tiến hóa thêm tới lúc có hai mầm nòng nọc, âm dương xuất hiện nhưng chúng vẫn còn quyện vào nhau tạo thành Trứng Vũ Trụ hay Thái Cực. Huyền thoại Hy Lạp cũng có cái trứng sinh tạo, tạo hóa sinh ra từ hỗn mang vực thẳm. Từ hư vô hỗn mang, một thứ vực thẳm vô cùng tận như đại dương, tăm tối hoang sơ Erebus (unfathomable dept) chuyển qua Night (bóng đêm). Vũ trụ lúc này vẫn còn đen tối, trống không, thinh lặng, vô cùng tận. Ta thấy ở đây ứng với cực nòng âm. Rồi ánh sáng hiện ra. Hiển nhiên ánh sáng ứng với cực nọc dương. Nòng nọc, âm dương bóng đêm-ánh sáng ban ngày còn quyện vào nhau sinh ra Trứng Vũ Trụ, vũ trụ.
Nhà viết kịch Aristophanes đã viết:

    Black-winged Night,
    Into bosom of Erebus dark and deep,
    Laid a wind-born egg and as the seasons rolled,
Forth sprang Love, the longed-for, shining, with wings of gold.

                    (Edith Hamilton, Mythology, tr.63).

Tình yêu ở đây đáng lẽ tác giả này phải cho là sự hôn phối nòng nọc, âm dương giữa bóng đêm âm và ánh sáng dương mới đúng.

Truyền thuyết Hy Lạp ngả về duy âm, vực thẳm dương hóa một phần biến thành là Bóng tối Night mang hình ảnh khí, gió âm như thấy qua câu thơ "Black-winged Night" (Bóng đêm có cánh đen). Rồi sau đó dương hóa thêm đẻ ra mầm dương phát sinh ra Ánh Sáng.  Phần âm Bóng Đêm khí gió tương ứng với Thần Nông và phần dương Ánh Sáng với Viêm Đế.
Dưới diện sinh tạo, Trứng Vũ Trụ, đĩa Thái cực được coi là dạ con của vũ trụ, của Thần Mẫu. Chết là trở về với dạ con của vũ trụ, của Thần Mẫu, Mẹ Đời để được tái sinh nên cổ Hy Lạp cũng có tục chôn người chết trong các quan tài đất nung hình chiếc bồn tắm hình trứng hay cải táng trong các bình hình trứng mang hình ảnh Trứng Vũ Trụ tương tự như tục chôn người trong các vò chum của cổ Việt thấy ở các di chỉ ở miền Bắc, của người Champa ở miền Trung (nhất là ở Sa Huỳnh),  ở cánh đồng Chum, Thổ Nhĩ Kỳ và nhiều nơi khác…

clip_image002[4]

Bình mai táng hình Trứng (hình tác giả chụp tại Bảo Tàng Viện Mycenae, Hy Lạp, Dec. 09).

Theo duy âm nên con người nguyên thủy sinh ra từ hư vô hay đúng hơn từ Trứng Vũ Trụ là Mẹ Tổ, Mẹ Đời, Thần Mẫu. Mẹ Tổ, Thần Mẫu của Hy Lạp cũng được biểu tượng bằng hình vòng tròn như thấy ở phế tích Delphi, được cho là  Cái Rốn Vũ Trụ của Hy Lạp. Vì là Cái Rốn Vũ Trụ nên Delphi là một trung tâm linh thiêng của tiên tri của Hy Lạp và các vùng lân cận. Khởi thủy, theo mẫu hệ, chính Thần Mẫu linh thiêng ở đây đã truyền phán những lời tiên tri cho những người đi tìm sự thật, đi tìm một câu trả lời về tương lai, định mệnh của mình qua miệng những nữ tu (priestesses) đang lên đồng.  Đây là hình ảnh của các bà đồng bóng, đồng thiếp, đồng dí của Việt Nam thờ Thánh Mẫu mà ngày nay còn thấy. Tại phế tích Delphi này còn thấy chỗ thờ Thần Mẫu, Mẹ Đất Gaea (có gốc geo- là đất) có hình vòng tròn. Sau đó tới xã hội phụ quyền, thần Apollo chiếm ngôi vị của Thần Mẫu và nơi này trở thành đền thờ thần Apollo, có khuôn mặt là Thần Ánh Sáng, Thần Sự Thật (ánh sáng soi rõ sự thật). Lúc này chính thần Apollo ban phát cho những lời tiên tri nhưng vẫn truyền qua miệng những nữ tu đang lên đồng. Tuy nhiên, các lời tiên tri này phải do các nam tu sĩ giảng giải (sẽ có bài viết riêng về Cái Rốn Vũ Trụ này).

Các nhà khảo cổ học đã đào tìm thấy nhiều hình tượng nữ mang vóc dáng Mẹ Đời, Thần Mẫu vào thời Đồ Đồng thuộc văn hóa thời kỳ Cyclades (2800-2300 TTL) có thân hình vòng tròn hay những tượng đứng đưa hai tay lên đầu. 

clip_image002[6]

Hình tượng nữ mang hình ảnh Thần Mẫu có thân hình vòng tròn và hình đứng giơ hai tay lên trời  thuộc văn hóa Cyclades (hình của tác giả chụp tại Viện Bảo Tàng Mycenea).

Những hình tượng nữ thời Cyclades này với những đường nét giản dị, thanh tao (ví dụ như là hình tượng nữ giống hình chiếc vĩ cầm chẳng hạn) đã là nguồn cảm hứng  còn giúp cho các nghệ sĩ ngày nay sáng tác. Các hình tượng này trông giống như các tác phẩm của Picasso ngày nay.

clip_image002[8]

Vật giả cổ hình tượng nữ thời Cyclades.

Tuy nhiên những hình tượng nữ đều thấy ở tư thế đứng này thay vì ở tư thế ngồi sanh con như ở các nơi khác (xem Hình Tiêu Biểu Tháng Mười Một) cho thấy Vũ Trụ Tạo Sinh của Hy Lạp không chính gốc, có thể đã muộn và du nhập từ những nền văn hóa khác vào.

Lưỡng Nghi

Rồi Trứng Vũ Trụ, Thái Cực phân cực, tách ra thành hai cực nòng nọc, âm dương, lưỡng nghi. Trứng Vũ Trụ dưới dạng Thần Mẫu sinh ra hai vị thần tổ tối cao tối thượng là Uranus (Trời, Heaven) Và Gaea (Đất, Earth) ứng với Lưỡng Nghi. Hai vị thần tổ Trời Uranus và Đất Gaea mang hình bóng hai vị Thần Đực (Dương) và Cái (Âm), Càn, Khôn, Thần Nông, Viêm Đế. Ở đây hai vị thần tổ Hy Lạp là Trời hiểu theo Heaven và Đất cho thấy đã theo quan niệm đã muộn giống như Chu Dịch cho Càn Khôn là Heaven và Earth (người thái cổ chưa có quan niệm về heaven).

Nòng nọc, âm dương, lưỡng nghi thấy rõ nhất qua chữ viết nòng nọc còn thấy trong văn hóa cổ Hy Lạp. Xin đưa ra một ví dụ điển hình là hình trang trí nọc que hay phi tiêu (darts) và trứng mà ngày nay các nhà Hy Lạp học cho là biểu tượng của hằng cửu, vĩnh cửu.

clip_image002[10]  clip_image002[12]   clip_image002[14]

Viền trang trí hình nọc que hay phi tiêu và trứng hiện nay được cho là biểu tượng của vĩnh cửu, vĩnh hằng,  tại đền Erechtheion, ở Acropolis, Athens, nơi đây được tin là lăng mộ của vua Kekrops (ảnh của tác giả).

Đây chính là chữ nọc que (I) và nọc que mũi tên (phi tiêu) và chữ nòng hình trứng của chữ viết nòng nọc. Nòng nọc, âm dương là căn bản của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo trong đó có hằng cửu, vĩnh cửu, tái sinh là quá trình cuối và khởi đầu của vòng tử sinh. Viền nọc que “phi tiêu” và trứng mang ý nghĩa hằng cửu, vĩnh cửu, tái sinh này thường thấy ở các lăng mộ, trên các quan tài đá (sarcophagus) nhằm mục đích cầu mong hồn người chết được về miền hằng cửu hay được tái sinh.
Chữ viết nòng nọc còn thấy rất nhiều trong văn hóa cổ và chữ viết Hy Lạp (sẽ có một bài viết Chữ Viết Nòng Nọc trong văn hóa cổ Hy Lạp). Sự hiện diện của chữ viết nòng nọc là một minh chứng vững chắc cho thấy văn hóa cổ Hy Lạp liên hệ với Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, Dịch nòng nọc.   

Tứ Tượng

Hai vị thần tổ Trời Uranus và Đất Gaea (ứng với lưỡng nghi âm dương) lấy nhau đẻ ra các vị Thần Cả (Elder Gods) gọi là Titans. Trong nhóm này có bốn vị thần quan trọng như  Cronus và vợ là Rhea (Ops); Coeus  và vợ là Phoebe; Ocean và vợ là Tethys;  Hyperion, cha của mặt trời Helios. Bốn vị thần Titans chính này ứng với Tứ Tượng:
1. Thần Cronus (tên Latin là Saturn), liên hệ gốc Chronos, thời gian. Chỉ có cõi người thế phàm có tử sinh mới có thời gian vì thế Cronus liên hệ với cõi đất thế gian, với tượng Đất, Đá. Điểm này thấy rất rõ qua sự kiện Cronus là thần Bảo Vệ Những Kẻ Gieo Trồng và Hạt Giống (Protector of the Sowers and the Seed), vợ Ops là người Phụ Giúp Gặt Hái (Harvest Helper). Cronus đẻ ra nữ thần Bắp, Ngô Demeter (Latin là Ceres, từ này cho ra từ cereal, ngũ cốc).
2. Ocean là thần sông Ocean, dòng sông vĩ đại ôm quanh trái đất. Ocean ứng với tượng Nước. Ocean có gốc Oc- có nghĩa là nước, Việt ngữ óc ách liên hệ với nước, con ốc là con vật sống dưới nước.
3. Thần Hyperion cha đẻ ra thần mặt trời Helios ứng với tượng Lửa.
4. Coeus có  gốc Coe- Coel- có nghĩa là trống, rỗng (hollow), bộng, bọng, bụng, ruột, xoang (cavity) như coeliac  thuộc về ruột, xoang… Bọng, xoang là nang, bọc là hư không, là túi gió. Coeus ứng với tượng Khí, Gió.

Rõ ràng bốn vị Thần Cả Titans Cronus, Hyperion, Ocean, Coeus, tương ứng với Tứ Tượng: Đất, Lửa, Nước, Khí. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt bốn vị thần Titans này ứng với:  Viêm-Lửa, Đế-Đất đá, Thần-Nước, Nông-Gió của chúng ta. Thần Nông Uranus và Viêm Đế Gaea sinh ra bốn Thần Cả Titans: Viêm Hyperion, Đế-Cronus, Thần-Ocean và Nông Coeus.
Ngoài bốn vị thần Titans này còn có thêm vài vị thần Titans không mấy nổi tiếng khác mang ý nghĩa đã muộn như Mnemosynes (Trí nhớ), Themis (thường được diễn dịch là Công lý), Iapetus…

Tam Thế

Tứ Tượng âm và dương liên tác sinh ra vũ trụ, vạn vật, muôn sinh. Vũ trụ chia ra làm Tam Thế: Thượng Thế (Cõi Trên, Tạo Hóa), Trung Thế (Cõi Đất thế gian) và Hạ Thế (Cõi Nước âm, Cõi Âm). Mỗi Thế lại chia ra ba tiểu thế, ba tầng, ba cõi là Trời (Khí gió), đất dương (lửa thế gian), nước (xem Khái Quát Về Vũ Trụ giáo). Tam Thế, ba cõi, ba tầng cũng thấy trong văn hóa Hy Lạp. Xin đưa ra một ví dụ tiêu biểu: dưới đầu một mái nhà ở Acropolis, Athens có tượng hình được cho là “quái vật có ba thân người và có đuôi rắn quấn vào nhau”. Người thứ nhất cầm tia chớp biểu tượng cho Lửa, người ở giữa cầm Nước và người thứ ba (nhìn thẳng về phía người đứng nhìn) tay cầm con chim biểu tượng cho Gió.

clip_image002[16]

Dưới đầu một mái nhà ở Acropolis, Athens có tượng hình được cho là “quái vật có ba thân người và có đuôi rắn quấn vào nhau” (Marisa de Castro, The New Acropolis Museum, Metaichmio editions, 2009).

Đuôi rắn biểu tượng cho ngành nòng âm tương tự như Phục Hy và Nữ Oa có đuôi rắn thuộc về ngành nòng âm Thần Nông.
“Quái vật” này biểu tượng cho ba cõi Lửa (có thể là lửa thế gian vì đi với hình người tức cõi nhân gian Đất dương Li), Nước và Khí Gió của ngành nòng âm.

Cõi Thế Gian, Trục Thế Giới

Những vị thần Titans sinh ra 12 vị thần nhỏ (Lesser gods) gọi là Olympians. Có nhiều truyền thuyết nói về núi Olympus này nhưng cốt lõi Olympus là ngọn núi cao nhất Hy Lạp nghĩa là tương ứng với núi Kỳ, núi Tản của chúng ta, núi Meru, núi Kalaisha của Ấn giáo, núi Tu Di của Phật giáo… Olympus là Núi Vũ Trụ, Núi Trụ Thế Gian biểu tượng cho Đất thế gian trong có Trục Thế Giới. Mười hai vị thần Olympian là 12 vị thần thế gian. Mười hai vị thần đó là:

1 Thần Bầu Trời Zeus (Jupiter), đứng đầu trong 12 Olympians.
2.Thần Biển Poseidon (Neptune).
3. Thần Cõi Âm Địa Ngục Hades (Pluto).
4. Nữ Thần Lò Sưởi Hesta (VestaI), là chị/em gái của ba vị thần trên.

5. Hera (Juno), vợ và cũng là chị/em của Zeus, Nữ Thần Bảo Vệ Hôn Nhân.
6. Ares (Mars), con của Zeus và Hera là Thần Chiến Tranh.
7. Athena (Minerva) là con riêng của Zeus. Athena là Nữ Thần Chiến Tranh, Thần Thành Phố, nơi ở (Thần Athena chiến đấu để bảo vệ thành phố, một thứ lãnh thổ, đất nước vì ngày xưa mỗi thành phố là một quốc gia gọi là city-state).
8. Apollo (con của Zeus và Letho) là Thần Ánh Sáng, Thần Mặt Trời, Sự Thật…
9. Aphrodite (Venus), con của Zeus với Dione, Nữ ThầnTình Yêu và Sắc Đẹp.
10. Hermes (Mercury), con của Zeus với Maia, Thần Buôn Bán, Giao Thương.
11. Artemis (Diana), con của Zeus và Letho, chị/em với Apollo là Nữ Thần Mặt Trăng, Hoang Dã.
12. Hephaestus (Vulcan), con của Zeus và  Hera, đôi khi được cho là con riêng của Hera, Hephaestus, là Thần Lửa.

Nhìn chung chỉ có bốn vị thần đầu của Olympians là bốn anh/ chị/ em, ba trai một gái, các vị thần sau đều là vợ con của Zeus.

Bốn vị thần đầu:

1. Zeus là Thần Bầu trời (Sky)  có  biểu tượng là chiếc búa thiên lôi. Ở đây ta thấy Zeus là Thần Bầu trời với biểu tượng búa thiên lôi nên có mạng dương là khí, gió,  bão tố. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt  Zeus có  khuôn mặt thần Bầu Trời của Tổ Hùng Vương  dưới khuôn mặt Thần Sấm Dông Phù Đổng Thiên Vương có cây gậy sắt-búa thiên lôi. Thần Bầu Trời Zeus có một Khuôn mặt Khí Gió.

2. Poseidon tên có nghĩa là "Chồng của Đất" (Husband of the Earth), Chúa Đất "Lord of the Earth" nhưng thường được biết nhiều dưới tên Thần Biển (tương ứng với Neptune), đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, Poseidon Thần Biển tương ứng với Thần Biển Lạc Long Quân. Ta cũng thấy Lạc Long Quân cũng là chồng của Đất núi Âu Cơ (dẫn 50n con lên núi). Poseidon thường liên hệ với Bò đực (Bull), Lạc Long Quân có một thú biểu là con Trâu Vàng Kim Ngưu (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Như thế rõ ràng Poseidon tương đương với Lạc Long Quân ứng với tượng Nước dương.

3. Hades là Thần Cõi Âm, là Diêm vương (King of the Death). Cõi Âm có một khuôn mặt là địa ngục, ứng với Đất âm.

4. và thần nữ Hesta là nữ thần Lò Sưởi, Bếp Lửa có mạng Lửa âm, Mẹ Lửa ứng với Lửa âm thế gian.

Như thế bốn vị thần nhỏ chính yếu của  12 vị thần Olympus thế gian cũng mang những dòng máu, di thể (genes) ứng với  Tứ Tượng của các vị thần Cả Titans.

Bốn vị thần cõi trần Olympus này đội lốt bốn vị thần cả Titans   nhưng lại thuộc dòng Nòng trong đó vị thần ứng với tượng Lửa lại là một khuôn mặt nữ. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt thì bốn vị vua cõi thế gian của chúng ta thuộc họ Nọc là  bốn Chàng hay bốn Mặt Trời thế gian thuần dương là Chàng Lửa Đế Minh, Chàng Núi Kì Dương vương, Chàng Nước Lạc Long Quân và Chàng Gió Hùng vương đội lốt bốn mặt trời Lửa, Đá, Nước, Khí cõi trời tứ hành…  Ở đây ta thấy truyền thuyết cổ Hy Lạp coi trọng Thần Đất Cronus, cho Cronus là chúa tể của vũ trụ khác chúng ta là Thần Mặt Trời Ánh Sáng Đế Minh đội lốt Viêm Đế. Truyền thuyết Hy Lạp có dấu vết của vũ trụ giáo, dịch nhưng nghiêng về Đất và âm khác với chúng ta có chủ thể là mặt trời, lửa và dương (của ngành nòng âm). 

Tám vị thần Olympus còn lại như đã nói đều là vợ con của Zeus. Thần Bầu Trời Zeus có ít nhất năm bà vợ.

-Vợ thứ nhất cũng là chị/em Hera đẻ ra Ares (Thần Chiến Tranh).
-Vợ thứ hai Demeter cũng là chị/em đẻ ra Persephone (Nữ Thần Suối).
-Vợ thứ ba Leto đẻ ra Apollo, Thần Ánh Sáng, Mặt Trời, Sự Thật…  và Artemis (Diana), Nữ Thần Mặt Trăng, Hoang Dã.
-Vợ thứ tư Maia đẻ ra Hermes, Thần Buôn Bán, Giao Thương.
-Vợ thứ năm Dione đẻ ra Aphrodite, Nữ ThầnTình Yêu và Sắc Đẹp.

Và còn nhiều chứng tích của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, Dịch nòng nọc trong văn hóa cổ Hy Lạp nữa. Hiển nhiên ở đây ta đã đủ thấy có sự hiện diện của Vũ Trụ giáo trong văn hóa cổ Hy Lạp. Tuy nhiên ta cũng thấy Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo trong văn hóa cổ Hy Lạp không chính thống, đã biến thể, có nhiều chỗ vá víu, lệch lạc. Điểm này thấy rất rõ là ngoài bốn vị thần Titans kể trên như đã nói còn có thêm vài vị thần Titans không mấy nổi tiếng khác mang ý nghĩa đã muộn. Vũ Trụ giáo, Dịch không phải phát gốc từ Hy Lạp mà đến từ các nền văn hóa khác. Đến từ đâu? Trong phạm vi bài viết này xin vắn tắt, sẽ khai triển ở một chỗ khác. Ai cũng biết Hy Lạp cổ thời liên hệ chặt chẽ và chịu ảnh hưởng nặng của văn hóa Ai Cập cổ ngay trước cả thời Ptolemic. Như đã biết Ai Cập cổ theo Vũ Trụ giáo rất chính thống như Việt Nam cổ (xem Sự Tương Đồng Giữa Truyền Thuyết Cổ Việt và Ai Cập Cổ). Ngoài ra Ấn giáo là di duệ của Vũ Trụ giáo cũng đã ảnh hưởng nhiều tới văn hóa Hy Lạp cổ. Trong Children of Mu, James Churchward đã viết: “India was the schoolhouse of the Greek philosophers” (Ấn Độ là mái trường của các triết gia Hy Lạp”…  Về nguồn gốc của người Hy Lạp James Churchward cho rằng họ thuộc một nhánh đi từ Lục Địa Đất Mẹ Mu (Continent of Motherland Mu) ở Đông Nam Á (tức Địa Đàng Phương Đông của Stephen Oppenheimer) qua Trung Mỹ, ở đây được biết dưới tên là Kars, Karas, Caras, Carians (Ai viếng thăm Chichen Itza ở Cancun, Mexico sẽ thấy còn ghi khắc khuôn mặt người có râu rất Tây phương). Từ Trung Mỹ qua ngả Atlantis (lục địa đã mất, dấu tích còn lại có thể là đảo Santorini của Hy Lạp ngày nay), tiến tới vùng Tiểu Á (Asia Minor), Bán đảo Balkan và các đảo phụ cận. Nếu đúng như James Churchward nói thì Vũ Trụ giáo trong Hy Lạp cổ đến từ Đất Mẹ Mu Đông Nam Á, nơi phát nguồn của Vũ Trụ giáo còn thấy ghi lại trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. 

……

Kết Luận

Dù gì đi nữa, Vũ Trụ giáo có mặt trong văn hóa cổ Hy Lạp. Vì thế ta phải dùng nguyên lý lưỡng hợp nòng nọc, âm dương, Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, Dịch để nghiên cứu, tìm hiểu và học  truyền thuyết, thần thoại Hy Lạp thì mới mong thấu hiểu trọn vẹn và dễ dàng. Ta có thể dùng truyền thuyết và cổ sử Việt để hiểu truyền thuyết, thần thoại Hy Lạp cổ và ngược lại. 
Hy vọng các nhà Hy Lạp học thế giới sẽ đi theo dấu chân tôi nhìn văn hóa Hy Lạp cổ dưới lăng kính Vũ Trụ giáo, Dịch nòng nọc trong tương lai.
Một lần nữa cho thấy Vũ Trụ giáo là tôn giáo tối cổ của nhân loại còn lưu lại dấu tích trong các nền văn hóa cổ và các tôn giáo lớn hiện nay.

ĐỒ CHÓ Đ… (Thơ Chữ Nghĩa)

Filed under: Bố Mỹ, Đồ Chó Đ... (Thơ Chữ Nghĩa) — Quang Nguyen @ 4:55 am

Thơ Chữ Nghĩa

Bài này làm theo cách các vần cuối của câu thơ viết tắt bằng các mẫu tự, phát âm theo cách học đánh vần hiện nay như đ là đờ, c là cờ, l là lờ. Vì một chữ viết tắt có nhiều nghĩa, thông thường lấy theo nghĩa phổ thông nhưng người đọc cũng có thể chọn lấy bất cứ một nghĩa nào mình thích.

Đồ Chó Đ… (Đờ). (1).

Cùng giống cáo chồn, đồ chó đ…(đờ).

Đuôi chồn, đón gió, lũ cầm c… (cờ) (2).

Máng danh lợi, cắm đầu vào nốc. (3).

Tham bẩn,  cá tra rúc đó, l… (lờ). (4)

Nguyễn Xuân Quang

Chú thích

Xin gợi ý:

1. đ… phát âm theo đánh vần là đờ có nghĩa là ngu, ngốc như sao chúng nó đờ thế. Chó đờ là chó ngu và đ… cũng là chữ viết tắt của đẻ, chó đ… là chó đẻ.

2. c… phát âm theo đánh vần là cờ, có một nghĩa là cờ, cầm c… là cầm cờ, bọn đón gió trở cờ, thời cơ và c… cũng là chữ viết tắt của cược, cọc, cu… Cầm c… là cầm cược là bọn nâng bi, cầm cược, bợ lá…

3. nốc : là ăn uống như nốc sạch, nốc rượu và nốc cũng có nghĩa là cái ghe nhỏ, có nghĩa là bộ phận sinh dục nữ như đã biết n=l, ta có nốc = lốc (cô lô cô lốc…), theo n=đ, nốc = đốc, mồng đốc (clitoris) là cái mồng ở cái đốc, cái nốc của phái nữ.

4. l… phát âm theo đánh vần là lờ (dụng cụ bẫy cá) và cũng là viết tắt của l… (tục). Từ đó cũng có một nghĩa là vật bẫy cá hình túi và cũng chỉ bộ phận sinh dục:

Đó rách ngáng chỗ.

(tục ngữ).

Những bà có cái đó đã rách (nạ dòng) nằm ngáng chỗ không cho các ông mò tìm tới những cái đó còn mới!

Ngoài ra ta cũng thấy đó có nghĩa là ấy (chỗ đó = chỗ ấy), cái đó là cái ấy (tục).

December 4, 2009

CƠ THỂ HỌC TRỐNG ĐỒNG NÒNG NỌC, ÂM DƯƠNG ĐÔNG NAM Á (2).

Filed under: Bố Mỹ, Cơ Thể Học Trống Đồng (2) — Quang Nguyen @ 7:57 am

CƠ THỂ HỌC TRỐNG ĐỒNG NÒNG

NỌC, ÂM

DƯƠNG ĐÔNG NAM Á (2).

(tiếp theo và hết)

Nguyễn Xuân Quang

GIẢI PHẪU NGANG MỘT TRỐNG NẤM

VŨ TRỤ NXQ VI, (Heger I).

Mổ xẻ một trống nấm vũ trụ không gì bằng so sánh với sự mổ xẻ của một cái đèn đá Cây Đời, Cây Vũ Trụ vì đèn đá được làm bằng nhiều bộ phận rời ghép lại, dễ tháo rời và ráp lại được. Về cấu trúc trống đồng hình Cây Nấm Vũ Trụ mang trọn vẹn ý nghĩa của Vũ Trụ luận giống như cây đèn đá đã nói rõ ở chương Khái Lược Về Vũ Trụ Giáo. Cơ thể học của trống Nấm Vũ Trụ NXQ VI vì thế cũng giống như cơ thể học của cây đèn đá.

clip_image002 clip_image006clip_image004

Đèn đá Cây Vũ Trụ -Trống Nấm Vũ Trụ NXQ VI (H.I) Ngọc Lũ I -Cây nấm

Như đã biết Cây Vũ Trụ gồm Ba Cõi, Tam Thế và một Trục Thế Giới nối liền thông thương Tam Thế. Mỗi Thế mang trọn Vũ Trụ thuyết và lại chia ra làm ba tầng. Tổng cộng vũ trụ có chín tầng và một trục đi xuyên qua chính tầng này.

Đối chiếu với cây đèn đá:

clip_image008

Cơ thể học trống Cây Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I)

giống hệt cây đèn đá.

1. Thượng Thế, Cõi Trên, Tạo Hóa hay Đại Vũ Trụ.

Đây là phần chóp đèn (cupola) hình bầu nậm có đế. Ở trống đồng là phần ở chính giữa tâm mặt trống.

clip_image010

Thượng Thế hay Đại Vũ Trụ.

Như đã biết ở chương Khái Lược Về Vũ Trụ Giáo, chóp đèn biểu tượng Cõi Trên, Tạo Hóa gồm Hư Vô, Thái Cực, Lưỡng Nghi âm dương và Tứ Tượng của cõi tạo hóa. Như thế phần tâm mặt trống cũng biểu tượng cõi trên tạo hóa mang trọn nghĩa Vũ Trụ tạo sinh. Phần tâm mặt trống biểu tượng cõi trên ứng với phần vòm của Cây Vũ Trụ, phần chóp của Cây Nấm Vũ Trụ. Vì là trống nên phải có mặt trống là mặt bằng mới đánh xuống tạo ra âm thanh được, do đó trống Cây Nấm Vũ Trụ mới có hình dạng cây nấm bằng đầu. Thật ra phần chỏm Cõi Trên coi như được đập dẹp xuống thành mặt bằng mặt trống hay nói một cách khác là Cõi Trên được cho chiếu xuống mặt trống. Phần tâm mặt trống này gồm có hình vòng tròn hư không âm (bị mặt trời che khuất một phần), mặt trời dương và các khoảng giữa các tia sáng (interradial spaces) (phần còn lại của hư không không bị mặt trời che lấp). Ở những trống diễn tả Vũ Trụ thuyết trọn vẹn như trống Ngoc Lũ I, vòng tròn hư không đi qua đỉnh các tia sáng diễn tả Vô Cực, phần hư không trong vòng tròn diễn tả âm, mặt trời diễn tả dương [Xin lưu tâm là mặt trời ở Cõi Trên được coi như là cái nhân, cái hạt, cái mầm dương, cái tròng đỏ của Trứng Vũ Trụ hay phải coi như là mặt trời vũ trụ (trong nhiều nền văn hóa cổ như trong truyền thuyết Ấn Độ, mặt trời nguyên tạo hay mặt trời vũ trụ sinh ra từ Trứng Vũ Trụ có hình trứng). Nói một cách khác, mặt trời ở tâm trống có hai khuôn mặt. Ở Cõi Trên Đại Vũ Trụ là mặt trời vũ trụ, ở Cõi Giữa Thế Gian là mặt trời trong thái dương hệ]. Hư không và mặt trời sau đó diễn tả hai cực âm dương tức Lưỡng Nghi. Những khoảng giữa tia sáng có những hình thái mà các tác giả ngày nay gọi là hoa văn nói cho biết hư không hay không gian mang cá tính gì. Ở những trống mang trọn vẹn ý nghĩa của Vũ Trụ thuyết như trống Ngọc Lũ I, khoảng giữa các tia sáng này có hình hoa văn mà các tác giả hiện nay gọi là “họa tiết lông công”, tôi đã khám phá ra đây là bốn chữ nòng nọc diễn tả Tứ Tượng nên tôi gọi là “họa tiết tứ tượng” (xem chương Chữ Nòng Nọc Trên Trống Đồng).
Như thế vòng tròn hư không-mặt trời vũ trụ ở tâm mặt trống diễn tả Cõi Trên gồm Vô Cực, Thái Cực, Lưỡng Nghi và Tứ Tượng tức diễn tả trọn vẹn Vũ Trụ thuyết.
Ta cũng thấy rất rõ giống như ở đèn đá, Cõi Trên chia ra làm ba tầng:

a. Tầng Trên của Thượng Thế, Cõi Trên: Bầu Hư Không hay Túi Vũ Trụ

Trên trống đồng được biểu thị bằng vòng tròn đi qua đầu các tia sáng mặt trời. Đây là Túi hư Không, vũ trụ hay cũng có thể coi như là cái vỏ của Trứng Vũ Trụ biểu tượng Vô Cực (ứng với phần bầu tròn của cái chóp bầu nậm của đèn đá).

b.Tầng Giữa của Cõi Trên hay Trứng Vũ Trụ âm dương (phần nậm gồm có phần bầu tròn âm và phần trên hình trụ dương) gồm hư không và mặt trời vũ trụ còn ở dạng nguyên thể, biểu tượng Thái Cực.

c. Tầng Dưới của Cõi Trên (đế bầu).
Diễn tả bằng các khoảng không gian giữa các tia sáng mặt trời có hình thái (hoa văn) mang cá tính khác nhau.

Tóm Tắt

Phần ở giữa mặt trống trên những trống Nấm Vũ Trụ diễn tả Tam Thế có một khuôn mặt là Cõi Trên, cõi tạo hóa hay Thượng Thế.
Phần trung tâm mặt trống tượng trưng cho Thượng Thế, cõi tạo hóa, cõi vũ trụ, cõi trời là phần hình chiếu của vũ trụ mặt trời-không gian xuống tâm trống gồm bọc hư không, trứng hư vô,  là vòng tròn bao quanh đầu các nọc tia sáng mặt trời, các khoảng không gian nằm giữa các nọc tia sáng và những vòng “hoa văn” phía ngoài.
Phân tích ra ta có:
– Vòng tròn bao quanh đầu tia sáng là bọc hư vô, hư không, vô cực, vỏ trứng Thái cực.
–Mặt trời: là cực nọc, cực dương.
–Các khoảng không gian nằm giữa các nọc tia sáng: là phần còn lại của hư không hay không gian không bị mặt trời che lấp. Các khoảng này biểu tượng cho cực nòng khôn. Nếu nhìn cả mặt trời và bọc hư không được diễn tả bằng các khoảng không gian gộp chung lại, đây có thể coi như là Thái Cực. Nếu nhìn riêng rẽ ra thì đây là lưỡng cực, Lưỡng Nghi.
–Tứ Tượng:
Ở nhiều trống các khoảng không gian giữa các nọc tia sáng mặt trời không để trống không mà có các hình ngữ mang biểu tượng cho một tượng, một ngành riêng hay kết hợp hoặc mang đủ cả Tứ Tượng như trường hợp trống Ngọc Lũ I chẳng hạn, giữa các khoảng không gian có hình ngữ mà các tác giả hiện nay gọi là “họa tiết lông công” (xem  Ý Nghĩa Các Khoảng Không Gian).
–Tứ Hành:
Tứ Hành là Tứ Tượng ở dưới dạng vận hành, chuyển hành, sinh tác, sinh động.
Ở nhiều trống mang ý nghĩa vũ trụ tạo sinh trọn vẹn, các “vành hoa văn hình học” (thường thường là bốn vòng chữ nòng nọc) ở phía ngoài bọc Trứng Vũ Trụ thường ở dưới dạng chuyển động vô cùng vô tận, có thể là những vành mang biểu tượng Tứ Hành.

Xin lưu tâm, cần phân biệt, ở những trống khác không mang ý nghĩa Vũ Trụ thuyết trọn vẹn, chỉ mang ý nghĩa một chi, một tượng thì các vành này (thường chỉ có một, hai hay ba vòng chữ nòng nọc) có thể chỉ là những vành cho biết cá tính của Cõi Giữa thế gian (lúc này các vành này thuộc về Cõi Giữa thế gian).

Phần tâm mặt trống mang đủ nghĩa trọn vẹn của Vũ Trụ luận. Phần tâm mặt trống, dưới một diện là hình chiếu của Cõi Trên.

2. Trung Thế hay Cõi Giữa Thế Gian, Cõi Nhân Sinh, Tiểu Vũ Trụ:

Cõi thứ hai của Tam Thế là Trung Thế hay Cõi Giữa (Mường Bưa của Mường Việt cổ) tức trần thế, cõi của những sinh vật (có thể coi như là một thái dương hệ nằm trong đại vũ trụ bao la), cõi người. Đây là phần còn lại của mặt trống và tang trống ứng với phần chính của đèn gồm chụp đèn, lồng đèn và phần đế ngay dưới lồng đèn.

clip_image012

Trung Thế hay Cõi Giữa hay Tiểu Vũ Trụ.

Cõi Giữa thế gian cũng chia ra làm ba tiểu tam thế: tầng trên vòm trời thế gian, tầng giữa đất và tầng dưới nước thế gian.

a. Tầng Trên của Cõi Giữa Thế Gian: không gian hay vòm trời (thế gian) hay cõi trời (heaven).

Ở đây, ở những trống Nấm Vũ Trụ diễn tả Tam Thế trọn vẹn, phần tâm mặt trống mang thêm một khuôn mặt thế gian trong thái dương hệ ứng với chụp đèn. Vòng tròn bao quanh đầu tia sáng biểu tượng bầu không gian, bầu trời, vòm trời, túi trời. Khoảng trong vòng tròn là không gian (space), là trời (sky) và mặt trời đích thực là mặt trời thế gian. Nói một cách khác tầng trên của Cõi Giữa Thế Gian trùng với Cõi Trên ở tâm mặt trống. Như thế trên những trống diễn tả trọn vẹn Vũ Trụ thuyết, phần tâm trống giới hạn bởi vòng tròn đi qua đỉnh các tia sáng có hai khuôn mặt: ở Đại Vũ Trụ diễn tả Cõi Trên và ở Tiểu Vũ Trụ cõi người diễn tả tầng trên, tầng trời (so sánh với Cây Vũ Trụ của tộc Thổ dân Ojbwa có vòng tròn Tạo Hóa ở trên cùng và ở dưới có vòng tròn mặt trời thế gian, ở đây hai vòng tròn là một, Cõi Tạo Hóa và Tầng Trời trùng nhau, xem chương Khái Lược Về Vũ Trụ Giáo).

clip_image015 clip_image016

Tầng Trên hay Bầu Trời Trung Thế tương đương với chụp đèn.

Xin lưu tâm là trên nhiều trống diễn tả Tam Thế, tầng trên của Cõi Giữa Thế Gian thường được biểu tượng bằng những vành hoa văn bao quanh Trứng Vũ Trụ hay bằng một vành chim bay. Trong trường hợp này, phần tâm mặt trống có thể chỉ diễn tả Cõi Trên mà thôi (cần phải dựa vào các chữ viết nòng nọc ở các khoảng giữa tia sáng mặt trời để nhận diện, để phân biệt). Trong trường hợp các trống chỉ biểu tượng Cõi Trên thôi (mặt trời có số tia sáng bằng hay dưới 7, xem chương Ý Nghĩa Mặt Trời Trên Trống Đống Đông Nam Á) thì vành chim bay biểu tượng cho Cõi Trên vũ trụ. Ở những trống muộn hay đơn giản, tầng trời đôi khi chỉ diễn tả bằng một vành trống không (blank band) lớn như thấy trên trống Làng vạc II và III. Đôi khi lại được diễn tả bằng một vành “hoa văn” như trên trống Hữu Chung. Bầu trời được diễn tả bằng một vành uốn khúc hình chữ S đôi nhọn đỉnh diễn tả sóng nước-dương, nước-lửa đang vận hành. Những hình uốn khúc này, dưới một diện là hình biến thể của hình thái sấm gầm diễn tả bầu trời sấm sét. Đây là một trống sấm (xem trống này). Dĩ nhiên trên những trống chỉ diễn tả cõi thế gian thôi, thì tâm mặt trống chỉ diễn tả tầng trên của Cõi Giữa Thế Gian.

b. Tầng Giữa hay Tầng Đất của Cõi Giữa Thế Gian

Tầng giữa của Cõi Giữa Thế Gian ứng với phần chính giữa thân lồng đèn.
Trên những trống nấm Vũ Trụ thuộc nhóm trống thế gian có diễn tả trọn vẹn Tam Thế như trống Ngọc Lũ I, Hoàng Hà, Sông Đà v.v… phần còn lại phía ngoài mặt trống kể từ ranh giới ngoài của vùng bao quanh phần tâm mặt trống (có hình chiếu của cõi trên) ra tới viền trống. Ở đây có những vành biểu tượng cho trần thế nhân gian nên có các hình cảnh, hoa văn diễn tả các sinh hoạt tín ngưỡng của các bang, tộc hay cảnh sinh hoạt nhân sinh…

clip_image019 clip_image020

Tầng Đất Thế Gian tương đương với thân lng đèn.

Tầng này chia ra làm hai vùng đất dương và âm:

–vùng đất dương (núi dương, cao nguyên, đất khô) ứng với phần trụ cao phía trên lồng đèn. Đối chiếu với trống là phần nằm trong sát với mặt trời dương.

clip_image022

clip_image002[1]

Vùng đất dương trên trống Ngọc Lũ

Theo chính thống, trên những trống mang nghĩa Vũ Trụ giáo trọn vẹn như trống Ngọc Lũ I, phần đất dương này thường được biểu tượng bằng cảnh sinh hoạt nhân sinh của ngành, những thú bốn chân, những chim đậu trên mặt đất (đôi khi cũng có thể là những loài chim dương đang bay biểu tượng cho bầu trời của vùng đất dương, cần phải dựa vào các chi tiết khác để phân biệt, xác định).
–vùng đất âm (đất có nước như non, đồi, gò, đồng bằng, ruộng nước) ứng với phần chân dẹp phía dưới của thân lồng đèn. Đối chiếu với trống là phần nằm ngoài gần biên mặt trống.

clip_image024

clip_image002[3]

Vùng đất âm trên trống Ngọc Lũ I.

Theo chính thống, trên những trống mang nghĩa Vũ Trụ giáo trọn vẹn, phần đất âm này thường được biểu tượng bằng những vành chim vùng đất âm bay hay đứng biểu tượng cho cõi trời vùng đất âm, cảnh sinh hoạt nhân sinh của vùng đất âm, những thú bốn chân biểu tượng cho vùng đất âm, thường thấy là hình tượng cóc. Trên trống Ngọc Lũ I , 18 con chim đứng nói cho biết vùng đó là vùng đất âm có nước. Trên trống Nam Ngãi II, ở vùng đất âm này có hình thuyền nói cho biết đây là vùng đất âm có nước.

*Xin lưu tâm

Như đã nói ở trên, ở những trống không mang ý nghĩa trọn vẹn, chỉ mang ý nghĩa một tượng, một chi thì các vành hoa văn nằm sát bọc Trứng Vũ Trụ có thể là những vành cho biết cá tính của vùng đất dương hay cả Cõi Giữa thế gian (lúc này các vành này thuộc về Cõi Giữa thế gian). Trong khi đó các vành hoa văn ở ngoài mép mặt trống có thể cho biết trống thuộc đại tộc nào như ở Trống Ngọc Lũ I có hai vành răng cưa (răng sói) mang ý nghĩa “hai dương” tức thái dương của ngành dương. Trống Ngọc Lũ I là trống dương thái dương. Trong khi ở trống Cổ Loa I cùng nhóm mặt trời có 14 tia sáng như trống Ngọc Lũ I nhưng có hai vành răng lược là hai dương của ngành âm. Trống Cổ Loa I  là trống âm thái dương. Trên các trống chỉ biểu tượng cho một tượng, một chi thôi, thì những vành này chỉ cá tính của vùng đất âm thôi  (lúc này các vành này thuộc về vùng đất âm của Cõi Giữa thế gian).

b. Tầng Dưới hay Tầng Nước của Cõi Giữa Thế Gian.

Tầng dưới của Cõi Giữa Thế Gian ứng với phần đế hình hoa của lồng đèn biểu tượng cõi nước nhân gian hay cõi trời nước của Cõi Dưới (yin heaven). Đối chiếu với trống là phần bầu phình hay vai trống.

clip_image027 clip_image028

Tầng Nước của  Cõi Giữa Thế Gian tương ứng với đáy phần lồng đèn.

Theo chính thống, trên những trống mang nghĩa Vũ Trụ giáo trọn vẹn, tầng nước này nếu biểu tượng cho tầng nước thế gian thì thường được biểu tượng bằng cảnh sinh hoạt nhân sinh dưới nước của ngành âm như thuyền bè, các loài sống dưới nước như cá, chim nước…, còn nếu dùng biểu tượng cho cõi trời của Cõi Âm thì thường thấy cảnh thuyền phán xét linh hồn (xem chương Hình Thuyền Trên Trống Đồng).

*Xin lưu tâm

Những cảnh sinh hoạt dưới nước phải thể hiện ở tầng nước tức vai trống hay ở trục trống (trong trường hợp ở trên trục trống những thuyền này có thể đi lại được ba cõi). Nếu những cảnh này xuất hiện ở những nơi nào khác của trống thì những trống đó là trống muộn hay trống rởm. Ví dụ như trên trống Nam Ngãi II nói trên, trên mặt trống có những hình thuyền trên sóng nước. Trống Nam Ngãi II là trống rất muộn.

Tóm lại Cõi Giữa Thế Gian gồm có phần còn lại của mặt trống (sau khi đã bỏ đi phần tâm mặt trống biểu tượng Cõi Trên) và phần bầu vai trống. Dĩ nhiên Cõi Giữa thế gian gồm ba tiểu tam thế cũng bao gồm đủ nghĩa vũ trụ luận.

3. Hạ Thế, Cõi Dưới, Cõi Âm, Âm Thế.

Đây là phần chân trống ứng với chân đèn mang biểu tượng cho Hạ Thế, Cõi Dưới, Cõi Âm, Âm thế.

clip_image030clip_image032

Chân trống tương ứng với chân đèn.

Theo nguyên tắc Cõi Dưới cũng chia ra làm ba tầng. Ở những trống chính thống diễn tả trọn vẹn Vũ Trụ thuyết như  trống Ngọc Lũ I, chân đế trống có hình nón cụt chia ra hai phần thấy rõ: phần trên ngắn nghiêng biểu tượng tầng trên, phần dưới dài choãi ra biểu tượng tầng giữa và phần không thấy gồm miệng đáy trống biểu tượng tầng dưới. Cõi Âm là cõi tăm tối nên theo chính thống thường không có trang trí gì cả ngoại trừ những vòng tròn đơn sơ. Trên những trống muộn, không chính thống như trống Sangeang Malakamau, Salaya, có những cảnh người, vật, chim, thú trên đáy trống. Những cảnh này phải được coi như là cảnh của Âm Thế. Đây là lý do hình người và thú ở đây vẽ rất “trẻ thơ” (childish) và rất “hề” (“clownish”) như A.B. Kempers đã nhận xét (xem phần giải đọc trống Sangeang).

Tóm lại chân hay đế trống biểu tượng Hạ Thế, Cõi Dưới, Cõi Âm, Âm Thế.

4. Trục Thế Giới:

Đây là phần trụ trống hay thân trống hay eo trống ứng với trụ đèn biểu tượng Trục Thế Giới.

clip_image034 clip_image036

Thân trống hay Trụ củaTrống ứng với Trụ đèn.

Phần thân thực sự của trống là phần lưng trống thẳng đứng hình trụ tròn chính là trục trống biểu tượng Trục Thế Giới, trục vũ trụ. Như đã biết đây là phần kết nối, thông thương ba cõi, liên lạc giữa thượng giới, trần gian và cõi âm. Trục Thế Giới có đỉnh là tâm mặt trời tức là đỉnh vũ trụ (zenith) và đáy là rốn vũ trụ (nadir). Ở những trống nấm Vũ Trụ Tam Thế chính thống, Trục Vũ Trụ phải thẳng đứng song song với trụ trống. Nói một cách khác là thân, eo trụ trống phải thẳng đứng như thấy ở trống Ngọc Lũ I. Còn những trống có thân, trụ trống nghiêng hay choãi ra như trống Miếu Môn I, Bản Thôm, Phú Xuyên… là những trống diễn tả một tượng nào đó trong Vũ Trụ giáo hay chỉ là những trống muộn mà thôi, ví dụ như ở trên đã thấy những trống có thân nghiêng choãi có thể là những trống hình trụ chống, hình tháp NXQ V (H.II) biểu tượng cho đất dương, núi Thế Gian, thường tìm thấy ở cao nguyên. Cũng cần biết thêm là ở những trống Tam Thế chính thống, trụ trống hay thân trống phải có một chiều cao cân xứng với chiều cao của Ba Cõi tức chiều cao của cả trống. Trống Cây Nấm Vũ Trụ trông phải cân đối. Thế nào là một trống Tam Thế cân đối? Một trống Tam Thế cân đối diễn tả trọn vẹn Vũ Trụ thuyết phải có tâm trống nằm ở tâm trụ trống trùng với tâm hình trứng (hay bầu dục) tiếp xúc ngoài của trống (hình bìa Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á). Tiếc rằng tôi chưa có dịp được đo chiều cao của những trống chính thống như trống Ngọc Lũ I rồi so với các phần còn lại mà chỉ đo trên hình ảnh thì thấy chiều của thần trống bằng chiều cao của Tam Thế gồm mặt trống-tang trống (Thượng Thế và Trung Thế) và chân trống (Hạ Thế) (xem Trống Đồng Của Việt Nam Hay Của Trung Hoa?).

Những trống có chiều cao của thân trống không cân xứng với chiều cao của trống là những trống biểu tượng cho một tượng trong Vũ Trụ giáo (ví dụ trống trệt NXQ IV không có trụ trống) hay chỉ là những trống Tam Thế muộn hoặc rởm.

*Xin lưu tâm

Trục Thế Giới và thân của Trụ Chống Trời đều nằm trong thân của Cây Vũ Trụ nên nhiều khi Trục Vũ Trụ được coi như là hay lẫn lộn với Trụ Chống Trời, núi nguyên khởi, núi Vũ Trụ (Cosmic Mountain), Núi Thế Giới (World Mountain) biểu tượng cho đất thế gian (Núi Kình Thiên Trụ, Núi Tản Viên, Núi Kỳ trong truyền thuyết và cổ sử Việt, Núi Meru của Ấn Độ, Núi Olympia của Hy Lạp… là những hình ảnh của Núi Thế Giới hay Trục Vũ Trụ). Vì thế ta phải nhìn trụ trống theo từng loại trống: có loại thân trống là Trục Thế Giới và có loại thân trống là Trụ Chống Trời, núi Trụ Thế Gian. Do đó sự diễn giải các “hoa văn”, hình người, thú trên thân trống cũng thay đổi theo. Ở những trống thân trống là Trục Thế Giới thì theo chính thống chỉ khắc những hình vật có thể đi lại ba cõi. Ví dụ các đấng siêu phàm, thần tổ (Supreme Beings), các thầy tế, phù thủy, thầy thuốc shaman, bà đồng, ông mo, các linh hồn người chết… có thể lên trời hay đi xuống âm thế. Trục Thế Giới lưng trống là siêu xa lộ xuyên ba cõi của họ. Họ là những kẻ có thể lên cõi trời liên lạc với các thần linh cõi trên và đi xuống cõi âm, liên lạc được với âm thần, với các âm hồn và linh hồn người chết có thể lên cõi trên hay bị đẩy xuống cõi dưới, địa ngục theo trục lộ này. Chỉ có giới này và linh hồn mới có thể đi lại lên xuống giữa Tam Thế theo trụ trời, Trục Vũ Trụ. Còn hình thú vật, thì đây hoặc là những con thú thần vật tổ hoặc là những con thú hướng dẫn, những con thú dùng làm phương tiện chuyển vận hay là những con vật hy sinh dùng trong lễ hiến tế dâng tới Tam Thế. Trục thế giới và núi Trụ Thế Giới được dùng làm phương tiện, làm trụ, trục để dâng lễ vật tới ba cõi đúng như Eliade, Mircea đã xác nhận “the sacrificial post is an axis mundi” (1964) (“Trụ tế vật hy sinh là trục thế giới”). Điều này cũng thấy rõ sau này con người đắp các đống, gò, xây các tháp cao… và ngày nay thường lập hay đắp các đàn cao (như đàn Nam Giao ở Huế, đàn Tế Trời Đất ở Đền Thiên Môn Bắc Kinh, Trung Hoa) để tế lễ dâng cúng vật. Đống, gò, tháp, đàn là hình ảnh của Trục Thế Giới. Đống, tháp mang hình ảnh Trục Thế Giới, đường lên trời, núi Trụ Thế Gian nên dùng làm mồ chôn của các tù trưởng, tộc trưởng, của vua chúa. Linh tự Ai Cập “offering”, “vật cúng dường, lễ vật” có hình tháp nhọn, hình ảnh của Trục Thế Giới, Núi Trụ Thế Gian (xem thêm Trục Thế Giới ở phần Ngữ Vựng trong Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á) ).
Rõ như ban ngày trục trống trong trường hợp là Trục Thế Giới, một thứ trụ tế sinh vật, thì những hình thú trên thân trống chính là những con vật hy sinh.
Còn ở những trống có thân trống coi như là núi Trụ Thế Gian, thì người và thú trên thân các trống này mang nghĩa biểu tượng cho người và thú thế gian của tộc ứng với trống.

Tóm lại theo chính thống, trụ trống (thân trống, eo trống) biểu tượng cho Trục Thế giới, Trụ Chống Trời hay Núi Thế Gian, Cõi Giữa thế gian.

Cơ Thể Học và Phân Loại Trống.

Trống Cây Nấm Vũ Trụ, Cây Đời NXQ VI (H.I) mang ý nghĩa âm dương tứ tượng, tam thế, sự sống, sinh tạo là kết hợp của các trống mang ý nghĩa âm dương tứ tượng. Như  thế, bốn loại trống biểu tượng Tứ Tượng là Trống Lửa NXQ II, Gió NXQ III, Nước NXQ IV, Đất NXQ V để chồng lên nhau tức kết hợp lại ta có trống Nấm Vũ Trụ NXQ VI. Ngược lại nếu ta cắt bỏ bớt một, hai phần của trống Cây Nấm Vũ Trụ ta sẽ có những dạng trống Tứ Tượng tạo ra nó.

Trống Trứng Vũ Trụ, Thái Cực, NXQ I.

Trống đồng âm dương hở đáy này có hình trứng trông giống như một trống thùng thông thường hai đầu bịt da kín là một thứ trống trứng âm dương ở dạng thái âm thái dương ở đại vũ trụ. Trống Trứng Vũ Trụ NXQ  I  là một thứ noãn nang,  bào tử, một thứ hạt mầm sinh ra trống nấm Cây Vũ Trụ NXQ VI và ngược lại trống Nấm Vũ Trụ NXQ VI lại sinh ra hạt quả (một thứ trứng) tức trống Trứng Vũ Trụ NXQ  I. Đây là vòng sinh tạo. Nói một cách khác trống Trứng Vũ Trụ NXQ I bao bọc trống Nấm Vũ Trụ NXQ VI như thấy ở hình bìa tác phẩm Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á tập I .

Trống Cực Dương Lửa Càn Hình Trụ Ống, NXQ II.

Trống NXQ II có một khuôn mặt biểu tượng cho cực dương, thái dương, thuần dương ở cõi đại vũ trụ nên khi ta giải phẫu dựa trên trống Cây Nấm Vũ Trụ thay vì mổ xẻ trên trống Trứng Vũ Trụ ta phải cắt bỏ hết phần âm của trống Nấm Vũ Trụ nghĩa là các phần cong (đầu và đế) của trống Nấm Vũ Trụ để còn lại phần thuần dương trụ trống hình ống tức trống cực dương, lửa trời (ánh sáng) thái dương, Càn  NXQ II. Ta cũng thấy rõ  trụ trống đi xuyên qua Ba Cõi nên trụ trống gồm ba tiểu trụ (III) của Ba Cõi nên có một khuôn mặt là Càn hay Kiền (III) lửa vũ trụ. biểu tượng cho cực dương và cũng là biểu tượng cho tượng lửa thái dương tức

clip_image038clip_image002[7] clip_image041 clip_image043

Cắt bỏ mặt, vai và đế trống còn lại trụ trống, ta có trống moko hình trụ ống NXQ II.

Trống hình trụ moko của Nam Dương có thể coi là một dạng trống biểu tượng cho cực dương và cũng là biểu tượng cho tượng lửa thái dương.

Do đó loại trống này biểu tượng cho Lửa (||) dương (|), Lửa Vũ Trụ, cho Mặt trời-lửa, thái dương, Càn, cực dương.

Trống Gió Dương, Đoài Vũ Trụ, Vũ Trụ Gió, Sấm Dông Hình Lọng NXQ III (Heger III).

Ở cõi tiểu Vũ trụ, trống Nấm Vũ Trụ NXQ VI coi như là Trống Cây Tam Thế. Nếu cắt bỏ đế trống, còn lại thân (I) và vòm cây (O) tức IO, thiếu âm, nguyên thể của khí gió. Trống loại này có hình lọng, ô, dù biểu tượng cho Vòm trời, Khí gió, Vũ trụ gió, Đoài Vũ trụ.

clip_image046clip_image048 clip_image049 clip_image045

Cắt bỏ đế trống còn lại mặt, vai và trụ trống, ta có trống hình lọng NXQ III.

Như thế trống loại này biểu tượng cho tượng gió dương, cho Mặt trời-gió, lửa-gió (lửa trong gió là chớp sấm dông), Thiếu âm, Đoài vũ trụ và biểu tượng cho vũ trụ  khí gió, Mặt Trời-vũ trụ.

Trống Đồng Tượng Nước Dương, Vũ Trụ Nước, Sấm Mưa Chấn, Cực Âm  NXQ IV có hình cái Âu.

Nếu cắt bỏ phần trụ trống ta còn lại phần trên và đế trống. Vì mất thân trống nên trống trông lùn tịt trông như cái âu vì thế mới có biệt danh là “trống trệt” (squat  drum).

clip_image046[1] clip_image053 clip_image054clip_image051

Cắt bỏ trụ trống, còn mặt, vai và đế trống, ta có trống trệt NXQ  IV (Heger IV).

Trụ trống là phần dương của trống, mất phần dương nên trống này là trống âm. Dưới phương diện tứ tượng, diễn tả theo chữ nòng nọc, trống có phần bầu nước ở trên là O và phần đế Cõi Âm hình nón trụ cụt đầu mang dương tính là O dương, như thế trống âu là trống nước dương. Nếu hiểu trụ trống theo diện Trục Thế Giới thì khi cắt bỏ Trục Thế Giới đi tức là lấy đi ba tiểu trục tức ba phần dương thì trống còn lại ba phần âm OOO của Ba Cõi. Ba phần âm OOO chính là Khôn (ứng với III, Càn). Trống là trống Khôn dương tức Chấn Vũ trụ sinh tạo.
Như thế trống loại này biểu tượng cho tượng nước dương, biển, cho Mặt trời-nước, lửa-nước (lửa trong nước là chớp sấm mưa), Thái âm, Chấn biểu tượng cho cực âm và Vũ Trụ âm, Tạo Hóa âm.
Trống này nói chung là Trống dương (I) của ngành thái âm (OO) tức IOO (Chấn), nước Vũ trụ sinh tạo, là sấm mưa, biển…

Trống Lửa Thế gian, Đất dương, Li, Trục Thế giới có hình Trụ Chống hay Trống Tháp NXQ V (Heger II).

Nếu cắt bỏ phần vai còn lại mặt, trụ trống và đế trống mang hình ảnh của trụ chống hay hình tháp cụt

clip_image046[2] clip_image058 clip_image059 clip_image056

Cắt bỏ vai còn lại thân, mặt và đế trống, ta có trống hình tháp NXQ V (Heger II).

Trống loại này biểu tượng cho tượng đất dương, núi dương (nổng), cho Mặt trời-đất, lửa-đất (lửa từ núi phun ra, núi lửa), lửa thế gian, Thiếu dương, Li và đôi khi biểu tượng cho Núi Trụ Thế Gian, Trục Thế Giới.

* Xin lưu tâm:

Ở cõi đại vũ trụ ta phải cắt hai phần âm của trống Nấm Vũ Trụ để có được phần thuần dương, thái dương có một khuôn mặt Tượng Lửa.
Ở cõi tiểu vũ trụ ta chỉ cần cắt một phần của trống Nấm Tam Thế ta có được một loại trống biểu tượng cho một Tượng, một Thế.

Những Tiểu Loại (Loại Phụ) Trống Đồng

Như trên đã thấy một loại trống có khi mang hai khuôn mặt như trống hình trụ ống NXQ II có thể là biểu tượng của cực dương vừa có thể là biểu tượng của tượng Lửa; trống trụ chống hay hình tháp NXQ V có thể là biểu tượng của tượng Đất dương hay Trục Thế Giới. Trống hình cái âu IV vừa là trống biểu tượng cho Vũ trụ  âm vừa là trống biểu tượng cho tượng Nước dương. Trống hình lọng NXQ III có thể là trống biểu tượng cho tượng Gió dương vũ trụ, gió và hư không của ngành gió. Mỗi loại trống lại có thể có những trống biểu tượng cho ba tầng thế gian ứng với Ba Cõi, Tam Thế, vì thế trống có nhiều loại phụ hay gọi theo Heger là trống có dạng trung gian, chuyển tiếp. Những dạng phụ này dáng trống có thể biến đổi đi một chút, ví dụ nếu trống NXQ V biểu tượng cho tượng đất, núi Trụ Thế Gian thì có thể chỉ có phần đế trống loe ra nhiều hơn, còn nếu biểu tượng cho Trục Thế Giới thì phần thân trụ có thể cao, dài hơn; trống NXQ III khi biểu tượng cho vũ trụ hư vô, phần vòm lọng có thể tròn hơn v.v…
Hơn nữa, cũng xin lưu tâm là mỗi tượng lại chia ra bốn tiểu tượng, nói một cách khác, mỗi loại trống có thể có bốn khuôn mặt ứng với tứ tượng Lửa, Đất, Nước, Gió, ví dụ trống Nấm Vũ Trụ NXQ VI có thể có bốn khuôn mặt Lửa, Đất, Nước, Gió như thấy khắc ở trống Ngọc Lũ I.

clip_image061

Từ trái qua phải:

1. Trống Nấm Vũ Trụ NXQ V có đế loe rộng biểu tượng cho tộc Đất của liên bang mặt trời.

2. Trống Nấm Vũ Trụ NXQ IV không có trụ trống biểu tượng cho tượng hay tộc Nước của liên bang mặt trời.

3. Trống Nấm Vũ Trụ NXQ III có vòm bầu rất tròn biểu tượng cho tượng hay tộc Gió của liên bang mặt trời.

4. Trống Nấm Vũ Trụ NXQ II có thân trụ hình ống thẳng biểu tượng cho tượng hay tộc Lửa của liên bang mặt trời.

Dàn trống Nấm Vũ Trụ này biểu tượng trọn vẹn Vũ Trụ thuyết hay biểu tượng cho họ, đại tộc Vũ Trụ-Mặt Trời gồm có bốn trống tương ứng với Tứ Tượng hay bốn chi tộc.
Cần phải dựa vào các biến đổi hình dạng hay các chi tiết, các “hoa văn” để nhận diện, phân biệt.

Giải Phẫu Dọc Một Trống Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I).

Trống Đồng qua Hình Ngữ và Chữ Viết Nòng Nọc.

Trống Nấm Vũ Trụ biểu tượng cho trọn vẹn Vũ Trụ thuyết diễn tả bằng Nấm hay Cây Vũ Trụ, Cây Đời, Cây Tam Thế, sinh ra con người nguyên khởi (thần, Tổ, Mẹ Đời, Cha Đời) vì vậy khi bổ dọc (profile) trống cũng có hình một cái cây hay hình người nguyên khởi ngồi bẹt hai chân ra ở tư thế sanh đẻ (Mẹ Đời) hay đứng (Cha Đời) hai tay đưa lên phía trên đầu. Đây chính là hình ngữ hay chữ nòng nọc diễn tả Cây Vũ Trụ, con Người Nguyên Khởi và cả con Người Thế Gian.

clip_image063 = clip_image065

Thiết diện dọc một trống Cây Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI.

Hình ngữ chữ nòng nọc Cây Đời, Cây Vũ Trụ hình người này còn thấy khắc lại nhiều trên các đồ đồng Đông Sơn. Trong bảng sưu tập các hình khắc trên các đồ đồng Đông Sơn mà Hà Văn Tấn cho rằng đây có thể là những chữ viết. Ta thấy chính là hình số 3.

clip_image067

Bộ sưu tập những hình khắc như chữ viết trên đồ đồng Đông Sơn của Hà Văn Tấn.

Hình số 4 cũng là chữ nòng nọc chỉ Cây Vũ Trụ nhưng ở đây Trục Thế Giới thân cây đi xuyên qua cả Ba Cõi, có thể đây là hình Cha Đời, người đàn ông nguyên khởi vì ở giữa hai chân có cái nọc. Hình 5, 6, 7 là hình biến thể của Cây Đời, Cây Vũ Trụ.
Như thế ta thấy rõ Trống Nấm Vũ Trụ, Trống Cây Tam Thế có một khuôn mặt là Trống Cây Đời biểu tượng Cây Đời Sống, biểu tượng cho Con Người. Trống đồng là Trống Người. Chúng ta là Man, Mán, Mường có nghĩa là Người. Vậy trống này là Trống Người, Trống Man giống như thư tịch cổ Trung Hoa gọi là Trống Man. Trống đồng âm dương là của Man, Mán, Mường của Đại tộc Việt.  Điều này cũng giải thích tại sao trống NXQ VI được tìm thấy nhiều nhất ở Việt Nam và được các tác giả Việt Nam gọi là trống Đông Sơn.
Trống Cây Vũ Trụ có thể diễn tả bằng chữ nòng nọc ta suy ra các trống khác cũng có thể diễn tả bằng chữ nòng nọc.
Thật vậy trong các hình thấy ở lưỡi cầy và khí giới ở trên ta thấy:

.Hình số 1 là chữ nòng nọc gồm chữ nọc hình trụ I cắm trên đáy là chữ nòng O clip_image069 có nghĩa OI, thiếu dương bản thể của đá, đất dương tức trụ chống trời, Núi Vũ Trụ mang hình ảnh miếu thổ thần gồm cây đa trồng trên một gò đất tròn thấy nhiều ở Bắc Việt Nam. Đây là thiết diện dọc nòng nọc của trống NXQ V (H.II).

.Hình số gồm một hình chữ U ở trên chữ U úp ở dưới. U là dạng nam hóa của O. Hai chữ U  chồng lên nhau clip_image070 chính là hai chữ nòng O chồng lên nhau ở dạng nam hóa. Hai nòng OO, thái âm là bản thể của nước, hai U là nước mang dương tính tức nước dương, mặt trời nước. Hai OO, hai UU chồng lên nhau tạo thành hình sóng cuộn tức nước động, nước dương. Theo duy âm là âm thái dương, nữ thái dương là hình (Name of) Goddess của Pagan Symbols (xem chương Chữ Viết Nòng Nọc). Theo duy dương, ở đây trống có hình cái âu nên chữ U ở đế có đỉnh chỉ thiên và hai nhánh choãi ra thành hình chữ V ngược cụt đầu mang dương tính nhiều hơn nên trống NXQ IV là trống âm nam, trống Chấn, trống mặt trời nước.

.Từ chữ nòng nọc trống trụ chống trời của trống nổng lửa-đá là cái nọc cắm trên nòng, ta có thể suy ra chữ nòng nọc ứng với thiết diện dọc của trống lửa gió (dông) NXQ III là hình ngược lại tức nòng cắm trên nọc clip_image071 tức IO, thiếu âm, nguyên thể của khí gió, tức hình cái quạt, cái lọng.

.Còn thiết diện dọc của trống hình trụ lửa NXQ II dĩ nhiên là hình chữ nọc thẳng đứng clip_image072.

TÓM  LƯỢC

Như thế cơ thể học của trống đồng cho ta thấy rõ hình dạng và cấu trúc của trống đồng phản ánh trọn vẹn Vũ Trụ thuyết.
– Nhìn tổng quát trống đồng có mục đích làm để hở đáy để diễn tả hai khuôn mặt âm dương. Trống đồng là trống dương âm.
– Về phương diện tôn giáo, trống là trống biểu, giáo biểu của Vũ Trụ giáo dựa trên căn bản âm dương và về ngành dương hay ở thời phụ quyền cực đoan, trống đồng là giáo biểu của đạo thờ Mặt Trời. Trống đồng là giáo biểu của Vũ Trụ giáo, Mặt Trời giáo giống như bánh xe luân hồi của Phật giáo, cây thánh giá của Thiên Chúa giáo. Quaritch-Wales cho rằng “tôn giáo cổ của Đông Nam Á là tôn giáo trống”. Hiển nhiên ta thấy tôn giáo trống là Vũ Trụ giáo hay Mặt Trời giáo.
– Về văn hóa trống đồng âm dương là trống đồng Dịch, là bộ Dịch bằng đồng, trên đó còn ghi khắc lại một thứ chữ âm dương cổ nhất của loài người là chữ Nòng Nọc (xem chương Chữ Nòng Nọc Trên Trống Đồng). Dịch trên trống đồng còn viết dưới dạng chữ nòng-nọc (vòng tròn-que), nên Dịch đồng Đông Sơn là Dịch Nòng Nọc, khác với Chu Dịch viết bằng hình que và que đứt đoạn.
– Về phương diện dân tộc học, trống đồng là trống biểu của đại tộc Vũ Trụ-Mặt Trời, theo duy dương là họ Người Mặt Trời. Họ Người Mặt Trời có hai ngành nòng nọc âm dương: ngành mặt trời nọc rạng ngời và ngành mặt trời nòng êm dịu và chia ra làm bốn đại tộc người ứng với Tứ Tượng. Quan niệm bốn tộc người này ứng với Tứ Dân, Tứ Di mà người Trung Hoa gọi chúng ta và còn thấy trong văn hóa thổ dân Mỹ châu và Úc châu (xem chương Ý Nghĩa Hình Người Trên Trống Đồng).
Trống đồng với hình dạng khác nhau là trống biểu của mỗi ngành, mỗi tộc. Như đã thấy mỗi vùng, mỗi tộc làm nhiều một loại trống nào đó hơn ở nơi khác, tộc khác. Điều này cho thấy mỗi loại trống là một thứ trống biểu của mỗi ngành mỗi tộc khác nhau: người Shan, Karen nói tiếng Tầy Thái làm nhiều trống Mặt Trời Gió có thể là tộc thiếu âm gió-vũ trụ thiếu âm của ngành âm; các tộc Tầy Âu nam Trung Hoa làm nhiều trống Mặt Trời Nước có thể là tộc thái âm nước-vũ trụ thái âm; người Nam Dương ở hải đảo làm nhiều trống moko, pejeng, Mặt Trời-Lửa hình trụ ống biến thể, có thể là tộc thái dương lửa, người cổ Việt có tộc, có vùng làm nhiều trống thiếu dương Mặt Trời Đất có thân choãi hình tháp, tìm thấy nhiều ở cao nguyên Việt Nam, là tộc thiếu dương đất (con cháu của Vua Mặt Trời Đất Kì Dương Vương) và nhất là người Đông Sơn làm rất nhiều trống Nấm Vũ Trụ Đông Sơn (NXQ VI) nên người cổ Việt Đông Sơn là “mẫu quốc”, là đất tổ của liên bang của bốn tộc người (ứng với liên bang Văn Lang) và trống đồng có nguồn cội ở Đông Sơn.
– Đối chiếu với cổ sử và truyền thuyết Việt Nam, trống đồng là trống biểu của họ Người Vũ Trụ – Mặt Trời. Theo duy dương trống đồng là giáo biểu của họ Người Việt Mặt Trời Hồng Bàng (Họ Đỏ, Họ Mặt Trời). Họ Mặt Trời Hồng Bàng gồm có hai ngành ứng với Văn và Lang của liên bang Văn Lang: ngành nọc Càn, Văn mặt trời dương là ngành Mặt Trời Chói Chang Rạng Ngời hay Hùng Dương (có vua thái tổ là Kì hay Kinh Dương Vương) và ngành dương của nòng âm Khôn, Lang mặt trời vũ trụ là ngành Mặt Trời Êm Dịu hay An Dương (có vua thái tổ là An Dương Vương) và chia ra làm Bốn Dân (Tứ Dân) ứng với Tứ Tượng mà người Trung Hoa gọi là Tứ Di (Bắc là Hung Nô, Tây là Tây Khương, Đông là Đông Di và Nam là Nam Man). Chúng ta có bốn Thần Tổ là Bốn Vua Mặt Trời ứng với Tứ Tượng là Đế Minh Mặt Trời Ánh Sáng- Lửa, Kì Dương Vương Mặt Trời Đất, Lạc Long Quân Mặt Trời Nước và Hùng Vương Mặt Trời Gió. Chúng ta cũng có bốn địa danh ứng với tứ tượng là Châu Dương (Châu Mặt Trời), Châu Kì (Châu Đất), Châu Phong (Châu Gió) và Châu Hoan (Châu Nước, với h câm hoan = oan, oan ương là vịt nước, le le).
Để dễ hình dung ra hãy so sánh với Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc, Trống đồng âm dương biểu tượng cho họ Mặt Trời Viêm Đế-Không Gian Thần Nông, có hai ngành: ngành dương mặt trời tức Con Gà và ngành âm không gian tức Con Tôm. Họ này gồm có bốn đại tộc ứng với Tứ Tượng là bốn vị Vua Mặt Trời:  1. Lửa Vũ Trụ Đế Minh ứng với Bầu Lửa màu đỏ,  2. Đất dương, Lửa thế gian Kì Dương Vương ứng với Con Cọc, Hươu Cọc,  3. Nước dương thế gian Lạc Long Quân ứng với con Cá Chép và  4. Gió dương Hùng Vương ứng với con Cua Gió (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc).

Nói gọn lại một lời: về phương diện cơ thể học trống đồng là trống âm dương, là giáo biểu của Vũ Trụ giáo, là bộ Dịch đồng Nòng Nọc, là pho sách bằng đồng ghi lại thứ chữ nòng nọc cổ nhất của nhân loại, trống đồng là họ biểu, bang biểu, tộc biểu và theo duy dương là bộ sử đồng của họ mặt trời ứng với họ Hồng Bàng của chúng ta.

Cước Chú:

-Từ trống đồng phải hiểu là trống đồng nòng nọc, âm dương hở đáy, còn những loại trống có hai mặt dù có làm bằng đồng cũng không phải là trống đồng biểu tượng Vũ Trụ giáo thật sự. Do đó, tôi dùng từ trống đồng nòng nọc, âm dương để chỉ trống đồng gốc của người Đông Sơn.

-Những lý do tôi chọn xếp loại trống đồng vào sáu loại:
Có người sẽ thắc mắc là tại sao không phân chia trống đồng ra làm nhiều loại như 7, 8, 9, 10 loại mà chỉ chia ra làm 6 loại mà thôi. Tôi đã “trăn trở” một thời gian rất lâu và thử chia theo những con số khác như nêu ở trên nhưng tôi thấy những phân chia đó không thích hợp với trống đồng hở đáy tức trống nòng nọc, âm dương (những phân loại khác có thể thích hơp với trống thông thường dùng trong âm nhạc). Sau đây là một vài điểm căn bản mà tôi đã dựa vào để chia trống đồng âm dương ra là 6 loại:

.Trống đồng là trống biểu của Vũ Trụ giáo dựa trên âm dương (2) và Tứ Tượng (4) nên 2+4 =6. Do đó tôi phân loại trống đồng ra làm 6 loại.

.Số sáu là số sinh tạo ra vũ trụ dựa trên âm dương như thấy qua hình ngôi sao sáu cánh trong Ấn giáo, ngôi sao sáu cánh David của Do Thái giáo và thấy trong nhiều tín ngưỡng khác nữa. Ngôi sao sáu cánh là do tam giác thuận dương đỉnh chỉ thiên chồng lên tam giác nghịch âm đỉnh chỉ địa.

.Số 6 diễn tả trọn vẹn không gian và thời gian. Về không gian số 6 = 2 + 4 có 2 là mặt đứng gồm thiên đỉnh zenith và “rồn đất” nadir và 4 là mặt bằng diễn tả bốn hướng (Cardinal points). Về thời gian theo âm lịch của ngành nòng, âm thời gian đều là bội số của 6 như ngày 6 khác, một năm 12 tháng, ban ngày 12 giờ, ngày đêm 24 giờ, tháng 30 ngày (6×5), một giờ 60 phút, một phút 60 giấy (6×10), một năm 360 ngày (6×10)…

.Trống đồng hở đáy là trống âm dương nên phải khởi đầu loại I là trống âm dương, vũ trụ, Thái Cực. Trống đồng âm dương không thể dùng làm biểu tượng cho trống hư không vô tính, trống cực âm thuần âm hay trống cực dương thuần dương, do đó gần như không thấy trống đồng âm dương hở đáy có hình cái cong, cái cóng, hình mõ hay hình trụ kín thuần dương, nếu có trống hình mõ hay hình trụ mang dương tính thì đó là những trống đồng thường mà thôi. Như thế trống đồng âm dương diễn đạt Vũ Trụ thuyết từ giai đoạn Trứng Vũ Trụ, Thái Cực và chấm dứt ở giai đoạn Sinh Tạo, Sự Sống, Cây Đời Cây Tam Thế. Do đó trống đồng âm dương chỉ gồm có 6 loại mà thôi.

-Số sáu theo Dịch là số thành, hoàn tất, sinh tạo, hoàn tất chu kỳ sinh tạo, tái sinh. Số 6 là số chẵn, số âm (tôi chọn số chẵn vì trống đồng hở đáy là trống âm dương, Dịch trên trống đồng phải là Dịch nòng nọc âm dương đề huề và người Đông Sơn thuộc dòng sông nước, ruộng nước, Mặt Trời Nước tức dòng Nòng, nên nghiêng về số âm, chẵn). Trong tám quẻ, theo duy âm, ta có bốn quẻ âm số O, 2, 4, 6. Số không là âm sơ sinh nguyên tạo, số 2 là âm non, lưỡng nghi, số bốn là âm trưởng thành, tứ tượng, số 6 là âm già (lão âm), âm thái dương là âm hoàn thành, trọn vẹn, hoàn nguyên, tái sinh (số 6 lại trở về số 0). Số sáu là tổng cộng của O + 2 + 4 = 6. Trống NXQ VI là trống tổng hợp hết các loại trống khác, như trên đã thấy trống NXQ VI giải phẫu tách ra được các loại trống khác.
Đối chiếu với thai kỳ của phụ nữ kéo dài chín tháng 10 ngày bao gồm đủ từ số O tới số 9: Khởi đầu là trứng chưa thụ tinh, tháng thứ hai (ứng với Lưỡng Nghi) là lúc phôi phân cực trai gái mang tính lưỡng thế, tháng thứ tư (ứng với Tứ Tượng) là lúc phôi phân tạo ra các cơ quan bộ phận (lúc này biết rõ trai gái và dễ gây ra quái thai nếu bị ảnh hưởng độc hại như  uống các loại thuốc có nguy hại tới phôi thai chẳng hạn) và tháng thứ sáu là thai nhi có thể sống được (nuôi trong lồng ấp sống thành người được) ứng với Sự Sống, Cây Đời, Cây Tam Thế. Trống NXQ VI là trống Sự Sống, trống Cây Nấm Đời, Tam Thế .

-Chiếc đèn đá biểu tượng Vũ Trụ giáo cũng gồm có 6 mảnh ghép lại. Con số sáu biểu tượng cho Vũ Trụ thuyết nên tôi chia trống đồng âm dương biểu tượng cho Vũ Trụ giáo ra làm 6 loại.

-Trong Dịch, các quẻ cũng dừng lại ở số sáu hào (hexagram) do hai quẻ ba hào (trigram) chồng lên nhau.

-Trống Trứng Vũ Trụ NXQ I sinh ra Trống Nấm Vũ Trụ NXQ VI giống như một bào tử, một hạt, một cái mầm (tức một thứ trứng) sinh ra cây và ngược lại cây lại sinh ra bào tử, hạt, mầm, quả. Đây là vòng sinh tạo. Do đó tôi phân loại trống đồng khởi đầu từ Trứng Vũ Trụ NXQ I và chấm dứt ở Trống NXQ VI, là trống thành quả cho hợp và ăn khớp với vòng sinh tạo của Vũ Trụ thuyết. Theo tôi, các phân loại khác sẽ không hợp lý.

-Tôi đặt tên theo thứ tự các con số cho dễ nhớ:

./ Trống Heger I  là trống NXQ VI, trống Heger II là trống NXQ V, trống Heger III là trống NXQ III, trống Heger IV là trống NXQ IV ( tôi xếp theo thứ tự ngược với Heger) còn những trống trung gian của Heger có thể là ttrống NXQ II và I

./ Trống NXQ I là trống vũ trụ. Số I La Mã hình nọc biểu tượng vũ trụ dương nọc (trống là đực nên vũ trụ dương, nọc, universe là quay ve Uni-, một, có một khuôn mặt dương theo duy dương). Trống Lửa, thái dương, Càn NXQ II, số II La Mã là hai nọc (hai nọc dùi ra lửa) là trống thái dương, cực dương, lửa, Càn. Trống Đoài NXQ III, số 3 là Đoài, là trống Đoài. Trống Chấn NXQ IV, số 4 là Cấn hôn phối với Chấn là trống Chấn, trống Li  NXQ V, số 5 là Li, là trống Li biểu tượng cho Đất dương thế gian. Số 5 là số trục của ma phương 5/15 vì thế trống Li còn có một khuôn mặt biểu tượng cho Trục Thế Giới  và trống Nấm Vũ Trụ NXQ VI, số 6 theo Dịch là số thành, là trống hoàn thành của quá trình Vũ Trụ tạo sinh, là trống Tam Thế, Nấm Vũ Trụ.

-Tôi đặt tên các loại trống theo theo thứ tự này là theo Âm Dịch vì chủ nhân ông của trống đồng âm dương là những người Đông Sơn, người cổ Việt sống bên bờ nước thuộc ngành âm nước (ứng với Lạc Việt). Ta có thể kiểm chứng thứ tự của cách phân loại của tôi theo Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc. Đọc theo Bầu Cua Cá Cọc là đọc theo chiều âm cùng chiều kim đồng hồ tức đọc theo Âm Dịch:
.Bầu đỏ: là bầu lửa vũ trụ ứng với trống Trứng Vũ Trụ NXQ I, ứng với khuôn mặt vũ trụ của Đế Minh đội lốt Thần Nông hiệu Đế Minh (Thái Cực) và ở cõi tiểu vũ trụ ứng với Đế Minh Thế gian là Đế Ánh Sáng Lửa trời Càn có biểu tượng là trống Lửa NXQ  II.
- Cua Gió dương ứng với trống Gió NXQ III.
- Cá Chép Nước dương ứng với trống Nước Chấn NXQ IV.
- Con Cọc, Hươu Cọc Đất dương ứng với trống Đất NXQ  V.

Như thế muốn nhớ thứ tự bốn trống ứng Tứ Tượng chỉ cần nhớ tới Bầu (bầu lửa là trống Lửa NNXQ II), Cua (NXQ III), Cá (NXQ IV) và Cọc (NXQ V). Còn trống Trứng Vũ Trụ I và Trống Cây Nấm Vũ Trụ là hai trống mang nghĩa sinh tạo, tái sinh của đầu và cuối vòng sinh tạo (trứng tức hạt mầm, hột sinh ra cây và cây sinh ra quả, ra hột).

ANATOMY OF THE DONGSON BRONZE DRUMS

Filed under: Anatomy of the Bronze Drums, Bố Mỹ — Quang Nguyen @ 7:20 am

image

AN OVERVIEW  OF

THE CLASSIFICATION AND

ANATOMY OF THE NÒNG-NỌC

(CIRCLE-ROD) SOUTHEAST ASIAN

BRONZE DRUMS (1)

Nguyễn Xuân Quang

Abstracts

The anatomy of the bronze drums reveals that the morphology and structure of the bronze drums reflect the entire spectrum of the cosmogony (cosmogeny). In general, the bronze drums are purposely made with open bottoms and have n nòng nọc yin-yang characters. The different morphology of the drums portrays the different aspects of cosmogony. My classification is based on the doctrine of cosmogony.

*

Dr A.B. Meyer and W. Foy, the two first authors in the book Bronzepauken aus Sušdostasien (The Bronze Drums of the Southeast Asia, Dresden, 1897) have divided the Southeast Asian bronze drums into six groups based on the studying of 52 bronze drums. In 1902, the Austrian scholar F. Heger expressed his disagreement with Meyer and Foy’s classification, and published his drum typology in his book, Alte Metalltrommeln aus Sudost Asien. Based on the meticulous work on the 165 bronze drums, he has classified the bronze drums into four main groups: H.I, H.II, H.III, H.IV and three intermediate groups.

A. THE NGUYỄN XUÂN QUANG’S CLASSIFICATION BASED ON THE MORPHOLOGY OF THE BRONZE DRUMS.

F. Heger’s typology of the bronze drums is merely descriptive; therefore I classify the bronze drums based on the doctrine of cosmogony. Based on their morphology, or gross anatomy, the bronze drums of  Southeast Asia are classified as follows:

1.  Nguyễn Xuân Quang type I (NXQ.I): egg-shaped drums or cosmic drum.

The drums of this type have the shape of a sphere, O shape or an egg shape. I call them cosmic drums. The O-shaped drums symbolize the Cosmic Pouch (Nothingness, Hư Vô, Universe, Vũ Trụ,  or Creation, Tạo Hóa). The egg-shaped drums (representing yin-yang, the Great Ultimate Thái Cực), symbolize the yin-yang Cosmic Pouch or Cosmic Egg. The egg-shaped drums are usually called barrel drums. I called them creator drums. The cosmic bronze drums can be the symbol of the Macrocosm or Upper World or Universe.

clip_image002

A regular barrel-shaped bronze drum with two membranes (a Dongsonian  bottomless barrel drum has only one membrane).

In front of a yin sacred house or cosmos house on the Ngoc Lu I drum (see chapter The Houses in Nguyễn Xuân Quangs The Decipherment of the South East Asian Bronze Drums), there is a person holding a round object which is considered by many scholars to be a drum.

clip_image002[4]

A yin cosmic drum on the Ngoc Lu I drum.

In the book Dong Son Bronze Drums Found in Viet Nam, Nguyen Van Huyen and Hoang Vinh have mentioned that the Caœnh Thịnh drum or Taýy Sơn drum (inventory number D.6214-22), worshipped at the Buddhist temple Cổ Lễ and Buddhist temple Keo, at Hành Thiện, Nam Hà province and Nguyễn’s dynasty drum displayed at Hùng king’s museum at Vĩnh Phú city have the shape of the skinned barrel drums, but without bottoms (similar to the other types of the bronze drums). Unfortunately, no pictures or drawings of this type of bronze drums are available.

2. Nguyễn Xuân Quang type II (NXQ. II): Tubular or Cylindrical drums or Fire-drums or Kien drums (Trống Kiền hay Càn).


On the yang side, the bronze drums of this type have the shape of a tube or a cylinder with open bottom and straight sides portraying male principle and/or fire element or Kien. The yang fire-drums have no significant shoulders and bases.

3. Nguyễn Xuân Quang Type III (NXQ. III): Air Parasol-Shaped Drums or Yang Wind Drums or Tui Drums (Trống Đoài).

The drums of this type have the shape of parasols which are symbols of air, wind and sky.  The wind drums have insignificant bases.

clip_image002[6]

Karen drum (NXQ. type III, Heger III).
(A. J. B Kempers, plate 19.04)

Heger called these drums Shan drums, because they are mainly cast by the Shan and Karen people living in east Burma. Note that Shan people, speaking a Tai-Kadai language, belong to the yin side  or cool sun stem of the tai yang sun Hồng Bàng family. The yang side of the yin branch is IO (rod yang on circle yin), young yin, air or wind clan. The Shan is a young yin, air or wind clan. This is the reason why the Shan people make a lots of yang wind parasol-shaped drums.
Under the projecting part of the roof, on the right side of a yin sun house on the Ngoc Lu I drum, there is a drum or drum-like object placed in a horizontal position. This parasol-shaped drum is a yang wind Tui drum (see chapter The Houses).

clip_image002[8]

Stylized parasol-shaped drum on the Ngoc Lu I drum.

Under the floor of the Triple World dais of the boat 2 on the Ngoc Lu I drum, there is a parasol-shaped drum or drum-like object representing a tai yang Tui drum of the water people.

clip_image002[10]

Parasol-shaped drum on the Ngoc Lu I drum.

clip_image002[12]

Lương Sơn (Kim Bôi) drum, NXQ. type III, (Heger III).
(J. Cuisinier, planche XXXI).

Figure 4 in planche XXXI, in Les Mường, by J. Cuisinier, shows a gigantic bronze drum. Three parts of the drum are clearly divided, but the insignificant base and the waist form a cylinder. The drum has the shape of a parasol.
The drums of Heger type III can be considered as yang wind drums or NXQ type III.


4 . Nguyễn Xuaýn Quang Type IV (NXQ IV): “Âu” Shaped Drums or Male Water Chen Drums (Trống Chấn).

The drums of this type have the shape of an “âu” container or upside down cauldrons (see Signs and Symbols) and are yang water Chen drums. The drums are divided into only two parts. The drums of this type having no waist or axis and look very short.

clip_image002[14]

A South China drum or an “âu” container–shaped drum.
NXQ IV or H.IV.
(A. J. B. Kempers, plate 20.02).

clip_image002[16]

Âu (C. Higham, figure 4.23, f).

Therefore they are termed “squat” drums. This type of drum represents male water Chen. The drums of Heger type IV belong here. The male water drums are the symbols of the male Water clans who worshipped the water sun of the yin side. Heger called these drums South China drums, because they are mainly found in south China, and their decorations have Chinese motifs such as dragons, fish and on some drums even there are the Chinese characters. It is easy to understand since south China is the old domain of the yin branch of the tai yang sun Hồng Bàng family (Red Family or Sun Family in the Vietnamese tradition). They belong to the Sun Tốn (Cosmos, yang wind), Chen (Water Sun) or Âu / Giao dragon stem.
Under the projecting part of the roof, on the right side of a yang house on the Song Da drum, there is a drum or a drum-like object. On the yang side, this “aýu”-shaped object is a Chen drum (Nguyễn Xuaýn Quang type IV).

clip_image002[18] clip_image002[20]

A yang water Chen drum at a yang sun house on the Song Da drum.

The drums of Heger type IV can be considered as yang water drums or NXQ type IV.


5. Nguyễn Xuaýn Quang type V (NXQ. V): Pillar-shaped Drums or Earth-drums or Young Yang or Li Drums (Trống Li).

The drums of this type have the shape of pillars or supporting posts with wide bases that looks like flat-cratered volcanoes. They symbolize Fire Mountain, yang earth, earthy World Mountain, the earth-axis Mountain, sky supporting post, or World axis.

clip_image002[22] clip_image002[24]

Figure a.                                                             Figure b.

Tan Long, Hoa Binh province drum (fig.a)

and South  China drum  fig. b
(A. J. B. Kempers, plate 18.02).
(NXQ.V, Heger II).

The shape of the drums of this type is rather simple, with less distinctive divisions but their three parts are still visible. The drums have insignificant cylindrical shoulders (short, flat), the surface usually spreading out beyond the mantle like a supporting disc of the sky supporting post. However they have a characteristic higher prominent waist (or axis).
Under the projecting part of the roof, on the left side of a yang sun house on the Ngoc Lu I drum, there is a drum or drum-like object in the shape of a supporting pillar (see chapter The Houses).
This pillar-shaped drum is a young yang Li drum.

clip_image002[26]


A pillar-shaped drum on the Ngoc Lu I drum (from Nguyen Van Huyen, p. 169), the wide base and the straight upper part portray a pillar or a supporting post.

On the Co Loa I drum, under the projecting part of the roof of a sun house, at the lower right corner, there is a horizontally laid drum with the tympanum facing to the right. This drum portrays tai yang Li (see chapter Signs and Symbols). The pillar-like shape confirms that this drum is a Li drum.

clip_image002[28] clip_image002[30]

A pillar-shaped drum at a yang sun house on the Co LoaI drum (from Pham Huy Thong, p.8).

Under the projecting part of the roof, on the right side of a yang sun house on the Kai Hua drum, there is a drum or drum-like object in the shape of a supporting pillar (see chapter The Houses). This pillar-shaped drum is a tai yang Li drum.

clip_image002[32]

A pillar-shaped drum on the Kai Hua drum.

The drums of Heger type II can be considered as earth drums or NXQ type V.


6. Nguyễn Xuân Quang Type VI (NXQ.VI): Mushroom-shaped Drums or Cosmic Mushroom drums (Trống Nấm Vũ Trụ).

Cosmic Mushroom Drums or Triple World Drums convey the entire spectrum of the cosmogony. The drums of this type have the shape of a flat-topped Mushroom, which is the symbol of the Cosmic Mushroom (a kind of Cosmic Tree), the Triple World Mushroom and the Mushroom of Life. These drums have three very clear-cut parts: broad shoulders, slim axis and slanting bases.

clip_image002

Ngọc Lũ I bronze drum Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I).

The drums on the platform next to the yang sun house on the Hoang Ha drum have three distinctive parts and are considered cosmic mushroom drums.

The drums of Heger type I belong to this type.

The tympanum usually does not spread out beyond the mantle. The tympanum and the shoulder form the flat-topped dome of a Mushroom, symbolizing the Upper and Middle Worlds. The axis of the drum, similar to the stem of a mushroom, represents the World Axis and/or the World Mountain. The base of the drum, corresponding to the root of the mushroom, symbolizes the Under World. This explains why the NXQ.VI cosmic mushroom drums, such as Ngoc Lu I and its kin (Hoang Ha, Song Da drums, etc) are the finest, most artistic and ancient of all specimens.
This type of bronze drum is termed “Dong Son drums” by Vietnamese scholars. These drums are considered to be representative of the Dong Son culture (Pham Huy Thong, p. 262). They were carved on the Ngoc Lu I, Kai Hoa, Hoang Ha and Song Da drums.
The Cosmic Mushroom is born from the Cosmic Egg, therefore, from an anatomical point of view, the morphological outline of the Cosmic Mushroom bronze drum NXQ.VI must have the shape of an egg (which represents the NXQ. type I, cosmic drum).

B. Dissection of a Cosmic Mushroom Drum NXQ.VI.

The four elements  Fire, Wind, Water, Earth interact to give birth to the entire universe, life and all living things (Cosmic Tree or Tree of Life).  Thus, the four types of drums representing the four elements {NXQ.II (Fire), NXQ.III (Wind) NXQ.IV (Water) and NXQ.V (Earth),] can be put together to form the Cosmic Mushroom drum NXQ.VI. Conversely, the Cosmic Mushroom drums NXQ.VI can be dissected into the NXQ.II, III, IV and V types.

C. The Gross Anatomy and the Structure of a Cosmic Mushroom Drum.

The meaning and anatomy of the Cosmic Mushroom-shaped drums NXQ VI express the doctrine of cosmogony, so their “blue print” of the structure must be followed the doctrine of cosmogony represented by the Cosmic Tree.

clip_image002[34]

The Anatomy of a Cosmic-mushroom shaped Bronze Drum.

a. The Macrocosm or Upper World.
The central zone of the tympanum represents the Macrocosm or Upper World, which also portrays the entire spectrum of cosmogony.
b. The Microcosm or Middle World or Human Living Being World.
The Middle Worlds on the bronze drums are represented by the remaining parts of the tympanums (the area is unoccupied by the Upper World) and the shoulders (upper parts of the mantles or bulging parts) of the drums.
c. The Under World.
The Under World or Nether World is represented by the base of the bronze drum.
d. The World Axis or axis mundi.
The World Axis is represented by the axis (middle part of the mantle or waist) of the drum.

D. Yin and Yang faces of the Bronze Drums

The bronze drums are purposely made with open bottoms. When placed in the beating position (the tympanums are facing upwards), the bronze drums symbolize male, yang. When placed in the upside down positions, they become mortars or cauldrons, or containers or gongs, symbols of female, yin.

clip_image002[5]

Therefore, the bronze drums  with open bottoms are yang-yin drums. The shape of the drums which is the same shape as the containers when in upside down positions, carries the symbolic meaning of cosmogony.

Conclusion

In summary, the anatomy of the bronze drums reveals that the morphology and structure of the bronze drums reflect the entire spectrum of the cosmogony. The form and structure of the bronze drums are accorded with the meaning of the drums or the doctrine of cosmogony. In general, the bronze drums are purposely made with open bottoms and have yin-yang characters.
The different morphology of the drums portrays the different aspects of cosmogony. In the view of religion, bronze drums are the symbols or religious icons of cosmogony, and in the patriarch society, they are symbols of sun worship or solar cult. Culturally, the bronze drums recorded the bronze nòng nọc I Ching. In the view of ethnology, bronze drums are symbols of the clans, nationalities, federals, the Empire of the sun or the Sun family. In comparison to Vietnamese ancient history and traditions, they are the symbols of Vietnamese Red Family or Sun Family Hồng Bàng (see Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á Decipherment of The Nong Noc Ying Yang Southeast Asian Bronze Drums).

————————————-

Foot Note

(1)
.see more details in the chapter  Cơ Thể Học Trồng Đồng Nòng Nọc Âm Dương Đông Nam Á  (The Anatomy of the Nòng Nọc Ying Yang Southeast Asian Bronze Drums) in  Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á (The Decipherment of the Nòng Nọc Ying Yang Southeast Asian Bronze Drums) (published by Hừng Việt 2008 written in Vietnamese by Nguyễn Xuân Quang).
.Vietnamese term nòng nọc (circle-rod), in a respect, means ying yang represent ying yang concept with circle O represents yin (female) and rod I represents yang (male).

HÌNH TIÊU BIỂU THÁNG MƯỜI HAI 2009

Filed under: 9. Hình T.B. Th. Mười Hai 09, Bố Mỹ — Quang Nguyen @ 7:07 am

HÌNH THÁNG MƯỜI HAI 2009

NỮ THẦN CHIẾN THẮNG NIKE, HY LẠP.

clip_image002

Hiền thê của chủ blog đứng trước hình Nữ Thần Chiến Thắng Hy Lạp Nike.

(Hình chụp tháng 10, 2009 tại phế tích Công Trường Domitian, ở Ephesus, Thổ Nhĩ Kỳ).

Nữ thần Nike có cánh, đang bay, tay trái cầm vòng nguyệt quế, biểu tượng cho chiến thắng, tay phải cầm nhánh lúa mì.

Hãng chế tạo đồ dùng thể thao Nike, Hoa Kỳ đã lấy hình tà áo gió bay của Nữ Thần Nike này làm nhãn hiệu, thương hiệu của mình.

clip_image003 clip_image005

HÌNH TIÊU BIỂU THÁNG MƯỜI MỘT 2009

Filed under: 8. Hình T.B. Th. Mười Một 09, Bố Mỹ — Quang Nguyen @ 5:34 am

.THÁNG MƯỜI MỘT 2009.

Thần Mẫu (Mother Goddess) Catalhoyuk, Thổ Nhĩ Kỳ.

Trong chuyến du lịch tháng mười vừa qua ở Thổ Nhĩ Kỳ, tôi tìm  gặp được một hình bóng Thần Mẫu  có từ thời Tân Thạch.

mother goddess 3

Hình Thần Mẫu (Mother Goddess), tại Catalhoyuk, Thổ Nhĩ Kỳ, tiền bán thiên niên kỷ thứ 6 Trước Tây Lịch, hiện trưng bầy tại The Museum of Anatolian civilizations, Ankara, Thổ Nhĩ Kỳ (ảnh của tác giả, tháng Mười 2009).

Thần Mẫu (Mother Goddess) ngồi ở tư thế sản phụ sinh con, hai chân bẹt ra, gác lên hai bên và hai tay giơ lên đầu đào tìm thấy tại  Catalhoyuk, Konya, Thổ Nhĩ Kỳ, một trung tâm Thời Tân Thạch đã phát triển cao của vùng Cận Đông và Thế  Giới Aegean (6800- 5700 BC).

*

HìnhThần Mẫu, Mẹ Nguyên Khởi, Mẹ Đời, Mẹ Tổ này cũng thấy trong nhiều  nền văn hóa nguyên sơ khắp thế giới kể cả Việt Nam (xem Hình Bóng Mẹ Tổ Âu Cơ trong blog này).  Ở đây chỉ xin trích ra một vài ví dụ cần nói tới ở đây:

.Úc châu

rock-art-nourlangie 2

Hình Thần Mẩu vẽ trên đá của thổ dân Úc châu  (Nourlangie, Vùng Bắc Úc).

.Thần Mẫu, Mẹ Tổ Mẹ Tổ Âu Cơ

Hình bóng Thần Mẫu, Mẹ Đời và Mẹ Tổ Âu Cơ cũng thấy khắc ghi lại trên các mảnh đất nung gọi là “Gạch trang trí người theo phong cách dân gian” hiện đang trưng bầy tại Viện Bảo Tàng Lịch Sử ở Hà Nội.

ME TO 3

Gạch trang  trí người theo phong cách dân gian” (Triều Lê Trung Hưng thế kỷ 15-17?, Viện Bảo Tàng Lịch Sử Hà Nội), (hình của tác giả).

Ta thấy rất rõ hình Thần Mẫu Loài Người trên tảng đất nung hay gạch khối để dựng đứng. Còn khối đất nung để nằm cho thấy một người nữ ở tư thế sinh con đang mang bầu hình tròn hay đang đẻ ra một cái bọc tròn. Nhìn tổng thể bọc tròn biểu tượng cho Bầu Hư Không, Bầu Vũ Trụ, Trứng Vũ Trụ, Bầu Trời Thế Gian, Trứng Thế Gian, Bầu Sinh Tạo, Bầu Tạo Hóa (bầu có một nghĩa là mang thai). Nhìn dưới diện Tổ Hùng, đây chính là hình ảnh Mẹ Tổ Âu Cơ đẻ ra một bọc trứng chim sinh ra Trăm Lang Hùng. Xin lưu tâm một điểm rất quan trọng là trong tất cả các hình Mẹ Đời ngồi ở vị thế sinh con ở khắp các nơi trên thế giới chỉ có hình ở Việt Nam này là có hình đĩa thái cực hay Trứng Vũ Trụ ở hai bên. Điều này trước hết khẳng định là hình tượng này là biểu tượng cho sinh tạo, tạo hóa là Thần Mẫu, Mẹ Đời dựa trên nguyên lý lưỡng hợp, nòng nọc, âm dương, dựa trên Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo. Điểm này cũng khẳng định là nguyên lý lưỡng hợp, nòng nọc, âm dương, Chim-Rắn, Tiên Rồng nền tảng của  Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo là cốt lõi của văn hóa Việt Nam còn lưu truyền trong dân gian Việt Nam.

Nhìn chung, qua sự hiện diện của hình bóng Thần Mẫu sinh tạo này thấy trong tất cả các nền văn hóa cổ đại khắp năm châu bồn biển cho thấy sự thờ phượng Mẹ Tổ là một tín ngưỡng chung của nhân loại. Một điểm quan trọng là hình Thần Mẫu khắc, vẽ trên đá của Thổ Dân Úc châu, tôi chưa rõ tuổi, không biết có già hơn hình Thần Mẫu của Thổ Nhĩ Kỳ hay không? Hiển nhiên có sự liên hệ giữa nền văn minh cổ đại Cận Đông và nền văn minh đã chìm sâu xuống đáy biển của Đông Nam Á là Lục Địa Mu Đã Mất (The Lost Continent of Mu) của James Churdhward hay Địa Đàng ở Phương Đông của Steven Oppenheimer. Cả hai tác giả này đều cho rằng Đông Nam Á cổ đại có một nền văn minh huy hoàng và là cái nôi của văn minh nhân loại và tôi đã nối kết  văn hóa trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn với nền văn minh đã mất này.

Older Posts »

Theme: Silver is the New Black. Blog at WordPress.com.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.