Bac Si Nguyen Xuan Quang’s Blog

April 27, 2012

BÁC SĨ HOÀNG VĂN ĐỨC

Filed under: Bác Sĩ Hoàng Văn Đức... — Quang Nguyen @ 5:11 am

BÁC SĨ HOÀNG VĂN ĐỨC VÀ CỔ SỬ THỔ DÂN MỸ

CHÂU.

 Nguyễn Xuân Quang

Bác sĩ Hoàng Văn Đức là đàn anh và là bậc thầy của tôi. Sau này anh coi tôi như một ngưởi bạn văn chương.

Gần mười năm tôi làm tờ  Y Tế và Y Học Thường Thức, hầu như số báo nào cũng có bài của anh. Anh ký dưới nhiều bút hiệu: Hoàng Văn Đức, Hoàng Vũ Đức Vân, Hoàng Quân Y, Hoàng Thẩm Phác, Hoàng Yên Thế…

Cách đây không lâu anh gởi cho tôi một tấm ảnh rất đẹp lão.

Anh rất đồng ý với những bài viết của tôi chứng minh văn hóa, truyền thuyết và cổ sử Thổ Dân Mỹ  châu liên hệ mật thiết với văn hóa Việt Nam (mặc dù lúc đó chưa có DNA xác thực). Anh khuyên tôi viết một bộ cổ sử về Thổ Dân Mỹ châu bằng tiếng Anh đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt hầu sửa lại cái nhìn sai lệch và thiếu sót về Thổ Dân Mỹ châu hiện nay.

Sau đây là thủ bút của anh. Trong thư này, anh có nhắc tới các bài viết về ‘Người Da Đỏ’ liên hệ với người Việt.

Trong các tác phẩm của anh có quyển Khơi Dòng Sử Mệnh. Tôi xin scan (rất tiếc tôi không có thì giờ đánh máy lại) bài điểm sách của nhà thơ Cung Trầm Tưởng viết về tác phẩm này và đã đăng trên Y Học Thường Thức.

Nguyễn Xuân Quang

.

December 30, 2011

MÓN QUÀ GIÁNG SINH (2 và hết), Truyện ngắn

Filed under: Món Quà Giáng Sinh (2) — Quang Nguyen @ 6:23 am

MÓN QUÀ GIÁNG SINH

(Truyện Ngắn)

Phần 2 và hết.

Nguyễn Xuân Quang

-Cô cho tôi là người hay vật?

-Người.

-Tôi thuộc hạng người gì?

Nàng cười tủm tỉm.

-Một người có trái tim nhân loại.

-Cô không sợ Chúa cấm cửa thiên đường sao?

-Không. Please. Xin ông nhận lời đi. Please.

-Tôi không muốn mắc vào những hệ lụy.

-Không có gì hệ lụy cả. Tôi chỉ ao ước có được một đêm giáng sinh hạnh phúc trong đời.

Tôi muốn biết rõ thêm về gốc gác người con gái, tìm cách moi thêm lai lịch nàng.

-Cô qua đây với cả gia đình chứ?

-Không. Bố tôi chết trong trại cải tạo. Mẹ tôi còn kẹt lại ở ViệtNam.

Người con gái nhặt hòn sỏi ném xuống dòng nước.

-Cô ở đây với ai?

-Với gia đình ông bà bác ở dướiFresno.

-Hèn gì cô có vẻ từng trải, già dặn, khôn đường, khôn chợ.

-Ông Nguyễn, please. Ông giúp tôi đi. Chỉ một đêm Chrismas thôi. Sau đó tôi không quấy phá ông nữa, gặp ông tôi sẽ quay mặt đi.

-Thật sự cô đã nghĩa kỹ chưa?

-Tôi đã nghĩ rất kỹ và đã mất ngủ đêm qua. Tôi muốn ông là món quá giáng sinh.

-Tại sao lại là tôi?

-Không phải người đàn ông nào cũng được, chỉ có mình ông làm được thôi.

-Cô nghĩ tôi có phép lạ sao?

-không. Nhưng loài cỏ dại cũng có thể làm vị thuốc chữa bệnh được.

-Cỏ dại mà làm đẹp cho đời, hữu ích cho đời, thì tôi có thể làm một thứ cỏ dại…

-Hurrah ! cám ơn ông nhiều.

Người con gái nhẩy dựng lên tính chồm tới ôm tôi nhưng nghĩ sao lại dừng lại được. Nàng cố ý coi như tôi đã nhận lời. Nàng lấy tay kéo bỏ cái mũ len ra, cúi đầu buông mái tóc xõa xuống, rồi lắc đầu thật mạnh để rũ tuyết trông như một con chó rũ nước khỏi lông khi vừa mới tắm xong.

-Ông về chưa ? Tôi phải về để đi làm.

-Chưa. Nhưng tôi không mốn leo lên chân thác, tôi muốn trở lại chỗ cây cầu, chỗ cái Cù Lao Hạnh Phúc của tôi.

-Mùa này, đường đi lên thác Nevada ở trên kia đóng lại rồi.

Tôi đứng dậy đổ dốc theo người con gái đi xuống.

-Cẩn thận đấy ông chỗ đó coi chừng icy.

Tôi bước ra khỏi lối mòn tránh chỗ đã đóng đá đi mon men vào vách đá.

-Ông biết không? Những dịp lễ nghỉ dài hạn, tôi xin làm trên đây vì tôi yêu Yosemite và cũng để mai mốt khi học xong đã có được một cái background tốt.

-Cô là người có tâm hồn yêu thiên nhiên. Một tâm hồn John Muir, người đã hy sinh một đời cho Yosemite.

-Thật vậy sao ? Ông thích hoa dại không?

-Rất thích. Tôi mơ ước có được một căn nhà trên một ngọn đồi đầy hoa dại.

-Vậy thì mùa xuân, mùa hè ông lên đây. Lúc ấy những đồng nội nở đầy hoa dại đẹp tuyệt vời. Đủ thứ hoa. Cả một cánh đồng hoa poppy mầu vàng cam, chắc ông đã biết hoa poppy là hoa biểu tượng cho cây cỏ California rồi, hình như tiếng Việt gọi là hoa anh túc phải không ông?

-Hình như thế, nhưng phải gọi là hoa anh túc dại.

-Hoa tidytips, về mùa xuân, mùa hè nổ rộ khắp cánh đồng trông như những hoa hướng dương sunflowers tí hon. Nó cùng họ với hoa sunflowers, có native ở California. Hoa có cánh vành đầu mỗi cánh hoa có điểm trắng sinh xắn nên gọi là tidytips. Nhưng tôi thích cái tên thảo mộc của nó là Layia hơn. Nghe cái tên layia như là có âm hưởng tiếng Nga. Hoa ngũ điểm five spots, có năm cánh, mỗi cánh có một chấm xanh nên mới gọi là five spots. Hoa Giã Từ Mùa Xuân Fare well-to-Spring, cũng có gốc gác ở California, hoa mầu hồng hay lavender. Hoa California phlox đủ mầu trắng, hồng đỏ, hơi xanh lam…

-Cô học về rừng nên rành về cây cỏ quá. Có biết tên cái hoa trắng họ khắc trên các bảng gỗ thấy khắp nơi ở đây không? Thấy trong khách sạn, ngoài bãi đậu xe…

 

-Cái hoa khắc ở những cái signs phải không? Đó là hoa dogwood. Cây dogwood đẹp quanh năm, mùa xuân, mùa hè rực rỡ hoa hồng, hoa trắng, mùa thu rực rỡ một mầu lá thắm. Bây giờ mùa đông chỉ còn trơ lại những cành mầu đỏ như son rạng rỡ trên mầu tuyết trắng. Mùa thu ở đây còn có rừng phong rực lá thu vàng…

Khi đến cây cầu ngập tuyết bắc ngang qua ghềnh đá, nước chẩy như sấm gầm, nàng ngừng lại quay người nhìn làn thác nước.

-Tôi cũng đã ngồi ở cây cầu này nhiều lần nhìn lên đỉnh thác Vernal, nhưng hôm nay quả thật chỗ này mới đích thực là cái Happy Isle của tôi…

Người con gái sửa lại quần áo.

-Chúc ông ở lại vui với thiên nhiên nghe. Tôi phải về. Tối nay tôi chỉ có mặt ở khách sạn tới chín giờ thôi. Ngày mai là Christmas Eve, tôi sẽ gặp ông ở đâu?

-Tôi còn phải cứu xét về cái đề nghị đó mà!

-Chẳng sao. Ngày mai tôi sẽ tìm ra ông.

Người con gái nói rất tự tin.

Buổi tối tôi xuống Mountain View Room ở khu Yosemite Lodge ngồi uống cà phê nhìn lên thác Yosemite cho tới quá nửa đêm mới trở về khách sạn. Tôi mường tượng muốn được yên thân một mình, mang máng như muốn né tránh người con gái, không muốn về khách sạn trước chín giờ tối.

Nằm trằn trọc mãi trong bóng tối, thắc mắc và gần như ray rứt về cái quyết định của mình với người con gái.

Buổi sáng dậy hơi muộn. Tôi không muốn ăn sáng ở khách sạn, định bụng hôm nay lái xe đi chơi xa hơn. Trên đường đi ghé lại tiệm Four Seasons dùng điểm tâm.

Ăn xong, tôi lái xe lên thác Bridalveil. Tôi cảm thấy mình như có ý định trốn nàng.

Nghe nàng nói về cây dương hồng dogwood, sáng nay tôi mới nhận ra cái vẻ đẹp rực lửa của những càny cây trơ trụi lá, đỏ như son, ửng sắc hồng trên lớp tuyết trắng xóa phủ phía tên cành. Thác Bridalveil đổ xuống mỏng như tơ, rơi lòa xòa, rơi lất phất, gió thổi tạt qua một bên trông như tấm mạng che mặt của cô dâu trong ngày cưới. Thác đổ phập phồng như hơi thở của cô dâu làm cái mạng “voan” chập chờn như cánh bướm. Mạng thác đổ phập phồng, thổn thức như nhịp đập của trái tim cô dâu trong ngày lễ cưới.

Du khách lên xuống chiên ngưỡng thác. Duy chỉ có một mình tôi và một người đàn ông da trắng ngồi lì ở đây. Cả hai không nói với nhau một lời. Chắc anh chàng cũng có tâm sự gì về một người nữ nào đó. Cả hai chúng tôi cùng nói với nhau qua tiếng thác rơi. Tiếng thác ngàn năm hòa tấu tình khúc Po Ho No của người thổ dân Mỹ châu Ahwahnee Chees.

Có một nàng xuân nữ xinh xinh Ko Me đi hái trái cây rừng đã lạc bước tới thác Po Ho No này. Nàng bị thần thác đắm say, mê hoặc làm nàng rơi xuống dòng nước và bị cuốn trôi đi. Người tình kiêu hùng Kan U Ma đã xin phép bộ lạc chấp thuận cho mình phóng xuống dòng thác thế mạng cho người tình để nàng được siêu thoát về miền vĩnh cửu El O Win.

-Ông Nguyễn, tôi tìm ra ông rồi!

-Chào cô. Giỏi đấy.

-Chậy lòng vòng mấy cái bãi đậu xe trong thung lũng, không thấy xe của ông đâu, tôi cứ tưởng ông đã check-out bỏ về rồi chứ. Hên là ông còn ở đây, chứ ông mà lên Badger pass, hay xuống Mariposa Grove thì có lẽ tôi phải bỏ làm hôm nay để đi tìm ông.

-Cô hên đấy vì đường nhiều tuyết đá nên tôi ngại lái xe đường đèo núi, không muốn đi chơ xa.

-Tối qua, ông về khách sạn khuya lắm phải không?

-Phải.

-Tối nay khoảng mười một giờ tôi đón ông nghe.

-Tôi vẫn chưa cứu xét xong đề nghị của cô.

-Tội nghiệp tôi mà ông Nguyễn!

Người con gái dậm châm làm lõm mặt tuyết, nũng nịu.

-Chẳng lẽ ông là một granite hearted man.

Nàng quay lưng lại chỉ lên ngọn núi đá sừng sững uy nghiêm, có vách dựng đứng, nằm đối diện với thác Bridalveil.

-Chẳng lẽ trái tim ông cũng giống như cái núi đá granite kia.

Ông biết tên ngọn núi đó rồi phải không?

-El Capitan.

 

(nguồn: El Capital, astronomynotes.com).

Ngọn núi Great Rock El Capital chỉ do một khối granite dựng lên. Tảng đá này còn to lớn hơn tảng đá Gibraltar ở Địa Trung Hải nhiều.

-Granite tiếng Việt gọi là gì ông nhỉ?

-Tôi không nhớ rõ, hình như là đá hoa cương.

Christine vén lớp áo dầy cộm lên xem giờ.

-Trễ mất mười phút rồi, tôi phải đi làm. Hẹn ông mười một giờ đêm nay. Tôi sẽ tới khách sạn đón ông. Ông chờ tôi ở phòng lobby nghe.

Tôi muốn vớt vát thêm xem có thể đánh tháo được không.

-Còn tùy thời tiết.

-Please. Ông Long. Please. Hãy cho tôi một đêm giáng sinh nhớ đời.

Tôi im lặng. Nàng như có một thứ ngải rừng mê hoặc khiến tôi bị lôi cuốn theo ý nàng. Hình như tôi không còn có thể từ chối nàng.

-Cám ơn ông trước. Hẹn gặp.

Người con gái đổ dốc được vài bước, bỗng dưng ngừng lại.

-Ông có cái ski mask không?

-Không.

-Chẳng sao, tôi sẽ tìm cho ông một cái.

-Tại sao lại phải cần tới ski mask?

-Để cho người ta không nhìn thấy mặt ông.

Nàng đi rồi. Tôi ngồi đó trơ vơ, trống rỗng, không biết làm gì hơn là ngồi thi gan với người đàn ông da trắng. Nhất định không chịu bỏ đi trước hắn. Hắn ngồi lim dim nhìn thác trông thật thoát tục.

Cuối cùng hắn cũng phải chịu thua cái tính kiên nhẫn Á châu của tôi, đứng dậy bỏ về trước. Hắn cười với tôi nhưng vẫn không mở miệng nói một lời. Nụ cười thật hiền hoa, nhân hậu khác với những nụ cười của người đời ở dưới kia.

Trên đường trở về tôi ghé vào khu thương mại tìm mua một vài món quà tặng nho nhỏ. Mua những món quà giáng sinh mà không biết mua để tặng cho ai. Không biết có nên tặng cho người con gái hay không?

Mặc dầu đã ỡm ờ về cái lời hứa với người con gái, nhưng cả buổi tối, thỉnh thoảng tôi nhận thấy mình cứ xem chừng giờ. Câu hỏi của Christine về cái mặt nạ đi tuyết làm tôi hơi e ngại. Tôi không muốn vì tuổi trẻ bốc đồng mà mình lại liên can tới tội lỗi. Nhưng rồi tôi lại tìm cách bào chữa cho nàng. Thật ra nàng có vẻ thành thật tuy ngổ ngáo như con trai, nàng là một thứ Tom boy. Ở một tuổi nào đó đàn ông thích đàn bà con gái nhu mì, ngu dại nhưng ở vào lúc mà kích thích tố nam suy giảm, có lẽ, đàn ông lại thích đàn bà con gái Tom boy tinh nghịch, thông minh và ngự trị hơn. Tôi mỉm cười với mình khi nghĩ như thế. Mỉm cười cũng vì biết mình lo nhiều hơn thích.

Trước khi xuống lobby chờ Christine, tôi quyết định viết mấy chữ lên tờ giấy memo đại khái ghi lại là đêm nay, đêm giáng sinh tôi đi chơi với một người con gái tên là Christine Nguyễn, người phụ việc trong khách sạn này. Tôi để lại mấy chữ phòng hờ có chuyện gì người ta còn tìm ra dấu tích của tôi.

Rồi đúng giờ Christine hẹn, tôi xuống lobby ngồi chờ. Đợi quá mườì một giờ. Đọc hết quyển truyện mà vẫn chưa thấy bóng dáng Christine tới. Chẳng lẽ nàng lại đãi tôi một chầu civet de lapin đêm giáng sinh này. Nói vậy nhưng tôi hình như cũng thấy mừng thầm là nàng đã không tới. Tôi có cớ tháo chậy.

Tôi vội vã đi ra ngoài quyết định thả bộ đi rong chơi đợi chờ tới nửa đêm ghé lại nhà thờ nghe thánh ca.

-Ông Nguyễn.

-Christine.

-Xin lỗi ông tôi đến hơi muộn. Mất bao nhiều thì giờ mới tống cổ được thằng em trai cho nó đi nơi khác. Nó mà ở nhà thì hỏng hết mọi chuyện.

-Tôi tưởng cô cho tôi leo cây sequoia rồi!

Ngườì von gái cười hết miệng.

-Cây sequoia làm sao mà ông leo nổi!

Tôi chờ ông ngoài này vì không muốn vào trong đó sợ ngườì ta nghĩ không tốt về ông và về tôi ở chỗ tôi đang làm việc.

-Có điều gì không chính đáng chăng?

-Tôi còn muốn giữ việc làm ở đây. Sáng nay lỡ hẹn với ông ở lobby. Tính nếu ông không đi ra thì tôi cũng phải liều vào trong đó vậy.

-Tôi hiểu.

Người con gái lái xe. Hai chúng tôi đều im lặng. Nàng hôm nay ăn mặc như đi dự dạ hội mùa đông.

Tôi nhìn ra ngoài đêm tối cố nhận diện những đoạn đường người con gái lái xe qua. Nàng lái xe trên lối đi về, con đường đi ra khỏi công viên Yosemite, rồi rẽ vào con đường 41 dẫn xuống thành phố Fresno.

-Cô lái xe đi đâu mà xa quá vậy?

-Về Lũng Bươm Bướm Mariposa Grove.

-Tôi không muốn rờiYosemiteđêm nay.

-Không. Gần đây thôi mà. Tôi mượn được căn nhà cây log cabin của ông thầy dậy về Rừng. Ông ta vừa dậy học ở dướiFresno vừa làm việc ở trên đây. Lễ này ông ta về dưới ấy ăn Christmas nên nhà để trống.

Tôi im lặng.

-Ông đã đi xem những cây Red Wood Sequoia ở Mariposa Grove chưa?

(nguồn: Yosemite’s Mariposa Grove, examiner.com).

-Tôi đã đi thăm công viên quốc gia Sequoia ở dưới kia rồi.

-Cây sequoia tiếng Việt ông gọi là cây gì?

-Tôi đặt tên là cây thông thiên cổ.

-Tôi dịch tên Red Wood là cây Tùng Gỗ Đỏ. Cái tên này không hay bằng cái tên của ông đâu. Thông thiên cổ đúng đấy. Có những cây sinh ra trước cả chúa Jesus giáng sinh năm bẩy trăm năm. Hôm trước thi cuối lục cá nguyệt, tụi tôi phải ra rừng định tuổi những cây đó. Cây nào cũng già cả ngàn năm…

Tôi ngồi nghe không mấy hào hứng, mắt vẫn cố ghi lại dấu vết những con đường đã đi qua. Con đường đèo núi hiểm trở, trơn trượt, tuyết băng. Ban đêm nhiều chỗ trông thấy ớn lạnh xương sống.

Christine dừng xe lại ở một chỗ turn out nằm nhô ra ngoài vực sâu. Chẳng lẽ nàng muốn tôi xuống ngoạn cảnh vào lúc đêm tuyết này.

-Có chuyện gì vậy?

-Mắc xích vào bánh xe.

Nhìn nàng lôi bộ xích dưới gầm ghế phía sau ra, tôi không còn e ngại gì nữa. Tôi mở cửa xe bước xuống phụ với Christne một tay. Nàng làm thành thạo, điêu luyện hơn tôi nhiều.

Người con gái bỏ con đường cái lái vào một con đường nhỏ dành riêng cho những người kiểm lâm rangers dùng. Con đường chậy quanh co giữa rừng cây dầy đặc. Hai chúng tôi im lặng thật lâu. Tôi không hiểu tại sao mình lại bị quyến rũ vào cái chuyện mạo hiểm đêm nay. Người con gái có một cái ma lực sai khiến, như có một thứ ngải yêu.

-Hồi trước ông được nhiều người mê lắm phải không?

Tôi biết nàng nhắc lại câu hỏi nàng đã bỏ lửng hai đêm hôm trước.

-Nếu tôi sinh ra cùng thời với ông, hồi đó dám tôi cũng…

Cố chờ nàng nói tiếp nhưng Chrisine không chịu nói nữa khiến tôi phải hỏi:

-Cũng làm sao?

-Hồi đó tôi cũng dám yêu ông lắm… nhưng bây giờ…

-Bây giờ thì sao?

-Bây giờ chẳng lẽ…

-Chằng lẽ?

Tôi nhìn thằng vào mặt người con gái, chờ đợi, dò xét.

-A bear! A grizzy bear!

Nàng chỉ tay về phía mé rừng.

-Ông thấy không?

-Không.

Tôi nghĩ bụng giờ này lũ gấu đang say sưa trong giâc ngủ mùa đông.

Nàng dừng xe lại.

-Ông nhìn kỹ. Ngay dưới gốc cây to thứ ba.

Tôi đã nhìn thấy con vật ngồi lại bên mé rừng nhìn xe đi qua.

-Ông thấy nó đưa tay vẫy Hello không? That’s cute.

Lúc này tôi lại nghĩ con vật đang giơ bàn tay lông lá lên muốn cào, muốn cấu, muốn xé xác.

Christine nhìn xem giờ rồi vội vã rồ ga chậy tiếp.

-Con gấu này ngoan đạo nên giờ này thức dậy đón Christmas… Yosemite là đất của gấu đấy ông. Ông có biết tại sao người ta gọi là Yosemite không? Chữ Yosemite có gốc từ chữ U Zu Mai Ti của người Ahwahnee Chees có nghĩa là Con Gấu.

Tôi đã biết những điều nàng vừa nói, nên câu nói hồi nẫy nàng bỏ lửng bằng những cái chấm treo (…) vẫn tòng teng đánh đu trong đầu tôi.

-Hồi nẫy cô nói bây giờ chẳng lẽ…

Nàng lái xe rẽ vào trong sân một căn nhà nhỏ nằm giữa đồi thông phủ đầy tuyết, đậu lại. Nàng vội vã đầy cửa nhẩy ra ngoài xe, nhưng tôi biết nàng cũng cố ý làm lơ không trả lời câu hỏi của tôi.

-Ông cứ ngồi yên trong xe, để tôi vào trong nhà thăm dò tình hình trước đã.

Một thoáng sau, Christine hối hả chậy ra.

-Được rồi. Mời ông vào nhà nhanh lên.

Nàng sợ có người nhình thấy hai chúng tôi. Khi bước vào nhà, tôi sững sờ nhìn căn phòng trang hoàng giáng sinh thật đầm ấm, vui tươi. Cây Noel làm bằng cây thông tươi giống như loại cây bách tán, trông rất đẹp mắt. Dưới gốc để mấy gói quà gói giấy mầu xinh xắn. Lò sưởi đã đốt, củi cháy nổ lách tách, reo vui. Mùi gỗ thông thơm hương vị mùa đông cao nguyên. Trên bàn ăn có chiếc buche Noel để ở giữa, bát dĩa đã dọn sẵn.

-Mời ông vào đây.

Christine thay vì mời tôi vào phòng khách, kéo tôi vào căn phòng ngủ bên hông. Nàng khóa cửa lại. Lấy tay vặn qua vặn lại cái nắm cửa để biết chắc chắn là cửa đã khóa kỹ rồi.

Nàng quơ tay thu dọn quần áo chăn mền trên giường.

-Kể từ giờ phút này ông phải làm theo lời tôi nghe.

-Cái đó còn tùy là làm cái gì nữa chứ?

-Ông cởi bớt đồ ra đi cho thoải mái.

Tôi lờ đi như không nghe thấy.

-Ông nằm xuống giường đi!

Căn phòng chỉ có tôi và nàng. Christine vừa bảo tôi nằm xuống giường? Tôi quay lại nhìn nàng. Christine đang lục tìm trong closet như đang sửa soạn thay quần áo.

-Phải làm lẹ lên không họ về tới bây giờ!

Tôi vẫn đứng yên không chịu nằm xuống.

-Ông nằm xuống giường đi. Ông đeo cái ski mask này vào cho họ không nhận diện ra ông.

-Họ là ai?

-Chút nữa ông sẽ biết.

-Ông nằm xuống đi để tôi gói ông lại.

Nhìn những cuộn giấy gói quà thòi ra ngoài cái túi nâu đi chợ nàng vừa lôi từ trong góc nhà ra để dưới chân. Tôi chợt hiểu.

Tôi ngồi xuống mé giường. Nàng để sau lưng tôi một miếng bìa thật lớn rồi đẩy tôi nằm ngửa xuống giường.

-Ông trườn người vào giữa cái thùng giấy này nhé.

Có ánh đèn quét qua. Christine chậy ra mé cửa sổ nhìn ra ngoài.

-Họ về tới nơi rồi kía.

Christine sửa lại người tôi cho nằm ngay vào giữa cái thùng giấy đã tháo bung ra. Nàng cuống cuồng đóng hộp lại.

-Coi chừng tôi chết ngộp đó!

-Tôi đã đục lỗ ở hai bên rồi. Ông cứ yên tâm đi.

Christine gói thùng giấy đựng tôi lại. Tiếng tay nàng vuốt đầu dây băng keo trên mặt thùng thoăn thoắt. Có tiếng cái nắm cửa xoay qua xoay lại.

-Who is that?

-Sue.

-Wait a minute.

Tôi nghe tiếng kéo của nàng cắt vội sợi dây cột.

Christine ra mở cửa phòng.

-What are you doing?

-I am wrapping a Christmas present.

Trong cái hộp tối om, tôi không nhìn thấy mặt người

con gái Mỹ nhưng biết là nàng đang nói chuyện với

người bạn gái Mỹ tên Suzane, người mà nàng muốn giới

thiện để kèm dậy tôi trượt tuyết.

-What’s that?

-Christmas present!

-It’s huge.

Nàng nói qua lỗ hổng bên tai tôi.

-Ông chịu khó nằm yên một tí nữa, sắp đến nửa đêm rồi.

-What did you say?

-Nothing.

-No. I heard something in Vietnamnese.

Suzane giống như đa số người Mỹ khác nói sai chữ Vietnamese thành Vietnamnese.

-Nothing. I talk to myself.

-What inside? An animal?

-Yup. A rare animal, an endangered specie.

-It’s for me. Right?

-Yup.

-Wow! What did I have to feed him?

-Cơm and nước mắm.

-Nuoc mam? Eeo ooi!

Christine cười ròn tan như pha lê. Tiếng cười ở đoạn cuối hạ xuống cái lỗ gần bên tai tôi như có vẻ trêu chọc tôi. Hai  từ eeo ooi của người con gái Mỹ nghe oe ơi thật là dễ thương. Tôi đùa với mình «làm món quà giáng sinh cho người em đêm nay thì nhịn cơm và nước mắm, ăn hamburger một đêm cũng được ». Tôi giả vờ cựa quậy trong thùng. Có tiếng vỗ trên mặt thùng.

-Don’t be upset. Be nice.

-Do you need my help?

-No. Almost done. Please go outside and take care the table for me. I will be there in no time. Where’s my brother David?

-He went outside to get some more fire wood.

Suzane đi ra ngoài. Christine thu dọn đồ đạc.

-Ngài animal chịu khó một chút nghe.

Nàng lại cừoi thật hạnh phúc. Tôi giả bộ gầm gừ. Có tiếng tay nàng nựng vỗ trên mặt thùng.

-Ráng ngoan nghe ông. Good boy!

Người con gái mở cửa đi ra phòng khách. Nằm trong hộp kín, cái mặt nạ đi tuyết làm hâm hấp vã mồ hôi, ngứa ngáy. Cái hộp chật không thể đưa tay với lên gãi được. Cánh cửa phòng đóng kín, tôi bắt đầu thấy hơi nóng hừng hực. Tôi phải quay mặt qua một bên để mũi gần cái lỗ hổng cho thoải mái. Tôi nằm nghĩ ngợi không biết chuyện gì sẽ xẩy ra. Tôi nghe Christine nói tôi được dùng làm món quà giáng sinh cho Suzane. Không biết mặt mũi cô nàng Suzane này ra sao nhưng nghe giọng nói rất… sexy! Đi cross-country skiing thì chắc phải là to khỏe, nẩy nở…

Tiếng cánh cửa bật mở. Có tiếng người nói tiến lại gần.

-David, Sue, you guys hold the other end and let me take care of this end.

-What’s that?

Người con trai hỏi.

-A live mummy!

-It’s heavy.

Tôi được ba người nhấc ra ngoài phòng khách.

-Gì thế?

Một giọng nói đàn bà như sầu muộn kinh niên.

-Quà Giáng Sinh của mẹ.

Tôi giật mình. Christine gọi người đàn bà đó là mẹ. Nàng đã bảo với tôi là mẹ nàng hãy còn ở ViệtNam. Giọng người đàn bà không gợi cho tôi nhớ ra một khuôn mặt đàn bà nào trong đời tôi.

-Các con cho mẹ cái quan tài đấy hả?

-Lúc nào mẹ cũng chỉ nghĩ đến chết chóc, buồn khổ.

-Mẹ đã bảo các con phải tằn tiện.

-Có tốn kém gì đâu…

-Mẹ đã lớn rồi đâu còn cần gì tới quà Noel nữa mà mua cho tốn kém. Các con ngoan, học hành giỏi, trở thành người hữu dụng cho xã hội, đó là món quà quí giá cho mẹ. Vào những dịp lễ như thế này đáng lẽ các con được nghỉ ngơi ở nhà vui cùng gia đình, các con đã phải đội mưa, đội tuyết đi làm thay mẹ để giúp gia đình, lái xe leo đèo leo núi giữa lúc mưa tuyết như thế này, đi làm bồi làm bếp cho thiên hạ kiếmđược vài đồng bạc một giờ, các con phải biết tíêt kiệm dành dụm để phụ vào việc học cho khóa mùa xuân tới… Hồi chiều con Sue bạn con chở mẹ lên đây thấy đèo dốc trơn trượt, tuyết băng rợn cả người, mẹ thương các con không biết chừng nào… Đáng lẽ mẹ phải đi làm nuôi các con… Nếu cha các con còn sống… Noel mà mẹ cũng không dám mua quà cho các con nữa…

Người đàn bà bật khóc.

-Đâu có tốn kém gì đâu. Cái này là do lòng tốt của một người…

Tôi được đặt xuống trước lò sưởi. Tôi cố gắng gạn lọc từng tiếng nói của người đàn bà để tìm ra âm thanh quen thuộc, cố đoán xem là ai nhưng không tài nào định nổi. Hơi lửa nóng hừng hực.

-Mẹ đừng có khóc. Đêm nay là đêm giáng sinh. Lễ giáng sinh nào mẹ cũng khóc. Tết nào mẹ cũng khóc. Con đã bảo món quà này là do lòng tốt của một người.

-Con chỉ nói dối mẹ. Ở đây ai mà cho con.

-Con không nói dối mẹ đâu.

-Ai vậy?

-Mẹ mở ra sẽ biết.

-Của ai cho, tại sao con nhận mà không xin phép mẹ trước?

-Con muốn mẹ hưởng một đêm giáng sinh thật hạnh phúc. Mười mấy giáng sinh, mười mấy tết mẹ chỉ sống bằng nước mắt. Bây giờ mẹ chỉ là một cái xác khô không hồn, mẹ làm chúng con khô héo theo mẹ. Con muốn mẹ hồi sinh lại sống với đời, với các con…

-Còn cái gì ở cõi đời này sẽ làm mẹ sống lại?

-Món quá giáng sinh này.

Tôi nghe rõ tiếng nấc của người đàn bà. Cả phòng bỗng im lặng chỉ còn nghe tiếng củi nổ lách tách.

-Thôi cả nhà sửa soạn ăn reveillon, đã đến nửa đêm rồi.

-Ông thầy dậy học của con đâu?

-Ông ta về dưới Fresnorồi.

-Sao con bảo mẹ là ông ta mời cả gia đình mình lên đây ăn tiệc nửa đêm?

-Con phải nói dối như thế mẹ mới chịu đi ra khỏi nhà, chỉ có những cái gì liên quan tới sự học của chúng con mẹ mới chịu tham dự vào. Đã bao lần con mời mẹ lên đây chơi, mẹ có chịu đi đâu. Con cũng nói dối với người cho món quà giáng sinh này là mẹ còn ở Việt Nam.

-Tại sao con lại nói dối với người ta như thế?

-Tại vì con thấy ông ta thông minh quá, con sợ ông ta khám phá ra ý định của con. Con xin lỗi. Xin lỗi tất cả.

Tôi biết Christine muốn nói lời tạ lỗi với tôi.

-Mưa tuyết như thế này, không biết ở đây có ai đi chơi nửa đêm như ở bên ViệtNamkhông nhỉ? Các con ăn xong rồi muốn đi đâu thì đi. Mẹ ở nhà.

-Mẹ không đi chơi cũng được, đêm nay để mẹ ở nhà với món quà của mẹ. Mẹ mở quà đi, rồi chúng ta đi ăn. Đến nửa đêm rồi. David, get a pair of scissors for mom.

Tôi có cảm giác như mình mới tỉnh lại trong một chiếc quan tài. Trái tim đập rộn ràng như hồi mới biết yêu. Tôi nôn nóng chờ nhìn thấy mặt người đàn bà. Tiếng kéo cắt lớp băng keo.

-Quà gì mà to quá thế này?

-Để con phụ mẹ. Mẹ bình tĩnh nghe.

Cái nắp hộp bật ra.

-Trời đất!

Người đàn bà kinh hoàng lùi lại muốn té xỉu, bám víu vào Christine để đứng vững.

-Oh! My gosh! A man!

Sue rú lên. David chồm tới.

-What? A man?

Người đàn bà run lẩy bẩy.

-Cái xác ai vậy?

-Is he still alive?

-Ông ta còn sống và còn biết yêu.

Tôi nhấc hai tay lên khoanh lại để lên ngực.

-Ai thế?

-Người đàn ông mấy chục năm trước mẹ đã yêu.

-Ai?

-Mẹ lột cái mặt nạ của ông ta ra sẽ biết.

Người đàn bà lắc đầu, kéo cái ghế bên cạnh ngồi xuống.

Tôi ngồi dậy. Tôi đã nhận diện ra Liên, người bạn học cùng lớp ngày trước. nàng đã cùng ở trong ban báo chí với tôi. Chúng tôi đã cùng làm tờ bích báo cho lớp. Nàng đã già đi thật nhiều. Tôi đứng dậy từ từ lột cái ski mask ra, tiến lại trước mặt Liên.

-Trời đất quỉ thần ơi!

-Mẹ nhận ra ông ta chưa. Hôm con đưa thức ăn vào phòng ông ấy con thấy quyển truyện có tấm hình của ông ấy, quyển sách mà mẹ bắt con xuống tận Orange County tìm mãi mới mua được. Quyển sách mẹ hay gối đầu giường, đọc đi đọc lại. Con nhận diện ra được ông ta. Con nhớ có lần mẹ chỉ ông ta trên tivi, mẹ bảo ông ta là bạn học cùng lớp với mẹ. Mẹ nói cho con biết nhiều chi tiết dễ thương về ông ta.

Con nhớ mãi cái tên Long là Dài mà ngược lại ông ta trông lại Ngắn…

-Anh Long!

-Merry Christmas.

Christine, Sue, David đều phụ họa nói theo tôi  ‘Merry Christmas’.

Ngồi chết lặng một lúc lâu sau Liên đưa hai tay lên lau khô hai dòng nước mắt chẩy dài trên má rồi nàng nở nụ cười làm rạng rỡ cả khuôn mặt héo khô. Hai má rực ánh lửa hồng.

-Hurrah! Mẹ đã cười trở lại đêm Christmas này. Cám ơn Món Quà Christmas. Mẹ tôi đã sống lại đêm nay.

Nàng chồm tới ôm tôi.

-Cám ơn cô “Ông Già Noel” Christine!

Liên đưa bàn tay cho tôi bắt. Tôi giữ tay nàng trong tay mình.

-Merry Christmas.

-Merry Christmas.

Sầu khổ đóng giá trong đôi mắt Liên tan dần thành hai dòng nước mắt pha lê chảy dài xuống má. Những giọt nước mắt nhỏ xuống thánh thót thành những giọt chuông giáo đường đêm giáng sinh. Tôi chợt nhớ lại câu nói bỏ lửng của Christine “Nếu tôi sinh ra cùng thời với ông… tôi dám yêu ông lắm, bấy giờ… chẳng lẽ…”.

Liên vẫn để yên bàn tay trong tay tôi. Bên ngoài tiếng thánh ca vang dội trong rừng Thông Thiên Cổ Sequoia đầy tuyết phủ…

                                        Yosemite, Christmas 1987

                                        (trích trong Những Mảnh Đời Tị  Nạn, nxb Xuân Thu 1988).

December 23, 2011

MÓN QUÀ GIÁNG SINH (1) (truyện ngắn).

Filed under: Món Quà Giáng Sinh (1) — Quang Nguyen @ 6:05 am

MÓN QUÀ GIÁNG SINH

(Truyện Ngắn)

Phần 1.

Nguyễn Xuân Quang

-Giáng sinh năm nay ông đến trễ mất một ngày.

Marianne, người nữ tiếp viên lo việc check-in của khách sạn Ahwahnee đã nhận diện ra tôi.

-Tôi bị mắc kẹt tuyết ở đèo Tejon.

-Tôi có nghe bản tin thời tiết. Một vài du khách ở dưới Orange County lên cũng bị mắc kẹt như ông. Năm nay chúng tôi sẽ có một món quà Giáng Sinh đặc biệt tặng ông.

(nguồn: Ahwahnee hotel, Walzemlab.tamu.com).

Mỗi năm người đàn bà trông già thấy rõ. Người da trắng sau khi hết cái nước thời xuân sắc, lúc bắt đầu đổ xuống dốc tuổi già, cái nhan sắc thấy tàn phai nhanh hơn người da mầu.

Năm nay lênYosemite trễ mất một ngày, tôi đã phải gọi điện thoại lên xác nhận là mình vẫn còn muốn giữ chỗ và bằng lòng trả tiền phòng mặc dầu phòng để trống không. Bỗng dưng năm nay hai ba trận bão ập tới miền Nam Cali ấm áp, bão đã mang tuyết xuống mãi tận những vùng đồi núi thấp. Con đường xuyên bang interstate số 5 ở khúc đèo xuyên sơn Tejon pass đi qua rặng núi ngăn cách cánh đồng Bakerfield của Quận Kern với vùng bờ biển Thái Bình Dương của Quận Los Angeles, tuyết ngập tới vài bộ. Đoạn sơn đạo này đã bị đóng lại để cào tuyết mở đường vì thế năm nay tôi lên đây chậm mất một ngày.

Cứ mỗi mùa giáng sinh, tôi lại trở về “tịch cốc”Yosemite của mình để xa lánh bụi trần, để trở về với đỉnh trời sống với thiên nhiên. Năm nay là bốn năm liên tiếp, tôi trở lại Yosemite hưởng những mùa Giáng Sinh Trắng, bỏ lại tất cả sau lưng.

-Ông vẫn muốn giữ chỗ cho mùa giáng sinh sang năm chứ?

-Vâng, xin bà. Cùng ngày, cùng khoảng thời gian, cùng phòng.

-Tôi biết đã hỏi ông một câu hỏi rất thừa. Nhưng bắt buộc tôi phải có được sự chấp thuận nơi ông nên mới phải hỏi như thế.

-Cám ơn bà.

Giáng Sinh nào khi check-in vào khách sạn xong, tôi cũng giữ chỗ cho mùa Giáng Sinh năm sau, giữ chỗ lấy cùng một phòng, cùng một khoảng thời gian, cùng ngày. Muốn được như ý, muốn được thỏa mãn những điều kiện như thế, phải giữ chỗ trước một năm. Có một năm tôi quên giữ chỗ trước ngay sau khi check-in, sáu tháng sau mới nhớ ra, gọi giữ chỗ thì đã hết phòng. Năm đó tôi chỉ lấy được một căn lều ở khu Yosemite Lodge, khách sạn Ahwahnee không còn chỗ trong dịp Giáng Sinh.

Lái xe từ Quận Cam lên mất khoảng bẩy, tám tiếng đồng hồ với vận tốc xa lộ. Năm nay vì mưa tuyết nên tôi chọn con đường 140 qua cửa ngõ thành phố Merced, dọc theo con sông Merced để vàoYosemite. Đường 140 xa hơn đường 41 đi ngả Fresno nhưng ít dốc đèo hiểm trở, không có nhiều tuyết, không cần phải đeo xích sắt vào bánh xe.

Làm giấy tờ check-in xong, Marianne đưa chìa khóa và giấy tờ cho tôi.

-Ông cần người bell hop đem hành lý về phòng không?

-Khỏi cần.

-Cám ơn ông. Chúc ông một mùa Giáng Sinh an bình.

Tôi đi về phòng, có cảm tưởng như một kẻ đi xa trở về chính căn nhà của mình. Chân đi quen thuộc như đi trong nhà mình, có cảm tưởng nơi đây là căn phòng nghỉ mát riêng của mình.

Tắm rửa xong, sau một ngày lái xe mệt nhoài, sáng đã phải dậy sớm để đi cho mát và tới nơi trước khi bóng đêm đổ xuống, tôi chui vào chăn nằm lơ mơ nhìn ra bầu trời xám ngắt, ảm đạm, mùa đông. Chỉ còn một chút ánh nắng hắt lên phía bên kia sườn núi. Tuyết hãy còn trên đỉnh núi cao hay trên những sườn đồi rậm rạp cây cỏ, ở những chỗ khuất nắng.

Tôi thiếp ngủ đi thật dễ dàng. Khi thức dậy đã hơn mười một giờ đêm. Bên ngoài gió mưa. Lười biếng tôi gọi điện thoại xuống tiệm ăn gọi room service. Ba bốn năm trời, cái thực đơn vẫn không thay đổi. Tôi chọn món cá hương cầu vồng rainbow trout, đặc sản củaYosemite, lăn bột chiên.

Khoảng hơn nửa giờ sau có tiếng gõ cửa nhè nhẹ, e dè và có vẻ kính trọng.

-Mời vào.

-Cửa khóa, thưa ông.

Một giọng con gái. Tôi chồm dậy ra mở cửa. Cánh cửa mở. Một cô phụ bếp đẩy chiếc xe thức ăn.

-Ông order room service?

Người con gái cũng như các nhân viên khác, ăn mặc theo cách trang phục thời Trung Cổ Âu Châu. Chiếc khăn phủ đầu có rua và những hình trang trí trông như một chiếc thảm Ba Tư. Chiếc áo đầm lòe xòe. Với khuôn mặt Á châu trông nàng mường tượng như một mỹ nữ trong một động harem Ả Rập.

-Tôi chỉ order room service thức ăn thôi… vì hôm nay sau một ngày lái xe đường trường…

Người con gái hiểu ẩn ý câu nói chọc, nàng ngước lên lườm tôi. Một đôi mắt Á châu đầy tự tin và kiêu ngạo rất Mỹ.

-Cô để đó cho tôi. Cám ơn cô nhiều.

-Ông ăn ngay đi, cá mới chiên còn nóng rất ròn, để nguội sợ tanh.

-Cám ơn cô.

Người con gái hãy còn nhiệt huyết của tuổi trẻ, của một người mới vô nghề chưa phải là người đã làm một công việc đến độ sợ việc làm. Chắc nàng hãy còn đi học chỉ nhận làm việc thêm vào những ngày nghỉ lễ. Vào những mùa lễ như bây giờ, những cô, cậu, sinh viên từ Fresno, Merced, San Francisco lên đây xin làm những việc vặt thế cho những nhân viên làm kỳ cựu ở đây xuống núi trở về cõi tục một thời gian.

-Khi nào ăn xong ông gọi chúng tôi.

-Sáng mai mấy cô dọn cũng được. Tối nay tôi không muốn bị quấy rầy.

Tôi chợt thấy mình nói như hơi có vẻ sẵng giọng, quyền thế và có chút hách dịch.

-Vậy thì ông đẩy xe ra ngoài hành lang cũng được.

Người con gái quay đi ra ngoài. Khi đi qua chỗ tôi để mấy tờ tạp chí Việt ngữ, mấy quyển sách của tôi, nàng khựng lại, đứng nhìn đống sách báo, rồi quay lại nhìn tôi.

-Ông cần gì nữa không?

Tôi biết nàng muốn nói một điều gì khác nhưng đã đổi lời. Nàng nhìn tôi rồi nhìn tấm ảnh của tôi ở bìa sau quyển truyện của tôi như để so sánh.

-Không, cám ơn cô.

Người con gái bỏ đi. Tôi nằm dài một lúc lâu. Căn phòng đã ở nhiều lần quen thuộc như một cái tổ cũ.

Ăn xong, trời mưa to gió lớn hơn. Gió luồn qua những vách đá gào hú làm chợt nhớ đến cái tên truyện “Đỉnh Gió Hú”. Tôi lại leo lên giường kéo chăn lên cổ nằm trong bóng đêm lơ mơ rồi ngủ trong lúc nào không hay.

Buổi sáng trở dậy, mưa vẫn còn rơi, nhưng những hạt mưa thật mảnh khảnh. Trời bớt lạnh. Mưa hay nắng cũng không thành vấn đề. Những ngày lên đây tôi sẽ sống với mưa, với nắng, với tuyết, với bão, với động đất… chẳng nề hà gì. Những hàng cây sồi, cây phong trơ trụi mốc meo trông thật ảm đạm, rét mướt.

Buổi trưa xuống tiệm ăn, tôi gặp lại người con gái đã đem thức ăn lên phòng tối hôm qua. Nàng cố ý né tránh, mặt vác lên khinh khỉnh. Mãi cho tới lúc không còn ai để đẩy việc, nàng mới miễn cưỡng tiếp tôi.

-Cô là người Việt phải không?

Người con gái im lặng, cắm cúi thu dẹp chén dĩa, lạnh lùng. Nàng có cái thứ chối bỏ làm lơ của những người Việt tha hương, vừa có vẻ kinh sợ, vừa có vẻ khinh miệt, kiêu ngạo mà lại vừa có vẻ như muốn che dấu một cái gì.

Tôi nhìn tìm ngực người con gái để đọc cái bảng tên. Không đủ ánh sáng để đọc tên nàng chỉ thấy thấp thoáng mấy chữ. Tên khởi đầu bằng chữ C nhưng tôi đã nhận ra được cái họ Nguyễn. Bảng tên có khắc mỏm núi đá Nửa Vòm Half Dome, biểu tượng củaYosemite. Tôi kiên nhẫn bắt chuyện:

-Cô đem đồ ăn lên phòng tôi tối qua, chắc cô biết tôi là người Việt Nam rồi. Tôi tên Long họ Nguyễn, chữ đệm là Càn. Nguyễn Càn Long. Ông già tôi đặt tên theo vua Càn Long bên Trung Quốc. Đang từ cái tên vua chúa, cuộc thế đảo điên, qua đây, tên tuổi bị đảo ngược bây giờ thành Long Càn.

Tôi liếc mắt nhìn người con gái, nàng vẫn không đáp ứng, cắm cúi lau bàn.

-Mặc dầu tên tôi đổi thành Long Càn nhưng không có nghĩa là qua đây tôi bắt chước thiên hạ sống càn, sống bậy…

Nhìn người con gái vẫn im lặng như khinh bỉ, tôi bồi tiếp:

-Tụi Mỹ mất dậy gọi tôi là Long Cane.

Mặt người con gái không đổi sắc, vẫn thản nhiên, thánh thiện khi nghe câu nói “mất dậy” của tôi. Có lẽ giọng tiếng Anh của tôi Tây quá, có thể hiểu ra là Long Kên. Nàng vội vã bưng bát chén bỏ đi.

Buổi chiều mưa bớt dần. Những hạt mưa nhẹ dần rồi mong manh như tơ. Rồi một thoáng trở thành bụi trắng xóa đổ xuống la đà.  Đám trẻ con reo hò. Tuyết rơi. Tuyết rơi. Lậy trời tuyết rơi. Rơi nhiều. Rơi nữa. Rơi nữa. Lậy trời tuyết rơi.

Tôi muốn đi ra ngoài đội tuyết. Sau khi trang bị đồ ấm, mặc quần bib, đi giầy moon boot, quấn khăn choàng cổ, đội mũ tuyết, khoác áo parka, đeo găng tay, tôi rời khách sạn.

Những hạt tuyết rơi lả tả cùng khắp từ đỉnh trời. Tôi thả bộ đi về phía thác Yosemite. Những hạt tuyết lọt xuống sau gáy lành lạnh làm tôi mấy lần phải dừng chân quấn lại khăn quàng cổ. Tôi chợt nhớ lại lời giảng của một vị thầy giáo khi còn đi học ở trường trung học Tăng Bạt Hổ, Bồng Sơn, xứ dừa, khi dậy về Kiều, lúc giảng về tuyết, thầy đã ví tuyết như cơm dừa bào mịn thả bay trong gió.

Khi đến chân thác mặt đất đã dầy tuyết cả tấc. Tuyết rơi nên trời bớt lạnh. Tôi ngồi đó nhìn thác đổ trong tuyết rơi. Một giải trắng xóa đổ xuống giữa một bầu trời lẩn vẩn trắng mầu hoa tuyết. Thác gẫy làm ba khúc: thác thượng, thác ghềnh và thác hạ.


 (nguồn: Yosemite Waterfall, gutenberg.org).

Dưới tuyết rơi, thác trông có vẻ cứng hơn những mùa khác. Tôi ngồi đó cho tới khi trời nhá nhem tối mới đứng dậy rời thác. Tuyết mới rơi rất phồng, rất xốp. Những bước chân đi trên tuyết mới rơi thấy lềnh bềnh, phiêu bồng.

Đi chơi ngoài tuyết đến tối mịt tôi mới về khách sạn ăn tối. Mấy người phụ việc đã về bớt chỉ còn lại mấy người, trong đó có người con gái. Bây giờ đến lượt tôi cố ý tránh né nàng. Tôi đợi nàng đi vào bếp rồi vẫy gọi một người con gái khác đến để gọi món ăn. Khi ăn xong tính gọi ly cà phê nhưng ngồi đợi thật lâu mà không thấy ai ra dọn dẹp, dường như mấy người hầu bàn đều muốn né tránh  để về nhà đúng giờ. Cuối cùng người con gái Việt đẩy xe ra dọn dẹp.

-Chào ông.

-Chào cô.

Người con gái đã chào tôi bằng tiếng Việt.

-Sao ông biết tôi là người Việt?

-Tôi thấy cô nhìn đống sách báo Việt ngữ trong phòng tôi có vẻ thân thương và sau đó cô thay đổi thái độ đối với tôi.

-Thật vậy sao?

-Cô không thích tiếp xúc với người Việt phải không?

-Thật vậy sao?

-Thật.

-Có lẽ ông nói đúng đấy.

-Tại sao vậy?

-Tôi cũng chẳng biết tại sao, có điều tôi thấy mình không được thoải mái lắm, cảm thấy làm sao ấy. Nhất là ông.

-Cô cảm thấy lạc loài?

-Phải.

-Tôi hiểu. Nhiều lúc tôi cũng cảm thấy như thế.

-Thật vậy sao? Ông dùng cà phê?

-Cho tôi một ly decaf.

Người con gái lau tay, đi vào lấy tách cà phê. Nàng đã tan giá lớp vỏ băng tuyết của những người Việt lưu lạc.

Người con gái để ly cà phê xuống trước mặt tôi thật ưu ái, chăm sóc. Nàng đã thu dọn xong còn vờ lau chùi bàn, nàng lau đi lau lại cái bàn sạch bóng.

-So với bọn con trai cùng lứa tuổi, các cô còn là những người may mắn.

-May mắn?

-Cô là con gái, xã hội này còn có chỗ cho cô ngồi ghé, còn bọn con trai cùng lứa tuổi với cô, họ là một thế hệ lạc lõng, a lost generation.

-Thật vậy sao?

-Họ không còn là người Việt xanh, người Việt đỏ, họ không thể trở thành người Việt trắng, người Việt đen và cũng không còn là người Việt vàng.

-Vậy thì họ làm người Việt ngũ sắc?

-Người Việt tam thể, người Việt ngũ sắc hay người Việt bẩy mầu cầu vồng cũng chẳng sao cả, nên lắm, miễn là phải giữ lấy mầu nền vẫn là mầu vàng đông phương và trái tim vẫn phải là trái tim nhân loại. Nếu không, các cô, các cậu sẽ trở thành một đám dân Việt lạc loài, các cô, các cậu sẽ trở thành một đám con cháu Lạc Long lạc lõng.

-Thật vậy sao?

Tôi đã bắt đầu thích thú nghe cái điệp khúc “thật vậy sao” của người con gái.

-Cô không phải là nhân viên làm thường trực ở đây phải không?

-Sao ông biết?

-Hai mùa giáng sinh trước tôi ở đây nhưng chưa hề gặp cô.

-Tôi được nghỉ lễ giáng sinh và tết dương lịch hai tuần nên lên đây nghỉ mùa đông và đi làm thêm.

-Chắc chắn cô là người yêu thiên nhiên.

-Tôi đang theo học ngành Lâm Học ở Fresno State University.

-Trường Đại Học đó ở dưới Fresno rất nổi tiếng về Nông Lâm Súc.

-Thật vậy sao?

Tôi mỉm cười lặp lại.

-Thật vậy. Một người tôi quen có cô con gái ở dưới Quận Cam phải lên tận Fresno trên này để theo học ngành gây giống bò bằng cách cho cấy tinh nhân tạo.

Người con gái có vẻ không hiểu mấy chữ cuối cùng, tôi “phụ đề” thêm tiếng Mỹ “artificial insemination”.

-Ồ, tôi cũng học qua về vần đề đó. Về cây cỏ chúng tôi làm propagation, nếu muốn sản xuất được nhiều đôi khi dùng cả kích thích tố tăng trưởng auxin.

-Nghề của cô mai mốt giữ gìn được non sông đất nước.

-Ông đi chơi những đâu rồi?

-Mới đội tuyết đi lang thang tới thácYosemite.

-Ông thích đi ski không?

-Thích. Nhưng không đi giỏi được. Môn thể thao đó hơi cồng kềnh mà tôi lại điều hành tay chân mình rất vụng về. Đầu gối đã hơi lỏng rồi. Đi ski giỏi phải cần có hai cái đầu gối còn tốt. Tôi mới chỉ biết đi theo hình chữ V thôi.

-Nghĩa là sao?

-Hai đầu mũi ski chụm vào nhau cho khỏi ngã. Những người trẻ như cô chắc đi giỏi.

-Cũng tạm được thôi. Tuyết rơi như thế này, sáng mai ông lên Badger pass, có tuyết mới rơi rất khô và xốp, đi rất nổi.

-Để xem có hứng hay không đã.

-Ông phải lấy ticket xe bus trước đêm nay, mười giờ sáng mai có chuyến xe bus đầu tiên.

-Cám ơn cô. Lúc này tôi chưa có ý định. Xin lỗi cô tên…

-Tôi tên Christine, cũng họ Nguyễn. Tên Việt là Chi nên đổi thành Christine cho còn giữ được cái âm hưởng của tên Việt.

-Cô qua đây lâu chưa?

-Năm sáu năm.

-Hèn gì cô nói tiếng Việt còn rất lưu loát.

-Xin lỗi ông, tôi phải vào rửa chén bát, thằng manager mới lừ mắt mắng tôi xong.

Sáng hôm sau xuống ăn sáng, tôi không thấy Christine. Tôi cũng chẳng bận tâm. Thật sự có cô ta chỉ để nói chuyện gẫu cho vui lúc ăn uống nhàn rỗi. Ăn sáng xong, tôi soạn một thermos trà nóng, xách theo cái máy điện toán cá nhân, lái xe đến khu Chuồng Ngựa. Bỏ xe ở bãi đậu, rồi đi tản bộ lê Hồ Gương Mirror Lake.

Anh nắng ban mai sau khi trời đổ tuyết thật lung linh huy hoàng. Ánh nắng trong veo tinh khiết. Nắng pha lê. Nắng thủy tinh. Những cành cây trơ trụi, đen đủi, mốc meo vừa mới được rắc lên tuyết, khoác lên cái áo tuyết trắng, phủ lên cái huy hoàng của tuyết giá như một thứ phép mầu mùa đông. Những cây thông, cây tùng, cây bách, những cây lá thuộc bài… đội tuyết, cành trĩu xuống la đà. Tiếng nước suối chẩy rì rào…

Khi tới hồ, mặt hồ đã đóng băng quanh bờ và những chỗ cạn, chỉ còn chiếc gương nước tròn con con ở giữa hồ phản chiếu bóng núi đá cao đội tuyết. Rừng cây xanh bao quanh. Bầu trời xanh biếc trên cao. Một Winter  Wonder Land.

(nguồn: Mirror Lake  flickr.com).

Một người con gái đang ngồi trên tảng đá cao nơi cuối đầu mỏm đất nhô ra xa ngoài hồ. Cái chỗ tôi vẫn ngồi mỗi mùa giáng sinh. Khi tới gần tảng đá tôi nhận ra vóc dáng Christine trong lớp y phục mùa đông, trông nàng khác hẳn lúc ở trong bộ quần áo thời Trung Cổ khi làm việc.

Người con gái quay lại.

-Chào ông.

Tôi hơi khó chịu. Thật sự tôi chỉ muốn yên thân nơi đây ngày hôm nay giữa những người xa lạ. Tôi muốn ghi lại những suy nghĩ, tư tưởng đã chín tới trong đầu, những ý tưởng tôi đã lơ mơ một thời gian thật lâu rồi. Tôi cần phải viết ra.

-Chào cô.

-Ông không đi trượt tuyết à?

-Tôi muốn được cô đơn lúc này.

-Thật vậy sao?

Tôi trả lời cộc lốc.

-Thật.

-Sao ông giống tôi quá vậy. Tôi cũng muốn được cô đơn lúc này.

Tôi hiểu mang máng ý người con gái và cũng muốn tìm lối thoát để bỏ đi chỗ khác.

-Cô muốn đuổi tôi đi chỗ khác phải không?

-Tôi là người tới đây trước. Nhưng không sao, ông muốn ở lại cũng được, có mặt ông, tôi vẫn cô đơn được như thường.

Nói xong , người con gái quay mặt đi, ngẩng lên nhìn đỉnh núi Nửa Vòm, Half Dome.

(nguồn: Half Dome, public.domain-photos.com)

Cơn gió lạnh giá lướt qua xào xạc rũ những hoa tuyết trên cành đổ xuống rắc lốm đốm trên tóc người con gái.

Tôi lưỡng lự không biết có nên bỏ đi nơi khác hay không.

Nhìn mặt hồ, đúng như câu nói khắc trên bảng gỗ. Mỗi năm Hồ Gương thu nhỏ dần lại vì cát sỏi từ trên núi bị nước lũ cuốn theo lấp dần dần hồ nước. Một cánh đồng nội đang thành hình. Một vài trăm năm nữa Hồ Gương sẽ không còn. Dâu bể. Tôi bỗng thở dài.

Người con gái nghe tiếng thở dài quay lại, lườm tôi, rồi tụt xuống tảng đá, tính bỏ đi.

-Cô cứ ngồi đó đi. Tôi mới là người phải đi chỗ khác.

-Thôi tôi trả lại cái cô đơn cho ông. Ông Long Gàn.

Tôi giật mình. Người con gái đã gọi cái hỗn danh của tôi. Cái tên mà hồi trước bạn bè thời trung học đã đặt cho tôi. Người con gái đứng phủi tuyết trên áo quần.

-Ai nói với cô tôi là Long Gàn?

-Nếu ông không phải là Long Gàn thì nói ngược lại là Gan Lòng!

Tôi đứng chết cóng dưới gió tuyết.

-Ai nói với cô vậy ?

-Thì người ta nói chứ làm sao tôi biết được. Thôi tôi phải trở về nghỉ ngơi, tối nay tôi phải làm shift đêm.

Người con gái đi rồi. Tôi leo lên tảng đá ngồi xuống ngay chỗ nàng vừa ngồi để lấy hơi ấm. Ngồi đó đóng băng cả giờ. Không thèm viết đến một dòng. Tôi ngồi đó cả buổi lắng nghe tiếng thông reo, tiếng đá núi nứt, tiếng băng giá trên mặt hồ trở mình lách tách, tiếng chim rừng… Một vài kỷ niệm học trò trở về do người con gái mới khơi lại.

Rón rén mấy con sóc mon men tiến đến gần như muốn gạ thức ăn. Những con vật rất thân thiện với người, đi loanh quanh lẩn quẩn.

Trời đã bắt đầu nắng chói chang trên các đỉnh tuyết. Những con sóc bỗng chạy tứ tán làm lay động tuyết từ những cành cây rơi lả tả. Tôi ngồi đông lạnh. Một con chó sói loại coyote đang đổ dốc đi về phía tôi ngồi. Khi tới bên hồ nước nó đứng lại nhìn tôi, đôi mắt xanh mở lớn nhưng trông không có vẻ dọa nạt. Con vật đánh hơi mặt tuyết rồi cụp đuôi đi vào rừng cây.

Ngồi thêm một lúc nữa, tôi leo xuống tảng đá, đi vòng quanh hồ, rồi tìm một lối mòn đi vào rừng cây. Ban ngày vào một lúc nắng ráo nào đó, tuyết vã mồ hôi ra ươn ướt, nhưng đến đêm giá lạnh lại đông cứng lại làm các hạt tuyết bám cứng vào nhau, không còn rời ra nữa. Tuyết không còn phồng, còn xốp, không còn nổi như lúc vừa mới rơi xuống. Bây giờ tuyết giống như những hạt đường cát trắng khô rón lại thành cục. Những bước chân đi trên tuyết giờ nghe ròn tan, vỡ vụn, lạo xạo.

Buổi tối, tò mò muốn biết ai đã nói tung tích mình cho người con gái biết, tôi đợi gần tới nửa đêm mới gọi room service. Quả thật chẳng bao lâu Christine đẩy xe thức ăn lên phòng tôi. Vừa bước vào phòng nàng đã chọc:

-Ông đã hết mệt vì lái xe đường dài chưa ?

Tôi giả lơ.

-Tôi có ý định muốn gặp lại cô.

-Thật vậy sao?

-Tôi thắc mắc muốn biết ai đã nói về tôi.

-Một người nào đó.

-Ai thế. Tôi liên lạc được không?

-Được chứ. Để tôi hỏi người đó xem họ có ưng thuận cho ông số điện thoại hay không đã.

Nói xong người con gái cười tinh ngịch.

-Nếu người đó không muốn liên lạc với ông thì sao?

-Cũng chẳng sao. Không hoàn toàn cần thiết.

-Ngày mai ông tính đi đâu?

-Chưa tính trước.

-Ông lại sợ tôi phá hoại cái cô đơn của ông phải không?

-Không. Tùy theo tôi ngủ dậy sớm hay muộn, tùy theo thời tiết, tùy theo cái hứng lúc đó. Tôi muốn sống những ngày trên đây ra ngoài những qui ước của con người.

-Nếu ông muốn đi trượt tuyết và cần người kèm riêng, tôi sẽ giới thiệu cho ông con nhỏ bạn Suzane của tôi. Nó sẽ chỉ cho ông những đường đi thật là lả lướt. Nó khỏe lắm, đi cross country skiing rất giỏi. Nó thích kiếm tiền bằng cách dậy đi tuyết hơn là làm những việc bồi bếp như tôi.

Thấy tôi im lặng, người con gái nói tiếp:

-Ông chỉ phải trả cho nó một số tiền bằng tiền lương tối thiểu  tính theo giờ của tụi tôi đi làm thôi.

-Để xem đã.

Christine đi ra ngoài, trước khi đóng cửa lại, nàng nghiêng đầu qua bên nhìn tôi.

-Người ta còn nói nhiều thứ về ông nữa cơ.

-Chẳng hạn?

-Hồi trước ông học giỏi lắm phải không?

-Phải. Có lần tôi được phần thưởng Danh Dự Toàn Trường do tổng thống Ngô Đình Diệm ban tặng.

-Hồi đó, ông được nhiều cô mê lắm phải không?

Tôi im lặng chờ người con gái nói tiếp nhưng nàng chỉ cười tinh quái.

-Gặp ông ngày mai.

Nói xong người con gái khép cửa lại.

Bữa cơm tối ăn trong phòng chán bứa, thức ăn ứ ở cổ.

Trời chưa sáng hẳn, tôi đã thức dậy. Bỗng dưng thấy muốn ra di thật sớm để ngằm nhìn bình minh trên những đỉnh núi tuyết. Tôi lái xe đến đậu ở bãi đậu xe khu nhà lều CurryVillage, rồi thong thả theo lối mòn đi lên Thác Mùa Xuân Vernal Fall.

(nguôn: Vernal Fall, Harol Davis, digitalfieldguide.com).

Tuyết bắt đầu ẩm, những bước chân trên tuyết không còn ròn tan, đã bắt đầu hơi ỉu, những tiếng chân nghe đã bèn bẹt. Ánh sáng lờ mờ trên nóc rừng cây phủ tuyết, giá lạnh làm buốt cứng hai tai, mặt tê dại như bị hàng ngàn mũi kim châm. Tôi đã không mua cái mặt nạ đi tuyết, tránh dùng ski mask vì một số người đã lạm dụng nó, dùng vào những công việc khác, ngay cả trong những ngày hè nẩy lửa. Khi đến cây cầu bắc ngang qua chiếc ghềnh ở chỗ Cùi Lao Hạnh Phúc Happy Isle, tôi tìm một tảng đá kín gió, ngồi xuống. Rót chén trá nóng từ chiếc bình thủy, ngồi uống trà ngắm bình minh. Sương khói tỏa mờ, ẩn hiện những mỏm núi đá tuyết phủ, rừng thông mơ màng trông như một bức tranh thủy mạc Trung Hoa. Tôi cố xua đuổi những ý nghĩ trong đầu về người con gái. Tôi biết sáng nay mình sẽ được yên thân tại đây. Người con gái làm việc ca đêm chắc chắn giờ này còn ngủ vùi. Bỗng dưng mùa Giáng Sinh Trắng năm nay bị người con gái làm vẩn đục.

Một bầy nai đang tìm cỏ dưới bờ suối. Mặt trời đã trượt lên khỏi đỉnh núi tuyết, đổ xuống mặt tuyết cái ánh nắng chói lọi, rạng ngời.

Cả buổi sáng tôi ngồi một mình nghe thác đổ, thông reo và cũng không thèm viết lấy một dòng chữ. Cũng chẳng cần phải viết. Không thích thì cũng chẳng cần phải viết.

Người con gái đang leo cái dốc dựng đứng dẫn đến chỗ tôi ngồi. Cô nàng quả tình đã cố tình bám theo tôi để chọc phá gì nữa đây. Tôi nghĩ không thể nào có chuyện tình cờ lại gặp nhau lần nữa tại đây.

Người con gái đi ngang qua mặt tôi, đưa tay hất mớ tóc lòa xòa trước trán, ngẫng nhìn lên thác làm như không nhìn thấy tôi một cách rất ư là trong trắng. Người con gái không dừng lại, tiếp tục khom người leo lên phía ngọn thác.

Tôi thấy nong nóng mặt, đứng dậy lẽo đẽo theo sau nàng. Nàng biết có tôi theo sau, rảo bước đi nhanh thêm. Nhưng tới chỗ dốc cao và những chỗ tuyết tan đã trở thành trơn trợt, tôi cũng bám sát được nàng. Từ dưới nhìn lên, cặp mông no tròn nổi bật lên cả thân người. Nàng có đôi mông đẫy đà của các cô gái Mỹ dư ăn, thừa tình. Mỗi lần tôi tiến tới sát nàng, hai tay nàng như thừa thãi, nàng cài hai bàn tay đeo găng vào nhau để lên che mông.

Ngườin con gái ngồi bệt xuống tảng đá bên đường thở hổn hển, phá lên cười.

-Sao ông lại đi theo tôi?

-Ai theo ai? Cô biết rõ là tôi đã lên đây trước.

-Bộ ông lên đây rồi cấm thiên hạ không ai được lên nữa sao?

-Làm gì có chuyện tình cờ.

-Ừ, thì không có tình cờ, có sao đâu. Tôi đi tìm ông vì hôm trước ông nhờ tôi liên lạc với người đó…

-Người đó bảo sao?

-Không được. Người đó không muốn liên lạc với ông.

-Cũng chẳng sao. Đây không phải là lần đầu tôi bị những người thân quen cũ né tránh mình.

-Ông ăn ở thế nào mà đến nỗi người ta xa lánh ông vậy?

-Có lẽ tại tôi thành công hơn họ.

-Đúng đấy ông.

Người con gái có vẻ hiểu đời. Nàng xem đồng hồ.

-Tôi phải về đi làm. Hôm nay làm thêm giờ để được nghỉ đêm giáng sinh. Còn hai hôm nữa đến Christmas rồi nhỉ. Lên đây mục đích chỉ để báo cho ông biết về vụ người đó thôi.

-Cô cho là tôi tin cô sao? Cô leo cả ngọn núi lên đây chỉ để nói cho tôi biết như thế thôi ư?

Người con gái ngước mắt nhìn tôi có vẻ ngượng ngập, chịu thua.

-Tính nói với một chuyện. Không biết có được không?

-Chuyện gì thế ?

-Một ước mơ.

-Cô nói đi.

-Ông đừng chửi tôi nhé!

-Sao lại chửi?

-Tôi hơi liều một chút.

-Cô cứ nói đi, chẳng cần phải rào đón gì cả. Nếu không nghe lọt tai, bắt chước người xưa, tôi sẽ xuống thác rửa tai.

-Nước thác lạnh lắm, nước băng giá làm rụng mất tai ông đó…

Nhưng thôi, tôi không chọc ông nữa, phải đàng hoàng. Ông ngồi xuống tảng đá kia đi, kẻo không khi nghe tôi nói, ông sẽ rơi xuống thác.

-Mơ ước gì mà ghê gớm vậy? Rơi xuống thác là thác luôn phải không?

Tôi ghé ngồi xuống tảng đá đối diện với nàng.

-Tôi tính… Ông không được cười tôi nghe… Tôi tính muốn mượn ông một đêm…

-Mượn tôi một đêm?

Tôi trấn tĩnh ngồi sát thêm xuống tảng đá cho vững.

-Mượn chỉ một đêm thôi. Một đêm giáng sinh.

(còn tiếp).

April 22, 2011

PHO (truyện ngắn)

Filed under: Pho (truyên ngắn). — Quang Nguyen @ 9:03 am

PHO

Truyện ngắn.

 Nguyễn Xuân Quang

Đặt chân tới quần đảo miền Tây Ấn, West Indies, đi từ Jamaica, xứ Rừng và Nước – theo ý nghĩa của tên gọi Jamaica – qua hàng chục đảo từ Bahamas, Haiti, Dominican Republic, Puerto Rico… đến Guadeloupe, Martinique, Trinidad… nhiều cảnh hải đảo nhiệt đới khiến Thuyên có cảm tưởng như quê hương, đất nước mình nới rộng ra, mở bung ra, quê hương giờ là thế giới, dân tộc giờ là nhân loại. Ở đây cũng có những con đường Công Lý La Justice, những con đường Tự Do La Liberté, cũng có nhà thờ Đức Bà Nôtre Dame, cũng có con sông mang tên Hồng Hà La Rivière Rouge

Cả buổi sáng nhàn hạ đi rong chơi nơi hải đảo trong đầu chàng cứ luẩn quẩn nghĩ xem là bữa ăn trưa tới sẽ đi ăn ở đâu? Những ngày nghỉ hè nhàn rỗi ngoài rong chơi ra chỉ còn có ăn là cách duy nhất còn lại để tiêu khiển thì giờ, chẳng bù những lúc ở nhà làm việc như điên, như khùng, làm việc đến say, đến mê, đến ghiền, đến nghiện, làm việc đến workaholic, làm việc quên cả ăn uống. Có nhiều buổi sáng vừa lái xe vừa ăn điểm tâm, vừa lái xe vừa cạo râu, nhiều bữa trưa, bữa tối, vừa ăn vừa hội thảo, vừa ăn vừa bàn luận, vừa ăn vừa nghe phúc trình khảo cứu, ăn cơm tay cầm, ăn bốc, ăn bằng bát giấy, muỗng nĩa bằng nhựa. Có nhiều cuối tuần đẩy xe đi chợ thấy nhiều món thèm ăn mua về nhưng lại bỏ quên trong tủ lạnh đến thiu, đến thối, cuối cùng phải quăng đi. Làm việc đến độ dần dân mất cả bạn bè và những người thân quen, những kẻ vốn có số trời cho được nhàn nhưng không nhã, không đúng  với chữ nhàn nhã!

Gần trưa đi ngang qua một đồn điền trồng dừa đã bỏ phế, đôi chân chàng như bị lôi cuốn, thu hút bước vào. Chàng chợt tìm thấy lại những cảm giác ngày nào đi rong chơi nơi vườn dừa Cửu Lợi, nơi Cấm An Sơn ở Tam Quan, nơi vườn dừa sông Lô bên dòng sông Lại, Bồng Sơn.

Đi sâu mãi vào trong, theo con đường mòn như con đường xóm làng, chàng khám phá ra một một căn nhà có kiến trúc kiểu Địa Trung Hải. Một tiệm ăn. Quán nằm hiu quạnh giữa rừng dừa, chàng chưa hề nghe nhắc tới tên. Thuyên e ngại không muốn mạo hiểm bước vào.

Chàng đã phiêu lưu gần hết các quán, các tiệm ăn trên đảo, mỗi bữa đổi một tiệm. Hầu hết những quán ăn trên đảo này phần lớn là những quán cơm Tây, cơm Mỹ, phần còn lại bán cơm bản xứ với thức ăn đượm mùi dầu dừa kiểu hải đảo và những món thịt dê nướng, nấu cà ri… Những món hải vị dùng với loại nước chấm nổi tiếng vùng Caribbean là sauce creole mà dân địa phương gọi là ‘sốt chó’, ‘sauce chien’. Có một tiệm cơm Tầu chàng đã ăn thử nhưng không giống Tầu ở đâu cả. Có lẽ một chú Tầu ô nào đó gốc gác là giặc khách, giặc cờ đen, hải tặc lưu lạc tới đây rồi hoàn lương ra mở tiệm nấu ăn và truyền lại cho con cháu.

Mới cách đây vài ba ngày chàng cũng đã ghé qua một tiệm ăn Việt ở khu Grand Case trên đảo Saint Martin. Tiệm ăn có một món rất hấp dẫn. Đó là cái thư viện sách Việt Nam bỏ túi!

Càng tiến lại gần, chàng càng cảm thấy cái quán có một cái gì êm ái, thân quen. Căn nhà gạch mường tượng như những căn nhà gạch nửa Tây nửa Việt thấy ở một nơi nào đó ở Đà Nẵng, Nha Trang, Vũng Tầu…. Vách gạch, tường vôi trắng, mái lợp ngói mầu cam, hàng hiên có lan can vẽ trang trí hoa bướm, giàn hoa giấy rực nắng buông xõa từ trên mái cao xuống gần tới mặt đất. Dọc lối vào mấy cụm mẫu đơn, hoa vạn thọ, hoa nhài, bông bụp nhung đỏ mở bung ra đón nắng hải đảo. Bên hông tiệm, cây phượng vĩ flamboyán hoa rực lửa. Xa hơn, cây me, mấy cây xoài, phía sau nữa là vườn chuối, bụi mía, mấy cây đu đủ paw pay, khóm lan leo vanilla, đó đây bụi cà phê…

Tấm bảng gỗ khắc tên tiệm đã mục rã vì năm tháng, mưa gió khiến mấy chữ Restaurant Violetta lem nhem không rõ nét.

Bỗng dưng không chủ tâm mà chàng bước vào quán. Đặt chân vào quán, chàng thấy cũng không đến nỗi tệ. Bên trong trang trí đơn sơ mộc mạc nhưng khoáng đãng. Chàng chọn một cái bàn ngồi bên cửa sổ nhìn ra biển. Bàn ghế bằng mây đen, cái quạt trần cánh gỗ gợi nhớ thời Pháp thuộc ngày nào.

Người đàn bà da đen bản xứ, có lẽ là chủ quán, đang ngồi ngủ gật trong chiếc ghế mây rộng vành bên quầy trả tiền, choàng thức dậy. Bà chầm chậm đứng dậy gần như không muốn đi ra tiếp chàng. Sự nhàn hạ gần như lười biếng kiểu dân hải đảo, mặc dầu đang đi nghỉ hè, chàng cũng thấy phí thì giờ, có lẽ nhịp sống siêu tốc độ ở Mỹ đã ngấm vào đầu óc da thịt chàng quá đậm rồi. Bà ta chào chàng bằng tiếng Pháp với giọng hải đảo ‘lô can’:

-Bon dia.

-Bonjours.

Có nhiều đảo ở vùng quần đảo Caribbean này đã từng là thuộc địa lần lượt của Pháp, Tây Ban Nha, Anh, Hòa Lan… dân đảo nói pha trộn rất ba dọi, nửa nạc nửa mỡ như Bon Dia, Bon Nochi, Pa Conay (Pas connaître). Bà ta ném tấm thực đơn xuống trước mặt chàng rồi bỏ đi.

Thuyên chậm rãi mở thực đơn ra, đưa mắt dò từng dòng. Thực đơn viết bằng tiếng Pháp và Tây Ban Nha, đều là những món chàng đã ăn qua nhiều mấy ngày nay rồi. Chàng muốn tìm một món lạ. Lạ nhưng không quá bản xứ. Một lần gọi nhầm và không dám ăn thử món tatoo, cắc kè, kỳ nhông chiên ròn. Chàng dừng mắt lại ở đám sò ốc, muốn lựa một món nhưng phân vân không biết nên ăn thử cháo ốc, salad ốc hay ốc chiên lăn bột. Một điều chàng biết chắc chắn là ốc ở đây khó có thể ngon bằng ốc ở quán Con Ốc Tù Và Nứt Cracked Conche được.

Thuyên bỗng nổi da gà. Chàng nhìn kỹ lại. Ở một góc thực đơn có chữ Pho. Chữ Pho không có dấu. Phở chăng? Làm gì có phở trôi dạt đến cái hải đảo nhỏ bé tí ti giữa vùng biển Tây Ấn này, mà lại ở trong một cái quán nửa Tây, nửa bản xứ như vầy. Chàng dò hết thực đơn rồi lại lật lại trang có chữ Pho mở ra để trước mắt dưới bàn ngồi nhìn chầm chập vào chữ Pho như thể muốn đoan chắc đó là sự thật.

Một lúc sau người đàn bà da đen lại từ từ lê chân ra tiến tới phía chàng trông có vẻ còn buồn ngủ, không có bút cũng không cầm giấy để viết món ăn khách gọi.

-Ông dùng gì?

Thuyên nhìn xuống thực đơn, xem thử chữ Pho còn đó hay không? Hay đây chỉ là ảo ảnh trên hải đảo. Chữ Pho vẫn còn nguyên trong thực đơn.

-Món này bà đọc như thế nào?

-Fo.

-Món đó là món ăn bản xứ?

Người đàn bà chủ quán trả lời rất tỉnh:

-Ai mà biết được. Hình như thế!

Thuyên gặng hỏi:

-Tại sao lại hình như thế?

-Đó là món gia truyền, có từ thời quán này mới mở.

Người đàn bà bước tới, bước lui tỏ vẻ bực tức ra mặt làm Thuyên thấy nôn nóng, bất an nên gọi đại cho xong.

-Vậy bà cho tôi một tô.

Gọi xong chàng thở dài. Chàng cũng không hiểu sao mình lại thở dài.

-Hơi lâu một chút ông chờ được không?

-Lâu là bao lâu?

-Hơn một tiếng đồng hồ. Ông có thể xuống biển tắm xong rồi lên ăn cũng thừa thì giờ. Món này phải nấu cho kỹ ăn mới ngon.

Thuyên có cảm tưởng người da đen muốn từ chối khéo, chàng đâm nghi ngờ, muốn rút lại sự mạo hiểm của mình.

-Có phải Pho nấu bằng bánh làm bằng bột gạo với thịt bò…

-Không. Nấu với thịt gà.

-Không có Pho bò à?

Người đàn bà cười chế riễu:

-Ai mà nấu Fo với thịt bò!

-?

Thuyên thầm nghĩ thịt bò ở đây, ngoài hải đảo đắt quá nên dân địa phương ít ăn tới.

-Nếu ông muốn nhanh hơn, ông có thể dùng Fo thịt dê.

-Sao vậy?

-Thịt dê đã có sẵn, còn thịt gà phải đi bắt gà mới làm được.

Thuyên vội vàng xác định:

-Chờ lâu cũng được, tôi cũng chẳng có chuyện gì gấp phải làm, đang nghỉ hè mà. Pho gà. Xin bà cho Pho gà.

-Ông cần gì nữa không?

-Một Pho gà, một tapis vert.

Người đàn bà bỏ đi. Thuyên lắc đầu, nhìn ra biển cười vu vơ với sóng nước. Chàng nghĩ bụng chắc có nhiều bất ngờ. Thuyên đưa mắt nhìn khắp trong tiệm, không có một thực khách nào ngoài chàng giờ này. Đồ đạc, cách trang trí trong tiệm giống hệt một quán ăn Tây bậc trung ở quê nhà.

Người đàn bà mang ly rượu tapis vert ra để xuống trước mặt chàng rồi vội quay đi, Thuyên vội vã nói giữ chân bà lại :

-Xin lỗi bà, hơi đường đột một tí…

-Có chuyện gì nữa ông?

-Bà bảo món Pho đó là gia truyền như thế có nghĩa là nó có từ đời…

-Từ đời ông cố, ông nội tôi.

Nói xong người đàn bà vội vàng bỏ đi xuống bếp. Có thêm ly rượu nên quán bớt hiu quạnh, trống vắng. Tò mò kích thích khẩu vị rượu, rồi rượu lại kích thích tò mò. Chẳng mấy chốc chàng uống cạn ly rượu.

Ngoài kia có một chút biển ngọc bích trong veo Vũng Rô, Đại Lãnh, có cát biển trắng muốt Cam Ranh, có cầu đá Nha Trang, có hàng thùy dương bãi biển Thanh Bình, Đà Nẵng, có ghềnh đá Ghềnh Ráng, Qui Nhơn, có hàng cây bàng Bãi Trước, Bãi Sau, Vũng Tầu, có hàng dứa dại bãi Côn Sơn…

Những căn nhà hải đảo thấp lè tè, những lâu đài bằng đá tí hon nấp sau những sườn đồi, hay tụt xuống khe núi để tránh dông bão biển nhiệt đới. Những cánh cửa sổ, những mái vẽ hình trang trí đặc thù nét Caribbean. Vách tường trát kiểu pastel. Những hàng hiên trang hoàng bằng gỗ chạm, gỗ khắc. Những veranda phủ kín hoa rực rỡ. Tất cả trông như những ngôi nhà trong truyện thần tiên, trông ở xa giống như những ngôi nhà của smurf.

Ngang lưng đồi cỏ xanh mướt mới mọc sau những cơn mưa, nổi bật lên hàng ngàn những tảng đá lom khom. Nhìn kỹ một lúc những tảng đá từ từ xê dịch. Hàng ngàn, hàng vạn những con dê, con cừu. Dê ở đây đông hơn người. Một số đang chăm chỉ làm vườn ‘xén cỏ’ trên lưng đồi. Một số nằm nghỉ phơi nắng ‘nhai trầu’. Một bầy khỉ đùa giỡn trên cành cây. Một vài con có lẽ ham trác tác chơi đêm, thức khuya dậy trễ đang cầm gáo dừa nhẩy xuống đất vắt sữa dê để uống điểm tâm muộn. Những con dê căng vú sữa đứng yên, thoải mái để cho những chú khỉ vắt sữa. Một con chim rất lạ mà một lần chàng đã hỏi dân bản xứ là chim chi chi rứa? Họ trả lời là chim Chi Chi. Con chim Chi Chi đang rỉa lông trên cành phượng vĩ, hưởng cái nhàn hạ, thanh bình của buổi trưa thiên đường hải đảo.

Mùi nước lèo từ bếp xông lên. Thuyên hít mạnh đánh hơi. Mùi rượu quyện theo mùi bạc hà làm cho khứu giác chàng tinh thông, bén nhậy hơn. Có mùi gừng. Đúng là mùi phở gà rồi!

Khi ly rượu cạn hết, người đàn bà da đen bưng tô thức ăn ra để xuống trước mặt chàng. Thuyên mở lớn mắt nhìn.

Mấy miếng thịt gà bầy trên mặt, bên dưới có một búi sâu làm bằng bột mầu cháo lòng, nâu đen. Những sợi bột to nhỏ, có chỗ thon nhỏ, thắt eo, có chỗ phình lớn ra trông như một búi giun đất. Nước ‘lèo’ đục ngầu, váng mỡ, đặc sền sệt như nước xào. Không thể là Phở. Chỉ có thể là Pho hay Fo mà thôi. Có thể là món Phở trôi dạt tới đây, sau bao nhiêu dông tố, bão biển đã bay mất cái dấu ơ và dấu hỏi. Thoang thoảng có mùi thịt gà, mùi gừng, mùi hành cũng có vẻ có tí mùi phở gà. Người đàn bà da đen để chai maggi xuống bàn, thấy Thuyên cứ ngồi đực ra nhìn tô thức ăn, biết chàng tỏ ý chê bai.

-Ăn đi chứ! Còn chờ đợi gì nữa?

Người chủ quán vừa ra lệnh cho chàng.

-Ơ hay, ăn hay không mặc tôi, miễn là tôi vẫn trả tiền đầy đủ cho bà thì thôi.

-Dĩ nhiên là ông phải trả tiền rồi, nhưng ông phải ăn. Tôi làm cho khách ăn hơn là lấy tiền.

-Tôi hơi ngạc nhiên vì nó thấy hơi khác…

-Làm gì có ai khác ở đảo này nấu được món Fo này mà ông bảo là khác.

-Tôi muốn nói khác với ở nhưng nơi khác.

Mắt người đàn bà long sòng sọc như mắt mụ chằng tinh khiến chàng phải tìm cách xoa dịu.

-Xin bà một miếng chanh và một quả ớt.

-Ai đời lại ăn Fo với chanh bao giờ!

-Tôi thích thế.

Người đàn bà vùng vằng bỏ đi. Khi trở ra ném cái đĩa có miếng chanh và mấy quả ớt chỉ thiên xuống trước mặt chàng rồi đứng chống nạnh ngay bên cạnh chàng. Mụ đứng như một bà mẹ đứng xét nét, canh chừng xem thằng con có chịu ăn không hay là sẽ bị ‘đét đít’. Chàng muốn đuổi mụ đi chỗ khác, chứ mụ đứng kè kè bên cạnh thì là sao chàng có thể nuốt nổi. Khuôn mặt chằng lửa đây vẻ dọa nạt, đàn áp như muốn bảo ‘có ăn không nào’.

-Bà có tương ớt không?

-Không có. Sao ông đòi hỏi nhiều thế?

Chàng không dám ngẩng lên, cúi nhìn bát Pho, thở dài. Thuyên rốc muối tiêu ra cái đĩa rồi vắt chanh vào. Nghĩ bụng ăn thịt gà chấm muối tiêu chanh chắc chắn nuốt được. Quả thật thịt gà hải đảo thả rong ăn rất thơm, thịt dai giống như thịt gà rừng, thứ gà rừng chàng đã đi săn bắn được trong những khu rừng bãi tập quân sự ở trung tâm Huấn Khu Dục Mỹ, Khánh Dương ngày trước. Chàng thò đũa nhúng ‘nước lèo’ đưa lên mút thấy cũng thơm ngọt đượm mùi gừng tuy có vị xào nhiều hơn. Chàng gật gù khiến người đàn bà mát ruột, hai tay đang chống nạnh, từ từ bỏ xuống. Thuyên gắp một con giun bột đưa lên miệng cắn. Con giun bột dẻo như bột lọc.

-Bánh này làm bằng bột gì vậy?

-Bột manioc.

Thuyên nhận ra vị nồng của bột khoai mì của thứ bánh dây ở Bình Định. Có một điều lạ là lúc nẫy chàng mới có cảm giác ở bãi biển Cửu Lợi, Tam Quan, Bình Định, bây giờ lại được nếm bánh dây làm bằng bột củ mì, củ sắn, món ăn nhà nghèo của dân quê Bình Định.

-Ngon lắm!

-Cám ơn ông. Ông phải ăn mới biết ngon chứ!

Chàng bắt đầu xúc từng muỗng ăn. Người đàn bà vui vẻ bỏ đi. Thuyên nghĩ bụng phải ăn hết, bỏ dở chắc khốn khổ với mụ này. Hèn gì quán của mụ chỉ có một mình chàng là thực khách.

Một lúc sau người đàn bà  đem ra cho chàng một ly nước đá lạnh.

-Hôm nay ông gọi Fo, tôi nhận lời vì tôi nẩy ra ý kiến là nấu cho cả nhà ăn chiều nay đấy.

-Xin lỗi bà, tôi hơi tò mò một chút, xin hỏi bà câu này.

-Ông cứ tự nhiên.

Người đàn bà đáp ứng cởi mở.

-Trong dòng tộc nhà bà có ai là người Việt Nam không?

-Tôi đây chứ còn ai nữa!

Thuyên ngậm ngay miệng lại. Đám giun bột củ mì lòng thòng ở miệng, ngo ngoe. Chàng cắn vội cho đám giun đứt rời ra rơi lõm bõm xuống bát, rồi nhai trệu trạo, nuốt nhanh miếng thức ăn trong miệng.

-Bà là người Việt Nam à?

-Ông không tin sao?

Thuyên ngần ngừ một lúc.

-Tin chứ. Hồi trước ở Việt Nam bà ở đâu?

-Tôi chưa về Việt Nam, tôi ao ước mãi nhưng chưa được về thăm.

Nhìn làn da đen bánh mật, Thuyên chất vấn thêm:

-Bà nói tiếng Việt được chứ?

-Không. Thật ra tôi chỉ có dòng máu Việt Nam trong người.

-Cha hay mẹ bà là người Việt?

-Ông cố, ông nội tôi là người Việt.

-Mời bà ngồi nói chuyện.

Thuyên chỉ chiếc ghế trước mặt, nhưng người đàn bà kéo chiếc ghế ở bàn bên cạnh ngồi xuống. Thuyên nhớ lại cử chỉ của người đàn bà lúc nẫy, nghĩ bụng dữ như bà chằng thế này thì chắc có dòng máu Việt đứt đuôi con nòng nọc rồi.

-Ông nội tôi là người hoàng tộc. Hồi đó cụ chống lại người Pháp, rồi bị đưa đi đầy ở một hòn đảo ở Ấn Độ Dương…

-À ra thế.

-Cụ ở tù một thời gian dài cho tới khi chính thể ở Pháp thay đổi, cụ được giảm án và được viên toàn quyền ở đảo đó đem ra cho làm bồi bếp. Sau đó ông ta qua đây và đem theo ông cụ…

Ông cứ tiếp tục ăn đi chứ.

Sợ người đàn bà không kể tiếp, chàng làm bộ ngoan ngoãn ăn tiếp.

-Ông nội tôi sau đó lấy một phụ nữ gốc ở đây sinh ra cha tôi. Cha tôi học được nghề nấu ăn Tây của cụ nên mở tiệm ăn này. Món Fo này truyền từ thời ông nội tôi cho tới đời tôi bây giờ…

Hồi nẫy thấy ông có vẻ chê không ăn, tôi hơi bực mình. Ít khi chúng tôi nhận nấu món đó cho khách ăn, hôm nay không hiểu sao tôi lại muốn nấu cho cả nhà ăn…

Thuyên nhìn kỹ người đàn bà da đen, tóc`xoăn tít. Một công tằng tôn nữ. Đúng hơn, với làn da đen của bà, một công huyền tôn nữ. Một công huyền tôn nữ có mang dòng máu Cần Vương, ái quốc trong người.

-Chồng tôi cũng là người Việt.

-Vậy à, ông có nhà không bà?

-Ông tôi cùng con gái tôi đưa đám du khách ra hang dơi từ sáng, chập nữa mới về.

Người đàn bà đi vào trong, lợi dụng lúc này chàng nuốt vội phần còn lại của tô Pho. Cố nuốt nhanh khỏi miệng để khỏi ớn. Một lúc sau người đàn bà đi ra mang theo cuốn album gia đình đưa cho chàng xem.

-Đây là cha tôi.

Nhìn tấm ảnh đã phai mầu, mặt láng tấm ảnh đã tróc từng mảng như lớp vữa trên tường đã bong ra. Trên nền hình bầu dục, người đàn ông đen như dân hải đảo, tóc cũng hơi quăn, chỉ có con mắt còn phảng phất nét Á châu.

-Còn đây là chồng tôi.

Chàng muốn ré lên cười và hét lên ‘lão này mà là người Việt Nam sao?’ nhưng chàng cố giữ lại được. Chàng vội vàng nói để chuyển ý:

-Cô này là con gái bà phải không?

-Phải.

Bức ảnh chụp trong ngày hội. Người con gái ăn mặc hóa trang thành một Diablesse Martiniquaise. Nàng đeo mặt nạ.

Thấy chàng ăn hết thức ăn, người đàn bà tỏ ra hài lòng:

-Fo ăn được phải không? Tại sao lúc đầu ông lại chê?

-Tại tôi nhìn thấy hơi khác.

-Ông ăn ở đâu?

-Ở Việt Nam, ở Mỹ, ở Pháp…

-Ông là người Nhật phải không?

Thuyên phân vân không biết có nên nhận mình là người Việt hay không. Chàng chỉ sợ người đàn bà da đen mất cái hạnh phúc, mất cái hào quang về món Pho của mình. Một lúc sau chàng nói nhỏ nhẹ:

-Tôi cũng là người Việt Nam.

Người đàn bà trợn tròn đôi mắt đứng thẳng người lại, ngả đầu qua bên để ngắm chàng cho rõ hơn.

-Ông mà là người Việt Nam à?

-Bà không tin sao?

-Người Việt sao trông ông vàng khè!

-Phải. Người Việt cũng có người da vàng.

Người đàn bà thu dọn.

-Ông dùng cá phê không? Có cà phê rum ngon lắm.

-Không. Cám ơn bà.

-Ông dùng tráng miệng?

-Cho tôi một tostones.

Người đàn bà đem món chuối chiên tráng miệng ra rồi mang chén bát đi. Món chuối chiên tostones gợi nhớ lại hương vị miệt vườn Miền Nam.

Ngoài biển lô nhô một vài chiếc du thuyền đi chơi ngoài khơi đang trở về. Thuyên cố nhớ lại những bài sử học về vua Thành Thái, về Kỳ Đồng, về Cần Vương… Có nhiều người bị đưa đi đầy xa tới tận những đảo thuộc địa Pháp tại quần đảo Antilles này. Phải chăng đây là cháu chắt chút chít của vua Thành Thái, của nhà ái quốc Kỳ Đồng?

Đợi người đàn bà trở ra, Thuyên tiến lại quầy trả tiền.

-Nếu tối nay rảnh tôi sẽ ghé lại.

-Tối ghé lại chắc chắn ông gặp chồng và con gái tôi.

Tối hôm đó, chàng bận đi dự carnival trong khách sạn. Tối hôm sau, Thuyên mới trở lại tiệm ăn của người đàn bà có dòng máu Việt.

Không như buổi trưa, có lẽ trưa hôm trước chàng đến quán vào giờ ngủ trưa siesta của dân đảo, buổi tối quán rất đông khách. Không thấy người đàn bà. Một người con gái ra tiếp. Chàng chỉ vào cái bàn hôm trước chàng đã ngồi nhìn ra biển để tìm lại cái quen thuộc.

Thuyên ngắm người con gái. Chắc hẳn cô là con gái của người đàn bà chủ quán. Nước da không còn là bánh mật nữa mà là mầu bánh gai, có lẽ nàng đã thừa hưởng thêm cái ngăm đen của ông bố, tóc xoăn, mắt không còn xếch nét Mông Cổ. Cái eo thon lắc lư vũ điệu Conga, bộ ngực ‘Jump-Up’ rất nẩy, rất vồng, cái mông Samba, cặp dò staccato nở nang thuôn dài, rậm rật như muốn nhẩy dậm chân zapateos.

-Ông dùng gì?

-Một tô Pho.

Người con gái trả lời ngay không một chút suy nghĩ.

-Dạ món đó hôm nay hết rồi.

-Hôm nay có món gì đặc biệt?

-Món cá mú mới bắt được trong ngày.

Nhìn thực đơn tìm món khai vị. Tên một món salad khêu gợi. Không biết có phải vì có sự hiện diện của người con gái  tối nay hay không mà món salad này giờ mới đập vào mắt chàng. Hôm trước chàng đã dò kỹ memu, chàng đã dò từng món một, đã đọc qua nhưng dửng dưng. Chàng đã từng ăn cái món ‘salade fatiguée’, thứ salad mà rau đã được dần cho nhừ tử cùng với củ cải đường nấu cũng nhừ nát trộn với dầu dấm có blue cheese. Món salad này ngược lại có cái tên kích thích, kích động và có vẻ ‘khiêu dâm’ hơn. Thuyên nhìn thẳng vào mắt người con gái như cố ý chọc ghẹo nàng:

-Cho một salade Aphrodite. Cô bảo đảm hữu hiệu không có chủ?

Người con gái rất thản nhiên.

-Ông dùng thử rồi sẽ biết. Cái đó còn tùy từng người. Ông uống gì?

-West Indies Spices có gì trong đó vậy?

-Đó là thứ rum gia truyền của gia đình chúng tôi làm lấy.

-Cho một ly đó và món cá mú nướng. Cô nói cái đó còn tùy từng người là sao?

-Ăn xong ông sẽ tìm thấy câu trả lời.

-Nhìn mặt tôi, cô nghĩ thế nào?

Người con gái cười lẳng lơ quay người bỏ đi, chân đi ‘bước đôi’ paso doble.

Một lúc sau người đàn bà chủ quán bưng ly rượu ra, nhìn thấy chàng, ba mừng rỡ làm ly rượu sóng ra ngoài:

-Kìa ông, tối hôm qua, tụi tôi chờ ông mãi.

-Xin lỗi bà, tối hôm qua tôi bận.

-Cứ tưởng ông đã rời đảo rồi.

Người đàn bà quay vào trong gọi lớn tên một người. Một người đàn ông bước ra. Hắn khựng lại khi nhìn thấy chàng. Chắc người đàn bà đã nói nhiều về chàng.

-Thưa ông, chồng tôi đây. Ông ta cũng là người Việt đấy.

-Chào ông.

-Chào ông.

Người đàn ông bối rối, ngượng ngập. Chàng nhìn người đàn ông thẩm định. Nhất định hắn nhiều lắm chỉ có thể mang dòng máu Việt trong người mà thôi. Trông hắn y hệt một người gốc Ấn-Độ.

-Anh có tin được là ông khách đây là người Việt Nam không?

Thuyên đỡ lời:

-Tôi đã bảo bà là người Việt có nhiều mầu da mà bà không tin tôi.

Người đàn ông như tìm được lối thoát, mừng rỡ phụ họa ngay:

-Đúng vậy.

Em vào lo món ăn cho ông đây đi.

-Để tôi lấy ly rượu khác cho ông, hồi nẫy tôi làm sóng ra ngoài khá nhiều.

Người đàn bà quay gót vào trong. Người đàn ông lấm lét nhìn theo rồi cúi xuống nói nhỏ bên tai chàng:

-Nếu vợ tôi có hỏi, xin ông cứ nói tôi là người Việt Nam, chốc nữa tôi xin nói rõ để ông biết sau. Trăm sự nhờ ông.

Thuyên lật tẩy:

-Cái bản mặt ông mà là người Việt Nam à?

-Thật sự tôi là người Ấn-Độ lai Pháp.

-Thế tại sao ông lại nhận là người Việt Nam?

Người đàn bà mang ly West Indies Spices và đĩa salad ra, theo sau có cả người con gái.

-Giới thiệu luôn với ông đây là con gái tôi, Vietta.

Người con gái cúi đầu chào chàng.

-Ông mà là người Việt Nam à?

-Phải.

-Ông thấy chưa ? con gái tôi nó cũng không tin nữa.

-Lâu dần rồi cô sẽ tin.

Như có điều gì không được tự nhiên, người con gái vội bỏ đi ra cửa tiếp một người khách mới bước vào quán.

-Con gái duy nhất của tôi đó. Tôi bảo nó phải tìm người Việt Nam mà lập gia đình. Nhiều lần bảo nhà tôi đưa về Việt Nam tìm dòng tộc, họ hàng và kiếm chồng cho nó nhưng nhà tôi chưa chịu cho về…

Người đàn ông chống chế:

-Công việc làm ăn bề bộn, đâu phải dễ… Thôi em để ông dùng rượu.

Người đàn ông kéo người đàn bà đi.

Món salade Aphrodite làm bằng thịt tôm hùm cùng với những miếng đào tươi cắt nhỏ con cờ trộn với mayonaise pha với một thứ gì đặc biệt. Một thứ hương liệu có tính kích dục Aphrodisiac chăng?

Người đàn bà đem món cá mú bọc rau thơm nướng lửa kiểu hải đảo để xuống bàn. Cá nướng ăn với nước chấm ‘sauce chien’.

-Chắc bà biết tại sao dân ở đây gọi món nước chấm này là ‘sốt chó’ chứ?

-Tôi không biết rõ.

Người đà bà trước khi quay đi ghé xuống bên tai chàng nói chỉ đủ cho chàng nghe:

-Con bé từ lúc biết ông là người Việt Nam, bảo nó đem thức ăn ra cho ông, nó không chịu. Nếu quả thật ông là người Việt Nam mà chưa có gia đình, nếu ông chịu, tôi gả con nhỏ cho ông đó. Tôi chỉ mong cháu lấy được người chồng Việt. Cũng như tôi đợi mãi cho tới khi đã ngoài ba mươi tuổi mới tìm được ông ấy là người Việt Nam.

-Bà có tin tôi là người Việt Nam không?

-Nếu ông chứng minh được tôi sẽ tin. Miễn là người Việt Nam là được, da vàng hay da đỏ cũng chẳng sao.

Người con gái gọi giật mẹ lại dường như sợ bà ta nói chuyện lâu với chàng.

-Mời ông dùng. Chốc nữa rảnh tay, tôi sẽ trở lại.

Món nước sốt chó có nhiều gia vị, ớt, chanh, hẹ, muối. Không có vị giềng, không có mùi rựa mận.

Đúng như lời người đàn bà nói, người con gái từ khi nghe nói chàng là người Việt Nam, nàng không trở lại bàn chàng nữa. Nàng có ý né tránh. Thỉnh thoảng ngẩng lên, chàng bắt gặp nàng đang nhìn lén mình. E ấp. Người chồng cũng không thấy mặt nữa. Dường như hắn cũng có ý lánh mặt.

Khi đứng dậy đi về, ra tới quầy trả tiền, người đàn bà đon đả:

-Khi nào rảnh, còn ở lại đây, mời ông ghé chơi. Ông đến buổi trưa vắng khách nói chuyện được nhiều. Thứ ba, thứ năm có cháu gái ở nhà.

Nói xong, người đàn bà lẩn đi chỗ khác, cố ý để cho con gái tiếp chàng.

-Món salade đó có vẻ có tác dụng ngay rồi đấy cô. Tôi bắt đầu cảm thấy dường như là đã chớm yêu rồi.

Người con gái lườm yêu chàng không nói.

Trả xong tiền chàng từ giã, trước khi quay gót bước ra cửa, chàng nhỏ nhẹ hỏi người con gái:

-Cô có tin tôi là người Việt Nam không?

Người con gái bẽn lẽn, ở nơi nàng không còn cái hoạt bát, cái chiêu khách lúc đầu khi mới gặp chàng.

-Trông ông giống như một du khách Nhật Bản.

-Có nghĩa là cô không tin?

-Ai nói chuyện với mẹ tôi xong cũng đều nhận mình là người Việt Nam hết!

-Tôi nói thật với tất cả trái tim tôi đấy. Không phải tại vì mẹ cô, cũng không phải là món salade Aphrodite nói đâu!

Người con gái ngước lên nhìn chàng. Trong một thoáng, chàng chợt nhận ra người con gái có đôi mắt u huyền. Đôi mắt tôn nữ. Đôi mắt tôn nữ yêu ma voodoo.

Thuyên rời tiệm ăn. Ánh trăng hải đảo như lụa mới rũ long lanh mướt nước tơ. Tiếng ếch nhái, côn trùng. Chàng nghe rất rõ văng vẳng bên tai tiếng người đàn bà và tiếng người con gái ‘ông mà là người Việt Nam à?’ Chàng biết người đàn bà đã tin chồng mấy chục năm rồi và sẽ tin chồng hơn tin mình, một thằng mũi tẹt da vàng.

Ánh trăng chiếu rõ xuống cái bảng hiệu gỗ mục. Bây giờ đọc lại tên hiệu, không hiểu sao hôm trước dưới thanh thiên bạch nhật, chàng đã đọc tên quán ăn thành Violetta. Bây giờ dưới ánh trăng, hiện rõ ra chữ Vietta.

Vietta. Việt ta. Vietta, nàng con gái Việt nhỏ bé. Vietta, người con gái Việt ta bé bỏng.

Thuyên chút nữa vấp phải cái chân trụ gạch. Phần trên trụ đã gẫy cụt mất. Có lẽ là cái chân còn lại của một cái bàn thiên.

Vietta. Vietta. Vietta. Chàng đọc thầm trong miệng. Cái tên như có thơ, có nhạc.

May 7, 2010

HÌNH ẢNH TRẠI TỊ NẠN PENDLETON NAM CALI, 1975

Filed under: Trại TN Pendleton — Quang Nguyen @ 4:29 am

ĐI XEM TRIỂN LÃM IMAGES AT WAR’S END Ở TRẠI TỊ NẠN PENDLETON, CALIFORNIA.

Nguyễn Xuân Quang

Nhân ngày 30-4 chúng tôi xuống Trại Thủy Quân Lục Chiến Pendleton ở Oceanside  Nam California, nơi cbúng tôi đặt chân tới Hoa Kỳ đầu tiên, xem triển lãm Những Hình Ảnh Lúc Tan Cuộc Chiến (Images at War’s End). Đây là những hình ảnh về người tị nạn và thủy quân lục chiến Hoa Kỳ trích từ các hình ảnh của Nhân Viên Thủy Quân Lục Chiến chụp và từ bộ sưu tập tranh vẽ của Đại tá Charles Waterhouse trong văn khố Trại Pendleton. Tranh ảnh được trưng bầy tại Ranch House trong trại Pendleton,  từ mồng 8 tháng 4 cho tới 30 tháng 9, 2010, muốn có thông tin xin liên lạc camppendletonhistoricalsociety.org.

Trang Trại Ranch House trong Trại Pendleton (ảnh của tác giả).

Trang trại nằm trong địa danh lịch sử Trang Trại Santa Margarita.

Ngày 28 tháng 4 năm 1975, Đại tướng Paul Graham chỉ huy trưởng Trại Pendleton nhận được cú điện thoại chính thức được lệnh Trại Thủy Quàn Lục Chiến Pendleton được chọn là một trong bốn nơi tiếp nhận và tạm cư cho những người tị nạn Việt Nam. Trong vòng dưới 24 giờ nữa phải chuẩn bị sẵn sàng tiếp đón vì người tị nạn đã lên đường đi tới.  Nhân viên căn cứ Marine Corp, Liên Đoàn I Thủy Quân Lục Chiến  và Force Service  Regiment I làm việc suốt ngày đêm không ngừng để dựng lên tám thành phố-lều trại, cung cấp điện nước, thực phẩm, quần áo, thuốc men, cơ sở vệ sinh cho 18.000 người đợt đầu tiên. Đến tháng 10, số người lên tới gấp đôi là 36.000 người (về sau số người lên trên 50.000 đã vào Mỹ qua trại này).

Tôi xin phép được chụp lại vài hình ảnh.

Sau đây là một vài bức ảnh đen trắng của nhân viên Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ chụp:

Dựng lều ngày đêm (Lời phụ chú của tác giả).


Một thành phố lều tị nạn mọc lên dưới 24 giờ (Lời phụ chú của tác giả).

Đón  rước tại phi trường El Toro.

Nắng Cali đẹp quá! (Lời phụ chú của tác giả, đây chắc phải là những người trong nhóm tị nạn được bốc ra khỏi Việt Nam đầu tiên).

Những người lính tự do tí hon! (Lời phụ chú của tác giả, chiếc áo field jacket này là hình ảnh đặc thù của người tị nạn khi đặt chân tới trại Pendleton, về đêm California có khi rất lạnh, không có sẵn đồ mặc lạnh dân sự, ban quản trị trại mở cả kho quân trang phát ngay cho mỗi người tị nạn, lớn bé già trẻ, mỗi người một chiếc áo field jacket).

Mừng Phật Đản đầu tiên trên đất Hoa Kỳ ngay trong trại tị nạn Pendleton.


Ngày 28 tháng 5, Mục sư tị nạn Trương Văn Tốt rửa tội cho một trong 28 người tị nạn trong hồ nước huấn luyện tại khu trại San Mateo, đây là lễ rửa tội Tin Lành đầu tiên tại hải ngoại ở trại Pendleton (ảnh của CW03 J.E. Stant Jr., 6289z2).

Niềm hạnh phúc được chui ra  khỏi cái hộp ngục tù (Lời phụ chú của tác giả).

(ảnh của Lance Corporal J. Lavigne, USMC, em bé đang chơi với bà ở trại Pendlton).

Hãy bỏ lại chiến tranh sau lưng (lời phụ chú của tác giả).

(ảnh của Christine Cotter).

Học Anh ngữ dã chiến ngay lập tức để hướng về tương lai (Lời phụ chú của tác giả)

(ảnh của Christine Cotter).

…….

Tháng 5 năm 1975, thiếu tá Charles Waterhouse tới Trại Tị Nạn Việt Nam và Campuchia  ở Pendleton ông đã ghi lại hình ảnh người tị nạn qua các phác họa bằng bút chì rồi sau đó vẽ thành tranh.

Thiếu tá, họa sĩ Charles Waterhouse và một em bé tị nạn.

Sau đây là các tác phẩm của ông đang trưng bầy:

. . . . . .

Hình ảnh và tranh làm gợi nhớ lại một thời kinh hoàng, đau thương phải lìa bỏ quê hương, pha lẫn với niềm vui được thoát khỏi cảnh đọa đầy địa ngục đang ập tới. Cùng với lòng tri ơn nhân dân Hoa Kỳ (Tình) đã mở rộng vòng tay cứu giúp nhưng cùng lúc đó, với cái đau đớn mất quê hương, cũng gợn lên mối hận (Thù) những nhà lãnh đạo Hoa Kỳ đã bán đứng Việt Nam cho cộng sản. Tình yêu trộn lẫn với hận thù. Tình Thù.

Ta mang hồn biệt xứ,

Hồn cổ độ da vàng,

Hồn Đông phương huyền sử,

Hồn tị nạn mang mang.

……..

Ngàn năm hờn mất nước.

Tình Thù cháy huy hoàng.

(xem Tình Thù).

April 30, 2010

BỐ MỸ (Truyện Ngắn)

Filed under: Bố Mỹ — Quang Nguyen @ 5:32 am

BỐ MỸ

(Truyện ngắn trích trong Tình Thù).

Nguyễn  Xuân Quang

Họa sĩ, Nhà văn Võ Đình đã viết về  tuyển tập truyện ngắn Tình Thù:

Trong bối cảnh của những truyện tang thương tủi nhục, ông thường vẽ qua – nhưng với những nét rất sắc sảo, gần như tếu mà lại bàng hoàng một nỗi niềm ẩn kín – hình ảnh một cành hoa, một cây đào, một bụi dạ lý hương. Ở Nguyễn Xuân Quang, sự nuối tiếc nhớ thương không đậm nét và tôi cho đó là một thành công, cho bằng một sự trực diện với thực tại, một thực tại hàng ngày, tầm thường nhưng quái dị, ghê rợn, một thứ fantasme. Cách đây mấy năm tôi có viết một bài về Kuniyoshi, một họa sĩ Nhật-Mỹ bậc thầy. Ngày nay tôi tìm thấy lại, dầu chỉ một ít thôi, cái không gian ngỡ ngàng mà đột ngột, đắng cay mà bất thần đó…

(Đời Mới ngày 20-5-1982, trang 18).

*

Cuối cùng Nguyễn quyết định đi làm nghề giao báo vào buổi sáng sớm.

Nguyễn quyết định đi ném báo cho tờ Los Angeles Times buổi sáng sớm vì nhiều lý do. Điều thứ nhất ban ngày vợ đi làm, chàng phải ở nhà làm vú em giữ đứa con gái vừa mới sinh được vài tháng, ở nhà lo cơm nước, tối đến vợ ở nhà, chàng chui đầu vào đèn sách. Sáng sớm dậy đi giao báo nên rất thuận tiện. Ngoài ra cái nghề này nó cũng gần cận với cái thú viết lách của mình.

Sáng sáng tà tà đến đại lý báo giờ nào cũng được, không cần phải bấm giờ, miễn sao giao báo trước sáu giờ sáng là được. Bắt đầu từ nửa đêm về sáng, phân bộ ấn loát vùng đã cung cấp báo cho các đại lý, đến nơi Nguyễn chỉ việc lồng hai phần báo vào nhau, cho vào máy cột lại, quăng lên xe.  Phần ruột báo đã được in một tuần, nửa tháng trước còn phần vỏ in ngay chập tối hôm trước, gồm phần thời sự và các vấn đề cập nhật. Cột báo cũng cần phải có kinh nghiệm. Nếu chật quá chỉ sẽ cắt đứt báo, lỏng quá, khi ném, báo sẽ  tung ra bay như bươm bướm.

Khi tới đại lý, việc đầu tiên là xem tình hình thời tiết trong ngày, có những hôm nửa đêm trời quang mây tạnh, nhưng tới sáu, bẩy giờ sáng trời mới bắt đầu mưa. Trời mưa báo phải được lồng vào bao nylon cho khỏi ướt. Sau đó xem có những thân chủ nào mới đặt mua báo, có người nào thôi đặt báo nữa hoặc họ đi nghỉ hè không muốn mua báo trong những ngày vắng nhà…

Làm báo xong, lái xe tới vùng chỉ định, tà tà thẩy báo, cố gắng đừng giao báo quá trễ, có nhiều người già đêm ít ngủ, đứng chờ báo trong sương sớm hoặc những tay làm ăn hay đi chơi xa, ra khơi, lên rừng, lên núi, cần có báo sớm để đọc.

Ném báo là cả một nghệ thuật, tay phải cầm lái, tay trái quăng báo. Có nhiều nhà phải quăng báo qua nóc xe, phải quăng thế nào cho tờ báo rơi ngay trên lối đi hay trên sân nhà để xe tráng xi măng, nếu báo rơi trên cỏ đẫm sương đêm, báo sẽ ướt hoặc rơi xuống mương, nhà hàng xóm mở nước sớm tưới cỏ sẽ làm báo ướt sũng, người đọc sẽ gọi điện thoại đòi tờ khác. Báo ngày thứ năm và chủ nhật nặng cả kí lô. Báo thứ năm nặng vì có nhiều quảng cáo để cuối tuần bà con đi mua sắm. Sau một thời gian ném báo cánh tay trái khỏe và to không kém gì tay phải.

Điều khó khăn nhất là lúc khởi đầu vừa phải nhìn bản đồ tìm đường vừa phải tìm số nhà Mỹ trong đêm. Các số nhà in ở lề đường, nhiều khi xe đậu che khuất hoặc nhiều khi xe cập lề sát quá, lốp xe quẹt lem nhem không còn đọc được. Còn cái số nhà ở trên tường nhiều khi chỉ để làm cảnh không tài nào đọc được trong đêm, nhiều lúc phải dừng xe lại, bước xuống lấy đèn pin rọi tìm số nhà.

Khu bỏ báo thường là khu khá giả, giới có học vì phải có nhiều người đọc báo mới đủ số lượng để đại lý mướn một người đi bỏ báo.

Mặc dầu nhờ hiểu biết ít nhiều về lịch sử Mỹ, lịch sử của những kẻ di cư tới Hoa Kỳ, Nguyễn biết rằng tất cả những dân di cư tới đây đều phải khởi đầu bằng hai bàn tay trắng, khởi đầu từ mặt đất đi lên, nhưng những khi bỏ báo cho các nhà bác sĩ, nhìn hai chữ M. D. lòng cũng không khỏi xót xa. Nguyễn vẫn coi mình là một bác sĩ dù hiện tại đi ném báo vì bác sĩ y khoa là một tước vị quốc tế, trọn đời, bệnh tật là nhân bản, là con người, do đó người thầy thuốc không có biên giới dù là không gian hay thời gian.

Nguyễn cũng ngậm ngùi nhưng rất kiêu hãnh sáng sáng quăng tờ báo vào nhà người bảo trợ cũ giờ đã đổ vỡ vì cái bất đồng văn hóa. Dù sao thì gia đình họ cũng đã mở cửa đón nhận gia đình chàng. Có sớm mai, người bảo trợ đã trông thấy chàng quăng tờ báo lên hiên nhà. Trong sương mù chàng không đọc được gì trong đôi mắt sau khung cửa kính. Đôi mắt đóng khung trong sương mù sau ô kính.

Khu nhà khá giả, càng giầu, càng nuôi chó nhiều. Mỗi lần bước xuống xe đọc địa chỉ, chó sủa ran. Chó Mỹ sủa rất cộc cằn, thô lỗ, rất hỗn xược, có vẻ ta đây là chó cường quốc, có con kỳ thị ra mặt. Ngày xưa chàng thường nghe nói là người nào hay chào cờ Tây thường hay bị chó sủa dữ dằn, trường hợp Nguyễn, có lẽ là chó sủa áo rách. Khi còn ở quê nhà, mỗi lần về ấp thanh tra, những con chó ta chỉ dám lấp ló sau hàng rào khúm núm sủa. Phải thú thật là sau khi làm việc ở phòng chó dại ở viện Pasteur Saigon, Nguyễn là kẻ sợ chó nhất trần gian. Sợ bị chó cắn thì ít nhưng sợ nhất cái cảnh phải vén áo lên đưa cái bụng da non của mình ra nhận trên hai chục mũi thuốc ngừa  bệnh chó dại.

Bây giờ chàng lại sợ chủ nhà nghe chó sủa thức giấc trong đêm, trông mập mờ, thấy một tên thiểu số, sẽ cho mình là đạo tặc, xách súng ra cho chàng ăn kẹo đồng, nhà Mỹ nào mà chả có súng lớn, súng nhỏ, sống trong một nước chinh chiến chiếm hết một phần lớn đời người, đã từng vào sinh ra tử, bây giờ lại bị ăn đạn thì thật là lãng nhách, vì thế mỗi lần bước xuống xe xem số nhà, Nguyễn phải ôm theo một số lượng báo có dư  để sau khi bỏ xong chàng vẫn còn có  báo trên tay để nói cho những người giật mình thức giấc trong đêm biết là chàng đang đi hành nghề bỏ báo.

Chó Mỹ được nuôi nấng và tẩy nảo khác chó ta nhưng chó Mỹ cũng tưới cây giống chó ta.

Sau một thời gian ngắn, quen đường, nhớ nhà, công việc nhàn như kẻ lái xe đi dạo chơi lúc tinh sương. Nguyễn có thêm thì giờ học bài. Bài vở soạn thi lấy lại văn bằng Nguyễn đọc thâu vào băng, vừa ném báo vừa mở cassette học bài.

Những sáng sương mờ ẩn hiện, hư thực, những vườn cây cảnh tuyệt vời, chàng có cảm tưởng mình là một thi nhân lạc chốn thiên thai.

Giữa cảnh hoang lạnh của buổi sớm mai, một hình ảnh đập vào mắt chàng rất mạnh là một người già ngồi chồm hổm ở hiên nhà nhìn vu vơ sáng sáng. Người già ngồi theo kiểu hưởng thụ cái đệ tứ khoái rất ư là đồng ruộng Việt Nam. Chàng không nghĩ rằng cụ là một người già di tản vì khu gia cư này quá sang trừ phi cụ thuộc vào một trong bốn giai cấp trước đây là đĩ, cha, sư và tướng. Người già như có ý lẩn tránh, nhiều sáng Nguyễn cố ý cho xe sát vào lề, lấy hết sức ném tờ báo cả kí lô tới sát bên người già ngồi. Cụ vẫn bất động. Không hiểu sao dần dần chàng lại thấy gần cận với người già. Dường như có một cái gì của quê hương nơi người già, Nguyễn tự nhủ không biết chừng cụ là dân tị nạn được gia đình Mỹ này bảo trợ. Một sáng, chàng quyết định ngừng xe lại, bước xuống xe, giao báo tận tay người già. Nguyễn cố nói một câu tiếng Mỹ. Người già luống cuống rồi trả lời ngon lành “Ông cứ ném đó” bằng tiếng Việt.

-Ủa! Cụ là người Việt hả? Cháu cũng là Mít đây.

-Ủa! Cậu là người Việt hả? Tôi cũng là người Việt. Tôi cứ tưởng cậu là thằng Mễ.

-Cụ có căn nhà sang trọng quá.

-Nhà nào của tôi!

-Thế cụ ở đây với…

Nguyễn bỏ lửng câu nói, thăm dò.

-Với con gái tôi. Nhà này của thằng con rể Mỹ.

-Thì của con cái  hay của cụ cũng vậy.

-Ở Mỹ làm gì có chuyện cũng vậy!

Nguyễn lại tiếp tục hành nghề, sáng sáng ghé lại nói với người già năm ba câu. Một sớm người già đứng sẵn bên lề đường đón chàng, ra dấu cho chàng ngừng xe lại. Cụ ngỏ ý đi theo chàng ném báo trong vùng cho đỡ buồn.

Nguyễn từ chối nhưng người già năn nỉ, cuối cùng chàng cũng xuôi lòng vì cái lòng thầy thuốc thương người của mình.

Dần dà người già và Nguyễn trở thành hai người bạn thân thiết.

Có lần  đi gần khu nghĩa trang, cụ than thở đời sống ở đây còn thua cả thằng ăn mày ở quê nhà, chết chẳng có được một nấm đất như cái mả thằng ăn mày, nghĩa trang ở đây phẳng lì. Chàng cũng nhận ra cụ rất hận thù chó Mỹ. Mỗi lần quăng báo gây tiếng động, khiến chó sủa vang, cụ lại chửi chó mắng mèo:

-Mẹ kiếp, chủ nào tớ đó!

-Kệ nó cụ ạ, chó bên này có cái phong hóa khác chó ta.

-Cậu nghĩ coi, cái thân già này con thua cả con chó nữa.

-Sao cụ lại nghĩ vậy?

-Chúng nó coi con chó hơn bố nó!

-Ai vậy cụ ?

-Con tôi chứ ai.

-Làm gì có chuyện đó. Người và chó khác nhau, khác nhau là con người có văn hóa, mình có tới hơn bốn nghìn năm văn hiến, chó Mỹ giả dụ coi như là có văn hóa đi nữa thì cùng lắm cũng chỉ được hai trăm năm.

-Ấy thế mà tụi nó trọng chó hơn bố nó.

-Không có chuyện đó đâu cụ. Đồng ý cẩu quyền ở đây có khi còn cao hơn nhân quyền ở vài nơi như ở quê hương mình. Ở đây nhiều người sống cô đơn, không bố mẹ hay con cái, không bạn bè, đành chơi với chó, ăn nằm với chó… Nhưng không có chuyện con cái Việt Nam  lại coi con chó hơn bố mẹ…

-Chó nào thả ra mà chả ăn…

-Cái chuyện đó thì cháu không biết chó Mỹ có thèm khát hay không. Nhưng ở đây nếu mà cụ thí nghiệm, cụ sẽ bị hội bào vệ súc vật, hội bảo vệ cẩu quyền, thú quyền đưa cụ ra tòa ngay. Con chó bên này sống có người hầu kẻ hạ, chủ đi vắng có khách sạn, bệnh tật có bác sĩ, có nhà thương, chết có hòm, có xe tang, có vòng hoa, có tha ma, có người để tang…

-Nhiều lúc nghĩ tới những người ở lại quê nhà nhìn con chó mà rơi nước mắt.

-Đó là hai chuyện khác nhau, người ta quan niệm những kẻ khốn khổ, khốn nạn kia không đem lại hạnh phúc cho họ bằng con chó. Vả lại con cho nó không phản phúc như con người… Cụ cũng nghĩa như vậy chứ?

Người già như có một điều gì xung đột với con cái. Chàng muốn giúp cụ giải tỏa cái ẩn ức đó, nói ngọt không được chàng bèn hù:

-Chỗ quen biết, cháu nói cho cụ biết, cụ chửi chó mắng mèo vừa vừa thôi, lỡ người ta đưa cụ đi khám bệnh tâm trí, đọc báo thấy người ta bảo dân Mít tị nạn chiếm kỷ lục về bệnh tâm thần ở đây đấy. Bác sĩ sẽ định cho cụ một cái bệnh tâm thần như «ẩn ức lá mơ» hay «dồn nén củ riềng» rồi dùng phương pháp chó trị liệu để chữa cho cụ, tối ngày cụ phải làm bạn với chó…

-Nhưng cậu nghĩ xem…

-Sao cụ?

-Cậu nghĩ coi, hôm trước ngồi gậm xí quách, thấy con chó ngồi chầu, động lòng tôi quăng cho nó mấy cái xương. Thằng con rể Mỹ của tôi chửi toáng lên, con gái tôi cũng hùa theo chửi bố nó. Chúng nó bảo cho chó ăn xương hư răng hư lợi, cậu nghĩ coi, bố chúng nó chừng này tuổi đầu còn gậm xương có sao đâu. Mấy hôm sau chúng nó dắt con chó đi bác sĩ. Thằng bác sĩ chó má nào đó bảo rằng răng con chó bị lung lay, siêu vẹo phải đeo niềng răng, tốn tới mấy trăm đô.

-Cụ lo gì, các con chó nhà giầu có bảo hiểm sức khỏe, bên này mấy hãng bảo hiểm nhân đức và chu đáo lắm…

-Đâu có, con gái tôi nó đay nghiến tôi mãi, nó phải rút tiền trong quỹ tiết kiệm dùng để làm ma chay cho tôi. Cậu biết không? Răng tôi trước đây gậm xí quách có sao đâu, từ ngày giận chúng nó, cả hàm răng đâm ra ê ẩm, xô lệch.

-Chắc tại cụ nghiến răng trèo trẹo chứ gì?

-Đâu có, tại tôi  thấy con chó đeo niềng răng, hàm thiếc đâm ra cả hàm răng của tôi nó lung lay theo.

-Sao cụ không đi nha sĩ.

-Ấy chớ, hôm trước nha sĩ bảo tôi vặn hết hàm răng rồi mang hàm ếch.

-Ở Mỹ già mà không đeo răng giả không phải là một lão công dân tốt.

-Đeo răng giả rồi ăn bột à ! Còn gì cái thú gậm xương.

-Cháu cũng đồng ý với cụ là người Mỹ già và chó Mỹ không có cái thú gậm xương như mình. Nhưng mà thịt ê hề cần gì mà phải gậm xương.

-Nói cù nhầy như cậu tức bỏ mẹ.

Người già trầm ngâm một lúc, có vẻ lo ngại.

-Này cậu, con cái bên này chúng nó có quyền bỏ bố mẹ vào viện dưỡng lão hở cậu?

Nguyễn nhìn vào mắt người già.

-Vâng, nhưng đó là truyền thống văn hóa vì bố mẹ đã không nuôi con cái lúc chúng đã thành niên, nên có qua có lại.

-Tôi nghe nói nhiều người già phải sống bằng thực phẩm chó mèo trong khi con cái tỷ phú!

-Đó là văn hóa mà văn hóa nào cũng có những điểm không thể khen chê được cụ ạ.

Sau một thời gian Nguyễn đã chữa được cái bệnh căm thù chó Mỹ và con cái của người già. Nhiều lần cụ ngỏ ý mời chàng ghé lại nhà chơi…

-Này nói thật với cậu, tôi mến cậu lắm, cậu có vẻ có ăn có học, mặt mũi sáng sủa, sao không tiếp tục đi học, bằng cấp bên này đâu có khó lấy, tội gì đi làm cái thằng bán báo.

-…

-Tội gì, lãnh oen-phe ở nhà mà đi học.

-Tại cháu trót mang dòng máu ngông nghênh trong người.

-Nhiều lúc tôi nghĩ qua đây cuộc đời láo nháo như cháo trộn với cơm, chán thật.

-Cụ mà còn chán đời thì thiên hạ di tản biết thế nào nữa. Cụ có nhà cao cửa rộng, hưởng tiền trợ cấp, được làm ông ngoại, bố Mỹ. Cụ biết không? khi trước lúc quân Mỹ còn tham chiến ở Việt Nam, thấy con gái Việt Nam ăn khách Mỹ quá, cháu đã có lần mơ ước được làm bố Mỹ.

-Ô, mai mốt cậu được làm bố Mỹ như tôi rồi cậu sẽ biết. Các cụ nói « như bố vợ phải đấm », ở cái xứ này câu nói đó thật là thấm thía.

-Hồi đó cháu có làm mấy câu thơ để cháu đọc cụ nghe chơi:

Mìmh ơi,

-Gì ?

-Chiều anh tí đi,

May được con cái đĩ,

Lớn lên cho lấy Mỹ,

Chúng mình thiên hạ gọi:

“Bố Mẹ thằng Hoa Kỳ”!

Người già gật gù một lúc rồi cười khẩy:

-Cậu chửi bố tôi phải không?

-Đâu có cụ, bây giờ cháu cũng được làm bố Mỹ rồi. Các cụ ta bảo làm thơ nó vận vào người đấy.

Ánh đèn phía sau chiếu tới loang loáng, báo chất đầy xe, Nguyễn không thể nhìn qua kính chiếu hậu được. Người già thò đầu ra ngoài, sợ hãi:

-Xe cảnh sát.

-Mặc kệ nó cụ ạ, mình có làm gì phi pháp đâu mà sợ.

Chiếc xe qua mặt, viên cảnh sát ra dấu cho Nguyển ép sát vào lề, đậu lại.

-Chuyện gì vậy cậu?

-Chắc họ tỏ tình bạn dân với mình.

Viên cảnh sát xuống xe, tiến lại gần chàng, nói tiếng Mỹ lưu loát như tiếng mẹ đẻ, không cần biết hai người có hiểu gì không!

-Nó nói gì vậy cậu?

-Ông ta bảo là có người gọi điện thoại báo là cháu bắt cóc cụ.

-Mẹ kiếp, lại cái lũ chó má con tôi đó.

Không đủ ngôn ngữ, người già và Nguyễn lên xe cảnh sát, ung dung. Viên cảnh sát đưa hai người về nhà cụ già. Hai vợ chồng gia chủ, so le như đôi đũa lệch, đứng ở trước cửa nhà chờ sẵn.

Người đàn bà da vẫn còn mầu vàng đất sét, cái miệng và cái chỗ để ngồi trông có vẻ đã giống Mỹ. Người đàn bà mắng người già:

-Sao “đét” lại để nó dụ dỗ như thế, nó bắt cóc “đét” rồi đem đi hãm hiếp “đét” thì sao?

Người già, trước mặt Nguyễn, như muốn lấy lại oai quyền:

-Mày câm cái mồm chó của mày lại.

Người đàn bà giận dữ trút hết bực tức lên đầu Nguyễn:

-Ông có biết dụ dỗ bắt cóc người bên này nặng tội lắm không?

Nguyển im lặng, khinh mạn, nhìn xuống hai bàn chân người đàn bà tìm chân tướng. Hai bàn chân Giao Chỉ cổ lổ, bàn cuốc. Người đàn bà thấy nhột, quay lại góp chuyện cùng chồng và viên cảnh sát. Họ nói ríu rít. Có tiếng chó sủa nghẹn ngào sau hàng rào. Một thoáng sau, chàng mới sực nhớ ra con chó đang đeo niềng răng.

Kết quả cuộc đàm phán tay ba là viên cảnh sát bảo chàng lên xe. Nguyễn mang máng hiểu rằng người ta gán cho mình một cái tội gì đó liện hệ tới bắt cóc người.

Chiếc xe quẹo chữ U quay đầu lại, rồi lao vút đi. Trong một thoáng, Nguyễn thấy người già đưa tay áo lên quệt nước mắt.

January 22, 2010

HỌC CHỮ HÁN BẰNG TIẾNG VIỆT

Filed under: Bố Mỹ, Học Chữ Hán Bằng Việt Ngữ — Quang Nguyen @ 5:18 am

Tiếng Việt Huyền Diệu

HỌC TIẾNG VÀ CHỮ TRUNG HOA BẰNG TIẾNG VIỆT

Nguyễn Xuân Quang

Ta có thể học ngôn ngữ thế giới bằng tiếng Việt (Tiếng Việt Huyền Diệu), dĩ nhiên trong đó có tiếng Trung Hoa. Học tiếng Trung Hoa bằng tiếng Việt lại càng dễ dàng hơn, bởi vì một điều dễ hiểu là tiếng Việt và Trung Hoa liên hệ mật thiết, khắng khít với nhau. Thật vắn tắt ở đây, một trong những cách làm giầu thêm, phát triển, bành trướng thêm tiếng Việt là du nhập thêm tiếng ngoại ngữ khi tiếp cận với ngôn ngữ đó qua hiện tượng từ láy, tiếng đôi hay trực tiếp lấy tiếng ngôn ngữ đó, lấy nguyên con theo phát âm gốc hay có biến đổi, Việt hóa đi (như trường hợp chữ Hán Việt chẳng hạn).

Ai cũng biết từ Hán Việt nhan nhản trong tiếng Việt, có tác giả đã cho rằng có tới hơn 60% từ Hán Việt trong Việt ngữ. Hán Việt là từ lấy từ Hán ngữ nhưng đã Việt hóa theo những qui luật ngôn ngữ học có qui củ. Người Trung Hoa không hiểu từ Hán Việt dù là gốc của Hán Việt là Hán ngữ. Các nhà trí thức, khoa bảng Việt Nam đã Việt hóa Hán ngữ để giữ độc lập, giữ chủ quyền Việt đối với Trung Hoa. Ngày nay những từ Hán Việt dùng ở Việt Nam không còn theo những qui luật Việt hóa độc lập như xưa nữa mà dùng lung tung, hổ lốn, loạn xà ngầu, mạnh ai người ấy chế ra đem dùng. Hoặc vì ngu dốt, vì lười biếng, vì rơi vào chính sách đồng hóa của Trung Hoa, giới trí thức Việt Nam, báo chí truyền thông Việt Nam tự mình chế ra những từ Hán Việt đem vào ngôn ngữ Việt (một số giới báo chí, truyền thông Việt Nam ở hải ngoại mù quáng bắt chước lấy theo).

Áp dụng các qui luật ngôn ngữ học của tổ tiên ta ngày xưa ta có thể học tiếng Trung Hoa qua tiếng Việt bằng:

a. Từ đôi

Từ đôi là hai từ thường là danh từ khác âm đi đôi với nhau hay bắt cặp với nhau theo âm dương.

Có hai trường hợp:

.theo âm dương tương thuận có nghĩa như nhau hay có cùng một gốc nghĩa, tôi gọi là từ đôi điệp nghĩa ví dụ như gà qué: con gà là con qué, ta có gà = qué.

.hoặc theo âm dương đối nghịch có nghĩa đối nghịch nhau theo âm dương, tôi gọi là từ đôi nghịch nghĩa, ví dụ trăng trời.

Qui luật âm dương về từ đôi trong Việt ngữ của Nguyễn Xuân Quang:

Hai từ đôi theo âm dương tương thuận có nghĩa như nhau hay có cùng một gốc nghĩa, tôi gọi là từ đôi điệp nghĩa hoặc theo âm dương đối nghịch có nghĩa đối nghịch nhau, tôi gọi là từ đi đôi nghịch nghĩa.

Ta có thể dùng từ đôi, từ cặp đôi để học tiếng Trung Hoa ví dụ

./ Từ đôi gồm một từ Việt và một từ Hán phát âm theo piyin:

-đen xì

Theo qui luật từ đôi hay đi cặp đôi ta có đen = xì.

Xì là tiếng pinyin (phiên âm, giọng Quan Thoại) của Hán ngữ tịchlà tối, đêm bao hàm nghĩa đen (tối đen, đêm đen).

-mảnh dẻ

Mảnh là mỏng như mỏng manh. mỏng mảnh, mảnh khảnh. Theo qui luật từ đôi ta có mảnh = mỏng = dẻ. Từ dẻ chính là tiếng pinyin dié của gốc cổ Hán ngữ điệp có nghĩa là mỏng được diễn tả bằng cách vẽ hình cây có lá.

Dié là mỏng (cổ ngữ).

(Wang Hongyuan, The Origins of Chinese Characters, Sinolingua Beijing, 1993)

  

Dié, mỏng dạng chữ cổ như thấy trong hình vẽ hình cây có lá. Dẻ, dié biến âm với yè, điệp, lá. Ta thường ví mỏng như lá, áo lá là áo lót mỏng, mỏng như tờ giấy.

Cũng xin nói thêm là tiếng Việt rất đa dạng, từ mỏng của Việt ngữ biến âm với nhiều ngôn ngữ. Ta có từ đôi mỏng dính với dính chính là Anh ngữ thin (theo d=th, dính = thin), từl áy mỏng manh với manh chính là Pháp ngữ mince (mỏng) và mỏng tang, mỏng tanh với tang, tanh là Phạn ngữ tan, mỏng.

-xì hơi

Ta có xì = hơi.

Theo x=q= qu như xoăn xoắn = quăn, quắn, xì = qì. là pinyin của Hán Việt khí. Theo q=c=k = kh, = khí (khí mây, hơi…).

Tóm lại xì hơi có = pinyin = Hán Việt khí = hơi.

-xì mũi

Ta cũng có mũi liên hệ với khí, không khí, hơi nên có từ xì mũi, xỉ mũi: hỉ mũi (theo h= s = x như hói = sói, ta có xì, xỉ = hỉ)

nên xì ruột thịt với mũi, Hán Việt tị, tì 鼻, theo x=b, như xẹp = bẹp, xì, xí = bí (pinyin là mũi). Tị biến âm với xì thấy rõ qua từ Tỵ (chi thứ sáu trong 12 địa chi) có pinyin cũng là xì. Xì liên hệ với mũi thấy rõ qua tên con tê giác pinyin là xì. Con tê giác là con thú có sừng ở mũi (tê biến âm với tị, mũi) và xì biến âm với zì (tự) vẽ hình cái mũi.

Chữ Zì (tự) vẽ hình cái mũi.

-cũ xì

tích, xưa, trước, tích nhật ngày xưa.

Piyin là xì, cũ xìcũ xưa.

Xì cùng âm với xì là tịch, đêm giống như tích biến âm với tịch nên tích cũng có một nghĩa là đêm như nhất tích một đêm.

./ Từ đôi gồm một từ Việt và một từ Hán Việt:

-kẻ sĩ

Ta có kẻ = sĩ.

Việt ngữ kẻ = kẻ (cây thẳng dùng làm thước để gạch: thước kẻ), kẻ = kè (nọc đóng ở bờ nước) = ke (bộ phận sinh dục nam) = kì , ki (cây) = que (nọc, cọc)…

Tóm lại kẻ có gốc cây, nọc, cọc, c…c . Kẻ chỉ người nam, người cột trụ, người miền núi,người tộc hươu, tộc Kì Dương Vương,  chỉ núi kì, núi cột trụ thế gian. Hán Việt sĩ chỉ phái nam có học thức, học giả giữ vai cột trụ, rường cột, lương đống:

Trong lăng miếu ra tài lương đống,

Ngoài biên thùy rạch mũi can tương.

(Nguyễn Công Trứ, Kẻ Sĩ). 

là những người quan trọng nhất trong xã hội ngày xưa :

Tước hữu ngũ sĩ cư kỳ liệt,

Dân hữu tứ sĩ vi chi tiên. (1)

Có giang sơn thì sĩ đã có tên,

Từ Chu Hán, vốn sĩ này là quí…

(Nguyễn Công Trứ, Kẻ Sĩ). 

(1) Tước có năm bậc thì sĩ cũng dự vào; dân có bốn nghề thì sĩ đứng đầu tiên: sĩ, nông, công thương.

Và sĩ cũng rất quan trọng trong xã hội ngày nay như bác sĩ, văn sĩ, nghệ sĩ, binh sĩ (binh lính cũng được gọi là sĩ vì ngày xưa chỉ phái có sĩ, có cọc mới phải đi lính (lính ngày xưa phải có linga) và binh lính liên hệ với cọc nhọn, khí giới (Ngoài biên thùy rạch mũi can tương).

Nguồn gốc của từ sĩ cũng giống như từ kẻ có nghĩa là cọc, cược, bộ phận sinh dục nam.

 

 

  

 Chữ sĩ vẽ hình bộ phận sinh dục nam hay phát nguyên từ hình vẽ một thứ khí giới cổ.

 

Theo hình trên, sĩ vẽ hình bộ phận sinh dục nam hay phát nguyên từ hình vẽ một thứ khí giới cổ. Bộ phận sinh dục nam được biểu tượng bằng cọc, nọc vật nhọn (ví dụ penis có pen-, cây viết, nguyên thủy cây viết là một vật nhọn), giống như khí giới cổ đơn giản cũng chỉ là một vật nhọn.

Sĩ chỉ bộ phận sinh dục đực cũng thấy rõ qua từ , Hán Việt mẫu chỉ con thú đực có chữ sĩ như mẫu ngưu là con bò đực. Mẫu cũng còn có nghĩa là cây chốt cửa, nọc then cài cửa, như thế con vật đực có nghĩa là con thú có nọc, cọc. Mẫu biến âm với mâu, vật nhọn, khí giới nhọn như xà mâu, mâu thuẫn, với Việt ngữ mấu (ngạnh sắc), bấu (bằng móng nhọn sắc).

Ở hình trên cũng xin lưu ý ở phần tham khảo (for reference) của chữ mũ (đực, nọc, cọc) có vẽ hình con hươu sừng ở dưới bụng có phụ đề hình cây cọc cắm trên mặt đất có ý cho biết là con hươu cọc, hươu nọc, đực. Điểm này cho thấy hươu sừng biểu tượng cho thú đực, nọc, cọc. Con hươu, con hưu, con hiêu là con hèo (roi, nọc). Theo h=k như hết = kết, ta có hèo = kèo (cọc nhỏ), ta có từ đôi kì kèo nên kèo = kì ( ki, cây). Con hươu = con hèo = con kèo = con kì. Kì Dương Vương có một nghĩa là Vua Hươu Đực có nhũ danh là Lộc Tục (Hươu Đục, Hươu Đực). Hán Việt lộc = Việt ngữ nọc. Con lộc là con nọc, con cọc, con log (khúc cây). Vì thế con hươu là con cọc như thấy trên hình, tên cổ Việt con hươu sừng là con Cọc do đó trò chơi Bầu Cua có con hươu sừng, con Cọc nên phải gọi là Bầu Cua Cá Cọc thay vì gọi sai là Bầu Cua Cá Cọp (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc).

Cũng xin lưu ý chữ sĩ 士 tương tự như chữ thổ 土 đất, tại sao? là vì thổ, đất thế gian liên hệ với trụ chống trời được biểu tượng bằng Núi Trụ Thế Gian (núi Kì), trong ngũ hành của Trung Hoa khi diễn tả theo hình vuông thì hành Thổ ở giữa tâm hình vuông, tức là hành trục, cột trụ. Trong giáp cốt văn Thổ  được diễn tả bằng một trụ đá mang hình ảnh  núi trụ thế gian, núi Kì, trụ chống trời, hình ảnh ông Bàn Cổ (Bàn là phiến đá bằng như bàn thạch là đế giữ trụ cho vững và Cổ là cột trụ (cổ là cột trụ cắm đầu vào thân mình). Ông Bàn Cổ là ông Trụ Chống Trời biểu tượng cho cõi đất thế gian.

  

Trong giáp cốt văn Thổ (tũ) được diễn tả bằng một trụ đá.

 

 Thổ liên hệ với cột trụ, cọc như chữ sĩ nên giống chữ sĩ chỉ khác nét ngang ở đáy. Thổ là đất là cõi bằng vì thế nét ngang ở dưới biểu tượng cho mặt đất bắng nên phải cường điệu dài hơn nét ngang ở đáy chữ sĩ (nét này ở chữ sĩ chỉ thành bụng chỗ cái cọc đâm ra). 

(sẽ có một bài viết riêng về từ sĩ).

-ngạt thở

ngạt hiểu theo Việt ngữ là không thở được, ngạt thở liên hệ với chết (hết thở), chết ngạt. Ngạt đi với chết như thấy trong chữ “TỬ” , chết  nửa chữ bên trái có bộ ngạt : tan biến, tiêu tan, mất tiêu liên hệ với chết. Ngạt thở với ngạt hiểu theo Hán Việt là mất tiêu, hết thở.

 

./Từ đôi hoàn toàn là Hán Việt:

 

-bạch nhật:

sáng rõ, trời sáng rõ ví dụ như “Dậy đi, trời đã bạch nhật ra rồi đấy

ta có bạch = nhật,

Hán ngữ bạchcó chữ nhật.

-thế lực

Ta có thế = lực, Chữ Thế (quyền, sức, hình dạng, như trận thế, Thế lực, uy Thế) có Bộ LỰC

Muốn có thế phải có lực đẩy lên.

-tập hợp

Chữ hợp có phần trên là chữ TẬP cổ có hình cái lệnh. Gõ lệnh để tập hợp mọi người lại một điểm (chữ khẩu là dạng dương hóa của vòng tròn chỉ chỗ quây quần lại).

…….

b. Từ láy

Xin nhắc lại

Tiếng láy gồm một từ gốc và một từ tố lặp lại theo âm điệu, vần điệu nhịp nhàng, uyển chuyển với từ gốc thường cùng một vần, một mẫu tự (như b đi với b ví dụ bầu bì). Tôi gọi từ tố láy với từ gốc là thành tố láy (TTL), ví dụ liếm láp thì láp là TTL của liếm.

Qui luật về thành tố láy trong tiếng láy của Việt ngữ của Nguyễn Xuân Quang:

Thành tố láy trong tiếng láy của Việt ngữ thường có nghĩa gần nhau hay như nhau, thường là một từ ở trong Việt ngữ hay ở trong một ngôn ngữ khác, nhất là những ngôn ngữ ruột thịt, họ hàng với tiếng Việt.

 

Ta có thể học Hán ngữ qua từ láy

-Bầu bì

Ta có bầu = bì. Bầu là bao, bọc, túi. Hán Việt bì là da như bì phu. Da là cái túi, bao bọc thân người. Bì cũng có nghĩa là bao bọc thấy qua từ phong bì.

Bì biến âm với bị, bí. Cái bị là cái túi có quai (ông ba bị), người Trung gọi túi áo quần là cái bị. Bí cũng có nghĩa là bầu, bao, túi. Quả bí cùng họ nhà bầu tuy rằng khác giống: “Bầu ơi thương lấy bí cùng, Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”. Pinyin bì Hán Việt bí là bộ phận sinh dục nữ, âm đạo, l…

 

Bộ phận sinh dục nữ, âm đạo là cái túi. cái bao. Anh ngữ vagina, âm đạo, theo v=b, vagina có vag- = bag, túi bao. Cũng theo b=v, bí = ví (Việt ngữ ví là túi bao, tiếng lóng chỉ bộ phận sinh dục nữ).

-cà kê

Ta có cà = kê.

Mường ngữ cà là gà, theo biến âm c=g như cài = gài, ta có cà = gà. Hán Việt kê là gà. Kê viết với bộ chuy chim đuôi ngắn. Gà thuộc loài chim nhưng sống nhiều trên mặt đất, biểu tượng cho mặt trời thế gian, trên bàn Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc, con gà đội lốt thần mặt trời Viêm Đế ở cõi tạo hóa là mặt trời cõi thế gian. Qua Việt ngữ ta sẽ hiểu và nhớ từ kê hơn. Kê biến âm với kẻ (cọc, nọc), kè (nọc ở bờ nước), ke (bộ phận sinh dục nam, Alexandre de Rhodes, từ điển Việt Bồ La), que (nọc), qué, ké (gà như trói thúc ké là trói ghịt cánh gà)… Ta có từ đôi gà qué, con gà là con que, con qué, con kê biểu tượng cho nọc, dương, mặt trời. Anh ngữ cock là con cọc cũng có nghĩa chỉ bộ phận sinh dục nam. Do đó có từ Hán Việt kê gian là đồng tính luyến ái nam.

-khúc khuỷu

Hán ngữ khúc, Pinyin: qǔ, cong, không thẳng.
Việt ngữ khuỷu cũng có nghĩa là cong, gẫy như khuỷu tay. heo luật từ láy ta có khúc = khuỷu.

……… 

c. Lấy trực tiếp nguyên cách phát âm pinyin

Thu nhập từ Hán lấy nguyên cả cách phát âm pinyin, xin đưa ra một ví dụ điển hình là

-gié lúa

Gié chính là hé, pinyin của chữ hòa (hình gié lúa trên cây MỘC ). Theo g=h như gặt = hái, gié = hé.

 

-tính tình tang, tang tính tình

điệu hát tình tang, tính tình chính là piyin tĩng, tìng của 聽 thính, nghe, nghe bằng tai [Giản thể: ], còn Việt ngữ tang là tai, gốc champa ngữ tang là tai như màng tang, bên tai. Tình tang nghĩa đen là “tai nghe”.

-xịn

như hàng xịn, đồ xịn.

Xịn chính là pinyin của Hán ngữ mà Hán Việt là tân có nghĩa là mới như tân thời, tân tiến, hàm nghĩa “hiện đại” mới và đẹp. Đố xịn là đồ mới và đẹp, “gái xịn” là gái (còn) tân, còn mới (và đẹp).

…….

d. Theo cách diễn giải bằng Việt ngữ

-Xuân 

Tên một mùa trong bốn mùa.

 

Chữ Xuân cổ diễn tả cây, cỏ non mọc dưới ánh sáng mặt trời.

Trong giáp cốt văn , kim văn, cổ văn, triện văn, xuân diễn tả câycỏ non  

cỏ non có chữ tún (đồn) là mầm cây tức non và cũng có nghĩa là khai hoang làm ruộng, trồng cây như đồn điền liên hệ với cây cỏ (và tún cũng dùng lấy âm cho chùn, xuân),

Cỏ non mọc dưới ánh mặt trời:

 

Lưu tâm mặt trời nguyên thủy là chữ viết nòng nọc vòng tròn nòng có chấm nọc dương sau dương hóa thành hình chữ nhật ngày nay.

Xuân về cỏ non mọc xanh tươi dưới nắng mặt trời được diễn tả trong nhạc, thơ Việt Nam:

Xuân lại về trên bãi cỏ non.

(Phạm Duy, Hoa Xuân).

Hay

Cỏ non xanh tận chân trời

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

(Nguyễn Du, Kiều).

- Ngũ

Là năm, giống hình người ngồi bắc một chân lên chân kia, hai tay để ngang trên đầu:

Bắc chân chữ ngũ, đánh củ khoai lang,

Hỡi cô nhà hàng, rót anh chén nước.

(ca dao)

-Tử

Tử là con, là chữ liễu chỉ phái nữ có nét ngang:

Phận liễu sao đành nẩy nét ngang

(Hồ Xuân Hương).

-Tá

Tá là giúp.

Người phụ giúp, thường được cho là cánh tay trái của một người nào đó. Tá có chữ nhân người và chữ tả 左 là phía tay trái.

Việt ngữ có tứ giúp công và trong chữ tá, tả có chữ công.

……….

Ngoài ra còn có thể dùng các phương ngữ ở miền nam Trung Hoa thuộc địa bàn cũ của Bách Việt như Quảng Đông, Hẹ, Triều Châu, Choang… để học tiếng Trung Hoa. Xin đề cập tới vào dịp khác.

Tóm lại

Ta có thể học tiếng Trung Hoa bằng tiếng Việt. Khi học chữ Hán, chữ Nho hãy cố liên hệ với tiếng Việt để dễ hiểu nghĩa và dễ nhớ.

January 8, 2010

HÌNH TIÊU BIỂU THÁNG 01-2010

Filed under: 10. Hình T.B. Tháng 01-2010, Bố Mỹ — Quang Nguyen @ 2:08 pm

THÁNG MỘT 2010

GIẢI PHẨU TRỐNG ĐỒNG NÒNG NỌC ÂM DƯƠNG CỦA ĐẠI TỘC ĐÔNG SƠN.

Tác giả đang giải phẫu một chiếc trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn (Hình do bác sĩ Nguyễn Khắc Lân chụp).

Trống đồng của đại tộc Đông Sơn là trống nòng nọc, âm dương. Trống đồng diễn tả Vũ Trụ Tạo Sinh dựa trên nền tảng nòng nọc, âm dương, là trống biểu của Vũ Trụ giáo, của liên bang Văn Lang Hùng Vương, là trống Hùng Vương.

Ta đã biết âm dương lưỡng nghi sinh ra tứ tượng. Tứ tượng âm và dương vận hành, chuyển hành, liên tác với nhau dưới dạng năng động tạo ra vũ trụ vạn vật, muôn sinh, được phân chia ra thành Tam Thế và được biểu tượng bằng một hình cây gọi là Cây Tam Thế, Cây Vũ Trụ, Cây Đời, Chỏ

m cây, tán cây biểu tượng cho Thượng Thế, cõi trên vũ trụ, cành cây biểu tượng cho Trung Thế, cõi giữa thế gian, gốc và rễ cây biểu tượng cho Hạ Thế, cõi dưới. Thân cây là Trục Thế Giới thông thương Tam Thế. Đại tộc Đông Sơn chọn cây Nấm để diễn tả Cây Tam Thế cho chính xác trăm phần trăm vì nấm có chóp hình vòm diễn tả vòm vũ trụ, vòm trời. Một bằng chứng cây nấm được dùng làm biểu tượng cho Cây Tam Thế còn thấy là ngày nay người Thái ở Nghệ An còn dùng cây nấm làm biểu tượng cho Cây Vũ Trụ, Cây Tam Thế.

Trống đồng Đông Sơn loại có hình dạng Cây Nấm (bằng đầu) Tam Thế, Nấm Vũ Trụ, Nấm Đời Sống như trống Ngọc Lũ I mang trọn ý nghĩa Vũ Trụ thuyết. Trống cây Nấm Vũ Trụ hay gọi tắt là trống Nấm Vũ Trụ, trống Nấm là loại trống Nguyễn Xuân Quang VI (NXQ.VI) tức loại Heger I (H.I).

Giải phẫu một trống Nguyễn Xuân Quang Loại VI (Heger I) tức trống Nấm Vũ Trụ, Nấm Tam Thế, Nấm Đời Sống:


1. Trống Nấm Tam Thế, Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I) tức loại trống đồng âm dương Ngọc Lũ I.

Giải phẫu ra ta có:

2.  Thượng Thé và Trung Thế

a. Vòm Nấm Thượng Thế

chiếu xuống ở tâm mặt trống là vòng không gian-mặt trời

(vì trống cần có mặt bằng để đánh nên vòm nấm Thượng Thế được đập dẹpxuống hay được chiếu xuống mặt bằng trống).

b. Trung Thế

Phần còn lại của mặt trống (tầng đất) và phần tang trống (tầng nước) là Trung Thế.

3. Đế trống là Hạ Thế, cõi dưới.

4. Trục trống (eo trống) là Trục Thế Giới.

Tóm gọn lại:

Hình bìa tập I tác phẩm Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á.

(xem thêm Cơ Thể Học Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á hay Anatomy of the Bronze Drums).

December 22, 2009

TRÒ CHƠI, TRỜI CHO (Thơ Chữ Nghĩa).

Filed under: Bố Mỹ, Trò Chơi Trời Cho (T.C.N) — Quang Nguyen @ 9:43 pm

NHỮNG VẦN THƠ CHỮ NGHĨA

Những vần thơ CHỮ NGHĨA này cho thấy Tiếng Việt (thật là) Huyền Diệu.

Bài thơ này viết theo thể loại NÓI LÁI.

TRÒ CHƠI, TRỜI CHO (1).

Nguyễn Xuân Quang

Của  em có đấy, cấy đó tiên sò, (2)

Cò nọc ta đây, cò cứng cọc nò, (3)

Cò mới hến, duyên này hên mới có, (4)

Trò chơi cò với hến, của trời cho.

CHÚ THÍCH

1. Trò chơi nói lái là trời cho.

2. -Có đấy nói lái là cấy đó.

Từ cấy là biến âm của cái có cùng nghĩa với cái. Theo ay = ai như Yên Báy = Yên Bái, ta có cấy = cái.  Cái dùng như một danh từ và một phụ từ:

a.    Từ cái = cấy dùng như một danh từ

có nghĩa chỉ cái (giống phái) (xem Âm Dương Trong Tiếng Việt, Tiếng Việt Huyền Diệu), phái nữ (mẹ, con gái). Cái có nghĩa là mẹ như nàng về nuôi cái cùng con, con dại cái mang…… và cái, cấy có nghĩa là con gái (theo c=g, như cài = gài, ta có cấy = cái = gái) như thấy qua câu nói ở Huế:

Con trai họ Võ thì lấy,
Con cấy họ Võ thì đừng
.

(Bình Nguyên Lộc, Lột Trần Tiếng Việt).

Con cấy là con gái, từ này còn dùng nhiều ở Bình Trị Thiên.

b. Từ cái, cấy dùng như một phụ từ (article).

Ví dụ cái gì? = cấy gì?, cấy ni, cấy nớ, cấy nồi…

Ở đây cấy đó với cấy = cái có một khuôn mặt là một phụ từ có nghĩa là cấy đó = cái đó.
Từ đó chỉ bộ phận sinh dục nữ. Tại sao đó lại chỉ bộ phận sinh duc nữ? Có hai lý do, hiểu theo hai cách:

. Từ đó vốn là một đại danh từ chỉ nơi chỗ.

Ta có đó = đấy. Với đ câm như đủn = ủn (xe), đẩy = ẩy, ta có đấy = ấy, cái đó = cái đấy = cái ấy. Từ cái ấy là từ dùng tránh né nói thẳng, nói toẹt ra tên bộ phận sinh dục.
Từ ấy sau dùng như một danh từ, động từ (ấy ấy) hay dùng như một tiếng lóng chỉ bộ phận sinh dục để tránh thô tục.

. Từ đó là một danh từ chỉ vật bắt cá.

Cái đó, vật bắt cá, đơm đó, có hình cái túi hình ống bầu tròn. Vật hình túi, hình ống bầu tròn mang ý nghĩa biểu tượng cho bộ phận sinh dục nữ. Đó bắt cá chỉ bộ phận sinh dục nữ thấy qua câu:

Đó rách ngáng chỗ.
(tục ngữ).

Câu này ý nói mấy bà vợ già cái đó đã mòn, đã rách, đã cũ ngăn cản, ngáng chỗ các ông đi tìm những cái đó còn nguyên si, còn mới.

Cái đó là cái ấy và cũng là cái đó bắt cá, cả hai đều chỉ bộ phận sinh dục nữ. Ôi tiếng Việt thật là huyền diệu!

-Tiên sò là sò tiên. Sò của tiên, sò đẹp như tiên. Dân dã miền Nam gọi theo ngôn ngữ bình dân là con l… tiên.

3. Cò nọc nói lái là cọc nò.

là một thứ bẫy cá.

Chồng chài, vợ lưới, con câu,

Con trai đứng đáy, nàng dâu ngồi nò.

(ca dao)

Nò biến âm với lờ (n=I như nòng súng = lòng súng), họ hàng với lờ, đó. Chỗ dòng nước chẩy ngoài sông, người bắt cá đóng hai hàng cọc rào kín hình chữ V rồi cột nò vào chỗ thắt lại ở đầu chữ V. Cá theo dòng nước chẩy bơi vào lòng chữ V rồi lọt vào nò.
Nọc dùng đóng nò hay cọc nò phải thật cứng, chắc, vững để chịu được dòng nước chẩy siết. Cò cứng, cò nọc có cổ cứng như cọc đóng nò, cọc nò.
Trong thiên nhiên có hai loại cò: cò nọc, cò cọc, cò cứng là cò khi bay có cổ cứng, thẳng, Anh ngữ gọi là storkcò “mềmcổ cong khi bay gọi là heron. Stork, cò cứng với stork ruột thịt với stark, stiff, cứng. Loại cò này có hình dáng cứng đơ khi bay, cổ duỗi thẳng hàng với thân, chân khi bay, trong khi cò heron, khi bay cổ co lại có hình cong chữ S. Cò biểu tượng cho dương tính, Việt ngữ cò biến âm với cồ là đực, là nọc (vật nhọn). Cứng biến âm với cửng, cẩng. Cò cứng,  cò nọc, cò cọc, là loài mang tính cường dương hơn cò cổ cong, cò quăm (xem Con Cò Lăn Lội…). Ví dụ hình cò trên trống đồng Đông Sơn là loại cò cứng stork, khi bay cổ và thân thẳng hàng, mang nhiều dương tính, thấy rõ nhất là cò của tộc Lửa vũ trụ Càn tức siêu dương là con cò nọc, không có bờm, đầu cổ trông giống bộ phận nam cương cứng (cửng, cẩng), ở trong còn viế thêm chữ hay dấu nọc que nói cho biết đó là con cò nọc, đây là hình cò thấy trên trống Đông Sơn IV.

clip_image002

Cò Nọc Càn trên trống Đơng Sơn IV có đầu cổ giống hình cây nọc của phái nam đang cương cứng, trong có viết chữ hay dấu nọc que.

Cò nọc, cò cọc  biểu tượng cho Hùng Vương (Hùng có một nghĩa là đực, nọc), Lang Hùng (lang là con trai), cho mặt trời (dương), cho Việt (vật nhọn) mặt trời thái dương. Cò trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn là cò nọc, cò cọc, cò Việt, cò Hùng Vương mặt trời thái dương…  (Giải Đọc Trống Đồng Đông Nam Á). Vì vậy mà tác giả mới viết Cò nọc của ta… vì tác giả là con cháu Hùng Vương, Đại Tộc Việt mặt trời thái dương có cò biểu là con cò nọc.

4. Cò mới hến nói lái là hên mới có.

Lưu ý hai từ mới trong câu “Cò mới hến, duyên này hên mới có” khác nghĩa nhau từ mới thứ nhất có nghĩa là với (theo m=v như mời = vời, ta có mới = với) khác với nghĩa từ mới thứ hai ở sau.

December 18, 2009

SỰ TƯƠNG ĐỒNG GIỮA TRUYỀN THUYẾT VIỆT VÀ HY LẠP

Filed under: Bố Mỹ, Tương Đồng Với Hy Lạp — Quang Nguyen @ 5:47 am

ĐỐI CHIẾU TRUYỀN THUYẾT HY LẠP

VỚI TRUYỀN THUYẾT VIỆT NAM.

Nguyễn Xuân Quang

Hy Lạp là xứ của huyền thoại. Ở Hy Lạp cái gì cũng là huyền thoại. Một người theo Tây học thì ít nhất cũng nghe nói đến một vài huyền thoại Hy Lạp như ngưởi hùng Hercules, Nữ Thần Tình Yêu Aphrodite (Vệ Nữ Venus), Nữ Thần Chiến Thắng Nike, Thần Ánh Sáng, Sự Thật Apollo, mặc cảm Oedipus… Đi vào huyền thoại Hy Lạp như đi vào một mê cung, một mê hồn trận. Đọc và học huyền thoại Hy Lạp lung tung, chằng chịt, nhiều khi thật là khó hiểu, khó nhớ. Tuy nhiên nếu ta dùng cổ sử Việt Nam tức dựa trên Vũ Trụ giáo, Dịch nòng nọc mà đọc và học huyền thoại Hy Lạp thì dễ nhớ vô cùng, bởi vì cả hai Việt và Hy Lạp đều là giáo hữu của Vũ Trụ giáo. Có sự tương đồng giữa truyền thuyết Việt và Hy Lạp là chuyện tất nhiên. 
Như đã biết quan niệm nguyên lý lưỡng hợp nòng nọc, âm dương đã có từ lâu, dấu tích còn ghi lại trên các hình khắc, vẽ trên đá (petroglyphs) từ thời Tân Thạch.  Vũ Trụ giáo dựa trên lưỡng hợp là tín ngưỡng cổ nhất của loài người đã ảnh hưởng tới hầu hết các nền văn minh cổ, các tôn giáo lớn thế giới, dĩ nhiên trong đó có Hy Lạp. 
Truyền thuyết vũ trụ tạo sinh của Hy Lạp cũng có những dấu ấn của Vũ trụ giáo, của Dịch Nòng Nọc, dĩ nhiên đã biến đổi đi theo tín ngưỡng địa phương, khoác lên các màu áo đức tin địa phương. 

Hư không, Hư vô, Vô Cực

Theo thần thoại Hy Lạp khởi thủy là cõi hỗn mang, một thứ vực thẳm vô cùng tận như đại dương, tăm tối hoang sơ. Đối chiếu với Vũ Trụ giáo và Dịch Nòng Nọc, ta thấy ngay truyền thuyết vũ trụ tạo sinh Hy Lạp khởi đầu là cõi hỗn mang vô cùng tận tức tương ứng với bọc hư vô, vô cực. Ở đây vũ trụ mang âm tính vì là một cái vực thẳm như đại dương tăm tối (giống Ai Cập cũng quan niệm khởi thủy là Biển Vũ Trụ Cosmic Ocean),  tương ứng với ngành Thần Nông nòng âm của chúng ta.
Hư vô, hư không được diễn tả bằng vòng tròn. Chết là trở về với Hư Vô để được sống hằng cửu. Vì vậy mà Hy Lạp cổ cũng có tục chôn người trong các nghĩa trang hình vòng tròn như thấy ở khu nghĩa trang hình vòng tròn A và B (Grave Circle A and B) ở phế tích Mycenea.

clip_image002

Tác giả đứng ở khu nghĩa trang hình vòng tròn A (Grave Circle A), ở phế tích Mycenea,1600-đầu thế kỷ 15 TTL, Greece (ảnh chụp Dec. 2009).

Trứng Vũ Trụ hay Thái Cực

Hư vô, vô cực, hỗn mang tiến hóa thêm tới lúc có hai mầm nòng nọc, âm dương xuất hiện nhưng chúng vẫn còn quyện vào nhau tạo thành Trứng Vũ Trụ hay Thái Cực. Huyền thoại Hy Lạp cũng có cái trứng sinh tạo, tạo hóa sinh ra từ hỗn mang vực thẳm. Từ hư vô hỗn mang, một thứ vực thẳm vô cùng tận như đại dương, tăm tối hoang sơ Erebus (unfathomable dept) chuyển qua Night (bóng đêm). Vũ trụ lúc này vẫn còn đen tối, trống không, thinh lặng, vô cùng tận. Ta thấy ở đây ứng với cực nòng âm. Rồi ánh sáng hiện ra. Hiển nhiên ánh sáng ứng với cực nọc dương. Nòng nọc, âm dương bóng đêm-ánh sáng ban ngày còn quyện vào nhau sinh ra Trứng Vũ Trụ, vũ trụ.
Nhà viết kịch Aristophanes đã viết:

    Black-winged Night,
    Into bosom of Erebus dark and deep,
    Laid a wind-born egg and as the seasons rolled,
Forth sprang Love, the longed-for, shining, with wings of gold.

                    (Edith Hamilton, Mythology, tr.63).

Tình yêu ở đây đáng lẽ tác giả này phải cho là sự hôn phối nòng nọc, âm dương giữa bóng đêm âm và ánh sáng dương mới đúng.

Truyền thuyết Hy Lạp ngả về duy âm, vực thẳm dương hóa một phần biến thành là Bóng tối Night mang hình ảnh khí, gió âm như thấy qua câu thơ "Black-winged Night" (Bóng đêm có cánh đen). Rồi sau đó dương hóa thêm đẻ ra mầm dương phát sinh ra Ánh Sáng.  Phần âm Bóng Đêm khí gió tương ứng với Thần Nông và phần dương Ánh Sáng với Viêm Đế.
Dưới diện sinh tạo, Trứng Vũ Trụ, đĩa Thái cực được coi là dạ con của vũ trụ, của Thần Mẫu. Chết là trở về với dạ con của vũ trụ, của Thần Mẫu, Mẹ Đời để được tái sinh nên cổ Hy Lạp cũng có tục chôn người chết trong các quan tài đất nung hình chiếc bồn tắm hình trứng hay cải táng trong các bình hình trứng mang hình ảnh Trứng Vũ Trụ tương tự như tục chôn người trong các vò chum của cổ Việt thấy ở các di chỉ ở miền Bắc, của người Champa ở miền Trung (nhất là ở Sa Huỳnh),  ở cánh đồng Chum, Thổ Nhĩ Kỳ và nhiều nơi khác…

clip_image002[4]

Bình mai táng hình Trứng (hình tác giả chụp tại Bảo Tàng Viện Mycenae, Hy Lạp, Dec. 09).

Theo duy âm nên con người nguyên thủy sinh ra từ hư vô hay đúng hơn từ Trứng Vũ Trụ là Mẹ Tổ, Mẹ Đời, Thần Mẫu. Mẹ Tổ, Thần Mẫu của Hy Lạp cũng được biểu tượng bằng hình vòng tròn như thấy ở phế tích Delphi, được cho là  Cái Rốn Vũ Trụ của Hy Lạp. Vì là Cái Rốn Vũ Trụ nên Delphi là một trung tâm linh thiêng của tiên tri của Hy Lạp và các vùng lân cận. Khởi thủy, theo mẫu hệ, chính Thần Mẫu linh thiêng ở đây đã truyền phán những lời tiên tri cho những người đi tìm sự thật, đi tìm một câu trả lời về tương lai, định mệnh của mình qua miệng những nữ tu (priestesses) đang lên đồng.  Đây là hình ảnh của các bà đồng bóng, đồng thiếp, đồng dí của Việt Nam thờ Thánh Mẫu mà ngày nay còn thấy. Tại phế tích Delphi này còn thấy chỗ thờ Thần Mẫu, Mẹ Đất Gaea (có gốc geo- là đất) có hình vòng tròn. Sau đó tới xã hội phụ quyền, thần Apollo chiếm ngôi vị của Thần Mẫu và nơi này trở thành đền thờ thần Apollo, có khuôn mặt là Thần Ánh Sáng, Thần Sự Thật (ánh sáng soi rõ sự thật). Lúc này chính thần Apollo ban phát cho những lời tiên tri nhưng vẫn truyền qua miệng những nữ tu đang lên đồng. Tuy nhiên, các lời tiên tri này phải do các nam tu sĩ giảng giải (sẽ có bài viết riêng về Cái Rốn Vũ Trụ này).

Các nhà khảo cổ học đã đào tìm thấy nhiều hình tượng nữ mang vóc dáng Mẹ Đời, Thần Mẫu vào thời Đồ Đồng thuộc văn hóa thời kỳ Cyclades (2800-2300 TTL) có thân hình vòng tròn hay những tượng đứng đưa hai tay lên đầu. 

clip_image002[6]

Hình tượng nữ mang hình ảnh Thần Mẫu có thân hình vòng tròn và hình đứng giơ hai tay lên trời  thuộc văn hóa Cyclades (hình của tác giả chụp tại Viện Bảo Tàng Mycenea).

Những hình tượng nữ thời Cyclades này với những đường nét giản dị, thanh tao (ví dụ như là hình tượng nữ giống hình chiếc vĩ cầm chẳng hạn) đã là nguồn cảm hứng  còn giúp cho các nghệ sĩ ngày nay sáng tác. Các hình tượng này trông giống như các tác phẩm của Picasso ngày nay.

clip_image002[8]

Vật giả cổ hình tượng nữ thời Cyclades.

Tuy nhiên những hình tượng nữ đều thấy ở tư thế đứng này thay vì ở tư thế ngồi sanh con như ở các nơi khác (xem Hình Tiêu Biểu Tháng Mười Một) cho thấy Vũ Trụ Tạo Sinh của Hy Lạp không chính gốc, có thể đã muộn và du nhập từ những nền văn hóa khác vào.

Lưỡng Nghi

Rồi Trứng Vũ Trụ, Thái Cực phân cực, tách ra thành hai cực nòng nọc, âm dương, lưỡng nghi. Trứng Vũ Trụ dưới dạng Thần Mẫu sinh ra hai vị thần tổ tối cao tối thượng là Uranus (Trời, Heaven) Và Gaea (Đất, Earth) ứng với Lưỡng Nghi. Hai vị thần tổ Trời Uranus và Đất Gaea mang hình bóng hai vị Thần Đực (Dương) và Cái (Âm), Càn, Khôn, Thần Nông, Viêm Đế. Ở đây hai vị thần tổ Hy Lạp là Trời hiểu theo Heaven và Đất cho thấy đã theo quan niệm đã muộn giống như Chu Dịch cho Càn Khôn là Heaven và Earth (người thái cổ chưa có quan niệm về heaven).

Nòng nọc, âm dương, lưỡng nghi thấy rõ nhất qua chữ viết nòng nọc còn thấy trong văn hóa cổ Hy Lạp. Xin đưa ra một ví dụ điển hình là hình trang trí nọc que hay phi tiêu (darts) và trứng mà ngày nay các nhà Hy Lạp học cho là biểu tượng của hằng cửu, vĩnh cửu.

clip_image002[10]  clip_image002[12]   clip_image002[14]

Viền trang trí hình nọc que hay phi tiêu và trứng hiện nay được cho là biểu tượng của vĩnh cửu, vĩnh hằng,  tại đền Erechtheion, ở Acropolis, Athens, nơi đây được tin là lăng mộ của vua Kekrops (ảnh của tác giả).

Đây chính là chữ nọc que (I) và nọc que mũi tên (phi tiêu) và chữ nòng hình trứng của chữ viết nòng nọc. Nòng nọc, âm dương là căn bản của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo trong đó có hằng cửu, vĩnh cửu, tái sinh là quá trình cuối và khởi đầu của vòng tử sinh. Viền nọc que “phi tiêu” và trứng mang ý nghĩa hằng cửu, vĩnh cửu, tái sinh này thường thấy ở các lăng mộ, trên các quan tài đá (sarcophagus) nhằm mục đích cầu mong hồn người chết được về miền hằng cửu hay được tái sinh.
Chữ viết nòng nọc còn thấy rất nhiều trong văn hóa cổ và chữ viết Hy Lạp (sẽ có một bài viết Chữ Viết Nòng Nọc trong văn hóa cổ Hy Lạp). Sự hiện diện của chữ viết nòng nọc là một minh chứng vững chắc cho thấy văn hóa cổ Hy Lạp liên hệ với Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, Dịch nòng nọc.   

Tứ Tượng

Hai vị thần tổ Trời Uranus và Đất Gaea (ứng với lưỡng nghi âm dương) lấy nhau đẻ ra các vị Thần Cả (Elder Gods) gọi là Titans. Trong nhóm này có bốn vị thần quan trọng như  Cronus và vợ là Rhea (Ops); Coeus  và vợ là Phoebe; Ocean và vợ là Tethys;  Hyperion, cha của mặt trời Helios. Bốn vị thần Titans chính này ứng với Tứ Tượng:
1. Thần Cronus (tên Latin là Saturn), liên hệ gốc Chronos, thời gian. Chỉ có cõi người thế phàm có tử sinh mới có thời gian vì thế Cronus liên hệ với cõi đất thế gian, với tượng Đất, Đá. Điểm này thấy rất rõ qua sự kiện Cronus là thần Bảo Vệ Những Kẻ Gieo Trồng và Hạt Giống (Protector of the Sowers and the Seed), vợ Ops là người Phụ Giúp Gặt Hái (Harvest Helper). Cronus đẻ ra nữ thần Bắp, Ngô Demeter (Latin là Ceres, từ này cho ra từ cereal, ngũ cốc).
2. Ocean là thần sông Ocean, dòng sông vĩ đại ôm quanh trái đất. Ocean ứng với tượng Nước. Ocean có gốc Oc- có nghĩa là nước, Việt ngữ óc ách liên hệ với nước, con ốc là con vật sống dưới nước.
3. Thần Hyperion cha đẻ ra thần mặt trời Helios ứng với tượng Lửa.
4. Coeus có  gốc Coe- Coel- có nghĩa là trống, rỗng (hollow), bộng, bọng, bụng, ruột, xoang (cavity) như coeliac  thuộc về ruột, xoang… Bọng, xoang là nang, bọc là hư không, là túi gió. Coeus ứng với tượng Khí, Gió.

Rõ ràng bốn vị Thần Cả Titans Cronus, Hyperion, Ocean, Coeus, tương ứng với Tứ Tượng: Đất, Lửa, Nước, Khí. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt bốn vị thần Titans này ứng với:  Viêm-Lửa, Đế-Đất đá, Thần-Nước, Nông-Gió của chúng ta. Thần Nông Uranus và Viêm Đế Gaea sinh ra bốn Thần Cả Titans: Viêm Hyperion, Đế-Cronus, Thần-Ocean và Nông Coeus.
Ngoài bốn vị thần Titans này còn có thêm vài vị thần Titans không mấy nổi tiếng khác mang ý nghĩa đã muộn như Mnemosynes (Trí nhớ), Themis (thường được diễn dịch là Công lý), Iapetus…

Tam Thế

Tứ Tượng âm và dương liên tác sinh ra vũ trụ, vạn vật, muôn sinh. Vũ trụ chia ra làm Tam Thế: Thượng Thế (Cõi Trên, Tạo Hóa), Trung Thế (Cõi Đất thế gian) và Hạ Thế (Cõi Nước âm, Cõi Âm). Mỗi Thế lại chia ra ba tiểu thế, ba tầng, ba cõi là Trời (Khí gió), đất dương (lửa thế gian), nước (xem Khái Quát Về Vũ Trụ giáo). Tam Thế, ba cõi, ba tầng cũng thấy trong văn hóa Hy Lạp. Xin đưa ra một ví dụ tiêu biểu: dưới đầu một mái nhà ở Acropolis, Athens có tượng hình được cho là “quái vật có ba thân người và có đuôi rắn quấn vào nhau”. Người thứ nhất cầm tia chớp biểu tượng cho Lửa, người ở giữa cầm Nước và người thứ ba (nhìn thẳng về phía người đứng nhìn) tay cầm con chim biểu tượng cho Gió.

clip_image002[16]

Dưới đầu một mái nhà ở Acropolis, Athens có tượng hình được cho là “quái vật có ba thân người và có đuôi rắn quấn vào nhau” (Marisa de Castro, The New Acropolis Museum, Metaichmio editions, 2009).

Đuôi rắn biểu tượng cho ngành nòng âm tương tự như Phục Hy và Nữ Oa có đuôi rắn thuộc về ngành nòng âm Thần Nông.
“Quái vật” này biểu tượng cho ba cõi Lửa (có thể là lửa thế gian vì đi với hình người tức cõi nhân gian Đất dương Li), Nước và Khí Gió của ngành nòng âm.

Cõi Thế Gian, Trục Thế Giới

Những vị thần Titans sinh ra 12 vị thần nhỏ (Lesser gods) gọi là Olympians. Có nhiều truyền thuyết nói về núi Olympus này nhưng cốt lõi Olympus là ngọn núi cao nhất Hy Lạp nghĩa là tương ứng với núi Kỳ, núi Tản của chúng ta, núi Meru, núi Kalaisha của Ấn giáo, núi Tu Di của Phật giáo… Olympus là Núi Vũ Trụ, Núi Trụ Thế Gian biểu tượng cho Đất thế gian trong có Trục Thế Giới. Mười hai vị thần Olympian là 12 vị thần thế gian. Mười hai vị thần đó là:

1 Thần Bầu Trời Zeus (Jupiter), đứng đầu trong 12 Olympians.
2.Thần Biển Poseidon (Neptune).
3. Thần Cõi Âm Địa Ngục Hades (Pluto).
4. Nữ Thần Lò Sưởi Hesta (VestaI), là chị/em gái của ba vị thần trên.

5. Hera (Juno), vợ và cũng là chị/em của Zeus, Nữ Thần Bảo Vệ Hôn Nhân.
6. Ares (Mars), con của Zeus và Hera là Thần Chiến Tranh.
7. Athena (Minerva) là con riêng của Zeus. Athena là Nữ Thần Chiến Tranh, Thần Thành Phố, nơi ở (Thần Athena chiến đấu để bảo vệ thành phố, một thứ lãnh thổ, đất nước vì ngày xưa mỗi thành phố là một quốc gia gọi là city-state).
8. Apollo (con của Zeus và Letho) là Thần Ánh Sáng, Thần Mặt Trời, Sự Thật…
9. Aphrodite (Venus), con của Zeus với Dione, Nữ ThầnTình Yêu và Sắc Đẹp.
10. Hermes (Mercury), con của Zeus với Maia, Thần Buôn Bán, Giao Thương.
11. Artemis (Diana), con của Zeus và Letho, chị/em với Apollo là Nữ Thần Mặt Trăng, Hoang Dã.
12. Hephaestus (Vulcan), con của Zeus và  Hera, đôi khi được cho là con riêng của Hera, Hephaestus, là Thần Lửa.

Nhìn chung chỉ có bốn vị thần đầu của Olympians là bốn anh/ chị/ em, ba trai một gái, các vị thần sau đều là vợ con của Zeus.

Bốn vị thần đầu:

1. Zeus là Thần Bầu trời (Sky)  có  biểu tượng là chiếc búa thiên lôi. Ở đây ta thấy Zeus là Thần Bầu trời với biểu tượng búa thiên lôi nên có mạng dương là khí, gió,  bão tố. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt  Zeus có  khuôn mặt thần Bầu Trời của Tổ Hùng Vương  dưới khuôn mặt Thần Sấm Dông Phù Đổng Thiên Vương có cây gậy sắt-búa thiên lôi. Thần Bầu Trời Zeus có một Khuôn mặt Khí Gió.

2. Poseidon tên có nghĩa là "Chồng của Đất" (Husband of the Earth), Chúa Đất "Lord of the Earth" nhưng thường được biết nhiều dưới tên Thần Biển (tương ứng với Neptune), đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, Poseidon Thần Biển tương ứng với Thần Biển Lạc Long Quân. Ta cũng thấy Lạc Long Quân cũng là chồng của Đất núi Âu Cơ (dẫn 50n con lên núi). Poseidon thường liên hệ với Bò đực (Bull), Lạc Long Quân có một thú biểu là con Trâu Vàng Kim Ngưu (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Như thế rõ ràng Poseidon tương đương với Lạc Long Quân ứng với tượng Nước dương.

3. Hades là Thần Cõi Âm, là Diêm vương (King of the Death). Cõi Âm có một khuôn mặt là địa ngục, ứng với Đất âm.

4. và thần nữ Hesta là nữ thần Lò Sưởi, Bếp Lửa có mạng Lửa âm, Mẹ Lửa ứng với Lửa âm thế gian.

Như thế bốn vị thần nhỏ chính yếu của  12 vị thần Olympus thế gian cũng mang những dòng máu, di thể (genes) ứng với  Tứ Tượng của các vị thần Cả Titans.

Bốn vị thần cõi trần Olympus này đội lốt bốn vị thần cả Titans   nhưng lại thuộc dòng Nòng trong đó vị thần ứng với tượng Lửa lại là một khuôn mặt nữ. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt thì bốn vị vua cõi thế gian của chúng ta thuộc họ Nọc là  bốn Chàng hay bốn Mặt Trời thế gian thuần dương là Chàng Lửa Đế Minh, Chàng Núi Kì Dương vương, Chàng Nước Lạc Long Quân và Chàng Gió Hùng vương đội lốt bốn mặt trời Lửa, Đá, Nước, Khí cõi trời tứ hành…  Ở đây ta thấy truyền thuyết cổ Hy Lạp coi trọng Thần Đất Cronus, cho Cronus là chúa tể của vũ trụ khác chúng ta là Thần Mặt Trời Ánh Sáng Đế Minh đội lốt Viêm Đế. Truyền thuyết Hy Lạp có dấu vết của vũ trụ giáo, dịch nhưng nghiêng về Đất và âm khác với chúng ta có chủ thể là mặt trời, lửa và dương (của ngành nòng âm). 

Tám vị thần Olympus còn lại như đã nói đều là vợ con của Zeus. Thần Bầu Trời Zeus có ít nhất năm bà vợ.

-Vợ thứ nhất cũng là chị/em Hera đẻ ra Ares (Thần Chiến Tranh).
-Vợ thứ hai Demeter cũng là chị/em đẻ ra Persephone (Nữ Thần Suối).
-Vợ thứ ba Leto đẻ ra Apollo, Thần Ánh Sáng, Mặt Trời, Sự Thật…  và Artemis (Diana), Nữ Thần Mặt Trăng, Hoang Dã.
-Vợ thứ tư Maia đẻ ra Hermes, Thần Buôn Bán, Giao Thương.
-Vợ thứ năm Dione đẻ ra Aphrodite, Nữ ThầnTình Yêu và Sắc Đẹp.

Và còn nhiều chứng tích của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, Dịch nòng nọc trong văn hóa cổ Hy Lạp nữa. Hiển nhiên ở đây ta đã đủ thấy có sự hiện diện của Vũ Trụ giáo trong văn hóa cổ Hy Lạp. Tuy nhiên ta cũng thấy Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo trong văn hóa cổ Hy Lạp không chính thống, đã biến thể, có nhiều chỗ vá víu, lệch lạc. Điểm này thấy rất rõ là ngoài bốn vị thần Titans kể trên như đã nói còn có thêm vài vị thần Titans không mấy nổi tiếng khác mang ý nghĩa đã muộn. Vũ Trụ giáo, Dịch không phải phát gốc từ Hy Lạp mà đến từ các nền văn hóa khác. Đến từ đâu? Trong phạm vi bài viết này xin vắn tắt, sẽ khai triển ở một chỗ khác. Ai cũng biết Hy Lạp cổ thời liên hệ chặt chẽ và chịu ảnh hưởng nặng của văn hóa Ai Cập cổ ngay trước cả thời Ptolemic. Như đã biết Ai Cập cổ theo Vũ Trụ giáo rất chính thống như Việt Nam cổ (xem Sự Tương Đồng Giữa Truyền Thuyết Cổ Việt và Ai Cập Cổ). Ngoài ra Ấn giáo là di duệ của Vũ Trụ giáo cũng đã ảnh hưởng nhiều tới văn hóa Hy Lạp cổ. Trong Children of Mu, James Churchward đã viết: “India was the schoolhouse of the Greek philosophers” (Ấn Độ là mái trường của các triết gia Hy Lạp”…  Về nguồn gốc của người Hy Lạp James Churchward cho rằng họ thuộc một nhánh đi từ Lục Địa Đất Mẹ Mu (Continent of Motherland Mu) ở Đông Nam Á (tức Địa Đàng Phương Đông của Stephen Oppenheimer) qua Trung Mỹ, ở đây được biết dưới tên là Kars, Karas, Caras, Carians (Ai viếng thăm Chichen Itza ở Cancun, Mexico sẽ thấy còn ghi khắc khuôn mặt người có râu rất Tây phương). Từ Trung Mỹ qua ngả Atlantis (lục địa đã mất, dấu tích còn lại có thể là đảo Santorini của Hy Lạp ngày nay), tiến tới vùng Tiểu Á (Asia Minor), Bán đảo Balkan và các đảo phụ cận. Nếu đúng như James Churchward nói thì Vũ Trụ giáo trong Hy Lạp cổ đến từ Đất Mẹ Mu Đông Nam Á, nơi phát nguồn của Vũ Trụ giáo còn thấy ghi lại trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. 

……

Kết Luận

Dù gì đi nữa, Vũ Trụ giáo có mặt trong văn hóa cổ Hy Lạp. Vì thế ta phải dùng nguyên lý lưỡng hợp nòng nọc, âm dương, Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, Dịch để nghiên cứu, tìm hiểu và học  truyền thuyết, thần thoại Hy Lạp thì mới mong thấu hiểu trọn vẹn và dễ dàng. Ta có thể dùng truyền thuyết và cổ sử Việt để hiểu truyền thuyết, thần thoại Hy Lạp cổ và ngược lại. 
Hy vọng các nhà Hy Lạp học thế giới sẽ đi theo dấu chân tôi nhìn văn hóa Hy Lạp cổ dưới lăng kính Vũ Trụ giáo, Dịch nòng nọc trong tương lai.
Một lần nữa cho thấy Vũ Trụ giáo là tôn giáo tối cổ của nhân loại còn lưu lại dấu tích trong các nền văn hóa cổ và các tôn giáo lớn hiện nay.

Older Posts »

Theme: Silver is the New Black. Blog at WordPress.com.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.