Bac Si Nguyen Xuan Quang’s Blog

February 25, 2011

MỘT CHƯƠNG SỬ ĐỒNG…

Filed under: Một Chương Sử Đồng — Quang Nguyen @ 7:38 am

MỘT CHƯƠNG SỬ ĐỒNG VIẾT VỀ ĐẠI TỘC VIỆT NGƯỜI MẶT TRỜI.

Nguyễn Xuân Quang

 

Qua tác phẩm Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á ta đã biết trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn là một bộ sử đồng của Đại Tộc Việt. Hôm nay xin nói về một chương sử đồng là chiếc trống đồng Quảng Xương đã ‘viết” về Đại Tộc Việt Người Mặt Trời, con cháu của Trăm Lang Hùng  Mặt Trời, của Hùng Vương Mặt Trời dòng thần mặt trời Viêm Đế-Thần Nông.

Tổng quát

.Trống có một nghĩa là đực, nọc nên trống được dùng làm trống biểu của Hùng Vương (Hùng có một nghĩa là Trống, nọc, đực, mặt trời) của Đại Tộc Việt (Việt có một nghĩa là rìu, vật nhọn, nọc, trống). Trống đồng hở đáy nòng nọc, âm dương chính là trống biểu của Hùng Vương lưỡng hợp (xem Trống Đồng Là Trống Biểu Của Hùng Vương trong bacsinguyenxuanquang.wordpress.com).

Trống Quảng Xương (Nguyễn Văn Huyên).

.Họ: trống Quảng Xương thuộc họ mặt trời hừng rạng, rạng ngời có tia sáng nọc mũi mác.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, đây là trống biểu của họ Hồng Bàng có một khuôn mặt là  họ mặt trời thái dương. Theo duy dương, họ Hồng Bàng có một nghĩa là Họ Đỏ, Họ Mặt Trời. Họ Hồng Bàng thế gian kể từ Kì Dương Vương trở xuống, nhìn theo diện nòng nọc, âm dương chỉ gồm có Kì Dương Vương ( Kì Việt thuộc ngành Viêm Đế) và Lạc Long Quân (Lạc Việt thuộc ngành Thần Nông), còn Hùng Vương là những vua của lịch sử. Đế Minh là cháu ba đời thần mặt trời Viêm Đế thì Kì Dương Vương và Lạc Long Quân cũng thuộc dòng mặt trời Viêm Đế hiển nhiên họ Hồng Bàng trăm phần trăm có một khuôn mặt là Họ Mặt Trời.

.Ngành: hai vành nọc răng lược ở biên trống cho biết trống thuộc ngành âm thái dương, khác với trống đồng âm dương Hoàng Hạ cũng là trống càn-khôn nhưng thuộc ngành dương thái dương vì có sự hiện diện của hai vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói).

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, đây là ngành mặt trời âm thái dương phía Thần Nông thị.

.Nhánh: mặt trời có tia sáng hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) nhọn, sắc ứng với nhánh nọc, lửa, nọc nhọn, rìu nhọn tức nhánh rạng ngời.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, đây là nhánh Việt mặt trời rạng ngời (Việt có một nghĩa là rìu tức là một thứ vật nhọn, nọc lửa, nọc dương, mặt trời).

.Đại tộc: khối lửa mặt trời hình cầu gai chói lọi không thấy đĩa tròn ứng với đại tộc thái dương.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, đây là đại tộc thái dương ngành âm.

.Dạng lưỡng hợp nòng nọc, âm dương thấy qua sự kiện là trống hở đáy, mặt trời-không gian ở tâm trống và tia sáng số chẵn âm đi với mặt trời dương.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, dạng lưỡng hợp nòng nọc, âm dương, lửa-nước ứng với Chim-Rắn, Viêm Đế-Thần Nông, Đế Minh-Long Vương, Kì Dương Vương-Thần Long, Lạc Long Quân-Âu Cơ, Tiên-Rồng, Hùng Lang, Hùng Vương lưỡng hợp hai ngành núi-biển…

.Trống Nấm Vũ Trụ: trống có hình Cây Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I) gồm đủ cả ba cõi, Tam Thế mang trọn vẹn ý nghĩa vũ trụ luận.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, trống này mang trọn vẹn cốt lõi văn hóa Việt dựa trên nòng nọc, âm dương nền tảng của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo.

  1. Mặt trống

Nhìn tổng thể, trống “mát dịu” mang âm tính của ngành nòng âm thái dương. Các vành giới hạn là các vành trống không Khôn và nhiều vành sọc đứng răng lược Khôn thái dương cho biết trống có một khuôn mặt nòng âm Khôn mang tính chủ.

Trống có 7 vành nên trống có một khuôn mặt là trống Càn (số 7 là Càn tầng 1) hôn phối với Khôn. Như thế trống có một khuôn mặt là trống Khôn-Càn, vũ trụ.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, đây là trống tạo hóa càn-khôn thuộc ngành mặt trời âm thái dương ngành Thần Nông.

  1. Cõi Trên, Thượng Thế

Thượng Thế theo nguyên tắc là phần ở tâm trống biểu tượng cho cõi trên chiếu xuống tâm trống hay là phần cõi trên đập dẹp xuống để làm mặt trống. Trống này có mặt trời 8 nọc tia sáng là trống thế gian (xin nhắc lại trống có mặt trời có số tia sáng bằng hay nhỏ hơn 7 là trống vũ trụ) nên tâm trống cũng mang một khuôn mặt cõi trên tức bầu trời của thế gian. Như thế phần tâm trống có thể coi như là mang hai khuôn mặt: một là cõi trên càn khôn, vũ trụ (đại vũ trụ, tạo hóa) chiếu xuống, hai là khuôn mặt cõi trên bầu trời thế gian (tiểu vũ trụ, cõi nhân sinh).

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, tâm trống biểu tượng cho bọc Trứng Vũ Trụ và cũng biểu tượng cho bọc Trứng Thế Gian sinh tạo càn-khôn của các Lang Hùng (đội lốt bọc Trứng Vũ Trụ).

Cõi trên Thượng Thế lại chia ra bốn tầng: vô cực, thái cực, lưỡng nghi, tứ tượng/tứ hành.

a. Vô Cực

Vành bao quanh đầu tia sáng là vành trống không có một khuôn mặt biểu tượng cho hư vô, vô cực.

b. Thái Cực: bọc Trứng Vũ Trụ.

Gồm mặt trời 8 nọc tia sáng và các khoảng không gian giữa các tia sáng mặt trời có sọc song song diễn tả không gian.

Như vừa nói, vỏ Trứng Vũ Trụ là một vành trống không do hai vòng tròn có nét rất nhỏ và rất sáng mang dương tính lửa. Vỏ này cho biết hư không, không gian, Trứng Vũ Trụ có một khuôn mặt Khôn thái dương mang tính chủ.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, vỏ bọc trứng Thế Gian đội lốt bọc Trứng Vũ Trụ có khuôn mặt Khôn dương mang tính chủ vì bọc trứng chỉ sinh ra một trăm trứng Lang Hùng (toàn là con trai, mặt trời tức hoàn toàn dương).

b. Lưỡng nghi:

-Cực dương:

Mặt trời thuộc họ mặt trời rạng ngời, ngành nọc chói chang, đại tộc thái dương. Mặt trời có khối lửa cầu gai chói chang và nọc tia sáng nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) là mặt trời nọc thái dương. Mặt trời có 8 nọc tia sáng. Số 8 là số Khôn thế gian (trong 8 chuỗi hay 8 tầng của 64 quẻ của Dịch những số Khôn là 0, 8,16, 24, 32, 40, 48, 56. Những số Khôn trong Dịch có giá trị Khôn như nhau chỉ khác ở tính chất sinh tạo tùy theo ở tầng nào của Dịch ví dụ 0=32 như ta thấy rất rõ trong nhiệt học 0 độ bách phân Celcius = 32 độ Farenheit). Vậy mặt trời có khối sáng không thấy đĩa tròn hình cầu gai Càn đi với số Khôn 8 nọc tia sáng nọc mũi tên là mặt trời Càn-Khôn thế gian.

Vậy trống này là trống có mặt trời Khôn Càn âm thái dương (diễn tả bằng hai vành “răng lược” ở biên trống).

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, mặt trời có 8 nọc tia sáng là mặt trời sinh tạo, tạo hóa, càn-khôn là một khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa của các Lang Hùng, Hùng Vương có khuôn mặt ngành âm thái dương Thần Nông mang tính trội.

-Cực âm:

.Không gian

Cực âm là không gian chứa mặt trời. Như đã nói vỏ không gian (cùng chung với vỏ Trứng Vũ Trụ) ở đây là một vành trống không do hai vòng tròn có nét rất nhỏ và rất sáng mang dương tính lửa. Vỏ này cho biết bọc hư không, không gian, Trứng Vũ Trụ có một khuôn mặt hư không, không gian mang tính thái dương.

Bản chất không gian thường được diễn tả bởi các hình thái ở các khoảng không gian giữa các tia sáng. Ở đây khoảng không gian do hai nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) lồng vào nhau tạo thành có hình núi tháp nhọn delta trong có những hình sọc song song nghiêng về phía phải chiều dương, lửa. Đây là những hình thái núi tháp Li cho biết không gian, bầu trời có một khuôn mặt là bầu trời, không gian của cõi đất thế gian Li (xem phần Ý Nghĩa Hình Không Gian Trên Trống Đồng).

Ta thấy rõ Thượng Thế ở tâm trống là mặt trời Lửa vũ trụ Càn-không gian Khôn với khuôn mặt thế gian Lửa đất Li đội lốt Càn mang tính chủ. Theo lưỡng hợp nòng nọc, âm dương ở cõi tạo hóa đại vũ trụ là lưỡng hợp thái âm-thái dương Rắn nước-Chim lửa, Chấn Nước-Càn Lửa ngành mặt trời thái dương. Ở cõi tiểu vũ trụ là lưỡng hợp thiếu âm Đoài Khí Gió-thiếu dương Li Đất dương.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, Thượng Thế diễn tả khuôn mặt lưỡng hợp mặt trời-không gian sinh tạo, tạo hóa ở cõi đại vũ trụ Viêm Đế-Thần Nông và càn-khôn, Tiên-Rồng ở cõi trời thế gian tiểu vũ trụ của các Lang Hùng, Hùng Vương.

c- Những Vành Sinh Tạo

ao quanh vành mặt trời-không gian là hai vành “hoa văn” chữ viết nòng nọc vòng tròn-que. Hai vành này ở dạng chuyển động theo vòng tròn mang tính vận hành, sinh động tức sinh tạo.

Ở trống này không diễn tả tứ tượng, tứ hành trọn vẹn của Vũ Trụ Tạo Sinh mà chỉ diễn tả sự sinh tạo của một đại tộc mặt trời tức trống này là trống biểu của một đại tộc không phải của một họ như trống đồng âm dương  Hoàng Hạ, Ngọc Lũ I.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, trống này chỉ điễn tả đại tộc ngành mặt trời thái dương tức chỉ diễn tả phần dương, mặt trời của Trứng Vũ Trụ tức chỉ diễn tả ngành mặt trời- Lang Hùng đúng như truyền thuyết nói “bọc trứng sinh ra toàn là con trai” (ở đây giống  như truyền thuyết đã để qua một bên ngành nòng thái dương của các mẹ nàng, con gái Hùng Vương thuộc phần tròng trong của Trứng Vũ Trụ).

Ở đây chỉ có hai vành, một vành chấm-vòng tròn có tiếp tuyến và một vành răng lược. Vành chấm-vòng tròn có tiếp tuyến có nhiều nghĩa. Nếu lấy theo nghĩa trống này là trống Khôn Càn, Chấn Càn ở cõi tạo hóa, sinh tạo thì phải hiểu theo dưới dạng nhất thể nghĩa là chấm-vòng tròn mang nghĩa nòng nọc, âm dương sinh tạo, tạo hóa chuyển hành Nước dương Chấn-Lửa dương Càn ở cõi đại vũ trụ.

Vành này đi cùng vành nọc răng lược mang nghĩa không gian nòng, âm thái dương. Hai vành này có nghĩa là Khôn-Càn tạo hóa ngành nòng âm thái dương. Nếu nhìn dưới lăng kính tiểu vũ trụ, thì vành vòng tròn có chầm có tiếp tuyến (ở đây hiểu theo nghĩa vận hành) là vành thiếu âm Đoài Khí Gió-thiếu dương Li Đất lửa. Như vậy hai vành này có nghĩa là thiếu âm Đoài-thiếu dương Li sinh tạo vận hành ngành nòng âm thái dương.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, hai vành này diễn tả lưỡng hợp nòng nọc, âm dương chim-rắn ở cõi đại vũ trụ và Tiên-Rồng ở cõi thế gian.

Tổng quát ở cõi trên, trống Quảng Xương là trống Càn/Khôn thế gian có mặt trời 8 nọc tia sáng. Mặt trời Càn-không gian Khôn ở tâm trống là lưỡng hợp mặt trời-không gian, trụ-vũ, Càn-Khôn diễn tả theo chữ viết nòng nọc vòng tròn-que là vòng tròn có chấm.

Đây chính là bọc trứng Lang Hùng, là khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa, lưỡng hợp của Lang Hùng ở ngành dương. Nếu hiểu theo duy dương họ mặt trời thì là mặt trời sinh tạo, tạo hóa. Chữ chấm vòng tròn chính là linh tự Ra của Ai Cập cổ có một nghĩa là mặt trời tạo hóa (Sun as Creator). Ở đây là khuôn mặt mặt trời tạo hóa ở cõi vũ trụ của Hùng Vương. Hùng Vương thế gian, lịch sử đội lốt tạo hóa.

Vì trống có mặt trời Càn-không gian Khôn, vũ trụ lưỡng hợp nên theo duy dương chính là bản thể của Lang Hùng gồm có hai nhánh nòng nọc, âm dương của ngành dương, con trai Lang. Nhánh Chim, Lửa, Núi theo Mẹ Tổ Âu Cơ  và nhánh Rắn, Nước, đất âm, sông biển theo Cha Lạc Long Quân.

B. Cõi Giữa, Trung Thế.

Trung Thế là cõi giữa nhân thế gồm có vùng đất và vùng nước. Vùng đất là phần mặt trống còn lại và vùng nước là tang trống.

-Vùng Đất.

Trống này có mặt trời 8 nọc tia sáng là trống thế gian nên vành 3 chủ đạo diễn tả cảnh sinh hoạt nhân sinh trên mặt đất.

.Người

Giữa hai ngôi nhà mỗi bên có hai nhóm người nhẩy múa.

Người trên trống Quảng Xương (nguồn Nguyễn Văn Huyên).

Cả hai nhóm có trang phục đầu đều có chữ nọc chấm-vòng tròn trông như con mắt. Lưu ý ta thấy rõ ở một số người quanh hình nọc chấm-vòng tròn có những tia sáng tỏa ra và cả ở những vật biểu cầm ở tay cũng vậy. Do đó đây là những Người Mặt Trời rạng ngời.

Trăm phần trăm những người này là những Người Mặt Trời rạng ngời.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt những Người Mặt Trời rạng ngời này là Người Mặt Trời, con cháu của thần mặt trời Viêm Đế-Thần Nông, là Người Mặt Trời Xích Quỉ con dân của Kì Dương Vương, là những Lang mặt trời, những Hùng Vương mặt trời, là Người Việt Mặt Trời Rạng Ngời con dân của Hùng Vương mặt trời.

Những người này trông rất trai tráng vạm vỡ mang dương tính trai trẻ, thanh niên thuộc tộc mặt trời mới mọc, buổi sáng.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, những người mặt trời trai tráng này mang hình ảnh của các Lang, các Hùng mặt trời trai trẻ.

Mỗi nhóm có 4 người tay cầm vật biểu thể điệu hóa cũng có con mắt dương hình nọc chấm-vòng tròn tỏa rạng tia sáng. Người chia ra làm hai tộc: một tộc người có mặc váy và tộc người kia trần truồng.

-Tộc mặc váy xòe ra hai bên

Tộc người mặc váy xòe ra hai bên hình cánh chim, đầu đội trang phục đầu có hình đầu chim có mỏ rất lớn, rất cường điệu và có mũ sừng mang hình ảnh của chim cắt, chim rìu, chim Việt. Đây chính là tộc người thuộc tộc lửa, đất, vùng đất cao, tộc chim.

Tộc người Chim, Lửa, Mặt Trời-Lửa.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, tộc người Lửa-Chim cắt có mũ sừng này là nhánh 50 Lang lên núi theo Mẹ Tổ Âu Cơ Chim Lửa, là người Viêm Việt (Viêm hiểu theo nghĩa Lửa, mặt trời thái dương) thuộc ngành Lửa, mặt trời thái dương Viêm Đế có chim biểu là chim cắt, chim rìu, chim Việt.

-Tộc người trần truồng

Tộc người trần truồng thuộc tộc nước, tộc rắn (vì ở dưới nước nên trần truồng). Tộc nước  này cũng thấy ở hai người trần truồng ở trên hai con thuyền trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I.

Tộc người trần truồng Nước, Rắn, Mặt Trời-Nước.

Giải dài buông xuống phía sau trang phục đầu hình dòng nước chẩy giữa hai viền bờ tô đậm. Hai viền bờ trông rất kiên cố như be bờ cản không cho nước tràn ra, trông như một dòng nước từ trên cao, trên trời, trên núi, trên nguồn chẩy xuống thành thác, thành suối thành sông chảy ra biển. Phần trên trang phuc đầu là hình đầu rắn có sừng và có bờm. Cả trang phục đầu có thể diễn tả hình rắn nọc (có sừng) trông như dải dây, tiếng cổ gọi là con dải, thể điệu hóa biểu tượng cho nước dương chuyển động, mặt trời-nước.

Rắn có sừng tức rắn Việt (di thể sừng truyền từ di thể họ Khương sừng của Viêm Đế) và thân hình dải sau này thần thoại hóa thành thuồng luồng, rồng Việt. Ngày nay múa “giảo long”, múa rồng rắn thường có đầu rồng rắn Việt có sừng và thân đuôi là cái dải dài.

Dù gì đi nữa thì duy chỉ yếu tố ở trần truồng cũng đủ cho biết đây là tộc nước, tộc mặt trời-nước.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, đây tộc người nhánh 50 Lang xuống biển theo Cha Lạc Long Quân Rắn-Nước ngành mặt trời âm thái dương Thần Nông có thú biểu thái âm là rắn nước và có thú biểu thái dương là rắn có bờm, có sừng, rắn Việt.

Thêm vào đó tên những người này cũng được “xâm” lên người. Ta thấy rõ trên người có những chữ nọc que (ở những người nước trần truồng chữ được viết trên lưng hay ở bên cạnh sườn tức phía âm, trong khi ở những người chim, chữ nọc que được viết ở trước ngực tức phía dương). Nọc que mang nghĩa bộ phận sinh dục nam, đực (Hùng), con trai (Lang), dương (có một nghĩa là mặt trời), vật nhọn (Việt)… Chữ nọc que cho biết những người này là người nọc dương mặt trời, là những Lang, những người Việt mặt rạng người.

Tóm tắt, đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, người trên trống Quảng Xương là Người Mặt Trời gồm hai nhánh chim-rắn, Tiên Rồng của Lang Hùng, Hùng Vương, Đại Tộc Việt-Người Mặt Trời rạng ngời dòng mặt trời Viêm Đế-Thần Nông thái dương.

Ngoài ra tay những người này cầm những vật biểu mà đa số các nhà khảo cổ học cho là hình người đã thể điệu hóa hoàn toàn thành hình chim. Tôi cho là vật biểu vì thật ra trong các hình này cũng có những hình rắn thể điệu hóa chứ không phải hoàn toàn là hình chim. Những vật này là vật biểu của hai ngành chim-rắn. Vật biểu rắn này thấy rất rõ ở những hình vật biểu ở trên thuyền (xem dưới).

.Nhà

Trống chỉ có hai căn nhà nọc mái có mũi đao, cọc nhọn, không có nhà nò

ng mái vòm. Như thế trống này là trống biểu của phía nọc nam.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, đây rõ như ban ngày là trống biểu của 100 Lang Hùng (bọc trứng chỉ sinh ra một trăm con trai) không có con gái Mẹ Nàng nên chỉ có nhà nọc mặt trời mà không có nhà nòng mái vòm không gian như thường thấy cả hai loại nhà ở trên các trống khác.

Nhà nọc ở đây có hình ‘hình trụ’, bốn đầu mái cong mũi đao, hình nọc nhọn đúng là diễn tả nhà nọc ngành mặt trời trăm phần trăm. Mái nhà lõm cong hình thuyền, hình trăng lưỡi liềm, hình sừng trâu mang âm tính cho biết thuộc dòng Khôn âm thái dương.

* Cần lưu tâm nhà hình tháp trụ mái lõm này khác với tháp bút đầu nhọn mang dương tính biểu tượng Càn dương thái dương.

Một điểm đặc biệt quan trọng nhất và thấy rõ nhất so với tất cả các ngôi nhà nọc trên những trống đồng âm dương khác là nhà ở trống này có các hình mặt trời ở hai bên cửa.

Nhà nọc mặt trời thái dương.

Ở đây hiển nhiên ngôi nhà nọc là nhà mặt trời, thờ phượng mặt trời.

Hai căn nhà này là di duệ của những căn nhà nọc trên những trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn cổ đại hơn trống Quảng Xương. Nhà nọc mặt trời trên trống Quảng Xương cho thấy rõ các ngôi nhà nọc ở các trống cổ mặc dù không có hình mặt trời cũng là những ngôi nhà mặt trời, thờ phượng mặt trời.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, đây là những ngôi nhà nọc, nhà mặt trời, thờ phượng mặt trời có di duệ là những nhà lang của người Mường, nhà đình của chúng ta, nhà phái nam ngày nay. Nhà lang, đình là nhà phái nam, nhà dương, nhà thờ mặt trời.

Tóm lại nhà trên trống Quảng Xương nói chung là nhà nọc thờ mặt trời của đại tộc mặt trời thái dương với ngành âm thái dương mang tính chủ.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt  là những nhà nọc mặt trời thờ thần mặt trời Viêm Đế-Thần Nông (với ngành âm thái dương Thần Nông mang tính chủ) của hai nhánh Chim Lửa, Núi Âu Cơ và Rắn Nước, Biển Lạc Long Quân của Hùng Lang, của Người Việt Mặt Trời rạng ngời.

Lưu ý những trống chỉ có nhà nọc như trống Quảng Xương này chỉ là trống biểu của một đại tộc và những trống đồng có đủ cả nhà nòng và nhà nọc như trống Ngọc Lũ I, Hoàng Hạ là những trống đồng mang ý nghĩa biểu tượng lưỡng hợp âm dương biểu tượng cho cả họ.

Những ngôi nhà mặt trời này cũng xác quyết một cách kiên cố thêm rằng những người có hình mặt trời sinh tạo nọc chấm-vòng tròn có tia sáng tỏa rạng trên mặt là những Người Mặt Trời (The People of the Sun) trăm phần trăm. Đây chính là Người Mặt Trời Xích Quỉ dòng thần mặt trời Viêm Đế. Lang Hùng là Lang Mặt Trời. Hùng Vương là vua Mặt Trời. Người Việt là Người Mặt Trời thái dương rạng ngời.

.Chim

Vành 4 của trống Quảng Xương có vành 6 chim bay theo chiều ngược với kim đồng hồ, theo chiều mặt trời. Đây là trống mặt trời thế gian có 8 nọc tia sáng nên vành cò bay biểu tượng cho bầu trời thế gian. Ta đã biết cò là chim biểu của khí gió, bầu trời thế gian.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, cò là chim biểu của Hùng Vương có một khuôn mặt bầu trời thế gian, đội lốt bầu vũ trụ tạo hóa, sinh tạo. Vành cò bay cho biết trống thuộc đại tộc Cò Gió Bạch Hạc, Phong Châu, Hùng Vương.

Sáu con cò với số 6 là số Tốn gió âm tầng 1 vũ trụ, bầu trời. Số 6 là lão âm, sinh tạo, số thành.  Trong một thứ Dịch, Tốn (số 6) hôn phối với Chấn (số 9). Gió âm Tốn kết hợp với sấm Chấn tạo ra bão sấm (thunder storm).

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, khuôn mặt sinh tạo Tốn số 6 (bầu trời đẻ ra bọc trứng thế gian) của Âu Cơ Tốn hôn phối với khuôn mặt sấm Lạc Long Quân Chấn số 9 đẻ ra Hùng Lang, Hùng Vương có bản thể khí gió, bầu vũ trụ, bầu trời ứng với Khí gió dương Đoài số 3. Ta đã biết ma phương có số trục 3, 6, 9 đều có tổng số các chi số là 18, mã số DNA của Hùng Vương (xem bài viết Mã Số DNA của Hùng Vương).

Như thế 6 con cò bay mang trọn biểu tượng cho Hùng Lang, Hùng Vương.

Cò gió trên trống Quảng Xương.

Thật vậy cò có mỏ thon dài thanh tao mang tính dương của âm tức thiếu âm khí gió. Bờm bay thẳng hàng với mỏ gợi hình gió thổi mạnh như mũi tên bay trong gió, lướt gió. Cánh có những sọc ngang không gian và các chấm nọc dương tức Khôn dương khí gió.

Tóm lại 6 cò bay cho biết trống thuộc đại tộc Cò Gió thế gian thuộc họ nhà Bạch Hạc, Cò bầu trời sinh tạo thế gian Hùng Vương.

.Những Vành Biên Trống

Biên trống có ba vành số 5,6,7.

Vành 6 là vành vòng tròn có chấm có tiếp tuyến vận hành có cùng ý nghĩa như vành số 1.

Vành 5 và 7 là hai vành nọc răng lược cho biết trống thuộc ngành âm thái dương.

Nếu nhìn dưới diện duy dương của ngành mặt trời, tức xem vành sóng vòng tròn có nọc chấm (mặt trời sinh tạo) có tiếp tuyến kết thành hình sóng mang nghĩa chuyển hành thì ba vành này mang nghĩa là mặt trời chuyển hành sinh tạo-không gian âm thái dương. Tức một dạng lưỡng hợp sinh tạo, tạo hóa.

-Vùng Nước Tang Trống

Trống Quảng Xương, nhìn ngang (Nguyễn Văn Huyên).

Phần trên tang trống có hai vành chấm-vòng tròn có tiếp tuyến và vành răng lược như trên mặt trống.

Chủ thể của tang trống là những hình thuyền. Có sáu hình thuyền.

Thuyền trên trống Quảng Xương (Nguyễn Văn Huyên).

Rất tiếc chỉ có hình vẽ chi tiết một chiếc thuyền, còn năm thuyền kia không biết ra sao. Theo hình vẽ này, thuyền đã thể điệu hóa cùng cực (extremely stylized) tương tự như các thuyền trên trống Hữu Chung làm muộn về sau, chỉ khác biệt về vài chi tiết.

Thuyền hình rắn nước. Đầu thuyền hình đầu rắn nước có bờm chim. Tôi gọi là rắn-chim nhất thể.

Dạng rắn-chim nhất thể ở đây là dạng thể điệu hóa, thần thoại hóa của dạng lưỡng hợp Chim-Rắn tức là dạng muộn (trống Quảng Xương thuộc loại trống đã hơi muộn). Dạng này khác với dạng lưỡng hợp còn ở dạng riêng rẽ là chim dương, lửa mỏ rìu nằm trong miệng rắn nước thấy ở các đầu thuyền trên Ngọc Lũ I và các trống họ hàng. Ở đây, chim bây giờ thể điệu hóa biến thành hình bờm chim gắn vào đầu rắn nước. Đầu linh thú nước có bờm chim ở đầu thuyền ở đây cũng mang biểu tượng Lưỡng Hợp Chim-Rắn nhưng ở dưới dạng nhất thể (thái cực).

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, là dạng lưỡng hợp Âu Cơ-Lạc Long Quân, nhưng nòng nọc, âm dương rắn-chim còn quyện vào nhau dưới dạng Trứng Vũ Trụ, Thái Cực. Vì có mang di thể  kết hợp Trứng Vũ Trụ này mà Mẹ Tổ Âu Cơ đẻ ra bọc Trứng Thế Gian sinh tạo Lang Hùng.

Đây chính là hình ảnh Rắn-Lông Chim Quetzal Coatl của Aztec và Kukucan của Maya. Tôi đã chứng minh là có sự tương đồng giữa truyền thuyết và cổ sử Việt với Aztec và Maya (xem các bài viết này). Chỉ xin nhắc lại Aztec có nghĩa là Người Cò (Heron People). Ta thấy rất rõ Người Cò Aztec liên hệ với người Việt con cháu của Hùng Vương có một khuôn mặt biểu tượng là Cò (Bạch Hạc) mà sử đồng của đại tộc Đông Sơn còn cho thấy hầu hết trên các trống đều có hình cò bay. Truyền thuyết của người Aztec cũng có một vị thần tổ là một người già râu dài khi chia tay thần hẹn sẽ trở về cứu giúp họ khi họ gặp nguy khốn. Truyền thuyết này cũng giống như truyền thuyết Lạc Long Quân của chúng ta. Lúc chia tay Lạc Long Quân hẹn sẽ trở về cứu giúp các con khi nào các con gặp nguy khốn. Đế quốc Aztec vì truyền thuyết này mà bị sụp đổ vào tay viễn chinh Tây Ban Nha Hernandez Cortes, dưới tay ông ta chỉ có mấy chục người (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Aztec là tộc Cò thiếu âm còn Maya là tộc thái âm (Maya có một nghĩa là Không, Mẹ). DNA đã chứng minh Maya có cùng nhóm di thể với người Việt (xem Sự Tương Đồng Giữa Cổ Việt và Maya). Dựa vào hình rắn bờm lông chim Rồng Tiên ở đây sẽ giúp cho các nhà Aztec, Maya học hiểu rõ thêm và diễn giải đúng đắn hơn về Rắn Lông Chim Quetzal Coatl và Kukucan. Hiện nay hai vật tổ này đều được giải thích chưa tới và sai lệch. Ta thấy rõ người Cò Aztec có vật tổ Rắn-Lông Chim Quetzal Coatl ứng với Rắn-Chim Rồng-Tiên Lạc Long Quân-Âu Cơ.

Người Việt Nam con cháu Hùng Vương có biểu tượng Cò còn ghi khắc trên hầu hết các trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. Hùng Vương thuộc dòng giống Rắn-Chim Rồng-Tiên Lạc Long Quân-Âu Cơ thấy rõ qua hình Chim-Rắn Tiên Rồng ở đầu mũi thuyền ở trống Quảng Xuyên này.

*Lưu ý

Người Aztec thờ mặt trời và tự xưng là Người Mặt Trời “The People of the Sun” thì chúng ta Đại Tộc Việt là Người Mặt Trời là chuyện tất nhiên.

Đuôi thuyền có hình chim bồ cắt có mũ sừng và bánh lái có hình chim bổ nông có bờm gió. Đây là dạng lưỡng hợp thiếu dương bồ cắt với thiếu âm bổ nông, dạng lưỡng hợp nòng nọc, âm dương ở tiểu vũ trụ (thiếu là tiểu).

Người có mặt hình lục giác biểu tượng cho hư không, không gian sinh tạo giống như các trống hình lục giác để trên trụ cao biểu tượng cho Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) (hình lục giác là khuôn mặt sinh tạo dương của hình tròn O, số 6 là số thành, sinh thành). Giữa mặt không gian lục giác có chữ nọc chấm-vòng tròn mặt trời giống như con mắt. Người này có mặt là mặt trời-không gian, vũ trụ sinh tạo ứng với Lang Hùng.

Những người ở thuyền này mặc váy hình hai cánh chim xòe ra và trang phục đầu hình đầu chim cắt có mũ sừng thể điệu hóa thuộc tộc Lửa-Chim Âu Cơ. Đặc biệt là những người tộc chim này trên người có đánh dấu các chấm nọc (biến thể thành những gạch nhỏ) dương, lửa, mặt trời  thay vì chữ nọc que cho biết rõ họ là người tộc lửa, mặt trời sinh tạo (chấm nọc là dạng nguyên tạo của nọc que) ứng với các Lang Hùng có một khuôn mặt sinh tạo.

Có thể ở các con thuyền khác có những người trần truồng thuộc tộc Nước-Rắn Lạc Long Quân (rất tiếc không có hình vẽ).

Hai người mặt trời trên thuyền này tay cầm những vật biểu có hình rắn thể điệu hóa có thân uốn cong chữ S (hình vật biểu giống hình đầu rắn-chim ở mũi thuyền ở bên trái của người đứng ở phía đuôi) và hình chim thể điệu hóa (hình bên phải). Đây là những vật biểu Chim-Rắn Tiên-Rồng (không phải hoàn toàn là những người chim thể điệu hóa như các nhà khảo cổ học hiện nay cho là vậy). Trăm phần trăm những người trên thuyền có mũi thuyền Rắn-Chim Rồng-Tiên này là con Rồng cháu Tiên.

Tóm lại

Đầu thuyền lưỡng hợp chim lửa-rắn nước nhất thể thái dương-thái âm (đã bắt đầu thần thoại hóa) ở cõi đại vũ trụ và đuôi thuyền lưỡng hợp chim bồ cắt-chim bổ nông, thiếu dương-thiều âm ở cõi tiểu vũ trụ, người mặt trời-không gian, hình vật biểu chim rắn mà hai người đang cầm ăn khớp hoàn toàn với Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, cốt lõi văn hóa của Đại Tộc Việt, với Viêm Đế-Thần Nông, chim rắn, Tiên Rồng, hai nhánh Lang Hùng, Hùng Vương, với Âu-Lạc của Đại Tộc Việt Việt.

Ngoài ra ta cũng thấy các vật tổ chim nông, chim cắt, chim rìu rắn nước là những thú biểu thấy ở địa bàn sông nước, rừng mưa của Đại Tộc Việt.

C. HẠ THẾ

Chân trống không có trang trí, tức còn giữ được chính thống vì Hạ Thế là cõi âm tăm tối.

D. THÂN TRỐNG

Thân trống hay eo trống là Trục Thế Giới nối liền ba cõi. Trụ trống trong ô chữ nhật giới hạn bởi hai cột hình không gian sọc ngang nhỏ có hình người mặt trời thể điệu hóa giống như trên mặt trống. Rất tiếc chỉ có một hình người vẽ chi tiết.

Người trên trụ trống Quảng Xương (Nguyễn Văn Huyên).

Hình người mặt trời này mặc váy xòe cánh chim có trang phục đầu lông chim cường điệu tức tộc lửa đất chim, tay cầm vật biểu hình rắn có cổ cong dòng nước có sừng và vật biểu chim có bờm sừng cường điệu với cổ thẳng đứng hình nọc giống như trang phục đầu của người tộc chim.

Lưu ý rắn thuộc dòng âm nên vật biểu rắn có trang phục đầu hình bờm chim nhỏ, ngắn, có các sọc đứng như đường mưa trong khi vật biểu chim thể điệu hóa có hình lông chim cường điệu tung bay.

Dưới cùng của thân trống là hai vành nọc chấm-vòng tròn có tiếp tuyến và vành răng lược giống như ở tang trống.

Kết Luận

Giải đọc tổng quát thì trống Quảng Xương có mặt trời 8 nọc tia sáng là trống mặt trời Càn-Khôn thế gian của ngành Người Mặt Trời thái dương Chim-Rắn gồm có hai ngành người chim cắt lửa đất và người rắn nước.

Với hai vành răng lược ở biên trống cho thấy trống có khuôn mặt chủ là ngành âm thái dương.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, trống Quảng Xương là một chương sử đồng ghi khắc lại cho biết Đại Tộc Việt là Người Mặt Trời thái dương.

Về truyền thuyết thì đây là chương sử đồng nói về nguồn cội của Đại Tộc Việt Người Mặt Trời. Ở cõi vũ trụ tạo hóa Đại Tộc Việt là con cháu của thần mặt trời Viêm Đế-Thần Nông (theo duy dương có hai ngành nòng nọc, âm dương là dương thái dương Viêm Đế và âm thái dương Thần Nông). Ở cõi thế gian thì đây là truyền thuyết Trăm Lang Hùng Mặt Trời sinh ra từ bọc Trứng Thế Gian của Mẹ Tổ Âu Cơ gồm có hai ngành dương Lửa Núi Âu Cơ và ngành âm Nước Lạc Long Quân.

Về cổ sử là Họ Đỏ Hồng Bàng, họ Mặt Trời thế gian gồm có ngành  Đất thái dương Kì Dương Vương và Nước thái dương Lạc Long Quân (Hùng Vương coi như thuộc về lịch sử).

Về lịch sử là Đại Tộc Việt Người Mặt Trời rạng ngời gồm hai ngành Âu và Lạc di duệ của Hùng Vương Mặt Trời có gốc từ các Lang Hùng Mặt Trời sinh ra từ bọc Trứng nòng nọc, âm dương thế gian gồm hai ngành thái dương lửa nước, chim rắn, Tiên Rồng, di duệ của thần mặt trời Viêm Đế-Thần Nông. Đây là chương sử đồng ghi lại trang cổ sử Âu-Lạc của Đại Tộc Việt Người Mặt Trời, có một khuôn mặt thế gian, lịch sử ứng với truyền thuyết Trăm Lang Hùng, Hùng Vương dòng dõi thần mặt trời Viêm Đế-Thần Nông.  .

Một lần nữa cho thấy trống đồng nòng nọc, âm dương là của đại tộc Đông Sơn, của Bách Việt, không thể nào là của Trung Hoa được.

Hiển nhiên trống Quảng Xương là một chương sử đồng, chúng ta nhìn thấy và sờ thấy được đã ghi khắc, viết về Đại Tộc Việt Người Mặt Trời Thái Dương rạng ngời, cách đây cả ngàn năm chưa hề bị ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa. Đây là một chương cổ sử, truyền thuyết chính thống, chính chuyên.

Theme: Silver is the New Black. Blog at WordPress.com.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.