VIỆT LÀ GÌ?
Nguyễn Xuân Quang
(phần 2 và hết)
HỌ VIỆT MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG
Như đã biết Việt, Vớt, Vọt, Nọc là phần nóng, đỏ, dương của trứng vũ trụ, sau biến thành mặt trời vì thế Vớt, Vọt, Việt là cả một ngành Nọc đối ứng với ngành Nòng là phần trong, âm của trứng vũ trụ của họ mặt trời. Họ thờ mặt trời trong vũ trụ giáo chia ra làm hai ngành: ngành Việt Mặt Trời Nọc, Mặt trời tỏa rạng, Mặt trời thái dương và ngành Bộc Mặt trời bọc, Mặt trời đĩa tròn không có tia sáng tỏa ra. Họ Việt mặt trời có nhiều đại tộc, nhiều chi tộc. Điều này giải thích tại sao có lúc họ Việt được gọi là Bách Việt. Ta biết họ tiếng Hán gọi là tính. Trong thiên hạ có nhiều họ gọi chung là trăm họ bá tính. Vì Việt là một họ nên cũng có thể gọi chung là Bách Việt. Điều này cũng giải thích tại sao có nhiều từ Việt chỉ tên dân tộc, tên nước viết với những bộ khác nhau (bộ tẩu, bộ mễ, bộ kim…).
Chúng ta thuộc họ Việt Mặt trời rạng ngời, Mặt trời thái dương dòng thần mặt trời Viêm Đế ngành nọc (vật nhọn, mặt trời) nên các vị vua cổ của chúng ta đều là những Lang (chàng, đục, đực, mặt trời) đều có vương hiệu có nghĩa là Vớt, Vọt, Việt, Nọc, Đực, Hùng, Mặt trời rạng ngời, hừng rạng. Như đã biết các vua tổ của chúng ta đều có họ Việt, các tên Man (Minh), Kẻ (Kì), Lạc, Lang đều có nghĩa là nọc, đực, mặt trời… nghĩa là Việt. Đế Minh, Đế Man là Đế Việt ánh sáng mặt trời thái dương, là Dương Việt, Man Việt. Tương tự Kinh Dương vương hay Kì Dương Vương là Kì Việt vương, vua Mặt trời Núi Đất Trụ thế gian; Lạc Long quân là Rồng Việt, vua Mặt trời Nước Lạc Việt và Hùng Lang là Lang Việt, mặt trời Gió. Hùng Vương với Hùng có một nghĩa là đực (thư hùng) là Hùng Việt, vua Mặt trời hừng rạng. Người Mường gọi Hùng vương là Dịt Dàng tức Việt vương…
VIỆT VƯỢT THUỘC TỘC NÀO?
Từ Việt trong hai chữ Việt Nam hiện nay là từ Việt viết với bộ tẩu có nghĩa hiện kim là Chậy, Vượt, Vọt.
Như đã nói chúng ta Việt tộc Vượt, Vọt hiểu theo nghĩa là tộc Việt “bỏ chạy”, là tộc Việt “bành trướng”, Việt “vượt” vòng lễ giáo của nhà Chu, là Việt siêu việt không chỉnh. Ta thấy rõ những nghĩa này không phải là ý nghĩa cốt lõi của từ Việt chỉ một dân tộc, một nước ngày xưa. Từ Việt ngoài phần việt với nghĩa là vật nhọn, Nọc chỉ họ Việt Mặt trời thái dương ra, phần còn lại gọi là ‘bộ’ chỉ tên một bộ tộc, một tộc, thường mang ý nghĩa vật biểu, vật tổ. Ví dụ như Việt viết với bộ mễ (lúa) ngoài chữ Việt ra, bộ mễ chỉ tộc Việt trồng lúa. Như thế Việt viết với bộ tẩu thì tẩu cũng phải mang ý nghĩa vật tổ. Việt tẩu liên hệ với con vật tổ nào? Con vật Việt vượt nào có nghĩa là con vật có “vật nhọn chạy vụt qua”? Con vật nào tên có nghĩa là vọt, Việt, nọc vì có một phần thân thể có đặc tính như một cái vọt, cái nọc nhọn và có đặc tính “chạy”? Ta thấy ngay là con hươu nọc. Hươu, hiêu là con hèo có nghĩa là roi vọt, tên được gọi theo cái sừng nọc nhọn (Mường ngữ hèo là húc) và có chân chạy. Con Hươu nọc, hươu cọc, hươu sừng còn gọi là con Cọc (xem Bầu Cua Cá Cọc). Ta cũng thấy Hán ngữ lộc (hươu) chính là Việt ngữ lộc (cành, cây như thấy trong câu “bồng bồng cái lộc ra hoa”…), biến âm với Việt ngữ nọc, Anh ngữ nog (then cài), log (thân cây)… Ta cũng biết hươu tiếng cổ Việt là Kẻ (cái kèo nhỏ) (theo h=k như hủi = cùi, hèo = kèo, kẻ) liên hệ với gốc cổ ngữ Đông Á keh, con hươu, người đầu tiên trên thế gian (James Churchward), với Hy Lạp Ker- (sừng) như keratin (chất sừng), Pháp ngữ cerf (hươu)…
Hơn nữa con hươu, con cọc cũng liên hệ với rìu (vật nhọn). Việt ngữ có câu ví “nói chuyện con tiều con vượn”. Con tiều là con gì? Tiều có nghĩa là dìu, rìu như ông tiều phu là người thợ rừng có cây rìu chặt cây. Con tiều là con rìu con hươu do đó cũng nói là “nói hươu nói vượn”.
Như thế con hươu là con cọc, con rìu, con Việt.
Mặt khác con hươu, con cọc, con kẻ là loài thú bốn chân sống trên mặt đất biểu tượng cho Cõi Giữa, Cõi Đất thế gian. Ta thấy rõ kẻ, kì là cây, cột, trụ biểu tượng cho núi trụ thế gian (xem chương Kinh Dương vương). Ta cũng thấy hươu liên hệ tới đất dương, núi qua Hán ngữ trần (bụi đất). Từ trần do chữ lộc (hươu) ghép với chữ thổ (đất)
Trần là bụi, là đất khô, đất dương tung bay lên được nên đi với lộc hươu.
Lộc cũng thường đi đội với tiên (người ở trên núi) như thấy qua từ ghép Hán ngữ tiên lộc. Như thế hươu là con hèo, con kèo, con kì (kì kèo), con kẻ, con cọc, con Việt biểu tượng cho núi đất, trần gian. Điều này cũng giải thích tại sao có bộ tẩu trong chữ Việt vượt. Giải tự từ tẩu phần trên có chữ thổ (đất) dưới có chữ chỉ là chân.
Về mặt sinh học, hươu là loài thú hiền ăn cây cỏ chỉ có một cách chạy để thoát thân, để sống còn. Tẩu là một nét đặc thù của hươu. Chúng ta có câu ví “Chỉ đường cho hươu nó chậy”.
Như thế rõ như “con cua tám cẳng hai càng, một mai hai mắt rõ ràng con cua” là Việt viết với bộ tẩu có hai phần: phần Việt là rìu liên hệ với hươu và phần tẩu cũng liên hệ với hươu.
Tóm lại Việt Vượt viết bằng chữ Việt búa là vật nhọn ghép với chữ tẩu diễn tả một con vật tên có nghĩa là có sừng nhọn như rìu, vọt, nọc nhọn có chân chạy “vọt như tên bắn”, “chạy vụt qua” trên mặt đất chính là con hèo, con hươu biểu tượng cho núi đất dương. Ta đã biết vua tổ đầu tiên trên mặt đất của chúng ta là Lộc Tục Hươu Nọc Kì Dương vương có mạng núi nổng, mang hình ảnh của con người đầu tiên trên trái đất. Điều này như đã thấy rõ qua cổ ngữ Đông Á Keh là con hươu biểu tượng cho con người đầu tiên trên mặt đất (xem hình ở bài đọc thêm con Bọ Hung). Keh chính là Việt ngữ Kẻ, Hán ngữ Kì trong tên Kì Dương vương, Kinh Dương vương. Rõ như hai năm là mười Việt Vượt là Việt Hươu Nọc Lộc Tục Kinh Dương vương, nước Xích Quỉ [biến âm theo kiểu quỉ quái, ta có Quỉ = Quái. Quái là quẻ (bát quái = tám quẻ), que (cây, nọc, cọc) biến âm với Kẻ], như thế Quỉ là Kẻ có nghĩa là người, chỗ ở như Kẻ Sặt. Quỉ liên hệ với Pháp ngữ qui (người), Latin quo (Quo vadis)… Xích Quỉ là Kẻ Đỏ, Người Đỏ, Người Mặt Trời (The People of the Red Sun) (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Việt vượt viết với bộ tẩu là Việt Mặt Trời thái dương tộc hươu Việt Xích Quỉ. Có tộc gọi chúng ta là người Kinh có thể là họ gọi theo tộc Kì, tộc Kẻ, tộc Hươu thuộc Đại tộc Kì Dương Vương hay Kinh Dương vương.
Tóm lại chúng ta là Việt Nam với từ Việt Vượt viết với bộ “tẩu” chỉ loài có “chân” chạy trên “đất” là con hươu Việt. Việt Nam là Việt Mặt trời thái dương dòng dõi Hươu Việt Kinh Dương vương, là Người Mặt trời rực lửa Xích Quỉ (The people of the Sun).
NHỮNG CHỨNG TÍCH VIỆT LÀ MẶT TRỜI RẠNG NGỜI.
Chúng ta thuộc họ Vọt, Vớt, Việt nên thờ vật nhọn, nọc, cột, khí giới sắc nhọn, chim, sinh thực khí phái nam, mặt trời hừng rạng, thái dương…
NỌC VIỆT
Họ Việt thờ Nọc, Vọt, Vớt, Việt dưới dạng nọc thờ, nêu, gậy thờ, trụ, cột thờ, thạch trụ, trụ đồng, cột thờ totem (như của các thổ dân vùng Tây Bắc Hoa Kỳ), trụ chống nóc trời (núi nổng), Cây Vũ Trụ (Cosmic Tree), Cây Nhân Sinh (Tree of Life)… ví dụ một trong những nọc thờ cổ sơ nhất là cây nêu nọc gồm cây que, cây nọc vót một đầu còn để dăm bào dài, xoắn, dính lại mà một số tác giaœ Việt Nam hiện nay gọi là ‘que bông’. Đây là nọc Việt được coi là linh thiêng nhất vì nó chính là cái NỌC, cái nêu Đực, nêu Mặt Trời, cái nêu Việt. Nọc này cũng mang hình ảnh bộ giống phái nam có chùm lông. Hãy lấy một ví dụ: ”… Cũng từ lâu làng Dóng được gọi là Kẻ Đổng có tục trồng riêng một sào cà để dành cho ông Đổng về hái. Ở các ruộng khác, người ta thường cắm cạnh mỗi cây cà một “que bông”, tức là những que tre dài ở một đầu có vót thành xơ xoắn xít dính vào thân que như hoa cà, ngụ ý để dành cho ông Đổng kẻo ông trẩy cà, gây thiệt hại tới mùa cà”… (Cao Huy Đĩnh, Đất Nước Trung châu Kể Chuyện Ông Dóng, Hùng Vương Dựng Nước, NXB KHXH, HN, 1972 t.I, tr.110). Không. Đây không phải là “que bông” để cho Phù Đổng thiên vương không trẩy cà. Một số tác giả ở Việt Nam hiện nay đã hiểu sai cây “que bông” này. Cây nêu Nọc “que bông” này còn thấy được dùng ở nhiều sắc tộc ở miền Bắc ngày nay. “Chúng ta thấy đồng bào Thái (đen) một số nơi cũng vẫn còn giữ tục lệ đẽo hình giống của đàn ông bằng gỗ treo kèm với con rùa trên chiếc cột cái ở trong nhà. Trong nhóm các dân tộc vẫn được mệnh danh là Xá (mà nhiều đặc điểm gần gũi với người Việt cổ đã được phát hiện) đồng bào Khmu, Kháng cũng giữ tục lệ ấy. Mỗi khi làm nhà, ngay lúc dựng lên cây cột cái, một chiếc Khé (hay Klé) bằng tre, thuôn, dài, một đầu vót tròn, một đầu tước xơ ra cũng được treo lên cùng với thớt dao và con quay…” (Lê văn Lan, Về khả năng…Hùng Vương Dựng Nước, NXB KHXH, HN, 1972 t. I, tr.198). Khé hay klé chính là Việt ngữ que, kẻ (kh, kl = qu).
Rõ ràng ‘que bông’ cắm ở ruộng cà và khé chính là cái nêu nọc, nêu Việt, Nọc Việt. Nêu nọc ‘que bông’ của chúng ta chính là cái nêu ‘inau kike’ của người Hà Di Ainu, thổ dân ở Nhật (xem thêm bài đọc thêm Nêu, Cái Nêu Nhân Chủng Học).
Một tài liệu còn thấy ghi trong sử sách là cây trụ đồng thời Mã Viện. Sử chép Mã Viện cho trồng một cây trụ đồng và nói “Trụ đồng chiết Giao chỉ diệt” (Trụ đồng gẫy, Giao chỉ bị diệt vong). Dân Giao chỉ mỗi người đi qua đắp vào một hòn đá cho trụ đồng không bị gẫy đổ. Tại sao Mã Viện lại trồng trụ đồng mà không trồng một thứ gì khác? Trụ đồng bắt buộc phải liên quan đế văn hóa Việt, đến sự tồn vong của người Việt. Trụ đồng phải là một biểu tượng Việt thiêng liêng. Xin thưa, trụ đồng là Trụ Việt, Nọc Việt vì thế mà người Việt muốn giữ cho nó bị gẫy đổ.
Núi Ngũ Lĩnh ở đền thờ Hùng Vương, Vĩnh Phú là Núi Nọc, Núi Dương, Núi Hùng, Núi Trụ, Núi Trục Thế gian (Lĩnh biến âm với với Lang theo kiểu biến âm linh lang hay ninh nang: ông Lảng ông Lang ông ra đầu làng lại gập ông Linh…). Núi Trục thế gian Nghĩa Lĩnh nối ba ngôi đền Thượng, Trung, Hạ biểu tượng cho Tam Thế. Đền Tổ Hùng mang hình ảnh Cây Vũ Trụ, Cây, Tam Thế trong Vũ Trụ giáo (xem Cấu Trúc Đền Hùng Vương).
RÌU VIỆT
Cây rìu, cây búa còn gọi là cây Việt. Theo Bình Nguyên Lộc các dân tộc người Thượng Việt Nam và Mường ngày nay vẫn còn gọi rìu là cây việt. Do đó búa, rìu Việt là tế vật, vật thờ, vật thiêng liêng. Khảo cổ học đào thấy rất nhiều rìu thờ. Cây rìu mỏ chim hay búa chim trở thành vật biểu của Việt Mặt trời thái dương. Chứng tích thờ rìu còn thấy qua những chiếc rìu thờ bằng đá hay bằng đồng Đông Sơn.
Các loại rìu thờ Đông Sơn (ảnh chụp tại Viện Bảo Tàng Lịch Sử Hà Nội).
Ta thấy rìu thờ có những hình dạng và trang trí khác nhau tùy theo rìu đó là rìu thờ của tộc Việt nào như chiếc rìu thờ tìm thấy ở Núi Voi mà các nhà khảo cổ học Việt Nam hiện nay gọi là “Rìu Chiến Núi Voi”.
Đây là cái rìu thờ cán chẻ ra hình chữ V giống như cái gạc của Hươu sủa Muntjac, biểu tương của Kì Dương Vương, nhánh Lửa. Trên rìu có khắc hình giao long biểu tượng cho của Lạc Long Quân, nhánh Nước. Đây là rìu của Hùng Vương hai nhánh gồm cả hai nhánh.
Đặc biệt có một chiếc rìu khắc hình giao long, hươu sủa gạc hai mấu và sói lang. Nếu nhìn chung, đây là Rìu Tam Thế (Cõi Trên, Gió-Lang Trời, Cõi Giữa, Đất-Hươu Cọc và Cõi Dưới, Nước-Giao Long), nếu nhìn dưới diện họ Mặt Trời thái dương thì đây là Rìu Hồng Bàng thế gian: Kì Dương Vương-Hươu Cọc, Lạc Long Quân-Giao Long và Hùng Vương thế gian- Lang Trời (xem Rìu Hồng Bàng).
Rìu Hồng Bàng (YHTT số 37, tháng 3-4, 2000).
Gần đây người Việt còn thờ các loại khí giới là con những con dao lớn, cán dài gọi là cây vớt và các loại dao lớn cán ngắn gọi là mã tấu. Qua câu chế riễu người Việt ở vùng quê còn mang hình bóng cổ Việt là “bọn răng đen mã tấu” cho thấy mã tấu, cây vớt là khí biểu đặc thù của người Việt (còn răng đen là nét đặc thù của tộc Việt ngành âm nước Lạc Việt, mầu đen là mầu nước thái âm).
……
TRỐNG VIỆT
Trống có một nghĩa là đực (như gà trống). Trống đồng nòng nọc, âm dương là vật biểu tượng cho đực, cho các vua Hùng (hùng có một nghĩa là đực như thư hùng). Trống là trống, là đực, là đục (chisel) là chàng (chisel), là rìu, là Việt. Trống đồng là trống biểu của Đại Tộc Việt. Trống là đực, Nọc, Việt. Đực là dương. Dương có một nghĩa là mặt trời. Vì vậy trống đồng luôn luôn có mặt trời ở tâm trống, là trống mặt trời. Trống đồng nòng nọc, âm dương nào không có mặt trời không phải là trống của đại tộc Đông Sơn, của Đại Tộc Việt. Trống đồng nòng nọc, âm dương là trống biểu của Đại Tộc Việt, của các Lang, Chàng Hùng, của Hùng Vương mặt trời thái dương, của liên bang Văn Lang ngành nọc Việt.
Người Choang (Zhuang), một tộc có nhiều nét giống người cổ Việt, một số lớn ở Quế Lâm, Nam Trung Hoa hiện nay có rất nhiều trống đồng, họ thờ trống đồng nòng nọc, âm dương.
Hình thiếu nữ người Choang đang quảng bá trống đồng cho du khách (ảnh của tác giả chụp một poster du lịch ở Quế Lâm, Trung Hoa)
Gần đây các nhà nghiên cứu dân tộc Choang đã tranh luận rất hào hứng là tổ tiên người Choang là Việt hay Bộc, là Tây Âu hay Lạc Việt? Tôi xin góp thêm ý của tôi. Cách đây 4, 5 thế kỷ người Choang vẫn còn được gọi là người Lang, tên Choang hiện nay gọi theo Hán Việt là Chàng tộc. Rõ như ban ngày Choang là Lang là Chàng, hiển nhiên là liên hệ ruột thịt với Lang, Chàng Hùng vương, là một bang trong liên bang Văn Lang. Ta cũng thấy Chàng là đục (chisel), vật nhọn như thế người Choang, người Chàng, người Lang là Việt, Lang Việt. Cũng nên biết người Choang họ tự nhận là con cháu của Rồng giống như ngành cha, nước của Hùng Vương nhận là dòng dõi Rồng Nước Lạc Long Quân (theo cha xuống biển). Người Choang thờ trống đồng là một chi tộc Lang Việt của Văn Lang thuộc họ Việt.
Người Trung Hoa nhận trống đồng nòng nọc, âm dương là của họ thì họ thuộc… Bách Việt !
VẬT TỔ CHIM VIỆT.
Xin xem bài viết Chim Việt, ở đây chỉ nhắc qua vài điểm chính.
Chim Việt là vật tổ của họ Việt. Con chim này phải có tên và có các đặc tính của từ Vớt, Vọt, Việt nghĩa là nọc nhọn, rìu, búa, chàng, đục… biểu tượng cho nọc, đực, dương, bộ giống phái nam, mặt trời rạng ngời.
Chim Việt tổ tối cao của đại tộc Việt là con chim Cắt, có cái mỏ rất to, nhọn như cây búa chim, chiếc rìu. Dân gian Việt Nam gọi là chim cắt là chim mỏ rìu.
Người Papua, New Guinea, thờ chim cắt, mỏ coi như là biểu tượng cho mặt trời, dương vật, người là mặt trăng biểu tượng choc ho bộ phận sinh dục nữ. Chim cắt nòng nọc, âm dương, trăng trời này thờ trong các miều âm hồng mang ý nghĩa sinh tạo, tái sinh, hằng cửu.
Hiển nhiên chim cắt mang biểu tượng cho nọc, đực, dương, mặt trời là chim rìu, chim Việt của họ Nọc Việt Mặt trời thái dương. Vì thế rìu chim mỏ cắt cũng được các tộc liên hệ với Đại Tộc Việt hay văn hóa Đại Tộc Việt thờ phượng (xem dưới).
Chim Việt mỏ cắt có thể có những tên khác tùy theo chi, theo tộc, tùy theo thời, ví dụ Việt Văn Lang của Hùng vương chim Việt mỏ cắt gọi là chim lang, chim chàng (chàng vừa có nghĩa là đục chisel, vừa có nghĩa là con trai, đực), chim mling, mlang, chim bling blang (mling đẻ ra từ Mê Linh), người Ê Đê gọi là chim mơ ling, mơ lang, có tộc ở Mã Lai Á gọi là chim lang, người Xá Khmu gọi là chim th’ràng; Việt Xích Quỉ của Kinh Dương vương có thể gọi là chim khướng (người Mường có chi gọi chim mỏ cắt là chim khướng) có nghĩa là chim sừng (khướng biến âm với Hán Việt khương là sừng) ăn khớp với Anh ngữ hornbill. Viêm Đế có họ Khương nên có chim biểu là chim Khương, chim Sừng, chim mỏ cắt, chim rìu, chim Việt…
Chim Việt mỏ cắt nói chung là chim biểu của toàn họ Việt Mặt trời thái dương bằng chứng là hình bóng chim cắt dùng làm chim biểu, vật tổ thấy khắp nơi từ vùng đất tổ cũ nhất của họ Việt, ở nam Trung Hoa cho tới Đa Đảo, Đại Dương châu, châu Phi…
Chứng Tích Vật Tổ Chim Việt Mỏ Cắt
Qua Sử Miệng Ca Dao
Chim mỏ cắt đã được ghi lại trong sử miệng ca dao qua bài hát về vật tổ chim của chúng ta sau đây:
Bổ nông là ông bồ cắt,
Bồ cắt là bác chim di,
Chim di là dì sáo sậu
Sáo sậu là cậu sáo đen
Sáo đen là em tu hú
Tu hú là chú bồ nông.
Qua Khảo Cổ Vật
Trên mặt trống đồng Duy Tiên, mặt tuy bị vỡ nhưng còn thấy rõ hình ba con mỏ cắt, mỏ lớn, đầu có mũ sừng. Đây là loài Great hornbill, loài mỏ cắt lớn nhất.
Trên nhiều trống đồng khác như trên trống đồng sông Đà, một đầu thuyền khắc đầu chim hình cái rìu.
Những hình thuyền trên trống đồng Hoàng Hạ có chiếc có mũi là một đầu chim với cái mỏ rất lớn. Đây là chim mỏ cắt. Đầu kia của thuyền là Rồng-nước. Đây là thể lưỡng hợp Mỏ cắt-Rồng nước.
Chim Hồng
Chúng ta thường nói tới hai từ Lạc Hồng, chúng ta là con Hồng cháu Lạc. Chim Hồng chim Lạc. Chim bổ cắt có tên “chữ” là chim Hồng Hoàng. Chim Hồng nhìn theo họ Viêm Việt Viêm Đế là chim mỏ cắt hồng hoàng.
Vật Biểu Chim Mỏ Cắt Của Các Chi Tộc Khác Của “Đàn Chim Việt”.
Mường
Vật tổ chim Tráng, chim Cháng của người Mường Việt cổ cũng có vật tổ chim là chim tráng, chim chàng (đục) mỏ cắt. Theo truyền thuyết Mường hai con chim Kláng, Klao (tương ứng với truyền thuyết khác là chim Ây, cái Ứa) đẻ ra trứng trăm trứng nghìn, nở ra muôn vật muôn loài, đẻ ra người Đáo (tức người Kinh, người Việt) đẻ ra người Mường… Từ Kláng chuyển sang Việt ngữ là Tráng, Chàng (đục) tức chim mỏ cắt (xem chương Nhận Diện Danh Tính Hùng Vương).
Người Ao (Âu) Naga ở Assam
Đây là người Âu liên hệ mật thiết với Lạc Việt, đã từng kết hợp thành nước Âu Lạc. Chứng tích chim bồ cắt là một vật tổ còn thấy ở nhiều tộc ở đây ví dụ tộc Ozukumtzur (bird-became-woman) do vật tổ chim cắt sinh ra có taboo kiêng kỵ không ăn thịt chim cắt (William Carson Smith, The Ao Naga Tribes of Assam, tr.111).
Chứng tích thờ chim cắt thấy đi kèm với ròng-rắn nước, rồng đất cắc kè, kì nhông, kỳ đà, thằn lằn còn thấy nhiều ở người Ao Naga ở Assam. Trong nghệ thuật khắc gỗ, hiển nhiên là khắc tạc hình tượng thờ, hình vật tổ cũng thấy có hình rìu mỏ cắt.
Người Ngaju, Dayak Nam Borneo
Đây là một chi Bộc Việt. Hai vật tổ tối cao tối thượng của người Ngaju thuộc tộc Dayak, ở miền Nam Borneo là Rắn Nước (Watersnake) và Mỏ Cắt (Hornbill).
Chim Mỏ Cắt (Hornbill) gọi là Tingang, trong ngôn ngữ của thầy tế pháp sư gọi là bungai. Vật tổ này thường thấy vẽ, khắc trên hình thuyền Chim Cắt, Thuyền Rắn Nước, những con thuyền mà các thần tổ dùng đi từ thượng giới xuống trần gian.
Người Hắc Đảo ở Đại Dương châu.
Các Thổ dân Hắc Đảo ở Đại Dương châu như đã thấy coi chim cắt là biểu tượng cho đực, dương, lửa, mặt trời. Mỏ bồ cắt là biểu tượng cho cơ quan sinh dục nam. Thổ dân đảo Cook ở Nam Hải gần đây còn thờ rìu chim bổ cắt. Đây chính là rìu chim Việt, một thứ Rìu Việt.
VẬT TỔ THÚ VIỆT
Ở Cõi Giữa Đất thế gian, thú biểu bốn chân của họ Việt là con thú có tên có nghĩa là vớt, vọt, việt, nọc, cọc, vật nhọn, đực, bộ giống phái nam, mặt trời rạng ngời. Đây chính là con hươu. Hươu, hiêu biến âm với hèo có nghĩa là roi vọt (nọc ra đánh cho năm mươi hèo). Con hươu là con hèo vì có sừng như nọc nhọn. Vì thế con hươu còn gọi là con Cọc (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc). Con hươu con hèo là con vọt, con Việt. Còn rất nhiều di tích vật tổ hươu ghi khắc lại trên trống đồng Đông Sơn…
Và còn nhiều vật tổ khác nữa, tất cả đều có tên có hàm mghĩa Vọt, Việt, nọc, đực, mặt trời rạng ngời…
VẬT TỔ CÁ VIỆT
Ở Cõi Dưới, Cõi Nước cá biểu của Đại Tộc Việt là con cá có tên có nghĩa là vớt, vọt, việt, nọc, cọc, vật nhọn, đực, bộ giống phái nam, mặt trời rạng ngời. Ở vùng đất có nước, đầm lầy là con cá sấu dao (gavial), Hán Việt cá sấu gọi là con ngạc biến âm với lạc, gạc (bắn lạc = bắn lạc). Gạc là sừng. Anh ngữ cá sấu là crocodile, gọi tắt là croc biến âm với Việt ngữ cọc. Cá sấu là cá ngạc, cá lạc, cá ngạc, cá sừng, cá cọc, cá Việt. Cá sấu mõm dao thấy trên trống đồng nòng nọc, âm dương Hòa Bình (xem Thế Giới Loài Vật Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á). Ở dưới nước là loài cá có mõm nhọn hay có râu mang dương tính như cá chép, thấy trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I .
THỜ SINH THỰC KHÍ
Họ Việt thờ sinh thực khí như tục thờ nõ nường. Điển hình là tượng bộ giống phái nam bằng đá đào được ở Văn Điển; những đôi hiện vật đá tạc bộ giống nam nữ tìm thấy ở châu Sông Mã, trên thạp đồng Đào Thịnh có các hình tượng trai gái đang làm tình… (xem chương Tín Ngưỡng).
THỜ MẶT TRỜI
Như đã biết họ Việt thờ Mặt trời rạng ngời, thái dương (xem chương Ý Nghĩa Hình Mặt Trời Trên Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương).
Hình ngữ mặt trời của người thái cổ, họ Nọc Việt Mặt trời rạng ngời được biểu thị bằng hình mặt trời có nọc nhọn như mũi tên, mũi lao mũi mác… bắn ra như thấy trên hầu hết các trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. Đây là những trống Việt mặt trời thái dương…
KẾT LUẬN
Việt là Vớt, Vọt, Nọc, Vật nhọn, Đực, Chim, Mặt trời rạng ngời… Đặt tên nước, dân tộc là một chuyện thiêng liêng phải chiếu theo vũ trụ trời đất, trăng sao, thế núi sông, phải mang ý nghĩa của vũ trụ quan, nhân sinh quan, tôn giáo. Tôn giáo của tổ tiên ta thời thái cổ là Vũ Trụ giáo dựa vào hai yếu tố chính Nòng Nọc Âm Dương, tới thời phụ quyền cực đoan như thời Hùng vương chuyển qua đạo Mặt Trời. Từ Việt phải mang những ý nghĩa biểu tượng chính liên quan tới tín ngưỡng Vũ Trụ giáo, đạo thờ Mặt Trời của người cổ Việt. Việt phải hiểu là MẶT TRỜI TỎA RẠNG, MẶT TRỜI RẠNG NGỜI, HỪNG RẠNG hay muốn dùng theo Hán Việt thì là VIỆT LÀ MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG. Chúng ta thuộc họ Nọc Việt Mặt trời rạng ngời gồm có hai ngành: ngành Việt nọc thái dương, lửa-đất là Man Việt-Kì Việt ( phía Âu Cơ) có tộc Kì Việt, chi Hươu Việt Lộc Tục Kì Dương vương với Việt viết với bộ tẩu và ngành nọc Việt thái âm, nước-gió là Lạc Việt-Lang Việt có tộc Lạc Việt, chi Cá Sấu Dao Lạc Long Quân với Việt viết với bộ mễ. Hiển nhiên ta cũng còn có nhiều chi tộc khác nữa mỗi tộc viết chữ Việt với một bộ thích ứng khác…
Giữa những nghĩa của từ Việt là Vớt (dao di, rìu), Vượt qua, Siêu, ta thấy Siêu là một tính từ với nghĩa phụ trừu tượng muộn nhất; với nghĩa Vượt là chạy cũng là nghĩa phụ có sau nghĩa roi vọt (dao vớt, rìu búa). Roi vọt, vớt (rìu búa), có trước dùng đánh con vật cho nó vọt nhanh, vượt qua. Ngoài ra ta cũng đã thấy Việt viết với bộ tẩu có nghĩa liên hệ với Vượt, chậy liên quan tới tộc Việt Hươu.
Như thế từ Việt bắt buộc phải hiểu, phải lấy theo nghĩa gốc là vật nhọn (dao Vớt, Rìu). Điểm chính yếu là ta phải hiểu Việt, Vớt, Rìu là vật biểu, tế biểu của Đại Tộc Việt và phải hiểu theo nghĩa biểu tượng của vật nhọn. Vật nhọn biểu tượng cho đực, nọc, dương, mặt trời. Tên của một dân tộc, một nước bắt buộc phải chọn nghĩa biểu tượng thích hợp nhất là mặt trời. Việt phải hiểu theo ý nghĩa biểu tượng chính yếu và đúng nhất là mặt trời thái dương.
Có rất nhiều bằng chứng cho thấy Việt là nọc, đực, dương, mặt trời:
1. Việt là Viêm Việt thuộc ngành thần mặt trời Viêm Đế, có họ Khương, Sừng(vật nhọn). Sừng là vật nhọn là Việt.
2. Đế Minh, tổ thế gian của Đại Tộc Việt là cháu ba đời của thần mặt trời Viêm Đế. Mặt trời là dương, nọc, Việt.
3. Vua Tổ của Đại Tộc Việt là Tổ Đực, Tổ Hùng. Đực là nọc là Việt.
4. Bọc Trứng mang dương tính sinh ra các vua Hùng thế gian toàn là con trai Lang. Dương là mặt trời. Lang là chàng. Chàng có một nghĩa là chiếc đục (chisel), một vật nhọn là Việt.
5. Vua Việt thuộc dòng Con Trai, Tráng Niên, mặt trời mới mọc, là những Lang Hùng. Lang là chàng là Việt.
6. Liên bang của Hùng Vương là Văn Lang.
7. Núi tổ là núi nọc, núi dương gọi là lĩnh, núi Nghĩa Lĩnh nơi có đền Tổ Hùng. Như đã biết là Lĩnh là biến âm với lịnh (cây lệnh), lính (ngày xưa phái nam phải đi lính), linga hàm nghĩa nọc, dương, Việt.
8. Họ Việt thế gian là Hồng Bàng, có một nghĩa là Họ Đỏ, Họ Tỏ, Họ Mặt Trời. Mặt trời là Việt.
9. Nước Việt đầu tiên là Xích Quỉ là Người Đỏ, Người Mặt Trời.
10. Vua Việt thế gian đầu tiên là vua Nọc, Cọc, Vua Cây, Vua Kẻ, Vua Kì, Vua Sừng, Vua Hươu nọc, Hươu Cọc Lộc Tục Kì Dương Vương, Kì Việt Vương.
11. Chim tổ của Đại Tộc Việt là chim Rìu, chim Cắt, chim Việt.
12. Thú tổ của Đại Tộc Việt là con thú cọc, con hươu nọc, hươu sừng, hươu Việt.
13. Vật biểu của ngành Việt là trống đồng Đông Sơn. Trống có một nghĩa là đực, nọc (gà trống). Trống là Việt. Trống đồng Đông Sơn nào cũng có mặt trời có nọc tia sáng mũi mác ở tâm mặt trống. Trống đồng Đông Sơn là trống biểu, vật biểu của Đại Tộc Việt mặt trời thái dương.
14. Khí biểu (ceremonial weapon) là cái vớt, mã tấu, rìu Việt.
…
Tất cả ngành, họ, đại tộc, tổ, vua tổ, vua thế gian đầu tiên, vua lịch sử, người, nước, núi tổ, chim tổ, thú tổ, vật biểu, khí biểu… đều có nghĩa là nọc, đực, dương, mặt trời tức là đều có nghĩa là VIỆT.