Bac Si Nguyen Xuan Quang’s Blog

November 18, 2011

TRỐNG NGƯỜI MẶT TRỜI BÁCH VIỆT NGỌC LŨ I (phần 1).

Filed under: Trống Bách Việt Ngọc Lũ I (1) — Quang Nguyen @ 7:39 am

TRỐNG NGƯỜI MẶT TRỜI THÁI

DƯƠNG BÁCH VIỆT NGỌC LŨ I.

(TRỐNG NHÓM MẶT TRỜI NỌC THÁI DƯƠNG LƯỠNG HỢP TIỂU VÀ ĐẠI VŨ TRỤ).

 (phần 1)

Nguyễn Xuân Quang

 Trống đồng nòng nọc, âm dương là bộ Dịch đồng bằng hình ảnh và là bộ sử đồng của Đại Tộc Việt. Ta đã biết trống đồng là trống biểu của ngành nọc, trống (đực) mặt trời ứng với ngành nọc Việt mặt trời, là trống biểu của Hùng Vương, vua mặt trời.

 Trong các bài trước trong nhóm trống nọc thái dương có mặt trời 14 nọc tia sáng Tốn thế gian ta đã biết:

-Trống Phú Xuyên là trống biểu của ngành nọc dương (Lửa đất thế gian Li-Lửa vũ trụ Càn) có Mang Sủa thú biểu của Li và cò Càn tên viết bằng chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói), diễn tả bằng ba vành biên trống gồm hai vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) thái dương (đặc biệt ở trống này trong nọc mũi tên còn có dấu chấm nọc có mục đích nhấn mạnh tính siêu dương, có  nghĩa lửa, thái dương mang tính nọc sinh tạo cực dương tức liên hệ với Lửa vũ trụ Càn).

 Trống Phú Xuyên Kì Việt Kì Dương Vương ngành nọc dương Viêm Đế.

Hai vành này kẹp giữa hai vành chấm nọc có nghĩa là hai nọc chấm dương, lửa dương, lửa thái dương sinh tạo liên hệ với Càn. Bốn vành này mang nghĩa nọc lửa thái dương cho biết trống này là trống ngành nọc lửa thái dương Càn Li. Ngoài ra Càn còn được diễn tả bằng vành cò Càn tên viết bằng hình tam giác và Li diễn tả bằng con mang sủa mang gạc (Cervilus muntjac). Li mang tính chủ vì vành mang sủa nằm gần sát mặt trời.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là trống Kì Việt Kì Dương Vương của ngành nọc dương mặt trời thái dương Viêm Đế.

-Trống trống Sông Đà là trống biểu của ngành nọc âm Đoài Chấn  với Đoài diễn tả bằng bán viên 6 người chia ra làm hai nhóm Đoài 3 người và những đoạn sóng hình thoi thái dương ở biên trống và Chấn diễn tả bằng bán viên 8 người chia ra làm hai nhóm Cấn 4 người, hôn phối với Chấn và những đoạn sóng nước vuông góc  Chấn thái dương ở biên trống. Khuôn mặt Đoài mang tính chủ.

 

 Trống Âu-Lạc Sông Đà.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là trống Âu Lạc của nhánh nọc âm của ngành Thần Nông thái dương họ mặt trời thái dương Thần Nông-Viêm Đế.

-Trống Miếu Môn I là trống biểu của đại tộc nọc âm Chấn thái dương diễn tả bằng ba vành biên trống gồm hai vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) thái dương kẹp giữa vành hai vòng tròn đồng tâm có chấm nọc dương có nghĩa là nước dương, lửa nước, Chấn và vành cò gió Chấn có tên là cái “mồi” chữ V hay tam giác ngược có một nghĩa là lửa-nước thái dương Chấn.

 

 Trống Mang Lang Văn Lang Miếu Môn I.

Trống có dạng lưỡng hợp thíếu dương Li- thiếu âm Đoài, có vành chủ yếu là thú bốn chân Mang Lang. Mang là thú biểu của nhánh nọc dương phía thiếu dương Li và con Lang trời là của nhánh phía thiếu âm Đoài nọc dương. Đây là một khuôn mặt lưỡng hợp thiếu dương Li và thiếu âm Đoài của đại tộc Chấn. Đoài Lang có khuôn mặt mang tính chủ vì chó sói Lang khắc to hơn con mang.

 Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt đây là trống lưỡng hợp thú biểu Mang Lang của liên bang Văn Lang Hùng Vương với khuôn mặt Lang Việt mang tính chủ của đại tộc nọc âm thái dương Chấn Lạc Long Quân Lạc Việt ngành Thần Nông thái dương.

Trống âm dương Ngọc Lũ I này cũng thuộc nhóm trống có mặt trời 14 nọc tia sáng nọc thái dương nhưng diễn tả một khuôn mặt khác vi ba vành ngoài biên khác các trống trên.

 Tổng quát

 

 

Trống đồng âm dương Ngọc Lũ I.

Trống âm dương Ngọc Lũ I vốn để ở đình làng Ngọc Lũ, tìm thấy ở xã Như Trác, huyện Lý Nhân, Hà Nam Ninh. Hiện nay trống được trưng bầy tại viện bảo tàng Lịch Sử Việt Nam, Hà Nội .

Nhìn thoáng qua ta thấy trống đồng âm dương Ngọc Lũ I tinh xảo nhất, tinh tế nhất, mỹ thuật nhất, hàm súc nhất trong các trống đồng hiện có trên khắp thế giới.

Nhìn ba vành ngoài biên, ta đã thấy ngay trống đồng âm dương Ngọc Lũ I khác các trống vừa nói.

Xin nhắc lại, các vành ngoài biên trống cho biết trống thuộc loại nào, diễn tả trọn vẹn giáo thuyết hay một giai đoạn nào của thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh trong Vũ Trụ giáo và thuộc họ, ngành, đại tộc, tộc nào trong truyền thuyết và cổ sử Việt.

Như đã viết trống Kì Việt Phú Xuyên thuộc ngành nọc dương Viêm Đế thái dương tạo hóa nên ba vành ở biên trống được diễn tả gồm hai vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) có nghĩa là lửa, thái dương kẹp ở giữa hai vành chấm nọc lửa sinh tạo.

Trống Âu Lạc Sông Đà thuộc ngành nọc âm Thần Nông thái dương có ba vành ngoài biên gồm hai vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) có nghĩa là lửa, thái dương kẹp ở giữa vành có hai hình thái sóng hình thoi Gió chuyển động Đoài và sóng cuộn vuông góc nước lửa Chấn ở biên trống (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á, sẽ tóm lược ở dưới).

 Trống Miếu Môn I là trống biểu của đại tộc nọc âm Chấn thái dương có thú biểu Mang Lang ngành Thần Nông được diễn tả bằng ba vành ở biên trống gồm hai vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) có nghĩa là lửa, thái dương kẹp ở giữa một vành hai vòng tròn đồng tâm có chấm nọc dương có nghĩa là nước dương, lửa nước, Chấn.

 Trống Ngọc Lũ I có ba vành ngoài biên trống gồm:

 

Ba vành ngoài biên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I (ảnh của tác giả chụp tại Viện Bảo Tàng Lịch Sử Hà Nội).

Hình vẽ lại ba vành ngoài biên ở mặt trống nòng nọc, âm dương Ngọc Lũ I  (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

-hai vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) có nghĩa là lửa, thái dương. Trong nọc mũi tên cũng đánh dấu hai chấm nọc có ý nhấn mạnh thêm là hai dương, lửa, thái dương.

Lưu Ý

Trống đồng âm dương Ngọc Lũ I là trống lưỡng hợp nòng nọc, âm dương trọn vẹn của ngành mặt trời thái dương (xem dưới) nên phải nhìn theo cả hai diện nòng nọc, âm dương. Theo duy dương, hai vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) nổi mang dương tính có nghĩa là thái dương của phía nọc dương thái dương. Theo duy âm, hai vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) chìm mang âm tính có nghĩa là thái dương của phía nọc âm thái dương.

Nếu chỉ nhìn theo một diện nọc thái dương thôi thì có thể chỉ dựa vào vành nổi thôi. Lúc này sẽ căn cứ vào chiều của nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói). Vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) chỉ từ trên (tức mặt trời) xuống có thể coi là biểu tượng cho ánh sáng Càn  còn vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) chỉ thiên hướng (về phía mặt trời) có thể coi như là núi tháp đất dương Li.

-Hai vành nọc mũi tên thái dương này kẹp ở giữa một vành gồm hai hình sóng ở đây mang nghĩa sinh động, liên tác: một là sóng hình chầm và vòng tròn (.) và O, với tiếp tuyến có tiếp điểm ở trên (tiếp tuyến đi từ trên xuống) mang dương tính nên có nghĩa là (.)O = IO, thiếu âm nguyên thể của Đoài IIO (lửa, thái dương II của nòng O) và sóng hình vòng tròn chấm O và  (.) với tiếp tuyến có tiếp điểm ở dưới (tiếp tuyến đi từ dưới lên trên) mang âm tính nên có nghĩa là O (.) = OI thiếu dương nguyên thể của Li IOI.

 Ba vành này cho biết trống thuộc hai đại tộc thiếu dương Li đất dương lưỡng hợp với thiếu âm Đoài Gió dương của hai ngành nọc dương và âm thuộc họ mặt trời thái dương.

Đối chiếu với truyền thuyết Việt là đại tộc thiếu dương Li Kì Việt Kì Dương Vương, khuôn mặt lửa âm đất thế gian Đế của ngành Viêm Đế thái dương lưỡng hợp đại tộc thiếu âm Đoài Lang Việt, khuôn mặt gió dương thế gian Nông của ngành Thần Nông thái dương.

 Đối chiếu cổ sử Việt là nhánh Hùng Vương núi đất dương phía Mẹ Tổ Âu Cơ lưỡng hợp nhánh Hùng Vương gió thái dương phía Lạc Long Quân.

 Lưu Ý

 Xin nhắc lại, trống đồng nòng nọc, âm dương là trống biểu của ngành trống (nọc) mặt trời thái dương nên Thần Nông ở đây có khuôn mặt là mặt trời nọc âm thái dương chứ không phải mang khuôn mặt không gian thái âm. Điểm này giải thích tại sao trong truyền thuyền khi thì viết là Viêm Đế-Thần Nông khi thì viết là Thần Nông-Viêm Đế. Các tộc thuộc ngành nọc lửa thái dương gọi theo Viêm Đế-Thần Nông (vì lửa nên để Viêm Đế viết trước Thần Nông) còn các tộc thuộc ngành nọc nước thái dương gọi theo Thần Nông-Viêm Đế)]. Dưới dạng nhất thể, Viêm Đế-Thần Nông hay Thần Nông-Viêm Đế là một cá thể duy nhất (một nhân vật nên truyền thuyết khi thì viết Viêm Đế có hiệu là Thần Nông hay khi thì viết Thần Nông có hiệu là Viêm Đế. Hiệu là “tên gọi“ của cùng một nhân vật). Dạng nhất thể mang tính lưỡng hợp ứng với Thái Cực hay Trứng Vũ Trụ. Ở dạng lưỡng cực, Viêm Đế-Thần Nông tách ra hai khuôn mặt riêng biệt: Viêm Đế và Thần Nông. Ở đây trên trống và là trống biểu của ngành mặt trời thái dương nên khuôn mặt Thần Nông là khuôn mặt mặt trời nọc âm thái đương.   

Thần Nông của Bách Việt tuyệt nhiên không phải là ông thần làm ruộng Shen Nung (Thần Nông) của Trung Hoa. Thần làm ruộng đầu bò Shen Nung của Trung Hoa ở cõi đất thế gian xuất hiện rất muộn vào thời con người đã bước vào xã hội nông nghiệp là lấy từ Thần Nông ở cõi tạo hóa, vũ trụ của Bách Việt (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Ở tầng tứ tượng, Viêm Đế tách ra thành Viêm (dưới dạng vật thể là Lửa), Đế (Đá, Đất) và Thần Nông tách ra thành Thần (Nước) và Nông (Gió) (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc).

 Trống đồng âm dương Ngọc Lũ I có mặt trời 14 nọc tia sáng là trống thế gian nên có dạng lưỡng hợp tiểu vũ trụ thiếu dương Li với thiếu âm Đoài tức Đế với Nông mang tính chủ.

Hai hình thái sóng cuộn vòng tròn có chầm có tiếp tuyến lửa đất  thiếu dương Li và gió dương thiếu âm Đoài chuyển hành mang tính sinh động, sinh tạo ở trên cùng một vành cho thấy rõ đây là dạng lưỡng hợp của hai nhánh nọc nòng, dương âm của ngành thái dương Viêm Đế-Thần Nông.

Tóm lại

Trống đồng âm dương Ngọc Lũ I mới nhìn qua ba vành ngoài biên trống đã thấy trống mang khuôn mặt lưỡng hợp tiểu vũ trụ thiếu dương Li với thiếu âm Đoài của hai nhánh nọc nòng ngành mặt trời thái dương.

Đối chiếu với truyền thuyết Việt là dạng lưỡng hợp thiếu dương Li Đất dương Đế của nhánh Viêm Đế thái dương với thiếu âm Đoài Gió dương Nông của nhánh Thần Nông thái dương của ngành Viêm Đế-Thần Nông thái dương.

Đối chiếu cổ sử Việt, đại tộc Kì Dương Vương, khuôn mặt lửa âm đất thế gian Đế của ngành Viêm Đế thái dương lưỡng hợp với đại tộc thiếu âm Đoài Lang Việt, khuôn mặt gió dương thế gian Nông của ngành Thần Nông thái dương.

Đối chiếu với lịch sử Việt  là nhánh Hùng Vương núi đất dương phía Mẹ Tổ Âu Cơ lưỡng hợp nhánh Hùng Vương gió, bầu trời sinh tạo thái dương phía Lạc Long Quân.

.Trống có cả hai yếu tố nòng nọc, âm dương lưỡng hợp.

Trên mặt trống có những yếu tố dương như các vành giới hạn là vành có chấm nọc, hai vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) ở biên trống, hươu đực, dàn trống… Yếu tố âm như có sự hiện diện của các chữ viết nòng vòng tròn, có hình nai cái, hình cối, nhóm 6 người với số 6 là số chẵn số âm đối ứng với nhóm 7 người với số 7 là số dương tức một nhóm thuộc nọc âm một nhóm thuộc nọc dương (x. dưới)…

Như thế trống này là trống biểu của hai khuôn mặt nòng nọc, âm dương, có một dạng lưỡng hợp nòng nọc, âm dương của ngành mặt trời thái dương.

Trống đồng âm dương Ngọc Lũ I có mặt trời 14 nọc tia sáng thuộc nhóm mặt trời nọc thái dương có số nọc tia sáng là số Tốn (6, 14, 22…). Qua ba vành ngoài biên, ta đã thấy trống này có những khuôn mặt lưỡng hợp nòng nọc, âm dương như sau:

-Tốn với Càn

Trống đồng âm dương Ngọc Lũ I là trống lưỡng hợp nòng nọc, âm dương trọn vẹn của ngành mặt trời thái dương nên theo duy dương hai vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) nổi mang dương tính có nghĩa là thái dương Càn của phía nọc dương thái dương.

Như thế trống có một khuôn mặt lưỡng hợp Tốn với Càn.

Kiểm chứng với Dịch sách ta thấy Tốn hôn phối với Càn trong Hậu Thiên Bát Quái:

 

 -Tốn với Chấn

 Theo duy âm, hai vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) chìm mang âm tính có nghĩa là thái dương Chấn của phía nọc âm thái dương. Như thế trống có một khuôn mặt lưỡng hợp Tốn với Chấn.

 Kiểm chứng với Dịch sách ta thấy Tốn hôn phối với Chấn trong Tiên Thiên Bát Quái:

 

Hai dạng Tốn lưỡng hợp Càn và Chấn này mang khuôn mặt dạng  lưỡng hợp đại vũ trụ thái dương Càn với thái âm Chấn ngành nọc thái dương qua khuôn mặt Tốn. 

 -Tốn với Li

Số Tốn 6 nằm giữa  số Li 5 và số Càn 7 (5, 6, 7). Như thế về phía âm (số 5 nằm bên tay trái, phía dưới số 6 nên là phía âm), Tốn 6 đi với Li 5 phía âm. Vậy Tốn có một khuôn mặt lưỡng hợp với Li. Ở đây ta cũng thấy rõ Tốn lưỡng hợp với Càn vì về phía dương, Tốn 6 đi Càn 7.

Kiểm chứng với truyền thuyết và cổ sử Ai Cập cổ ta thấy rõ hơn. Nữ thần bầu trời Nut ứng với Tốn hôn phối với thần đất Keb ứng với Li.

Nữ Thần Bầu Trời Nut có một khuôn mặt Tốn hôn phối với Thần Đầt Keb (Geb) có một khuôn mặt Li. Keb chính là Việt ngữ Kẻ, Kè, Kì. Keb ruột thịt với Kì Dương Vương.

Vậy có sự lưỡng hợp giữa Tốn với khuôn mặt Li (xem Sự Tương Đồng Giữa Cổ Việt Với Ai Cập Cổ).

-Tốn với Đoài

Còn khuôn mặt Đoài/Tốn, như đã biết qua nhóm trống cóc/ếch Chấn/Cấn có mặt trời 12 nọc tia sáng ta có Đoài hôn phối với Tốn. Kiểm chứng với Dịch sách ta cũng thấy Đoài hôn phối với Tốn ở lá bùa trừ tà của dân gian Việt Nam (dùng trừ tà vì Dịch có một khuôn mặt Chấn Sấm có búa thiên lôi trừ được ma quỉ).

 

 Sự hôn phối Tốn OII với Đoài IIO này cũng thấy rất rõ trong truyền thuyết Ai Cập cổ là nữ thần lửa Tefnut (goddess of Fire), Tốn OII lấy Thần Khí Gió Shu (God of Air), Đoài phía ngành nòng, âm.

Như thế trống Ngọc Lũ I  có mặt trời 14 nọc tia sáng Tốn thế gian có khuôn mặt lưỡng hợp trọn vẹn lưỡng hợp đại vũ trụ Tốn/Càn- Tốn/Chấn và lưỡng hợp tiểu vũ trụ Tốn/Li và Tốn/ Đoài.

Trống này là trống thế gian có mặt trời 14 nọc tia sáng (lớn hơn 7) nên khuôn mặt chính là dạng lưỡng hợp tiểu vũ trụ do đó mà hai vòng sóng Li-Tốn cùng nằm trong một vành ở  ngoài biên trống.

Để vững chắc thêm nữa ta có thể kiểm chứng với ma phương có số trục 14 (14 là số nọc tia sáng) có tổng số các chi là 42.

 Ta thấy rõ theo một đường chéo Tốn 14 (tầng hai) đi với Li 13 (tầng 2) và Càn 15 (tầng 2). Và theo đường chéo thứ hai Tốn 14 đi với 11 Đoài (tầng 2) và 17 Chấn (tầng 2).

Lưu Ý

Ta thấy rõ một trống đồng có thể diễn tả nhiều loại Dịch sách.

Trống có một nghĩa là đực, là nọc, là dương nên trống được dùng làm trống biểu của ngành mặt trời. Trống đồng hở đáy và trên mặt trống có hình mặt trời nằm trong vòn tròn vỏ không gian của đại tộc Đông Sơn là trống nòng nọc, âm dương nên là trống biểu tượng cho cả hai nhánh âm dương của ngành mặt trời: dương thái dương và âm thái dương.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn là trống biểu của Hùng Vương (Hùng có một nghĩa là Trống, nọc, đực, mặt trời) lưỡng hợp Chim Rắn, Tiên-Rồng. Trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn   là trống biểu của cả hai ngành Hùng Vương dương thái dương Lửa, Núi Âu Cơ và âm thái dương Nước, Biển Lạc Long Quân và của Bách Việt (xem Trống Đồng Là Trống Biểu Của Hùng Vương trong bacsinguyenxuanquang.wordpress.com).

.Họ

Trống đồng âm dương Ngọc Lũ I thuộc họ mặt trời hừng rạng, rạng ngời có tia sáng nọc mũi mác.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, đây là trống biểu của họ Hồng Bàng có một khuôn mặt là họ mặt trời thái dương. Theo duy dương, họ Hồng Bàng có một nghĩa là Họ Đỏ, Họ Mặt Trời. Họ Hồng Bàng thế gian kể từ Kì Dương Vương trở xuống, nhìn theo diện nòng nọc, âm dương, theo duy dương ngành mặt trời chỉ gồm có Kì Dương Vương (Kì Việt thuộc ngành mặt trời Viêm Đế và Lạc Long Quân có khuôn mặt thái dương II của ngành nòng O tức IIO, Đoài đại diện thuộc ngành mặt trời Thần Nông.

Còn Hùng Vương trong họ Hồng Bàng thế gian có một khuôn mặt lịch sử là chính. Hùng Vương lịch sử thế gian coi như là thuộc họ Hồng Bàng lịch sử.

Như thế họ Hồng Bàng cần phải nhìn dưới ba diện theo lưỡng hợp nòng nọc, âm dương: ở cõi Tạo Hóa là họ Hồng Bàng vũ trụ gồm hai ngành Viêm Đế và Thần Nông. Ở cõi thế gian: họ Hồng Bàng chỉ gồm có Kì Dương Vương, khuôn mặt thái dương thế gian của Viêm Đế và Lạc Lang Hùng Đoài thái dương ngành Long Quân, khuôn mặt thái dương thế gian của Thần Nông. Ở cõi lịch sử, họ Hồng Bàng gồm hai nhánh Hùng Vương lịch sử Núi và Biển.

Hùng Vương lịch sử đội lốt Tổ Hùng tạo hóa, sinh tạo ở cõi trên Thượng Thế (cần phần biệt từ Tổ Hùng với từ Hùng Vương. Tổ Hùng kể từ cõi tạo hóa, vũ trụ trở xuống gồm từ Viêm Đế trở xuống và Hùng Vương mang nghĩa chính là các vua thế gian lịch sử con cháu Tổ Hùng truyền thuyết).

Đế Minh là cháu ba đời thần mặt trời Viêm Đế thì Kì Dương Vương, Lạc Long Quân và Hùng Vương cũng thuộc dòng mặt trời Viêm Đế. Hiển nhiên họ Hồng Bàng trăm phần trăm có một khuôn mặt là Họ Mặt Trời.

.Ngành

Hai vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) ở biên trống cho biết trống thuộc ngành nọc dương thái dương mặt trời chói sáng khác với trống đồng âm thái dương ví dụ như trống Cổ Loa cũng có mặt trời 14 nọc tia sáng nhưng có hai vành đường rầy hay hình các thanh thang đứng (răng lược) ở biên trống cho biết trống thuộc ngành nọc âm thái dương, mặt trời êm dịu.

 Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, đây là ngành mặt trời dương thái dương.

.Nhánh

Mặt trời có tia sáng hình nọc mũi tên nhọn, sắc, dài ứng với nhánh nọc, lửa, nọc nhọn, rìu nhọn tức nhánh rạng ngời khác với các trống cóc/ếch như trống Hữu Chung có nọc tia sáng cạnh cong hình búp măng, cánh hoa sen nhọn đầu mang âm tính diễn tả ánh sáng nọc âm êm dịu.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, đây là nhánh Việt mặt trời rạng ngời.

.Đại tộc

Khối lửa mặt trời hình cầu gai chói lọi không thấy đĩa tròn ứng với đại tộc thái dương.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, đây là đại tộc Việt thái dương ngành dương.

.Dạng lưỡng hợp nòng nọc, âm dương

Thấy qua sự kiện là trống hở đáy, mặt trời-không gian ở tâm trống, tia sáng số chẵn âm đi với mặt trời dương.

Đặc biệt ở đây như đã nói ở trên có dạng lưỡng hợp đại và tiểu vũ trụ của ngành nọc thái dương. Trống đồng âm dương Ngọc Lũ I mang trọn vẹn ý nghĩa thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, dạng lưỡng hợp nòng nọc, âm dương, lửa-nước ứng với Chim-Rắn, Viêm Đế-Thần Nông, Đế Minh-Vụ Tiên, Kì Dương Vương-Thần Long, Lạc Long Quân-Âu Cơ, Tiên-Rồng, Hùng Lang, Hùng Vương lưỡng hợp hai ngành núi-biển, liên bang Văn Lang…

.Trống Nấm Vũ Trụ: trống có hình Cây Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I).

Trống có hình cây nấm là trống Cây Nấm Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) gồm đủ cả ba cõi, Tam Thế mang trọn vẹn ý nghĩa vũ trụ luận.

 Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, trống này theo chính thống phải mang trọn vẹn cốt lõi văn hóa Việt dựa trên nòng nọc, âm dương Chim-Rắn, Tiên Rồng nền tảng của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo.

1.  Mặt trống

Nhìn tổng thể, mặt trống Ngọc Lũ I trông “phức tạp” hơn các trống khác. Mặt trống ngoài vành người nhẩy múa, vành cò bay thường thấy trên các trống thế gian khác còn có thêm vành hươu-chim (khác cò), có vòng chim đứng đi chung với vòng cò bay. Như thế trống đồng âm dương Ngọc Lũ I diễn tả Vũ Trụ Tạo Sinh đầy đủ hơn, trọn vẹn hơn.

Nhìn thoáng qua mặt trống, có cảm giác vừa vừa không nóng không lạnh lắm. như đã nói ở trên, mặt trống có đủ các yếu tố vừa âm vừa dương.

Ở đây khuôn mặt âm còn hiện hữu, khuôn mặt nòng âm còn được coi trọng, nên lưỡng hợp ở đây là dạng lưỡng hợp âm dương đề huề của hai nhánh nọc dương và nọc âm mặc dù thuộc ngành mặt trời nọc thái dương. Tính nòng nọc, âm dương đề huề này thất rõ ở đây qua vòng tròn vỏ trứng vũ trụ hay vỏ không gian bao quanh đầu tia sáng mặt trời có độ dầy vừa phải không mỏng quá vì mang dương tính nhiều như ở trống Phú Xuyên và không dầy quá vì mang âm tính nhiều như ở trống Hữu Chung.

Cõi Trên, Thượng Thế

 Thượng Thế, theo nguyên tắc, là phần ở tâm trống biểu tượng cho cõi trên chiếu xuống tâm trống hay là phần cõi trên đập dẹp xuống để làm mặt trống.

 Tâm trống thượng thế gồm đĩa tròn hư không, vô cực, sau biến thành không gian, cực âm có vỏ là vòng tròn bao quanh mặt trời, cực dương. Nhìn dưới dạng nhất thế, mặt trời trong đĩa không gian là trứng vũ trụ, thái cực. Diễn tả theo chữ viết nòng nọc vòng tròn-que là chữ vòng tròn có chầm, có một khuôn mặt là linh tự Ra, Re của Ai Cập cổ.

Chữ viết nòng nọc vòng tròn-que vòng tròn có chấm. Đây là linh tự Ra, Re của Ai Cập cổ và là hình ảnh của Bọc Trứng 100 Hùng Lang.

Đây cũng là hình ảnh 100 Lang mặt trời trong bọc trứng không gian. Đây là bọc trứng trăm Lang Hùng mặt trời sinh ra từ bọc không gian.

Trống này có mặt trời 14 nọc tia sáng là trống thế gian (xin nhắc lại trống có mặt trời có số tia sáng bằng hay nhỏ hơn 7 là trống vũ trụ) nên tâm trống cũng mang một khuôn mặt cõi trên tức bầu trời của thế gian. Như thế phần tâm trống có thể coi như là mang hai khuôn mặt: một là cõi trên càn khôn, vũ trụ (đại vũ trụ, tạo hóa) chiếu xuống, hai là khuôn mặt cõi trên bầu trời thế gian (tiểu vũ trụ, cõi nhân sinh). Tâm trống ở đây có vỏ hư vô là vòng tròn bao quanh đầu tia nọc ánh sáng mặt trời. Vỏ không gian rất vừa nét mang tính nòng nọc, âm dương còn đề huề.

 

Cõi trên Thượng Thế ở trống đồng âm dương Ngọc Lũ I.

Cõi trên Thượng Thế lại chia ra bốn tầng: vô cực, thái cực, lưỡng nghi, tứ tượng/tứ hành.

a. Vô Cực

Như đã nói ở trên vòng tròn bao quanh đầu tia sáng là vỏ không gian diễn tả bằng vòng tròn vừa nét không mỏng quá, không dầy quá manh tính nòng nọc, âm dương đề huề.

Vòng này cho biết bọc hư không chuyển qua trứng vũ trụ, thái cực dưới dạng lưỡng hợp âm dương đồng đẳng.

b. Thái Cực: bọc Trứng Vũ Trụ.

Gồm mặt trời 14 nọc tia sáng và không gian. Không gian ở đây được  diễn tả bằng các khoảng không gian giữa các tia sáng mặt trời có hình thái Tứ Tượng (hiện nay gọi lầm là ‘họa tiết lông công’). Hình thái tứ tượng này cho biết trống có một khuôn mặt sinh tạo tức có khuôn mặt lưỡng hợp của hai nhánh nòng nọc, âm dương của ngành mặt trời thái dương.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt,  bọc Trứng Vũ Trụ, thái cực của ngành mặt trời thái dương sinh tạo của trống này sinh bọc trứng thế gian sinh ra trăm Lang Hùng có khuôn mặt sinh tạo mang tính lưỡng hợp Chim-Rắn, Tiên Rồng, Viêm Đế-Thần Nông ngành mặt trời thái dương Đại Tộc Việt.

Lưu Ý

Tổ Hùng ở cõi tạo hóa có một khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa tương đương với thần mặt trời tạo hóa Ra hay Re của Ai Cập cổ (Sun as Creator). Hùng Vương thế gian, lịch sử là con cháu của Tổ Hùng Tạo Hóa. Cần phải phân biệt từ Tổ Hùng với Hùng Vương.

b. Lưỡng nghi:

 

-Cực dương:

Mặt trời có khối lửa sáng cầu gai, có nọc tia sáng mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) rất nhọn, sắc, dài, có số âm thái dương (số 14 là số Tốn OII tầng hai thế gian có một nghĩa âm O thái dương II). Khối sáng là một nọc dương, tia sáng nọc mũi tên là hai nọc dương và số tia sáng lửa thái dương, tổng cộng là 3 nọc dương tức Càn. Vậy mặt trời có khối sáng cầu gai không thấy đĩa tròn, có nọc tia sáng hình mũi tên và có 14 nọc tia sáng thái dương là mặt trời nọc thái dương thế gian. Trống đồng âm dương Ngọc Lũ I có mặt trời 14 nọc tia sáng thuộc nhóm mặt trời nọc thái dương thế gian.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, trống đồng âm dương Ngọc Lũ I là trống thuộc họ mặt trời nọc thái dương Hồng Bàng (hiểu theo nghĩa tổng quát gồm cả họ Hồng Bàng vũ trụ, họ Hồng Bàng thế gian và họ Hồng Bàng lịch sử). Về phía nọc dương thái dương Viêm Đế có khuôn mặt thế gian Đế đại diện.  Vế phía nọc âm thái dương Thần Nông, vi là trống nọc thái dương nên phải có khuôn mặt thái dương II về phía nòng âm O tức IIO, Đoài ứng với Nông của phía Thần Nông là đại diện.

-Cực âm:

.Không gian

Cực âm là không gian chứa mặt trời. Như đã nói vỏ không gian (cùng chung với vỏ Trứng Vũ Trụ) ở đây là một vòng tròn có độ dầy vừa phải diễn tả tính nòng nọc, âm dương đề huề của ngành nọc thái dương.

Bản chất không gian thường được diễn tả bởi các hình thái ở các khoảng không gian giữa các tia sáng. Ở đây khoảng không gian có hình thái tứ tượng (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á).

Khoảng không gian giữa các tia sáng có hình thái tứ tượng.

 Hình thái tứ tượng có 4 chữ viết nòng nọc vòng tròn-que là:

1. Hình hai giọt nước đặc biểu tượng cho nòng âm. Hai giọt nước này thuôn nhọn có đuôi mang hình ảnh hai giọt nước vũ trụ rơi từ trời tức hai âm (OO), hai đuôi hình nọc (I), mang dương tính tức theo duy dương đọc gộp lại là IOO, lửa nước Chấn. Đây là tượng Nước dương Chấn.

Điều này thấy rất rõ là ở những trống muộn sau này hai giọt nước viết dưới dạng hai vòng tròn đồng tâm tức OO = nước hay đúng ngữ pháp hơn là viết dưới dạng hai vòng tròn có chấm ở giữa mang ý nghĩa Chấn thái dương ví dụ như trên trống Miếu Môn II, Cửu Cao. Ở các trống muộn thời phụ quyền cực đoan hai giọt nước dương thể điệu hóa (stylized) thành hai hình tam giác, hình sò hến trông giống âm hộ (nên có tác giả gọi như vậy), hình hạt hạnh nhân… có góc cạnh. Trường hợp ở trống Ngọc Lũ I hai giọt nước này được phụ đề bằng hai chấm bao quanh bởi đĩa tròn sáng trông như hai “con mắt” mang ý nghĩa dương, mặt trời. Hai chấm nọc dương bao quanh bởi vòng tròn cũng có thể đọc theo nghĩa thái dương. Đây là hai giọt nước thái dương, nòng thái dương, theo duy dương là Chấn thái dương.

Ta có thể đọc theo chữ nòng nọc là hai giọt nước = OO, nòng nước với phụ đề “hai con mắt” là nòng nước thái dương, Chấn thái dương.

Tóm lại đây là nòng Khôn âm nước thái dương Chấn thái dương.

2. Hình vành cung hơi cong có các sọc ngắn, nhỏ, song song trông giống hình bờm, mào lông, hình nửa lông chim, rèm tua, bức sáo gió, mành mành gió. Hình này biểu tượng cho nòng Khôn khí gió. Rèm có một gạch ngang (bẻ cong vì hiệp theo âm tính) là nọc | và tua là nòng O. Cả rèm tua là |O, thiếu âm, theo duy dương trên trống là Gió dương Đoài.

Đây là tượng Gió Đoài.

3. Hình nọc nhọn đầu mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) mang ý nghĩa nọc, dương, thái dương Càn. Ta có thể phân tích nọc nhọn đầu mũi tên ( ^ ) = ||, và tính nhọn là yếu tố dương thứ 3  tức ba dương Càn. Hình nọc mũi tên Càn này giống đầu cây đòn càn của Việt Nam. Chữ nọc mũi tên Càn này là tên những con cò Càn thấy trên trống Phú Xuyên ở trên.

Đây là tượng Lửa vũ trụ Càn.

4. Hình tháp nhọn hình delta kép giới hạn bởi hai nọc nhọn (^) lồng vào nhau, ở giữa phụ đề các chấm nọc lửa, bụi đất là biểu tượng cho núi nhọn đỉnh, núi tháp, núi đá, núi lửa, núi dương Li.

Đây là tượng lửa thế gian Đất dương Li. Anh ngữ pyramid, kim tự tháp có gốc pyro-, lửa có một khuôn mặt lửa thế gian Li.

Tóm lại hình thái này diễn tả Tứ Tượng. Đây là hình thái Tứ Tượng chứ không phải họa tiết “lông công”.

Hình thái tứ tượng này cho biết không gian mặt trời mang tính sinh tạo lưỡng hợp hai ngành nòng nọc, âm dương.

Lưu Ý

Cần phải ghi tâm điểm mấu chốt quan trọng này: các chữ viết nòng nọc vòng tròn-que, hình ngữ nòng nọc ở khoảng không gian giữa các nọc tia sáng cho biết trống là trống mang ý nghĩa Vũ Trụ luận gồm lưỡng nghi âm dương tứ tượng trọn vẹn hay không, dưới dạng lưỡng hợp nào, liên bang nào, ngành, nhánh nào, có mặt bao nhiêu tượng, bao nhiêu tộc và tượng hay tộc nào mang tính chủ, mang tính trội. Ở trống Ngọc Lũ I này như đã thấy những chữ nòng nọc ở khoảng không gian có hình thái  tứ tượng mang trọn ý nghĩa vũ trụ tạo sinh của cả họ, ngành mặt trời thái dương.

c- Những Vành Sinh Tạo

Trống có những vành sinh tạo ứng với tứ hành bao quanh mặt trời-không gian, có ba vành vận hành sinh tạo:

 

                   Vành tứ hành trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I

-vành trong cùng sát mặt trời là vành vòng tròn và chấm. Vì nằm sát mặt trời mang dương tính nên phải đọc nọc dương (.)  trước vòng nòng (O) tức nọc chấm-vòng tròn (. O). Nọc chấm là dạng nọc nguyên thể của nọc que nên ta có: nọc chấm-vòng tròn (. O)  = IO, tức thiếu âm (khuôn mặt dương I của ngành nòng O). Tóm lại vành chấm  vòng tròn ở trong cùng sát mặt trời là vành thiếu âm, nguyên thể của gió dương thế gian Đoài.

-Vành phía ngoài cùng cũng giống như vành vừa nói nhưng vì nằm ngoài xa mặt trời nên mang âm tính, phải đọc vòng nòng O trước tức vòng tròn-chấm tức OI, thiếu dương (khuôn mặt âm O của ngành nọc I) nguyên thể của lửa thế gian tức đất dương Li.

Tóm lại vành chấm vòng tròn ở ngoài cùng là vành thiếu dương, Lửa thế gian Đất dương Li.

-Hai vành này kẹp ở giữa vành hai chữ S gẫy ba khúc ôm nhau. Chữ S gẫy nhỏ nét mang dương tính diễn tả lửa vũ trụ. Chữ S gẫy này có ba khúc tức ba hào dương ghép lại, tức III, quẻ Càn Lửa vũ trụ. Ta cũng thấy chữ S gẫy ba khúc là một dạng của tia chớp, lửa vũ trụ. Ngày nay chữ S gẫy ba khúc dùng làm biểu tượng cho điện cao thế.

Chữ S gẫy ba khúc tức ba nọc III, ba hào dương biểu tượng cho lửa vũ trụ Càn, tia chớp, điện cao thế.

Chữ S mập phần giữa to nét mang âm tính thái âm diễn tả nước chuyển động mang dương tính, lửa. Phần mập ở giữa là giọt nước chuyển động thể điệu hóa và hai nọc nhọn ở hai đầu giọt nước mang nghĩa, lửa thái dương.

Như thế chữ S mập diễn tả nước OO dương I tức IOO, Chấn.

Vậy vành này diễn tả Càn-Chấn ôm nhau dưới dạng hôn phối sinh động, sinh tạo năng động. Đây là dạng lưỡng hợp thái dương thái âm ở cõi đại vũ trụ, tạo hóa. Trong khi hai vành vòng tròn có chấm Li và chấm vòng tròn Đoài là dạng lưỡng hợp thiếu dương, thiếu âm ở cõi tiểu vũ trụ, thế gian.

Các vành sinh tạo này cũng diễn tả tứ tượng. Hình thái tứ tượng ở  các vành này diễn tả tứ tượng ở dạng chuyển động, vận hành, sinh động, năng động nên là tứ hành, trong khi đó hình thái  tứ tượng ở các khoảng không gian giữa tia sáng ở dạng tĩnh chỉ mang nghĩa biểu tượng.

Tổng quát

Ở cõi trên, trống đồng âm dương Ngọc Lũ I có 14 nọc tia sáng có bốn khuôn mặt Càn/Tốn, Chấn/Tốn dưới dạng lưỡng hợp thái dương thái âm đại vũ trụ và Li/Tốn với Đoài/Tốn ở dạng lưỡng hợp  thiếu dương thiếu âm tiểu vũ trụ.

Mặt trời không gian có vỏ không gian vừa nét mang tính nòng nọc, âm dương đề huề, có khoảng không gian giữa tia sáng có hình thái tứ tượngcác vành tứ hành cho thấy trống này có một khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa.

Trống mang trọn vẹn ý nghĩa của Vũ Trụ Tạo Sinh trong Vũ Trụ giáo.

Đối chiếu với truyền thuyết Việt là dạng lưỡng hợp của hai ngành nọc dương và âm thái dương Viêm Đế-Thần Nông thái dương, có khuôn mặt chính là lưỡng hợp tiểu vũ trụ Đế-Nông (vì là trống có mặt trời thế gian và có hai vành sóng Li-Đoài ở biên trống).

Đối chiếu với cổ sử Việt là dạng lưỡng hợp của ngành nọc dương và nọc âm thái dương của chủng người Việt mặt trời thái dương rạng ngời Bách Việt.

(còn tiếp).

Theme: Silver is the New Black. Blog at WordPress.com.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.