TRỐNG NGƯỜI MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG
BÁCH VIỆT NGỌC LŨ I.
(TRỐNG NHÓM MẶT TRỜI NỌC THÁI DƯƠNG LƯỠNG HỢP TIỂU VÀ ĐẠI VŨ TRỤ).
(phần 9)
Nguyễn Xuân Quang
Ý NGHĨA VÀNH CHIM THÚ TRÊN TRỐNG ĐỒNG ÂM DƯƠNG NGỌC LŨ I.
Vành chim thú trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I.
HƯƠU NAI Ở VÀNH SỐ 8.
Như đã biết, vành số 8 là chim thú. Chim là chim nông còn thú hiển nhiên thấy rõ là hươu nai.
Lưu Ý
Xin nhắc lại một chút về từ vựng. Cần phân biệt ba từ hươu, nai, mang (mễn).
.Con đực gọi là hươu, hưu, hiêu, biến âm với hèo, kèo có nghĩa là cọc tức con có hai vật nhọn, hai cọc nhọn là hai từsừng vì thế Việt ngữ cổ gọi là hươu đực là hươu nọc, con cọc, hươu sửng (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc).
. Con cái gọi là nai: con nai cái là con nái, con cái (Tiếng Việt Huyền Diệu).
.Mang cũng chỉ hươu nai như mang gạc (cervulus munjac), kì mang. Mang biến âm với muông có một nghĩa là con thú, con vật, Mường ngữ là moong. Con hươu được coi là vật tổ của thú bốn chân và người sống trên mặt đất như cổ ngữ Đông Á keh là con hươu Kẻ, Kì (Cọc) và cũng là con người đầu tiên trêm mặt đất giống như vua tổ thế gian của chúng ta là Kì Dương Vương có nhũ danh là Lộc Tục (Hươu Đục, Hươc Đọc, Hươu Nọc). Anh ngữ deer vốn gốc chỉ chung tất cả loài thú bốn chân ngành nọc dương trong khi panther, báo chỉ chung lo ài thú bốn chần ngành nòng dương (pan- là tất cả, Hy Lạp ngữ -ther là thú). Vì thế mang có mang nghĩa sinh tạo. Điểm này thấy rõ mang cũng có một nghĩa là có bầu (có mang, mang thai, cưu mang, bụng mang dạ chửa). Tôi dùng từ mang chỉ loài hươu nai mang nghĩa sinh tạo, tạo hóa thú biểu ở cõi trời thế gian.
Vì thế xin lưu ý trong những bài viết về Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo nhất là về trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn, tôi dùng từ hươu chỉ con hươu đực có sừng, mang gạc. Từ nai chỉ con cái. Từ mang hàm nghĩa sinh tạo, tạo hóa chỉ loài biểu tượng cho khuôn mặt sinh tạo tạo hóa cõi trên, cõ trời thế gian.
Hươu là loài thú bốn chân sống trên cạn, trên đất khô có sừng nhọn biểu tượng chính choo họ nọc, lửa, thái dương Đất Li ngành nọc thái dương Càn Li. Vì là thú bốn chân sống trên mặt đất nên khuôn mặt lửa đất Li mang tính chủ yếu, tính trội, còn khuôn mặt lửa trời Càn là Càn thế gian, Cõi Trời dương thái dương thế gian. Thú hươu biểu tượng cho lửa vũ trụ Càn mang nhiều tính cách tượng trưng và mang tính sinh tạo, tạo hóa, nghĩa là một loài mang (mễn).
Hươu biểu tượng chính cho Cõi Giữa đất thế gian thấy rõ qua hình ảnh hươu ở Cõi Giữa trên Cây Vũ Trụ Yggdrasill của Bắc Âu.
Cây Vũ Trụ Yggdrasill của Bắc Âu.
Dĩ nhiên, cũng giống như chim nông ở cùng nhóm, cùng vành, hươu nai, mang trọn vẹn ý nghĩa triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh của Vũ Trụ giáo.
Hươu Nai Trong Vũ Trụ giáo
Chỉ xin nhắc sơ qua những điểm chính (xem thêm Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).
-Hư vô , Vô Cực.
Con hươu nai mang tính sinh tạo, bầu trời là một loài mang mễn. Mang có một nghĩa là cái bọc, cái bầu, có một khuôn mặt biểu tượng cho hư vô, vô cực của ngành nọc dương (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc). Sừng hươu tìm thấy chôn theo người chết trong các ngôi mộ cổ.
-Thái Cực
Mang cũng có một nghĩa là “cái bầu, cái bọc sinh tạo” như có mang, cưu mang, mang thai. Vì thế mang mễn có một khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa. Nhìn dưới dạng nhất thể là Thái Cực.
Mang có một khuôn mặt sinh tạo thái cực.
-Lưỡng nghi
-Cực Dương
Mang có nghĩa là chiếc gai nhọn, nọc nhọn (thảo mang) vì thế mang mới chỉ con hươu là con vật có sừng, nọc nhọn. Mang biến âm với măng, cái mầm tre hình nọc nhọn, gai nhọn. Mang với nghĩa vật nhọn này biểu tượng cho nọc, dương, lửa.
Như đã biết hươu, hưu, hiêu biến âm mẹ con với hèo là kèo, kẻ, cọc là con thú có sừng biểu tượng cho dương, nọc, lửa, mặt trời, cực dương.
Hươu tương đương với các con vật có sừng như dê (có một khuôn mặt là thần mặt trời) của Ai Cập cổ, con bò Nandi biểu tượng cho của Shiva Ấn-Độ có một biểu tượng là linga.
-Cực âm
Ở cõi tạo hóa, theo duy âm, thuần âm, âm nữ, với nghĩa cái bọc, dạ con sinh tạo, con mang cái biểu tượng cho cực nòng, âm, mẹ… Việt ngữ nai biến âm mẹ con với nái (cái), có gốc na- liên hệ với ná, nạ, nái, nàng, nương, nòng, nác, nước… Con nai sao cái là thú biểu của Âu Cơ trong truyền thuyết Mường (xem dưới).
-Tứ Tượng:
Tượng Lửa Trời Càn thế gian
Mang gạc có một khuôn mặt biểu tượng cho lửa trời cõi thế gian. Con mang này mang biểu tượng lửa thái dương. Đây là loài mang đỏ “red deer”, sừng có ba mấu nhọn Càn.
Tượng Lửa Đất Đá Li thế gian
Như đã biết Việt ngữ hươu, hiêu, hiu là con hèo, con kèo, con nọc, con cọc nên hươu có một khuôn mặt biểu tượng cho lửa đất, đất dương, Núi Trụ thế gian. Điều này thấy rõ qua sư kiện ở Đông Nam Á hươu được cho là biểu tượng của đất khô, núi dương. Truyền thuyết và cổ sử Việt có núi Kì. Kì Dương Vương là vua tổ đất thế gian của Bách Việt.
Tượng Lửa Nước thế gian
Thú biểu dòng lửa nước là con mang nước gọi theo danh từ động vật học là “Chinese water deer” (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).
Tượng Gió thế gian.
Theo dòng hươu là con hươu gió, có thể là con hươu khoang hay đuôi bông lau như đuôi ngựa mang biểu tượng gió.
-Trục Thế Giới
Hươu có một khuôn mặt biểu tượng cho Trục Thế Giới. Kì Dương Vương có một khuôn mặt Trục Thế Giới. Như đã nói ở trên Kì Dương Vương Hươu Mặt Trời tương đương với bò Nandi của Shiva, với dê mặt trời của thần đất Keb của Ai Cập cổ có một khuôn mặt Trục Thế Giới.
Núi Tản Viên có một khuôn mặt là Trục Thế Giới của Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) vì thế còn có tên là Núi Tam Từng. Kì Mang (con mang sừng, mang gạc) là một vị thần ở Núi Tản Viên cứu sống lại Tiểu Long Hầu (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).
-Cây Đời, Sự Sống
Tam Thế biểu tượng bằng Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống). Cây này sinh ra sự sống, muôn sinh. Như đã biết mang là sinh đẻ. Mang có một nghĩa là sinh tạo.
Con mang là con thú tổ sinh ra loài muông thú trong đó có cả con người nguyên khởi trên mặt đất. Mang biến âm với muông còn có một nghĩa chỉ chung các loài thú. Điều này giống hệt Anh ngữ deer (mang hươu), có nghĩa gốc chỉ chung tất cả các loài thú. Điều này cho thấy mang hươu được coi là con vật tổ của các loài thú sống trên mặt đất này, kể cả con người. Điểm này ăn khớp trăm phần trăm với truyền thuyết cho rằng hươu mang hình bóng con người đầu tiên trên mặt đất như thấy qua từ Đông Á cổ kek có nghĩa là con hươu và cũng là con người đầu tiên trên mặt đất (James Churchward). Kek biến âm với kẻ, có một nghĩa là người (xem dưới). Điều này cũng đúng trăm phần trăm khi đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt. Kì Dương Vương là vua Hươu Nọc Mặt Trời có nhũ danh là Lộc Tục (Hươu Đực), vua tổ thế gian đầu tiên của chúng ta, lập ra nước Xích Quỉ (Kẻ Đỏ).
-Tái Sinh, Hằng Cửu.
Như đã nói ở trên, Kì Mang, thần núi Tản Viên là khuôn mặt mang gạc, hươu sừng đã cứu tử hoàn sinh Tiểu Long Hầu, con cháu dòng Lạc Long Quân.
Người Trung Hoa diễn tả sự sống hằng cửu vĩnh cửu theo nghĩa duy tục là sống lâu, tuổi thọ. Ông Thọ của Trung Hoa thường đi với con hươu có ý nghĩa là trường thọ, hằng cửu.
Tóm lại hươu mang trọn ý nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo của ngành nọc dương ở Cõi Giữa thế gian, Trung Thế.
Hiểu tổng quát như thế rồi, bây giờ ta hãy khảo sát hươu nai ở vành số 8.
Số 8 là số Khôn tầng 2 thế gian như thế chim thú ở vành này có khuôn mặt Khôn hôn phối với Càn tức khuôn mặt sinh tạo tạo hóa. Do đó ta thấy ngay hươu nai ở vành 8 này có một khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa tức có một khuôn mặt mang mễn. Vì là thú bốn chân sống trên mặt đất nên khuôn mặt sinh tạo là của cõi đất trần gian và khuôn mặt này mang tính phụ (khuôn mặt chính ở cõi trên phải là chim mang tính lửa vũ trụ Càn).
Như đã biết, ở vành số 8 này, mỗi bán viên dương và âm đều có một nhóm chim và một nhóm hươu nai.
Bán viên dương của nhóm 7 người nhẩy múa có nhóm chim 6 con và nhóm hươu 10 con trong khi bán viên âm nhóm 6 người nhẩy múa có nhóm chim 8 con và nhóm hươu cũng 10 con.
Mỗi nhóm có 10 con với số 10 là số Khảm tầng 2 hôn phối với Li tầng 2, thế gian. Cả hai nhóm đều có 10 con cho thấy trống này diễn tả hai khuôn mặt âm dương, ngoại nội của đại tộc hươu tức Li thế gian. Ta cũng thấy rất rõ hươu nai có khuôn mặt nòng nọc, âm dương khác nhau vì mỗi nhóm có 5 con hươu đực đi xen kẽ với 5 con nai cái. Như vậy nhìn ở diện đất thế gian, qua hai con số Khảm 10 ta có số 10 Khảm ở bán viên âm là Khảm âm hôn phối với Li âm tức Li ở vùng đất âm và số 10 Khảm dương ở bán viên dương hôn phối với Li tức Li ở vùng đất dương. Nhìn theo Tam Thế, ta suy ra mười nhóm hươu nai ở bán viên dương nhóm 7 người nhẩy múa có khuôn mặt chủ là Li thế gian đất Dương và ở 10 con ở bán viên âm nhóm 6 người nhẩy múa có khuôn mặt chủ là Li vũ trụ tức Càn thế gian (lúc này hươu có tên là mang, mang gạc, mang kì). Ta nghĩ ngay ra lá các con nai cái mang tính Càn âm thế gian (Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt ứng Mẹ Tổ Âu Cơ thái dương thần nữ mang tính sinh tạo đẻ bọc trứng thế gian).Khuôn mặt chủ của hươu là đất dương Li ứng với số 5. Số 5 là số trục của 9 con số từ 1 tới 9 và ma phương có số trục 5 là ma phương trục 5/15 (ma phương trục của 9 ma phương có số ở tâm là các số từ 1 tới 9). Ma phương 5/15 có số ở tâm là 5 và tổng số các chi là 15 (hành Thổ của Trung Hoa, ở số 5 tâm ma phương 5/15 cho thấy rõ Li 5 có khuôn mặt chính là núi trụ thế gian, đất dương thế gian, trục thế giới).
Ta hãy kiểm chứng những khuôn mặt của hươu nai này qua ma phương 5/15 này
Ma phương trục 5/15.
Theo ma phương 5/15 này, ta thấy ngay đường chéo 2-5-8 có Khảm 2 có hai khuôn mặt là Li 5 và Khôn 8. Khôn hôn phối với Càn. Như thế đúng như đã nói ở trên, ở đây ta thấy rõ hai nhóm 10 con hươu Khảm có một con mang tính chủ Li ở cõi đất thế gian và một nhóm mang tính chủ Càn hôn phối với Khôn tức ở cõi sinh tạo, tạo hóa mang tính phụ.
Ta sẽ tìm hiểu xem sao.
1. Nhóm hươu nai ở bán viên dương 7 người nhẩy múa.
Nhóm 10 con hươu đực nai cái đi với nhóm 6 chim nông ở nhóm 7 người nhẩy múa trên bán viên dương (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).
Vì ở bán viên dương và đi với chim nông âm thái dương nên nhóm 10 con hươu nai này mang tính thiếu dương (vì lưỡng hợp tiểu vũ trụ với 6 con nông mang tính thiếu âm).
Bây giờ ta hãy nhận diện tỉ mỉ những con thú này.
.Sừng
Những hươu đực nai cái ở đây đều có sừng.
Điểm này cho thấy rõ hươu đực nai cái ở đây diễn tả theo ý nghĩa mang tính biểu tượng vì trong thiên nhiên hầu hết nai cái không có sừng ngoại trừ loài tuần hươu “reindeer” con cái mới có nhưng sừng của loài tuần lộc to và dẹp, có nhiều mấu nhọn không giống loài hươu ở đây. Rõ ràng hươu cái có sừng ở đây mang một ý nghĩa biểu tượng. Như đã nói ở trên, thú mang ý nghĩa biểu tượng không nhất thiết phải giống hệt thú trong thiên nhiên.
Ta cũng thấy rõ thêm ý nghĩa biểu tượng này qua số mấu nhọn (nhánh) của sừng. Ta thấy con hươu dẫn đầu nhóm này có sừng bên phải có 5 mấu nhọn. Trong khi sừng trái có 3 mấu nhọn. Những con còn lại có con hai sừng đều có 3 mấu và đa số còn lại có một sừng hai mấu sừng kia có 3 mấu. Trong thiên nhiên không có loài hươu nào có hai loại sừng khác nhau.
Con đầu đàn sừng phải có 5 mấu nhọn. Số 5 là số Li, lửa đất, đất dương, thiếu dương.
Hươu đực dẫn đầu nhóm ở bán viên dương có nhóm 7 người nhẩy múa (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).
Trong khi sừng trái có 3 mấu nhọn. Theo duy dương, ba mấu nhọn, ba nọc nhọn là ba hào dương, Càn.
Khuôn mặt Li mang tính chủ vì ở sừng bên phải tức phía dương. Càn ở sừng bên trái là Càn âm mang tính phụ.
Con hươu dẫn đầu nhóm 10 con ở bán viên này có khuôn mặt Li-Càn của ngành nọc thái dương thế gian và có khuôn mặt Li mang tính chủ.
Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là tộc Người Mặt Trời Li Kì Dương Vương ngành nọc thái dương thế gian Viêm Đế. Như thế chúng ăn khớp với đại tộc Người Mặt Trời (Bách Việt) ở vành số 6.
Kiểm chứng với ma phương 5/15 như đã nói ở trên con hươu này có khuôn mặt chủ hôn phối Li-Khảm và khuôn mặt phụ tương hòa Càn-Khảm.
Con cuối cùng của nhóm là con nai cái
Con cuối cùng của nhóm là con nai cái có sừng phải ba mấu nhọn Càn và sừng trái hai mấu nhọn Khảm-Li.
Con cuối cùng ở bán viên dương có nhóm 7 người nhẩy múa là nai cái, có sừng phải có 3 mấu nhọn và sừng trái hai mấu.
Vì ở sừng phải nên khuôn mặt Càn mang tính chủ. Nhưng Càn ở đây là Càn âm thế gian tức Li âm vì ở cuối đàn và là nai cái so với Li của con hươu đực đầu đàn.
Đối chiếu với ma phương 5/15 ta cũng thấy theo duy âm Khảm tương giao với Càn Khôn âm.
Như thế qua cặp sừng ta thấy rõ con hươu được dẫn đầu có khuôn mặt Li-Càn với Li mang tính chủ và con nai cái cuối đàn có khuôn mặt Càn-Li với Càn mang tính chủ. Nhóm này là hươu nai thú biểu của ngành nọc thái dương Càn Li ứng với Viêm Đế.
Vì hai sừng đều có 3 mấu nhọn Càn nên khuôn mặt Càn mang tính chủ. Trong hai Càn này có một Càn âm thế gian tức Li âm (vì là con cái) mang tính phụ vì ở cuối đàn và là nai cái so với Li của con hươu đực đầu đàn.
Đối chiếu với ma phương 5/15 ta cũng thấy theo duy âm Khảm tương giao với Càn Khôn âm.
.Mõm
Trên mõm tất cả hươu nai đều có chữ nòng nọc mũi mác > thái dương. Những con hươu nai này đều thuộc ngành mặt trời thái dương. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là ngành Viêm Đế thái dương. Ngay cả các con nai cái cũng thuộc ngành mặt trời thái dương
.Mắt
Những con hươu nai này có con mắt dương diễn tả bằng chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình vòng tròn đơn có chấm. Ta thấy những con hươu lửa, đực mang tính chủ.
Điểm này cũng ăn khớp trăm phần trăng với hươu nai ngành nọc thái dương.
.Thân
Ở thân hươu nai có viết chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình nọc que hai bên có đánh dấu bằng hai hai hàng nọc chấm mang nghĩa lửa, thái dương sinh tạo cho biết chúng là những con hươu nai ngành nọc thái dương.
Đa số những con còn lại có sừng phải 2 mấu Khảm hôn phối với Li và sừng trái 3 mấu Càn trời và Càn thế gian Li.
Như vậy ở bán viên dương này, hươu nai biểu tượng cho ngành nọc thái dương Càn-Li và có khuôn mặt chủ là thiếu dương Li, lửa đất, đất dương diễn tả bằng con dẫn đầu có sừng phải 5 mấu Li.
Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là ngành nọc thái dương Viêm Đế có khuôn mặt Đế Li Kì Dương Vương mang tính chủ.
2. Nhóm hươu nai ở bán viên âm 6 người nhẩy múa với 8 con nông.
Tổng quát ta cũng thấy giống như ở bán viên dương có nhóm 7 người nhẩy múa. Có khác là những chi tiết mang tính nòng nọc, âm dương khác nhau thấy rõ nhất qua cặp sừng.
Nhóm 10 hươu nai ở bán viên dương có nhóm 6 người nhẩy múa và 8 con nông.
Con đầu đàn sừng phải có 2 mấu nhọn. Số 2 là Khảm hôn phối với Li. Sừng trái có 4 mấu nhọn. Số 4 là số Cấn, non (núi âm), Li âm.
Con hươu đầu đàn ở bán viên âm có nhóm 6 người nhẩy múa có sừng phải hai mấu và sừng trái 4 mấu nhọn.
Nhưng vì ở bán viên âm nên Li là Li âm, lửa đất âm (núi âm, tức non). Li âm thấy rõ qua sừng phải hai mấu Khảm-Li (Li qua hôn phối với Khảm âm) trong khi ở nhóm dương ta có Li dương thấy rõ qua sừng phải có 5 mấu nhọn Li (Li trực tiếp không qua hôn phối). Hai sừng đều có số mấu nhọn âm (số 2 và số 4 là số chẵn, số âm) cũng cho biết tính âm của Li này. Đây là con hươu đực đại diện của phía âm.
Ta cũng thấy khuôn mặt thái dương thần nữ Âu Cơ đội lốt mặt trời Đế Minh, Viêm Đế tức Càm âm. Vậy Cấn Âu Cơ có một khuôn mặt Càn âm. Như thế con nai này có khuôn mặt Li-Cấn/Càn âm.
Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, đây là khuôn mặt âm của hươu Kì Dương Vương đại diện cho nai Âu Cơ.
Nai sao là một thú biểu đất thế gian của Mẹ Tổ Âu Cơ. Điểm này thấy rõ nhất qua văn hóa Mường. Thầy mo Mường ngày nay khi tế lễ vẫn cắm hai bên bàn thờ hai lá cờ. Một lá vẽ hình con nai sao biểu tượng cho Âu Cơ. Người Mường vẽ nai sao thú biểu của Âu Cơ có hai sừng đàng hoàng. Một lá cờ vẽ hình con cá chép biểu tượng cho Lạc Long Quân (xem hình).
Cờ tế nai sao biểu tượng của Ngu Cơ của người Mường (nguồn: J. Cuisinier, Les Mường).
Hai sừng được cắm thêm vào đầu con nai ở đây trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I và trên lá cờ tế Mường chỉ mang một nghĩa biểu tượng là hai nọc nhọn, hai dương tức thái dương. Những con nai cái ở đây và trên lá cờ tế Mường là những con nai thái dương dòng nọc lửa, mặt trời thái dương.
Lưu ý là sừng của con nai sao trên lá cờ cũng có 4 mấu nhọn như sừng trái của con đầu đàn nhóm này. Số 4 là số chẵn số âm và số 4 là số Cấn (non, núi âm) vì con nai sao này là vật biểu của bà Ngu Cơ có một khuôn mặt là non (nên bà dẫn 50 con lên núi là vậy). Nai sao Cấn Ngu Cơ hôn phối với Chấn con cá chép nước-dương Lạc Long Quân. Đốm sao cũng mang âm tính đi với phái nữ vì sao sáng về đêm. Cổ Việt gọi sao là Nàng Sáng. Ta cũng thấy các thần nữ thường có biểu tượng là ngôi sao sáng như Venus có biểu tượng là sao mai.
Con cuối đàn ở bán viên âm này là con nai cái. Con nai này có hai hình vẽ khác nhau trong hai tài liệu của Phạm Huy Thông và của Nguyễn Văn Huyên.
Theo Phạm Huy Thông, con nai này có sừng phải là một nọc que thật dài, rất cường điệu,
Nai cái cuối đàn ở bán viên âm (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).
mang nhiều dương tính có một khuôn mặt Nọc Lửa thái dương thế gian, Núi Trụ thế gian, Li đất thế gian. Sừng trái có 3 mấu Càn. Ở nai cái, ở cuối đàn và bán viên âm Càn ở sừng trái mang tính chủ.
Theo Nguyễn Văn Huyên, thì con nai cuối đàn này có sừng bên phải có 3 mấu nhọn Càn.
Con nai cái cuối đàn 10 con ở bán viên âm nhóm 6 người nhẩy múa theo Nguyễn Văn Huyên sừng phải có 3 mấu nhọn.
Đây là Càn âm vì là nai cái và ở bán viên âm (ứng với Mẹ Tổ Âu Cơ thái dương thân nữ). Sừng trái có 2 mấu nhọn Khảm-Li.
Ta thấy theo hình vẽ của Nguyễn Văn Huyên thì nai cái cuối đàn có Càn âm mang tính chủ ở sừng phải ăn khớp với khuôn mặt Li âm của con hươu đực đầu đàn. Nhóm này là nhóm hươu nai biểu tượng cho Li âm thế gian đất non và Càn âm, mặt trời âm nữ. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, đây là khuôn mặt Li âm non và Càn âm thái dương thần nữ của Mẹ Tổ Âu Cơ.
Như vậy ở bán viên âm này, hươu nai có biểu tượng cho Li Càn phía âm. Khuôn mặt chủ là con nai cái cuối đàn có khuôn mặt Càn-Li nòng âm.
Khuôn mặt Càn này hôn phối với khuôn mặt thái âm Chấn 8 con nông ở cùng bán viên âm có nhóm 6 người nhẩy múa này.
Mỗi nhóm hươu nai này có con đầu Li và con cuối Càn mang tính chủ đại điện cho hai đại tộc của ngành nọc thái dướng Càn Li. Ta có thể suy ra 8 con hươu nai còn lại là 4 cặp biểu tượng cho 4 tộc ứng với tứ tượng dương và âm (8 tượng ứng với bát quái).
Tóm lược lại hai nhóm hươu nai ở hai bán viên âm dương trên vành số 8 này:
.Là những con thú mang tính biểu tượng, là thú biểu nọc thái dương thế gian của Người Mặt Trời thái dương. Hươu đực là thú biểu của nọc dương nam và nai cái là thú biểu của nọc âm, nữ. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là thú biểu của Bách Việt, phía nam là Kì Dương Vương và về phía nữ là Mẹ Tổ Âu Cơ.
Ở bán viên dương những khuôn mặt hươu nai có khuôn mặt chủ là thiếu dương Li, lửa đất, đất dương diễn tả bằng con dẫn đầu có sừng phải 5 mấu Li. Hai nhóm hươu nai đều có 10 con tức số Khảm thế gian cũng cho biết khuôn mặt Li hôn phối với Khảm mang tính chủ. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là Li Kì Dương Vương hôn phối với Thần Long Khảm.
Nhóm hươu nai thiếu dương Li mang tính chủ này lưỡng hợp dưới dạng tiểu vũ trụ với nhóm chim nông 6 con thiếu âm ở cùng trên bán viên dương có nhóm 7 người nhẩy múa.
.Ở bán viên âm những khuôn mặt hươu nai có khuôn mặt chủ là Càn phía âm diễn tả bằng con nai cuối đàn có sừng trái ba mấu nhọn Càn. Nhóm hươu nai mang tính chủ Càn này lưỡng hợp dưới dạng đại vũ trụ với nhóm chim nông 8 con thái âm ở cùng trên bán viên âm có nhóm 6 người nhẩy múa.
.Thú có cả hươu đực và nai cái cho thấy khuôn mặt nữ còn được tôn trọng và giữ một khuôn mặt nòng nọc, âm dương đề huề. Điểm này cũng cho thấy và xác thực một lần nữa trống đồng là trống nòng nọc, âm dương.
Hai khuôn mặt cái đực của hươu sừng ở đây ăn khớp với hai khuôn mặt Chấn Đoài của hai nhóm 8 và 6 chim nông bay. Nhóm 10 hươu Li và nhóm 6 con nông Đoài ở cùng một bán viên theo giao hòa thiếu dương thiếu âm cõi tiểu vũ trụ và nhóm 10 hươu Càn với nhóm 8 con nông Khôn Chấn ở cùng một bán viên theo giao hòa thái dương thái âm cõi đại vũ trụ.
Như đã thấy ở trên phần chim nông, vành nông hươu qua nhóm 6 con bổ nông và 10 con hươu mang dương tính của ngành thái dương diễn tả chim thú biểu của trời và đất vùng đất dương theo dạng thiếu âm thiếu dương ở Cõi Giữa nhân gian Tiểu Vũ Trụ và qua nhóm 8 con bồ nông và 10 con hươu mang dương tính của ngành thái dương diễn tả Nước-Lửa vũ trụ, khôn càn theo dạng thái âm thái dương ở Cõi trên Tạo Hóa, Đại Vũ Trụ.
.Mỗi nhóm hươu nai này có con đầu Li và con cuối Càn mang tính chủ đại điện cho hai đại tộc của ngành nọc thái dướng Càn Li. Ta có thể suy ra 8 con hươu nai còn lại là 4 cặp biểu tượng cho 4 tộc ứng với tứ tượng dương và âm (8 tượng ứng với bát quái).
.Vành chim thú này là những biểu tượng của chủng người vũ trụ, họ Người Mặt Trời thái dương. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là họ Bách Việt Người Mặt Trời thái dương, ngành Viêm Đế-Thần Nông thái dương, sinh ra từ quả bầu vũ trụ. Chim Nông bay đẻ ra Trứng Vũ Trụ có một khuôn mặt chính biểu tượng cho cõi sinh tạo, tạo hóa, Thượng Thế. Hươu nai bốn chân sống trên mặt đất có một khuôn mặt chính biểu tượng cho cõi đất thế gian, Trung Thế.
.Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, những con hươu này mang hình bóng thú biểu của Kì Dương Vương đội lốt Viêm Đế họ Khương (Sừng). 10 con mang tính dương của ngành dương ở bán viên dương mặt trống là thú biểu của Đế Kì Dương Vương (Đế Li mang tính chủ) và 10 con của ngành dương ở bán viên âm mặt trống là thú biểu của Viêm Càn Đế Minh phía âm ứng với Thần Nông thái dương.
So sánh với chim nông như trên đã biết chim nông biểu tượng cho Khôn thế gian Thần Nông chia ra là hai nhóm: nhóm 8 con biều tượng cho Thần Nước dương Chấn và nhóm 6 con biểu tượng cho Nông khí gió Đoài.
Như vậy chim nông và hươu ở vành số 8 biểu tượng cho Viêm Đế-Thần Nông thái dương (vì thế hai loài này mới để chung cùng trên một vành)
(còn tiếp).











