Bac Si Nguyen Xuan Quang’s Blog

July 29, 2011

NHỮNG NÉT VĂN HÓA BÁCH VIỆT TRONG MỘ NAM VIỆT VƯƠNG, QUẢNG CHÂU.

Filed under: Mộ Nam Việt Vương Triệu Mô — Quang Nguyen @ 7:45 am

 

 NHỮNG NÉT VĂN HÓA BÁCH VIỆT TRONG MỘ NAM VIỆT VƯƠNG, QUẢNG CHÂU,TRUNG QUỐC.

Nguyễn Xuân Quang

Tàc giả đứng trước tượng Triệu Đà (Zhao Tou) trong Bảo Tàng Viện Quảng Châu, Nam Trung Hoa.

(ảnh Michelle Mai Nguyễn).

Vào năm 214 Trước Tây Lịch (BC), Tần Thủy Hoàng xua quân chiếm Lĩnh Nam và lập ra ba quận: Nam Hải, Quế Lâm và Tượng Quận. Nam Hải là thành Phiên Ngung (Panyu), nay là tỉnh Quảng Châu. Khi nhà Tần suy tàn, Triệu Đà, vị tướng nhà Tần tại địa phương, thống nhất ba quận lại lập nên nước Nam Việt và xưng là Vũ Đế (137 BC-122 BC). Cung điện của Nam Việt là thành Phiên Ngung ở ngay trung tâm tỉnh Quảng Châu ngày nay.

Vương quốc Nam Việt Vương gồm có 5 triều vua kéo dài 93 năm (137 TTL-122 TTL).

Điểm cần lưu ý, vương phả cho thấy Triệu Đà truyền ngôi cho cháu là Triệu Mô (Hồ) chứ không phải cho con là Trọng Thủy. Điểm này cho thấy truyền thuyết nói rằng Trọng Thủy tự tử theo Mỵ Châu có thể là có thật.

Vương quốc Nam Việt còn để lại nhiều di chỉ khảo cổ học tại Lĩnh Nam, Quảng Châu như Cung Điện của Vương quốc Nam Việt, Lăng Mộ Nam Việt Vương và Thủy Môn Bằng Gỗ (Wooden Watergate) của Vương quốc Nam Việt. Thủy Môn này là hệ thồng thoát dẫn nước của thành phố Quảng Châu cách đây 2.000 năm để phòng ngừa lụt lội.

Lăng Mộ Của Triệu Mô

Bài viết này có chủ đích chính là viết về những dấu tích văn hóa Bách Việt còn tìm thấy trong mộ của Triệu Mô qua các chứng tích cổ vật trưng bầy trong Bảo Tàng Viện Nam Việt Vương.

Người nước Nam Việt vốn gốc Bách Việt trong đó có Lạc Việt Tráng dù bị người Hoa cai trị nhưng dĩ nhiên vẫn còn giữ lại cội gốc văn hóa Bách Việt, Người Mặt Trời Thái Dương, có cốt lõi văn hóa lưỡng hợp Chim-Rắn, Tiên Rồng. Văn hóa Bách Việt dĩ nhiên còn thấy ở Bảo Tàng Viện Nam Việt Vương ở Quảng Châu.

Bảo Tàng Viện Nam Việt Vương mở cửa năm 1988, xây ngay tại khu lăng mộ Triệu Mô, cháu của Triệu Đà, đời vua thứ nhì của Vương Triều Nam Việt. Bảo Tàng Viện có chứa 11.465 cổ vật khai quật được. Trong mộ còn tìm thấy xương của 15 người hiến sinh chôn theo vua.

Khu lăng mộ của Triệu Mô (ảnh của tác giả).

 Ngay cổng chính Bảo Tàng Viện, trên cao nhất có hình mặt trời. Đây là biểu tượng của Bách Việt, Người Mặt Trời. Hiển nhiên Nam Việt là một thành phần của Bách Việt. Không một viện bảo tàng nào khác của Trung Quốc có để mặt trời tại ngay cổng chính.

 Hình mặt trời đứng trên cao nhất của mặt tiền Bảo Tàng Viện Nam Việt Vương, Quảng Châu.

Lưu ý mặt trời ở đây có nọc tia sáng là mặt trời nọc Việt thái dương. Có hai loại nọc tia sáng cho thấy mặt trời nọc tia sáng này có khuôn mặt lưỡng hợp nòng nọc, âm dương của nhánh mặt trời nọc thái dương. Cả hai loại nọc tia sáng đều có đầu bằng (không nhọn) cho biết thuộc ngành nọc âm thái dương mặt trời êm dịu.

Nọc tia sáng dài biểu tượng cho phía dương còn nọc tia sáng ngắn hình tam giác ngược biểu tượng cho phía âm.

Mặt trời này cho biết Nam Việt có con dân hay bị ảnh hưởng của văn hóa ngành nọc âm Thần Nông thái dương của Bách Việt. Nói một cách khác là thuộc phía Tầy Thái ngành Lạc Việt  Lạc Long Quân Chấn thái dương.

Trên một bức tường mặt ngoài Bảo Tàng Viện cũng có một kiến trúc mô phỏng lại hình con thuyền trên một thạp đồng tìm thấy trong mộ Nam Việt Vương Triệu Mô (Hồ) tức Văn Đế cháu của Triệu Đà.

 Một kiến trúc trên một bức tường mặt ngoài Bảo Tàng Viện mô phỏng lại hình con thuyền trên một thạp đồng tìm thấy trong mộ Nam Việt Vương Triệu Mô (Hồ) tức Văn Đế cháu của Triệu Đà.

 

Hình vẽ chi tiết một chiêc thuyền trên một chiếc thạp đồng loại Đông Sơn tìm thấy trong lăng mộ Triệu Mô (Treasures From the Nanyue King, The Museum of the Nanyue King, Cultural Relics Press).

Những thuyền này là những thuyền phán xét linh hồn giống như các thuyền trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I. Tuy nhiên cách diễn đạt đã thể điệu hóa nhiều và có nhiều điểm bình dân học vụ hơn như ở thân thuyền bên trái có khắc hình bốn chiếc trống đồng loại trống tượng Nước hình nồi úp Nguyễn Xuân Quang IV hay Heger IV là trống biểu của tộc mặt trời Nước Chấn thái dương ứng với Lạc Long Quân cho biết thuyền này thuộc tộc mặt trời Nước Chấn (sẽ có một bài viết về những con thuyền trên thạp này).

 

 

Chiếc thạp loại Đông Sơn tìm thấy trong lăng mộ Triệu Mô, Văn Đế (137-122 BC) (ảnh của tác giả).

Chiếc thạp loại Đông Sơn này cùng loại với các thạp đồng Đông Sơn tìm thấy ở Việt Nam như thạp Đào Thịnh, Hợp Minh… Các thạp đồng thường dùng làm vật cải táng chôn các phần quan trọng của con người như đầu hay tro than sau khi hỏa táng hay dùng làm vật tùy táng, hộ mệnh cho các linh hồn về cõi hằng cửu hay được tái sinh, vì thế trên mặt thạp thường diễn tả cảnh liên hệ với Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo. Chiếc thạp này có các hoa văn loại của đại tộc Đông Sơn và các hình thuyền phán xét linh hồn mang nét đặc thù của văn hóa lưỡng hợp nòng nọc, âm dương, Chim-Rắn, Tiên Rồng, nguyên lý căn bản của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, Việt Dịch nòng nọc, cốt lõi của văn hóa Bách Việt. Điểm này cho thấy văn hóa Hoa Hán của Nam Việt đã bị Việt hóa. Văn hóa Hoa Hạ, Tần, Hán của dân du mục, võ biền không có văn hóa thuyền phán xét linh hồn.

Vương biểu chính của Triệu Mô là một mặt ngọc thạch hình Rồng-Phượng tìm thấy đặt ở mắt phải của ông ta.

 Mặt ngọc thạch hình Rồng-Phượng, Vương biểu chính của Triệu Mô (ảnh của tác giả).

 Mặt ngọc này được các nhà khảo cổ học Trung Quốc chọn làm biểu hiệu (logo) cho Bảo Tàng Viện Nam Việt Vương này.

Mặt ngọc gồm có hai vòng tròn đồng tâm tức hai nòng, thái âm nước. Vòng trong có hình gọi là rồng. Vành ngoài có hình chim gọi là phượng đứng trên một chân rồng. Phần còn lại là hình thái sóng cuộn to, tròn đầu nước và hình sóng cuộn lửa nhỏ, nhọn đầu. Ta thấy rõ chim-rắn (rồng) là lưỡng hợp nước lửa Tiên Rồng đi đôi với các hình sóng cuộn mây nước- lửa chớp cũng là dạng lưỡng hợp nòng nọc, âm dương.

Ở đuôi rồng có hình đĩa tròn trong có hình móc nước. Theo duy dương đĩa tròn này là mặt trời nước, còn theo duy âm là mặt trăng hay không gian âm nước.

Đĩa tròn này cũng cho thấy Triệu Mô nghiêng về nhánh mặt trời Nước ngành Thần Nông-Lạc Long Quân.

Lưu ý con rồng ở đây rất lớn là chủ thể ở tâm điểm của vương biểu trong khi chim phượng nằm vòng ngoài nhỏ con hơn. Điểm này cho thấy văn hóa Nam Việt nghiêng về nước Rồng mang tính chủ tức bị ảnh hưởng của Lạc Việt. Điểm này cũng thấy rõ là vành ngoài của vương hiệu có những hình mây cuộn lớn, cường điệu cho thấy ngành nước thái dương mang tính chủ.  Mây nước là chủ thể trang trí của Nam Việt thấy khắp nới như:

  

Hìh mây nước trên vách lăng mộ Triệu Mô (ảnh của tác giả).

 

Hình mây nước trên chiếc áo quan bọc ngoài bằng sơn mài của Triệu Mô (ảnh của tác giả).

Hình mây nước  trên tấm bình phong sơn mài (Treasures From the Nanyue King, The Museum of the Nanyue King, Cultural Relics Press).

 Con rồng ở đây cũng có sừng hình móc nước sóng cuộn là con rồng nước thuộc loại rồng Lạc Long Quân. Ta cũng thấy con rồng còn mang hình bóng của con giao long có cốt cá sấu Việt như không có hai sửng mang gạc hai mấu nhọn, lưỡi không lè ra (lưỡi cá sấu dính sát vào hàm dưới). Rồng giao Việt cá sấu Việt thấy rõ hơn qua cái ấn vàng của Triệu Mô.

 Ấn vàng hình rồng giao long của Triệu Mô (ảnh của tác giả).

 Chi tiết rồng giao long trên ấn vàng (Treasures from the Nanyue King, The Museum of the Nanyue King, Cultural Relics Press).

Ta thấy rất rõ con rồng này mang hình dạng cá sấu mõm to, hai tai to như hai sừng mang âm tính, có vẩy cá sấu, chân ba móng. Đuôi cuộn hình móc nước’. Đây là rồng nước giao long của Giao Việt khác hẳn với rồng long Trung Hoa.

Chiếc ấn vàng mang tên Triệu Mô, Văn Đế tìm thấy trong lăng mộ là một bằng chứng xác thực lăng mộ này là của Nam Việt Vương Triệu Mô.

Con chim gọi là chim phượng ở đây cũng mang hình bóng chim tổ của Đại Tộc Việt là con chim Rìu, chim Việt mỏ cắt.

Chim phượng còn mang hình ảnh con chim Rìu, chim Việt mỏ Cắt.

 Chim phượng trong vương biểu Rồng-Phượng của Triệu Mô có mỏ rất lớn như mỏ rìu và có mũ sừng, đây chính là con chim mỏ Rìu, chim Việt mỏ Cắt vật tổ của ngành mặt trời thái dương Viêm Đế.

Xác của Triệu Mô được cho mặc một chiếc áo liệm bằng ngọc thạch gồm 2.291 thẻ ngọc ráp lại, cột bằng sợi tơ lụa.

 Xác Triệu Mô được liệm bằng chiếc áo bằng ngọc thạch ráp lại (ảnh của tác giả).

Theo quan niệm xưa các vua chúa được liệm trong áo ngọc thạch vì tin là ngọc thạch giữ cho xác không bị luỗng thối.

Trong mười bộ áo liệm bằng ngọc thạch tìm thấy ở Trung Quốc, bộ áo này là bộ áo lâu đời nhất được kết bằng sợi tơ lụa. Điều này cho thấy tơ tằm có rất sớm trong văn hóa Bách Việt.

Hiển nhiên văn hóa Lạc Việt mặt trời nước còn thấy rõ trong văn hóa Nam Việt. Lịch sử của người Tráng Zhuang  cũng đã ghi lại là nước Nam Việt  được người Tráng Zhuang hỗ trợ cho tới khi Nam Việt suy tàn vào năm 111 Trước Tây Lịch ( Lạc Việt Tráng Zhuang).

Một Vài Cổ Vật Việt Khác

Ngoài ra trong mộ còn tìm thấy nhiều chứng vật liên hệ với văn hóa Bách Việt như:

.Người dũng sĩ Việt được dùng làm chân đỡ tấm bình phong:

Dũng sĩ Việt dùng làm chân đỡ bình phong (ảnh của tác giả).

Người dũng sĩ Việt tay cầm đầu rắn và miệng ngậm rắn. Các nhà khảo cổ học Trung Quốc cho rằng dùng rắn là mục đích để xua đuổi đi tà ma, điều xấu. Thật ra rắn là vật tổ của ngành nước Thần Nông-Lạc Long Quân-Lạc Việt có ý nghĩa bao gồm trọn vẹn tất cả ý nghĩa của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo hiển nhiên trong đó có ý nghĩa duy tục là che chở, bảo mệnh.

.Nồi ba chân bằng sắt kiểu đặc thù Việt.

Ngoài nhiều dụng cụ bằng đồng, đặc biệt nhất là chiếc nồi ba chân bằng sắt kiểu đặc thù Việt.

Nồi sắt kiểu đặc thù Việt ba chân (Treasures from the Nanyue King, The Museum of the Nanyue King, Cultural Relics Press).

 Chiếc nồi sắt kiểu đặc thù Việt là mẫu vật bằng sắt lớn nhất tìm thấy ở vùng Lĩnh Nam này cộng chung với 190 dụng cụ bằng sắt tìm thấy trong lăng mộ cho thấy Nam Việt đã có một kỹ thuật cao trong việc tôi luyện đúc đồ sắt.

Trong lăng mộ không tìm thấy trống đồng mà chỉ có thạp đồng Đông Sơn vì thạp đồng như đã nói ở trên liên hệ với mai táng trong Vũ Trụ giáo. Tuy nhiên ở những nơi khác ở Quảng Châu dĩ nhiên cũng tìm thấy trống đồng. Đặc biệt nhất là tìm thấy một chiếc trống bằng gốm làm theo kiểu trống đồng.

Trống gốm có niên đại đời Tây Hán làm theo kiểu trống đồng tìm thấy ở Nongliaxia, năm 1986 hiện để tại Bảo Tàng Viện Quảng Châu (ảnh của tác giả).

Trống đồng bằng gốm này cũng giống trống đồng bằng đất sét là chứng tích hùng hồn cho thấy trống đồng không phải làm ra với chủ đích dùng làm bộ gõ trong âm nhạc mà là trống mang ý nghĩa biểu tượng tín ngưỡng.

Vân vân…

Tóm lại những chứng tích khảo cổ học tìm thấy ở lăng mộ Triệu Mô Văn Đế cháu của Triệu Đà Vũ Đế cho thấy Nam Việt vẫn còn giữ nguyên cốt lõi của Bách Việt và văn hóa Tần Hán đã bị Việt hóa. Triệu Mô nghiêng về ngành nòng âm thái dương Thần Nông Lạc Long Quân của Bách Việt, Người Mặt Trời.

Sự vắng bóng của con Triệu Đà qua sự kiện Triệu Đà truyền ngôi cho cháu Triệu Mô cho thấy con trai Triệu Đà là Trọng Thủy đã mất vì thế truyền thuyết cho rằng TrọngThủy tự tử chết theo Mỵ Châu có thể là có thật.

 

 

LẠC VIỆT TRÁNG (CHOANG)… (phần 1).

Filed under: Lạc Việt Tráng Zhuang 1 — Quang Nguyen @ 7:18 am

LẠC VIỆT TRÁNG (CHOANG, ZHUANG) VÀ LẠC VIỆT VIỆT NAM.

(phần 1)

Nguyễn Xuân Quang

 Người Zhuang (tiếng Zhuang ouчcueŋь/Bouxcuengh phát âm là bou shung, Hán ngữ giản thể 壮族 phồn thể 壯族, phiên âm Zhuàngzú) là một tộc sống phần lớn ở vùng Tự Trị ở Quảng Tây miền Nam Trung Hoa. Một số sống ở VânNam, Quảng Đông và HồNam. Dân số hơn 18 triệu người, đứng hàng thứ nhì sau tộc Hán ở Trung Quốc. Đây là sắc tộc lớn nhất ở Trung Quốc (1).

Các học giả Trung Quốc phân định rõ người Tráng Zhuang là người minzu hiện nay, nhưng thích dùng từ xianzu [ancestors] chỉ tổ tiên của Tráng Zhuang.  Đa số xưa và nay đồng thuận cho rằng tổ tiên của ngươi Tráng Zhuang là Bách Việt.

Khác với người Trung Hoa cổ và các học giả theo tài liệu cổ cho rằng Bách Việt là những kẻ man di, các khảo cổ học và các chứng cứ về sử thời ban sơ cho thấy người cổ Việt đã văn minh đầy đủ như người trung nguyên (The early history of the Yue, for example, reveals them to be fully as civilized as were the peoples of the central plain) (2). Các học giả Trung Quốc hiện nay cho rằng người Việt phía nam, tiền nhân, tổ tiên người Tráng Zhuang phải được xem là có nguồn gốc từ một nền văn hóa bản địa thời Tân Thạch ở vùng đông nam Trung Hoa (Zhuang  Chinese mainland scholars now hold that the Yue of the south who are antecedent to the Zhuang should be viewed as originating in a Neolithic era culture native to southeast China).

Từ Yue chỉ tất cả nhóm người ở phía nam nội địa Trung Quốc và ở phía bắc gồm các tỉnh Phúc Kiến (Fujian),Zhejiang,Jiangsuvà Giang Tây (Jiangxi).

Tiến xa hơn các học giả Trung Quốc cho họ thuộc đại tộc Lạc Việt (Loyue) (2).

Lạc Việt Tráng Zhuang ruột thịt với nhánh Lạc Việt ngành Lạc Long Quân, 50 con xuống biển của người Việt.

Do đó tìm hiểu về người Zhuang ta sẽ rút tỉa ra được nhiều điều để bổ túc, để kiểm chứng, để sửa sai nhưng điều chúng ta hiểu về người ViệtNamhiện nay.

 Nguồn Gốc

 .Tầm Nguyên nghĩa ngữ từ Zhuang.

Tên Zhuang (Rao) ngày xưa được viết là 獞 có một nghĩa là chó hoang  liên hệ với loài sói lang. Tên này viết với bộ khuyển (chó). Thường được cho đây là một tên phỉ báng của người Trung Hoa cổ gọi các tộc sống chung quanh là man di mọi rợ (tứ di), là bọn khuyển mã. Tới năm 1949 bộ khuyển được thay thế bằng bộ nhân (người). Ngày nay thay bằng tên Tráng 壮, có nghĩa là ‘mạnh’ (hùng tráng). Việt Nam gọi là tộc Choang, Cháng.

Sau đây là lý giải  của anh Đỗ Ngọc Thành qua thư riêng:

Tiếng Bắc Kinh và Quãng Đông và Triều Châu đều đọc Phát âm 獞/Choang và 壮/Choang như nhau, nên người ta đã thay đỗi chữ viết và dùng Choang-壮 mới = Xưa, thì là Choang-獞.

   獞-Choang ? hay nghĩa là 獞/Chó-Hoang ? (Chó Hoang= 獞/Choang; viết và dùng chữ “Choang” hay “Trang”/”Tráng” …chỉ là dùng chữ mới cho văn nhả và hoàn toàn là áp đặt) Phát âm “Choang” là “Chó+Hoang” thì chỉ có tiếng Việt mới “lý giãi” nỗi ý nghĩa của “Choang”! Và chính xác thì xưa kia không có tộc Choang của nghĩa “壮=trang/Tráng” mà chỉ có Tộc Choang của nghĩa là “獞=chó Hoang” và được viết bằng chữ -Đồng => Tôi phải viết là “Đồng/獞” trước đã…vì tự điễn và đa số người ta theo tự điễn, và đọc chữ đó là “Đồng/獞”, người ta đọc là “Đồng”vì theo bộ chữ “Đồng-童” ( Đồng: Đồng Tử, nghĩa là con nít), theo tôi, thật ra thì chữ nầy phải đọc là “Chồn”/(Con Chồn/ Chồn, Cáo…cùng loài với loài Chó)/ Xét về ý nghĩa của “chó” mà người ta không nuôi trong 6 súc, mà lại có phát âm là Ồng, Ôn, ồn …thì chỉ có con Chồn…Quảng Đông đọc ”童-Thùng” và”獞-Chung/Chùng”. Chử nầy  ““ được ghép bỡi bộ Khuyễn- và Đồng-.

 Theo cách lý giải của anh Đỗ Ngọc Thành cho rằng Đồng có một nghĩa liên hệ với loài chồn cáo rất có lý vì đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, như đã biết, chồn cáo là khuôn mặt thái âm của chó, sói lang (có khuôn mặt thiếu âm khí gió). Lạc Long Quân có thú biểu là loài chồn cáo tên là con chồn Lạc có mõm nhọn (chồn Việt), có hồ Tây có tên là “đầm xác cáo”, có con dân sống quanh hồ tên là “Đổng thôn” (Xóm Cáo Chồn). Đổng này chính là Đồng của anh Thành.

Vì có cốt cáo chồn nên  Lạc Long Quân mới diệt được con cáo chín đuôi đã thành tinh. Di thể DNA cáo chồn này truyền xuống cho 50 con nhánh nước Hùng Vương thành di thể sói lang, thiên cẩu, chó (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Trong sử đồng cũng ghi lại rất rõ. Trên một trống đồng Lào còn khắc ghi lại hình ảnh một con thú thuộc loài chồn cáo (weasel) (xem Trống Văn Lang Trống Miếu Môn I).

Hình chồn cáo trên một trống Lào (A.B. Kempers).

Như thế chồn cáo là vật tổ của một tộc ở Lào. Tại sao có tộc người Lào thờ chồn cáo (trong khi chúng ta thờ chó, sói lang? (Trống Văn Lang Trống Miếu Môn I). Xin thưa, lịch sử (xem dưới) của người Tráng Zhuang cho thấy một nhánh Tráng Zhuang di cư xuống phía nam trở thành người Lào, Thái. Điểm này cho thấy rõ người Lạc Việt Tráng Zhuang thờ trống đồng nòng nọc, âm dương như Lạc Việt Việt Nam nên nhánh Tráng Zhuang xuống Lào cũng có trống đồng và trên trống đồng của họ còn ghi khắc lại hình ảnh vật tổ chồn cáo của họ. Suy ra nơi đâu có trống đồng nòng nọc, âm dương là nơi đó có Lạc Việt nói riêng và Bách Việt nói chung.

Bây giờ ta hãy thử tìm hiểu ý nghĩa tên của tộc này dưới lăng kính của văn hóa Việt Nam và Bách Việt xem sao.

Thật ra người Trung Hoa cổ gọi tên các tộc ‘tứ di’ thường vẫn dựa vào tên cũ của tộc đó sửa đổi nghĩa đi và cho thêm các bộ thú vật, côn trùng vào để có thêm nghĩa miệt thị. Tên Zhuang cổ với nghĩa là loài ‘chó hoang dã’ sói lang có thể là tộc Zhuang vốn là một tộc ruột thịt với liên bang Văn Lang của Hùng Lang, Hùng Vương. Trong Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt ta đã biết Hùng Vương sinh ra từ bọc trứng thế gian (đội lốt Trứng Vũ Trụ) có một khuôn mặt là Bầu Trời, khí gió nên có thú biểu bốn chân sống trên mặt đất là con chó sói lang mà dân dã Việt Nam gọi là thiên cẩu (có nơi ở Việt Nam còn múa thiên cẩu vào dịp Tết). Con sói, con lang có đặc tính là tru, hú (con chó là con chú, con hú, con hound là con howl, Mã ngữ angin (wind) biến âm với anjing (dog) nên biểu tượng cho gió (giống như chim tu hú biểu tượng cho cho gió). Trong Thủy Kinh Chú cũng gọi vài tộc Bách Việt ở Nam Trung Hoa lúc đó là bọn ‘Sói Lang’. Như thế Zhuang với nghĩa ‘chó hoang’ liên hệ với liên bang Văn Lang của Hùng Vương.

Bằng chứng cụ thể nhất là hình ảnh thiên cẩu sài lang, lang trời còn thấy ghi khắc lại trên trống thú biểu Mang Lang tức trống Văn Lang qua hình ảnh thú biểu của ngành nọc âm thái dương mặt trời Nước Lạc Long Quân Lạc Việt (Trống Văn Lang Trống Miếu Môn I).

 Sói Lang là vật tổ cũa Tráng Zhuang Sói Lang còn thấy rõ qua tục múa chó khi trẻ em vừa lọt lòng mẹ (Newborn dog dance) của tộc Jingxi của người Tráng Zhuang.

  Tục múa chó lúc trẻ sơ sinh ra đời của Jingxi, một chi tộc Tráng Zhuang (ảnh chụp tại Viện Bảo Tàng Các Sắc Tộc Quảng Tây ở Nam Ninh của tác giả).

Tên Tráng Zhuang hiện nay viết với chữ sĩ 壮. Ta có từ đôi tráng sĩ. Theo qui luật từ đôi của Nguyễn Xuân Quang ta có Tráng = Sĩ (Tiếng Việt Huyền Diệu). Qua bài viết Kẻ Sĩ ta cũng đã biết Sĩ = Kẻ. Kẻ, Sĩ có nguồn cội, gốc gác xa thăm thẳm từ bộ giống của phái nam,  từ chữ nọc que trong chữ viết nòng nọc vòng tròn-que, một thứ viết cổ nhất của nhân loại. Như thế tộc Tráng Zhuang với Tráng viết với chữ Sĩ liên hệ với  nọc, cọc, dương, mặt trời, tức thần mặt trời Viêm Đế-Thần Nông (nhất thể). Tráng liên hệ với Kẻ, Kì Dương Vương nằm trong nước Xích Quỉ Người Mặt Trời. Ta cũng thấy rõ qua từ đôi Hùng Tráng thì Tráng = Hùng. Tráng Zhuang là con cháu của Tổ Hùng, là một tộc trong liên bang Văn Lang của Hùng vương.

Việt ngữ Choang có một nghĩa là Sáng như thấy qua từ đôi sáng choang. Vật người Choang, Tráng là người mặt trời sáng choang, hừng rạng.

Ta cũng đã thấy rõ Tráng Zhuang thờ mặt trời qua các hình vẽ trên vách đá ở Hoa Sơn (Huashan) qua bài viết Đạo Mặt Trời của Bách Việt.

Ta cũng đã biết Việt có nguồn gốc từ Việt ngữ Vọt (que), Vớt (con dao dài dùng làm khí giới) nên có nghĩa theo Hán Việt là vượt (dùng vọt đánh cho thú vật vượt qua chướng ngại vật, vọt đi, vọt chạy nhanh), rìu búa (dùng làm khí giới). Hùng (Vương) có một nghĩa là đực, nọc, cọc. Việt, Hùng cũng có gốc gác xa thăm thẳm từ bộ giống của phái nam (với nghĩa sinh tạo), từ chữ nọc que trong chữ viết nòng nọc vòng tròn-que.  Nọc, cọc là đực là dương là mặt trời.

Như thế Tráng Zhuang với chữ Sĩ thờ thần mặt trời Viêm Đế-Thần Nông ruột thịt Người Mặt Trời Xích Quỉ của Kì Dương Vương, với Hùng Vương, Vua Mặt Trời, với liên bang Văn Lang Bách Việt nhưng Tráng thuộc ngành nọc âm thái dương Thần Nông đúng như họ tự nhận là Lạc Việt Loyue.

Người Tráng Việt Zhuang và Việt (Yue).

Các học giả Trung Quốc chia Bách Việt ra làm hai nhóm: nhóm Bắc và nhóm Nam. Tộc Zhuang thuộc nhóm Nam khác với nhóm Bắc sống ở vùng duyên hải. Như đã nói ở trên, ngày nay Zhuang phần lớn sống ở Quảng Tây và ở vùng biên giới Bắc ViệtNam và một số nhỏ ở VânNam, Quảng Đông và HồNam.

Một vài học giả Trung Quốc còn chia nhóm Bách Việt phía Nam ra làm hai tiểu nhóm: đông nam và tây nam. Nhóm tây nam nội địa ít bị ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa nghĩa là ít bị Hán hóa hơn các tộc Bách Việt thuộc nhánh phía nam nhưng sống ở duyên hải kể cả vùng Quảng Đông (nhánh đông nam). Nhóm tây nam nội địa tiêu biểu cho văn hóa Zhuang thuần túy nhất, nguồn gốc nhất. Nhánh tây nam còn có nhiều tộc Việt như người Miao, Yao, Động (Dong), Buyi, Shuiji và Li.

Cũng nên biết là dọc theo dòng lịch sử hàng nghìn năm, người cổ Việt luôn luôn chống lại ách đô hộ của người Hán ‘ those who wished to cast off the Han Chinese yoke often identified with ancient Yue’ (Chapter 1: Origins Of The Zhuang: The Bai Yue http://mcel.pacificu.edu/as/resources/zhuang/zhuang1.htm#anchor_chapter_47857).

Thời Tiền Sử

Địa khai hay vật hóa thạch sọ Homo sapiens Liujiang cho thấy người Rao (Zhuang, Tai) đã sống ở Quảng Tây lâu hơn bất cứ nền văn minh nào. Tráng Zhuang có gốc Tai (Thái). Họ có một hệ thống dẫn nước độc đáo để trồng lúa nước. Chống lại sự tàn phá của người Trung Hoa một nhóm Tais di cư xuống phía Nam vào khoảng 1.100 Sau Tây Lịch trở thành người Thái Lan, Lào (dĩ nhiên một số cũng có mặt ở Đông Dương Indochina) và người Shan ở vùng cực tây Vân Nam đến tận Assam, Ấn-Độ (1).

Ở đây so sánh với bộ sử đồng Đông Sơn do tôi khám phá ra cũng thấy rất ăn khớp. Trong Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á ta đã biết trống của tộc Tráng Zhuang thường là trống trệt Nước thái âm hình cái âu, cái nồi úp Nguyễn Xuân Quang IV (Heger IV) và trống Shan thường có hình lọng Gió thiếu âm Nguyễn Xuân Quang III (Heger III). Như thế trống Tráng Zhuang Nước thái âm (âm của âm, Khôn âm) và trống Shan Gió thiếu âm (dương của âm, Khôn dương) thuộc ngành Khôn Thần Nông-Lạc Long Quân (người Shan nhận họ là con cháu của Rồng). Tráng Zhuang (Lạc Việt Nước) và Shan (Lang Việt Gió) ruột thịt với nhau, có cùng dòng máu Khôn mà các nhà khảo cổ học và nhân chủng học cho họ cùng gốc Zhuang, Tai như đã nói ở trên.

Xin nhắc lại là hình dáng của trống đồng nòng nọc, âm dương cho biết bản sắc của từng tộc của đại tộc Bách Việt và ghi lại biên giới tổng quát của liên bang Văn Lang. Trống loại III, IV đã nói ở trên. Trống Đất Nguyễn Xuân Quang V (Heger II) tượng Lửa thế gian, đất dương Li hình trụ nón cụt đầu thấy nhiều ở vùng núi cao ở Việt Nam là trống của các tộc người núi tức đại tộc Kẻ, Kì của Kì Dương Vương thuộc ngành lửa Viêm Đế như người Mường chẳng hạn (văn hóa người Mường ngả về phía ngành Lửa Âu Cơ-Kì Dương Vương-Viêm Đế). Trống Đông Sơn hình Cây Nấm Vũ Trụ (Cây Nấm Tam Thế, Cây Nấm Đời Sống) Nguyễn Xuân Quang IV (Heger l) thấy rất nhiều ở Việt Nam (nên các nhà khảo cổ Việt Nam gọi là trống Đông Sơn) do bốn loại trống ứng với  tứ tượng là Trống tượng Lửa hình trụ ống Nguyễn Xuân Quang II (trống moko của Nam Dương là một dạng trống loại II); trống hình lọng tượng Gió Nguyễn Xuân Quang III (Heger III) (phần lớn trống Shan thuộc loại này); trống trệt hình nồi úp tượng Nước Nguyễn Xuân Quang IV (Heger IV, Heger gọi loại này là trống Nam Trung Hoa) thấy nhiều ở tộc Tráng Zhuang; trống hình nón trụ tròn cụt đầu tượng Đất Nguyễn Xuân Quang V (Heger II), phần lớn trống ở vùng núi cao ở Việt Nam. Bốn loại trống ứng với tứ tượng này tạo thành trống Cây Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI hay Heger I tức trống Đông Sơn (tứ tượng dương và tứ tượng âm liên tác sinh ra Vũ Trụ, Tam Thế, muôn sinh được biểu tượng bằng Cây Vũ Trụ, Cây Tam Thế, Cây Đời Sống). Ta thấy rõ như ban ngày trống Đông Sơn Nguyễn Xuân Quang VI Cây Vũ Trụ là trống biểu của liên bang Văn Lang bao gồm bốn đại tộc của hai ngành Chim, Tiên, Viêm Đế (Viêm Đế có trống Viêm Lửa vũ trụ Càn là trống tượng Lửa vũ trụ Nguyễn Xuân Quang II và trống Đế Lửa thế gian Li trống Lửa thế gian Đất Nguyễn Xuân Quang V) và ngành nọc âm thái dương Rắn, Rồng, Thần Nông (Thần Nông có trống Thần Nước là trống Nước Nguyễn Xuân Quang IV có trống Tráng Zhuang làm đại diện và trống Nông Gió là trống Nguyễn Xuân Quang III, trống Shan làm đại diện).

Lưu Ý

Xin nhắc lại vì trống có một nghĩa là  đực dương, mặt trời biểu tượng cho ngành mặt trờ thái dương nên Thần Nông ở đây thuộc phía nọc âm thái dương mặt trời êm dịu chứ không phải là Thần Nông thái âm không gian.

Sử đồng Đông Sơn cho thấy rõ và sờ thấy được là người Tráng Zhuang là chi nhánh Lạc Việt thuộc Đại Tộc Việt và vì thế mà họ thờ trống đồng, là tộc có nhiều trống đồng nhất ở Nam Trung Hoa.

Ở đây một lần nữa cho thấy rõ trống đồng nòng nọc, âm dương là của đại tộc Đông Sơn, của Bách Việt mà Việt Nam hiện nay là di duệ duy nhất còn tồn tại.

Dù cho người Trung Quốc hiện nay cho rằng trống Vạn Gia Bá ở Chử Hùng Vân Nam là trống cổ nhất (biết đâu một ngày nào cũng có thể tìm thấy một trống trong lãnh thổ Việt Nam còn cổ hơn nữa) thì trống đó cũng là trống của Bách Việt.

Thời (Có) Lịch Sử

Nhà ĐôngChu(475-221 BC) gọi các tộc nam Trung Hoa là Bách Việt (Bai-Yue 百越/百粵). Nhà Tần chiếm Đông Quảng Tây vào năm 214 Trước Tây Lịch. Nhà Hán để củng cố sự cai trị cho được vững chắc miền này đã cho đào kênh Ling nối liền Xiang với sông Lijiang (Lệ Giang), là trục thủy đạo nối liền Bắc-Nam. Khi nhà Tần sụp đổ, tướng Triệu Đà (Zhao Tuo) lập nên nước Nam Việt. Nước này được người Tráng Zhuang hỗ trợ cho tới khi Nam Việt suy tàn vào năm 111 Trước Tây Lịch.

Năm 42 Sau Tây Lịch, Hai Bà Trưng nổi dậy trong đó có sự hỗ trợ của các tộc Bách Việt ở nam Trung Hoa. Khi Mã Viện dẹp được Hai Bà Trưng, Mã Viện tìm cách‘ve vãn’ người Tráng Zhuang (là sắc tộc địa phương lớn nhất). Ông ta cải cách giới chức cầm quyền Tráng Zhuang địa phương, hoàn thiện tiện ích công cộng như cho đào kênh dẫn nước làm ruộng. Những việc này giúp đời sống Tráng Zhuang khá hơn. Một số tộc Tráng Zhuang đã bị Hán hóa. Nhiều đền miếu tôn vinh Mã Viện được xây dựng còn thấy ngày nay. Xin mở một dấu ngoặc ở đây. Điểm này giải thích một số người  Lạc Việt Tráng Zhuang bị Hán hóa tôn vinh, tưởng niệm Mã Viện trong khi đó Mã Viện là kẻ thù người Việt Nam phía Hai Ba Trưng. Ngày nay Trung Quốc lại dùng bài bản Hán hóa Việt Nam. Thay vì dùng các người Lạc Việt Tráng Zhuang đã bị Hán hóa (gần như các người Tráng Zhuang nhánh phía đông nam đã bị Hán hóa hoàn toàn) làm lễ tưởng niệm Mã Viện, họ lại dùng các người jing (Kinh) làm lễ tưởng niệm Hai Bà Trưng.

Những người này vốn là những người Việt, vào khoảng thế kỷ 16, di cư lên lập nghiệp ở vùng Trường Bình – Bạch Long, bấy giờ thuộc Đại Việt nhưng theo Công ước Pháp-Thanh ký năm 1887 thì Trường Bình bị sáp nhập vào Trung Hoa (vi. Wikipedia). Họ sinh sống chủ yếu trên 3 đảo (Vạn Vĩ, Sơn Tâm và Vu Đầu), nay gọi chung là Kinh Đảo hay Kinh tộc Tam Đảo, thuộc thị xã Đông Hưng, khu tự trị người Tráng hay Choang Quảng Tây (xem Lạc Việt Tráng Zhuang ở mục Hình Tiêu Biểu Của Tháng Bẩy 2011, bacsinguyenxuanquang.wordpress.com).

Đây là dã tâm của họ.

Sau khi nhà Hán sụp đổ, người Yao (một tộc Bách Việt) từ Hồ Nam vùng phía nam hồ Động Đình di cư xuống ở Guiping Quảng Tây, họ vốn chống nhà Hán mãnh liệt làm cho người Tráng Zhuang nhiều khó khăn vì người Tráng Zhuang đã bị Hán hóa ít nhiều dù là thụ động. Dưới thời nhà Đường, Quảng Tây trở thành một phần của Đạo Lĩnh Nam (Ling-nan Tao) với cả Hải Nam và Quảng Đông hiện nay. Người Tráng Zhuang về sau lại chuyển hướng hỗ trợ vương quốc gốc Thái là Nam Chiếu (Nanchao) ở Vân Nam. Quảng Tây lúc đó chia ra làm hai vùng: vùng thuộc chủ quyền người Tráng Zhuang ở tây Nam Ninh và vùng chủ quyền nhà Hán ở phía đông Nam Ninh. Sau khi nhà Đường suy tàn, một vương quốc tên là Nam Hán (Southern Han) thành hình ở Quảng Đông nhưng vương quốc này cũng không kiểm soát được người Tráng Zhuang. Về sau Nam Hán về tay nhà Tống vào năm 971. Nhà Tống dùng chính sách vừa dùng vũ lực vừa dùng bàn tay bọc nhung xoa dịu người Tráng Zhuang. Tuy nhiên năm 1052, một lãnh tụ người Tráng Zhuang tên là Nồng Chí Cao (Nong Zhigao) nổi dậy và lập lên vương quốc độc lập ở vùng Tây Nam. Nhà Tống thẳng tay trừ khử người Tráng Zhuang một cách tàn bạo. Thời Tống là một điểm rẽ quan trọng trong lịch sử người Tráng Zhuang. Từ đó người Tráng Zhuang coi như một nhóm chùng tộc có một văn hóa và lịch sử cá biệt.

Nhà Nguyên diệt nhà Tống và quyết định biến phía nam Trung Hoa thành một tỉnh của Trung Quốc. Việc này gây căm phẫn không những chi người Tráng Zhuang mà cả các sắc tộc khác. Các tộc Miao rời bỏ HồNamxuống vùng đất Tráng Zhuang. Lúc này miền nam Trung Hoa đầy bạo loạn. Nhà Minh (1368-1644) dùng người Tráng Zhuang đánh ngườiYaovốn chống đối người Hán rất mãnh liệt nhưng ngườiYaolúc này lại là kẻ thù nghịch với người Tráng Zhuang vì chiếm đất của người Tráng Zhuang. Sau khi lực lượng người Yao chống lại người Trung Hoa bị tàn lụi, nhà Minh dùng lực lượng quân sự đã giúp nguời Tráng Zhuang quay qua giết các lãnh tụ người Tráng Zhuang. Đây là giai đoạn đẫm máu nhất. Trận chiến ở Họng Sông Rattan (Rattan Gorge) vào năm 1465, cho biết có tới 20.000 người chết.

Đến thời nhà Thanh (1644-19120, miền nam Trung Hoa vẫn hỗn độn. Người Yao nổi loạn vào năm 1831. Hai 20 năm sau, tại vùng này có cuộc Nổi Dậy Thái Bình (taiping Rebellion). Vụ sử tử giáo sĩ Pháp đưa đến trận chiến tranh Á phiện Thứ Nhì năm 1858.

Trận chiến Pháp-Hoa năm 1885 đặt Việt Namdưới quyên đô hộ của Pháp và mở ra một giai đoạn xâm lấn của ngoại quốc vào đất Trung Quốc.

Thời Hiện Đại

Cùng với Quảng Đông, Quảng Tây trở thành vùng Cách Mạng Quốc Gia của Tôn Dật Tiên. Khi nhà Thanh sụp đổ, nguời Tráng Zhuang gởi đại diện tới chính quyền trung ương để xin cho Quảng Tây tự trị nhưng thất bại. Sự không chấp thuận này đưa đến sự nổi dậy của “Quảng Tây Clique’. Giữ được tự cai trị  trong hai năm, hai nhà lãnh đạo Tráng Zhuang Li-Tsung-jen và Li Chi-shen đã hiện đại hóa Quảng Tây nhưng Tưởng Giới Thạch đã nghiền nát một cách tàn bạo của nổi dậy vào năm 1929. Mặc dù “Clique” thất bại, Tưởng Giới Thạch cũng không thể đặt Quảng Tây dưới quyền cai trị của trung ương cho mãi tới năm 1950. Sự đàn áp Quảng Tây của Quốc Dân Đảng (Kuominhtang) đưa tới sự hỗ trợ lan rộng cho chủ nghĩa Cộng Sản.

Trong Trận Chiến Thế Giới Thứ Hai, Quảng Tây là mục tiêu chính của Nhật Bản. Năm 1944, người Nhật chiếm một nửa phía tây Quảng Tây nhưng với sự kháng cự kiên cường của du kích Tráng Zhuang  người Nhật phải tháo chậy (Chapter 1: Origins Of The Zhuang:  The Bai Yue)

http://mcel.pacificu.edu/as/resources/zhuang/zhuang1.htm#anchor_chapter_47857).

VĂN HÓA

Ngôn Ngữ

Người Tráng Zhuang có một thứ ngôn ngữ bản địa và có một thứ chữ tượng hình cổ một ngàn năm dựa trên Hán ngữ (một thứ chữ ‘nôm’ Tráng Zhuang) và hiện nay chính thức được viết vằng chữ La Mã (giống như Việt Nam ngày nay dùng chữ Quốc ngữ).

Tên Bảo Tàng Viện Sắc Tộc Quảng Tây, Nam Ninh được viết bằng chữ ‘quốc ngữ’ Tráng Zhuang ở trên hàng chữ Hán.

Ta đã biết Tráng Zhuang có gốc hay ruột thịt với Tai (thái) vì thế ngôn ngữ Tráng Zhuang ruột thịt với Tầy Thái. Tráng và Nùng có liên hệ mật thiết huyết thống và ngôn ngữ (như đã thấy Nùng Chí Cao là người thuộc một chi tộc Tráng Zhuang). Như thế ngôn ngữ Tráng Zhuang dĩ nhiên liên hệ với Việt ngữ. Đây là lý do H. Maspero trước đây cho rằng Việt ngữ thuộc nhóm ngôn ngữ Tầy Thái (ViệtNamcó một rễ Lạc Việt ruột thịt với Lạc Việt Tráng Zhuang).

.Vũ Trụ Quan, Nhân Sinh Quan

Tín ngưỡng

Các nhà khảo cứu hiện nay cho rằng người Tráng Zhuang cổ theo tôn giáo bái vật (animist) và thờ phượng tổ tiên. Theo tôi, cái gọi là thờ phượng bái vật của người Tráng Zhuang cũng như của Bách Việt cổ là nhìn theo con mắt cho đó là một thứ tà giáo (pagan), thật ra sự tôn thờ ‘bái vật’ này nằm trong  Vũ Trụ giáo. Ví dụ thờ cây cổ thụ không hẳn là coi là cây có tà ma mà coi cây là biểu tượng cho Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống), cây là thần tổ sinh ra của loài người (như theo truyền thuyết Mường Việt,  Cây Si sinh ra Dạ Dần, người đàn bà nguyên khởi, Mẹ Đời sinh ra loài người và Mường Việt, văn hóa Thung Lũng Indus cũng cho rằng Cây Đa sinh ra Mẹ Đời) . Tôn giáo bái vật và thờ phượng tổ tiên nằm trong Vũ Trụ giáo của Bách Việt. Người Tráng Zhuang thờ Vũ Trụ giáo và Mặt Trời giáo như nguời Bách Việt cổ.

Thờ phượng tổ tiên nằm trong Vũ Trụ giáo, bằng chứng là chữ Tổ   nguyên thủy có nguồn gốc viết theo Trục Thế Giới nối Tam Thế trong Vũ Trụ giáo. Chữ Tổ

gồm chữ thần và chữ qié.

Qié thả: có nghĩa là tạm thời, một lát, hãy còn… Qié trên giáp cốt vẽ hình bàn thờ tổ tiên hình dương vật. Dương vật là cọc, nọc, trụ. Đây chính là trụ chống trời, Trục Thế Giới thấy rõ qua hình thần Đất Keb của Ai Cập cổ có dương vật chống nữ thần bầu trời Nut (Sự Tương Đồng Giữa Cổ Sử Việt và Ai Cập cổ). Ta thấy rất rõ trụ thờ tổ tiên chia ra làm ba tầng ứng với Tam Thế. Qié biến âm với Việt ngữ Kẻ là cọc (thước kẻ), với Kì núi trụ thế gian), với Kẻ là Người (Kẻ Sặt). Âm thả biến âm với thổ là đất. Thổ, đất thế gian liên hệ với Trụ Chống Trời được biểu tượng bằng Núi Trụ Thế Gian (núi Kì), trong ngũ hành của Trung Hoa khi diễn tả theo hình vuông thì hành Thổ ở giữa tâm hình vuông, tức là hành trục, cột trụ. Trong giáp cốt văn Thổ  được diễn tả bằng một trụ đá mang hình ảnh  núi trụ thế gian, núi Kì, trụ chống trời. Ông Bàn Cổ [Bàn là phiến đá bằng như bàn thạch là đế giữ trụ cho vững và Cổ là cột trụ (cổ là cột trụ cắm đầu vào thân mình)]. Ông Bàn Cổ là ông Trụ Chống Trời biểu tượng cho cõi đất thế gian.

Trong giáp cốt văn Thổ (tũ) được diễn tả bằng một trụ đá.

Ông Bàn Cổ được coi là ông bành tổ, ông tổ của con người trên trái đất.

Tại sao ngày nay hiểu thả theo nghĩa là tạm thời, chốc lát? Là vì thả biến âm với thổ nên ngày nay mới có nghĩa như vậy. Thổ có một nghĩa bóng là tạm thời, thoáng qua còn thấy qua chứng tích câu “tiền tài như phấn thổ” (tiền tài như bụi đất).

Trong bài Kẻ Sĩ ta cũng thấy chữ thổ viết tương tự như chữ  , chỉ khác nét ngang ở đáy. Theo qui luật từ đôi ta có Kẻ = Sĩ. Sĩ có một nghĩa là Kẻ, Người trụ cột của xã hội loài người. Ta đã biết chữ viết trên mai rùa, xương, cho thấy nguồn gốc của từ sĩ cũng giống như từ kẻ có nghĩa là cọc, cược, bộ phận sinh dục nam.

Chữ sĩ vẽ hình bộ phận sinh dục nam hay phát nguyên từ hình vẽ một thứ khí giới cổ (Wang Hongyuan,The Origins of Chinese Characters, Sinolingua, Beijing, 2004).

 Bộ phận sinh dục nam được biểu tượng bằng cọc, nọc vật nhọn, giống như khí giới cổ đơn giản cũng chỉ là một vật nhọn.

Rõ như ban ngày ta có  Qié = Kẻ = Kì = Sĩ có gốc từ cọc, cược, nọc, trụ, cột, thạch trụ biểu tượng cho Núi Trụ Thế Gian. Như thế Qié trong từ Tổ trên giáp cốt vẽ hình bàn thờ tổ tiên hình dương vật đúng với Kẻ, Sĩ trăm phần trăm.

Vậy từ Tổ trên giáp cốt có chữ qié diễn tả Trục Thế Giới thông thương Tam Thế. Thờ tổ tiên bao gồm sự thờ phương tất cả các vị thần tổ của cả Tam Thế.

Hiển nhiên sự thờ phượng Tổ Tiên của Lạc Việt nói riêng và của Bách Việt nói chung nằm trong Vũ Trụ giáo. 

 -Vũ Trụ giáo.

 Cốt lõi văn hóa của người Tráng Zhuang cũng như Việt Nam là Vũ Trụ Tạo Sinh có tôn giáo là Vũ Trụ giáo dựa trên lưỡng hợp Chim-Rắn, Tiên Rồng.

Thật vậy hai vị tổ tối thượng của họ cũng đội lốt Chim-Rắn, Tiên Rồng. Họ cũng có hai ngành Chim-Rắn.

.Ngành chim, lửa, mặt trời ứng với Viêm Đế thấy rõ qua vị thần tổ đầu chim:

 

Thần tổ đầu chim (ảnh của tác giả chụp tại Làng Tráng Zhuang ở Làng Văn Hóa Sắc Tộc Quảng Tây tại Nam Ninh).

  Lưu ý

Thần tổ chim đầu có hai sừng lửa, thái dương. Đây là một biến thể mang hình bóng chim sừng (hornbill) mỏ cắt, chim Việt, chim biểu của thần mặt trời Viêm Đế họ Khương (Sừng), thần tổ của ngành Nọc mặt trời Viêm Việt.

Xin nhắc lại thần mặt trời Viêm Đế là khuôn mặt Tổ Hùng tối cao tối thượng của Đại Tộc Việt, của Việt Nam (Viêm là Nóng liên hệ với Lửa, Đế là nọc, que, trụ chống ; Viêm Đế là que lửa, que diêm, nọc dương, nọc mặt trời ; Hùng là đực, là Nọc, là dương, mặt trời).

Quanh cồ thần có vành sóng nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) mang nghĩa dương, lửa, mặt trời. Tấm che ‘hạ bộ’ hình cờ nọc mũi tên với các tua viền hình sóng lưỡi lửa. Tay cầm kiếm nhọn, thẳng biểu tượng cho nọc, dương, mặt trời nọc thái dương. Bao quanh người có những ngọn lửa…

.Ngành rắn, nước, mặt trời âm (theo duy dương) hay không gian (theo duy âm) ứng với Thần Nông  thấy rõ qua vị thần tổ đầu rồng:

Thần tổ đầu rồng (ảnh của tác giả chụp tại Làng Tráng Zhuang ở Làng Văn Hóa Sắc Tộc Quảng Tây tại Nam Ninh).

Lưu ý thần tổ rồng có sừng, thần tổ của ngành Nòng Thần Việt. Rồng là dạng thần thoại hóa của rắn sừng (Rắn Việt ), theo duy âm là biểu tượng cho Thần Nông không gian và theo duy dương là biểu tượng cho thần mặt trời âm thái dương Thần Nông.

 Xin nhắc lại Thần Nông là khuôn mặt Tổ Bộc tối cao tối thượng của  ngành Nòng của Bách Việt (Bộc hiểu theo nghĩa Bọc tức Bọc không gian. Theo duy dương ngành Viêm Việt là Bộc Việt mặt trời âm thái dương, theo thuần âm là Bộc Nòng không gian).

Viền trên áo có hình sóng nước. Tấm che ‘hạ bộ’ cũng có viền tua sóng nước. Tay cầm kiếm đầu cong vòng cung mang âm tính. Dưới chân có hình sóng cuộn bạc đầu…

Với khuôn mặt nam, đây là hình bóng Lạc Long Quân thế gian đội lốt Thần Nông vũ trụ của ngành Rắn, Rồng.

Rõ như ban ngày Tráng Zhuang có hai vị thần tổ chim-rắn, Tiên-Rồng giống hệt Việt Nam chúng ta. Việt Nam có một gốc Lạc Việt. Lạc Việt Tráng Zhuang ruột thịt với gốc Lạc Việt Việt Nam. Như đã nói ở trên, lịch sử Tráng Zhuang cũng đã ghi lại là người Tráng Zhuang đã giúp Hai Bà Trưng khởi nghĩa. Hiển nhiên văn hóa Tráng Zhuang có cốt lõi là Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo dựa trên nguyên lý lưỡng hợp Chim-Rắn, Tiên Rồng như văn hóa Việt Nam.

 Xin nhắc lại:

 Các nhà làm văn hóa Việt Nam thường cho Việt Nam là Lạc Việt. Nói như thế chưa trọn vẹn. Chúng ta không phải chỉ riêng một ngành Lạc Việt Rắn Lạc Long Quân Thần Nông mà chúng ta là con cháu Tiên-Rồng gồm cả Âu Việt (khuôn mặt âm của Kì Việt), Tiên Việt, Chim Âu Cơ  Viêm Đế (bằng chứng là người Mường thờ phượng Ngu Cơ Con Nai Sao nhiều hơn là thờ Lạc Long Quân Con Cá Chép). Sở dĩ chúng ta tưởng chỉ là Lạc Việt thôi là vì các đời sau này cho tới ngày nay chúng ta tưởng chỉ là con cháu An Dương Vương ngành Lạc Long Quân còn lại chứng tích thành Cổ Loa. Thật ra An Dương Vương đã diệt Hùng Vương ngành Lửa Âu Việt. Đúng ra ta phải nói là Âu-Lạc Việt mới trọn vẹn. Người Việt hiện nay không phải chỉ là con cháu của Lạc Long Quân mà phải hiểu là của toàn thể Bách Việt. Việt Nam là dân tộc duy nhất sống còn của Bách Việt. Văn hóa Việt Nam là văn hóa của Bách Việt không phải chỉ là của Lạc Việt. Bằng chứng còn thấy rõ trong bộ sử đồng Đông Sơn. Trống Đông Sơn Cây Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI (HegerI) tìm thấy nhiều nhất ở lãnh địa Việt Nam là trống biểu của liên bang Văn Lang của cả Bách Việt còn các trống tìm thấy ở các quốc gia khác chỉ là trống biểu tượng cho một tượng, một tộc.

Lãnh thổ Việt Nam ngày nay là linh địa của Bách Việt. Cứ mỗi khi người Hán bành trướng xuống phương nam, những người, các lãnh tụ, các nhà lãnh đạo tinh thần… bất khuất, kiên cường không chịu thần phục người Hán của các tộc Việt trong Bách Việt đều tìm đến phần đất Việt Nam để nương thân. Họ mang theo mọi sắc thái văn hóa của Bách Việt đến đóng góp, tô điểm thêm vào văn hóa Việt Nam.

Văn hóa Việt Nam là văn hóa Bách Việt. Ngôn ngữ Việt Nam là ngôn ngữ Bách Việt.

Rõ như dưới ánh sáng mặt trời Lạc Việt Tráng Zhuang cũng có truyền thuyết chim-rắn Tiên-Rồng như Việt Nam. Họ tự nhận là con cháu của Rồng tức thuộc ngành Rắn Rồng Lạc Long Quân Thần Nông.

(còn tiếp).

 

LẠC VIỆT TRÁNG (CHOANG)… (phần 2 và hết).

Filed under: Lạc Việt Tráng Zhuang 2 — Quang Nguyen @ 7:02 am

 LẠC VIỆT TRÁNG (CHOANG, ZHUANG) VÀ LẠC VIỆT VIỆT NAM.

(phần 2 và hết)

Nguyễn Xuân Quang

 Một vài nét văn hóa đặc thù khác ruột thịt với văn hóa Việt Nam.

Họ cũng có tín ngưỡng lên đồng như Việt Nam. Người Tráng Zhuang cũng có tộc nhuộm nhuộm răng đen. Đây là một nét đặc thù của người Lạc Việt con cháu mặt trời Nước, thần rồng Lạc Long Quân vì mầu đen là mầu nước thái âm. Người Việt Nam có một gốc Lạc Việt cũng nhuộm răng đen và trước đây bị các tộc thù nghịch nhận diện ra qua hàm răng đen và bị phỉ báng là bọn «răng đen mã tấu». Sau này «răng đen mã tấu” cũng dùng chỉ những người quê mùa thô bạo. Mã tấu là một thứ vật nhọn nhưng cong là khí biểu của ngành nọc thái dương của Bách Việt. Răng đen mã tấu là hai thứ tiêu biểu đặc thù của Lạc Việt.

Trong xã hội Tráng Zhuang đàn bà cũng giữ một vài trò rất quan trọng như người Việt Nam.

Họ là một thứ Lạc Việt Loyue.

Bước vào làng Tráng Zhuang được tạo dựng lại làm kiểu mẫu trong Làng Văn Hóa Các Sắc Tộc ở Nam Ninh, Quảng Tây,  trước hết ta thấy cổng làng có hai cột trụ thờ thần Rồng, thần tổ của người Tráng Zhuang.

 Trụ cổng làng thờ thần Rồng, thần tổ của người Tráng Zhuang (ảnh của tác giả chụp tại Làng Tráng Zhuang ở Làng Văn Hóa Sắc Tộc Quảng Tây tại Nam Ninh).

 Kế đến một bên vách đá vẽ lại những hình ảnh các Thiên Vương (Heaven King), Thần Tổ mà tổ tiên người Tráng Zhuang vẽ trên các vách đá từ thời Tân Thạch và một bên là ngôi nhà Đá Calabash tưởng niệm các vị thần truyền thuyết đã giúp tổ tiên người Tráng Zhuang trị yên được hồng thủy.

Vượt lên cao là tháp lầu Haotian (Heaven) thờ Ngọc Hoàng,

 Lầu Haotian (Heaven) thờ Ngọc Hoàng,

 Thờ Ngọc Hoàng cho thấy Tráng Zhuang có một gốc đạo Lão, một thứ tín ngưỡng của Bách Việt.

Người Lạc Việt Tráng Zhuang ruột thịt với nhánh Lạc Việt Việt Nam nên họ cũng thờ trống đồng thuộc đại tộc trống đồng nòng nọc, âm dương  Đông Sơn. Trong ngôi làng này có một điêu khắc trống đồng vĩ đại. Ngày nay người Tráng Zhuang cho rằng theo truyền thuyết, thần trống đồng có ma lực có thể xua đuổi đi tà ma và đem lại an vui cho họ.

Thật ra ngày nay người Tráng Zhuang đã hiểu trống đồng theo nghĩa duy tục không còn hiểu theo nghĩa nguyên thủy của trống đồng nòng nọc, âm dương. Người Tráng Zhuang ngày nay dùng trống đồng nòng nọc, âm dương như một nhạc cụ bộ gõ.

Hình trống đồng còn thấy vẽ trên vách đá Hoa Sơn, Quảng Tây có tuổi cùng thời với trống đồng âm dương Ngọc Lũ I.

Hình trống đồng vẽ trên vách đá Hoa Sơn, Quảng Tây (Đạo Thờ Mặt Trời Của Bách Việt, bacsinguyenxuanquang.wordpress.com).

 Trống đồng Tráng Zhuang phần lớn thuộc loại trống đồng tượng Nước Nguyễn Xuân Quang IV tức trống trệt Heger IV hình cái âu hay nồi úp thuộc đại tộc mặt trời Nước Lạc Long Quân.

 

 Trống đồng Tráng Zhuang thuộc loại trống đồng tượng Nước Nguyễn Xuân Quang IV tức trống trệt Heger IV hình cái âu hay nồi úp thuộc đại tộc mặt trời Nước Lạc Long Quân.

Trống đồng tượng Nước Tráng Zhuang chỉ là một tộc trong đại tộc trống đồng nòng nọc, âm dương Đông Sơn có trống biểu là trống Đông Sơn hình Cây Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI hay Heger I (xem Cơ Thể Trống Đồng).

Người Tráng Zhuang có vũ trụ quan theo Vũ Trụ giáo dựa trên lưỡng hợp nòng nọc, âm dương. Khi còn nòng nọc, âm dương quyện vào nhau là Trứng Vũ Trụ gọi là đĩa Thái Cực. Đĩa thái cực được cho là của Đạo giáo, Lão giáo.

Ta cũng thấy người Tráng Zhuang cho rằng Thần Trống Đồng trị được tà ma đúng như ta đã thấy trống đồng nòng nọc, âm dương loại cóc/ếch có một khuôn mặt là trống sấm. Ông thần sấm có búa thiên lôi, lưỡi tầm sét có đánh đuổi trị được ta mà. Như đã biết lá bùa trừ tà của dân dã Việt Nam có một loại Dịch trong đó Chấn sấm hôn phối với Cấn non ứng với Sấm Lạc Long Quân có nhà ở đầu Non Cấn Âu Cơ. Lá bùa Chấn/Cấn này hiển nhiên trừ được tà ma (Giải Đọc Nhóm Trống Đồng Cóc/Ếch).

Còn Thần Trống đồng mang lại an vui, hạnh phúc cũng nằm trong ý nghĩa sinh sản, sản xuất, mắn sinh, được mùa của trống đồng nòng nọc, âm dương là trống biểu của Vũ Trụ giáo.

Ta đã biết trống đồng nguyên khởi là trống biểu của Vũ Trụ giáo là họ biễu, quốc biểu, tộc biểu (như thấy qua các trống Quảng Xương, Hòa Bình, Phú Xuyên, Trống Miếu Môn I…)  về sau ở các trống muộn thường có tượng cóc/ếch gọi là trống ếch trống mưa, mang khuôn mặt thờ sấm mưa nổi trội lên làm lu mờ đi ý nghĩa biểu tượng nguyên thủy của trống. Các trống Nam Trung Hoa và các quốc gia khác như Lào, Campuchia, Thái Lan… gọi trống đồng là trống ếch trống mưa. Ở tộc Tráng Zhuang cũng vậy, họ coi trống đồng là trống biểu tượng cho sấm, mưa. Trống tiêu biểu mà họ hãnh diện nhất là Trống Đại Lôi (Great Thunder Drum). Thờ trống sấm mưa nên họ thờ thần sấm mưa:

 Thờ Thần Sấm qua biểu tượng ‘đĩa sấm’ Lửa-Nước Càn-Khôn vũ trụ (ảnh của tác giả chụp tại Làng Tráng Zhuang ở Làng Văn Hóa Sắc Tộc Quảng Tây tại Nam Ninh).

Họ cũng có ngôi nhà thờ phượng ngày nay gọi là nhà cộng đồng nhà hội dùng làm nơi hội họp, gặp gỡ của giới trẻ giống như nhà Lang Mường, nhà đình Việt Nam.

Nhà cộng đồng kiểu nhà sàn Tam Thế (ảnh của tác giả chụp tại Làng Tráng Zhuang ở Làng Văn Hóa Sắc Tộc Quảng Tây tại Nam Ninh).

Lưu ý mái cũng có đầu đao nhưng ở giữa nóc nhà có một kiến trúc hình thuyền cho thấy rõ họ thuộc đại tộc nước Rồng Lạc Long Quân. Họ còn giữ được truyền thống cổ không như các đình làng dòng Lạc Long Quân của chúng ta hiện nay trên nóc bây giờ toàn thấy hình rồng kiểu rồng long Trung Hoa.

 Ngoại cảnh ở khu làng này có cầu Phong Vũ, guồng nước, vườn cây có trồng cây rồng… Tất cả phong cảnh đều theo chủ điểm của ngành rồng, nước, làm ruộng nước Lạc Việt.

 Nhà thường dân làm theo kiểu nhà sàn ruột thịt với các kiến trúc nhà sàn thờ tự theo Tam Thế trong Vũ Trụ giáo.

 Một ngôi nhà sàn thường dân ngày nay (ảnh của tác giả chụp tại Viện Bảo Tàng Sắc Tộc Thiểu Số Quảng Tây, Nam Ning).

 Ngày xưa tầng trên chỗ gia đình ở là Trung Thế có gác lửng dùng thờ phượng thần tổ, tổ tiên ứng với Thượng Thế và tầng dưới sàn là Hạ Thế nơi nuôi thú vật…

Trang Phục

 Hình nộm một cặp nam nữ Tráng Zhuang mặc trang phục cổ truyền

(ảnh của tác giả chụp tại Viện Bảo Tàng Sắc Tộc Thiểu Số Quảng Tây, Nam Ning).

Đa số các chi tộc Tráng Zhuang mặc trang phục mầu đen (rõ nhất là chi tộc Napo). Mầu đen là mầu của nước thái âm của tộc Nước, mặt trời Nước ứng với Rắn (Rồng) Lạc Long Quân.

Lưu ý khăn đội đầu của người nam mang hình ảnh khăn đóng của Việt  Nam và khăn trùm đầu của người nữ mang hình ảnh chiếc khăn vuông đen cổ truyền của phụ nữ Việt  Nam.

Trang phục của người Tráng Zhuang thay đổi theo từng chi tộc như về mầu sắc chẳng hạn ví dụ tộc Napo mặc trang phục đen.

 Một tộc Tráng Zhuang mặc trang phục mầu đen.

 Mầu đen là mầu nước thái âm. Tộc Lạc Việt dòng mặt trời Nước Lạc Long Quân có tục nhuộm răng đen là vậy. như đã nói ở trên chúng ta có nhóm từ ‘răng đen mã tấu’. Mã tấu là khí biểu của tộc mặt trời Nước Lạc Việt. “Răng đen mã tấu” là hai nét đặc thù của Lạc Việt.

Phụ nữ Tráng Zhuang thích đồ thêu thùa và nữ trang bằng bạc như phụ nữ Việt Nam cổ (như đeo kiềng, dây xà tích bạc).

.Ẩm thực

Có tộc Tráng Zhuang cũng ăn trầu và nhuộm răng đen như người Việt Nam.

Họ cũng dùng xôi làm tế thực. Họ có món xôi đặc thù là xôi ngũ sắc dùng để dâng cúng trong khi chúng ta dùng xôi gấc tế mặt trời, các vị thần tổ mặt trời.

Đối với các tộc Việt cổ ngũ sắc có liên hệ với ánh sáng mặt trời (đúng ra theo quang học áng sáng trắng có 7 mầu cầu vồng) nên dùng trừ tà, sâu bọ (ngày lễ Đoan Ngọ 5-5  đeo chỉ ngũ sắc để giết sâu bọ), Phật giáo Tây Tạng dùng các bùa ngũ sắc để xua đuổi tà mà.

 Chõ đồ xôi của người Tráng Zhuang, Bảo Tàng Viện Sắc Tộc (ảnh của tác giả).

Các nhà khảo cổ Việt Nam cũng cho biết chõ nấu xôi của chúng  đã tìm thấy từ đời Hùng Vương.

Kho lúa của người Tráng Zhuang giống hệt kho lúa của Mường Việt là làm theo kiến trúc Tam Thế (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á).

Kho lúa Tam Thế của người Tráng Zhuang giống hệt kho lúa của người Mường (ảnh của tác giả chụp tại Viện Bảo Tàng Sắc Tộc Thiểu Số Quảng Tây, Nam Ning).

.

 

 Kho lúa Tam Thế của người Mường (J. Cuisinier, Les Mường).

.Giải trí Múa hát, Giỏi về đàn ca múa hát.

 Người Tráng Zhuang đàn ca múa hát rất điệu nghệ. Người Tráng Zhuang đen Napo có nhiều điệu hát giao duyên. Người hướng dẫn viên của chúng tôi là một người Tráng Zhuang đã hát cho chúng tôi vài làn điệu nghe rất có âm hưởng của những bài hát giao duyên ViệtNam.

Đặc biệt nhất là họ có trò chơi tung còn giống như người Mường và các sắc tộc khác ở miền Bắc ViệtNam.

 Tục ném trái cầu cho lọt vào vòng tròn trên đầu trụ.

Ném còn, tung còn là trò chơi nòng nọc, âm dương. Quả cầu tròn và đĩa tròn mang hình ảnh chữ viết nòng nọc vòng tròn-que là chữ chấm nọc nguyên tạo (.) và chữ nòng vòng tròn (O). Chữ chấm nọc dương biểu tượng cho nọc, dương sinh tạo, bộ phận sinh dục nam nguyên tạo. Vòng tròn có lỗ là chữ nòng O có một nghĩa là bột phận sinh dục nữ nguyên tạo. Ném trái còn lọt vào vòng tròn để cho nòng nọc, âm dương giao hòa. Trong lễ cưới một vài sắc tộc ở miền Bắc Việt Nam (trong đó có người Mường?), chú rể cầm quả cầu, cô dâu cầm một cái vòng tròn có dán giấy kín biểu tượng cho màng trinh, họ đứng cách nhau một khoảng xa về phía hai họ. Chú rể phải ném cho tới khi quả cầu lọt vào được vòng tròn chọc thủng tờ giấy màng trinh mới chính thức trở thành người chồng. Tục ném còn nòng nọc, âm dương giao hòa này là một nét của cốt lỗi văn hóa lưỡng hợp Chim-Rắn, Tiên Rồng.

 Thờ mặt trời.

Lạc Việt Tráng Zhuang nằm trong Bách Việt Người Mặt Trời, có thần tổ là thần Mặt Trời Viêm Đế tức Tồ Hùng Viêm Đế của các Hùng Vương Mặt Trời thế gian.

Như chúng ta, Tráng Việt  Zhuang là một thứ Lạc Việt trong Bách Việt, Người Mặt Trời, như đã thấy họ thờ Mặt Trời còn vẽ lại trên vách đá Hoa Sơn, Quảng Tây cách đây trên dưới 2.700 năm (Đạo Mặt Trời Của Bách Việt, bacsinguyenxuanquang.wordpress.com).

Cảnh Tế Lễ mặt trời, thờ mặt thời của Lạc Việt Tráng Zhuang vẽ trên vách đá Hoa Sơn, Quảng Tây (ảnh của tác giả).

Thờ mặt trời cũng thấy qua sự thờ phượng trống đồng nòng nọc, âm dương.  Trống đồng Tráng Zhuang thuộc loại trống đồng tượng Nước Nguyễn Xuân Quang IV tức trống chệt Heger IV hình cái âu hay nồi úp thuộc đại tộc mặt trời Nước Lạc Long Quân.

Và còn nhiều nữa.

Kết Luận

Tóm lại người Choang, Tráng Zhuang là một nhánh Lạc Việt ruột thịt với Lạc Việt Việt Nam. Họ đã từng là một thành phần của nước Âu-Lạc, Tây Âu, Đông Âu (Đông Việt)… Nhánh đi xuống đất Lào, Thái trở thành các tộc Lào, Thái…

Ta có thể dựa vào những nét văn hóa thuần Việt của họ để điều chỉnh, sửa đổi lại những sai lệch của văn hóa Việt hiện nay, loại trừ hay gạt qua bên những gì đã bị Hán hóa hay những gì trùng hợp với văn hóa Hán tộc (dù cho họ có lấy của chúng ta và Hoa hóa đi) để tránh cho những thế hệ Việt trẻ và người ngoại quốc nhầm lẫn và ngộ nhận. Ví dụ ta có thể tìm lại vật tổ Lang Trời qua văn hóa Tráng Zhuang. Như đã nói ở trên, tên Zhuang (Rao) thường được viết là 獞 có một nghĩa là chó hoang tức loài sói lang. Tên này viết với bộ khuyển (chó) cho thấy vững chắc là họ có vật tổ Lang Trời, Thiên Cẩu, vật tổ bốn chân sống trên đất của Lang Việt, khuôn mặt thiếu âm của Lạc Việt. Họ vẫn còn giữ tục Múa Chó Lúc Trẻ Em Chào Đời. Vật tổ Lang Trời này còn thấy trên trống thú biểu Mang Lang của liên bang Văn Lang là Trống Miếu Môn I. Chúng ta còn múa Lang Trời ở một vài vùng quê. Như vậy chúng ta phải làm sống lại tục múa Lang Trời Thiên Cẩu này. Vào dịp giỗ tết, nhất là giỗ Tổ Hùng Vương (từ TỔ bao gồm cả Hùng Vương truyền thuyết cõi tạo hóa và Hùng Vương lịch sử thế gian) ta phải múa cả ba linh thú biểu tượng cho ba cõi Đất, Nước, Trời. Ta phải múa Lì Hươu Sủa Mang Gạc có hai sừng hai mấu nhọn biểu tượng cho đại độc Đất dương Kì Dương Vương và múa Lân-Nai cái không có sừng biểu tượng cho Lửa đất âm (Âu Cơ nhánh Kì Dương Vương), múa Rồng giảo long (thật ra là giao long) biểu tượng cho đại tộc Nước Lạc Long Quân và múa Lang Trời Thiên Cẩu biểu tượng cho đại tộc Gió bầu trời Hùng Vương.

Khác với người Trung Hoa cổ cho rằng Bách Việt là những kẻ man di, mọi rợ, các khảo cổ học và các chứng cứ về cổ sử thời ban sơ cho thấy người cổ Việt đã văn minh đầy đủ như người trung nguyên. Các học giả Trung Quốc hiện nay cho rằng người Bách Việt  phía nam, tiền nhân, tổ tiên người Tráng Zhuang phải được xem là có nguồn gốc từ một nền văn hóa bản địa thời Tân Thạch ở vùng đông nam Trung Hoa.

Địa khai hay vật hóa thạch sọ Homo sapiens Liujiang cho thấy người Rao (Zhuang, Tai) đã sống ở Quảng Tây lâu hơn bất cứ nền văn minh nào.

Như thế xác thực là Bách Việt có một nền văn minh cổ đại bản  địa huy hoàng không thua kém gì nền văn minh trung nguyên. Nền văn minh Bách Việt đã đóng góp và ảnh hưởng rất nhiều lên nền văn hóa Hoa Hạ (Đạo Thời Mặt Trời Của Bách Việt).

 

 

 

March 11, 2011

ĐẠO MẶT TRỜI CỦA BÁCH VIỆT (phần 2 và hết).

Filed under: Đạo M. Trời Của Bách Việt (2) — Quang Nguyen @ 5:37 am

ĐẠO THỜ MẶT TRỜI CỦA BÁCH VIỆT.

(phần 2 và hết)

Nguyễn Xuân Quang.

.Cung nghinh mặt trời.

Người cổ xưa khi tế lễ hay tôn vinh mặt trời thường đứng thẳng người hay đứng khuỵu hai chân xuống như ở thế đứng tấn, giơ hai tay khỏi đầu, thường xòe hai bàn tay hay đưa hai tay ra trước mặt hướng về phía mặt trời.

Ta hãy so sánh những hình người trên vách đá này với những hình người đang cung nghinh, tế lễ mặt trời ở các nơi khác. Xin đưa ra vài ví dụ:

-Đưa hai tay cao lên trời.

.Nam Dương

Trong hang Metanduno ở Nam Dương có hình vẽ trên đá thời tiền sử cho thấy cảnh người cung nghinh, thờ phương mặt trời đưa hai tay cao lên trời hướng về phía mặt trời.

Hình vẽ trên đá thời tiền sử cho thấy cảnh người cung nghinh, thờ phương mặt trời giơ hai tay cao lên đầu trong hang Metanduno ở Nam Dương (Madanjeet Singh, The Sun, Symbol of Power And Life, UNESCO, 1993).

.Thổ dân Mỹ Châu

Tại rừng cây hóa thạch ở Arizona, Hoa Kỳ có những hình người cung nghinh, thờ phượng mặt trời đưa hai tay cao lên trời với bàn tay thấy rõ các ngón tay.

Hình người cung nghinh, thờ phượng mặt trời tại rừng cây hóa thạch ở Arizona, Hoa Kỳ (Madanjeet Singh).

.Kyrgyzstan

Người khắc trên đá ở Kyrgyzstan được cho là pháp sư ‘shaman’ giơ hai tay lên trời với bàn tay xoe ra đủ năm ngón, biểu tượng cho tôn vinh mặt trời, tạo hóa.

.Ấn Độ ngày nay.

Các tín đồ theo đạo mặt trời ở Ấn Độ, vào rạng đông mỗi ngày họ lội xuống sông Hằng đứng giơ hai tay cao lên trời cung nghinh mặt trời mọc ở chân trời.

Các tín đồ theo đạo mặt trời ở Benares Ấn Độ, đang cung nghinh mặt trời mọc ở bờ sông Hằng (Madanjeet Singh).


Tác giả đang cung nghinh mặt trời hướng về thần mặt trời Viêm Đế, thần tổ của Bách Việt, Người Mặt Trời ở bờ sông Hằng ở Varanasi, Ấn Độ.

……

Hãy so sánh những hình cung nghinh, tôn vinh mặt trời của các văn hóa, tín người thờ mặt trời này với hình trên vách đá Hoa Sơn của Lạc Việt cổ ta thấy giống trăm phần trăm.

Người Lạc Việt cổ cung nghinh mặt trời với hai tay giơ cao lên trời hướng về mặt trời vẽ trên vách đá Hoa Sơn.

-Đưa hai tay ra trước mặt.

Đôi khi ở tư thế ngồi hay đứng đưa hai tay ra phía trước mặt

.Ai Cập cổ

Kệ tang Khonsu cho thấy sự thờ phượng Thần Mặt Trời Bò cái Mehet-Weret, Egyptian Museum, Cairo (Madanjeet Singh fig. 461).

.Thiên Chúa giáo Ái Nhĩ Lan.

Người Ái Nhĩ Lan cổ thờ mặt trời, khi du nhập Thiên Chúa giáo vào, họ lồng đạo mặt trời vào Thiên Chúa giáo. Vì thế cây thánh giá của họ có vòng tròn mặt trời và các tu sĩ vẫn cung nghinh mặt trời theo đạo gốc.

 

Tranh dát mảnh (mosaic) của Achilli cho thấy các tu sĩ Ái Nhĩ Lan giơ tay theo kiểu người Ai Cập cổ tôn thờ mặt trời  (hang thờ St Columbanus, nhà thờ St Peter, Vatican) (Madanjeet Singh).

.Văn Hóa  Đông Sơn

-Trống đồng âm dương Hoàng Hạ, Ngọc Lũ I…

Người của đại tộc Đông Sơn cung nghinh mặt trời với hai tay giơ cao ra trước mặt trong một ngôi nhà nọc thờ mặt trời trên trống đồng âm dương Hoàng Hạ…

(Ta thấy rõ đây không phải là trò chơi “trồng hoa trồng nụ” như một số nhà khảo cổ học Việt Nam cho là vậy).

-Thạp đồng Hợp Minh.

Một người búi tóc có dáng dấp phụ nữ (bà đồng, nữ pháp sư) đưa hai tay ra phía trước mặt cung nghinh, tôn vinh hay cầu xin mặt trời, vũ trụ trên thạp đồng Hợp Minh (Khảo Cổ Học).

…..

Hãy so sánh những hình cung nghinh, tôn vinh bằng cách đưa hai tay ra phía trước mặt của Ai Cập cổ, Thiên Chúa giáo Ái Nhĩ Lan và của văn hóa Đông Sơn này với hình trên vách đá Hoa Sơn của Lạc Việt cổ ta thấy giống trăm phần trăm.

Hình người đang cung nhinh, tôn vinh mặt trời đưa tay ra phía trước mặt trên vách đá Hoa Sơn của Lạc Việt cổ.

Như thế các người tổ tiên Lạc Việt nhẩy múa ở đây là những người đang ở tư thế tế lễ mặt trời trăm phần trăm.

Những người đứng hay ngồi ở tư thế cung nghinh mặt trời này ăn khớp và cho thấy vững chắc đây là cảnh hiến tế mặt trời trăm phần trăm.

.Mặt trời là nọc, dương, đực, nam. bộ phận sinh dục nam.

Chữ NỌC trong chữ viết nòng nọc vòng tròn-que có nghĩa là đực, dương, mặt trời có gốc từ bộ phận sinh dục`nam vì thế mặt trời thường đi với phái nam (giống hệt một trăm phần trăm bọc trứng vũ trụ của Mẹ Tổ Âu Cơ sinh ra toàn là con trai, các mặt trời Lang) và mặt trời thường đi với bộ giống phái nam đang cương cứng. Ví dụ như thấy ở:

.Kyrgyzstan

Người thờ mặt trời có bộ giống nam cương cứng cường điệu Thời Đồ Đồng-Tiền Đồ Sắt (hình a, Saimaly Tash, Kyrgyzstan, Madanjeet Singh).

.Thụy Điển

Hình vẽ người hay thần mặt trời có dương vật cường điệu, cương cứng trên đá ở Vitlycke, Bohuslan, Thụy Điển.

Người mặt trời cầm rìu khắc trên đá ở Vitlycke, Bohuslan, Thụy Điển (H.R. Ellis Davidson, p.62-63).

Hình khắc trên đá ở Val Camonica trên rặng Alps của Ý có hình mặt trời ở giữa hai chân dính vào bộ phận sinh dục nam. Có tác giả giải thích cho là có mang biểu tượng cho mắn sinh.

Người hay thần mặt trời có hình mặt trời ở giữa hai chân dính vào bộ phận sinh dục nam ở Val Camonica, Ý(Madanjeet Singh).

Hãy so sánh những người mặt trời, thờ phương mặt trời có bộ phận sinh dục nam cường điệu đang cương cứng đầy hùng tính này với hình người đang cung nghinh mặt trời vẽ trên vách đá Hoa Sơn với bộ giống nam đang cương cứng dưới đây ta thấy giống trăm phần trăm.

 

Người Lạc Việt cổ đang cung nghinh mặt trời vẽ trên vách đá Hoa Sơn với bộ giống nam đang cương cứng.

Những người nam với bộ phận sinh dục nam cương cứng đứng ở tư thế cung nghinh mặt trời vẽ trên đá này ăn khớp với các nơi khác cho thấy vững chắc trăm phần trăm đây là cảnh hiến tế mặt trời.

.Vũ khí, tế khí (ceremonial weapon), linh trượng (scepter).

Mặt trời là dương, đực, nọc vì thế khí biểu, tế khí của mặt trời nguyên thủy là một nọc nhọn, gậy, cây lao về sau là linh trượng, rìu, búa, vũ khí nhọn. Những vật này đầu thường có hình vật biểu tượng mặt trời như rìu Việt đầu chim cắt của Điền Việt. Vì thế những người tế lễ mặt trời, thờ phượng mặt trời thường cầm hay mang những khí biểu, tế khí, linh trượng có gốc từ nọc, vọt nhọn biểu tượng cho mặt trời.

Ở trên, ta thấy rất rõ những hình người mặt trời hay thờ phượng mặt trời khắc trên đá đều cầm hay mang các khí biểu, tế khí, khí giới (ở Thụy Điển tay cầm rìu, đeo gậy, kiếm hay linh trượng bên hông và ở Ý tay cầm lao).

Những người Lạc Việt cổ vẽ trên vách đá Hoa Sơn này cũng thường đeo gậy, lao, kiếm hay linh trượng.

Những người Lạc Việt cổ vẽ trên vách đá Hoa Sơn đeo gậy, lao, kiếm hay linh trượng.


Hình người Lạc Việt cổ ở Huashan đeo rìu hay linh trượng đầu hình búa (giống hình chiếc búa trong từ Việt rìu búa) trên một điêu khắc hình trống diễn đạt lại cảnh lễ hiến tế của người Lạc Việt cổ Hoa Sơn tại khu tĩnh dưỡng Minh Sĩ Điền Viên gần thác Bản Giốc. Không biết tác giả điêu khắc này có làm một cách trung thực hay không?

Đặc biệt nhất là những người cao to có dáng dấp lãnh tụ đeo một linh trượng rất đặc biệt, một đầu có hình vòng tròn và một đầu theo các nhà khảo cổ học Trung Quốc có hình thú vật.

Một lãnh tụ Lạc Việt cổ đeo linh trượng một đầu có hình vòng tròn và một đầu có hình thú vật.

Rất tiếc tôi không có hình chi tiết vẽ hình các đầu thú vật nên không biết rõ là đầu con thú gì.

Bây giờ ta hãy giải đọc cây linh trượng đặc biệt này theo cốt lõi văn hóa Bách Việt dựa trên lưỡng hợp chim-rắn, Tiên Rồng tức theo chữ viết nòng nọc vòng tròn-que.

Đầu gậy hình vòng tròn là nòng (O), âm, theo duy âm là không gian và theo duy dương là mặt trời đĩa tròn của ngành nòng âm. Còn đầu gậy hình con thú mặc dù không biết rõ là con thú gì nhưng theo trực giác, tôi biết phải là đầu một con thú mang dương tính Nọc (I) đi đôi với vòng tròn Nòng. Tôi gọi linh trượng này là linh trượng lưỡng hợp, nòng nọc, âm dương, Tiên-Rồng.

Ta hãy so sánh linh trượng, tế khí, hay khí giới nòng nọc Tiên Rồng này của người Lạc Việt cổ với chiếc rìu ở từ Việt ‘yue’ trong giáp cốt văn đời nhà Thương.

Từ Việt yue trên giáp cốt văn (Wang Hongyuan).

Lưu ý ta thấy chiếc rìu Việt yue ở đây có một đầu hình vòng tròn nòng O mang âm tính, nòng O ứng với Khôn và một đầu hình cây chĩa ba mang dương tính, ba nọc nhọn là ba dương ứng với quẻ Càn. Cây rìu Việt này là một thứ rìu Việt thờ mang ý nghĩa nòng nọc, âm dương, càn khôn, sinh tạo, tạo hóa.

Như thế linh trượng nòng nọc Tiên Rồng của người lãnh tụ Lạc Việt cổ giống rìu Việt yue này và cũng phải mang ý nghĩa đó.

Để hiểu và thấy rõ hơn nữa hãy so sánh linh trượng  nòng nọc Tiền Rồng có đầu hình vòng tròn và một đầu thú vật của người Lạc Việt cổ với linh trượng was của Ai Cập cổ.

Thần mặt trời Horus với khôn mặt lưỡng hợp, sinh tạo đội vương miện nhất thể biểu tượng cho hai vùng Nam Bắc thống nhất, tay trái cầm linh trượng  was nòng nọc, âm dương. Tay phải cầm biểu tượng ankh, ‘chìa khóa sự sống’ cho thấy rõ khuôn mặt nòng nọc, âm dương, sinh tạo của thần và của gậy was.

Các nhà Ai Cập học ngày nay cũng chưa biết rõ nguồn gốc và ý nghĩa của gậy was ra sao, chỉ phỏng đoán có nghĩa là “power” (sức mạnh)  và “dominion” (quyền thế). Giải thích theo hình ngữ nòng nọc, ta thấy gậy was có đầu con thú có  sừng hình nọc, hình búa chim mang dương tính biểu tượng cho nọc, đực, mặt trời, vũ trụ dương, bộ phận sinh dục nam, lửa, Càn và đầu dưới chẻ hẻ hình vòm omega (vòng tròn nòng O mở ra), hình chuông úp biểu tượng cho âm, vòm vũ trụ, bầu trời, tử cung hay âm đạo biểu tượng cho nòng, âm, Khôn, vòm không gian (xin nhắc lại hình khắc trên đá hình omega, hình chuông úp, chữ U lật ngược của thổ dân Úc châu có nghĩa là đàn bà).

Gậy was là gậy âm-dương, sinh tạo, tao hóa, vũ trụ-mặt trời hiển nhiên có một nghĩa là “power” là “dominion” (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á).

Linh trượng was biểu tượng cho nòng nọc, âm dương, sinh tạo, tạo hóa. Linh trượng nòng nọc Tiên Rồng của người Lạc Việt cổ ở đây giống linh trượng was nòng nọc, âm dương của Ai Cập cổ thờ mặt trời. Hơn thế nữa linh trượng của Lạc Việt cổ có đầu nòng O vẫn giữ nguyên dạng nòng vòng tròn nguyên thủy (dạ con) trong khi đầu gậy omega (âm đạo) của Ai Cập cổ đã là biến dạng của nòng O.

Hiển nhiên linh trượng hay khí biểu nòng nọc, âm dương, Tiên Rồng của người Lạc Việt cổ là một gậy biểu trong Vũ Trụ giáo, đạo Mặt Trời, cốt lõi của văn hóa Bách Việt. Ngưởi Lạc Việt cổ cầm linh trượng nòng nọc, âm dương có đầu vòng tròn nòng âm và đầu hình đầu thú nọc dương bắt buộc phải mang hình bóng thần mặt trời hay đội lốt các vị thần mặt trời giống như các vị thần mặt trời Ai Cập cổ cầm gậy was.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, linh trượng nòng nọc, âm dương của người Lạc Việt cổ này là gậy biểu, khí biểu của Viêm Đế-Thần Nông (mặt trời-không gian, trụ- vũ) ở cõi tạo hóa, vũ trụ và biểu tượng cho hai ngành Lửa Mẹ Âu Cơ và ngành Nước Cha Lạc Long Quân, cho Tiên Rồng ở cõi thế gian.

Những tế vật, khí giới gốc nọc nọn này của người Lạc Việt cổ ăn khớp với các tế khí, khí giới của các tộc Người Mặt Trời khác nhất là cây linh trượng nòng nọc, âm dương, sinh tạo của Lạc Việt cổ giống cây linh trượng nòng nọc, âm dương was của Ai Cập cổ cho thấy vững chắc đây là cảnh hiến tế mặt trời.

Lưu ý

Hình vẽ người hay thần mặt trời ở Vitlycke, Bohuslan Thụy Điển ở trên mang hình bóng Người Việt Mặt Trời theo đúng nghĩa chữ Nọc trong chữ viết nòng nọc vòng tròn-que trăm phần trăm.

.Nọc là Vọt là roi (nọc ra đánh mấy chục roi). Vượt ruột thịt với Vọt (dùng vọt đánh cho con thú chạy vọt nhanh lên, vượt qua mặt, vượt qua chướng ngại vật; máy xe vọt là máy xe mạnh chậy nhanh, những bước nhẩy vọt).  Hán Việt Việt với nghĩa là Vượt có gốc từ Việt ngữ Vọt roi này. Người này đeo gậy hay linh trượng ngang hông.

.Nọc là vọt, roi sau thành vật nhọn, khí giới như lao, vớt (dao lớn dùng làm khí giới) ăn khớp với Hán Việt Việt với nghĩa là rìu, búa. Người này tay cầm rìu búa hay dao vớt, rìu Việt.

.Nọc là cọc, cược, bộ phận sinh dục nam. Hình người này có bộ phận sinh dục nam cương cứng như cái nõ (ăn khớp với từ cổ c…c nõ, với từ hiện kim c…c lõ).

.Việt là nọc, bộ phận sinh dục nam, dương, mặt trời. Người này có hình mặt trời trên người.

Rõ như dưới ánh sáng mặt trời người hay thần mặt trời khắc trên đá ở Thụy Điển diễn đạt trọn vẹn ý nghĩa của chữ Nọc trong chữ viết nòng nọc vòng tròn-que, diễn tả trọn vẹn ý nghĩa của Hán Việt Việt.

Người mặt trời ở Vitlycke, Bohuslan này là hình bóng của Người Việt Người Mặt Trời dòng thần mặt trời Viêm Đế trăm phần trăm.

Những người Lạc Việt cổ trên vách đá Hoa Sơ đang tế lễ mặt trời trăm phần trăm.

.Phái nữ

Khác với các cảnh tế lễ mặt trời ở trong các nền văn hóa cổ khác của thế giới, đặc biệt ở đây có sự hiện diện của phái nữ. Trong các hình người ở khu vực này thấy có hai người tóc dài bện thành dải hình con rắn, dài quá lưng được cho là hai người nữ.

Hai người nữ tóc bện thành dải dài quá lưng.

Mặt trời là dương, đực, phái nam nên trong xã hội phụ quyền nhất là phụ quyền cực đoan rất muộn về sau, tế lễ mặt trời chỉ dành cho phái nam tuyệt nhiên không có bóng dáng đàn bà (giống như nhà đình của Việt Nam là di duệ của nhà thờ mặt trời như thấy trên trống Quảng Xương, ngày xưa cấm đàn bà con gái bước vào đình). Ở đây với sự hiện diện của phái nữ cho thấy người Lạc Việt cổ, thứ nhất nếu là hai người nữ thường dân, thì người Lạc Việt còn trọng nữ, họ theo mẫu hệ. Họ cũng có thể thờ phượng mặt trời âm nữ đĩa tròn không có tia sáng, thờ nữ thần mặt trời như thái dương thần nữ Âu Cơ, như Ameraterasu của Nhật Bản. Thật vậy ta thấy rõ ngoài mặt trời có nọc tia sáng tỏa rạng mang dương tính còn có các hình đĩa tròn.

Hình đĩa tròn.

Theo duy dương, vì ở đây là cảnh tế lễ mặt trời, thì các hình đĩa tròn này có độ cao biểu tượng cho mặt trời nữ đĩa tròn không có tia sáng (như hình mặt trời đĩa tròn trên lá cờ Nhật Bản, con cháu của thái dương thần nữ Ameraterasu).

Thứ hai, trong lễ hội nhẩy quanh hình mặt trời này thì đây có độ cao hai người nữ này là hai nữ pháp sư, hai bà đồng.

Bà đồng ăn khớp với văn hóa Việt cổ trăm phần trăm.  Tín ngưỡng đồng bóng là một tín ngưỡng đặc thù của Bách Việt mà Trung Hoa không có. Đồng bóng còn thịnh hành ở Việt Nam gần đây.

Mapuche một tộc thổ dân ở Chile, Nam Mỹ vốn gốc từ Đông Nam Á qua Mỹ châu thờ mặt trời cũng có đồng bóng và bà đồng là nét chủ yếu của văn hóa của họ (Rìu Việt ở Nam Mỹ Châu).

Sự hiện diện của hai phái nam nữ trong cảnh tế lễ mặt trời, thờ phượng mặt trời cho thấy xã hội Lạc Việt cổ còn giữ nguyên lý nòng nọc, âm dương đề huề, Tiên và Rồng hòa hợp.

Ngoài ra một trong hai người nữ này đang mang thai.

Người nữ đang mang thai.

Nếu hình này diễn tả một người trần tục thì đây cho thấy người Lạc Việt cổ tôn vinh người có thai, tôn vinh sự sinh sản, mắn sinh nằm trong tín ngưỡng sinh tạo của Vũ Trụ giáo. Nếu người mang thai này mang ý nghĩa biểu tượng tín ngưỡng tức bà đồng đang mang thai thì đây là hình ảnh của Mẹ Đời, Mẹ Sinh Tạo, Thần Nữ Mắn Sinh.  Hình ảnh này cũng thấy ở văn hóa Việt Nam trong các hình khắc trên bãi đá cổ ở Sapa, Bắc Việt. Trong các hình khắc ở Sapa thấy hình một người mang thai:

Hình một người mang thai trong các hình khắc trên bãi đá cổ ở Sapa (Nguồn Lê Trọng Khánh, Phát Hiện Hệ Thống Chữ Khoa Đẩu Thuộc Văn Hóa Đông Sơn).

Người mang thai ở Sapa này đi chung với hình người mặt trời nam nữ đã thấy ở trên, ăn khớp với hình người có thai đi chung với những người nam nữ tế thần mặt trời ở Huashan này.

Cũng nên nói ngược lại là cảnh người Lạc Việt cổ tế lễ mặt trời ở Hoashan chứng thực là trong các hình khắc ở bãi đá cổ Sapa cũng có cảnh tế lễ mặt trời, nói một cách khác những hình khắc trên đá ở Sapa thuộc Người Bách Việt, Người Mặt Trời. Hy vọng có dịp tôi được nhìn thấy tận mắt những hình khắc trên đá ở Sapa và hy vọng có thể giải đọc thêm được nhiều chi tiết nữa.

Ngoài ra cũng thấy hình một người nữ đẻ bọc ruột thịt với hình người có thai, mang hình ảnh Mẹ Đời  Sống, Mẹ Sinh Tạo ở hòn gạch nung đời nhà Lê hiện để tại Viện Bảo Tàng Lịch Sử, Hà Nội .

Hình Mẹ Đời Sống, Mẹ Sinh Tạo đẻ ra một cái bọc mang hình ảnh Mẹ Tổ Âu Cơ sinh ra bọc trứng Hùng Vương, đời nhà Lê, Viện Bảo Tàng Lịch Sử Việt Nam (ảnh của tác giả).

Cảnh thai nghén, sinh đẻ này ăn khớp với đức tin sinh tạo, mắn sinh của mặt trời trong Vũ Trụ giáo cho thấy vững chắc đây là cảnh hiến tế mặt trời, một khuôn mặt dương của Vũ Trụ giáo.

.Cảnh phồn thực

Người lái đò cho chúng tôi biết sau chùm cây, trên vách đá có hình hai người đang làm tình.

Sau chùm cây, trên vách đá có hình hai người đang làm tình.

Đây là tín ngưỡng phồn thực, sinh tạo nằm trong đạo mặt trời, Vũ Trụ giáo. Cảnh giao hợp này cũng thấy trên nắp thạp đồng Đào Thịnh của văn hóa Đông Sơn.

Làm tình trong lễ hiến tế cũng là một khuôn mặt đặc biệt thấy trong các cuộc lên đồng tế lễ vũ trụ, mặt trời ở Đông Nam Á và hải đảo. Một số ông mo bà đồng làm tình trong khi lên đồng mang chủ đích, cầu mắn sinh, sinh sản, sản xuất, được mùa. Có tác giả còn giải thích dùng sự giao hợp trong lúc tế lễ là để gợi ý, kích thích thượng đế, thần linh giao hòa âm dương với nhau để trời đất, càn khôn hòa hợp, tương hòa với nhau, không đối nghịch tạo ra những ảnh hưởng xấu lên con người.

Cảnh giao hoan, phồn thực này ăn khớp với đức tin đại vũ trụ và con người tiểu vũ trụ cần phải có tương hòa, giao hòa với nhau ngoài ý nghĩa duy tục là nòng nọc, âm dương,  sinh tạo, mắn sinh, cho thấy vững chắc đây là cảnh hiến tế mặt trời trong Vũ Trụ giáo.

.Thuyền rồng

Theo tài liệu còn cho biết hình vẽ trên vách đá Hoa Sơn này có cả hình thuyền và cho là thuyền rồng dùng làm thuyền đua trong lễ hội nước (http://www.roughguides.com/travel/asia/china/guangxi-and-guizhou/nanning/hua-shan-cliff-paintings.asp). Rất tiếc tôi chưa được thấy hình vẽ trên vách đá. Tuy nhiên tôi đã thấy chiếc tầu đưa du khách đi xem nghệ thuật vẽ trên đá này có đầu và đuôi thuyền đã được làm phỏng theo hình chiếc thuyền được gọi là thuyền rồng đã nói.

.

Con thuyền “rồng” đưa khách du lịch từ Tuolong lên Hoa Sơn có đầu và đuôi thuyền làm mô phỏng theo hình vẽ trên đá (ảnh của tác giả).

Hy vọng các nghệ sĩ làm thuyền mô phỏng theo hình vẽ không lệch lạc nhiều với hình gốc. Ta thấy đầu và đuôi thuyền hình rắn mỏ chim lớn mang dương tính (chim rìu, chim cắt, chim Việt), có bờm gió dưới dạng chim-rắn riêng rẽ hay nhất thể. Rõ như ban ngày đây chưa phải là rồng long của Trung Hoa.

So sánh đầu và đuôi các con thuyền ở hình vẽ trên vách đá Hoa Sơn này (qua con thuyền chở du khách này) với các con thuyền trên trống đồng nòng nọc, âm dương ta thấy rất rõ chúng giống hình thuyền trên trống đồng của đại tộc Đông Sơn ở dạng chim-rắn riêng rẽ trên Ngọc Lũ I hay ở dạng kết hợp nhất thể trên trống Quảng Xương, Hữu Chung.

 

Qua sự so sánh này ta thấy rõ thuyền mới chỉ là thuyền đầu rắn mới bắt đầu thần thoại hóa, chỉ là một thứ rắn có sừng, rắn Việt, một thứ thuồng luồng chưa hẳn là thuyền rồng long Trung Hoa (xin nhắc lại Bách Việt, Người Mặt Trời dòng thần mặt trời Viêm Đế họ Khương, Sừng nên các vật tổ đều là loài có sừng: Chim Việt mỏ cắt có mũ Sừng, Hươu Việt có sừng muông gạc, Kì Dương, Lộc Tục và Rắn Việt có sừng, một thứ ‘thuồng luồng’). Rắn Việt là vật tổ biểu tượng cho khuôn mặt nước dương, mặt trời Nước Lạc Long Quân của Lạc Việt.

Cũng nên biết là người Lạc Việt Tráng cũng tự nhận mình là con cháu của Rồng. Đúng ra họ phải nhận là con cháu của Rắn Việt, nhận là Rồng là theo văn hóa muộn và đã bị ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa giống như Lạc Long Quân  của Việt Nam chúng ta. Bằng chứng là hình thuyền vẽ trên vách đá 2.500 trước giống hình các thuyền đầu rắn hay rắn-chim trên các trống đồng của đại tộc Đông Sơn có niên đại cũng vào khoảng thời gian đó.

Ngược lại nhìn theo góc cạnh khác khi nhận là thuyền rồng thì mặc nhiên phải chấp nhận con rồng long Trung Hoa có gốc từ Rắn Việt thuồng luông Việt (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á).

Sự hiện diện của thuyền Rắn Việt ở dạng khởi đầu thần thoại của Đại Tộc Việt, Người mặt trời cho thấy cảnh lễ hội, hiến tế vẽ trên vách đá Hoa Sơn chắc chắn là lễ hội tế lễ mặt trời nghiêng về ngành mặt trời Nước Lạc Việt. Ta đã biết người Tráng là một tộc Lạc Việt.

.Mầu máu, mầu mặt trời.

Hình vẽ mầu đỏ do quặng sắt đỏ và máu liên hệ với mầu đỏ biểu tượng cho mặt trời (mầu đỏ là mầu hỏa).

Máu là một tế thực của thờ phương mặt trời, biểu tượng cho mặt trời cho thấy cảnh lễ hội, hiến tế vẽ trên vách đá Hoa Sơn chắc chắn là lễ hội tế lễ mặt trời.

Kết Luận

Hình vẽ ở Hoa Sơn là một tác phẩm vẽ trên đá cổ thời vĩ đại, lớn nhất thế giới, là một tuyệt tác phẩm của nghệ thuật trên đá có một không hai của nhân loại, của Lạc Việt cổ nói riêng và của Bách Việt nói chung nếu không muốn nói là của tổ tiên của Việt Nam chúng ta, bởi vì Việt Nam có một gốc, một ngành Lạc Việt, con cháu Lạc Long Quân. Việt Nam là tộc Bách Việt duy nhất của Bách Việt còn tồn tại ngày nay. Việt Nam  là di duệ hiện hữu đại diện cho Lạc Việt, cho Bách Việt. Dầu cho Hoa Sơn ở Quảng Tây bây giờ tuy thuộc đất Trung Quốc nhưng văn hóa Hoa Sơn vẫn là văn hóa Lạc Việt, Bách Việt mà Việt Nam là di duệ còn hiện hữu ngày nay. Người Việt chiếm đất Champa nhưng văn hóa hóa Champa như tháp Champa không thể nào nói là văn hóa Việt. Văn hóa Hoa Sơn không thể nào là văn hóa Trung Hoa.

Hình vẽ ở Hoa sơn là một trang sử đá quí giá vô cùng viết lại cái cốt lõi, bản sắc Việt, viết về vũ trụ quan, nhân sinh quan, đời sống tâm linh, tín ngưỡng đạo Mặt Trời, Vũ Trụ giáo, xã hội Lạc Việt cổ… dựa trên nguyên lý nòng nọc, âm dương Tiên Rồng.

Những hình vẽ cách đây 2.500 năm mang phong thái nghệ thuật Đông Sơn cho thấy trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn phải cổ hơn rất nhiều. Như thế trống loại Vạn Gia Bá (Thời Xuân Thu 770-474 BC) khai quật được ở miền tây tỉnh Vân Nam được các nhà khảo cổ Trung Quốc cho là loại cổ nhất, họ khoa trương cho rằng nguồn gốc trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn có nguồn gốc ở Vân Nam với ngụ ý là của Trung Hoa (!) chưa hoàn toàn thuyết phục được. Biết đâu một ngày nào đào tìm được một trống của đại tộc Đông Sơn cổ hơn ở phần đất Việt Nam.

Hình vẽ trên vách đá bên bờ sông Zuo của người Lạc Việt  mà các học giả Trung Quốc hiện nay cho là cảnh hiến tế. Theo sự giải đọc của tôi như đã thấy mọi chi tiết đề mang nghĩa liên hệ với cảnh lễ hội, hiến tế, tế lễ mặt trời. Đây đích thực là cảnh hiến tế mặt trời trăm phần trăm của người Lạc Việt cổ, một tộc của Bách Việt Người Mặt Trời dòng dõi thần mặt trời Viêm Đế.

Trong nhóm mặt trên vách đá Hoa Sơn như đã nói ở trên, ta đếm được một mặt trời lớn và 8 mặt trời nhỏ. Mặt trời lớn ở trọng tâm gồm mặt trời có nọc tia sáng nằm trong đĩa tròn không gian mang nghĩa mặt trời nòng nọc, âm dương, sinh tạo, tạo hóa, vũ trụ ứng với thần mặt trời tạo hóa Viêm Đế và những mặt trời nhỏ con cháu ứng với thần mặt trời con theo duy dương là bốn thần mặt trời ở cõi tạo hóa đại vũ trụ và bốn thần mặt trời ở cõi sinh tạo thế gian ứng với bốn tổ phụ mặt trời của chúng ta là Đế Minh, Mặt Trời Ánh Sáng (Lửa), Kì Dương Vương, mặt trời Đất, Lạc Long Quân mặt trời, Mặt Trời  và Hùng Vương (khuôn mặt sinh tạo) Mặt Trời Gió vị chi tổng cộng là chín mặt trời.

Chúng ta có một nhánh Lạc Việt và 9 mặt trời của Lạc Việt cổ Hoa Sơn giống hệt như truyền thuyết Cửu Thần chín mặt trời Ennead của Ai Cập cổ. Xin nhắc lại truyền thuyết Cửu Thần ở Helipolis là của dòng thần Atum-Ra, dòng mặt trời Chiều, Hoàng Hôn, mặt trời Nước ứng với truyền thuyết Lạc Việt mặt trời Nước, mặt trời Chiều, mặt trời Hoàng Hôn Lạc Long Quân (Sự tương Đồng Giữa Cổ Sử Việt và Ai Cập 3). Như thế Lạc Việt Việt Nam, Lạc Việt Tráng, “Lạc” Ai Cập cổ  đều có truyền thuyết 9 vị thần tổ mặt trời.

Quan niệm về Vũ Trụ Tạo Sinh và các tộc mặt trời ứng với các mặt trời khác nhau trong Vũ Trụ giáo đã được ghi lại ở trang sử đá này đã có vào thời Quốc Chiến và Đông Hán.

Điểm này cũng được ghi rõ trong sử đồng của đại tộc Đông Sơn qua các trống đồng nòng nọc, âm dương có những hình mặt trời khác nhau biểu tượng cho các tộc mặt trời, thờ phượng mặt trời khác nhau của Bách Việt và theo các giai đoạn khác nhau của Vũ Trụ Tạo Sinh, của Vũ Trụ Tạo Sinh.

Không còn gì để nghi ngờ nữa. Đại Tộc Việt, Bách Việt là Người Mặt Trời thuộc họ mặt trời Hồng Bàng, ngành Viêm Việt, thần mặt trời Viêm Đế, có tổ Hùng mặt trời, các Lang Hùng mặt trời, các Hùng Vương mặt trời, có chim biểu tượng cho mặt trời là chim Việt, chim rìu, chim cắt mũ sừng,  có thú biểu hươu Việt là hươu sừng mang gạc, có Rắn Việt là rắn có sừng… Một lần nữa những trang sử đá này chứng thực và xác quyết như vậy.Các nhà làm văn hóa Việt nếu còn chưa tin những điều tôi viết là Đại Tộc Việt, Bách Việt là Người Mặt Trời, các Hùng Vương là vua mặt trời, trống đồng của đại tộc Đông Sơn có hình mặt trời là trống biểu của Hùng Vương mặt trời… thì xin hãy tìm đến trang sử đá này ‘nhìn tường’ (diện bích) mà suy nghiệm. Hãy ngồi dưới vách đá này nhắm mắt lại để hồn Lạc Việt cổ khai tâm cho biết rõ.

March 4, 2011

ĐẠO MẶT TRỜI CỦA BÁCH VIỆT (PHẦN 1).

Filed under: Đạo M. Trời Của Bách Việt (1) — Quang Nguyen @ 12:59 pm

ĐẠO THỜ MẶT TRỜI CỦA BÁCH VIỆT.

(phần 1)

Nguyễn Xuân Quang

Qua nhiều vài biết của tôi, chúng ta đã biết Đại Tộc Việt là Người Mặt Trời thái dương rạng ngời. Như thế hiển nhiên Bách Việt thờ phượng mặt trời. Xin tóm tắt nhắc lại vài điểm chính về Đại Tộc Việt Người Mặt Trời và đạo thờ mặt trời của Bách Việt đã viết.

-Về ngôn ngữ học:

Từ Việt biến âm với vọt (roi, nọc, que). Vọt có nghĩa phụ là vượt qua (dùng roi vọt đánh cho con vật đi nhanh vượt qua ‘qua mặt’ nên có từ vọt nhanh, vọt lẹ, dọt nhanh, dọt lẹ, máy xe rất vọt…), vượt qua chướng  ngại vật, vượt hơn lên (siêu Việt). Ta thấy nghĩa vọt, vượt của Hán Việt  Việt chỉ là nghĩa phụ có gốc từ Việt-vọt (roi, nọc).

Việt có một nghĩa là rìu. Với nghĩa ày Việt biến âm với vớt, con dào dài dùng làm khí giới. Vớt ruột thịt với vọt vì khí giới khởi thủy là một vật nhọn.

Tóm lại Việt có gốc ở từ thuần Việt vọt, vớt chỉ chung nọc, vật nhọn. Như thế Việt là Nọc mang trọn vẹn tất cả ý nghĩa của chữ Nọc Que (I), một trong hai chữ cái của chữ viết nòng nọc vòng tròn-que. Nọc có gốc nguyên thủy từ bộ phận sinh dục nam (Việt Là Gì?).

Vì thế Việt là vọt, vớt có tất cả các nghĩa của chữ nọc que hay liên hệ với chữ nọc que phát gốc từ bộ phận sinh dục nam bao gồm các nghĩa: đực, dương, nam giới, vật nhọn, nọc, cọc, que, vọt, roi, cột, trụ, chầy, lao, giáo, mác, đòng nhọn, dao, búa, rìu, sừng, trống (nghĩa tổng quát), đường thẳng hay có góc cạnh, (ngành) nội, nét nhỏ, tinh tế, góc nhọn, đỉnh nhọn, góc vuông, chấm đặc, đôi khi là chấm hay vòng tròn trắng (với nghĩa trắng là ánh sánh, dương), số 1, số lẻ, mặt trời rạng sáng, mặt trời có nọc tia sáng, sáng (ngược với tối), chim có dương tính (cắt, cò, công, ó, ưng,  diều hâu…), thú có dương tính, thú có sừng, núi đỉnh nhọn (nổng, lĩnh), mầu đỏ, lửa, mặt trời (dương)…

Vì từ Việt dùng chỉ một đại tộc, một đất nước, một quốc gia, một liên bang thì bắt buộc phải có nghĩa theo triết thuyết vũ trụ quan, nhân sinh quan, tín ngưỡng nghĩa là Việt phải có nghĩa là mặt trời hay liên hệ với mặt trời. Đại Tộc Việt là Người Mặt Trời.

Điểm này cũng được tác giả Đỗ Ngọc Thành, trong bài viết giải thích về ý nghĩa của từ Việt, cũng chứng minh cho thấy có rất nhiều từ Việt trong Hán Việt. Tất cả các từ Việt này đều có nghĩa là mặt trời hay liên hệ với mặt trời (nhannamphi.com).

-Về văn hóa

Truyền thuyết và cổ sử Việt ghi rõ:

.Viêm Việt là dòng thần mặt trời Viêm Đế.

.Lang (Hùng) là con trai, trai tráng mặt trời.

.Hùng Vương là vua mặt trời dòng thần mặt trời Viêm Đế  tương tự như các vua Pharaohs Ai Cập cổ.

.Vật tổ của Đại Tộc Việt đều có nghĩa là nọc,Việt, mặt trời như chim mỏ rìu, chim cắt, chim khướng (chim mũ sừng  hornbill), chim chàng, chim lang (mling, mlang, Mê Linh) chim Việt; hươu sừng (Lộc Tục, Kì Dương), hươu Việt; rắn sừng, rắn Việt; cá cọc (cá sấu), cá Việt….

-Trang phục: nón thúng mặt trời cổ truyền của phụ nữ Việt và Ao-Naga, hình hoa thị, hoa cúc mặt trời nữ trên trang phục của Hai Bà Trưng, bà Triệu.

Bà Triệu với hình hoa thị, hoa cúc mặt trời thái dương nữ trên trang phục đầu, trên ngực và trên dải áo trên người voi (tranh dân gian).

Hoa thị, hoa cúc biểu tượng cho mặt trời thái dương nữ thấy ở các nữ vương, nữ thần dòng mặt trời cũng thấy ở Cận Đông, Ai Cập cổ, Nhật Bản… ví dụ:

Hoàng hậu Ramesses Meryetanum, Thebes có hình hoa cúc mặt trời nữ trên vú mang nghĩa dòng mặt trời thái dương nữ.

Hình hoa cúc 16 cánh biểu tượng cho thái dương thần nữ Amaterasu Nhật Bản.

Lưu ý số 16 cánh hoa tương ứng với 16 tia sáng đầu tròn mang âm tính của dòng nòng nữ. Đây là biểu tượng của mặt trời nữ thái dương (hoa biểu tượng cho cho nữ). Số 16 là số Khôn OOO tầng 3 ( 0,8,16) tức tầng nước thế gian có một khuôn mặt là  Nòng O thái âm OO Nước, theo duy dương là mặt trời Nàng Nước. Mặt trời Nàng Nước ứng với Vụ Tiên, Chim Le Le Nàng Nước, Mặt Trời Nữ Nước, mẹ tổ cõi trời thế gian của người Việt Nam. Thái dương thần nữ Ameraterasu của Nhật có một khuôn mặt mẹ tổ cõi trời thế gian của Nhật Bản  tương tự Vụ Tiên. Đây là lý do hoa thị hoa cúc cũng là biểu tượng cho thái dương thần nữ, mẹ tổ Âu Cơ , nữ vương (Bà Trưng), nữ tướng  (Triệu Ẩu) dòng mặt trời Hùng Vương, Viêm Đế.

-Tế thực

Những tế thực liên hệ với sự thờ phượng mặt trời của người Việt như tiết canh, xôi gấc, bánh dầy, bánh đa… (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

-Về khảo cổ học

Đồ đồng Đông Sơn có rất nhiều chứng tích của đạo mặt trời, thờ phượng mặt trời của Đại Tộc Việt:

.Trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn luôn luôn có hình mặt trời nọc tia sáng rạng ngời ở tâm mặt trống có một khuôn mặt là trống biểu của ngành Viêm Việt Viêm Đế, của họ Hồng Bàng mặt trời, của Hùng Vương mặt trời…

.Người mặt trời ở trống Quảng Xương xem hình ở dưới).

.Lang (sói) mặt trời trống Miếu Môn I.

.Nhà mặt trời trên trống Quảng Xương.

.Những người thể hiện sự thờ phượng mặt trời trong những ngôi nhà nọc mặt trời trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I và các trống họ hàng.

Hai người đưa hai tay ra trước mặt tôn vinh mặt trời trong một giáo vụ tế lễ mặt trời trong một ngôi nhà mặt trời trên trống trống đồng âm dương Hoàng Hạ.

Rõ hơn là ở thạp đồng Hợp Minh chỉ có một người ngồi đưa hai tay ra phía trước tôn vinh, cầu nguyện mặt trời, vũ trụ (nên không thể nói như một số tác giả cho rằng hai người trong ngôi nhà ở trên đang chơi trò “trồng hoa trồng nụ”).

Một người đang tôn vinh, cầu nguyện mặt trời, vũ trụ trên thạp đồng Hợp Minh.

.Chim Việt chim cắt biểu tượng cho mặt trời trên trống Duy Tiên và Ngọc Lũ I, trên vật đựng vỏ sò Điền Việt.

.Rìu Việt của Điền Việt (Nghệ Thuật Đồ Đồng Cổ của Vương quốc Điền).

Và còn nhiều nữa…

Bài viết này xác thực vững chắc thêm một lần nữa Đại Tộc Việt là Người Mặt Trời, thờ phượng mặt trời, theo đạo mặt trời. Cảnh thờ phượng mặt trời của Lạc Việt cổ còn vẽ lại rành rành trên vách đá Hoa Sơn (Huashan) ở Quảng Tây, Trung Quốc cách đây hơn 2.500 năm cùng thời với trống đồng nòng nọc, âm dương Ngọc Lũ I.

Phần đất nam Trung Hoa thuộc địa bàn cũ của Bách Việt có rất nhiều những hình vẽ trên đá (rock painting). Những hình vẽ này có từ Thời Tân Thạch ví dụ như ở Vân Nam tại hai tỉnh Mengsheng và Menglai, quận Canyuan, tỉnh Lincang có những hình vẽ cổ từ khoảng 3.000 năm trước đây. Hình vẽ thường diễn tả cảnh săn bắn, gặt hái cũng như những hình người nhẩy múa và đánh nhau…

Hình vẽ trên đá tại Mengsheng và Menglai (Memories of Mankind, Cultural Heritage of Yunnan, Ethic Acient Literature, Yunnan Fine Art Publishing House, 2005).

Lưu ý trong hình nhỏ ở góc trên trái có một hình người ở góc phải phía trên tay giơ cao mang hình ảnh đang tôn vinh mặt trời (xem dưới).

Nhưng hình vẽ được các học giả Trung Quốc cho là phần quan trọng nhất trong nghệ thuật vẽ trên đá của Trung Hoa (sic) và cả thế giới là ở trên vách đá Hoa Sơn bên bờ tây sông  Mingjiang, tỉnh Yaoda, quận Ningming. Hình vẽ ở Hoa Sơn là hình vẽ trên đá lớn nhất và nổi tiếng nhất trên thế giới.

Những hình vẽ này của người Lạc Việt cổ thuộc tộc Tráng (Zhuang), hiện ở  vùng đất tự trị của tộc Tráng ở Quảng Tây. Vùng nổi tiếng nhất là khu vách đá ở nhánh sông Zuo. Nổi tiếng về tính cách vĩ đại và có nhiều hình ảnh đầy nghệ thuật. Đây là tác phẩm bất tử về hội họa của tộc Lạc Việt Tráng cổ.

Hoa sơn còn được gọi là núi Thiên Nhân (Xianren) và người Tráng gọi là Laiz với nghĩa là núi với mầu sắc đẹp tuyệt vời. Cũng cần phân biệt Hoa Sơn ở đây khác với Hoa Sơn trong Ngũ Nhạc của Trung Hoa. Có giả thuyết cho rằng Hoa Sơn ở đây vốn gốc là Họa Sơn (núi có hình vẽ) về sau nói sai thành Hoa Sơn.

Từ Nam Ninh, chúng tôi dùng xe hơi tới Tuolong cách  Nam Ninh khoảng 110km rồi từ đó phải dùng thuyền đi ngược dòng  sông Zuo lên Hoa Sơn.

Ngược dòng sông Zuo (ảnh Michelle Mai Nguyễn).

Hình vẽ ở khu vục bên sông Zuo này rộng hơn 170 mét, cao hơn 40 mét trên vách đá dựng đứng bên dòng sông.

Có hơn 1800 hình vẽ nhìn thấy rõ và được chia ra 110 nhóm.

Hình vẽ trên vách đá ở bờ sông Zuo (ảnh của tác giả).

Hình vẽ bằng quặng đất có sắt hematite trộn với chất giao và máu có mầu đỏ máu. Hình phần lớn được nhìn từ một bên. Đa số người ở tư thế đầu gối khuỵu xuống, chân bẹt ra như đang ở tư thế đứng tấn trong võ thuật, hai tay giơ cao, hay đưa ra trước mặt (giống các người ngồi trong nhà mặt trời ở trống Ngọc Lũ I đã thấy ở trên đang tôn vinh, cầu xin mặt trời), bàn tay thường xòe ra thấy rõ năm ngón, chân đi đất, đeo gậy, đeo dao dài hay ngắn, rìu hay kiếm cùng với những hình thú vật như ngựa, chó, thuyền, chập chõa (timbales) và nhất là mặt trời.

Ở giữa hay phía trên mỗi nhóm có một người to lớn đeo dao hay kiếm, rìu ở ngang thắt lưng và có cả yên ngựa, mang vóc dáng của người lãnh đạo. Đám đông nhẩy múa,  vui chơi, hội hè tưng bừng…

Những hình vẽ cao trên vách đá cheo leo, hiểm trở này còn là một thắc mắc, một câu hỏi chưa tìm ra câu trả lời của các nhà khảo cứu là người Lạc Việt cổ làm cách nào mà họ có thể thể hiện được những hình vẽ này. Để vẽ, họ đã dùng dây đu tòng teng xuống vách đá? Họ làm giàn dưới sông? hay trên thuyền? Hay thuở đó con sông còn cách xa vách đá? vân vân…

Hình vẽ ở núi Hoa Sơn và vách núi bên sông Zuo do nhiều thời đại tích tụ lại, kể từ thời Chiến Quốc qua Tây Hán, Đông Hán (1.800-2.500 năm). Hình vẽ mỗi thời có một nét đặc trưng khác nhau. Những hình này ghi lại lịch sử của các tộc Bách Việt ở Nam Trung Hoa. Nhìn lên những  hình vẽ trên đá vĩ đại này con cháu Lạc Việt không những chỉ cảm nhận thấy được đời sống xã hội sống động của người Lạc Việt cổ mà còn đánh giá được đời sống tâm linh và quan niệm nghệ thuật của Lạc Việt Tráng cổ.

Những hình vẽ nầy cung cấp những chứng cứ rõ ràng và xác thực về lịch sử của Lạc Việt cổ đã biến mất. Bách Việt và Lạc Việt ở phía nam Ngũ Lĩnh đã tạo dựng nên một nền văn hóa huy hoàng và trở thành một phần quan trọng của văn minh Trung Hoa.

Hình vẻ trên đá ở Hoa Sơn đã ảnh hưởng quan trọng lên sự hình thành và phát triển đức tin, tín ngưỡng dân gian Trung Hoa. Chúng vẽ lại một cách sống động cảnh hiến tế của người Lạc Việt, diễn tả sự thờ phượng, lòng tin và ước vọng ….

(http://whc.unesco.org/en/tentativelists/5340/)

Phong thái các hình vẽ giống như các hình trang trí trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. Có hình mặt trời trống giống trống đồng. Nếu đúng thì có sự hiện diện của trống đồng, của văn hóa của đại tộc Đông Sơn.

Hình trông giống trống đồng.

Chắc chắn không còn gì nghi ngờ nữa chúng được sáng tác bởi cùng một nền văn hóa của người Lạc Việt trong đó có tộc Tráng. Một vài khí giới Thời Đồ Đồng cũng đã đào tìm được ở đây. Người Tráng có rất nhiều trống đồng (sẽ có bài viết riêng về tộc Lạc Việt Tráng này).

http://www.roughguides.com/travel/asia/china/guangxi-and-guizhou/nanning/hua-shan-cliff-paintings.asp

Những hình vẽ này diễn tả lễ hội, tín ngưỡng, văn hóa mà các học giả Trung Quốc hiện nay cho là lễ hiến tế (sacrificial activity) nhưng họ không nói rõ là hiến tế người hay thú vật. Có lẽ họ không hiểu hay cố ý né tránh, không dám nói ra sự thật đây là cảnh tế lễ mặt trời của Đại Tộc Việt, Người Mặt Trời.

Theo tôi, đây đích thực là lễ thờ phượng mặt trời. Dù cho rằng đây là lễ hiến tế, kể cả hiến tế người đi nữa, thì lễ hiến tế cũng vẫn là một khuôn mặt chủ yếu của sự thờ phượng mặt trời. Ví dụ điển hình thấy rất rõ ở người Aztec Mỹ châu chẳng hạn. Đây là một chứng tích hùng hồn và kiên cố cho thấy người Lạc Việt thờ mặt trời và nói cho biết rõ Đại Tộc Việt thờ mặt trời.

Tôi xin giải đọc (decipher)  cảnh tế lễ thờ mặt trời trên vách đá Hoa Sơn này của Lạc Việt Tráng.

-Mặt trời

Hiển nhiên trong các hình vẽ này ta thấy rõ có sự hiện diện của mặt trời riêng lẻ hay một nhóm mặt trời. Các hình mặt trời này có vòng tròn bao quanh mang sắc thái của hình mặt trời trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn.

Thường có những nhóm người nhẩy múa bao quanh một hình mặt trời. Có khi nhóm người nhẩy quanh hình một mặt trời:

Nhóm người nhẩy vòng quanh hình vẽ một mặt trời.

hay quanh một nhóm nhiều mặt trời.

Nhóm người nhẩy vòng quanh tảng đá ở giữa có vẽ một nhóm nhiều mặt trời.

Lưu ý

.Dựa vào dáng của những người ở phía trước xoay ngang hướng về phía bên tay phải cho thấy nhóm người di chuyển theo chiều dương tức theo chiều ngược với kim đồng hồ, theo chiều mặt trời. Họ đang nhẩy vũ điệu mặt trời. Cảnh này giống như những nhóm người nhẩy múa quanh mặt trời, theo chiều mặt trời trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. Có tác giả cho rằng trong các hình mặt trời này có hình là mặt trống đồng, tức có sự hiện diện của trống đồng.

.Nhóm mặt trời có hình mặt trời lớn chủ yếu nằm ở giữa.  Mặt trời này có tia sáng nằm trong vòng tròn và lại được bao quanh bởi một vòng tròn lớn ở ngoài. Ta thấy rõ vòng tròn lớn là không gian. Mặt trời lớn là mặt trời-không gian, vũ trụ, tạo sinh, tạo hóa, nòng nọc, âm dương. Các măt trời nhỏ gồm các tia sáng tỏa rạng mang tính nọc thái dương nằm trong vòng tròn cho thấy đây là loại mặt trời thái dương thuộc ngành nòng, không gian ứng với ngành nòng, khôn, Thần Nông. Mặt trời nòng âm thái dương này ăn khớp với tộc Lạc Việt (trong đó có tộc Tráng) thuộc ngành nòng Khôn Thần Nông, Lạc Long Quân.  Mặt trời vũ trụ và các mặt trời nhỏ (8  mặt trời nhỏ) xung quanh diễn tả một họ, một ngành mặt trời gồm mặt trời tổ và các mặt trời con cháu ứng với thần tổ mặt trời Viêm Đế, với Tổ Hùng  đội lốt thần tổ mặt trời Viêm Đế và các Hùng Vương truyền thuyết hay lịch sử (xem dưới).

Hiển nhiên không còn chối cãi gì được nữa với sự hiện diện của nhiều mặt trời này trong lễ hiến tế thì bắt buộc đây là một lễ hội hiến tế của người Lạc Việt cổ. Sự thờ phượng mặt trời này ăn khớp trăm phần trăm với sự thờ phượng trống đồng nòng nọc, âm dương có chủ thể mặt trời ở tâm trống của đại tộc Đông Sơn. Ngày nay một tộc cũng có trống đồng là tộc Yi ở Vân Nam vẫn còn giữ tục thờ mặt trời.


Hình biểu tượng mặt trời nhất thể, vũ trụ, thái cực của tộc Yi tại ngôi làng văn hóa sắc tộc ở Thẩm Quyến (ảnh của tác giả).

Mặt trời thái cực, vũ trụ của người Yi này diễn tả đúng trăm phần trăm chủ thể mặt trời (trụ) nằm trong vỏ không gian (vũ) ở tâm mặt trống nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn.

-Người mặt trời

Người mặt trời rạng ngời như đã thấy ở trên trống Quảng Xương:

Người mặt trời, trên trống Quảng Xương (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Người mặt trời cũng được ghi khắc lại trên đá ở bãi đá có khắc chữ cổ ở Sapa:

Người mặt trời nòng âm ở giữa hai chân có hình nòng hai vòng tròn có một khuôn mặt biểu tượng cho bộ phận sinh dục nữ. Nhìn dưới diện Vũ Trụ Tạo Sinh thì đây là thần mặt trời nòng âm, nữ (nguồn: Lê Trọng Khánh, Phát Hiện Hệ Thống Chữ Khoa Đẩu Thuộc Văn Hóa Đông Sơn).

Người mặt trời nọc dương ở giữa hai chân có hình nọc cong mang hình ảnh một thứ rìu Việt biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam. Nhìn dưới diện Vũ Trụ Tạo Sinh thì đây là thần mặt trời nọc dương, nam (nguồn: Lê Trọng Khánh).

Hai hình người  hay thần mặt trời này cho thấy họ mặt trời trong văn hóa Bách Việt chia ra làm hai ngành nòng nọc, âm dương. Vì thế khi nghiên cứu về văn hóa Bách Việt lúc nào ta cũng phải nhìn dưới lăng kính nòng nọc, âm dương tức Dịch lý. Ngoài ra ở đây cũng cho thấy rõ hai chữ cái vòng tròn Nòng và que Nọc trong chữ viết nòng nọc vòng tròn-que phát gốc từ bộ phận sinh dục nữ và nam.

Người hay thần mặt trời có mặt trời ba vòng tròn Khôn ở giữa háng liên hệ tới sinh tạo, mắn sinh ở Mường Hoa.

Những chứng tích này cho thấy Đại Tộc Việt là Người Mặt Trời, thờ phương mặt trời nên người Lạc Việt cổ Tráng thờ mặt trời là chuyện tất nhiên. Những hình người đứng ở tư thế đứng tấn trong võ thuật giơ hai tay lên cao mang hình ảnh cung nghinh, chào đón, tôn vinh, cầu nguyện mặt trời, thần mặt trời (xem dưới).

(còn tiếp)

February 18, 2011

Ý NGHĨA NHỮNG LÁ CỜ CỔ TRUYỀN VIỆT NAM.

Filed under: Ý Nghĩa Cờ Cổ Truyền VN — Quang Nguyen @ 7:05 am

Ý NGHĨA NHỮNG LÁ CỜ CỔ TRUYỀN VIỆT NAM.

Nguyễn Xuân Quang

Chúng ta thường thấy những lá cờ «thần» ngũ sắc và có hình dạng khác nhau vào những dịp lễ hội dân gian ở Việt Nam nói riêng và cả ở các nơi khác trong địa bàn cũ của Bách Việt ví dụ như ở đền Động Đình thờ vị thần mặt đen liên hệ với Long Vương ở hồ Động Đình cũng có những là cờ loại này (Hồ Động Đình 1).  Ngoài lễ hội dân gian, cờ cổ truyền cũng dùng trong các lễ hội liên hệ với  truyền thuyết, cổ sử  và lịch sử Việt như cờ của  Hùng Vương, Hai Bà Trưng, của vua Quang Trung…

Đây là những lá cờ cổ truyền của Đại Tộc Việt. Dĩ nhiên cờ là biểu tượng cho một nền văn hóa, một quốc gia, một dân tộc, một bộ tộc, một chi tộc…phải mang những ý nghĩa biểu tượng nào đó. Ý nghĩa của cờ quốc gia thường được diễn tả theo bản sắc, cốt lõi văn hóa của một dân tộc. Chắc chắn đã có nhiều tác giả giải thích ý nghĩa những lá cờ truyền thống này. Tuy hiê hầu hết thường dựa theo ngũ hành tương sinh. Nhưng hôm nay tôi xin giải thích các lá cờ truyền thống tiêu biểu của Việt Nam theo cốt lõi văn hóa Việt Nam dựa trên lưỡng hợp nòng nọc, âm dương Chim-Rắn, Tiên-Rồng.

CỜ TRUYÊN THỐNG DƯỚI LĂNG KÍNH VŨ TRỤ GIÁO.

Kích Thước

Về kích thước cờ truyền thống chia ra làm hai loại rõ rệt là cờ đại, lớn và cờ tiểu, nhỏ. Cờ đại thường thấy dưới dạng cờ vuông coi như cờ tiêu biểu chủ yếu của lễ hội.

Hình Dạng

Có hai loại cờ truyền thống thường thấy là cờ hình vuông và cờ hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) trông như hình tam giác cân để nằm ngang.

1. Cờ Vuông

Có hai loại cờ vuông: cờ vuông lớn gọi là cờ đại vuông và cờ vuông nhỏ gọi là cờ tiểu vuông.

Như đã nói ở trên, cờ đại vuông thường dùng làm cờ tiêu biểu chủ yếu được treo hay cắm ở nơi trọng tâm của lễ hội.

Cờ đại vuông (ảnh của tác giả).

2. Cờ nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói).

Đây là lọai cờ tiểu hay cờ nhỏ. Cờ cò hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói).

Cờ tiểu hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) (ảnh của tác giả).

Cờ tiểu cũng có loại hình vuông.

Cờ tiểu hình vuông (ảnh của tác giả).

Mầu Sắc

Cờ thường được làm với năm mầu. Ý nghĩa mầu sắc được gỉải thích theo ngũ hành của Trung Hoa:

-Mầu Kim

Mầu trắng là mầu hành Kim (mầu trong của khí gió).

-Mầu Mộc

Mầu lục (mầu xanh lá cây) là mầu hành Mộc

-Mầu Hỏa

Mầu đỏ là mầu hành Hỏa, mầu của lửa. Mầu Hỏa dương, thái dương là mầu đỏ lửa rực rỡ. Mầu đỏ âm, nữ là mầu hồng (quần hồng chỉ phái nữ).

-Mầu Thổ

Mầu vàng được cho là mầu hành Thổ (hoàng thổ).

-Mầu Thủy

Mầu đen là mầu nước hành Thủy thái âm (mầu đen của nước vùng sâu không có ánh sáng) và mầu xanh dương là mầu Thủy thái dương, mầu nước dương, có ánh sáng, nước chuyển động, biển, sông.

Vì thế mầu đen trên cờ ngũ sắc phải hiểu theo thái âm, nữ hay âm thế, tang ma.  Như đã thấy trong bài Hồ Động Đình Và Bách Việt,

cờ phướn ở đền Động Đình đều có tua viền mầu đen, viết chữ đen mầu âm của Long Vương, âm thế không có mầu đỏ là mầu dương.

Cờ phướn ở đền Động Đình đều có tua viền mầu đen, viết chữ đen mầu âm của Long Vương, không có mầu đỏ là mầu dương (ảnh của tác giả).

Mầu đen ở đền Động Đình liên hệ với mầu nước thái âm, âm thế.

Ở đền thờ Hai Bà Trưng đồ thờ thường có mầu đen và cờ phướn có tua viền đen. Theo Việt Sử Tiêu Án của Ngô Thời Sĩ : “Trong đền thờ Hai Bà Trưng, phàm những đồ thờ tự đều sơn đen, tuyệt không có sơn đỏ, dân địa phương ấy không dám mặc áo đỏ, những khi đến yết cáo, có ai mặc áo đỏ đều cởi bỏ đi, không ai dám xúc phạm đến cấm lệ. Tục truyền rằng Trưng Vương chết về việc binh đao, nên kiêng sắc đỏ vì giống như máu”. Đây là cái nhìn mầu đen theo  âm tang ma. Tác giả Phạm Hy Sơn trong bài Đính Chính Một Sử Liệu Sai Lầm Về Hai Bà Trưng

(http://motgoctroi.com/StLichsu/Nghiencuu_LS/CoSu/CoSu_New/SailamveHBTrung_PHSon.htm).

cho rằng nhà phê bình sử Ngô Thời Sĩ đã sai lầm. Ông chứng minh là ở đền Hai bà Trưng không phải mọi thứ đều có mầu đen cả mà còn có nhiều mầu sắc khác nữa.

Bàn thờ Hai\Bà Trưng (Phạm Hy Sơn).

Bàn thờ có mầu sắc vàng kim của vua chúa.

Tuy nhiên thật ta cũng thấy ở đền Hai Bà Trưng quả có nhiều mầu đen như  những tấm hoành phi, cái kiệu thờ có mầu đen, những lá cờ đại và cờ lệnh ở đền có vành ngoài và tua “đuôi nheo” mầu đen.

Lá Cờ Đại, mỗi bề khoảng 5m có vành và tua mầu đen được kéo lên rất cao trước cửa đền mỗi khi có đại lễ kỷ niệm Hai Bà (Phạm Hy Sơn, http://www.congdongnguoiviet.fr).

Cờ lệnh có vành ngoài và tua mầu đen (Phạm Hy Sơn).

Tác giả Phạm Hy Sơn đã vạch ra là có sai lầm về điểm cho là tất cả các vật ở đền Hai Bà đều có mầu đen nhưng không giải thích tại sao những vật  có mầu đen có nghĩa gì khác với tang chế.

Ta thấy rất rõ mầu đen ở đây có một khuôn mặt âm, nữ, nước. Hai Bà Trưng phái nữ  nên những vật trên có mầu đen. Điểm này thấy rõ qua lá cờ lệnh của Hai Bà. Cờ lệnh là cờ lúc ra trận có nghĩa là lúc Hai Bà chưa chết, nên vành đen và tua đen của cờ không thể nào mang ý nghĩa biểu tượng cho tang ma, sự chết của Hai Bà.

Hiểu nhiên mầu đen của vành và viền tua cờ không phải là mầu tang ma, nhìn theo diện tang chế là hiểu theo nghĩa duy tục.

Xin nhắc lại quan niệm ngũ hành của Trung Hoa khác với Bách Việt. Ngũ hành Trung Hoa có 5 yếu tố Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ. Hành Kim tương ứng với Khí, Gió biểu tượng bằng vòng tròn diễn tả bọc túi không gian. Tôi thấy điểm này rất gượng ép là tại sao Khí ở dạng thể hơi lại được biểu tượng bằng kim loại (vì thế kim loại còn được gọi là kim Khí). Đa phần kim loại là chất rắn (ngoại trừ thủy ngân ở thể lỏng). Khí gió có mầu trong, trắng trong khi kim loại có đủ mầu. Khí gió biểu tượng bằng bao, bọc, túi không gian diễn tả bằng vòng tròn trong khi kim loại đâu có hình tròn…

Kim biểu tượng cho khí gió rất là gò ép. Còn hành Mộc của Trung Hoa là một yếu tố xuất hiện rất muộn. Cây, Mộc chỉ có ở cõi Đất thế gian. Cây chưa có ở cõi tạo hóa tức cõi tạo sinh ra vũ trụ. Như thế hành Mộc cho thấy quan niệm ngũ hành Trung Hoa rất muộn trong quá trình Vũ Trụ Tạo Sinh. Bách Việt chỉ có tứ hành và Cây Vũ Trụ. Tứ tượng sinh ra vũ trụ tam thế diễn tả bằng Cây Vũ Trụ.  Cây Vũ Trụ là thành quả của tứ tượng. Có ánh sáng (Hỏa), có đất (Thổ), có nước (Thủy) và có khí gió (oxygen, Kim) mới nẩy nở ra cây Mộc (vũ trụ). Quan niệm tứ hành và cây Tam Thế của Bách Việt rất thuần lý. Người Trung Hoa lấy cây vũ trụ làm thành hành Mộc trong ngũ hành. Cũng nên biết Vũ Trụ Tạo Sinh gồm tứ hành thường gọi là Bốn Nguyên Sinh Động Lực Chính và Cây Vũ Trụ thấy trong tất cả các nền văn hóa khắp thế giới ngoại trừ Trung Hoa và các nước bị ảnh hưởng Trung Hoa có ngũ hành. Và theo khoa học ngày nay, trong di truyền học, DNA chỉ gồm có bốn yếu tố CGAT sinh ra muôn sinh gọi là Four Letters of Life chứ không phải là năm yếu tố, ngũ hành.

Vì thế mầu ngũ sắc của cờ truyền thống Bách Việt cũng có thể nhìn theo Vũ Trụ quan của Bách Việt không nhất thiết phải theo ngũ hành của Trung Hoa.  Chúng ta có thể dùng các mầu khác thích hợp với Đại Tộc Việt, Người Mặt Trời thái dương ví dụ mầu tím đen, mầu hoàng hôn, mặt trời lặn của Lạc Long Quân, mầu hồng mặt trời rạng đông nhật tảo của Âu Cơ…  Mầu lục có một khuôn mặt biểu tượng cho Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) trong văn hóa Đại Tộc Việt. Ta có thể dùng bẩy mầu cầu vồng của ánh sáng trắng thay vì chỉ có ngũ sắc.

Ý NGHĨA ĐÍCH THỰC CỦA CỜ TRUYỀN THỐNG BÁCH VIỆT.

Như thế ta thấy cờ truyền thống Bách Việt làm theo ý nghĩa của Vũ Trụ giáo ví dụ như cờ biểu tượng cho Hùng Vương, Hai Bà Trưng… không thể làm theo ngũ hành. Do đó ta phải đi tìm những mẫu cờ đích thực của Đại Tộc Việt dựa trên cốt lõi văn hóa Đại Tộc Việt là lưỡng hợp Chim-Rắn, Tiên-Rồng.

Mầu sắc

Ngày nay sự sắp đặt năm mầu này lung tung tùy theo ý của ban tổ chức lễ hội hay theo con mắt của người nghệ sĩ thiết kế không theo đúng lề lối mầu sắc hay sắc mã (color code) theo  cốt lõi văn hóa Việt tức theo Dịch lý dựa trên lưỡng hợp nòng nọc, âm dương. Nhiều khi mầu sắc và cách sắp đặt mầu sắc đối nghịch với chủ điểm của lễ hội. Ví dụ lá cờ truyền thống rất lớn biểu tượng cho lễ hội kỷ niệm Ngàn Năm Thăng Long vừa qua ở Hà Nội có hình vuông ở tâm mầu vàng và vành vuông ngoài cùng có mầu xanh nước biển.

Lá cờ Ngũ sắc lớn nhất mừng Hà Nội nghìn năm tuổi

trên hồ Trúc Bạch… (vietnamplus.vn/Home/La-co-Ngu-sac-lon-nhat-mung-Ha-Noi-nghin-nam-tu… ).

Người làm cờ giải thích là hình vuông ở tâm lá cờ có màu vàng  có diện tích là 10.1m2 là hành Thổ tượng trưng cho năm 1010 khi vua Lý Thái Tổ dời đô về kinh thành Thăng Long. Vành ngoài màu xanh dương (hành Thủy) rộng 20,1m2 – tượng trưng cho năm 2010, đúng 1.000 năm Thăng Long-Hà Nội. Về kích thước thì 10.1m2 biểu tượng cho năm 1010 và 20.1m2 biểu tượng cho 2010 thì quá đúng rồi nhưng tôi thắc mắc là mầu vàng ở tâm biểu tượng cho hành thổ Đất và vành ngoài biên mầu xanh dương biểu tượng cho hành thủy thái dương Nước dương nghĩa là cờ mang ý nghĩa chính là Đất Nước có liên hệ gì với Thăng Long Con Rồng Bay? Rồng có gốc là rắn là Nước Thủy nhưng bay liên hệ với khí gió Kim.

Hình dạng

Cờ hình vuông

Tại sao cờ truyền thống chính của Việt Nam lại có hình vuông?

Hình vuông có nghĩa gì trong chữ viết nòng nọc vòng tròn-que?

Như đã viết nhiều lần (Chữ Nòng Nọc, Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á, Ý Nghĩa Đích Thực Của Bánh Dầy Bánh Chưng), hình vuông có một khuôn mặt là dạng thái dương của nòng O như yoni vuông của Ấn giáo là dạng thái dương của yoni tròn. Nói một cách dễ hiểu là hình vuông là nòng O của ngành lửa, thái dương, mặt trời thái dương.

Như thế hình vuông mang trọn ý nghĩa của Vũ Trụ Tạo Sinh trong Vũ Trụ giáo ngành nòng thái dương. Cờ vuông cũng vậy.

.Hư Vô, Vô Cực

Cờ vuông có một khuôn mặt hàm chứa một ý nghĩa hư không, nòng O đã chuyển qua dạng thái dương của ngành thái dương.

.Trứng Vũ Trụ hay Thái Cực

Tương tự với vòng tròn, hình vuông cũng hàm chứa ý nghĩa sinh tạo, tạo sinh của Trứng Vũ Trụ, Thái Cực nhất là của ngành nòng âm thái dương ứng với Thần Nông thái dương.

Chúng ta có lá cờ quốc tổ Hùng Vương hình vuông vì văn hóa Việt nghiêng nhiều về phía Thần Nông, Lạc Long Quân (như thấy rất rõ qua lá cờ vuông ở đền hồ Động Đình liên hệ với Long Vương, ông ngoại Lạc Long Quân). Lá cờ này có một khuôn mặt là bọc trứng sinh tạo, tạo hóa thái dương của Hùng Vương mặt trời.

.Lưỡng Nghi

-Cực âm

Theo duy âm, hình vuông có một khuôn mặt biểu tượng cho nòng, bộ phận sinh dục nữ, âm, cực âm… như đã thấy qua yoni vuông của Ấn giáo.

Lá cờ truyền thống hình vuông của Việt Nam có một khuôn mặt biểu tượng cho cực âm, nữ… nhất là khi hình vuông ở tâm có mầu đen và có viền tua hình gợn sóng nước. Lưu ý là cờ vuông biểu tượng cho cực âm này thường đi cặp đôi với cờ có hình tam giác hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) biểu tượng cho cực dương (xem dưới).

Cờ vuông âm tthái dương được dùng trong các lễ hội của các tộc thuộc ngành Thần Nông, Nước thái dương.

-Cực dương

Theo duy dương, hình vuông có một khuôn mặt biểu tượng cho thái dương, lửa của ngành âm. Cũng xin nhắc lại người Inca có mặt trời hình vuông (xem Sự Tương Đồng Giữa Cổ Việt và Inca).

Lá cờ truyến thống hình vuông của Việt Nam nếu có hình vuông ở tâm mầu đỏ có một khuôn mặt biểu tượng cho cực dương của ngành âm (cần phân biệt với nọc mũi tên [mũi mác, răng cưa, răng sói) của ngành dương]. Cờ biểu tượng cho cực dương (lửa, mặt trời) phải có tua viền quanh hình lưỡi lửa mầu đỏ.

Cờ vuông lửa thái dương được dùng trong các lễ hội của các tộc thuộc ngành Viêm Đế, Lửa thái dương.

. Tứ Tượng

Ta đã biết hình vuông biểu tượng cho tứ phương, bốn hướng, cho tứ trụ, bốn nguyên sinh động lực chính… ứng với tứ tượng. Hình vuông để đứng trên một đỉnh biểu tượng cho Bồn Nguyên Sinh Động Lực Chính tức tứ tượng chuyển động, sinh động ứng với từ hành (James Churchhard).

Lá cờ truyến thống hình vuông của Việt Nam nếu có hình vuông ở tâm mầu đỏ và bốn vành vuông bọc ngoài có bốn mầu của tứ tượng thì cờ có một khuôn mặt biểu tượng cho tứ tượng ngành dương (tứ tượng dương). Nếu có hình vuông ở tâm mầu đen (hay mầu xanh dương Nước dương) và bốn vành vuông bọc ngoài có bốn mầu của tứ tượng thì cờ có một khuôn mặt biểu tượng cho tứ tượng ngành âm (tứ tượng âm).

./Tượng đất

Như đã nói ở bài Ý Nghĩa Đích Thực Của Bánh Dầy Báng Chưng, đất vuông là đất ruộng đồng. Cờ có hình vuông là làm theo hình ảnh của đồng ruộng. Theo duy âm là ruộng mẹ. Đồng có nghĩa là mẹ như việc đồng áng là việc mẹ cha (cổ ngữ Việt áng ná là cha mẹ); đồng bóngbóng mẹ. Mã ngữ indong là mẹ.

Cờ vuông là biểu tượng cho đất vuông ruộng đồng Âu Cơ thuộc ngành Nọc Lửa Viêm Đế (vì Mẹ Tổ Âu Cơ  có cốt lửa, thái dương nên mới có hình vuông, dạng thái dương của vòng tròn).

Theo duy dương, vào thời phụ quyền cực đoan hình vuông đất dương đại diện cho đất âm nữ.

Cờ vuông biểu tượng cho tượng đất có hình vuông ở tâm mầu vàng hay nâu hay có viền tua vàng hoặc nâu.

Mầu vàng là mầu thái dương âm của mầu đỏ vì thế mà mầu vàng được cho là mầu đất âm thái dương hoàng thổ. Con mầu nâu là mầu thiếu dương đất dương.

Cờ vuông tượng đất được dùng trong các lễ hội của các tộc Đất Mẹ Tổ Âu Cơ, Kì Dương Vương.

./Tượng lửa

Như đã nói ở trên hình vuông có một khuôn mặt lửa, thái dương. Lá cờ  truyền thống Việt Nam hình vuông biểu tượng cho tượng lửa, tộc Lửa Việt có hình vuông ở tâm mầu đỏ hay cam hoặc tua viền lưỡi lửa hay viền hình nọc mũi tên mầu đỏ ở ngoài cùng mang ý nghĩa thái dương, lửa.

Cờ vuông tượng lửa được dùng trong các lễ hội của các tộc lửa vũ trụ Đế Minh.

./Tượng Gió

Hình vuông có một khuôn mặt  thiếu âm gió.

Cờ truyền thống Việt Nam biểu tượng cho tượng gió có hình vuông ở tâm mầu trắng hay viền tua hình gió cuộn chuyển động mầu trắng. Gió thế gian đội lốt khí vũ trụ. Như đã nói ở trên hình vuông là dạng thái dương của bọc Trứng Vũ Trụ Hùng Vương  nên có một loại cờ truyền thống vuông biểu tượng cho tượng gió là chuyện tất nhiên.

Cờ vuông tượng gió được dùng trong các lễ hội của các tộc gió của Hùng Vương thế gian Phong Châu.

./Tượng Nước

Như đã nói ở trên nước thái âm có mầu đen và nước thái dương có mầu xanh dương nước biển. Cờ biểu tượng cho Nước âm, nữ có hình vuồng ở tâm mầu đen hay viền tua sóng nước mầu đen.

Cờ biểu tượng cho Nước dương có hình vuồng ở tâm mầu xanh dương hay viền tua sóng nước mầu xanh dương.

Cờ vuông tượng nước được dùng trong các lễ hội của các tộc nước, lễ hội nước của đại tộc Lạc Long Quân .

.Trục Thế Giới

Trụ vuông cũng được dùng làm biểu tượng cho Trục Thế Giới.

Cờ vuông coi như là thiết diện của trục thế giới, là ma phương 5/15.

Cờ vuông được dùng trong lễ hội dâng cúng lễ vật, thỉnh nguyện tới Tam Thế.

Ta đã biết Trục Thế Giới là thân Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) nên nhiều khi có một khuôn mặt là Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) vì vậy hình vuông ở tâm cờ có thể cũng có mầu lục.

. Sinh tạo, tái sinh

Hình vuông có một khuôn mặt Trứng Vũ Trụ, Thái Cực thái dương và cũng có khuôn mặt bộ phận sinh dục nữ, yoni vuông hiển nhiên mang nghĩa sinh tạo, về sau trong xã hội nông ghiệp được dùng trong các lễ hội cầu mùa, gặt hái như cái bánh chưng (Ý Nghĩa Đích Thực Của Bánh Dầy Bánh Chưng).

Cờ hình mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói).

Cờ hình nọc mũi tên biểu tượng cho nọc, dương, lửa, bộ phận sinh dục nam.

Cờ vuông đi đôi với cờ nọc mũi tên cho thấy rõ cờ vuông có một khuôn mặt là âm thái dương trăm phần trăm.  Hai lá cờ tiểu vuông và nọc mũi tên mang ý nghĩa nòng nọc, âm dương thái dương biểu tượng cho lưỡng nghi thái dương. Từ đây ta thấy rõ cờ vuông lớn có một khuôn mặt là thái cực phân sinh ra hai cờ con là hai cờ nhỏ nòng nọc, âm dương thái dương ở tầng lưỡng nghi ứng với bọc trứng vuông thái cực thái dương của Hùng Vương thái dương, sinh ra hai ngành Lửa có cờ biểu nọc mũi tên và ngành nước có cờ biểu là cờ nhỏ vuông.

Tua Cờ “Đuôi Nheo”

Tua viền cờ thường hay gọi là đuôi nheo. Tên gọi này không chỉnh vì tua viền cờ có nhiều dạng khác nhau không nhất thiết có hình đuôi cá nheo. Viền tua cờ có thể có hình lưỡi lửa, hình nọc mũi tên, hình sóng nước, hình gió cuộn.

Treo Cờ

Treo, cắm cờ phải theo qui luật nòng nọc, âm dương. Cờ dương nọc mũi tên treo hay cắm ở bên tay phải tức phía dương, phía bên có để trống và cờ vuông nhỏ treo hay cắm ở phía tay trái tức phía âm, phía bên để cồng.

Lưu ý

.Theo văn hóa Việt, bên phải là dương như thấy trên trống đồng nòng nọc, âm dương các hình chim thú đểu chuyển động từ trái sang phải tức theo chiều ngược với kim đồng hồ, theo chiều mặt trời.

.Thường hay lẫn lộn phía phải hay trái là nhìn từ phía ngoài vào bàn thờ hay từ trong ra. Nếu theo quan niệm theo nghĩa nội (cha, dương) thì ngành nội.  nọc, dương, cha nhìn từ trong ra và theo nghĩa ngoại (âm, mẹ) thì ngành ngoại, nòng, âm, mẹ nhìn từ ngoài vào.

GIẢI THÍCH Ý NGHĨA MỘT LÁ CỜ CHÍNH THỐNG

Hiểu rõ ý nghĩa rồi, ta thử giải nghĩa một lá cờ cổ truyền còn giữ được chính thống để kiểm chứng lại xem có đúng hay không. Xin lấy lá cờ ở đền thờ Hai Hà Trưng ở Đồng Nhân, Hà Nội ở trên làm ví dụ.

Cờ đại ở tâm có hình vuông mầu đỏ là mầu Hỏa, mầu lửa, màu mặt trời. Bốn góc ngoài có phụ đề thêm bốn ngọn lửa nói cho biết mầu đỏ là mầu lửa, mặt trời.

Hai Bà Trưng quê ở Châu Phong dòng dõi vua Hùng mặt trời có thủ đô đóng ở Mê Linh. Như đã biết Mê Linh có gốc từ cổ ngữ Việt mơ linh, mơ lang, mling, mlang là tên gọi con chim cắt, chim Việt, chim biểu của thần mặt trời Viêm Đế (xem Ý Nghĩa Ngày Lễ Hai Bà Trưng).  Bà Trưng dòng Hùng Vương, vua mặt trời thuộc ngành thần mặt trời Viêm Đế nên mầu chủ yếu ở tâm cờ có mầu đỏ đúng trăm phần trăm.

Phần còn lại của cờ có mầu trắng nổi trội, chế ngự.  Mầu trắng là mầu trong của Gió (Kim). Vành hình thoi cũng nói cho biết mầu trắng là mầu gió (hình thoi là dạng chuyển động của hình vuông tức âm thái dương chuyển động. Khôn có dương tính ‘động’ tức Khôn dương, thiếu âm IIO gió). Hai Bà Trưng quê ở Châu Phong (Châu Gió) dòng Hùng Vương nên mầu trắng chủ yếu của phần cờ còn lại liên hệ với khuôn mặt bầu trời gió của bọc trứng Hùng Vương đúng trăm phần trăm.

Hai vành vuông mầu hồng hiển nhiên biểu tượng cho mầu đỏ thái dương nữ ăn khớp trăm phần trăm với khuôn mặt nữ dòng mặt trời thái dương và với khuôn mặt nữ vương quần hồng.

Hai vàng mầu xanh dương là mầu nước thái dương cho biết Hai Bà có một khuôn mặt nữ thái dương hay thuộc ngành nươc dương Lạc Long Quân.

Vành ngoài cùng với tua mầu đen như đã nói ở trên ở đây nghiêng về nghĩa thái âm nữ nhiều hơn là nghĩa tang chế. Điểm này cũng thấy rõ những tua viền cờ (đuôi nheo) ở đây có hình ngọn lửa mang ý nghĩa lửa âm, lửa nữ chứ không có hình sóng nước biểu tượng cho cõi nước âm, tang ma.

Lá cờ lệnh nhỏ ở tâm cũng có mầu hồng đỏ mang ý nghĩa lửa thái dương nữ, nữ vương dòng mặt trời Hùng Vương. Vành mầu hồng to mang tính ngự trị có nghĩa là lửa chiến tranh của nữ vương vì đây là cờ lệnh, cờ chiến. Mầu trắng với nghĩa như trên. Vành hình thoi chuyển động cũng mang nghĩa gió chuyển động như trên. Vành đen ngoài cùng với tua viền hình ngọn lửa mang nghĩa như trên.

Đặc biệt cờ lệnh còn có một chuỗi hình ngữ nòng nọc ba thùy (tri-lobeb pattern) thái dương mang nghĩa nữ thái dương, nữ vương, thần tổ nữ, mẹ tổ nữ ngành mặt trời…

Hàng hình ba thùy thái dương mang nghĩa âm, nữ thái dương, nữ vương… Hàng hình thoi chuyển động mang nghĩa gió dương chuyển động.

Ở chương Chữ Nòng Nọc trong Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á tôi đã viết rõ về hình thái ba thùy này. Ở đây chỉ xin nhắc lại sơ qua.

Ba nòng OOO (tức ba âm có một khuôn mặt là quẻ Khôn) dính lại và mở ra tạo ra hình ba thùy có nhiều hình thái vẫn có gốc nghĩa là âm O thái âm OO, mây, mưa (mưa là nước OO rơi từ trời, không gian O), Khôn, Mẹ Hư Không Vũ Trụ, những đấng chí tôn nữ v.v .

Có hai loại hình ba thùy:

-/ Hình ba thùy âm:

Cả ba thùy đều thuôn tròn đầu còn mang âm tính, thái âm ngành nòng, thuần âm, Khôn, mây…

Hình ba thùy tròn đầu mang âm tính.

Hình mây ba thùy.

Hình ba thùy mang một ý thần tổ nữ, nữ vương, vua bà như thấy ở háng Phật bà:

Hình ba thùy ở háng tượng Phật Bà (ảnh của tác giả).

Và thấy ở trên vương miện của Bà Trưng:

Bà Trưng (tranh dân gian).

Ở đây nhìn theo thuần âm nên ba thùy tròn nếu nhìn theo nữ vương âm thái dương thì thùy ở giữa có hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) tức hình ba thùy dương (xem dưới).

-/Hình ba thùy dương

Loại này có thùy ở giữa nhọn đỉnh. Khi các hình ba thùy âm nam hóa, dương hóa thì thùy giữa có hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) (vài khi có thể coi đây là cái dấu nọc mũi nhọn > dương, thái dương). Có tác giả gọi hình này là hình lá đề.

Hình ba thùy dương lá đề trên gốm Bát Tràng (Phan Huy Lê, hình   XV).

Cây đề ruột thịt với cây đa, cây si. Lá đề là lá đa có một nghĩa biểu tượng cho bộ phận sinh dục nữ dòng lửa thái dương (Ca Dao Tục Ngữ, Tinh Hoa Dân Việt). Nghĩa lá đề, lá đa này thấy rõ qua hình ba thùy âm, lá đa, lá đề thái âm ở háng tượng Phật Bà ở trên.

Ở đây trên lá cờ lệnh (liên hệ với lửa, chiến tranh) của Hai Bà Trưng hình ba thùy ở dạng nữ lửa thái dương, nữ vương. Hàng hình thái ba thùy dương trên cờ lệnh nói cho thấy rõ cờ của nữ vương dòng thái dương.  Hình thái ba thùy dương ở đây đúng trăm phần trăm.

Như thế ta thấy rõ những lá cờ truyền thống ở đền Hai Bà Trưng còn mang ý nghĩa từ mầu sắc cho tới các hình thái trang trí theo hình, chữ viết nòng nọc vòng tròn-que trong Vũ Trụ giáo, theo cốt lõi lưỡng hợp Chim-Rắn, Tiên-Rồng. Những lá cờ này với những mầu sắc êm dịu mang âm tính. Ngày nay những lá cờ trong các lễ hội Hai Bà Trưng có những mầu sắc lòe loẹt với ý nghĩa nhiều khi  hoàn toàn sai lệch.

Qua ví dụ điển hình này ta thấy cờ truyền thống Việt Nam phải làm đúng theo cốt lõi văn hóa Đại Tộc Việt dựa trên lưỡng hợp nòng nọc, âm dương Chim-Rắn, Tiên-Rồng. Bắt buộc. Bắt buộc. Và bắt buộc. Cờ biểu tượng cho truyền thuyết và lịch sử Việt mà hiểu và xếp đặt mầu sắc theo ngũ hành là sai.

Tóm Lược Những Ý Nghĩa Chính của Cờ truyền Thống Việt Nam.

. Cờ mang trọn vẹn ý nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo.

-Cờ đại

Cờ đại hình vuông mang nghĩa biểu tượng cho vũ trụ, tạo hóa ngành thái dương có một khuôn mặt  biểu tượng cho Tổ Hùng tạo hóa ngành mặt trời thái dương và cho cả Hùng Vương thế gian, lịch sử  bầu trời, Gió đội lốt Tổ Hùng tạo hóa ngành nòng thái dương, Thần Nông thái dương.

-Cờ tiểu

Theo nghĩa nguyên thủy nòng nọc, âm dương phát xuất từ bộ phận sinh dục nữ nòng vòng tròn O và bộ phận sinh dục nam nọc chấm nguyên tạo hay nọc que thì cờ vuông là nòng không gian âm thái dương và cờ nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) là nọc mặt trời thái dương. Cờ vuông nhỏ và cờ nọc mũi tên nhỏ mang hình ảnh nòng nọc, âm dương biểu tượng cho hai nhánh lửa nước của trăm Lang Hùng.

Như vậy nguyên thủy phải hiểu hai loại cờ tiểu truyền thống có nguồn gốc lưỡng hợp nòng nọc, âm dương, cốt lõi của văn hóa Việt Chim-Rắn, Tiên-Rồng.

Chúng ta có tên bốn châu ứng với Tứ Tượng là Châu Dương là Châu Mặt Trời, Lửa ứng với Càn Đế Minh, Châu Kì Núi dương ứng với Li Kì Dương Vương, Châu Hoan là Châu Nước ứng với Chấn Lạc Long Quân và Châu Phong gió ứng với Hùng Vương mạng Đoài nên cờ của mỗi đại tộc có một mầu chủ yếu ứng với tứ tượng.

Đề Nghị Sửa Đổi Cho Đúng

Trong tất cả các lễ hội của Đại Tộc Việt cần phải có ba loại cờ có kích thước khác nhau:

./Cờ đại: trong bất cứ lễ hội nào cũng phải có lá cờ đại lớn nhất. Nếu là lễ hội liên quan với truyền thuyết, lịch sử Đại Tộc Việt thì đây là cờ liên bang của Bách Việt, của liên bang Văn Lang. Nếu là lể hội dân gian liên quan với Tam Thế thì đây là cờ biểu tượng  cho Vũ Trụ giáo.

Cờ này treo hay cắm ở chủ điểm của lễ hội.

./Cờ trung: có kích thước vừa phải biểu tượng cho ngành, đại tộc, tộc hay khuôn mặt chính của lễ hội dân gian nằm trong Vũ Trụ Tạo Sinh của buổi lễ.

Cở này treo hay cắm dưới cờ đại.

./ Cờ tiểu: có kích thước nhỏ hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) và hình vuông nhỏ biểu tượng cho nòng nọc, âm dương, cho hai ngành RắnThần Nông Chim Viêm Đế, hai nhánh Lửa Mẹ Tổ Âu Cơ và nhánh Nước Cha Tổ Lạc Long Quân cắm hay treo hai bên.

-Mầu Sắc

Cờ Vũ Trụ giáo

Đây là cờ biểu của văn hóa Đại Tộc Việt.

Chúng ta chỉ có tứ tượng, tứ hành và Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) không có ngũ hành. Người Trung Hoa cổ lấy Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) làm thành hành Mộc. Vì thế trên lá cờ biểu tượng cho Vũ Trụ giáo, cho Tổ Đại Tộc Việt có cốt lõi văn hóa là Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, hình vuông ở tâm cờ đại có mầu lục (xanh lá cây) chúng ta dùng biểu tượng cho Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống).

Cờ Đại Tộc Việt

Cờ Đại Tộc Việt dòng Hùng Vương ngành Viêm Việt thần mặt trời Viêm Đế:

1.Màu đỏ

Hình vuông ở tâm mầu đỏ. Mầu đỏ có hai khuôn mặt: một ở tầng lưỡng nghi là cực dương thái dương, mặt trời thái dương của Đại Tộc Việt Người Mặt Trời và hai là biểu tượng cho tượng Lửa ở tầng  tứ tượng có một khuôn mặt biểu tượng cho đại tộc Lửa dòng Đế Minh.

2. Mầu trắng

Kế tiếp mầu đỏ là mầu trắng. Mầu trắng cũng có hai khuôn mặt: một ở tầng lưỡng nghi là cực âm thái dương, không gian thái dương khí vũ trụ và hai là biểu tượng cho tượng Gió ở tầng  tứ tượng có một khuôn mặt biểu tượng cho đại tộc Gió dòng Hùng Vương thế gian.

Hai hình vuông mầu đỏ và mầu trắng này nhìn dưới dạng nhất thể là Trứng Vũ Trụ, Thái Cực họ thái dương ứng với bọc trứng thái dương Hùng Lang. Nếu nhìn dưới diện lưỡng nghi thì biểu tượng cho hai cực dương âm thái dương ứng với hai ngành : nhánh 50 Lang Lửa, Núi thái dương theo  Mẹ Tổ Âu Cơ và nhánh 50 Lang Nước, Biển theo cha Lạc Long Quân.

3. Mầu vàng

Kế tiếp nữa là vành vuông mầu vàng đất thái dương của đại tộc đất thái dương dòng Kì Dương Vương (nếu muốn cũng có thể dùng mầu đà, nâu đỏ).

4. Mầu xanh nước biển

Tiếp theo là vành vuông mầu xanh nước biển biểu tượng cho nước thái dương của Đại Tộc Nước thái dương dòng Lạc Long Quân.

5. Mầu lục (xanh lá cây)

Mầu lục biểu tượng cho Tam Thế diển tả bằng Cây Tam Thế  (Cây Vũ Trụ, Cây Đời Sống).

Lưu ý

.Trong trường hợp là cờ biểu Vũ Trụ giáo thì vành vuông ở tâm có mầu lục. Kế tiếp là những mầu còn lại ứng với  tứ tượng (trong trường hợp này nước có thể có dùng mầu đen nước thái âm).

.Trong trường hợp các cờ đại dùng làm biểu tượng cho mỗi đại tộc ứng với tứ tượng thì hình vuông ở tâm có mầu của đại tộc đó ví dụ Đại Tộc Nước thái dương Lạc Long Quân thì hình vuông ở tâm có mầu xanh nước biển (hay đen); Đại Tộc Đất thái dương có mầu vàng (hay đà); Đại Tộc Lửa có mầu đỏ (hay cam), Đại Tộc Gió có mầu trắng (hay lam).

.Về phía các vị vua, thần tổ nữ phải dùng các mầu âm  như  mầu hồng, mầu đen…

.Tại đền Hùng Vương phải có cờ đại biểu tượng cho Tổ Hùng Vương có kích thước với diện tích bằng 18 đơn vị vuông hay cạnh có 18 đơn vị chiều dài ứng với con số DNA của Hùng Vương. Hai cờ tiểu biểu tượng cho hai ngành: cờ tiểu vuông biểu tượng cho ngành Lửa Mẹ Tổ Âu Cơ treo ở phía tay trái (phía có để cồng) và cờ nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) biểu tượng cho ngành Lạc Long Quân treo ở phía tay phải (phía có để trống) và bốn cờ vuông biểu tượng cho bốn đại tộc của bốn vị vua tổ Đế Minh, Kì Dương Vương, Lạc Long Quân và Hùng Vương ứng với  tứ tượng treo hay cắm ở bốn góc.

Để phân biệt, tôi đề nghị ở giữa cờ  đại của Tổ Hùng  tạo hóa nên thêm vào chữ chấm-vòng tròn (tức bọc trứng 100 Lang Hùng) trong chữ viết nòng nọc vòng tròn-que thay vì viết chữ Hán Hùng Vương.

Ta cũng có thể dùng bẩy mầu ánh sáng trắng, mầu cầu vồng để diễn tả Hùng Vương Mặt Trời rạng ngời của Đại Tộc Việt Người Mặt Trời.

. . . . . .

- Tua viền cờ

Tua viền cờ có hình dạng khác nhau. Trong trường hợp mang nghĩa sinh tạo như cờ biểu tượng cho Vũ Trụ giáo, Tổ Hùng Vương thì viền hình sóng chuyển động dạng sin (sinusoid). Trường hợp là cờ biểu tượng cho mỗi ngành mỗi tộc thì viền có hình ngọn lửa nhọn (lửa thái dương), gợn sóng nước (nước thái dương), hình tháp (mũi tên, mũi mác, răng cưa, răng sói) (đất thái dương, núi dương nhọn đỉnh) và hình gió cuộn (móc cong úp xuống như hình diễn tả đuôi công) gió thái dương.

-Dải cờ

Có thể dùng làm sắc mã (color code) để hễ thấy dải mầu nào là biết ngay cờ là biểu tượng của liên bang Bách Việt, của ngành, đại tộc, tộc, chi tộc, của Vũ Trụ giáo, của khôn mặt nào của Vũ Trụ Tạo Sinh…

-Treo Cờ

Cờ đại treo hay cằm ở tâm điểm lễ hội.

Cờ trung treo hay cắm dưới cờ đại.

Cở tiểu dương thái dương nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói)  treo ở phía tay phải tức phía dương, phía có để trống và cờ tiểu âm thái dương hình vuông treo hay cắm ở phía trái, phía có để cồng hay chuông.

Cờ bốn đại tộc cắm ở bốn góc sân lễ hội ứng với tứ phương.

Kết Luận

Hiện nay các cờ truyền thống làm với mầu sắc lung tung tùy theo giải thích lệch lạc của địa phương, của từng nhóm tộc, làm tùy theo con mắt thẩm mỹ của nghệ sĩ. Ta phải làm cờ truyền thống mang ý nghĩa trọn vẹn theo Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo dựa trên lưỡng hợp nòng nọc, âm dương Chim-Rắn, Tiên-Rồng, cốt lõi của văn hóa Đại Tộc Việt.

February 11, 2011

Ý NGHĨA ĐÍCH THỰC CỦA BÁNH DẦY BÁNH CHƯNG.

Filed under: Ý Nghĩa Bánh Dầy Bánh Chưng — Quang Nguyen @ 8:07 am

Ý NGHĨA ĐÍCH THỰC CỦA BÁNH DẦY BÁNH CHƯNG.

Nguyễn Xuân Quang

Chúng ta thường nghe nói về sự tích bánh chưng bánh dầy dựa theo Lĩnh Nam chích quái. Theo truyền thuyết “sau khi vua Hùng phá được giặc Ân, muốn truyền ngôi cho con, bèn triệu hai mươi hai vị quan lang và công chúa lại mà phán rằng: ‘Ta muốn truyền ngôi cho kẻ nào làm ta vừa ý, cuối năm nay đem trân cam mỹ vị đến để tiến cúng tiên vương cho ta được tròn đạo hiếu thì sẽ được ta truyền ngôi’. Các con đều đua nhau đi tìm của ngon vật lạ khắp nơi. Duy chỉ có công tử thứ 18 là Lang Liêu, bà mẹ trước kia vốn bị vua ghẻ lạnh, vì cô đơn mà chết, không người giúp đỡ không biết xoay sở ra sao. Một đêm kia được thần nhân chỉ cho cách làm bánh chưng bánh dầy: ‘nay đem gạo nếp làm bánh, cái hình vuông, cái hình tròn để tượng trưng hình trời đất rồi dùng lá bọc ngoài, ở trong cho mỹ vị để ngụ ý công đức sinh thành lớn lao của cha mẹ.’ (Lĩnh nam chích quái, LNCQ tr.44). Lang Liêu làm y theo lời thần dậy và được vua cha truyền ngôi cho.” Bánh chưng được dân chúng dùng cúng trong ngày Tết nên thiên hạ đổi tên Lang Liêu thành Tiết Liệu (Tiết viết hơi giống từ Lang, từ Liệu cùng vần với Liêu, Tiết Liệu là thức ăn trong ngày Tết).

Truyền thuyết này có một chủ điểm ăn khớp với Vũ Trụ Tạo Sinh,  Vũ Trụ giáo, cốt lõi của văn hóa Việt Nam dựa trên lưỡng hợp nòng nọc, âm dương. Đó là bánh dầy hình tròn và bánh chưng hình vuông biểu tượng cho trời đất. Hai từ trời đất hiểu theo Dịch Trung Hoa, một thứ Dịch thế gian đã muộn, là càn khôn (Càn vi thiên, Khôn vi địa), nói tổng quát ngụ ý là hai yếu tố dương âm sinh tạo của tạo hóa. Trong khi trong Việt Dịch nòng nọc tạo hóa, càn là Lửa vũ trụ, mặt trời và khôn là không gian, luỡng hợp ở cõi tạo hóa.

Trong truyền thuyết trên cũng cần chú ý tới câu “để tiến cúng tiên vương cho ta được tròn đạo hiếu” và “để ngụ ý công đức sinh thành lớn lao của cha mẹ”, như thế bánh chưng bánh dầy mang ý nghĩa ‘đạo hiếu’ của Hùng vương đối với các ‘tiên vương’ và ‘cha mẹ’ của Hùng vương. Đây là đạo thờ cúng ông bà, cha mẹ, một khuôn mặt thấy trong các nền văn hóa theo Vũ Trụ giáo.

Như thế ta phải hiểu bánh dầy báng chưng dưới lăng kính trọn vẹn của Vũ Trụ Tạo Sinh, cốt lõi của văn hóa Việt Nam.

BÁNH DẦY DƯỚI LĂNG KÍNH VŨ TRỤ TẠO SINH

Bánh dầy có hình tròn và được coi là biểu tượng cho trời. Nhưng từ trời rất tổng quát và chỉ nhìn theo một diện của ý nghĩa vòng tròn O trong Vũ Trụ Tạo Sinh. Ta phải hiểu vòng tròn O theo tất cả ý nghĩa trọn vẹn của chữ nòng O trong chữ viết nòng nọc vòng tròn-que theo Vũ Trụ giáo. Tôi đã viết rõ ý nghĩa của chữ Nòng O trong chữ viết nòng nọc vòng tròn-que trong chương Chữ Nòng Nọc Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á. Chữ nòng O này với các nghĩa theo Vũ Trụ Tạo Sinh được ghi lại qua hình vỏ không gian bao quanh các đầu tia sáng mặt trời ở tâm trống đồng nòng nọc, âm dương. Với độ dầy mỏng khác nhau vỏ không gian nòng O cho biết không gian hay mặt trời mang tính nòng nọc, âm dương gì (dương, âm, thái dương, thiếu dương, thái âm, thiếu âm)  (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á). Ở đây chỉ nhắc qua đủ cho bài viết.

1. Hư vô, Vô Cực

Vũ trụ khởi thủy chỉ là một cái túi, cái bọc hư không  ứng với vô cực được diễn tả bằng vòng tròn đứt đoạn, sau đó khi đã định hình thì được diễn tả bằng vòng tròn O có bề dầy vừa phải hay hình đĩa tròn trong, không màu sắc hay để trắng.

Như thế theo trung tính bánh dầy hình đĩa tròn mầu trắng có một khuôn mặt biểu tượng cho hư vô, vô cực.

2. Trứng Vũ Trụ hay Thái Cực

Hư không cực hóa có nòng nọc, âm dương nhưng khi nòng nọc, âm dương còn quện vào nhau, còn ở dưới dạng nhất thể thì lúc này

là Trứng Vũ Trụ hay Thái Cực.

Như thế bánh dầy cũng có thể coi là hình ảnh của Trứng vũ trụ. Muốn rõ hơn thì là loại bánh dầy có một chấm son đỏ hay dán một một miếng giấy điều hình vòng tròn ở tâm mặt bánh dầy hoặc là thứ bánh dầy có hột nhân đỗ tròn ở giữa gọi là bánh tu hú (xem dưới). Bánh này là chữ vòng tròn có chấm (hay chấm vòng tròn) trong chữ viết nòng nọc vòng tròn-que mang nghĩa nòng nọc, âm dương nhất thể, sinh tạo, tạo hóa, mặt trời-không gian, vũ trụ. Xin nhắc lại chấm đặc, nhất là khi có mầu đỏ, là chữ nọc nguyên tạo, sinh tạo ở tầng tạo hóa. Chữ nọc chấm này sinh ra nọc que ở tầng lưỡng nghi).

Sự tiến hóa của chữ nọc chấm.

Từ hư không, không gian nguyên khởi xuất hiện mầm nọc dương dưới hình thức nọc chấm hay chấm nọc (tất cả mọi vật đều khởi đầu bằng hình thái vi thể). Nọc chấm là nọc nguyên sinh ở cõi tạo hóa. Một chấm nọc lớn lên bằng các phân sinh ra làm hai chấm, nối lại ta có một nọc que, là nọc trưởng thành ở tầng lưỡng nghi.  Nọc que tách ra làm hai rồi ghép lại thành nọc chữ thập mang tính sinh tạo năng động ở tầng tứ tượng…

Hư không cực hóa có chấm nọc nguyên tạo. Chữ vòng tròn-chấm , (hay chấm-vòng tròn) dưới dạng nhất thể là Trứng Vũ Trụ, Thái Cực. Sau đó chấm nọc nguyên tạo tách ra làm đôi, nối lại thành nọc que. Ở tầng lưỡng nghi khi phân cực Trứng Vũ Trụ tách ra thành nòng O và nọc que. Sau đó lưỡng nghi sinh ra tứ tượng.

Bọc Trứng Vũ Trụ này là tiền thân, nguồn cội sinh ra bọc trứng Hùng Vương thế gian.

Bánh dầy có một khuôn mặt biểu tượng cho bọc trứng Hùng Lang, biểu tượng cho khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa, vũ trụ của Hùng Vương.

3. Lưỡng Nghi

Trứng Vũ Trụ hay Thái Cực khi phân cực, tách ra làm hai cực nòng, nọc, âm, dương ta có lưỡng nghi. Ở tầng lưỡng nghi nọc dương có hình nọc que và nòng O có vỏ dầy mang tính âm.

-Cực âm

Theo thuần âm, nòng O biểu tượng cho lỗ sinh dục nữ, cực âm,  Khôn, không gian âm, nước, mặt trời đĩa tròn âm nữ, không có tia sáng, mặt trăng nữ.

Bánh dầy có hình đĩa tròn có một khuôn mặt biểu tượng cho nòng âm, cực âm.

Vì thế bánh dầy nếu chỉ hiểu theo nghĩa biểu tượng cho Trời thì phải hiểu trọn vẹn theo nghĩa của nòng O. Trời ở cõi tạo hóa là bầu trời sinh tạo, tạo hóa ngành nòng âm. Trời có thể là không gian, vũ trụ âm, là bà trăng, là mặt trời âm, nữ, “bà giời”, nữ thần mặt trời dòng nòng khi mẫu quyền ngự trị. Mẹ Tổ Âu Cơ có một khuôn mặt là bà giời thấy rõ qua câu ca dao:

Ông giăng mà lấy bà  giời,

Mồng năm dẫn cưới, mồng mười rước dâu.

Mồng năm với số 5 là số Lửa Li có biểu tượng là núi Trụ Thế gian bản thể của Mẹ Tổ Âu Cơ (dẫn 50 con lên núi) và mồng mười với số 10 là 8+2 = 10 tức số 2 Nước Khảm tầng 2 thế gian, bản thể nước, biển của Lạc Long Quân (dẫn 50 con xuống biển). LửaÂu Cơ  và Nước  Lạc Long Quân hôn phối với nhau nên chọn làm ngày 5 dẫn cưới ngày 10 rước dâu thật chí lí.

Mẹ Tổ Âu Cơ có một khuôn mặt Lửa vũ trụ là mặt trời rạng sáng (nhật tảo) hình đĩa tròn không có tia sáng.  Bánh dầy nhuộm mầu hồng là biểu tượng cho khuôn mặt nữ thần mặt trời của Âu Cơ (hồi nhỏ ở Bắc, tác giả có thấy loại bánh dầy mầu hồng này).

Mẹ Tổ Âu Cơ có một khuôn mặt là Thái Dương Thần Nữ của chúng ta Người Việt Mặt Trời rạng ngời. Thái dương thần nữ Âu Cơ  tương ứng với thái dương thần nữ  Ameraterasu của Nhật Bản (Nhật Bản có một gốc Bách Việt).

-Cực dương

Theo duy dương, nòng O mang dương tính là mặt trời âm, mặt trời lặn, mặt trời đêm, ông trăng (trăng là một thứ ‘mặt sáng’) của ngành nọc, không gian dương tức khí gió. Thời Hùng vương xã hội con người đã bước vào thị tộc phụ quyền ngự trị nên đây phải là mặt trời lặn, mặt trời đêm hay ông trăng đại diện phía nòng âm. Ta đã biết mặt trời lặn, ông trăng là biểu tượng của Lạc Long Quân mặt trời nước hay lửa-nước. Về màu sắc thì mặt trời mang tính âm có màu âm là màu trắng và mặt trời lặn, hoàng hôn thường nhuộm mầu tím đen, mầu quân (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Bánh dầy màu hồng tím là màu mặt trời lặn. Hồi nhỏ tác giả thấy ở đình làng thường cúng bánh dầy nhuộm hồng thẫm như màu trái mồng quân. Màu ‘quân’, màu huân, mầu quả mận, màu đỏ bầm, màu tím đỏ, chính là hình ảnh mặt trời lặn của ‘Quân’ Lạc Long Quân.

3.  Tứ Tượng

-Tượng Lửa

Vòng tròn, hình đĩa tròn có một khuôn mặt hạt lửa, mầm lửa, mặt trời không có tia sáng.

Như đã nói ở trên theo duy âm bánh dầy loại nhuộm hồng là mặt trời nữ rạng sáng biểu tượng cho Mẹ Tổ Âu Cơ và theo duy dương bánh dầy mầu hồng tím biểu tượng cho Lạc Long Quân, mặt trời lặn.

-Tượng Nước

Vòng tròn có một khuôn mặt không gian thái âm nước, bọc, túi nước (ao, hồ), mặt trăng.

Theo duy âm bánh dầy mầu trắng có một khuôn mặt biểu tượng cho không gian âm, nước, mặt trăng tròn mang tính thái âm, nước (trăng nước)…. Bánh dầy “nước” biểu tượng cho đại tộc Thần trong nhánh Thần Nông [Thần biến âm với, thắn (Mường ngữ là rắn), thằn (thằn lằn), thẩn (giao long)… liên hệ với nước).

-Tượng Gió

Vòng tròn có một khuôn mặt không gian dương, thiếu âm khí gió.

Theo duy dương bánh dầy mầu trắng có một khuôn mặt biểu tượng cho không gian dương khí gió ứng với khuôn mặt bầu trời gió Hùng Vương. Bánh dầy “gió” biểu tượng cho đại tộc Nông trong ngành Thần Nông (nông biến âm với không, khí gió).

Như đã nói ở trên có một loại bánh dầy trong có nhân tròn bằng đậu xanh gọi là bánh tu hú. Bánh tu hú tương đương với bánh dầy

nhân đậu xanh Mochi của Nhật. Bánh tu hú hình tròn có nhân tròn mang hình ảnh chữ viết nòng nọc vòng tròn-que là vòng tròn-có chấm nọc tức có một khuôn mặt thiếu âm là không gian dương, khí gió. Chim tu hú là chim biểu của Gió  (gió hú) (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Bánh dầy tu hú biểu tượng cho tượng gió, biểu tượng cho khuôn mặt Gió, bầu trời thế gian của Hùng Vương. Ngày giỗ tổ Hùng Vương trên bàn thờ tổ phải có bánh dầy tu hú.

-Tượng Đất

Vòng tròn có một khuôn mặt lửa âm, thiếu dương đất. hình tròn biểu tượng cho trái đất tròn.

Theo duy âm là vùng đất có nước là ao, chuôm, đầm lầy. Từ ao đầm sinh ra ruộng thấp có nước gọi là ruộng chiêm… chiêm biến âm với chằm (ao đầm).  Ruộng chữ điền hình vuông là dạng nam hóa, ruộng dương, ruộng khô hậu thân của ruộng nước chiêm ao đầm. Hình vuông là dạng nam hóa của vòng tròn vì có góc cạnh (xem dưới).

. . . . .

Như thế bánh dầy phải hiểu theo ý nghĩa trọn vẹn của Vũ Trụ Tạo Sinh, cái cốt lõi của văn hóa Việt dựa trên lưỡng hợp nòng nọc, âm dương Chim-Rắn, Tiên Rồng. Nếu chỉ hiểu theo nghĩa biểu tượng cho Trời thì quá thiếu sót.

BÁNH CHƯNG DƯỚI LĂNG KÍNH VŨ TRỤ TẠO SINH

Bánh chưng vuông làm nhiều ở miền Bắc trong khi Trung Nam làm bánh tét có hình trụ tròn.

Bánh chưng hiện nay thường được hiểu theo nghĩa biểu tượng cho Đất. Tuy nhiên bánh chưng đi đôi với bánh dầy hiển nhiên bánh chưng cũng phải hiểu theo ý nghĩa trọn vẹn của Vũ Trụ Tạo Sinh. Ta đã hiểu những ý nghĩa của bánh dầy trong Vũ Trụ Tạo Sinh rồi thì suy ra ý nghĩa của bánh chưng không khó và không bị sai lạc.

Duy có một điều khác với bánh dầy là bánh chưng có hiều hình dạng thay đổi tùy từng vùng Bắc, Trung Nam. Bánh chưng có thể có hình vuông, hình trụ tròn hay trụ vuông. Với các hình dạng khác nhau này ta phải hiểu ý nghĩa của mỗi loại bánh này dưới những góc cạnh khác nhau của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo.

Trước hết ta hãy tìm ý nghĩa bánh chưng vuông trong Vũ Trụ giáo.

Hình vuông có nghĩa gì trong chữ viết nòng nọc vòng tròn-que?

Như đã viết nhiều lần (Chữ Nòng Nọc, Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á), hình vuông có một khuôn mặt là dạng thái dương của nòng O. Nói một cách dễ hiểu là hình vuông là nòng O của ngành lửa, thái dương, mặt trời thái dương. Một ví dụ điển hình là hình tượng Linga-yoni của Ấn giáo có hình dương vật hình trụ tròn linga cắm trên bệ âm hộ yoni hình vuông.

Linga trụ tròn cắm trên yoni vuông ở Mỹ Sơn. Ở tượng này, yoni có dạng hình vuông (ảnh của tác giả).

Dạng yoni hình vuông này là dạng dương hóa, thái dương của dạng yoni hình vòng tròn nòng O nguyên thủy:

Linga trụ tròn cắm trên yoni có hình dạ con tròn (và hình âm đạo hình omega). Ở tượng này, yoni còn giữ dạng nòng nọc, âm dương nguyên thủy. Lưu ý trong âm đạo có hình một con tinh trùng!

Ở dạng nòng nọc, âm dương nguyên thủy này ta thấy rất rõ linga có ling- biến âm với Việt ngữ đinh (linh đinh, lênh đênh) là một vật nhọn biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam (đinh hàm nghĩa con trai phái nam như tráng đinh, thành đinh), ling- biến âm với Việt ngữ lính (ngày xưa chỉ giới có linga, có đinh mới phải đi lính). Còn yoni thì theo y=d (yes, Nga ngữ ya = dạ), yon- = don. Ở Thái Bình có một loại hến sò gọi là con don. Món canh don rất nổi tiếng ở Thái Bình. Sò hến có một nghĩa chỉ bộ phận sinh dục nữ. Theo d=l (dần dần = lần lần) don = l…

Cái cối biểu tượng cho bộ phận sinh dục nữ thấy qua cặp chầy cối. Cối biến âm với cái. Cối giã gạo cũng có loại miệng hình vuông.

Ca dao Việt Nam cũng so sánh bộ phận sinh dục của bà Nữ Oa bằng một thửa ruộng ba mẫu « L… bà Nữ Oa bằng ba mẫu ruộng, Bòi ông Tứ Tượng bằng bốn con sào» Ruộng có hình vuông. Đồ bà Nữ Oa cũng hình vuông. Chứng tích ruộng hình vuông thấy qua Hán tự ‘điền’ viết bằng hình vuông chia ra làm 4 ô nhỏ bởi chữ thập. Mặt chữ điền là mặt vuông. “Lá trúc buông che mặt chữ điền” (Hàn Mặc Tử). Ta thấy rõ  «ruộng vuông» của Nữ Oa giống cái yoni vuông của Ấn giáo. Tác giả Kim Định cũng nhận thấy “vuông đi với đất, cái, đàn bà” (Việt Lý Tố Nguyên tr.354).

Như thế rõ ràng hình vuông có một khuôn mặt là dạng dương hóa, thái dương của nòng O.

.Hư Không hay vô cực.

Như đã nói, bánh chưng vuông cũng hàm chứa một ý nghĩa hư không nòng O đã chuyển qua dạng thái dương.

.Trứng Vũ Trụ hay Thái Cực

Tương tự với vòng tròn, hình vuông cũng hàm chứa ý nghĩa sinh tạo, tạo sinh của Trứng Vũ Trụ, Thái Cực nhất là của ngành nòng âm ứng với Thần Nông.

Bánh chưng vuông có một khuôn mặt biểu tượng cho Hùng Vương lưỡng hợp thái dương ở cõi tạo hóa (về phía Mẹ Tổ Âu Cơ)

.Lưỡng Nghi

-Cực âm

Như đã thấy hình vuông có một khuôn mặt biểu tượng cho nòng, bộ phận sinh dục nữ, âm, cực âm…

Bánh chưng vuông có một khuôn mặt yoni vuông.  Để phân biệt nên dán một hình vuông hay tròn mầu đen.

Như vậy báng chưng vuông có một khuôn mặt thái dương của nòng O phía Mẹ Tổ Âu Cơ, có một khuôn mặt là lửa, thái dương thần nữ, núi đất dương.

-Cực dương

Theo duy dương, hình vuông có một khuôn mặt biểu tượng cho thái dương, lửa của ngành âm. Cũng xin nhắc lại người Inca có mặt trời hình vuông (xem Sự Tương Đồng Giữa Cổ Việt và Inca).

Bánh chưng vuông có một khuôn mặt biểu tượng cho thái dương, cực dương (thường là ngành âm). Để phân biệt nên dán một hình vuông hay tròn mầu đỏ.

. Tứ Tượng

Ta đã biết hình vuông biểu tượng cho tứ phương, bốn hướng, cho tứ trụ, bốn nguyên sinh động lực chính… ứng với tứ tượng. Hình vuông để đứng trên một đỉnh biểu tượng cho tứ tượng chuyển động, sinh động ứng với tứ hành (James Churchhard).

Hiển nhiên bánh chưng vuông bốn góc biểu tượng cho tứ tượng, tứ hành âm và dương, gộp lại là tám tượng ứng với bát quái của Dịch. Bánh chưng vuông với các sợi dây lạt buộc chia ra làm 9 ô vuông nhỏ ứng với hình ma phương (xem dưới).

.Tượng đất

Nếu hiểu theo nghĩa đất có hình vuông thì đây là khuôn mặt chính của bánh chưng vuông. Truyền thuyết nói “đem gạo nếp lành bánh, cái hình vuông, cái hình tròn để tượng trưng hình trời đất”. Đất vuông có thể hiểu theo hai cách. Cách thứ nhất các nhà nho hiểu theo văn hóa Trung Hoa cổ quan niệm quả đất hình vuông giống như thời xưa Tây phương cũng tin là quả đất hình vuông. Những đồng tiền kim loại cổ Trung Hoa  hình tròn có lỗ vuông mang ý nghĩa trời tròn đất vuông. Tuy nhiên quan niệm này của Trung Hoa rất muộn khác với Đại Tộc Việt. Theo một số tác giả khảo cứu trống đồng dựa vào những sinh hoạt trên mặt trống xoay quanh mặt trời cho rằng về thời Hùng vương có lẽ tổ tiên ta đã biết quả đất tròn rồi. Diệp Đình Hoa cũng cho biết quan niệm cho trái đất vuông hiểu theo truyền thuyết “Bánh chưng” là sai: ”Qua sự nghiên cứu tục thờ thần mặt trời ở nước ta, phải chăng thuở ấy những người Việt này đã biết đến sự xoay chuyển của quả đất quanh mặt trời. Điều này rõ ràng mâu thuẫn với truyền thuyết trời tròn đất vuông trong chuyện ‘bánh chưng’. Trong trường hợp này, theo chúng tôi, tài liệu khảo cổ xác thực và đáng tin hơn” (Khảo cổ học và vấn đề Hùng vương, Hùng Vương Dựng Nước, NXB KHXH, HN, 1972 t. I, tr.41, phần cước chú số 3).

Như thế bánh chưng vuông nếu hiểu theo nghĩa biểu tượng cho  đất thì không phải là hình ảnh của quả đất vuông mà bánh chưng vuông là biểu tượng cho một loại đất có hình vuông.  Đó là đất ruộng đồng có hình vuông như đã nói ở trên. Bánh chưng có hình vuông là làm theo hình ảnh của đồng ruộng. Theo duy âm là ruộng mẹ. Đồng có nghĩa là mẹ như việc đồng áng là việc mẹ cha (cổ ngữ Việt áng ná là cha mẹ); đồng bóngbóng mẹ. Mã ngữ indong là mẹ. Chứng tích hùng hồn nhất là ở một vài vùng ở đất tổ cũ ngày nay vẫn coi Âu cơ là nữ thần lúa, Mẹ lúa.

Theo ý nghĩa câu nói trong truyền thuyết qua từ “trời đất”. Nếu hiểu trời dương thì đất là âm. Như thế hiển nhiên bánh chưng đất âm là đất mẹ, đất đồng ruộng. Cũng nên hiểu thêm là khi con người bước vào thời nông nghiệp, sống bám vào đất, coi việc đồng áng là việc mẹ cha thì đất mẹ được coi trọng tôn thờ trên hết. Lúc này hình vuông đồng ruộng được dùng làm biểu ngữ cho mẹ, âm, bộ phận sinh dục nữ (chính là thửa ruộng ba mẫu của bà Nữ Oa) Vào lúc tổ tiên ta đã sống vào thời xã hội nông nghiệp (mới có gạo nếp) thì bánh chưng có độ cao là có hình đất vuông ruộng đồng và có thể có trước bánh tét trụ tròn biểu tượng cho cho nọc, cha (xem dưới).

.Tượng lửa

Như đã nói ở trên hình vuông có một khuôn mặt lửa, thái dương.

Bánh chưng có một nghĩa tượng lửa nằm trong ý nghĩa của cực dương. Để phân biệt bánh loại này nên cột dây đỏ.

Về cầu tạo nhân bánh chưng biểu tượng cho dương thường làm bằng đậu vo tròn rồi ép dẹp xuống thành hình đĩa tròn mặt trời mang ý nghĩa hột, mặt trời, lửa. Nhân thường làm bằng thực phẩm có dương tính như đỗ (đậu) xanh. Hột đỗ tròn biểu tượng cho dương, lửa, mặt trời. Nhiều khi nhân nhuộm phẩm đỏ ví dụ  thịt ba chỉ nhuộm đỏ (xem chương Tế Thực, Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).  Bằng chứng thấy rõ nhất là nhân đậu tròn biểu tượng cho nọc, nam, dương, lửa, mặt trời cũng thấy qua chiếc bánh chồng vợ phu-thê thường gọi là bánh ‘xu-xê’. Bánh hình tròn (giống yoni hình tròn) hay hình vuông (giống yoni vuông) biểu tượng cho âm, cho thê (vợ) và nhân đậu tròn (chấm nọc nguyên tạo biểu tượng cho dương, cho phu (chồng).

.Tượng Gió

Hình vuông có một khuôn mặt  thiếu âm gió thái dương. Khi  chuyển động hình vuồng biến thành hình thoi. Trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn, hình thoi biểu tượng cho gió dương chuyển động (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam).

Về cấu tạo, bánh chưng gói bằng lá dong. Lá dong là lá gói, lá bao. Bao dung, bao dong. Túi bao biểu tượng cho gió. Dong biến âm với dông. Lá dong là lá gió (xem chương Tế Thực, Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Bánh chưng gói bằng lá dong, lá dông mang một yếu tố gió.

.Tượng Nước

Hình vuông có một khuôn mặt nước mang tính thái dương

Về cấu tạo, bánh chưng làm bằng gạo nếp. Gạo cũng có nghĩa là nước vì lúa nguyên thủy là loài cỏ mọc dại ở  đầm nước. Gạo biến âm với gáo, gầu, khau, chậu… những vật dùng liên hệ với nước… (xem chương Tế Thực). Điểm này giải thích tại sao có tác giả đã giải thích ý nghĩa bánh chưng theo cái giếng Việt (Việt tĩnh) có hình vuông. Việt có nghĩa vật nhọn, rìu, dương, thái dương, mặt trời…  nên giếng Việt của Người Việt Mặt Trời thái dương là giếng thái dương có hình vuông thay vì  hình tròn. Nếu hiểu như thế thì bánh chưng vuông có một khuôn mặt biểu tượng cho giếng Việt, cho nước.

Tóm tắt lại bánh chưng mang biểu tượng Nòng Nọc âm dương và tứ tượng nghĩa là mang trọn vẹn ý nghĩa của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo. Hiểu bánh chưng biểu tượng cho đất là hiểu theo một góc cạnh rất nhỏ của bánh chưng.

BÁNH TÉT DƯỚI LĂNG KÍNH VŨ TRỤ TẠO SINH

Trung Nam có loại bánh chưng hình trụ tròn hay trụ vuông gọi là bánh Tét. Bánh tét hình trụ tròn gọi là đòn bánh tét. Đồng bào Quảng Bình gọi bánh tét là “bánh đòn”.

Giáo sư Trần Quốc Vượng đã viết như sau: “Nửa nước người Việt phía  nam gốc cội miền Bắc chỉ gói bánh tét (Tết). Và đi điền dã ở

Cổ Loa, cố đô Âu Lạc trước Công  nguyên chỉ cách Hà Nội 17 km, chúng tôi mới té ngửa ra rằng dân Cổ Loa cho tới nay vẫn gói

bánh chưng hình trụ như bánh tét miền Nam. Các cụ già 70-80 tuổi ở Cổ Loa bảo ‘Chúng tôi chỉ mới gói bánh chưng vuông từ vài

chục năm nay’”!

….

Thoạt kỳ thủy, bánh chưng không được gói vuông như bây giờ mà gói tròn như bánh Nam Bộ, gọi là đòn bánh tét là hoàn toàn chính

xác. Ngay giờ đây, xin các bạn chỉ quá bộ sang Cổ Loa, Đông Anh ngoại thành Hà Nội thôi, vẫn thấy bà con cố đô Cổ Loa gói bánh

chưng như đòn bánh tét và vẫn gọi nó là bánh chưng, thảng hoặc mới gói thêm bánh chưng vuông (Trần Quốc Vượng, Triết Lý Bánh Chưng Bánh Dầy).

Vấn đề bánh tét có trước bánh chưng «hoàn toàn chính xác», theo tôi cần xét lại vì xã hội mẫu hệ có trước xã hội phụ hệ và Mẹ Tổ

Âu Cơ là Mẹ Lúa, Nữ Thần Lúa, chúng ta chưa nghe nói Lạc Long Quân là Cha Lúa. Tộc Mẹ Tổ Âu Cơ làm bánh chưng vuông và tộc

Cha tổ Lạc Long Quân làm bánh tét có thể cùng thời, nều không muốn nói là xã hội mẫu quyền có trước và còn duy trì trong xã hội nông nghiệp thì bánh chưng vuông có thể có trước (xem dưới).

Hiển nhiên bánh tét là một thứ bánh chưng nên cũng mang ý nghĩa biểu tượng theo Vũ Trụ Tạo Sinh. Bánh tét có hình trụ tròn, một thứ nọc que. Ta đã biết chữ nọc que trong chữ viết nòng nọc vòng tròn-que  mang trọn vẹn ý nghĩa của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á). Ở đây chỉ xin nhắc lại ý nghĩa chính đối ứng với nghĩa bánh chưng vuông với nghĩa là bộ phận sinh dục nữ, đất ruộng vuông.

-Cực dương

Bánh tét hình trụ tròn đầu (mang âm tính) hiển nhiên biểu tượng cho nọc, bộ phận sinh dục nam, dương, mặt trời ngành âm (trong khi nọc nhọn đầu biểu tượng cho ngành dương).

Bánh tét trụ tròn để trên bánh chưng vuông chính là hình ảnh của linga hình trụ để trên yoni hình vuông của Ấn giáo.

.Tứ tượng

Bánh tét nhất là loại hình trụ vuông có một khuôn mặt biểu tượng cho  tứ tượng.

./Tượng Lửa

Trụ nọc que nhọn đầu biểu tượng cho tượng Lửa.  Trụ tròn đầu biểu tượng cho tượng lửa mang âm tính. Bánh tét trụ tròn đầu mang hình ảnh trụ (búa) thiên lôi của khuôn mặt sấm mưa của Lạc Long Quân.

./ Tượng Nước

Hình trụ rỗng  hai đầu (hai rỗng là hai âm, thái âm, hai thành trụ que của ống là hai nọc, thái dương) hình ống dẫn nước, máng nước

mang ý nghĩa nước (thái âm) chuyển động.

Nước chuyển động (sông, biển) là một khuôn mặt của Lạc Long Quân.

./Tượng Gió

Trụ hình dóng làm dóng  (dùi)  trống biểu tượng cho dông, gió. Ông Dóng là ông thần Sấm Dông Gió nên mới có tên là  Phù Đổng Thiên Vương (Phù là Nổi liên hệ với gió, Đổng biến âm với Động là sấm. Sấm động bốn phương trời). Phù Đổng Thiên Vương là hậu thân của Lạc Long Quân (Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt).

Bánh tét hình trụ ống, hình dóng (mía) có một khuôn mặt biểu tượng cho dóng trống, dóng thiên lôi của khuôn mặt sấm dông của ông Dóng sấm dông.

./Tượng đất

Trụ nọc nhọn đầu biểu tượng cho núi trụ, núi lửa trong khi trụ tròn biểu tượng cho núi trụ tròn đầu tức`núi âm hay non.

Lạc Long Quân có nhũ danh là Sùng Lãm có nghĩa là Cao Đẹp tức núi xanh tươi cao đẹp, núi âm có nước. Bánh tét có một khuôn mặt biểu tượng cho Sùng Lãm Lạc Long Quân. Theo diện âm dương tương đồng thì núi âm, núi nước tức non Lạc Long Quân đi với đất ruộng đồng thái dương lửa hình vuông Âu Cơ.

Nhìn dưới diện lịch sử, An Dương Vương, Mặt Trời Êm Dịu có một khuôn mặt là Non (núi âm) dòng Non Sùng Lãm Lạc Long

Quân đối ngược với Kì Dương Vương có một khuôn mặt là nổng, núi Kì (núi dương). Đây chính là lý do dân vùng Cổ Loa thuộc

dòng non An Dương Vương  làm bánh chưng hình trụ tròn tức bánh tét (xem dưới).

…….

Nhìn từ gốc cội nguồn, bánh tét hình trụ`tròn mang ý nghĩa chính là nọc tròn biểu tượng cho nọc ngành âm (âm nam), bộ phận sinh dục`nam, non…

Tóm Lược Những Ý Nghĩa Chính Của Bánh Dầy Và Bánh Chưng

.Bánh dầy tròn theo thái âm biểu tượng cho nòng, nường, bộ phận sinh dục nữ, yoni. Vì thế bánh dầy mang trọn vẹn ý nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo dựa trên lưỡng hợp nòng nọc, âm dương.

.Bánh chưng tổng quát cũng mang ý nghĩa trọn vẹn của Vũ Trụ giáo nhưng tùy theo hình dạng mà ý nghĩa áp dụng cho ngành, tộc tương ứng.

-Bánh chưng vuông

Biểu tượng bộ phận sinh dục nữ dạng thái dương (yoni vuông) cho ruộng đồng hình chữ điền của ngành mẹ Âu Cơ thái dương.

-Bánh tét trụ tròn

Biểu tượng cho nọc, nõ, bộ phận sinh dục nam, linga, cho  núi trụ tròn đầu non của ngành cha Sùng Lãm Lạc Long Quân.

Bây giờ thì ta hiểu rõ tại sao nửa nước người Việt phía nam gói bánh Tét. Dĩ nhiên nửa nước người Việt phía Nam có gốc gác liên

hệ với dòng nước Lạc Long Quân, An Dương Vương. Điều này cũng dễ hiểu thôi. Vùng phía bắc miền Trung Việt Nam (Thanh

Hóa, Nghệ Tĩnh, Quảng Bình…) xưa kia là vùng đất trũng ven biển, thuộc ngành nước Lạc Long Quân, có thời có tên là Châu

Hoan. Hoan, Oan  có gốc Oa- là nước như oan ương là vịt nước le le, oa là con ốc, con ếch… (liên hệ với nước), oasis là ốc đảo, “đảo

nước” trong sa mạc… Châu Hoan là Châu Nước (trong cổ sử, chúng ta có tên bốn châu ứng với Tứ Tượng là Châu Dương là Châu Mặt Trời, Lửa ứng với Càn Đế Minh, Châu Kì Núi dương ứng với Li Kì Dương Vương, Châu Hoan là Châu Nước ứng với Chấn Lạc Long Quân và Châu Phong gió ứng với Hùng Vương mạng Đoài).  Ngày xưa ở Châu Hoan này có một cái thành hình kén (cocoon) gọi là Kiển Thành, Đào Duy Anh cho rằng đây là “Kén Thành” tiền thân của thành Cổ Loa ở gần Hà Nội bây giờ. Kén có hình nang, hình bọc hiển nhiên là biểu tượng của dòng Nòng, âm liên hệ với An Dương Vương. Như thế dân vùng bắc miền Trung Việt Nam liên hệ với  dòng Nòng An Dương Vương nên họ làm bánh tét. Rồi đến thời Nam Tiến, phần lớn dân vùng này xuôi nam và mang theo bánh tét. Đây chính là lý do nửa nước người Việt phía nam gói bánh Tét.

Hiện nay tại miền Bắc cũng có một vài sắc tộc gói bánh tét gọi là bánh tày. Đọc thêm hơi vào tày, tầy là thầy. Các tộc này gọi cha mẹ là thầy u là gọi theo Thầy Lạc Long Quân và U Âu Cơ (U là Âu). Tầy, tày, thấy biến âm với Tây, phía mặt trời lặn liên hệ với Lạc Long Quân có một khuôn mặt là mặt trời lặn. Mường ngữ tàyngủ liên hệ với với Tầy, phía mặt trời đi ngủ. Bánh tày là biểu tượng của Thầy Lạc Long Quân mặt trời lặn ở phương Tây.

Như thế bánh tày, bánh thầy, bánh mặt trời lặn tức bành tét biểu tượng cho Lạc Long Quân. Những tộc làm bánh tầy thuộc dòng cha Lạc Long Quân.

.Nếu để bánh dầy tròn lên bánh chưng vuông ta có lưỡng hợp mặt trời tròn trên đất vuông giống như vòm trời mai rùa trên bụng rùa vuông đất. Các ngôi một cổ thường có mái hình vòm tròn trên mặt mộ vuông mang ý nghĩa lưỡng hợp vòm trời tròn-đất vuông này (về sau mộ có hình vòm hỉnh trứng trên khuôn một chữ nhật như thường thấy ngày nay).

.Nếu để đòn bánh tét hình trụ nọc trên bánh dầy tròn nòng  ta có lưỡng hợp nòng nọc, âm dương mang hình ảnh của tượng hình linga nọc hình trụ trên yoni nòng tròn.

.Nếu nhìn theo diện tương đồng cùng ngành bánh dầy, thì khi ta để bánh dầy dương (mầu đỏ) lên bánh dầy âm màu trắng là có lưỡng hợp nòng nọc, âm dương dưới dạng nguyên tạo, sinh tạo mang hình ảnh mặt trời-mặt trăng.

.Nếu nhìn theo diện tương đồng cùng ngành bánh chưng, thì khi ta để đòn bánh tét trụ nọc tròn trên bánh chưng vuông ta có tượng linga trụ nọc trên yoni vuông.

.Theo nghĩa nguyên thủy nòng nọc, âm dương phát xuất từ bộ phận sinh dục nữ nòng vòng tròn O và bộ phận sinh dục nam nọc chấm nguyên tạo hay nọc que thì bánh dầy tròn trắng là nòng không gian âm hay chấm mặt trời nguyên tạo và bánh tét trụ tròn là nọc mặt trời. Bánh dầy và bánh tét nguyên thủy mang hình ảnh nòng nọc, âm dương. Thờ bánh dầy bánh chưng hình trụ (bánh tét) có một khuôn mặt nguyên thủy là thờ sinh thực khí, phồn thực, thờ nõ nường.  Sự thờ phượng nõ nường này còn thấy ở Bắc Việt Nam.

Sự thờ phượng sinh thực khí này khi xã hội đi vào nông nghiệp chuyển qua ý nghĩa cầu mùa, cầu được mùa, sản suất nhiều. Ở các bờ ruộng của nhiều sắc tộc như người Mường có cắm các «que bông». Cây que chuốt nhọn để lại chùm dăm bào  bao quanh thân nọc.

Nhìn dưới dạng nòng nọc, âm dương que bông mang hình ảnh nọc dương vật đâm qua vòng tròn lông dăm bào âm hộ.  Về thời phụ quyền thì dương vật được dùng nhiều hơn. Các cây que bông lúc này chuốt để lại chùm dăm bào ở đầu trên mang hình ảnh bộ phận sinh dục nam có chùm lông giống như các cây inau kike của người Ainu. Lưu ý (i)nau chính là Việt ngữ nêukike chính là Việt ngữ ki, ke là cây, cọc, bộ phân sinh dục nam. Inau kike là cây nọc, cây phái nam (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

 

Ta cũng đã thấy hình chiếc cuốc bằng đồng có cán hình dương vật của Vương quốc Điền (xem Nghệ Thuật Đồ Đồng Cổ của Vương quốc Điền). Ethiopia cổ còn để lại di tích những trụ đá hình dương vật (phallic menhirs) ở bờ ruộng mang biểu tượng cho may mắn, tốt lành và sự hiện diện của các vật này hứa hẹn được mùa.

Trụ đá dương vật trong một trang trại ở Ethiopia mang biểu tượng may mắn, tốt lành và sự hiện diện của các vật này hứa hẹn được mùa (nguồn Crawford, O.G.S, 1957, The Eye godness, London, Plate 399).

Như vậy nguyên thủy phải hiểu bánh dầy bánh chưng có nguồn gốc từ sự thờ phượng sinh thực khí, thờ phương phồn thực, thờ phượng nõ nường. Sự thờ phượng này còn nối tiếp vào thời nông nghiệp qua hình ảnh bánh chưng và bánh dầy là chuyện tất nhiên vì nó phù hợp với sự cầu mùa, được mùa trong ý nghĩa sinh tạo, mắn sinh của nòng nọc, âm dương giao hòa của Vũ Trụ giáo.

BÁNH CHƯNG VÀ VIỆT DỊCH NÒNG NỌC

Bánh dầy bánh chưng mang nghĩa nòng nọc, âm dương  có nguồn gốc từ nõ nường, bộ phận sinh dục nam nữ vì thế mà bánh chưng

không phải chỉ là biểu tượng cho đất, cho đồng ruộng mà còn liên hệ chặt chẽ với Việt Dịch Nòng Nọc dựa trên nòng nọc, âm dương.

Xã hội loài người khởi đầu theo mẫu hệ. Những tộc theo nông nghiệp vẫn giữ truyền thống mẫu hệ. Vì vậy bánh chưng biểu

tượng cho ngành Lửa Mẹ Tổ Âu Cơ mang khuôn mặt trội hơn khuôn mặt bánh tét ngành cha Lạc Long Quân. Do đó dấu tích Việt

Dịch nghiêng về âm Dịch còn thấy rõ trên bánh chưng. Trước hết hãy tìm hiểu tại sao lại do Lang Liêu, người con thứ 18 làm ra

bánh chưng mà không phải là do một Lang thứ 10, 14, 16…? Con số 18 là DNA của Hùng vương như Hùng vương có 18 đời, cái

quạt giấy mặt trời mọc có 18 cái nan, vua Hùng thứ 18 có con gái tên Mỵ Nương là cháu 27 đời Thần Nông-Viêm Đế, Tiên Dung

lúc 18 tuổi gặp Chử Đồng Tử…

Ta đã biết ma phương (magic square)  3/18 (có số trục ở tâm hình vuông là số Đoài 3 vũ trụ, bản thể bầu vủ trụ của Hùng Vương và tổng số các chi là 18); ma phương 6/18 (có số trục ở tâm hình vuông là số Tốn 6 vũ trụ, bản thể bầu tạo hóa của Mẹ Tổ Âu Cơ và tổng số các chi là 18) và ma phương 9/18 (có số trục ở tâm hình vuông là số Chấn 9, bản thể của Lạc Long Quân  và tổng số các chi là 18).  Ta cũng có 3 (Hùng Vương) + 6 (Âu Cơ) + 9 (Lạc Long Quân) = 18 (xem DNA Của Hùng Vương).

Đồng bánh chưng hình vuông có 4 sợi lạt, tức bốn giải nước (dòng nước chẩy giống như giải dây). Bốn sợi lạt là bốn kinh rạch, bốn lạch nước dẫn thủy nhập điền chia ruộng đồng bánh chưng ra làm chín ô mang hình ảnh của ma phương. Có tác giả cho ma phương bánh chưng là Lạc Thư ở sông Lạc.

Đồng bánh chưng có mang hình ảnh Lạc điền thư, hình ma phương Lạc điền liên hệ với Việt Dịch Nòng Nọc Việt Thường.

Kết Luận

Bánh chưng, bánh tét, bánh dầy phát xuất từ tục thờ nõ nường phồn thực nguyên thủy mang hình ảnh nòng nọc, âm dương. Trong xã hội nông nghiệp trồng lúa,  bánh dầy, bánh chưng mang thêm ý nghĩa tạ ơn Tam Thế, cầu mùa, sản xuất, gặt hái được mùa cũng nằm trong tín ngưỡng phồn thực. Với ý nghĩa lưỡng hợp nòng nọc, âm dương, bánh dầy bánh chưng diễn tả trọn vẹn ý nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, Việt Dịch. Bánh chưng diễn tả ma phương của Dịch nòng nọc, âm dương. Các nhà nho hiểu theo ý nghĩa trời đất là hiểu theo nghĩa duy tục rất muộn của văn hóa Trung Hoa.

Đạo hiếu, thờ phượng tổ tiên thì cũng nằm trong Vũ Trụ giáo, ta phải hiểu là bánh dầy bánh chưng tạ ơn vũ trụ Tam Thế trong đó phải kể từ Viêm Đế-Thần Nông, Tổ Hùng…

Bánh chưng có hình vuông biểu tượng chính cho ngành nữ Mẹ Tổ Âu Cơ thái dương thấy nhiều ở các tộc thuộc nhánh Lửa theo mẹ Âu Cơ  lên núi như Mường (văn hóa Mường nghiêng nhiều về Mẹ Tổ Âu Cơ) tức ngành Kì Dương Vương. Mẹ Tổ Âu Cơ được thờ như Mẹ Lúa, Nữ Thần Lúa. Trong khi bánh chưng hình trụ tròn tức bánh tét thấy ở các tộc thuộc ngành Nước Lạc Long Quân xuống biển, như các tộc ở vùng Cổ Loa và ở Trung Nam vốn là con dân của ngành cha Lạc Long Quân di cư vào.

Trên bàn thờ ngày tết phải có cả bánh chưng vuông và bánt tét trụ tròn cho đủ lưỡng hợp  nòng nọc, âm dương, cho đủ đạo hiếu vời cả Mẹ Tổ Âu Cơ lẫn Cha Tổ Lạc Long Quân. Nếu để bánh dầy thì cũng phải đủ hai loại bánh dầy nòng nọc, âm dương tương ứng với tính âm dương của bánh chưng và bánh tét.

December 3, 2010

HỒ ĐỘNG ĐÌNH VÀ BÁCH VIỆT

Filed under: H. Động Đình và Bách Việt — Quang Nguyen @ 7:18 am

HỒ ĐỘNG ĐÌNH VÀ BÁCH VIỆT.

Nguyễn Xuân Quang

Xin xem trước hai bài Hồ Động Đình 1 và 2 ở phần Du Lịch viết tổng quát về hồ Động Đình.

*

Hồ Động Đình được nhắc tới nhiều trong truyền thuyết, cổ sử và văn hóa của Đại Tộc Việt.

HỔ ĐỘNG ĐÌNH và TRUYỂN THUYẾT VIỆT.

.Kì Dương Vương Lấy Công Chúa Của Long Vương Động Đình Quân.

Theo Lĩnh Nam chích quái thì Kì Dương Vương ”có nhiều phép lạ, có thể đi lại trên trời và dưới nước được”, cũng vì “có tài đi dưới thủy phủ” nên Kì Dương Vương xuống cõi nước lấy Thần Long con gái Long Vương Động Đình Quân ở hồ Động Đình.

Truyền thuyết khác cho biết Kì Dương Vương là vua đầu tiên của nước Xích Quỉ của Đại Tộc Việt.

Trong Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt và trong nhiều bài viết khác, ta đã biết Kì Dương Vương là người đầu tiên của thế gian và cũng là vua đầu tiên của nước Xích Quỉ, Người Mặt Trời, có nhũ danh là Lộc Tục (con Hươu Đục, Hươu Nọc) có cốt là con hươu sủa mang gạc (barking deer, munjac) và kì dương là Mã Lai ngữ kijang, hươu sủa. Kì Dương Vương vua thế gian nên có một khuôn mặt là Núi Thế Gian, Núi Trụ Trời, NúiTrụ Chống Trời trong có Trục Thế Giới thông thương ba cõi. Ta thấy các nhân vật và các địa danh Việt như ông Trụ Chống Trời, Bàn Cổ, núi Thạch Môn, núi Không Lộ, Núi Kình Thiên Trụ ở Sơn Tây, núi Nam Giới (núi hình cây Cọc của phái nam) ở Hà Tĩnh… cũng như những tháp, đống, tháp có tầng, thạch trụ, đại thạch bi, cột, trụ, nọc, núi nổng, cây Chiên đàn, cây Si, cây “Chu đồng bông thau lá thiếc” của Mường Việt cổ, Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống)  mang hình ảnh và ý nghĩa liên hệ với Kì Dương Vương. Núi Kì trong cổ sử là một thứ Núi Trụ Thế Gian liên hệ với  Kì Dương Vương. Núi Trụ Chống Trời, Trục Vũ Trụ, Trục Thế Giới tại trung tâm quả đất đầu trên đụng tới nóc trời ở thiên đỉnh (zenith), đầu dưới xuống tận rốn cõi nước, cõi âm (nadir). Đây là trục “xa lộ” nối liền ba cõi tam thế.

Kì Dương Vương ở cõi thế gian đội lốt thần mặt trời Viêm Đế ở cõi tạo hóa, đội lốt Đế Minh ở cõi trời thế gian là vua mặt trời thiên đỉnh, chính ngọ trên đỉnh Trục Thế Giới. Vì thế Kì Dương Vương có thể đi lại, cai quản cả ba cõi qua Trục Thế Giới. Điểm này giải thích câu nói trong truyền thuyết là Kì Dương Vương ”có nhiều phép lạ, có thể đi lại trên trời và dưới nước được”.

Như thế Kì Dương Vương dĩ nhiên có thể đi xuống cõi nước, xuống thủy cung của Long Vương Động Đình Quân để cưới Thần Long.

Tại sao Kì Dương Vương lại chọn Long nữ Thần Long làm vợ? Xin thưa Kì Dương Vương có Kì là kẻ, là cây, là Nọc, Dương có nghĩa ngược với âm và có một nghĩa là Nọc mặt trời. Kì Dương là nọc lửa, vật nhọn như rìu, dương, mặt trời thiên đỉnh, chim nọc, hươu nọc, rắn nọc (lửa), bộ phận sinh dục nam… thuộc ngành Nọc, mặt trời Viêm Đế, Đế Minh. Trong khi Thần Long con của Long Vương ở thủy cung có Thần là Nước, Long là rồng thuộc ngành Nòng âm, nước, rắn nước, không gian Thần Nông, Lạc Long Quân. Đây là sự hôn phối lưỡng hợp nòng nọc, âm dương, giữa Kì Dương Vương Li, Lửa đất với Thần Long, Nước Trời Khảm. Sự hôn phối này hợp với luật giao hòa nòng nọc, âm dương của vũ trụ, càn khôn của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, của Dịch. Ta thấy rất rõ cốt lõi của văn hóa Việt là Vũ Trụ giáo dựa trên nguyên lý lưỡng hợp nòng nọc, âm dương.

Sự hôn phối này xẩy ra ở hồ Động Đình.

Tại Sao Lại Là Hồ Động Đình?

.Hồ Động Đình Thuộc Về Bách Việt.

Trước hết, dĩ nhiên hồ Động Đình phải là của Đại Tộc Việt nên mới có thể chọn làm nơi nguồn cội của Bách Việt.  Nhiều chứng tích cho thấy hồ Động Đình là của Bách Việt. Xin chỉ nêu ra một vài điểm chính:

-Biên cương Văn Lang.

Theo Lĩnh Nam chích quái thì:

Biên cương nước Văn Lang.

Phía Bắc tới hồ Động Đình,

Tới tận dòng Trường Giang,

Phia Tây giáp Tứ Xuyên Ba Thục,

Phía Đông giáp Nam Hải,

Phía Nam xuống mãi Hồ Tôn Chiêm Thành.

(thơ Nguyễn Xuân Quang, xem Hồ Động Đình phần 2).

-Hồ Động Đình thuộc Sở Việt.

Trong bài thơ ở đình Ông Tiên  Say Ba Lần có câu cho thấy tiên ông Lã Đồng Tân đã “sáng du Bắc Việt chiều Thương Ngô”, (朝游北越暮蒼梧, Triêu Du Bắc Việt Mộ Thương Ngô). Thương Ngô-蒼梧 là một tên gọi khác của nước Sở, đó là “địa danh” ở phía Nam của Bắc Việt và câu Lãng Ngâm phi quá Động Đình Hồ. / Lãng Ngâm bay qua Động Đình Hồ.

Đây là một chứng tích của cổ sử Đại Tộc Việt cho thấy rõ ràng  “Sở” là “Việt.

Khuất Nguyên người nước Sở đã trầm mình ở sông Mịch La (Miluo), gần Nhạc Dương bên hồ Động Đình và được dân địa phương thờ phượng hàng năm vào ngày 5 tháng 5 âm lịch, tết Đoan Ngọ (xem dưới). dân vùng hồ Động Đình có những tộc thuộc Sở Việt nói riêng và Bách Việt nói chung.

-Hồ Động Đình liên hệ với Lạc Việt.

Tỉnh Hồ Nam là châu thổ sông Tương chẩy vào hồ Động Đình  nên Hồ Nam có khi gọi tắt là Tương theo tên con sông nổi tiếng này.

Tương Giang bắt nguồn từ huyện Lâm Quý của khu tự trị của tộc Tráng (Zhuang), ở Quảng Tây. Tộc Tráng là một chi tộc Lạc Việt (Loyue). Như thế dòng văn hóa Lạc Việt bắt buộc phải xuôi nguồn chẩy vào hồ Động Đình. Nói một cách khác sông Tương đầu nguồn ngày nay còn có Lạc Việt Tráng tồn tại thì tất nhiên vùng hồ Động Đình ngày xưa bắt buộc phải là phần đất có Lạc Việt. Ta thấy rõ điểm này qua sự kiện truyền thuyết Việt nói rằng Lạc Long Quân và Âu Cơ chia tay nhau ở cánh đồng Tương….

-Hồ Động Đình và các tộc khác của Bách Việt.

Theo Thái Văn Kiểm “Động Đình Hồ, nơi qui tụ rất đông người Bộc Việt và Lão Việt” (xem dưới).

Triệu Đà đất Nam Việt vì sợ nhà Hán đánh chiếm mình nên đã tiến đánh chiếm trước một phần đất tỉnh Hồ Nam, dưới hồ Động Đình.

Cổ sử cũng ghi lại rằng một phần đất của Hồ Nam thời nhà Tần thuộc về Tượng Quận.

-Hồ Động Đình và Đại Hàn.

Khi nghe chúng tôi nói Long Vương Động Đình Quân là ông ngoại của Lạc Long Quân Lạc Việt, người hướng dẫn viên rất ngạc nhiên. Chị cho biết một số du khách Đại Hàn đến đây cũng bảo là Long Vương liên hệ với vua tổ của họ. Đúng vậy, Việt Nam và một vài tộc Đại Hàn có một tổ chung. Trong Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt tôi đã chứng minh rõ điểm này. Xin tóm lược vài điểm chính ở đây. “Đời Tây Chu các sử gia nhà Chu gọi người Korea là Lai Di. Sử ấy cũng cho biết Lai Di là rợ Tam Hàn trước kia” (Bình Nguyên Lộc, sđd). Ở chỗ khác Bình Nguyên Lộc viết “Sử đời Chu cho biết rợ Tam Hàn vốn là dân Lạc viết với bộ trãi, tức là dân Đông Di, gốc ở cực đông bắc Trung Hoa thời thượng cổ”. Ta thấy dân Đại Hàn có chi Lạc viết với bộ trãi y hệt chữ Lạc trong tên Lạc Long Quân cũng viết với bộ trãi. Trãi là con sâu không có chân tức thuộc dòng rắn. Theo tr=d (tràn = dàn) ta có trãi = dải, con vật giống như dải dây là con rắn. Cổ sử Đại Hàn và cổ sử của chúng ta cũng gặp nhau ở cái bọc Trứng Thế Gian. Các tộc phía nam của Tam Hàn cũng có huyền thoại cho rằng vua tổ của họ do trứng nở ra y hệt truyện Âu Cơ đẻ ra một bọc trứng nở ra các vua tổ Hùng vương. Cổ sử Đại Hàn có nói tới vị vua huyền sử đầu tiên là Tankun hay Thankun đẻ ra vị vua đầu tiên là Ki-ja, vị tổ lập quốc của triều đại thứ nhất. Không có tài liệu nào nói rõ về thời vua huyền sử (legendary king) Tankun hoặc ngay cả giai đoạn Kija sau đó. Korea chỉ còn các tài liệu về ngôn ngữ trong và sau thời đại Samhan (Three Han States, Tam Hàn). Ta thấy -kun liên hệ với Mường ngữ cun. kun, khun, cổ ngữ Việt khuấn và với Mông Cổ ngữ khan (Gengis Khan), Anh ngữ king… có nghĩa là người cầm đầu, người số một, vua. Tankun, Thankun là vua Tan, vua Than. Theo chuyển hóa t=s, th=s (thẹo = sẹo), ta có Tan, Than = San, Sáng. Vị vua tổ huyền sử của Đại Hàn là Tankun, Thankun là Cun Sáng, vua Sáng tương đương với Đế Minh. Ta có thể thấy rõ điều này qua cái tên Triều Tiên có nghĩa là ánh Chiêu Dương đầu tiên của ngày, tức ánh bình minh. Ngày nay người Đại Hàn dịch chữ Triều Tiên ra Anh ngữ là “Morning Calm” cho thấy còn mang dấu tích vua tổ của họ là vua Sáng Tankun liên hệ với Vua Ánh Sáng Đế Minh. Bình Nguyên Lộc cũng đã nhận ra sự liên hệ này: ”Nhưng người Tầu đã sai lầm mà phân biệt Đông Di và Nam Man vì cứ theo lời họ tả thì Đông Di giống hệt Nam Man cũng xâm mình và nhuộm răng đen và ta sẽ thấy… rằng rợ Đông Di, đích thị là Việt” (Bình Nguyên Lộc, sđd, tr.136).

Đại Hàn có một gốc chung với Việt Nam chúng ta. Tên nước Triều Tiên, ánh Chiêu dương gần cận với Hừng rạng. Họ cũng có Kinh Dương vương. Tankun tương đương với Đế Minh sinh ra vị vua đầu tiên là Ki-ja, vị tổ lập quốc của triều đại thứ nhất. Ki-ja chính là Ki-jang, Kì Dương! Kinh Dương vương, vua đầu tiên của Việt Nam và Ki-ja là vua đầu tiên của Đại Hàn. Như thế Tam Hàn Lạc bộ trãi và Lạc Việt Lạc Long Quân có Lạc bộ trãi có cùng vua Ánh Sáng Tankun-Đế Minh, cùng vua Ki-Ja, Kì Dương, có cùng bọc Trứng Thế Gian sinh ra các vua tổ Đại Hàn-Hùng Vương  thì cùng có gốc tổ ở hồ Động Đình là chuyện tất nhiên. Đại Hàn có các tộc có gốc Bách Việt.

Điểm này là điểm hết sức quan trọng vì nó chứng thực, xác quyết là nguồn cội của Bách Việt là ở hồ Động Đình không phải chỉ có trong truyền thuyết Việt mà còn thấy ở Đại Hàn.

……

. Hồ Động Đình Là Đất Thần Kỳ, Kỳ  Bí, Thần Tiên.

Hồ Động Đình được chọn làm nơi cội nguồn của Bách Việt vì hồ Động Đình là đất thần kỳ, kỳ  bí, thần tiên mang hình ảnh cõi tạo sinh, tạo hóa như đã thấy qua bài viết tổng quát về hồ Động Đình.

Về địa hình hồ Động Đình mênh mông như biển Vũ Trụ và núi Động Đình như Núi Trụ Chống Trời chạm tới chín từng mây. Hồ và núi mang hình ảnh Cây Tam Thế (Cây Vũ Trụ, Cây Đời Sống) trong có Trục Thế Giới. Núi Động Đình (Quân Sơn) là núi Trụ Trời thế gian Trung Thế trong có hang động có thể thông thương với cõi trên Thượng Thế và Cõi âm Hạ Thế. Thượng Thế là cõi trên, cõi trời, cõi thần tiên. Như đã biết hồ Động Đình được coi là có tiên xuất hiện như đã biết thi tửu tiên Lã Đồng Tân đã say sưa ba lần ở lầu Nhạc Dương bên hồ Động Đình. Trung Thế là cõi nhân gian. Hồ Động Đình là nơi cư ngụ của các tiên nhân, nơi ẩn dật của các Đạo sĩ, các thi nhân, vương giả, vua chúa… Hạ Thế là cõi nước, cõi âm có thủy phủ của Long Vương Động Đình Quân. Như thế hồ Động Đình có đủ cả Tam Thế.

Nếu nhìn dười lăng kính Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo dựa trên nguyên lý lưỡng hợp nòng nọc, âm dương thì hồ nước là nòng, âm,  cái bọc âm, (Vũ trong vũ trụ) ứng với không gian và núi đảo Quân Sơn Trụ Trời là Nọc, dương, nọc chấm hay nọc que (Trụ trong vũ trụ) ứng với mặt trời. Hồ Động Đình và núi quân Sơn là hình ảnh của nòng nọc, âm dương, vũ trụ, không gian-mặt trời, Trứng Vũ Trụ, Thái Cực hay Lưỡng Nghi. Đây chính là nơi sinh tạo, tạo hóa ra vũ trụ trời đất muôn sinh, loài người. Và đây chính là nơi xẩy ra sự giao hòa nòng nọc, âm dương Thần Long-Kì Dương Vương của chúng ta.

Con người đầu tiên ở cõi giữa thế gian là Kì Dương Vương. Lộc Tục Kì Dương Vương chính là con hươu Keh và cũng là con người đầu tiên của loài người của James Churchwards (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Hươu Keh, con người thế gian đầu tiên (James  Churchwards).

Lưu ý con Hươu Keh chính là con hươu Kẻ, hươu Kì, hươu cọc, Lộc Tục (Hươu Đục, Hươu Đọc, Hươu Nọc) Kì Dương Vương là con người đầu tiên trên đất thế gian (vì thế mới vẽ đứng trên hai chân trên mặt đất). Chữ T trong hình là hình ảnh Trụ Chống Trời, Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) nhô lên từ biển nước vũ trụ. Ta thấy rõ Trụ Chống Trời T và biển nước tương đương với núi Quân Sơn và hồ Động Đình.  Hươu Kì Lộc Tục   tương ứng với Hươu Kẻ là thần tổ loài người sinh ra từ Trứng Vũ Trụ là hồ Động Đình và núi Quân Sơn. Do đó Kì Dương Vương có thể dùng Trục Thế Giới chữ T này xuống thủy phủ lấy Long Nữ. Như thế rõ như “con cua tám cẳng hai càng, một mai hai mắt rõ ràng con cua” là Hươu Nọc Lộc Tục Kì Dương Vương (tương với hươu Keh) liên hệ với Núi Trụ thế gian, Trụ Chống Trời, Trục Thế Giới, Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống).

Do đó Kì Dương Vương có mặt ở hồ Động Đình và xuống thủy cung lấy Thần Long quá đúng.

Nếu còn nghi ngờ ta có thể kiểm chứng lại với các tộc khác của thế giới.

Ta thấy không phải chỉ Đại Tộc Việt có truyền thuyết sáng thế, tạo sinh từ hồ nước và gò núi trong hồ mang hình ảnh Trứng Vũ Trụ, Thái Cực, Trục Thế Giới mà còn có những tộc khác (ngoài các tộc Đông Á cổ thấy qua hình trên của James Churchwards) như Ai Cập cổ như Inca. Thật vậy, tôi đã khám phá ra cốt lõi văn hóa Ai Cập cổ và Inca (cùng có đạo thờ mặt trời như chúng ta) là Vũ Trụ giáo dựa trên Vũ Trụ Tạo Sinh, có căn bản là nguyên lý lưỡng hợp nòng nọc, âm dương giống như truyền thuyết và cổ sử Việt. Như thế, sự tương đồng giữa văn hóa cổ Việt với cổ Ai Cập và Inca là một chuyện hiển nhiên, không có gì là nghịch lý cả.

Theo truyền thuyết sáng thế của Ai Cập cổ thì khởi thủy là Biển Vũ Trụ Nun (Ai Cập cổ thuộc ngành nòng âm nên hư vô cực hóa trước tiên biến thành Biển Vũ Trụ). Thượng đế hay hóa công nhô lên từ Biển Vũ Trụ cùng lúc với gò núi nổi lên gọi là “đồi nguyên khởi” (primeval hill’) hay “gò nguyên khởi” (‘primeval mound’). Ta thấy rõ đây là hình ảnh của hồ Động Đình và đảo Quân Sơn.

Một truyền thuyết sáng thế của Inca cũng kể rằng hai vị thần tổ Manco Capac và Mama 0cllo trồi lên từ hồ Titicaca trên đảo Mặt Trời

(Isla del Sol) để tạo dựng lên Đế Quốc Inca. Ta thấy rất rõ hồ Titicca là Biển Không Gian và đảo Mặt Trời mang hình ảnh Trứng Vũ Trụ, Thái Cực giống như hồ Động Đình.

Như thế về siêu hình học, hồ Động Đình là đất kỳ bí, huyền bí, thần tiên, đất của siêu phàm, thích hợp với huyền sử, huyền thoại nên truyền thuyết về nguồn cội của Đại Tộc Việt ở đây thật quá tuyệt vời và rất hợp lý.

Truyền Thuyết Được Hiện Thực Hóa Bằng Các Đền Đài

Điều cần đáng nói nhất là truyền thuyết về nguồn cội của Đại Tộc Việt không phải chỉ là truyền thuyết xuông nhưng nó đã được hiện thực hóa bằng những cấu trúc thờ phượng cụ thể ở hồ Động Đình.

1. Đền Động Đình

Đền Động Đình (ảnh của tác giả).

Tại đảo Quân Sơn trong hồ Động Đình có một ngôi đền gọi Đền Động Đình. Đền thờ vị Thần ở hồ Động Đình. Đền bị phá hủy vào thời chiến tranh Nhật-Hoa và được xây cất lại vào năm 1997.

Đền thờ một vị thần mặt sắt đen xì (tiếc rằng bị cấm chụp ảnh trong đền nên không có ảnh vị thần mặt đen này. Hồ Động Đình chưa phải là điểm du lịch nóng bỏng, các du khách ngoại quốc ít người tới đây. Chỉ có chúng tôi là hai người ngoại quốc tới thăm hồ Động Đình hôm nay. Vì thế nên chưa có bưu ảnh và sách vở bằng Anh ngữ viết về hồ Động Đình).

Khi chúng tôi hỏi, người hướng dẫn viên cho biết đền có thờ Long Vương. Nhưng theo truyện dân gian ở đây thì đền này ngày nay cho là thờ một nho sĩ tên là Liễu Nghị (Liuyi),  đời nhà Đường trở thành vị Thần hồ Động Đình. Đây là vị thần bảo mệnh của dân chài sống ở vùng hồ Động Đình.

Truyện thần hồ Động Đình chính là câu chuyện dân gian của Li Zhaowei viết từ một truyền thuyết của hồ Động Đình và đã được phổ biến rộng dãi trong dân gian, trở thành một trong sáu câu chuyện dân gian nổi tiếng của Trung Hoa (như truyện Ngưu Lang Chức Nữ, Chuyện Nàng Meng khóc làm sụp lở Vạn Lý Trường Thành, chuyện Nguyệt Lão Xe Tơ…).

Theo truyện dân gian này thì Liễu Nghị, một sĩ tử trên đường đi thi từ kinh đô về gặp một người con gái đang chăn cừu rất xinh đẹp nhưng trông rất khổ sở. Hỏi ra mới biết nàng là con gái Long Vương ở hồ Động Đình. Nàng được gả cho một vị hà bá nhưng bị chồng ngược đãi bắt phải đi chăn cừu. Nàng nhờ chàng đem thư về cho Long Vương báo cho Long Vương biết. Liễu Nghị ưng thuận giúp. Nàng trao cho chàng một dải dây đeo lưng bảo chàng tìm đến một cây Cam cổ thụ ở đảo Quân Sơn, đeo dây vào người rồi gõ vào cây cam thì sẽ có người dẫn chàng xuống gặp Long Vương ở dưới thủy phủ. Liễu Nghị làm đúng theo lời dặn. Bỗng dưng cái giếng nước bên gốc cây cam mở ra thành một đường dẫn xuống lòng nước. Một người hiện lên đưa chàng xuống thủy phủ. Sau này cái giếng vốn gọi là Giếng Cây Cam được gọi là Giếng Liễu Nghị, tức là đường xuống thủy cung (xem hình ở bài Hồ Động Đình 1). Long Vương sai em mình đi giải cứu con gái. Em Long Vương sau đó đề nghị gả cháu gái mình cho Liễu Nghị nhưng chàng từ chối cho rằng chàng giúp người vì thấy việc đó cần phải làm mà thôi. Liễu Nghị trở lại sống đời người trên mặt đất. Chàng lấy vợ hai lần nhưng hai người vợ đầu chết sớm. Liễu Nghị buồn bỏ đi xa. Ở đây, qua mối mai chàng gặp một góa phụ, chàng yêu ngay và lấy bà làm vợ. Một năm sau, vợ sinh được một đứa con trai. Nhân ngày lễ thôi nôi, vợ chàng hiện ra là công chúa con Long Vương ở hồ Động Đình. Sau đó, hai người trở lại sống ở hồ Động Đình và Liễu Nghị trở thành vị vua cai trị hồ Động Đình.

Tuy nhiên, Liễu Nghị vốn là một bạch diện thư sinh, nho nhã nên không đủ oai quyền để cai trị nổi các loài thủy quái ở hồ. Long Vương làm một cái mặt nạ đen xì cho Liễu Nghị đeo vào mỗi khi đi làm phận sự. Tối về nhà phải bỏ mặt nạ ra cho vợ con nhận ra mình. Một hôm đi kinh lý về khuya, Liễu Nghị mệt quá quên bỏ mặt nạ ra, ngủ thiếp đi. Sáng trở dậy chiếc mặt nạ dính sát vào da mặt không lột ra được nữa nên trở thành một vị vua thế gian mặt đen. Vua hồ Động Đình mặt đen này phù trợ giúp đỡ dân chài quanh hồ rất nhiều vì thế mà sau này được dân vùng này lập đền thờ.

Đó là chuyện dân gian ngày nay lưu truyền tại vùng hồ Động Đình, phần đất cũ của Đại Tộc Việt. Truyện này còn nhiều dấu tích của Long Vương trong truyền thuyết Việt.

Thực sự ra ngôi đền hiện này mang hình ảnh chính là ngôi đền thờ Long Vương.

Thật vậy, khi nhìn thấy mặt tiền của đền là ta có ấn tượng ngay đây là một ngôi đền thờ liên hệ với Long Vương Động Đình Quân, vị vua Rồng sống dưới đáy hồ.

Cổng tam quan có 9 con rồng (cửu long). Rõ ràng đây là đền thờ Vua Rồng. Vua rồng thật ra theo Vũ Trụ giáo có ba khuôn mặt ở cả Tam Thế. Nhưng khuôn mặt chính là ở cõi nước, cõi âm, Hạ Thế. Ở cõi thế gian lúc đầu chính mình chăm lo cai quản sông ngòi hồ biển, vùng đất âm có nước nhưng khi về già thường cho con (hay con rể) thay mình. Ở cõi trời lo việc mây, mưa, sấm chớp… Lạc Long Quân của chúng ta là cháu ngoại của Long Vương hồ Động Đình Quân nên có tất cả những khuôn mặt này. Long Vương Động Đình Quân đã nhờ con rể Liễu Nghị cai trị thế gian khi về già.

Số 9 là số Chấn thế gian có mang một nghĩa nước-lửa, sấm mưa, mặt trời nước, nước dương chuyển động (biển, sông…), bản thể của Lạc Long Quân.  Lưu ý mái cổng tam quan hình gợn sóng, mái cổng chính hình vòm (vòm vũ trụ, không gian, vòm trời), cột tròn, đầu cột có hình cầu tròn (nòng) mang âm tính thuộc ngành nòng, âm, nước, không gian, Thần Nông đối ngược với mái, các trụ và đầu trụ có góc cạnh, nhọn mang dương tính nọc, dương, lửa, mặt trời, Viêm Đế.

Tượng vị thần mặt đen được cho là vua hồ Động Đình đất thế gian Liễu Nghị thật ra là đội lốt Long Vương Động Đình Quân. Long Vương làm ra chiếc mặt nạ đen xì cho Liễu Nghị đeo. Chiếc mặt nạ đen này chính là một khuôn mặt mình, khuôn mặt của vị vua Rồng ở cõi âm. Khuôn mặt đen này của Long Vương đã được các loài thủy quái kiêng nể, kính sợ. Mầu đen là mầu nước, mầu ngành nòng âm, mầu thái âm, mầu cõi âm (để tang mầu đen), mầu của khuôn mặt cõi âm của Long Vương. Điều này còn thấy rõ trong văn hóa Lạc Việt. Người Lạc Việt thuộc dòng nước, Lạc Long Quân có tục nhuộm răng đen, đội khăn vuông mỏ quạ mầu đen, một chi tộc Lạc Việt Tráng (Zhuang) mặc đồ mầu đen ở quận Napo gọi là Tráng đen Nung/Dam… Các vị thần, vua, lãnh tụ của ngành nòng âm, nước, mặt trời nước, mặt trời hoàng hôn, không gian âm, cõi âm được gọi là Quân có nghĩa liên hệ với mầu đen như Thái Thượng Lão Quân, Động Đình Quân, Lạc Long Quân, Quân Sơn… Ví dụ như vua các nước Tây Âu (dòng Nòng, Nước, không gian âm) gọi là quân chứ không gọi là vương như “Tây Âu Quân là vua nước Tây Âu” (Bình Nguyên Lộc, tr.234). Vua Lạc Long gọi là Lạc Long Quân chứ không gọi là Lạc Long Vương. Ta thấy rõ Lạc Long Quân mang di thể (gene) Quân từ ông ngoại Long Vương  Động Đình Quân. Trong Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt tôi đã giải thích Quân liên hệ với nước, mầu đen, mầu tím đen, hoàng hôn. Xin tóm tắt lại vài điểm chính ở đây.

Quân cùng vần với quan. Quan biến âm với Oan. Ta có thể kiểm chứng lại qua qui luật q=0 (q câm) như queo = ueo = oeo = eo (cong): quan = uan, oan. Oan hàm nghĩa nước, oan ương là le le vịt nước. Anh ngữ swan (thiên nga) có -wan = uan = oan, cùng giống với oan ương. Điều này cũng thấy rõ nơi nguồn gốc của người Sumerian ở Lưỡng Hà. Theo truyền thuyết của người Sumer thì tổ tiên của họ là Nhân ngư Oannes, nửa cá nửa người. Oannes có Oan-. Nhân ngư Oannes Sumerian chính là ‘người ở nước’, Giao nhân, long nhân của chúng ta. Như thế Quân có nghĩa là vua, tổ, thủ lãnh dòng nước, mặt trời lặn, cõi âm. Quân biến âm với cổ ngữ Việt ‘khuấn’ chỉ ông tổ. Theo q=kh như quấy = khuấy, ta có quân = khuấn. “Họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung còn cho biết, ngày trước ở Sơn Tây, trẻ con chửi nhau có câu ‘tiên sư ông Khuấn nhà mày’. Khuấn coi như ông tổ, người cầm đầu một gia tộc, như ‘khuntz’ của người ‘Mun-da’” (Trần Quốc Vượng). Sơn Tây là đất tổ của Lạc Long Quân. Khuấn là thần tổ Lạc Long Quân. Khuấn biến âm với Muờng ngữ Cun, lãnh tụ, tộc trưởng như “Cun lang bú chó, Cun vó bú trâu” [Cun tộc lang sói bú chó, cun tộc có vó (chân có móng như vó ngựa) thì bú trâu].

Về màu sắc thì theo h=q như hóa phụ = quả phụ ta có quân = huân, hôn. Quân là màu huân, màu hôn, màu hoàng hôn. Hoàng hôn là màu đỏ mặt trời pha với màu đêm đen, tức màu đỏ-đen, màu tím đỏ, màu chiều tím.  Hán ngữ huân là ‘khói lửa bốc lên’ như thế huân là màu lửa pha màu khói đen. Rõ hơn nữa ta thấy màu ‘quân’ trong tên quả hồng quân hay mồng quân (Flacourtia cataphracta, Roxb.) Huỳnh Tịnh Paulus Của, trong Đại Nam Quốc Âm Tự Vị ghi: “mồng quân, thứ cây có nhiều gai, có trái tròn mà nhỏ, người ta hay ăn, trái nó chín đỏ đen như màu huân cho nên cũng kêu là hồng huân…”, ở nơi từ huân ghi: ”huyền huân, màu đen tím”.

Vậy quân là màu tím đỏ màu mặt trời đêm, mặt trời hoàng hôn. Lạc Long được gọi là quân vì là vua Mặt Trời màu ‘quân’, màu tím đỏ, có một khuôn mặt của Mặt trời lặn…

Như thế hiển nhiên tượng thần mặt đen trong đền chính là hình bóng của Long Vương. Đây là đền thờ Long Vương. Một bằng chứng cho thấy rõ và rất thuyết phục là không phải chỉ có một tượng vị thần mặt đen liên hệ với Long Vương mà thôi, các chi tiết khác của đền đều liên hệ với Long Vương. Các cờ phướn ở đây cũng đều viền mầu đen, viết chữ đen, mầu âm của Long Vương, không có mầu đỏ là mầu dương.


Cờ phướn ở đền Động Đình đều viền mầu đen, viết chữ đen mầu âm của Long Vương, không có mầu đỏ là mầu dương (ảnh của tác giả).

Đỉnh hương có hình mặt trời nước, mặt trời hoàng hôn, mặt trời lặn hay mặt trăng (một thứ mặt trời đêm) hình đĩa tròn không có tia sáng.


Đỉnh hương có hình mặt trời nước, mặt trời hoàng hôn, mặt trời lặn hay mặt trăng (một thứ mặt trời đêm) hình đĩa tròn không có tia sáng (ảnh của tác giả).

Sau đỉnh hương có hình lưỡng long chầu nguyệt hiển nhiên liên hệ với Long Vương. Và như đã nói tiêu biểu nhất là cổng tam quan hình sóng nước với chín con rồng.

Như thế trăm phần trăm đền mang sắc thái thờ Long Vương. Vị thần mặt đen nếu cho đó là vị vua đất thế gian của hồ Động Đình Liễu Nghị thì vị này cũng chỉ là ông con rể đội lốt cha vợ Long Vương mà thôi.

Đây là một chứng tích cho thấy văn hóa Đại Tộc Việt đã bị Hán hóa, tác giả viết truyện nhân gian về hồ Động Đình đã tiểu thuyết hóa.

2. Truyền Thuyết Vua Thuấn và Hai Bà Vương Phi.

Như đã biết ở Quân Sơn có Đền Tưởng Niệm Tương Phi ngày xưa gọi là Đền Tương Sơn. Đền được xây cất đầu tiên vào thời Chiến Quốc để thờ vị thần ở Quân Sơn và sông Tương.  Theo truyền thuyết kể lại thì vua Thuấn (Shun,舜) đi tuần thú  đất Thương Ngô và bị bệnh chết ở đây, rồi hai nàng ái phi là Nga Hoàng- 娥皇và Nữ Anh-女英 đi tìm và cũng chết nơi đây và được chôn cất nơi này. Sau nầy Khuất Nguyên- 屈原 làm thơ gọi là Tương Quân (Xiangjun 湘君) và Tương Phu Nhân- (Xiang Furen, 湘夫人). Tương Quân lại được cho là “thần sông” của Sông Tương. Vì vậy nên từ đời nhà Đường đền được đổi tên là Đền Tưởng Niệm Tương Phi. Tại Quân Sơn cũng có mộ Hai Bà Vương Phi và vườn tre đốm hình giọt nước mắt do hai bà khóc Vua Thuấn nước mắt nhỏ xuống thân tre biến thành những đốm giọt nước mắt. Tre đốm này gọi là Tương Phi trúc hay Tương trúc (xem Hồ Động Đình 1). Vì thế giọt nước mắt vì tình cũng được gọi là “giọt Tương” hay “mạch Tương” như thấy trong Kiều của Nguyễn Du:.

Giọt châu lã chã khôn cầm,

Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt Tương!

(Thúc Sinh khóc).

Hay

Chưa xong điều nghĩ đã dào mạch Tương.

(Kiều khóc).

Đế Thuấn là một vị trong truyền thuyết Trung Hoa nằm trong Ngũ Đế. Câu hỏi được đặt ra là tại sao Đế Thuấn lại chọn hồ Động Đình làm nơi an nghỉ nghìn thu? Như thế ông phải thuộc về ngành nòng âm Thần Nông liên hệ với ngành Long Vương. Theo Khuất Nguyên thì Đế Thuấn tương đương với thần sông Tương. Hai bà vương phi cũng chết ở vùng sông Tương và được coi là thần nữ của đảo Quân Sơn. Ta cũng thấy Đế Thuấn nghiêng về ngành nòng, âm, nước khi ông dùng Hạ Vũ trị thủy, sau đó lại truyền ngôi cho Hạ Vũ chứ không truyên ngôi cho con là Thương Quân. Rõ ràng con của Đế Thuấn có di thể Quân của dòng âm nước Thần Nông như Lạc Long Quân. Một điểm nữa, Đế Thuấn lấy một lúc hai người con gái của Đế Nghiêu. Điểm này làm ta liên tưởng tới hai ngành nòng nọc, âm dương. Mỗi bà sinh ra một dòng con ứng với lưỡng hợp nòng nọc, âm dương như hai ngành Viêm Đế và Thần Nông của Viêm Đế-Thần Nông nhất thể, của các Lang Hùng, Hùng Vương.  Như thế Đế Thuấn thuộc ngành nòng Thần Nông. Điều này giải thích tại sao ông là người hiền hòa rất đạo đức và đời Nghiêu Thuấn được cho là thời thái bình thịnh tri.  Hiểu như thế ta sẽ hiểu tại sao ông trở về quê quán là hồ Động Đình  để qui tiên. Nhìn xa thêm nữa, Đế Thuấn liên hệ với hồ Động Đình tức liên hệ với với Đại Tộc Việt. Trước đây tôi có đọc ở đâu đó có tác giả cho rằng các vị vua trong truyền thuyết cổ Trung Hoa có liên hệ với Đại Tộc Việt hay vay mượn từ Đại Tộc Việt. Trong Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt  tôi đã chứng minh Viêm Đế-Thần Nông, Bàn Cổ, Phục Hy, Nữ Oa là liên hệ với hay của Đại Tộc Việt. Triết gia Kim Định cũng đã chứng minh như thế nhưng ở dưới một lăng kính khác.

Ta thấy Đế Thuấn là một trong Ngũ Đế và ta thường nghe nói tới Tam Vương Ngũ Đế trong truyền thuyết sáng thế được cho là của Trung Hoa. Nhưng đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt ta cũng thấy Ngũ Đế Tam Vương có trong truyền thuyết và cổ sử Việt. Thật vậy, trên cùng ta có Thần Nông-Viêm Đế (ở dạng nhất thể, một người) rối tới bốn vị đế ứng với  tứ tượng, trong đó có Đế Minh, vị chi là Ngũ Đế (các vị Đế Nghi, Đế Lai, Đế Du Vong có thể nắm trong nhóm Đế này). Rối tới Tam Vương là Kì Dương Vương, Lạc Long Quân, Hùng Vương (với khuôn mặt sinh tạo).

Truyền thuyết Đế Nghi và hai bà Vương Phi chết ở hồ Động Đình cho thấy hồ Động Đình là đất của ngành nòng âm, nước, Khôn, Thần Nông trong đó có Lạc Việt.

MỘT VÀI NÉT VĂN HÓA NỔI TRỘI KHÁC VÙNG HỒ ĐỘNG ĐÌNH VÀ BÁCH VIỆT

Chắc chắn ngoài những điểm nêu trên vùng hồ Động Đình còn lại rất nhiều di sản văn hóa Bách Việt. Những di tích này một là còn bị chôn vùi dưới lớp bụi thời gian, hai là đã bị Hán hóa đã biến dạng. Một phần di sản văn hóa này đã được ghi lại trong các tác phẩm của nhà thơ Khuất Nguyên (Qu Yuan). Ông là một người hoàng tộc nước Sở làm chức Tả Đồ cho Sở Hoài Vương. Về sau ông bị thất sủng vì đám nịnh thần và bị vua Tương Vương (người nối ngôi Sở Hoài Vương) đầy ra Giang Nam (phía nam sông Dương Tử. Vì buồn phiền, sau đó ông nhẩy xuống sông Mịch La, gần Nhạc Dương hồ Động Đình  tự vẫn vào ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch.

Theo Thái Văn Kiểm “Động Đình Hồ, nơi qui tụ rất đông người Bộc Việt và Lão Việt. Khuất Nguyên đã quan sát địa lý nhân văn và ghi chép những phong dao của người địa phương, kể cả những bài chầu văn, lên đồng, chèo ghe, bơi trải trên Động Đình Hồ, các vũ điệu Thờ Mặt Trời như đã khắc chạm trên mặt những trống đồng Ngọc Lũ và Hoàng Hạ xa xưa… Tất cả những thơ ca của dân gian thu góp trong thời biệt trích nơi Động Đình Hồ và Sông Tương, thi bá Khuất Nguyên đã san định thành Sở Từ Cửu Ca và Trường Ca Ly tao…

Chúng tôi xin trích từ Ly tao, mấy câu thơ trong đó ông có nhắc hai sắc hoa mà ông rất ưa thích là: Mộc Lan (Nerium coronarium)… và giống cây yểu điệu gọi là Túc Mãng tức là Rau Muống…:

Cốt dư nhược tương bất cập hề,

Khủng niên tuế chi bất ngô dữ

Chiêu khiến phê chi Mộc Lan hề,

Tịch Lãm châu chi Túc Mãng.

Bản dịch của Vũ Khánh:

Ta như kẻ trên đường hoảng hốt,

Sợ tháng năm hun hút mau trôi,

Mộc Lan sớm cắt trên đồi,

Chiều tà Túc Mãng hái nơi cạnh giòng”

(Y Học Thường Thức).

Túc Mãng là rau muống mọc bên bờ nước, một thứ rau  của các tộc Bách Việt sống bên bờ nước, ngày nay vẫn là thứ rau quốc hồn quốc túy của người Việt Nam (bữa ăn trưa ở Nhạc Dương, chúng tôi cũng được ăn thứ rau muống mọc ở hồ Động Đình, một thứ rau muống có từ huyển sử Việt. Đĩa rau muống xào ớt tỏi cay xé miệng đặc thù của món ăn Hồ Nam, cay hơn cả đĩa rau muống xào với ớt hiểm Thái Lan chúng tôi đã ăn ở Chiêng Mai, Thái Lan).

Như đã thấy Khuất Nguyên cũng đã viết về truyền thuyết vua Thuấn và hai bà Vương Phi…

Một nét văn hóa được coi là nổi bật nhất của hồ Động Đình hiện nay là Lễ Hội Đua Thuyền Rồng vào ngày tết Đoan Ngọ (Duanwu Jie) mồng 5 tháng 6 âm lịch.

Như đã nói là truyền thuyết của dân địa phương (đã bị Hán hóa) ngày nay cho rằng Lễ Hội Đua Thuyền Rồng trong tết Đoan Ngọ có nguồn gốc ở hồ Động Đình nhưng lại cho nó liên hệ Khuất Nguyên tự tử chết vào ngày 5 tháng 5 âm lịch tại sông Mịch La (Miluo) gần Nhạc Dương tỉnh Hồ Nam ngày nay. Khi nghe Khuất Nguyên tự tử, dân vùng hồ Động Đình tìm cách cứu vớt ông. Họ dùng chèo khuấy nước xua đuổi cá, làm bánh ú (zhongzi) đem thả xuống hồ để cho cá ăn để khỏi ăn thịt Khuất Nguyên. Kể từ đó, mỗi năm cứ đến ngày mồng năm tháng năm, nhân dân vùng hồ Động Đình tổ chức lễ Đoan Ngọ, Duanwu mồng 5 tháng 5  đi kèm với lễ hội Đua Thuyền Rồng.

Câu hỏi được đặt ra là tại sao lại tổ chức Lể Đua Thuyền Rồng cùng ngày tưởng niệm Khuất Nguyên?  Khuất Nguyên là người nước Sở một tộc Bách Việt và Long Vương, ông ngoại của Lạc Long Quân là thủy tổ của ngành nòng nước của Bách Việt như thế dù gì thì Đua Thuyền Rồng nhìn chung cũng là lễ hội nước của Bách Việt trong đó có ngành nước Lạc Việt, Thần Nông.

Thật ra lễ Hội Đua Thuyết Rồng ở hồ Động Đình vào ngày lễ Đoan Ngọ chỉ là một sự phối hợp mà thôi. Thật sự lễ Đua Thuyền đã có trước thời Khuất Nguyên như tác giả Thái Văn Kiểm ở trên đã cho biết Khuất Nguyên đã mô tả lễ nước với chèo ghe, bơi trải trên Động Đình Hồ. Theo cái nhìn đơn giản thì Lễ Đua Thuyền Rồng ở hồ Động Đình có Long Vương Động Đình Quân ở dưới đáy hồ, cai trị vùng hồ thì phải liên hệ với Long Vương, vua Động Đình Hồ.

Xa hơn ta thấy lễ Hội Nước có đua thuyền đầu rắn nước đã thấy trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á). Xin nhắc lại văn hóa rắn có trước văn hóa rồng. Đua thuyền Rắn là tiền thân của Đua Thuyền Rồng.

Lễ Duanwu cũng còn thấy ở nhiều tộc ở Đông Nam Á như Việt Nam gọi là Đoan Ngọ, Đại Hàn là Dano, Nhật Bản là Tango… nhưng ở mỗi nơi một khác và không nhắc tới Khuất Nguyên. Tại Việt Nam tết Đoan Ngọ chúng ta ăn bánh ú tro, cổ tay đeo chỉ ngũ sắc, giết sâu bọ, ăn cơm rượu nếp, đi lên rừng lên núi hái thuốc…

Ở Đại Hàn, lễ này gọi là Dano-je (Dano biến âm với Hán ngữ phiên âm Duanwu, Việt ngữ Đoan Ngọ và je với jie, với lễ). Lễ này tổ chức ở một tỉnh duyên hải Gangneung ở địa hạt Gangwon, Nam Hàn. Lễ cũng được tổ chức vào dịp mồng 5 tháng 5 âm lịch nhưng kéo dài năm ngày, hoặc trước hay sau ngày mồng 5. Đại Hàn cho rằng lễ này họ có hàng ngàn năm rồi nhưng nghi thức hiện nay mới thành hình trong thế kỷ qua. Năm 1967, lễ Dano được xếp vào hàng lễ hội văn hóa bản địa (indigenous culture) hạng thứ 13. Kể từ đó, nhất là trong thập niên qua, lễ được phát huy và phát triển để thu hút khách du lịch tới vùng Gangneung này.

Đại Hàn đã thành công xin được UNESCO thừa nhận ghi lễ Dano vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại tháng 11 năm 2005.

Khi loan ra, tin này đã làm Trung Quốc phẫn nộ. Họ cho rằng Dano-je lấy từ Duanwu-jie của Trung Quốc. Cả tỉ rưỡi người bị khích động bởi mọi phương tiện của truyền thông Trung Quốc. Đối diện với sự cuồng nộ này, UNESCO và giới di sản văn hóa Đại Hàn viện lý do cho rằng lễ Đoan Ngọ có khắp Đông Nam Á và ở Trung Quốc nhưng ở mỗi nơi mỗi khác, đã mang mầu sắc đặc biệt của văn hóa địa phương. Họ cho rằng Lễ Dano của họ có mang thêm yếu tố lễ hội mặt nạ tuồng cổ và tế lễ của các pháp sư chữa bệnh, có thể kéo dài cả tháng và ở Đại Hàn còn tôn vinh thần núi và các vị thần phù trợ dương và âm qua các nghi thức tế lễ của pháp sư gồm có cả nấu rượu thánh trên đỉnh núi Daegwallyeong ở bên ngoài thành phố Gangneung. Lễ này cũng có thêm lễ hội dân ca Odokddegi, lễ hội mặt nạ tuồng cổ, ngâm thơ, nhiều trò chơi ngoài trời khác, các chợ tiểu công nghệ…

Trong khi đó lễ Duanwu của Trung Quốc chỉ được cho là liên hệ với Khuất Nguyên. Trong thời kỳ cộng sản “chưa mở cửa” lễ này với hội Đua Thuyền Rồng coi như bị chìm xuồng xuống đáy hồ Động Đình. Gần đây sau khi lễ Dano của Đại Hàn được UNESCO nhận là di sản văn hóa thế giới. Trung Quốc mới cố gắng biến hồ Động Đình trở thành một nơi có văn hóa du lịch.

Ai đúng ai sai?  Câu trả lời của tôi là Lễ Đoan Ngọ là của Đại Tộc Việt. Vì sao? Tiện thể tôi cũng xin biện minh  giúp cho Đại Hàn và UNESCO trả lời Trung Quốc.

Thật vậy. Trước hết hãy xét về phía Trung Quốc.

-Lễ Duanwu ở hồ Động Đình, nơi cội nguồn của Đại Tộc Việt, nơi đất Bách Việt cũ, vậy lễ này liên hệ với hay của Đại Tộc Việt.

.Lễ Duanwu kết hợp với Đua Thuyền Rồng ở hồ Động Đình được cho là liên hệ với Khuất Nguyên. Khuất Nguyên là người nước Sở, một tộc của Bách Việt. Hiển nhiên lễ này của Đại Tộc Việt.

.Đua Thuyền Rồng được cho là có nguồn gốc ở hồ Động Đình nghĩa là liên hệ với Long Vương. Hiển nhiên là của Đại Tộc Việt. Như đã nói trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn đã có cảnh đua thuyền có hình đầu rắn bắt đầu thần thoại hóa tiến tới hình đầu rồng về sau (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á). Văn hóa rắn có trước văn hóa rồng. Theo cái nhìn của người trần mắt thịt thì thuyền rồng phải liện hệ với Long Vương, ông ngoại Lạc Long Quân. Như thế đua thuyền rồng ở hồ Động Đình phải liên hệ với Đại Tộc Việt, phải có nguồn gốc từ ngành Lạc Long, tức lạc bộ trãi của Bách Việt. Vậy lễ Duanwu của Đại Tộc Việt.

…..

Bây giờ xét về phía Đại Hàn.

-Lễ Dano ở tỉnh Gangneung, hạt Gangwon, một vùng hẻo lánh ở bờ biển phía đông của Đại Hàn. Tên Hán của Gangneung là Jiangling (Giang Lăng) trùng tên với quận Giang Lăng ở Hồ Bắc trên hồ Động Đình. Theo anh Đỗ Ngọc Thành, Gangneung của Đại Hàn đọc hơi giống như tiếng Mân Việt/ Triều Châu là Gang-leng! Ở Gangwon cũng có nhiều địa danh liên hệ với các vùng ở tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc như tên Dungjungchuwal là hồ Động Đình… Điểm này các nhà nghiên cứu Trung Quốc cho rằng người Đại Hàn ở đây đã lấy từ các tên Hán của Trung Quốc. Tôi nghĩ ngược lại, đây cũng có thể là những tên có gốc từ ngôn ngữ Bách Việt mà tộc Đại Hàn có gốc Lạc bộ trãi này còn giữ lại được. Đây là một bằng chứng Hán ngữ cũng lấy các từ Bách Việt rồi Hán hóa đi trong dòng giao lưu hai chìều (tôi tin chắc rằng anh Đỗ Ngọc Thành nay mai sẽ đưa ra ánh sáng nguồn gốc tên của các địa danh, lễ lạc… ở vùng hồ Động Đình là phát xuất từ chữ nôm cổ Bách Việt). Như thế lễ Dano của Gangneung phải có liên hệ với lễ Đoan Ngọ của Bách Việt.  Điều này giải thích tại sao một số du khách Đại Hàn tìm về thăm hồ Động Đình và cho rằng Long Vương là thần tổ của họ như người hướng dẫn viên đã nói với tôi.

- Ở trên, ta đã biết Đại Hàn có các tộc có gốc Bách Việt. Lễ Dano ở tỉnh Gangneung địa hạt Gangwon này có lẽ là của tộc Tam Hàn Lạc viết với bộ trãi như từ Lạc trong tên Lạc Long Quân. Thật vậy, như thấy ở trên, lễ Dano này năm 1967 được xếp vào hàng lễ hội văn hóa bản địa, thổ dân (indigenous culture) hạng thứ 13. Thổ dân này gốc Tam Hàn Lạc bộ trãi.

Vậy lễ Dano này liên hệ với văn hóa Đại Tộc Việt.

-Người Đại Hàn có lễ hội Đua Thuyền Rồng trong lễ Dano nhưng họ không giải thích tại sao. Hiển nhiên họ đã lấy từ đâu đó lâu đời quá rồi nên không còn nhớ. Tộc Đại Hàn này là Lạc bộ trãi con cháu của Rồng nên có lễ hội đua thuyền rồng. Cũng có thể họ mang theo họ trên đường di tản từ hồ Động Đình nơi có Long Vương. Hãy nhìn những chiếc thuyền rồng của họ trong lễ hội này.

Đua thuyền rồng trong lễ Dano (nguốn: winkai.blog.gtvod.com)

Ta thấy rất rõ thuyền rồng có mầu xanh trắng là những con rồng mang âm tính khác với các thuyền rồng vàng mang dương tính ta thường thấy. Đây là rồng nước, rồng âm của dòng Long Vương.

-Lễ Dano có kèm theo lễ hội tế lễ của các pháp sư chữa bệnh Shaman. Có học giả Trung Quốc cho rằng các ma thuật Shaman này lấy từ tộc Miêu thời nhà Chu sống ở vùng hồ Động Đình. Ta đã biết Tam Miêu liên hệ với hay nằm trong Đại Tộc Việt. Tục thầy pháp chữa bệnh này giống tục giết sâu bọ và lên rừng lên núi hái cây cỏ làm thuốc chữa bệnh trong ngày lễ Đoan Ngọ của Việt Nam.

-Ngày Dano họ nấu rượu thánh trên đỉnh núi Daegwallyeong ở bên ngoài thành phố Gangneung. Chúng ta nấu rượu nếp cúng lễ rồi ăn cơm rượu nếp.

-Người Đại Hàn cho rằng ngày Dano 5 tháng 5 âm lịch là thời điểm trong năm  độ cương cường, dũng mãnh của yếu tố dương trong thiên nhiên lên tới tột độ. Tại sao họ lại cho như thế? Không thấy họ giải thích. Nếu có giải thích thì tôi đoán họ cũng chỉ hiểu theo một góc cạnh duy tục mà thôi. Theo tôi thì phải nhìn dưới con mắt của nòng nọc, âm dương, của Dịch lý. Theo Dịch số 5 là số Li, Lửa, tức dương. Số năm là số trục dương. Theo chiều đường thẳng số 5 nằm ở giữa 9 con số từ 1 tới 9. Theo chiều mặt bằng, số 5 nằm ở tâm hình vuông có cạnh là những con số còn lại của 9 con số. Hình vuông này gọi là ma phương. Ma phương 5/15 (có số trục ở tâm là số 5 và tổng số các con số ở các chi là 15). Ma phương trục này thường thấy nhất và đi với Dịch. Trong ngũ hành của Trung Hoa nếu xếp theo hình vuông thì hành Thổ ở tâm hình vuông tức ứng với núi Trụ Thế Gian, Trục Thế Giới tức số 5 Li. Số 5 Li là số biểu của Kì Dương Vương  có biểu tượng là Núi Trụ Thế Gian, Trục Thế Giới … là vua mặt chính ngọ ở thiên đỉnh, trên đỉnh Trục Thế Giới tức là vị vua mặt trời nóng bỏng, chói sáng nhất, rạng ngời nhất trong ngày. Do đó Xích Quỉ là Người Mặt Trời chói chang, tổ của Người Việt Mặt Trời Rạng Ngời. Ngày là mặt trời, là nhật, dương, ngày số trục 5 là ngày dương cực đại. Tháng là trăng là nguyệt, là âm, tháng 5 là tháng dương cực đại. Vì thế mà ngày Đoan Ngọ 5 tháng 5 là ngày thiên nhiên có dương tính cực đại. Điều này ta cũng thấy ở các nước có liên hệ với hay có nguồn gốc Bách Việt ví dụ như Nhật Bản. Người Nhật coi tháng 5 âm lịch là tháng có dương tính nhất nên họ có ngày lễ Con Trai (Boy’s Day) vào tháng 5. Ngày Lễ Con Trai này thường được biểu tượng bằng những cờ phướn hình cá chép mầu, cá Koi. Cá chép hóa rồng biểu tượng cho sự thành đạt của con trai, phái nam…

Ở Việt Nam ta cũng thấy ngày 5 tháng 5 âm lịch là ngày giết sâu bọ. Vì sao? Vì sâu bọ là loài mang âm tính nguy hại gây ra bệnh tật. Ngày 5 tháng 5 âm lịch là ngày thiên nhiên có dương tính, dương khí cực đại nên là lúc thuận tiện giết sâu bọ trong người và ngoài thiên nhiên. Loài vật mang âm tính trong thời gian này cũng rất sợ hãi như thấy qua câu “then lét như rắn mồng năm” (rắn là nước là âm nên sợ lửa, dương) và đây cũng là thời điểm cây cỏ trong thiên nhiên được cho là thấm nhuần dương khí của trời đất nhiều nhất nên có tác dụng hữu hiệu nhất. Do đó mới có tục đi hái thuốc trị bịnh vào lễ Đoan Ngọ ở Việt Nam… Đây là nguyên lý nòng nọc, âm dương trong cách trị bệnh. Điểm này giống như thấy ở trên, trong lễ Dano của Đại Hàn,  các pháp sư tế lễ triệu thỉnh các vị thần phù trợ âm và dương về chữa bệnh.

Như thế ta thấy rất rõ Lễ Đoan Ngọ kết hợp với Đua Thuyền Rồng thấy ở hồ Động Đình là của Đại Tộc Việt vì đất hồ Động Đình là đất của Đại Tộc Việt, là nơi nguồn cội của Đại Tộc Việt, nơi có Long Vương Động Đình Quân, ông ngoại của Lạc Long Quân, nơi đất Sở Việt và nhiều tộc Việt khác. Lễ Dano và Đua Thuyề Rồng ở Gangneung, Đại Hàn là của một tộc Tam Hàn Lạc bộ trãi liên hệ với Lạc Việt Lạc Long Quân, có thể họ bị đẩy đi từ vùng hồ Động Đình. Cũng như đã biết con sông Tương đồ vào hồ Động Đình bắt nguồn từ huyện Lâm Quý của khu tự trị của tộc Tráng (Zhuang), ở Quảng Tây ngày nay. Tộc Tráng là một chi tộc Lạc Việt. Người Tráng cũng cho họ là con cháu của Vua Rồng. Họ có trống đồng như chúng ta. Văn hóa ngày xưa đi xuôi ngược như con thuyền theo một dòng sông. Lạc Việt ngày xưa có mặt ở hồ Động Đình là một chuyện tự nhiên.

Đáng lẽ Việt Nam phải xin UNESCO thừa nhận lễ Đoan Ngọ là di sản văn hóa của nhân loại là của Việt Nam vì chúng ta là tộc Việt duy nhất còn lại của Bách Việt. Buồn thay!

Vũ Trụ giáo và hồ Động Đình.

Ta đã thấy rõ triết truyết Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo cốt lõi của văn hóa Đại Tộc Việt bàng bạc trong địa hình địa vật thần kỳ, kỳ bí của hồ Động Đình, trong truyền thuyết Kì Dương Vương xuống thủy phủ của Long Vương lấy công chúa Thần Long của Long Vương. Hồ Động Đình là đất thần tiên của Đạo giáo theo Vũ Trụ Tạo Sinh Vũ Trụ giáo. Tại một ngôi mộ cổ thời Tây Hán ở Đồi Mã Vương ở Hồ Nam trong đó có thi hài của bà Tân Truy (辛 追) được ướp vẫn còn trong tình trạng tốt, cũng tìm thấy trong một phiên bản sớm nhất của Đạo Đức Kinh do Lão Tử viết. Trong Đạo Đức Kinh có nói tới các tộc ở đây có chữ viết nòng nọc khoa đẩu (Chữ Nòng Nọc Trên Trống Đồng). Ở thư viện này cũng có một bộ Dịch tre không giống các loại Dịch khác. Hồ Động Đình ngày xưa một thời là đất nhà Chu, cổ thư đã chép Việt Thường đem tặng Chu Thành Vương Lịch Rùa trên có khắc chữ khoa đẩu ghi lại mọi chuyện kể từ khi “mở ra trời đất” (tức quá trình Vũ Trụ Tạo Sinh).  Trước đây tại vùng phía dưới sông Dương Tử (tức vùng hồ Động Đình của Bách Việt), người ta cũng đào được những trụ cột hình lục giác có ghi khắc hình mang hình ảnh của một trụ Dịch (Trần Ngọc Ninh, Tuyết Sơn)…

Những điều này cho thấy Đại Tộc Việt có một thứ Dịch nòng nọc. Thứ Dịch này còn ghi khắc lại trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn.

Trong phạm vi bài viết chỉ xin nói tới một vài nét văn hóa tiêu biểu như trên còn những điểm khác ước mong được các tác giả khác đào tìm ví dụ như về ngôn ngữ chẳng hạn chắc chắn tên các địa danh vùng hồ Động Đình phải có gốc từ ngôn ngữ của Bách Việt, của Việt Nam. Từ trước tới nay, tôi đã dùng mặt chữ quốc ngữ ABC, Ấn-Âu ngữ, Phạn ngữ chuyển một số từ Hán Việt qua Việt ngữ (như ở trên đã thấy qua từ Quân: Quân = Việt ngữ cổ Khuấn = Kun = Mường ngữ Cun = Mông Cổ ngữ Khan = Anh ngữ King…). Về chữ Hán thì đây là sở trường của anh Nhạn Nam Phi Đỗ Ngọc Thành. Hy vọng anh sẽ phổ biến sớm những “khai quật” không những trong địa hạt ngôn ngữ mà cả các di tích văn hóa khác của vùng hồ Động Đình nói riêng và của Bách Việt nói chung. Về ngôn ngữ học, tôi và anh Thành đi theo hai ngả nhưng cùng hướng về một chủ điểm.

Kết Luận

Hồ Động Đình là phần đất của Văn Lang của Đại Tộc Việt. Hồ Động Đình là nơi cội nguồn của Đại Tộc Việt. Những di tích của truyền thuyết Kì Dương Vương lấy con gái Long Vương hồ Động Đình Quân hiện còn thấy ở hồ Động Đình. Long Vương, ông ngoại Lạc Long Quân “có thật” còn thấy qua các di sản văn hóa ở hồ Động Đình như đền Động Đình, Đua Thuyền Rồng, các truyền thuyết khác… Lễ Dano ở Gangneung Đại Hàn với hội Đua Thuyền Rồng và họ nhận hồ Động Đình là đất tổ, Long Vương là thần tổ cho thấy họ có một tộc Lạc bộ trãi như Lạc Việt. Điểm này củng cố thêm, xác quyết thêm cho thấy hồ Động Đình là của Đại Tộc Việt, nguồn cội của Bách Việt.

Hồ Động Đình là chốn thần kỳ nơi cội nguồn của Đại Tộc Việt.

Tài Liệu Tham Khảo

.Các tác phẩm của Nguyễn Xuân Quang.

.Bình Nguyên Lộc, Nguồn Gốc Mãi Lai Của Dân Tộc Việt Nam.

.Thái Văn Kiểm, Thế Giới Rau Muống, Y Học Thường Thức số 16, tháng 7, 1996, tr.7-8.

.Trần Quốc Vượng, Hùng Vương Dựng Nước, NXB KHXH, HN, 1972 t III, tr.354.

.chinaheitagenewsletter.org, Duanwu: The Sino-korean Dragon Boat Races

.vi.wikipedia.

August 13, 2010

HÌNH BÓNG LANG HÙNG TRONG GỐM CỔ PERU

Filed under: Lang Hùng ở gốm Peru — Quang Nguyen @ 3:59 am

HÌNH BÓNG LANG HÙNG TRONG GỐM CỔ PERU.

Nguyễn Xuân Quang

Qua các bài viết trước ta đã biết văn hóa cổ Việt và văn hóa cổ của các tộc thổ dân Mỹ châu có gốc từ ven biển Á châu và Đông Nam Á sang châu Mỹ có sự tương đồng qua mẫu số chung Vũ Trụ giáo. Như thế ta có thể dùng văn hóa cổ Việt để giải đọc văn hóa cổ các thổ dân Mỹ châu và ngược lại. Bài viết này là một ví dụ điển hình. Ta có thể dùng gốm hình-tượng ký của Peru cổ để nhận diện các Lang Hùng, một đề tài văn hóa Việt tối ư là quan trọng nhưng hãy còn nhiều khúc mắc đầy tranh cãi và chối bỏ. Tại sao Lang Hùng lại đẻ ra từ bọc trứng? và bọc trứng lại sinh ra toàn con trai thôi? Dĩ nhiên đây chỉ là truyền thuyết nhưng phải hiểu truyền thuyết là một thứ sử cổ vào bậc nhất của nhân loại dựa trên một cái gì để nói lên một cái gì. Hy vọng với mẫu gốm Peru cổ thấy và sờ được này sẽ giúp các nhà làm văn hóa Việt nhận diện được khuôn mặt đích thực của các Lang Hùng và thuyết phục được những người còn nghi ngờ hay chối bỏ.

Như đã biết Peru cổ không có chữ viết nhưng họ làm rất nhiều đồ gốm (cả trăm ngàn mẫu gốm được đào tìm thấy) ghi khắc lại mọi khía cạnh của đời sống. Tôi gọi là gốm hình tượng ký. Dĩ nhiên trong đó có ghi lại truyền thuyết cổ sử của họ. Ở một diện nào đó, gốm cổ Peru là một thứ sử gốm. Truyền thuyết là một thứ sử cổ sơ của người tiền sử. Vì thế  truyền thuyết, cổ sử Peru có những điểm tương đồng với cổ sử Việt qua mẫu số chung Vũ Trụ giáo như đã biết thì phải còn được ghi khắc lại trên gốm cổ Peru. Nói một cách khác truyền thuyết và cổ sử Việt thấy trên gốm cổ Peru là chuyện có thể có và rất hợp lý.

Theo truyền thuyết, Mẹ Tổ Âu Cơ sinh ra một bọc trứng nở ra 100 Lang Hùng, toàn con trai.

Trước hết xin duyệt xét lại vài điểm chính về từ Lang. Từ Lang đã gây nhiều tranh cãi và có nhiều giải thích, ở đây chỉ xin nói tới vài giải thích chính:

-Lang là con trai, thanh niên, trai tráng, tráng đinh.

Người Mường có nhà lang, có một nghĩa là nhà con trai (bachelor’s house), nhà phái nam (men’s house). Chúng ta có nhà đình ruột thịt với nhà Lang của Mường. Nhà đình cũng là nhà dành cho phái nam, ngày xưa đàn bà con gái không được bước chân vào đình. Qua ngôn ngữ ta thấy rõ đình biến âm với đinh là nhà «vật nhọn», bộ phận sinh dục nam. Theo đ = l, ta có đinh = Phạn ngữ linga, bộ phận sinh dục nam. Đình là nhà đinh, tráng đinh, phái có «đinh», có linga. Như thế ta thấy rõ Lang có gốc từ bộ phận sinh dục nam, đực, nọc. Từ Lang diễn tả theo chữ viết nòng nọc vòng tròn-que là chữ nọc. Như đã biết chữ nọc có nhiều dạng tùy theo ở giai đoạn nào của Vũ Trụ Tạo Sinh: nọc sinh tạo, nguyên tạo ở cõi tạo hóa là nọc chấm (.)

Sự tiến hóa của chữ viết nọc:

Từ hư không, không gian nguyên khởi xuất hiện mầm nọc dương dưới hình thức nọc chấm hay chấm nọc (tất cả mọi vật đều khởi đầu bằng hình thái vi thể). Nọc chấm là nọc nguyên sinh ở cõi tạo hóa. Một chấm nọc lớn lên bằng các phân sinh ra làm hai chấm, nối lại ta có một nọc que, là nọc trưởng thành ở tầng lưỡng nghi, nọc chữ thập (do nọc que tách ra làm hai rồi ghép lại) mang tính sinh tạo năng động ở tầng tứ tượng…

nọc trưởng  thành ở cõi lưỡng nghi là nọc que và nọc do hai que ghép lại là nọc sinh động như nọc mũi mác, mũi tên, chữ thập… (Chữ Nòng NọcTrên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á). Lang mới sinh ra từ bọc trứng nên ở đây phải được diễn tả bằng chấm nọc.

-Lang biến âm với chàng. Ông Sáu Lầu được coi là cha đẻ của vọng cổ sau khi sáng tác ra bài Dạ Cổ Hoài Lang (‘Nghe’ Trống Đêm Nhớ Chàng). Chàng cũng có một nghĩa là vật nhọn, một thứ đục (chisel) liên hệ với bộ phận sinh dục nam. Chàng có chàng (chisel) trong khi nàng có nang (túi, bọc). Lang là chàng. Một lần nữa cho thấy Lang có vật nhọn chàng, có đục, có bộ phận sinh dục nam. Ở đây lang đã lớn đã có chàng phải được diễn tả bằng chữ nọc que (I).

Ta cũng thấy lang liên hệ với bộ phận sinh dục nam qua một loại củ gọi là khoai lang, có một nghĩa là «khoai phái nam». Bộ phận sinh dục nam đôi khi cũng gọi là «củ» như củ c…c. Người Bình Định gọi vắn gọn khoai lang là củ. Rõ hơn có một loại khoai lang gọi là khoai dương ngọc. Hán Việt củ, một thứ thước để đo có hình nọc que hay hình thước thợ do ba nọc que ghép lại, ba que là ba nọc, lửa vũ trụ Càn cũng biểu tượng cho đực, phái nam, bộ giống phái nam (vì thế mới có câu ‘ba que xỏ lá’) như thấy qua hình Phục Hy tay cầm củ. Nữ Oa tay cầm qui (hình tròn, cái túi nang, có một khuôn mặt là không gian, Khôn) biểu tượng cho nòng, âm, nữ, bộ phận sinh dục nữ.

Hình Nữ Oa tay cầm qui và Phục Hy tay cầm củ ở một ngôi mộ đời Hán. Lưu ý cả hai có đuôi rắn thuộc ngành nòng âm, nước ứng với Thần Nông của Đại Tộc Việt. Hai vị này là thủy tổ loài người sinh ra con người có dạng khỉ. Người cổ đã biết đến điều này rồi.

Nữ Oa và Phục Hy «qui củ », nòng nọc, âm dương, Càn Khôn sinh ra vũ trụ muôn sinh, con người. Nữ Oa và Phục Hy  là hai chị/anh em và cũng là vợ chồng, là nòng nọc, âm dương thủy tổ sinh ra loài người.

Tóm lại lang là con trai, thanh niên, tráng đinh,  là chàng, là đục, là bộ phận sinh dục nam.

-Quan Lang

Hầu hết các nhà văn hóa Việt hiện nay chấp nhận gọi con trai của Hùng vương là “quan lang”.

Trước đây có tác giả cho quan là một chức của Trung Hoa. Giải thích này theo nghĩa đã bị ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, rất muộn, không theo nghĩa gốc nguyên thủy của từ Lang.

Đúng hơn phải hiểu giản dị theo qui luật tiếng đôi quan lang ta có quan = lang. Theo tiếng Nôm Tầy quan có nghĩa là chàng. Con trai vua Hùng gọi là quan lang đối ứng với con gái vua là mẹ nàng. Qua từ đôi mẹ nàng, ta có nàng = mẹ, hai từ mẹ và nàng có cùng gốc nghĩa nòng. Vì thế quan lang thì quan cũng phải hiểu theo nghĩa là quan và lang có cùng gốc nọc, chàng (đục).

Như vậy, quan chỉ giản dị là chàng (nôm Tầy) là Lang (Mường ngữ).

-Quang Lang

Trong bản dịch Lĩnh Nam chích quái, giáo sư Lê Hữu Mục viết là “quang lang” (với quang là sáng, ánh sáng giống tên tôi), giáo sư cước chú là “xem nguyên bản viết là ‘Hán ngữ quang’ chắc sai” (LNCQ. nxb Trăm Việt in lại, tr.45). Không, nguyên bản có thể không viết sai. Tác giả Lĩnh Nam chích quái là các nhà Nho khoa bảng ít khi viết sai. Các con Hùng vương được gọi là QUANG LANG là Lang Ánh Sáng, Lang Sáng ăn khớp với  thư tịch cho ta biết được tên thật của Hùng vương thứ nhất là Lân Lang tức Lang Sáng (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Quang Lang là những Con Trai Ánh sáng, Con Mặt Trời tương tự thổ dân Mỹ châu nhận họ là Children of Light, People of the Sun. Người Việt, Xích Quỉ cũng có nghĩa là People of The Sun (Việt Là Gì?).

Như thế Lang có hai tiếng đôi một là quan lang với quan phải hiểu theo tiếng Nôm Tầy hai là Quang Lang hiểu theo dòng giống mặt trời sáng ngời của thần mặt trời Viêm Đế.

Tôi tìm thấy một mẫu gốm Peru cổ thời Virú (100 TTL-400 STL) mang hình bóng của Lang Hùng, hiện nay được gọi là  bình chiến sĩ (warrior) vì người này tay cầm khiên.


Bình gốm Chiến Sĩ  tay cầm khiên thời Virú, Bảo Tàng Viện Larco, Lima, Peru.

Mẫu gốm này mang trọn nghĩa Lang Hùng Vương.

1. Lang Hùng sinh ra từ một bọc trứng.

Bọc trứng của Lang Hùng phải hiểu là bọc hư vô, không gian, vũ trụ. Lang Hùng sinh ra từ bọc trứng mang hình ảnh bọc Trứng Vũ Trụ mang tính tạo hóa, vũ trụ, sinh tạo, nòng nọc, âm dương, nhất thể, thái cực của ngành dương mặt trời (vì toàn là con trai) diễn tả theo chữ viết nòng nọc vòng tròn-que là chấm-vòng tròn (theo duy dương phải đọc chấm trước, vòng tròn sau) (Chữ Nòng Nọc Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á).

Bọc Trứng Lang Hùng diễn tả theo chữ viết nòng nọc vòng tròn-que là chấm-vòng tròn.

Như thế Lang Hùng có một khuôn mặt của thần mặt trời Ra của Ai Cập cổ  cũng là mặt trời Tạo Hóa (Sun as Creator). Thần mặt trời Ra cũng đượcdiễn tả bằng linh tự chấm vòng tròn. Đây chính là chữ viết nòng nọc chấm-vòng tròn. Như đã biết chấm là chữ viết nọc chấm nguyên tạo mang nghĩa mầm dương, mầm mặt trời, mặt trời nguyên tạo và vòng tròng mang nghĩa không gian nguyên tạo (hiệp accord với chấm nọc nguyên tạo nên không gian cũng phải mang tính nguyên tạo).

Nhìn dưới diện lưỡng nghi đã phân cực, theo duy dương chữ chấm-vòng tròn có một nghĩa là mặt trời sinh tạo, tạo hóa, không gian, ăn khớp với khuôn mặt mặt trời sinh tạo, tạo hóa ngành nọc lửa, mặt trời Viêm Đế, Đế Minh, Kì Dương Vương, tức ngành Mẹ Tổ Âu Cơ lên núi. Theo duy âm là vòng tròn có chấm là không gian dương, thái dương, khí-nước nhưng theo duy dương ngành mặt trời, vòng tròn chấm là mặt trời ngành không gian ứng với Thần Nông, Lạc Long Quân, Hùng Vương  ngành cha Lạc Long Quân xuống biển.     .

Bình gốm người «chiến sĩ» này có hoa tai hình chấm-vòng tròn. Trong văn hóa Tiền Columbus Peru, hoa tai thường cho biết tộc của một sắc dân. Hoa tai chấm-vòng tròn chính là bọc trứng vũ trụ sinh ra trăm lang Hùng.

Bình gốm này mang một khuôn mặt nọc nòng, dương âm sinh tạo, tạo hóa, trụ-vũ chấm-vòng tròn của bọc trứng Lang Hùng.

2. Lang là con trai.

Bình diễn tả người chiến . Với có nguồn gốc là bộ phận sinh dục nam (xem bài viết Kẻ Sĩ). Chiến sĩ, binh lính  với lính biến âm với Ấn ngữ linga. Ngày xưa chỉ con trai, đàn ông có linga mới đi lính.

Bình người chiến sĩ có «đuôi». Đuôi là bộ phận sinh dục nam như thấy qua câu ca dao:

Chồng người đi ngược về xuôi,

Chồng em ngồi bếp lòi đuôi ra ngoài.

Đuôi của người chiến sĩ ở bình này cũng diễn tả bộ phận sinh dục nam. Hơn thế nữa đuôi bình là vòi bình. Vòi cũng có nghĩa là bộ phận sinh dục nam. Theo v=b (víu = bíu), vòi = bòi, buồi. Vòi ấm cũng vậy như cậu ấm sứt vòi. Vòi ấm biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam cương cứng, cường dương như «cần câu rô» thấy qua câu đố:

Bốn cô trong động bước ra,

Đồ phô trắng hếu như hoa bông cần,

Ông đồ tẩn ngẩn tần ngần,

Bòi (vòi) ông cẩng tếu như cần câu rô.

(bộ ấm uống trà: bốn cô là bốn chung uống trà, ông đồ là cái ấm).

Bình «chiến sĩ» này cũng có vòi như «cần câu rô».

Bình gốm này có một khuôn mặt là một lang, một hình bóng của Lang Hùng.

3. Lang là chàng

Lang là chàng là đục, là bộ phận sinh dục nam. Chiến sĩ là những chàng xử dụng những vật nhọn làm vũ khí. Chiến sĩ thường gọi là chàng:

Áo chàng đỏ tựa ráng pha,

Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in.

(Đoàn Thị Điểm, Chinh Phụ Ngâm).

Bình gốm này có một khuôn mặt là một chàng.

4. Lang là Hùng

Lang là chàng, là đục, là đực, là hùng (thư hùng là cái, đực).

Các Lang con trai, đực, hùng, người hùng, anh hùng, trở thành các vua Hùng. Bình gốm này là một bình người hùng, anh hùng có gốc hùng là đực, nam, con trai. Anh ngữ hero người hùng, anh hùng có cùng gốc her- với heron có nghĩa là kẻ, ke, cọc, cò, cồ (đực). Theo h=c=k, her- = ker- = Việt ngữ ke (bộ phận sinh dục nam). Rõ như ban ngày Anh ngữ hero = Hán Việt hùng. Ta cũng thấy rõ hero ruột thịt với  Phạn ngữ víra, hero, Latin vir, đàn ông, liên kết với virile, hùng tính. Ta cũng thấy Phạn ngữ virá = Latin vir = Hán Việt văn (phái nam) như Nguyễn Văn X. Theo v=h (bà vá = bà hóa), ta có virá, vir = her(o).

Ở đây cho thấy rất rõ tại sao bọc trứng của Mẹ Tổ Âu Cơ sinh ra toàn con trai. Sở dĩ như vậy là vì truyền thuyết này chỉ có mục đích nói về phần bọc trứng theo duy dương sinh các vua Hùng dòng dõi thần mặt trời Viêm Đế.

Như thế hero, người hùng có nghĩa gốc là nọc, cọc, dương, hùng (đực), bộ phận sinh dục nam (xem Kẻ Sĩ).

Các Lang Hùng là những người hùng, các vua Hùng là những bậc anh hùng.

Bình gốm này có một khuôn mặt Hùng của các Lang Hùng.

5. Lang là chiến sĩ.

Bình gốm này hiện được cho là một bình chiến sĩ, một người lính vì tay cầm khiên. Như đã biết lính biến âm với Ấn ngữ linga. Chiến sĩ là một khuôn mặt nhà võ của Kẻ Sĩ có gốc từ bộ phận sinh dục nam là một võ sĩ, dũng sĩ, khanh tướng, người hùng, một anh hùng:

Ngoài biên thùy rạch mũi can tương.
Làm sao cho bách thế lưu phương,
Trước là sĩ sau là khanh tướng

(Nguyễn Công Trứ, Kẻ Sĩ).

Cũng nên biết thêm là Sĩ cũng có một khuôn mặt văn nữa:

Trong văn miếu ra tài lương đống.

(Nguyễn Công Trứ, Kẻ Sĩ).

 

Vì thế nếu hiểu theo võ thì lang Hùng có một khuôn mặt võ và hiểu theo văn thì Lang Hùng có một khuôn mặt văn. Ở đây nếu hiểu quan Lang với quan là chức quan theo theo Trung Hoa thì cũng có thể chấp nhận được nhưng với nghĩa đã muộn.

Các Lang Hùng là những chiến sĩ, các vua Hùng là nhữ vị vua chiến sĩ, dũng sĩ vì thế người Việt con cháu Hùng Vương mỗi người là một chiến sĩ kiêu hùng như lịch sử đã cho thấy. Vì thế con cháu vua Hùng mới gọi là người Việt, người Vớt (dao lớn), người Rìu, vật nhọn, khí giới biểu tượng cho hùng tính, võ biền, chiến sĩ.

Bình gốm này có một khuôn mặt chiến sĩ, dũng sĩ, kẻ sĩ của Lang Hùng.

6. Lang là chàng là đục, là đực, là dương, là mặt trời.

Lang là chàng là đục, là đực, là dương, là mặt trời. Các Lang là con cháu của thần mặt trời Viêm Đế. Vua Hùng là vua mặt trời (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Mặt trời ở đùi «người chiến sĩ» trên bình cho thấy «lang gốm» này cũng thuộc dòng mặt trời. Mặt trời này có chấm nọc nguyên tạo là mặt trời sinh tạo, tạo hóa chính là mặt trời bản thể của các Lang Hùng.

Đây là hình ảnh của thần mặt trời tạo hóa (sun as creator) của Ai Cập cổ viết theo linh tự là hình vòng tròn có chấm như hoa tai ở đây.  Ngoài ra mặt trời ở đùi có tia sáng chuyển động như chong chóng mang nghĩa vận hành, sinh tạo năng động và có chấm nọc nguyên tạo, sinh tạo ở cõi tạo hóa.

Lưu ý ánh sáng xoay theo chiều ngược với kim đồng hồ tức theo chiều dương, theo chiều mặt trời.

Mặt trời ở đùi là mặt trời tạo hóa sinh động.

Ở đây các Lang Hùng gọi theo Quang Lang, những Lang Ánh Sáng rất thích hợp.

Bình có một khuôn mặt là mặt trời sinh tạo, tạo hóa của Lang Hùng dòng thần mặt trời Viêm Đế.

7. Lang Hùng mang trọn nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh

-Nhất thể

Như đã thấy Lang Hùng sinh ra từ bọc Trứng Vũ Trụ nên có cốt nhất thể (trứng có tròng trắng âm và tròng đỏ dương).

Bình có đôi hoa ta hình chấm-vòng tròn và mặt trời ở đùi có chấm vòng tròn có một khuôn mặt nhất thể.

-Lưỡng nghi

Lang hùng chia ra làm hai ngành : 50 con theo mẹ lên núi thuộc ngành Lửa âm và 50 con theo cha xuống biển thuộc ngành Nước dương.

Bình có vòi nọc I, tay cầm của bình hình nòng O. Má trái  (âm) « xâm » hình nọc chữ V (nọc mũi tên, mũi mác, răng cưa, răng sói chỉ địa), âm thái dương và má bên phải (dương) xâm hình nọc đầu mũi tên chỉ thiên (chiều dương), dương thái dương. Với hai dấu xâm  âm dương thái dương này cho thấy đây có thể là một vị vua chúa cai trị cả hai ngành nòng nọc, âm dương của ngành nọc mặt trời thái dương nhiều hơn, chứ không phải chỉ đơn giản là một chiến sĩ. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt đây là hình ảnh Tổ Hùng của cả hai ngành ngoại, nội, núi, biển, Hùng Minh-Viêm Đế và Hùng Lạc-Thần Nông.

-Tứ tượng

.Tứ tượng nhìn chung

Bốn vị vua tổ Đế Minh, Kì Dương Vương, Lạc Long Quân  và Hùng Vương (truyền thuyết) ứng với tứ tượng (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Hoa tai vòng tròn có chấm có một khuôn mặt lưỡng nghi và có bốn lỗ hình chấm ứng với  tứ tượng. Chiếc khiên vuông cũng ứng với  tứ tượng.

.Tứ Tượng nhìn riêng rẽ

trên bình có:

-Tượng Lửa: chuỗi đeo cổ gồm các hột chấm nọc lửa nguyên tạo.

-Tượng Nước: hình sóng nước.

-Tượng Gió: quai cầm vòng tròn gió,

-Tượng Đất: vòi bộ phận sinh dục hình nọc Núi Trụ đất lửa. Điểm này

giống như thần Đất Keb của Ai Cập cổ  có bộ phận sinh dục là Núi Trụ Chống (bầu) Trời Nut,  như thần Shiva có biểu tượng chính là linga, sinh ra từ núi Trụ Thế Gian Kailash ở Himalaya.

Bình có một khuôn mặt  tứ tượng của các Lang Hùng.

8. Chim biểu Lang

Lang Hùng có nhiều chim biểu tùy theo nhìn theo diện nhất thể, sinh tạo, tạo hóa nhất thể, thái cực; lưỡng nghi từng ngành và tứ tượng từng đại tộc. Nhìn theo nhất thể là loài chim mang tính có âm có dương như cò Lang… Nhìn theo  từng ngành thì ngành dương là loài chim nọc Lang như chim cắt (chim rìu, chim Việt). Mường Việt cổ có vật tổ chim là chim lang, chim chàng, chim tráng chim đục, chim rìu, chim mỏ cắt. Theo một truyền thuyết Mường hai con chim Kláng, Klao (tương ứng với truyền thuyết khác là chim Ây, cái Ứa) đẻ ra trứng trăm trứng nghìn, nở ra muôn vật muôn loài, đẻ ra người Đáo (tức người Kinh, người Việt) đẻ ra người Mường… Từ Kláng chuyển sang Việt ngữ là Tráng, Chàng (đục) tức chim mỏ cắt (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt, xem chương Nhận Diện Danh Tính Hùng Vương). Ta thấy rõ chim chàng là chim Lang.

Rõ hơn, hai Bà Trưng quê ở châu Phong thuộc dòng dõi Hùng Vương. Hai Bà khi lên ngôi đóng đô ở đất Mê Linh. Về ngôn ngữ học Mê-Linh là một từ phát gốc từ một từ cổ Việt mling, mlang theo tiếng của các dân tộc Tây nguyên có nghĩa là một loài chim (Trần Quốc Vượng). Tôi thấy trong dân ca Ê-Đê có bài hát nhắc đến tên loài chim này:

Anh đến từ nơi xa,

Anh mang theo chim mơ-linh từ nhà,

Chim mơ-lang từ buôn.

Anh nghĩ rằng em là con gái chưa tơ vương…

(Vũ Ngọc Phan, Tục Ngữ, Cao Dao, Dân Ca, Việt Nam).

Theo tác giả Trần Quốc Vượng, đó là tên bộ lạc gốc thời Hùng Vương dựng nước (Hùng Vương Dựng Nước, tập I, tr.154).

Chim mling, mlang chính là chim Lang, chim Chàng, chim Rìu, chim Việt, chim Cắt. Thật vậy, ta có thể kiểm chứng lại cho chắc ăn. Tên chim có trong ngôn ngữ các tộc Tây Nguyên mà ta đã biết rằng một số tộc Tây Nguyên có liên hệ mật thiết với một số tộc ở Mã Lai, Nam Dương và ngôn ngữ Việt Nam liên hệ với ngôn ngữ Mã Lai, Nam Dương, như vậy ta hãy tìm tung tích chim mling, mlang này trong ngôn ngữ Mã Lai xem sao? Trong từ điển Malay-English Dictionary của R.J. Wilkinson có từ lang: a generic name for hauks, kites and eagles (Lang: một tên chủng loại chỉ diều hâu và ó, ưng) và Mã Lai ngữ langling: the Southern pied hornbill (chim cắt có lông sặc sỡ, nhiều màu ở miền Nam). Rõ như ban ngày Mê Linh là chim Linh, chim Lang, chim chàng, chim đục, chim rìu, chim Việt tức chim cắt (hornbill), một thứ chim biểu của Lang Hùng. Hai bà Trưng đóng đô ở Mê Linh là con cháu Hùng Vương quê ở Phong châu là vậy (Ý Nghĩa Ngày Lễ Hai Bà Trưng).

Còn về phía ngành âm là loài chim nòng nước như chim nông giống bổ nông [có bổ là búa là nọc và nông là nang (túi), là nòng].

Xin lưu ý

Anh ngữ pelican, chim nông có gốc Hy Lạp ngữ pelekus, cây rìu (một thứ bổ, búa). Người Tây phương gọi chim là pelican là gọi theo duy dương tức theo cái mỏ to giống như cây rìu trong khi ngành nòng âm Thần Nông của chúng ta gọi là chim nông, chim nang (túi) theo duy âm tức gọi theo cái túi dưới mỏ để xúc cá.

Trên mặt trống đồng âm dương Ngọc Lũ I, các con chim có túi nang dưới cổ là chim nông hay bồ nông, còn trên thạp đồng Hợp Minh các con chim mỏ nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) ở bên thuyền lao xuống nước hay bay lên trời là những con bổ nông.

Như thế dưới diện chim biểu mang dương tính thái dương chim biểu của các Lang Hùng nói chung là con chim Bổ, tức  chim Búa, chim Rìu, chim Việt, Bổ Cắt của ngành dương  và ngành âm là chim Bổ Nông (từ bổ có thể coi như được dùng như một tính từ chỉ lang, nọc, dương, mặt trời…).

Ở bình gốm này trang phục đầu của người «chiến sĩ» hình con chim. Nó trông có vẻ như mang tính lưỡng hợp đầu và đuôi mang hai khuôn mặt. Phần trên cao trông giống cả đầu mỏ lẫn đuôi và mũi người này trong giống cả đuôi lẫn đầu, nghĩa là con chim có hai khuôn mặt: một là bay lên trời mang dương tính hai là bay chúi xuống phía mũi mang âm tính. Trường hợp này giống hình chim trên trang phục đầu của những người nhẩy múa trên mặt trống đồng âm dương Ngọc Lũ I (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á).

Nếu nhìn dưới diện, trang phục đầu hình chim hai chiều này ăn khớp với tính lưỡng hợp của Lang Hùng trăm phần trăm và mang hình bóng chim Lang, chim Bổ.

Bình này có một khuôn mặt vật tổ chim lưỡng thể của Lang Hùng.

9. Lang Hùng Vương có một khuôn mặt là Tổ Hùng, tổ tiên của người Việt.

Trong Việt ngữ từ giống (nòi) chỉ dòng tộc, tổ tiên có nghĩa liên hệ với bộ phận sinh dục nam. Theo gi = d = ch, ta có giống = chống (que chống) = chông (vật nhọn) ruột thịt với bộ phận sinh dục nam. Điểm này cho thấy rõ Lang Hùng có nghĩa ruột thịt với bộ phận sinh dục nam là tổ tiên giống (nòi) Việt ăn khớp trăm phần trăm, vì vậy ta mới gọi các Lang Hùng là Tổ Hùng.

Tất cả danh xưng của Đại Tộc Việt thuộc ngành trống, dương, mặt trời Hùng Vương  dòng thần mặt trời Viêm Đế đều có nghĩa là nọc (bộ phận sinh dục nam, đực, trống, dương, mặt trời…) vì đều phát sinh ra từ gốc nguyên thủy là chữ nọc que (I) trong chữ viết nòng nọc vòng tròn-que có gốc nguyên thủy là cây nọc, cây nõ, cây cọc bộ phận sinh dục nam, về sau có thêm nghĩa là nọc, cọc, đực, trống, dương, mặt trời…

Ví dụ thần mặt trời Viêm Đế là «Trụ Nóng, Nọc Nóng» (Viêm là Nóng, Đế là Trụ như đế hoa). Khuôn mặt «Pillar of Fire» (Trụ Lửa) của Shiva Ấn giáo chính là một khuôn mặt của Viêm Đế. Vua tổ thế gian của Đại Tộc Việt là Kì Dương Vương có Kì là Ki, Si (cây) là Kèo (que, nọc) là đực, là trống, là mặt trời (xem bài viết Kẻ Sĩ) ; núi Kì là Núi Trụ thế gian ; Lạc Long Quân có Lạc ngoài nghĩa là Nước dương, hiểu theo diện ngành mặt trời thái dương có nghĩa là Gạc (bắn lạc = bắn gạc). Gạc có một nghĩa là sừng (cọc nhọn) hàm nghĩa nọc, cọc, đực, trống như hươu gạc, muông gạc (chuyển qua Anh ngữ là muntjac), hươu sừng là hươu đực, hươu trống, Anh ngữ hart, hươu sừng, hươu đực, theo g=h (gồi = hồi), hart = gạc, Pháp ngữ garçon, con trai, có gar- = gạc. Lạc Long  theo tộc nước là con rắn nuớc dương có sừng, con thuồng luồng có sừng, con rồng-rằn nước; theo tộc đất có nước (đất âm, ao đầm, ruộng nước) là con rồng có cốt là con cá gạc, con  cá ngạc (Hán Việt), con cá sấu, rồng-cá sấu.

Và Hùng Vương đã nói ở trên.

Ngay cả từ Việt có nghĩa là cây vớt (con dao dài nhọn), là rìu (vật nhọn) cũng có nghĩa ruột thịt với nọc,bộ phận sinh dục nam, trống, dương, mặt trời. Người Việt là Người Mặt Trời… ( xem Việt Là Gì ?, Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Ta có thể kiểm chứng với các tộc thổ dân cổ Peru nói ngôn ngữ Quechua ở vùng núi Andes (trong đó có Inca thờ thần mặt trời Inti).  « In the Native American languages of the Andes, the concepts of “ancestor”, “lineage” and “penis” are linked linguistically and metaphorically (Salomon 1991:20; Zuidema 1977:256) (Trong ngôn ngữ Thổ Dân Mỹ châu vùng Andes, quan niệm về “tổ tiên”, “nòi giống” và “dương vật” nối kết về ngôn ngữ và ẩn ý). Hai tác giả này không nhìn theo Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo nên dừng lại ở nghĩa nọc nguyên thủy là bộ phận sinh dục nam không chọn nghĩa mặt trời. Ở đây nọc, dương Penis phải lấy theo nghĩa biểu tượng triết thuyết là mặt trời mới chỉnh. Ta thấy họ giống hệt trăm phần trăm như chúng ta vì họ và chúng ta đều là Người Mặt Mặt Trời. Chúng ta có tổ tiên là Tổ Hùng có một nghĩa là Đực, Trống, bộ phận sinh dục nam, mặt trời thuộc giống Việt Người Mặt Trời con cháu Thần Mặt Trời Viêm Đế còn họ là con cháu thần mặt trời Inti.

Người chiến sĩ (ruột thịt với bộ phận sinh dục nam) mang hình bóng Tổ Tiên thấy rất rõ trong văn hóa Recuay qua các tượng đá tạc hình tổ tiên, chiến sĩ ở các đền miếu thờ phượng có hình dương vật (xem hình Tiêu Biểu Tháng 8, 2010).

Xin lưu ý

Tôi dành từ Tổ Hùng chỉ các lang Hùng có khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa, tổ tiên của chúng ta nghiêng nhiều về truyền thuyết, ở cõi vũ trụ còn từ Hùng Vương dành chỉ các vua Hùng thế gian hay lịch sử. Chúng ta phải nói là ngày Giỗ Tổ Hùng mới chính xác hơn là ngày Giỗ Hùng Vương.

Kết Luận

Tóm lại các nhà khảo cổ học hiện nay gọi bình gốm này là bình chiến sĩ là nhìn theo diện duy tục chỉ dựa vào chiếc khiên cầm ở tay. Như đã thấy, đây có thể là một võ tướng, một kẻ sĩ, một anh hùng, một vị vua, một vị thần ngành nọc, một vị thần mặt trời, một vị tổ của một đại tộc mặt trời… mang trọn vẹn triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt chính là Tổ Hùng.

Bình này là một «chữ gốm» Lang, Hùng, Việt. Bình gốm Peru cổ này mang hình bóng Lang Hùng của chúng ta.

Từ Lang, Hùng, Việt phải hiểu theo nguồn gốc nghĩa ngử từ chữ nọc que trong chữ viết nòng nọc vòng tròn-que có nghĩa nguyên thủy là bộ phận sinh dục nam về sau có thêm nghĩa con trai, đực, nam, dương, mặt trời… Hiển nhiên đến thời con người đã có truyền thuyết thì nghĩa liên hệ với mặt trời là nghĩa thích hợp nhất.

Hãy dùng bình gốm này trong việc giảng dậy về các Lang Hùng, Tổ Hùng và ngược lại dùng truyền thuyết và cổ sử Việt để giải đọc bình gốm này cũng như những mẫu gốm khác của gốm cổ Peru diễn tả triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh.

July 30, 2010

GỐM TÌNH DỤC CỦA PERU CỔ LÀ GỐM “CON HEO”?

Filed under: Gốm Tình Dục Peru Cổ... — Quang Nguyen @ 3:20 am

GỐM TÌNH DỤC TIỀN-COLUMBUS CỦA PERU LÀ GỐM “CON HEO”?

Nguyễn Xuân Quang

Cảnh Báo Của Tác Giả

Trong bài viết này có hình ảnh của một vài mẫu gốm mang tính rất nhục tình «erotic» có thể không hợp với độc giả vị thành niên và có thể làm tổn hại tới sức khỏe của các nhà lãnh đạo tinh thần. Thật ra các mẫu gốm này hiện đang được trưng bầy tại bảo tàng viện Larco, thủ đô Lima, Peru cho quần chúng xem và những hình ảnh loại gốm này được phổ biến đầy rẫy trên Internet. Tôi giới hạn dùng hình ở đây  tới mức tối thiểu, xin tham khảo thêm các hình trong các mạng. Đối với các tộc thổ dân này thì đây là những tình vật thiêng liêng huacos eróticos (huaca là những vật thiêng liêng, thờ phượng). Xin coi đây là một bài viết khảo cứu.

*

*        *

Tôi đặt tên cho đồ gốm Peru Tiền-Columbus là gốm hình-tượng ký (Picto-iconographic Ceramics) với nghĩa là các nền văn hóa này đã dùng đồ gốm thay cho chữ viết (ký tự) ghi lại các hình ảnh muôn mặt của đời sống từ tâm linh cho tới đời sống phàm tục của họ. Họ không có chữ viết (ký tự) đã dùng đồ gốm vẽ, khắc, chạm, nặn các hình tượng thay cho chữ viết. Đây là một tộc duy nhất đã dùng đồ gốm như một chữ viết, như một thứ hình ngữ, hình tự tức một thứ gốm hình ký. Ở một phương diện nào đó gốm Peru Tiền Columbus là một thứ sử gốm.

GỐM CỔ TÌNH DỤC CỦA PERU

Chủ điểm của bài viết này chỉ nói về gốm tình dục (erotic pottery). Ta đã xem nhiều tác phẩm văn và tranh vẽ cổ nổi tiếng nói về tình dục, nhục tình, tình thuật (art of love) như Tố Nữ Kinh của Trung Hoa, Kama Sutra của Ấn Độ, các tác phẩm điêu khắc nổi tiếng khác như ở các đền đài của Nepal, Khajuraho của Ấn Độ… Nhưng không ở đâu có gốm tình dục độc đáo có một không hai như trong các nền văn hóa Tiền-Columbus ở Peru, nổi trội nhất là gốm Moche. Moche đã chế tạo gốm tình dục một lượng rất lớn với một nghệ thuật điêu khắc tuyệt vời nhất trong các nền văn hóa Tiền-Columbus.

Moche là một nền văn hóa tìền Inca ở các thung lũng vùng ven biển ở miền Bắc Peru vào khoảng 100 STL đến 800 STL, đã để lại một kho tàng gốm độc đáo khổng lồ  nằm trong số từ 80.000 cho tới cả trăm ngàn mẫu vật của gốm cổ Peru, hiện được giữ tại các bảo tàng viện và tại các nhà sưu tập tư khắp thế giới.

Tác giả đứng trong kho chứa các mẫu gốm Tiền-Columbus của Peru tại Bảo Tàng Viện Larco, Lima, thủ đô Peru.

Bảo tàng viện lưu trữ nhiều mẫu gốm cổ Peru nhất, có tới 55.000 mẫu gốm, là Bảo Tàng Viện Rafael Larco Hoyle, Lima, thủ đô Peru. Larco là một nhà khảo cổ tài tử, đã nghiên cứu rộng rãi một lượng rất lớn gốm cổ khai quật lên từ bất động sản của gia đình mình và ở những thung lũng Virú và Chicama vào năm 1948. Sau khi qua đời ông đã tặng bộ sưu tập khổng lồ này để làm viện bảo tàng mang tên ông.

Gốm cổ Peru ghi khắc lại mọi khía cạnh của đời sống hàng ngày trong đó có cả tình dục. Gốm tình dục thấy nhiều nhất trong gốm Moche. Gốm Moche nổi tiếng trong các cổ vật Tiền-Columbus. Các bình với các motifs và hình dạng hết sức gợi ý, gồm có hai loại: một với các hình tượng điêu khắc nổi ba chiều rất nghệ thuật và một loại với hình vẽ trơn trang trí rất tinh vi. Về dạng điêu khắc các nhân vật người diễn tả bằng những hình dạng sống động và những nét diễn tả tình cảm tinh tế. Gốm tình dục Moche phần lớn ở dưới dạng những bình. Dạng bình phổ thông nhất là bình có cổ và vòi hình móc bàn đạp leo lên ngựa (stirrup) cổ truyền gồm có thân bình chứa chất lỏng trên có cổ là một ống cong và có vòi thẳng hình móc bàn đạp leo lên ngựa. Cho tới ngày nay, lý do tại sao bình làm có cổ và vòi hình móc bàn đạp leo lên ngựa này hãy còn là một điều bí ẩn. Các nhà khảo cổ hiện nay giải thích cổ hình vòng cung để cầm cho dễ hay dùng để thông hơi cho dễ rót chất lỏng ra… Theo tôi, vì các bình này là những vật dùng trong việc tế lễ thờ phượng nên nếu nhìn theo tín ngưỡng Vũ Trụ giáo tức nhìn theo nòng nọc, âm dương thì hình cổ vòng tròn diễn tả nòng âm và vòi hình cọc thẳng diễn tả nọc dương. Cổ và vói nòng nọc âm dương ăn khớp trăm phần trăm với ý nghĩa của gốm tình dục mang một ý nghĩa là sự hôn phối, giao hòa của nòng nọc, âm dương. Xin nhắc lại các nền văn hóa cổ Peru có nguyên lý lưỡng hợp nòng nọc, âm dương hanan và hurin (xem Sự Tương Đồng Giữa Cổ Việt và Inca).

Bình là một tác phẩm nghệ thuật nhưng cũng là những vật dụng đựng chất lỏng (nước, rượu, trà mate).

Gốm tình dục diễn tả đời sống tình dục của các tộc Peru cổ bao trọn mọi khía cạnh về tình dục từ cơ thể học cho tới những tình thuật (art of love).

.Cơ thể học về bộ giống nam nữ.

Những gốm diễn tả bộ phận sinh dục nam nữ phần lớn hết sức trung thực, hết sức “tả chân”, không thiếu một chi tiết nào, giống hệt như những tượng hình cơ thể học dùng trong việc giảng dậy cho sinh viên y khoa. Thường trong nghệ thuật tổng quát và ngay cả trong tình thuật ở những nền văn hóa cổ khác, bộ giống thường được diễn tả  mang tính cách gợi ý một cách “nghệ thuật” tượng trưng mà thôi. Các nghệ sĩ tạo hình ở đây khi làm chắc đã dùng tới những “mẫu thật” của người sống ở ngay trước mắt nên rất thật.

Các gốm thuộc diện này có thể đã được làm ra với mục đích dùng làm một thứ trợ huấn cụ để giảng dậy về cơ thể học bộ giống trong việc giáo dục giới tính, y học hay tình dục.

Tuy nhiên cũng có một phần làm với tính cách biểu tượng theo triết thuyết văn hóa, theo tín ngưỡng thờ phượng. Ví dụ như bộ phận sinh dục nữ cũng được diễn tả bằng hình vòng tròn nòng O theo nguyên lý lưỡng hợp nòng nọc, âm dương, theo chữ viết nòng O của chữ viết nòng nọc vòng tròn-que  và theo hình trái tim hay hình lá đa giống như người Việt gọi bộ phận sinh dục nữ là cái lá đa.

Gốm diễn tả bộ giống phái nữ làm theo cơ thể học, người nữ hình Mẹ Đời ngồi ở tư thế sinh con, hai tay giơ lên phía đầu, ở trong Trứng Vũ Trụ (ở giữa), hình nòng O (bên trái) và hình lá đa (bên phải), Bảo Tàng Viện Larco (ảnh của tác giả).

Tương tự bộ giống phái nam cũng vậy, cũng được làm theo cơ thể học và theo hình nọc, cây nõ, cây cọc.

(xem hình trong bài Vũ Trụ Giáo Trong Gốm Cổ Peru).

Ở đây một lần nữa cho thấy hai mẫu tự căn bản vòng tròn nòng O và nọc que I của chữ viết nòng nọc vòng tròn-nọc que có nguồn gốc nguyên thủy từ bộ giống nữ nam. Ở đây ta có thể nhìn và sờ được hai mẫu tự này, dĩ nhiên thích thú nhiều hơn là tưởng tượng (!).

.Tình Thuật

Gốm loại này diễn tả tất cả những khía cạnh của tình dục “thường tình” và “không thường tình” giữa nam nữ, giữa người cùng phái, một mình (thủ dâm, phái nữ đã biết dùng dương vật giả), giữa người và thú, giữa người và các bộ xương và những cảnh tình dục hiến tế… (xin xem hình trong các mạng dưới những tên liên hệ với gốm tình dục Moche như sexual Moche pottery, erotic Moche ceramics…).

Những cảnh tình dục “không thông thường” mà y giới gọi là thác loạn tình dục (sexual perversion) nhiều khi vượt ra ngoài sức tưởng tượng của con người hiện nay, “quái đản” hơn cả những báo chí, phim ảnh hiện đại được mệnh danh là “con heo”, “porno” hay được xếp hạng loại XXX … Xin nhắc lại là gốm diễn tả tình dục này có mẫu gốm đã có hơn hai nghìn năm, có khi đã thấy ở vào thời Trước Tây Lịch như ở trong văn hóa Salinar (300 TTL-100 STL) với bình gốm diễn tả cảnh dạo tình (foreplay).

Gốm diễn tả những động tác tình dục bằng tay, núm vú, bộ phận sinh dục, hậu môn, miệng và lưỡi. Kê gian (sodomy), thủ dâm và dùng lưỡi (fellatio) thường thấy diễn tả nhiều nhất. Có cả cảnh một tộc vương hay một vị giáo chủ ngồi trên ngai để cho bộ hạ dùng miệng “tung hô” hạ bộ giống như tổng thống Bill Clinton ngồi ở Phòng Hình Trứng tại tòa Bạch Ốc lim dim để cho nàng Monica Lewinsky thổi phồng tình hình thế giới…

Gốm Tình Dục Moche Là Một Thứ  Gốm “Con Heo” (Porno)?

Câu hỏi đặt ra là gốm tình dục này có phải là một thứ porno của người Peru cổ không?

Trước đây các nhà khảo cổ đã nghĩ đây là một thứ porno. Khi khám phá ra gốm tình dục này, các nhà khảo cổ đã bàng hoàng và sợ hãi không dám phổ biến ra ngoài đại chúng mà chỉ dấu kín trong kho để nghiên cứu và… thưởng lãm riêng một mình. Nhiều nhà tình học (sexologists) nổi tiếng thế giới đã âm thầm tìm đến đây để nghiên cứu, tìm tòi, lập luận để viết ra các bài giảng thuyết về tình học. Trong số đó có Dr. Alfred Kinsey của Đại Học Indiana, Hoa Kỳ, tác giả bản tường trình nổi tiếng Kinsey Reports về Tính Thái Tình Dục Con Người. Ông đã giúp công chúng Mỹ lần đầu tiên biết tới những huacos eróticos («sexual portrait vessels») này vào năm 1954, khi nhóm chuyên gia đại học của ông tới Lima, Peru để khảo cứu những bí mật về những cổ vật này. Dr Kinsey đã viết về gốm Moche “the most frank and detailed document of sexual customs ever left by an ancient people’‘ (“tài liệu trung thực và chi tiết nhất về những thói tục tình dục chưa bao giờ được lưu lại bởi người xưa”).

Những mẫu gốm tình dục này được dấu kín mấy chục năm, chỉ mới gần đây thôi, Bảo Tàng Viện Larco mới dám “cả gan” đem triển lãm loại gốm tình dục này cho đại chúng thế giới thưởng ngoạn. Gốm tình dục chiếm trọn hai phòng lớn của bảo tàng viện. Và bảo tàng viện Larco trở thành một điểm nóng thu hút rất nhiều khách du lịch từ bốn phương.

Trước kia, các nhà cai trị Thiên Chúa giáo Tây Ban Nha khi nhìn thấy các gốm huacos eróticos này là ra lệnh đập phá hết ngay. Dĩ nhiên Thiên Chúa giáo ngăn cấm đồng tính luyến ái, kê gian (sodomy), “tình hội đồng”…

Ngày nay các nhà khảo cổ học đã có một cái nhìn khác về gốm tình dục này. Gốm tình dục Peru cổ không còn cho là porno mà là một thứ hình tượng tế lễ, tín ngưỡng nhưng vẫn nhìn theo nhân sinh quan Tây phương nên vẫn chưa hiểu thấu đáo hoàn toàn vì chưa nhìn dưới lăng kính của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo. Nếu nhìn dưới lăng kính này ta sẽ thấy:

.Gốm tình dục của các tộc thổ dân ở đây ghi lại phong tục luyến ái phóng khoáng đã có từ ngàn xưa thấy ở nhiều nơi trên thế giới. Trai gái tự do ăn nằm với nhau trước khi lấy nhau. Đây là tục “sống thử” mà xã hội ngày nay, ngay cả ở Việt Nam, đang bắt chước trở “về nguồn”. Tục sống thử này cũng đã có trong văn hóa cổ Việt như đã thấy ghi lại trong Kinh Thi mà người Trung Hoa gọi là “ngoài vòng lễ giáo”, “trên bộc trong dâu”. Các tộc ở Việt Nam và Nam Trung Hoa (thuộc Bách Việt) gần đây vẫn còn giữ tục này. Ở thượng du Bắc Việt gần đây còn có “chợ tình”.

Đối với các thổ dân ở đây trinh tiết coi như là một thứ đốn mạt, xấu xa (vile).  Chỉ những cô gái được chọn vào các đền đài mới phải giữ trinh tiết để hiến dâng cho thần mặt trời, thần linh và cho các pháp sư, giới quyền quý (trong đó có chủ đích là không dùng của thừa).

Jesuit José de Acosta, 1590, đã viết ”virginity, which is viewed with esteem and honor by all men, is deprecated by those barbarians as something vile” (“trinh tiết được đàn ông mến chuộng và tôn vinh lại bị bọn man di dèm pha cho là một thứ gì đốn mạt”).

Tình dục là một chuyện tự nhiên, là bảo tồn và lưu truyền dòng giống, là một chuyện thiêng liêng, phải tôn thờ, thờ phượng, không phải là thứ tục tĩu, dâm ô.

.Gốm tình dục chuyên chở triết thuyết tín ngưỡng.

Ví dụ một bình gốm Nazca hình một người nữ có bộ phận sinh dục là mặt của một vị thần đội mũ lông và có râu xồm (!). Mẫu vật này phải là một tế vật. Cái lá đa là một vị âm thần.

Bình Nazca, 100 STL-750 STL (Bảo Tàng Viện Quốc Gia Về Khảo Cổ Học, Nhân Chủng Học và Lịch Sử).

Trở lại hình gốm diễn tả bộ giống phái nữ làm theo cơ thể học của Mẹ Đời ngồi ở tư thế sinh con, hai tay giơ lên phía đầu, ở trong Trứng Vũ Trụ đã nói ở trên:

Mẹ Đời nguyên khởi sinh ra từ Trứng Vũ Trụ, Bảo Tàng Viện Larco.

Khi mới nhìn vào mẫu gốm này tính chất porno của bộ phận sinh dục đã làm “quáng mắt” người nhìn không còn nhìn thấy những ý nghĩa chính về triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo của Mẹ Đời. Ví dụ như ngồi ở tư thế sinh con, trong Trứng Vũ Trụ, có khuôn mặt “thần thánh”, các trang trí mang tính các tín ngưỡng, nghệ thuật điêu khắc cao mang tính thờ phượng… Ở các nền văn hóa khác, ở chỗ khác, cái giống của Mẹ Đời chỉ là một nét gạch diễn tả cái khe diễn tả bộ phận nữ không sinh đẻ, mang tính cách nghệ thuật tượng trưng.

Hình Mẹ Đời khắc trên một phiến đá ở Manibí, Ecuador (cũng nằm trong Đế Quốc Inca ngày xưa), Bảo Tàng Viện Thổ Dân Mỹ châu (Seville 1910, Pl. IV, 6).

Ở đây diễn tả Mẹ Đời đang lâm bồn sắp sinh nên bộ giống mở ra thích hợp với tư thế đang sinh con, tư thế sản phụ khoa một trăm phần trăm. Bộ phận sinh dục mở ra giống hình lá đa là chủ điểm của sinh đẻ của người nữ, đặc tính chủ yếu của Mẹ Đời chứ không phải cốt ý  diễn tả nhục tình. Nếu hiểu rõ như vậy thì tính cách porno không còn nữa.

.Gốm tình dục Moche liên hệ với các lễ tục, hiến tế người.

.Gốm tình dục được đào tìm thấy nhiều ở những đền đài, nơi thờ phượng và trong các lăng mộ vương quyền.

.Gốm tình dục được thấy nhiều ở giới vương tộc quyền quí có liên hệ tới quyền hành, cai trị, chính trị.

. . . . . .

Trong bài biết này tôi chỉ đề cập tới những khía cạnh bất bình thường ngoài sức tưởng tượng mà từ trước tới nay y giới chưa có danh từ y học để gọi và các nhà khảo cổ học hiện nay còn thắc mắc chưa hiểu rõ. Đó là tình dục trong lúc có thai, đang lúc sanh con, sau khi sanh, trong khi cho con bú, tình dục trong nghi lễ hiến tế và tình dục với bộ xương người.

.Tình Dục Khi Mang Thai

Người nam làm tình với một người nữ đang có thai qua ngả hậu môn (xem hình ở dưới).

Có tác giả cho rằng ở Amazone có quan niệm “nuôi dưỡng”: thai nhi trưởng thành bằng máu huyết của mẹ và bằng tinh khí của cha (Mary Weismantel, Moche Sex Pots). Sự nuôi dưỡng này ăn khớp với nguyên lý lưỡng hợp của Vũ Trụ Tạo Sinh có cả âm lẫn dương nên có tình trong lúc có bầu là chuyện thường tình nếu không muốn nói đó là bổn phận nuôi dưỡng của người cha. Nhưng tại sao có những mẫu gốm cho thấy dùng “cửa hậu” như ở hình dưới? Phải chăng lúc gần ngày sanh, lấn cấn quá nên phải dùng ngả khác? Hay vì quan niệm nuôi dưỡng nên phải dùng đường tiêu hóa và chọn cửa ngõ gần cận chỗ thai nhi?

.Ngay Trong Khi Đang Sanh.


Hình trên: Làm tình khi đang có bầu qua ngả hậu môn và hình dưới: trong khi đang sinh (cô mụ đỡ em bé đang lọt lòng), Bảo Tàng Viện Larco (ảnh của tác giả).

Hình thái này chưa từng thấy ghi lại ở đâu. Vợ đang đẻ mà chồng vẫn tòm tem (hay sản phụ đang đẻ mà người nam nào đó tòm tem). Tại sao lại có tình trong lúc đang sanh? Chưa thấy có một giải thích nào thỏa đáng. Phải chăng theo một quan niệm nào đó để hỗ trợ, chia xẻ nỗi đau đớn với người sản phụ? Để sản phụ không còn thấy cô đơn như một người vượt biển một mình?  Sản phụ có cực khoái trong lúc đang sanh? Nếu có, liệu có giúp được gì cho cơn đau đẻ? Phải chăng để hỗ trợ, nuôi dưỡng đứa trẻ trong lúc chào đời theo quan niệm nuôi dưỡng bằng tinh khí của người nam như đã nói ở trên?

.Sau Khi Sanh, Lúc Đang Cho Con Bú.

Gốm tình dục loại này thường thấy một trẻ sơ sinh nằm bú vú người nữ trong khi làm tình. Làm tình trong khi cho con bú.

Nhiều học giả Tây phương đã tìm cách giải thích hiện tượng này. Có nhiều giả thuyết đưa ra như:

- Đây là một taboo tình dục.

-Những người cha phải chịu “đau khổ” và chịu đựng vì thời gian ở cữ lâu dài nên phải dùng con đường khác để giải quyết vấn đề. Ở đây cũng giống như trong văn hóa Việt Nam. Thời gian nằm cữ của các sản phụ Việt Nam là ba tháng như thấy qua câu ca dao:

Con biết lẫy thì bố biết bò.

Khi con biết lật vào lúc ba tháng (Ba tháng biết lẫy, bẩy tháng biết bò) thì bố lúc ấy lại biết “quì hai gối, chống hai tay” để… bò trở lại. Trong ba tháng vợ nằm cữ, có nhiều ông chịu không nổi đi mèo mỡ hay lấy bà bé. Ở đây cho thấy thổ dân Peru, một là chung tình hay hai là có phong tục luyến ái rất phóng khoáng, chấp nhận những cách giải quyết vấn đề một cách không thường tình của người chồng. Kê gian (sodomy) là chuyện thường tình. Vì thế trong gốm tình dục, kê gian thấy nhiếu nhất.

-Làm tình vào thời hậu sản, nằm cữ nên dùng ngả hậu môn (Jimenez Borja 1985:44) vì ngả âm đạo còn phải kiêng cữ hay đang bị khó chịu vì tổn thương.

-Người tình nam có thể không phải là người chồng, không phải là cha của đứa bé sơ sinh nên phải tôn trọng, né tránh lối mới vào đời của đứa bé sơ sinh, “đường xưa lối cũ” của cha nó.

-Trong lúc cho con bú thì tinh khi của người nam đi vào cơ thể người mẹ rồi vào sữa, qua người con ngay tức khắc nên rất “tươi”.

(Mary Weismantel, Moche Sex Pots)

. . . . ..

Dĩ nhiên đây chỉ là nhữ giả thuyết còn cần rất nhiều soi sáng và xác thực.

Tình Dục Hiến Tế

Gốm tình dục chuyên chở triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo (xem bài viết Vũ Trụ Giáo Trong Gốm Cổ Peru). Gốm tình dục diễn tả nhiều cảnh liên hệ đến tế lễ (rites), hiến tế người (human sacrifices).

Nhiều giả thuyết đã được nêu ra nhưng theo tôi nhìn dưới lăng kính Vũ Trụ giáo thì sự tạo sinh của đại vũ trụ dựa trên nguyên lý lưỡng hợp nòng nọc, âm dương giống như sự sinh tạo của con người là tiểu vũ trụ cũng do sự hôn phối nòng nọc, nữ nam. Đại vũ trụ và tiểu vũ trụ là một, vì thế những cảnh tình dục dùng trong nghi thức tế lễ hay hiến sinh là chuyện tự nhiên đối với người xưa. Ở Á châu và Nam Đảo trước đây các ông mo bà đồng có tục làm tình với nhau hay với người khác coi như là một thứ lễ vật cúng tế, “cúng dường”. Muốn nhắc nhở hay tăng sinh lực cho đại vũ trụ trong việc sinh tạo, tạo sinh, các pháp sư làm tình để “gợi ý”, khiêu dâm, kích dục các đấng Tạo Hóa (giống như cách chữa bệnh của các chuyên gia tình dục ngày nay). Con người tiểu vũ trụ sinh ra từ đại vũ trụ nên tương sinh với nhau. Con người được vũ trụ nuôi dưỡng ngược lại vũ trụ cũng phải được con người chăm sóc nuôi dưỡng. Vì thế trong nhiều văn hóa như Aztecs, Maya có tục hiến tế máu để nuôi sống mặt trời và hiến tế tình dục cũng giống như vậy.

Qua nhiều hình ảnh ta thấy thổ dân Peru cũng vậy. Sự giao hợp giữa con người cũng liên hệ tới sự sinh tạo vũ trụ  như hình hai vị thần giao hợp sinh ra cây có chim, thú, rắn (xem hình trong bài Vũ Trụ Giáo Trong Gốm Cổ Peru) mang hình bóng Cây Tam Thế (Cây Vũ Trụ, Cây Đời Sống).

Hiện nay các nhà khảo cổ không biết đây thật sự là cây gì. Theo tài liệu ở Bảo Tàng Viện Larco thì đây là cây ulluchu. Cây này trên gốm thường thấy liên hợp nhiều với hiến tế và mắn sinh. Nhiều tác giả đã cố nhận diện cây ulluchu này xem là cây gì. Rainer W Bussmann và Douglas Sharon cho đây là cây thuộc giống Guarea (Meliaceae) có tính chất làm loãng máu, chống đông máu dùng trong hiến tế.  Hạt cây này đem nghiền ra bột dùng để hít gây ra ảo giác dùng trong hiên tế, nhập đồng. Tôi đã chứng minh cây ulluchu này dù trong thiên nhiên có là cây gì đi nữa thì đây vẫn là cây diễn tả Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) trong Vũ Trụ giáo (Vũ Trụ Giáo Trong Gốm Cổ Peru).

Một bình gốm diễn tả cảnh hai người có chức vị cao (có trang phục đầu và hoa tai đặc biệt) đang làm tình dưới một kiến trúc giống như đền đài có mái bằng và bốn trụ cột có trang trí hình chữ nọc mũi mác (nổi và chìm)…  Nhìn dưới lăng kính Vũ Trụ giáo thì đây cũng có thể là một cảnh làm tình mang tính tế lễ ứng với  tứ tượng trong Vũ Trụ giáo (xem hình trong bài Vũ Trụ Giáo Trong Gốm Cổ Peru)

(xem Vũ Trụ Giáo Trong Gốm Cổ Peru).

Đặc biệt nhất là trong gốm còn ghi lại những tù nhân chiến tranh đem đi hiến tế có bộ phận sinh dục nam đang cương cứng.

Tù nhân đem hiến tế sợ, nước mũi xụt xịt chẩy ròng ròng(?), bị lột trần truồng nhưng vẫn có dương vật cương cứng (Donnan, 1999).

Xem thêm hình đoàn tù binh ở Huaca El Brujo có bộ giống phái nam cương cứng (ảnh của Rainer W. Bussmann, ở bài Vũ Trụ Giáo Trong Gốm Cổ Peru).

Các nhà khảo cổ học hiện nay hết sức kinh ngạc vì theo lẽ thông thường những người đem ra làm vật hy sinh này lúc đó phải sợ teo bu-gi. Rainer W. Bussmann cho rằng cây Guarea đã nói ở trên còn có tác dụng làm tăng huyết áp và làm cương cứng dương vật. Điều này giải thích tại sao trong nhiều hình ảnh tù nhân đem hiến tế có dương vật cương cứng. Hình trên các tù nhân có thể đang được cho hít bột cây  Guarea hay một loại thuốc có tác dụng như viagra thay vì là nước mũi chẩy ròng ròng.

Nhìn dưới lăng kính Vũ Trụ giáo cũng có thể chấp nhận được. Tế vật đem dâng cúng thần mặt trời phải mang đầy dương tính. Con người làm vật hy sinh mang hiến tế thần mặt trời phải là một người nam đầy hùng tính thuộc phía nhà võ (thường là thủ lãnh hay chiến sĩ tù nhân chiến tranh) được biểu tượng bằng bộ giống cương cường đầy hùng tính, phải cường dương. Điểm này giống như nhiều trường hợp cúng giỗ phải dùng đồ cúng nóng sốt, dùng các lễ vật bằng sinh vật còn sống và phải là những con vật đực như gà sống, dê sừng, trâu đực… Người dùng làm vật hiến tế nhất là tế mặt trời phải đầy dương tính phải có con chim còn sống mang dương tính tột độ. Nếu vì sợ hãi mà teo lại thì khi hành lễ phải dùng một loại cây cỏ có tác dụng như thuốc viagra hiện nay (có thể gây ra chứng cương cứng đau buốt không mềm lại được giống như cái giống khổng lồ cương cứng của vị thần Hy Lạp Priapus, danh từ y khoa gọi là priapism). Có thể giống cây Guarea hay một loại dược thảo nào có tác dụng như thế đã được đem dùng.

Còn không thì phải vọc cho nó sống dậy trong lúc hiến tế, nếu không, các vị thần sẽ chê không nhận lễ vật… nguội ỉu xìu! (dĩ nhiên đây là ý tưởng của các pháp sư).

Tình Dục Với Bộ Xương Người.

Dưới con mắt của các nhà khảo cổ học ngày nay thì có nhiều bình gốm tình dục diễn tả những “bộ xương người” có vòi là bộ phận sinh dục nam cương cứng, nhiều cảnh với những “bộ xương” nhẩy múa có bộ phân sinh dục nam đang cương cứng, nhiều “bộ xương” đang thủ dâm hay đang được một người nữ thủ dâm. Các tác giả này thấy lạ lùng là tại sao “bộ xương” người chết mà bộ phận sinh dục vẫn còn sống như đang hành động. Thật là phi lý quá!

Bình “bộ xương” có vòi là dương vật cương cứng rất cường điệu, Bảo Tàng Viện Larco (ảnh của tác giả).

Bình “bộ xương” người đang thủ dâm, Bảo Tàng Viện Larco (ảnh của tác giả).

Tôi nhìn theo Vũ Trụ giáo thì những “bộ xương” này có thể có một khuôn mặt là những vị thần sinh tạo cõi âm được cho là có ảnh hưởng hay phù trợ cho sinh tạo, sinh đẻ, mắn sinh của con người ở cõi dương thế. Thật vậy, những “bộ xương” này có mặc trang phục như người, như một vị thần không phải hoàn toàn là bộ xương (skeleton) đúng nghĩa trăm phần trăm. Đây phải là một âm thần. Các tác giả hiện nay gọi là bộ xương không đúng. Vì là âm thần sinh tạo nên bộ phận sinh dục nam phải cương cứng để biểu tượng cho sức mạnh sinh tạo, mắn sinh (dễ hiểu, liệt dương thì làm sao sinh tạo được). Thần thủ dâm là một hình thức reo rắc mầm sinh tạo, một thứ sinh tạo duy dương đầy hùng tính ví dụ như thần Amun-Ra của Ai Cập cổ thủ dâm sinh ra con. Phụ nữ mân mê hay thủ dâm cho thần là cầu mong được sinh con, mắn sinh, một hình thức cầu tự hay cầu trẻ lại (thời đó chưa có giải phẫu thẩm mỹ). Thật thế, điều này nhiều khi thấy rất rõ qua những “bộ xương” một tay cầm dương vật và một tay ôm nựng một hình người nhỏ bé mang hình ảnh trẻ sơ sinh. Trong văn hóa Ai Cập cổ hình dương vật cương cứng của người chết tái sinh trong mộ biểu tượng cho sự hoàn dương, trẻ lại (Meskell and Joyce 2003). Điểm này tương tự như khi đi Ấn Độ tôi đã thấy những phụ nữ trẻ đổ sữa lên đầu linga trông giống như linga đang xuất tinh. Người nữ này vớt sữa trên đầu linga xoa lên tóc, lên mặt, lên môi để cầu tự hay cầu chồng. Trong hình xác ướp của Osiris do vợ là Isis đi nhặt những mảnh vụn của thân xác Osiris bị anh/em là Set chặt ra rồi đem ném khắp nơi. Isis đem ghép lại cũng thấy có bộ giống cương cứng.

Xác ướp Osiris có bộ giống hình chữ nọc.

Sự thụ tinh theo lối linh sản giữa xác ướp Osiris và Isis

Isis nhặt được hết các mảnh xác ngoại trừ bộ giống của Osiris bị cá ăn mất. Vì thế Isis cắm một cái giống giả lên xác ướp Osiris, nó cũng cương cứng dựng đứng đâm ra ngoài lớp vải tẩm liệm mang ý nghĩa tái sinh, sinh tạo (Sự Tương Đồng Giữa Cổ Việt và Ai Cập Cổ). Ta thấy rõ xác ướp Osiris cũng là một xác ướp mà cũng có dương vật cương cứng như các “bộ xương người” thấy ở gốm tình dục Moche ở đây (ở xác ướp Osiris còn tệ hơn nữa vì là dương vật giả). Như thế những bộ xương này phải có một khuôn mặt mang ý nghĩa là thần sinh tạo, mắn sinh, tái sinh. Nam thần mắn sinh Amin của Ai Cập cổ chỉ có nửa người bên phải mang dương tính cũng có bộ phận sinh dục cương cứng.

Nếu hiểu như thế thì những mẫu gốm tình dục diễn tả các âm thần “bộ xương” này không còn là porno nữa.

. . . . . .

Kết Luận

Tóm lại gốm tình dục Tiền-Columbus Peru nói chung và Moche nói riêng không thể nhìn như là một thứ porno theo con mắt Tây phương hiện nay mà phải nhìn dưới lăng kính văn hóa, tín ngưỡng, thờ tự diễn đạt triết thuyết sinh tạo của người cổ Peru. Họ có quan niệm tình dục phóng khoáng nhằm mục đích mắn sinh, bảo tồn nòi giống, phải nhìn dưới lăng kính triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh với nhiều taboo tình dục, có thể có những điểm quái đản và không chấp nhận được so với quan niệm của con người hiện nay. Tuy nhiên phải hiểu rằng với đức tin vào giáo điều thì chuyện gì cũng xẩy ra được như tục hiến tế người, uống máu người, ăn tiết canh người cũng như tàn sát cả triệu người…

Tài Liệu Tham Khảo Chính:

.Vũ Trụ Giáo Trong Gốm Cổ Peru, blog bacsinguyenxuanquang.worldpress.com

.Mary Weismantel, Moche Sex Pots: Reproduction and Temporality in Ancient South America, American Anthropologist Vol. 106, No. 3. September 2004.

.Donnan, Christopher B., and Donna McClelland

1979 The Burial Theme in Moche Iconography. Studies in

Pre-Columbian Art and Archaeology, 21. Washington, DC.

. Jimenez Borja, Arturo, 1985 Introducci6n a la cultura Moche. In Arte y tesoros del Peru: Culturas precolumbinas: Moche. Jose Antonio de Lavalle, ed. Pp. 17-51. Lima: Banco del Crectito del Peru.

.Luis Filipe Villacorta Ostolaza,  The Culture of Ancient Peru,  Roberto Gheller Doig, 2009.

.Meskell, Lynn, and Rosemary A. Joyce

2003 Embodied Lives: Figuring Ancient Maya and Egyptian Experience, New York: Routledge.

.Salomon, Frank

1991 Introductory Essay: The Huarochiri Manuscript. In The

Huarochiri Manuscript: A Testament of Ancient and Colonial

Andean Religion, University of Texas Press.

.Zuidema, Reiner Tom

1977 The Inca Kinship System: A New Theoretical View. In Andean

Kinship and Marriage. Ralph Bolton and Enrique Mayer eds. Pp. 240-288. Washington, DC: American Anthropological Society. Special publication, 7.

Older Posts »

Theme: Silver is the New Black. Blog at WordPress.com.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.