TRỐNG NGƯỜI MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG
BÁCH VIỆT NGÀNH VIÊM VIỆT NGỌC LŨ I.
(TRỐNG NHÓM MẶT TRỜI NỌC THÁI DƯƠNG LƯỠNG HỢP TIỂU VÀ ĐẠI VŨ TRỤ).
(phần 10)
Nguyễn Xuân Quang
Ý NGHĨA VÀNH CHIM THÚ TRÊN TRỐNG ĐỒNG ÂM DƯƠNG NGỌC LŨ I.
Hươu Trên Trống Đồng Âm Dương và Đồ Đồng Đông Sơn khác.
.Trên Các Trống Khác
-Mang Hươu Trống Miếu Môn I.
Trống này cũng có mặt trời 14 nọc tia sáng là trống thế gian nên có vành chủ chốt nằm gần phía mặt trời là vành diễn tả hai loài thú bốn chân sống được trên mặt đất.
Một loài thấy rất rõ là mang gạc hươu sừng và một loài “thú lạ” mà tôi đã nhận diện ra là con thiên cẩu Sói Lang trời đã khởi đầu thần thoại hóa.
Hai loài thú bốn chân trên Trống Miếu Môn I (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).
Trống Miếu Môn I cũng là trống có mặt trời 14 nọc tia sáng cùng nhóm với trống Ngọc Lũ I vì thế mà hươu nai ở hai trống tổng quát giống nhau. Tuy nhiên ý nghĩa biểu tượng khác nhau vì mỗi bán viên ở đây có 8 con chia ra làm hai tiểu nhóm 4 con thay vì là hai nhóm 10 con như ở trống Ngọc Lũ I. Số 4 là số Cấn. Số 4 Cấn âm có khuôn mặt dương là Li 5 làm đại diện và hôn phối với Chấn. Như thế theo duy dương những con hươu này mang khuôn mặt là hươu Li dòng nước Chấn. Cả hai nhóm đều có 4 con cho thấy khuôn mặt Li mang tính chủ so với khuôn mặt Càn. Điểm này cũng giống như ở trống Ngọc Lũ I hai nhóm đều có 10 con, số 10 là số Khảm hôn phối với Li.
Nhóm hươu có cả hươu đực và cái cho thấy có sự hiện diện của lưỡng hợp nòng nọc, âm dương ngay cả trong một đại tộc. Bán viên dương là nhóm có con đực đi với 4 con hươu Càn thế gian/Li. Và bán viên âm có 4 con cái đi với 4 con hươu phía Đoài.
Trong 8 con thì 7 con là cái và chỉ có 1 con đực. Điểm này cho thấy khuôn mặt âm mang tính chủ.
Ở đây cũng như ở trống đồng âm dương Ngọc Lũ I những con hươu cái có sừng diễn đạt theo ý nghĩa biểu tượng. Điều này dễ hiểu vì loài thú đi cùng vành được thể điệu hóa rất nhiều trông rất “lạ”, hoàn toàn mang ý nghĩa biểu tượng. Trống này đã hơi muộn.
Ta cũng thấy rất rõ trong 8 con thì có 7 con là nai cái? Tại sao lại 7? Số 7 là số Càn, lửa thái dương. 7 con nai cái thái dương Càn mang nghĩa biểu tượng là mặt trời Mặt Trời Nàng Thái dương, Thái dương thần nữ. Khuôn mặt này mang tính chủ yếu.
Từ đây ta kiểm chứng lại, ta thấy cũng đúng là nai cái (con cuối đàn) ở nhóm 6 người nhẩy múa ở bán viên âm trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I có một khuôn mặt là Càn âm, ứng với thái dương thần nữ Tổ Âu Cơ.
Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, ta cũng thấy hươu nai ở đây ứng với hươu Li/Càn ngành Nọc Lửa thái dương Viêm Đế, Kì Dương Vương với tộc hươu Li thuộc ngành Mẹ Tổ Âu Cơ thái dương thần nữ tức nhánh Hùng Vương Lửa Núi mang tính chủ. Điều này ăn khớp trăm phần trăm với Mẹ Tổ Âu Cơ ở cõi trời sinh tạo có một khuôn mặt là Nàng Lửa, Nữ Thần thái dương OII, Tốn và ở cõi đất thế gian có một khuôn mặt là lửa đất thế gian tức núi Cấn, có thú biểu là con nai sao cái còn thấy trong truyền thuyết Mường.
Ta thấy rất rõ ở các con mang ở đây giống hươu nai ở trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I, có khác là chi tiết của cặp sửng.
Những con mang trên Trống Miếu Môn I (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).
.Sừng mang có 3 mấu nhọn là ba hào dương III, Càn.
.8 con mang với số 8 là số Khôn hôn phối với Càn. Rõ ràng mang có một khuôn mặt Càn.
Như thế tóm lại 8 con mang trên trống Trống Miếu Môn I này thuộc ngành nọc lửa, mặt trời thái dương với khuôn mặt lửa thế gian thiếu dương Li mang tính chủ. Với 7 con cái cho biết khuôn mặt thuộc dòng lửa thế gian nữ thái dương là chính yếu.
Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, 8 con mang biểu tượng cho ngành nọc lửa mặt trời Viêm Đế thái dương, với khuôn mặt Kì Dương Vương lửa thế gian Li mang tính chủ và nhánh Hùng Vương theo Âu Cơ thái dương thần nữ lên núi là khuôn mặt chính yếu.
Đây chính là khuôn mặt thiếu dương Li lửa đất thế gian (Càn thế gian) tức Đế của Viêm Đế tương hợp với khuôn mặt Tốn 14 nọc tia sáng của trống Miếu Môn I ứng với phía Lửa, Núi Âu Cơ.
Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, ta thấy hươu nai ở đây ứng với hươu Li dòng An Dương Vương Lạc Long Quân mang tính chủ trong khi hươu Li ở trống Ngọc Lũ I thuộc dòng thái dương dòng Kì Dương Vương mang tính chủ.
-Mang gạc (muntjac) trên trống Phú Xuyên.
Mang sủa, mang gạc muntjac thể điệu hóa trên trống Phú Xuyên.
Ta đã biết những con thú trên trống Phú Xuyên là những con hươu sủa (barking deer) hay mang gạc cervulus munjac (xem trống Kì Việt Phú Xuyên).
Trống Phú Xuyên cũng thuộc nhóm trống thái dương có mặt trời 14 nọc tia sáng nên con mang, con hươu này mang tính âm dương thuộc nhóm những con hươu, mang trên hai trống trống Ngọc Lũ I và trống Miếu Môn I. Ở đây mặt trống chỉ có bốn con mang sủa ứng với tứ tượng cho thấy trống Phú Xuyên chỉ là trống biểu của một tộc hươu sủa duy nhất mà thôi. Điểu này thấy rất rõ là khoảng không gian giữa các tia sáng mặt trời có hình thái đơn gồm 4 nọc mũi mác chồng lên nhau hay hình tháp nhọn có sọc biểu tượng cho Li. Đúng lý ra phải là 5 nọc mũi mác, có thể người làm trống dùng số 4 có ý muốn nói đây là Cấn tức núi âm non, khuôn mặt âm của Li, ứng với non Âu Cơ?
Sự sai sót này cũng có thể xẩy ra vì như đã nói ở trên trống này hơi muộn, hình hươu sủa cũng đã có khuynh hướng thể điệu hóa, thần thoại hóa. Trống Phú Xuyên có thể là trống biểu của tộc hươu trong nhóm trống nọc thái dương.
Ngoài ra các trang trí trên mặt trống hoàn toàn mang dương tính cho thấy tộc hươu ở đây mang tính thuần dương tức biểu tượng cho tộc nọc lửa ngành nọc mặt trời thái dương. Vì là trống thế gian nên là tộc lửa thế gian, đất dương Li.
Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, ta thấy trống này là trống biểu của tộc lửa đất, núi dương Kì Dương Vương của nước Văn Lang Hùng Vương, ngành nọc thái dương Viêm Đế.
Tóm lại con thú trên trống Phú Xuyên là con hươu sủa mang gạc thái dương, cervulus muntjac, kijang, kì dương vật tổ của Bách Việt, thú biểu của Kì Dương Vương.
Trống Phú Xuyên là trống Kì Việt Kì Dương Vương của ngành nọc dương mặt trời thái dương Viêm Đế.
-Mang gạc (muntjac) trên Trống Sangeang, Nam Dương.
Trên thân trống Sangeang, Đông Nam Dương có hình mang gạc có thân trống giống con chó, có sừng có hai mấu. Đây chính là con mang sủa, mang gạc muntjac, kijang.
Mang gạc sừng hai mấu nhọn thái dương trên trống Sangeang ở Nam Dương.
So sánh hình này với hình hươu sủa muntjac trong thiên nhiên ta thấy vóc dáng y hệt nhau.
-Người Hươu Trên trống Thành Vân.
Trên trống Thành Vân có mặt trời có 10 nọc tia sáng là trống thiếu dương Li/Khảm có hình người thể điệu hóa là người của tộc đất dương Li được diễn tả theo motif hình “người chim-sừng hươu” có hai sừng có chấm nọc dương.
Trống Thành Vân (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).
Những hình người thuộc tộc đất dương thiếu âm Li thể điệu hóa tối đa trở thành các motifs hình hươu trên trống Thành Vân có hình hai sừng có chấm nọc dương.
Kiểm chứng lại ta thấy rất rõ:
Như đã nói ở trên trống này có 10 nọc tia sáng là trống thuộc nhóm thiếu dương Khảm-Li.
Khoảng không gian giữa các tia sáng mặt trời hình núi tháp vách kép có sọc Li (xem chương Ý Nghĩa Cực Âm Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á ).
Vành chim có 10 chim bay với số 10 là Khảm thế gian hôn phối với Li. Trên người chim cũng có hình núi tháp, mắt “vòng tròn có chấm” Li, mỏ to nhọn, ngắn có bờm nọc que lửa, Núi Trụ Thế Gian Li. Tổng cộng có 28 người, số 28 là số Cấn tầng 4. Cấn là non, núi âm, có Li núi dương là đại diện (Li số 5 là số dương của Cấn số 4)…
Đây là những người tộc hươu nai Li. Ta cũng thấy trống có 10 nọc tia sáng Khảm thế gian hôn phối với Li thế gian. Vành cò bay cũng có 10 Khảm Li. Điểm này thấy rõ giống ở trống đồng âm dương Ngọc Lũ I cũng có hai nhóm 10 Khảm hôn phối với hươu Li.
-Trống Nam Trung Hoa
Trong chuyến viếng thằm Nam Trung Hoa tôi đã thấy một trống muộn Nam Trung Hoa trên mặt trống có 4 tượng hình hươu thay vào chỗ 4 tượng cóc/ếch.
Các Đồ Đồng Đông Sơn Khác.
Không phải chỉ trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I có hươu mà còn thấy trên nhiều đồ đồng Đông Sơn khác.
.Thạp đồng Hợp Minh (Yên Bái).
Ở dưới phần thân thạp có vành mang gạc sừng hai mấu nhọn.
Thạp đồng Hợp Minh (Yên Bái), hình vẽ của Hà Nguyên Điềm (Hà Văn Phùng, Di tích Hợp Minh Yên Bái, một sưu tập sáng giá thuộc văn hóa Đông Sơn, Khảo Cổ Học,4- 1995, tr.26).
Thạp là vật dùng trong mai táng cho thấy rõ mang gạc hươu nai có một khuôn mặt tái sinh hằng cửu của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo.
.Rìu Thờ Đông Sơn
Trên một chiếc rìu thờ Đông Sơn có hình hươu sừng, mang kì có hai mấu hình chữ V, đây là nét đặc thù của mang gạc Muntjac. Rìu này có khắc đủ cả ba vật biểu mang kì của Kì Dương Vương, sấu Việt Giao long của Lạc Long Quân và chó sói Lang Việt của Hùng Lang, có một khuôn mặt biểu tượng cho ba cõi thế gian (ba con vật tổ đều là loài bốn chân).
Rìu thờ Đông Sơn hay Rìu Việt.
Lưu ý theo chiều dương đọc từ dưới lên (hướng lên phía mặt trời) ta có thứ tự chó sói biểu tượng cho cõi trời (khí gió) mang gạc biểu tượng cho cõi đất và giao long biểu tượng cho cõi nước.
.Thạp Việt Khê
“Trên chiếc thạp đồng tìm được ở Việt Khê có hình người hóa trang thành nai nhẩy múa” (Văn Tân, Thời Đại Hùng Vương, tr.230).
Hình người hóa trang thành người hươu nhẩy múa trên thạp đồng Việt Khê (Charles Higham fig. 4.22).
Đây là hình ảnh Kẻ-hươu, Người-Hươu, Xích Quỉ con dân Lộc Tục, Hươu Đục, Kì Dương Vương Kẻ Chàng, Chàng Hươu…
.Đèn Đông Sơn sừng hươu.
Một chiếc đèn thờ Đông Sơn có hình sừng hươu hai mấu nhọn hươu sủa, muntjac.
Đèn thờ Đông Sơn hình sừng hươu tại Viện Bảo Tành Lịch Sử Việt Nam ở Hà Nội (ảnh của tác giả).
.Gạc hươu
Ngoài ra những vật khảo cổ học đáng giá nữa mà các nhà khảo cổ học không biết ý nghĩa của nó gọi là những
chiếc gạc. Những cái gạc này có thể làm bằng gốm, sành hay kim loại. Đây là chiếc gạc, chiếc sừng biểu tượng của vật tổ hươu của chúng ta. Gạc này là một thứ nêu thờ để hồn thần tổ tộc Sừng mặt trời đậu xuống, dùng làm gậy lễ, gậy hộ mạng, quyền trượng… Ví dụ trong một ngôi mộ cổ tìm thấy một cặp “móc sắt”. Những vật này mang hình ảnh những chiếc gạc, sừng hươu sủa hai mấu nhọn.
Cặp sừng mang gạc (BEFEO).
Tóm lại những con hươu trên trống đồng âm dương và trên đồ đồng Đông Sơn là những con thú mang ý nghĩa biểu tượng mang trọn ý nghĩa Vũ Trụ thuyết, Dịch. Riêng những con hươu trên trống Ngọc Lũ I, những con hươu đực có hai loại sừng mang biểu tượng cho ngành Lửa gồm hai đại tộc Càn thế gian và Li thái dương ứng với Viêm Đế, Đế Minh và Kì Dương Vương. Riêng những con cái mang biểu tượng Lửa âm nữ, ứng với con hươu sao cái vật biểu của Mẹ Tổ Âu Cơ của Mường Việt.
Hươu là vật tổ thế gian của Kì Dương Vương của Đại tộc Người Mặt Trời thái dương Việt Xích Quỉ, ngành mặt trời Viêm Đế-Thần Nông thái dương.
(còn tiếp).








