TRỐNG NGƯỜI MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG BÁCH VIỆT
NGỌC LŨ I.
(TRỐNG NHÓM MẶT TRỜI NỌC THÁI DƯƠNG LƯỠNG HỢP TIỂU VÀ ĐẠI VŨ TRỤ).
(phần 18)
Nguyễn Xuân Quang
Ý NGHĨA HÌNH NGƯỜI TRÊN THUYỀN TRÊN TRỐNG ĐỒNG ÂM DƯƠNG NGỌC LŨ I.
Bây giờ ta đi vào chi tiết về người trên mỗi con thuyền.
a. Hai thuyền dẫn đầu biểu tượng cho toàn nhánh. Mỗi nhánh có hai đại tộc nòng nọc, âm dương, nội ngoại.
.Thuyền số 1
Đây là thuyền thứ nhất trong hai thuyền dẫn đầu đọc theo chiều âm.

Thuyền số 1 biểu tượng cho cực dương gồm hai đại tộc Càn-Li ngành nòng âm trên trống Ngọc Lũ I.
Mấu chốt căn cước tay chèo.
Để tránh rườm rà ở đây tôi chỉ nói tới một mấu chốt tay chèo mà thôi. Phần trên tay chèo có hình đầu chim hình cây búa chim, chim mỏ rìu mang nghĩa Li Càn, Chim chúc đầu xuống nước tức mang âm tính, có nghĩa là chim nọc của dòng nòng nước. Phần tay chèo phía dưới cong vòng nhấn mạnh ý nghĩa âm, của nhánh nòng. Tay chèo đầu chim bổ, chim rìu chỉ xuống nước này theo duy dương là chim cắt mang tính thái dương là Bổ cắt Càn và tính thiếu dương là Bồ cắt Li; còn theo duy âm là chim Bổ nông thiếu âm gió và Bồ nông thái âm nước của nhánh nòng (vì đầu chim chỉ xuống nước).
-Người thuyền trưởng hay người đại biểu của ngành, đại tộc.
.Trang phục đầu
Trang phục đầu của người đại biểu gồm có ba phần:
./ Phần bên phải dương là hình đầu chim có mỏ cong âm cắm xuống trán mang âm tính giống như phần lớn những người còn lại có nghĩa là dương, thái dương, cõi trời phía âm. Đầu chim này cho thấy những người trên thuyền thuộc nhánh nòng âm thái dương cõi trời âm.
Tuy nhiên, đặc biệt mỏ chim ở đây rất to, khỏe, cường điệu mang nhiều dương tính, nọc tính ăn khớp với khuôn mặt Càn Li.
./Phần chính giữa có hình đầu chim cong Khôn có ba phụ đề: trên hết là hình lưỡi rìu ngang có góc cạnh nhọn mang ý nghĩa Càn Li, trong có phụ đề chấm-vòng tròn có nghĩa thái dương hay Li. Ở giữa mỏ chim có vòng tròn-chấm có một nghĩa là thiếu dương Li. Phụ đề dưới cùng hình vuông Khôn dương, trong có chấm-vòng thái dương Càn xác định nghĩa Li Càn.
./ Phần sau gáy có hình tia sáng Càn.
Như thế trang phục đầu mang ý nghĩa Càn-Li.
.Gậy biểu hay khí biểu
Người này cầm rìu hình chữ Y. Hai nhánh chữ V dài ngắn khác nhau. Nhánh phụ bên phải hình mũ sừng chim cắt (hornbill) hay mấu sừng hươu mang nhiều dương tính. Đây là búa rìu nọc dương ăn khớp với bổ cắt Càn, bồ cắt Li, (hay theo duy âm Bổ nông và bồ nông đực). Trong gậy có phụ đề các chấm nọc dương, thái dương cõi trời. Vậy đây là rìu nhà trời, rìu phán xét, rìu tia chớp Càn Li.
-Người gác linh hồn thứ nhất.
Tay phải giữ đầu linh hồn (bị soi mòn chỉ còn nắm tóc), tay trái cầm đòng. Đòng chỉ địa mang nghĩa đòng của dòng âm. Mũi đòng có phần đỉnh nhọn chữ V, to bản mang dương tính, trong đánh dấu những chấm nọc mang nghĩa thái dương.
Cuối đòng là chim có mỏ dài cong đầu có bờm gió Đoài.
Thân đòng có khung hình mã tấu chỉ thiên có những sọc ngang âm Đoài thái dương. Phụ đề vòng tròn-chấm, thiếu âm Đoài.
Bên ngoài có phụ đề hình núi tháp vách đôi nối giữa đòng và đầu chim ở trang phục đầu biểu tượng núi tháp Li. Hai phụ đề này xác định đòng cũng như người này có khuôn mặt Li Đoài.
Như thế đòng mang tính chủ Li-Đoài thái dương. Tộc Li mang tính chủ.
Trang phục đầu có
/. phần đầu chim bên phải dương là hình đầu chim có mỏ cong âm cắm xuống trán mang âm tính giống như tất cả các người còn lại có nghĩa là dương, thái dương, cõi trời phía âm.
/. Phần giữa là hình hai nọc cong có hình hai chiếc mã tấu ngắn (ngắn mang âm tính) chỉ thiên trông như hai chiếc sừng, biểu tượng Li hươu thế gian.
./ Phần sau gáy hình hộp chữ nhật nòng âm Khôn dương hóa vì hiệp với hai nọc lửa, thái dương. Khôn dương là Đoài. Đây là nòng âm thái dương Đoài.
Như thế người này thuộc đại tộc Càn Li với Li mang tính chủ biểu tượng cho chi Li/Đoài dòng nước.
-Người phán xét linh hồn.

Người phán xét linh hồn ở thuyền 1.
Tay phải giữ đầu linh hồn, tay trái gõ vào trống Cây Vũ Trụ, Cây Đời để khơi động vòng sinh tử, để phán xét linh hồn.
Trang phục đầu có
/.phần đầu chim bên phải dương là hình đầu chim có mỏ cong âm cắm xuống trán mang âm tính giống như tất cả các người còn lại có nghĩa là dương, thái dương, cõi trời phía âm.
/.Phần giữa là hình hai nọc cong có hình như hai tai thỏ là hai nọc lửa âm, là Li âm.
/.Phần thứ ba sau đầu hình bờm nước. Đọc gộp hai phần lại là Li Chấn nước thái dương.
Lưu Ý
Trên trống Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) có hình đầu chim mỏ dài cong giống như ở trang phục đầu nhưng mỏ to cướng điệu hơn và bờm hình sừng thẳng mang dương tính Càn Li. Phía sau có cặp sừng cong mang âm tính nhưng trong có đánh dầu các chấm nọc dương diễn tả lửa ngành âm tức Càn Li ngành âm. Hai biểu tượng này xác thực người trên thuyền này thuộc đại tộc Càn Li.
Như thế người này thuộc đại tộc Càn Li với Li mang tính chủ biểu tượng cho chi Li/Chấn dòng nước.
-Người gác linh hồn thứ hai.
Tay trái cầm đòng để trên đầu linh hồn. Đòng chỉ địa mang nghĩa đòng của dòng âm, mũi có phần đỉnh nhọn chữ V ngắn nhất và rất nhọn mang thái dương tính, trong có những chấm nọc mang nghĩa thái dương Càn, có khung phướn hình lưỡi mác có sọc tua chỉ thiên Đoài. Đây là đòng gió thái dương Càn Đoài vũ trụ.
Phụ đề chấm-vòng tròn, thiếu âm, gió và đuôi đòng hình thoi kép là dạng lửa gió. Hai chi tiết này xác định đòng là đòng Càn Đoài vũ trụ.
Tay phải người này cầm lao hình mũi tên chỉ thiên với đầu mũi lao hình nọc mũi tên rất cường điệu mang ý nghĩa trụ dương, núi trụ chống trời Li.
Trang phục đầu có:
/. phần đầu chim bên phải dương là hình đầu chim có mỏ cong âm cắm xuống trán mang âm tính giống như tất cả các người còn lại có nghĩa là dương, thái dương, cõi trời phía âm.
/. Phần giữa là hình hai nọc cong hai tai thỏ là hai nọc lửa Li âm.
/. Phần thứ ba sau đầu hình nọc thẳng Li.
Vậy trang phục đầu của người này mang biểu tượng của tộc Li/Li thái dương.
Như thế người này thuộc đại tộc Càn Li với Li mang tính chủ biểu tượng cho chi Li/Li dòng nước.
Ta thấy rất rõ bốn người (thuyền trưởng, 2 người gác linh hồn và một người phán xét linh hồn) ở thuyền số 1 mang thuộc nhánh cực dương Càn Li với hai đại tộc Càn Li và đại tộc Li mang tính chủ. Đại tộc Li lại chia ra bốn tộc Càn, Đoài, Chấn và Li ứng với tứ tượng của nhánh nòng thái dương.
Một lần nữa điểm này xác nhận là hai chiếc thuyền này là hai thuyền dẫn đầu và là hai thuyền đại biểu của nhánh nòng thái dương.
-Linh hồn
Có hai linh hồn ứng với cảnh phán xét linh hồn của hai đại tộc. Một linh hồn bị soi mòn mất một phần. Hai thuyền này là hai thuyền duy nhất mỗi thuyền có hai linh hồn, một lần nữa xác nhận là hai chiếc thuyền dẫn đầu này là hai thuyền đại biểu của ngành nòng thái dương. Tổng cộng bốn linh hồn ứng với bốn cảnh phán xét linh hồn của bốn tộc ứng với Tứ Tượng.
-Người gác cổng trời hay thiên đường.

Người gác cổng trời hay thiên đường ở thuyền 1.
Người này ở trần theo duy dương là Li (theo duy âm là Đoài) đã nói ở trên.
-Người chèo thuyền.
Trang phục đầu có hai phần. Phần trước có những hình nọc dài cong như dòng thác đổ nước dương Chấn. Phần sau hình tia sáng Càn. Trang phục đầu cho thấy người này thuộc đại tộc Càn-Chấn, Càn của ngành nòng âm nước ho ặn nhìn theo nòng nọc, âm dương thì là dạng Càn-Chấn lưỡng hợp đại vũ trụ nghĩa là Càn mang tính sinh tạo.
Đặc biệt là người chèo thuyền này là người ở tư thế ngồi. Ta đã biết ngồi là âm. Như thế khuôn mặt Càn Li ở đây mang khuôn mặt nòng âm, nước.
Kiểm chứng lại ta cũng thấy rất rõ ở thân thuyền có hình giống như vật đựng, như cái chậu có chứa nước đặc (đen) biểu tượng ao đầm thế gian, đất âm, Li âm. Điểm này cũng cho thấy Li âm mang tính chủ.
Dưới gầm cầu tam thế có để một cái trống hay vật hình trống. Theo duy dương là trống cho biết người thuyền này thuộc nhánh dương cực dương tức Càn-Li.
Tóm lại
Những người trên thuyền số 1 này nhìn chung mang trọn nghĩa Vũ Trụ thuyết. Nhìn dưới lăng kính vũ trụ là người biểu tượng phía dương của ngành Trụ trong Vũ Trụ tức là nhánh Viêm Đế của Viêm Đế-Thần Nông. Nhìn dưới đại tộc của trống là hai đại tộc dương, nội, Càn Li của nòng âm, nòng nước.
. Thuyền số 2.

Thuyền số 2 biểu tượng cho cực âm gồm hai đại tộc Chấn Đoài ngành nòng âm trên trống Ngọc Lũ I (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).
Nhìn tổng quát, ta suy ra ngay đây là thuyền biểu tượng cho nhánh âm ngược với thuyền 1 tức biểu tượng phía âm ngành Vũ trong Vũ Trụ, tức là ngành Thần Nông của Viêm Đế-Thần Nông. Nhìn dưới đại tộc là hai đại tộc âm Chấn Đoài vũ trụ nòng nước. Ở đây dòng nước âm, khuôn mặt Chấn mang tính chủ.
Thuyền đại biểu này là thuyền Chấn Đoài có khuôn mặt Chấn mang tính chủ.
Mấu chốt căn cước tay chèo.
Phần trên tay chèo có hình đầu chim mỏ cong mang âm tính, trên có bờm 4 tua âm nước, mắt là vòng tròn có chấm mang nghĩa âm dương sinh tạo. Đây là tay chèo chim nông Khôn nước. Đây là thuyền Khôn Chấn Đoài vũ trụ.
-Người thuyền trưởng hay đại biểu của ngành, đại tộc.
.Trang phục đầu
Trang phục đầu của người đại biểu gồm có ba phần:
./ phần bên phải dương là hình đầu chim có mỏ cong âm cắm xuống trán mang âm tính giống như phần lớn những người còn lại có nghĩa là dương, thái dương, cõi trời phía âm. Đầu chim này cho thấy những người trên thuyền thuộc nhánh nòng âm thái dương cõi trời âm.
./ phần chính giữa có hình đầu chim cong Khôn có phụ đề chấm-vòng tròn chia ra làm hai phần: phần dưới cong vòng mang nhiều âm tính biểu tượng cho nước Khôn thái âm Chấn. “Chấm vòng tròn” có thể nhìn theo hai diện: một là con mắt của đầu chim thứ hai, nói chung là hai đầu chim Khôn nhánh nòng âm thái dương. Chấm-vòng tròn còn có nghĩa là thiếu âm, dương, sinh tạo. Hai đầu chim này diễn tả Chấn Đoài vũ trụ nhánh nòng nước. Cách nhìn thứ hai là coi “chấm vòng tròn” ở dưới là một cái dấu mang nghĩa lửa, dương, thái dương thì đầu chim là chim Chấn thái dương.
./ phần thứ ba sau gáy có hình bờm nước trới tức Chấn trời.
Như thế trang phục đầu mang ý nghĩa Chấn-Đoài vũ trụ (Đầu thuyền Rắn Nước-Đuôi thuyền Bổ Nông tức biểu tượng cho cả con thuyền) và Chấn nước thái âm Đầu Rắn nước mang tính chủ (vì ở phía đầu thuyền).
.Gậy, Rìu biểu hay Khí biểu.
Người này cầm rìu tia chớp hay búa rìu thiên lôi hình chữ Y, rìu nhà trời, rìu phán xét biểu tượng chung cho toàn nhánh nòng âm cõi trời âm và cho biết đây là thuyền phán xét linh hồn. Phần đầu chẻ hình chữ V, nhánh dương bên phải nhọn đầu hình mỏ chim biểu tượng cho Đoài và nhánh âm bên trái là nọc bằng đầu hình chữ nhật biểu tượng cho Chấn. Trong gậy có phụ đề các chấm nọc dương, thái dương cõi trời. Vậy cây rìu này có một khuôn mặt là cây rìu Khôn thái dương Chấn-Đoài vũ trụ thái dương cõi trời. Đây có thể là rìu sấm chớp mưa-dông. Ở đây hai phần chẻ bằng nhau mang nghĩa thái (thái âm OO hay thái dương ||). Vì là dòng nòng nước nên đây là hai nòng thái âm OO dương hóa, tức thái âm nước mang dương tính dương hay thái dương tức Chấn. Điểm này cũng cho thấy Chấn là khuôn mặt chủ.
Nói gọn lại, dưới diện nhánh, người này là biểu tượng của ngành Nòng Khôn Chấn-Đoài vũ trụ thái dương cõi trời của nhánh nòng thái dương; dưới diện đại tộc người này mang biểu tượng Khôn thái âm Chấn nước dương.
-Người gác linh hồn.
Tayphải giữ đầu linh hồn, tay trái cầm đòng. Đòng chỉ địa mang nghĩa đòng của dòng âm, mũi có phần đỉnh nhọn chữ V cường điệu dài mang ý nghĩa dương của âm tức thiếu âm, trong có những chấm nọc mang nghĩa thái dương, có khung phướn chữ nhật có những sọc răng lược nghiêng. Đây là đòng nước Chấn. Trang phục đầu có phần đầu chim bên phải dương là hình đầu chim có mỏ cong âm cắm xuống trán mang âm tính giống như tất cả các người còn lại có nghĩa là dương, thái dương, cõi trời. Phần giữa là hình hai nọc cong có hình như hai tai thỏ mang âm tính có phụ đề chấm dương sinh tạo, tổng quát là hai nọc lửa âm, là thái dương âm. Phần sau gáy hình chữ nhật nhỏ có các sọc song song dọc ngang mang ý nghĩa Khôn Chấn Đoài vũ trụ.
Như thế người này mang biểu tượng của tộc Khôn Chấn Đoài vũ trụ.
-Người phán xét linh hồn.

Người phán xét linh hồn ở thuyền 2.
Tayphải giữ đầu linh hồn, tay trái gõ vào trống Cây Vũ Trụ, Cây Đời để khơi động vòng sinh tử, để phán xét linh hồn. Trang phục đầu có phần đầu chim bên phải dương là hình đầu chim có mỏ cong âm cắm xuống trán mang âm tính giống như tất cả các người còn lại có nghĩa là dương, thái dương, cõi trời. Phần giữa là hình hai nọc cong có hình như hai tai thỏ là hai nọc lửa âm, là thái dương âm. Phần thứ ba sau đầu hình hộp chữ nhật có sọc song song có nghĩa là Khôn nước thái dương. Đọc gộp hai phần lại là Khôn nước thái dương Chấn.
Tóm lại, trang phục đầu của người này mang biểu tượng của tộc Khôn âm Chấn nước thái dương.
Ta thấy rất rõ hai người này đều giữ đầu linh hồn mang biểu tượng cảnh phán xét linh hồn của hai tộc Chấn Đoài vũ trụ đại diện cho đại tộc Khôn này.
-Linh hồn
Có hai linh hồn ứng với cảnh phán xét linh hồn của hai đại tộc.
-Người gác cổng trời hay thiên đường.
Người gác cổng trời hay thiên đường ở thuyền 2.
Người này trần truồng với khuôn mặt tộc nước mang tính chủ đã nói ở trên. Lưu ý người này quay mặt về hướng đuôi thuyền mang âm tính tay chỉ cầm khiên mang âm tính, không cầm lao (mang dương tính) cho biết nhánh hay hai đại tộc người ở thuyền này thuộc phía âm nòng.
-Người chèo thuyền.
Trang phục đầu có ba phần. Phần trước có hình nọc cong biểu tượng dương mang âm tính. Phần sau hình hộp chữ nhật hơi cong trong có các sọc ngang và đứng biểu tượng cho Khôn. Hộp ở đây cao, dài mang nhiều âm tính ngả về phía Khôn thái âm nước. Phần tua sau gáy biểu tượng nước. Tóm lại trang phục đầu diễn tả Khôn nước dương tức Chấn dương.
Tóm lại những người trên thuyền số 2 này nhìn chung mang trọn nghĩa Vũ Trụ thuyết. Nhìn dưới lăng kính vũ trụ là người biểu tượng phía âm của nhánh Vũ trong Vũ Trụ tức là nhánh Thần Nông của Viêm Đế-Thần Nông. Nhìn dưới đại tộc là đại tộc âm, ngoại, Chấn Đoài vũ trụ dòng nòng nước.
Nhìn dưới diện toàn họ Nọc Nòng thì thuyền này giống như người dẫn đầu cầm đòng Đoài Chấn ở nhóm 6 người nhẩy múa nghĩa là có hai khuôn mặt của Khôn Đoài Chấn. Nhìn tổng quát đây là thuyền Khôn âm dòng nước gồm hai đại tộc là Khôn thái âm nước (Rắn Nước) và Khôn thiếu âm gió (Bổ Nông) trong họ Nọc Mặt Trời Hừng Rạng. Nhưng ở đây dòng nước âm, khuôn mặt Chấn mang tính chủ. Như thế thuyền này có những khuôn mặt chính là Chấn nước cõi trời. Thuyền đại biểu này là thuyền Đoài Chấn có khuôn mặt Chấn mang tính chủ.
Lưu Ý
Ở thuyền này người phụ ta thuyền trưởng kiêm luôn vai trò của người gác linh hốn nên phía trước chỉ có ba người thay vì bốn người. Do đó cách diễn tả kheo ứng theo tứ tượng.
Nhìn tổng quát toàn diện cả hai vùng đất trên mặt trống và vùng nước tang trống thì hai thuyền 2 và 1 này biểu tượng hai phía nòng nọc, âm dương của ngành Vũ của Vũ Trụ ứng với Thần Nông của Viêm Đế-Thần Nông nhất thể trong khi những người trên mặt đất biểu tượng cho ngành Trụ ứng với khuôn mặt Viêm Đế. Nhìn dưới lăng kính
Ngành, đại tộc nòng nọc, âm dương đề huề, hai thuyền này biểu tượng ngành nòng âm, nòng nước thái dương trong khi những người trên mặt đất biểu tượng ngành nọc dương nọc lửa.
b. Bốn thuyền còn lại biểu tượng cho bốn tộc ứng với Tứ Tượng.
.Thuyền số 3.

Thuyền số 3 biểu tượng cho tộc Càn/Khôn trên trống Ngọc Lũ I (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).
Thuyền này có những khuôn mặt chính như sau:
Mấu chốt căn cước tay chèo.
Người này tay cầm tay chèo có hai phần rất khác biệt: phần trên hình đầu chim có mỏ rất to mang dương tính tức chim bổ, chim cắt nhưng mỏ có những nét cong và không có mũ sừng mang âm tính tức Cắt âm. Trong có phụ đề những chấm nọc lửa nguyên tạo, nọc, dương, thái dương, sinh tạo và vòng-tròn-chấm có nghĩa là dương, Càn Khôn. Đây là đầu chim duy nhất có “hai con mắt thái dương” tức chim cắt thái dương Càn. Phần dưới có hình khiên hai chữ DD nhọn đầu lồng vào nhau quay về phía dương tức hai nòng OO thái dương. Đây là Khôn thái âm mang tính thái dương.
Như thế nhìn chung qua tay chèo, con thuyền này có hai khuôn mặt chính là Càn/Khôn.
Như thế con thuyền số 3 này là thuyền biểu tượng cho tộc Càn/Khôn.
-Người thuyền trưởng hay đại biểu của tộc.
.Trang phục đầu
gồm có bốn phần:
./ phần chung ở bên phải dương là hình đầu chim có mỏ cong âm cắm xuống trán mang âm tính giống như tất cả các người còn lại có nghĩa là dương, thái dương, cõi trời phía âm.
Nhìn dưới dạng Tứ Tượng, đầu chim này có hình vòng tròn Khôn trong có mắt tròn có chấm Lửa, dương, Càn và mỏ
dài cong, cứng cáp, cường điệu mang nhiều dương tính, thái dương của âm là Đoài vũ trụ, Tốn gió âm. Phần bờm hình chữ nhật có sọc không gian Khôn dương Đoài vũ trụ, Tốn. Đầu chim mang ý nghĩa Càn/Tốn.
./ phần thứ hai có hình đầu chim có mỏ cong gợn sóng biểu tượng Càn/Khảm.
./ phần thứ ba hình tháp trụ chữ nhật lùn trong có sọc dọc và hai sọc ngang lửa, thái dương biểu tượng Cấn đất âm (Li âm) thái dương. Ta có Càn/ Cấn.
./ phần thứ tư sau gáy có sọc nước biểu tượng Chấn. Ta có Càn/Chấn.
Như thế trang phục đầu diễn tả bốn chi ứng với Tứ Tượng âm thái dương của Càn.
.Rìu biểu.
Người này cầm rìu hình Y, giống như cây đao mũi nhọn, trong phụ đề các nọc chấm dương, thái dương mang biểu tượng Càn thái dương, nhánh nhỏ bên phải hình móc cong mang âm tính. Đây là cây rìu Càn âm thái dương.
Nói gọn lại, ở diện tộc người này biểu tượng cho Càn/ Khôn.
-Người phán xét linh hồn.

Người phán xét linh hồn ở thuyền 3.
Người này tay trái gõ vào trống Cây Vũ Trụ, Cây Đời để khơi động vòng sinh tử, để phán xét linh hồn. Lưu ý đầu chim trên trống Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) có mỏ cương điệu mang dương tính Càn , com mắt dương Càn nằm trong vòng tròn Khôn và bờm tia sáng Càn. Đầu chim diễn tả Càn/Khôn của ngành âm.
Trang phục đầu có bốn phần:
./ phần chung ở bên phải dương là hình đầu chim có mỏ cong âm cắm xuống trán mang âm tính giống như tất cả các người còn lại có nghĩa là dương, thái dương, cõi trời ngành âm.
Nhìn dưới dạng tứ tượng là Đoài vũ trụ.
./ phần thứ hai hình hai tai thỏ hay sừng âm có chấm nọc mang nghĩa hai lửa âm, thái dương âm, Càn âm.
./ phần thứ ba hình tháp Li âm.
./ phần sau gáy những sọc Khôn nước Chấn.
Trang phục đầu của người này mang mang trọn vẹn ý nghĩa tứ tượng phía âm.
-Linh hồn
Người nhỏ bé ngồi dưới sàn thuyền.
-Người gác linh hồn.
Người này cầm đòng dí vào đầu linh hồn.
Trang phục đầu có bốn phần:
./ Phần đầu chim có mỏ cong âm cắm xuống trán mang âm tính giống như tất cả các người còn lại có nghĩa là dương, thái dương, cõi trời phía âm.
Nhưng ở đây đầu chim có mũ sừng như cặp sừng tai thỏ ngắn, trong có phụ đề chấm nọc nhỏ cho biết người này biểu tượng cho phía nọc, dương, nội khác với người phán xét linh hồn biểu tượng cho phía nòng, âm ngoại và khuôn mặt Li mang tính chủ.
./ Phần thứ hai như tai thỏ giống ở trang phục đầu mang tính Càn của người phán xét linh hồn.
./ Phần thứ ba có hình cánh chim có hình nọc mũi mác /\ dương. Đây là cánh chim dương, gió dương Đoài (ngược với cánh chim âm Tốn của người phán xét linh hồn).
. Phần sau gáy là nọc thẳng đáng lý phải có các sọc nước Chấn để diễn tả đúng tứ tượng.
Như thế trang phục đầu diễn tả đủ tứ tượng.
Taytrái cầm đòng chỉ địa mang âm tính, đầu đòng nhỏ sắc trong có phụ đề que nọc, dương. Đuôi đòng hình thoi không cân có phần âm V dài hơn phần chóp mũi mác /\ dương, trong cũng có phụ đề hình que nọc. Dọc suốt thân đòng là khung phướn chữ nhật có tua gió. Đây là dòng gió dương Đoài.Tayphải cầm gậy Y có mấu hình mỏ chim cắt nhưng gậy chỉ địa mang âm tính, biểu tượng Càn của phía dương ngoại.
Tóm lại người này mang biểu tượng chính của tộc Càn/Khôn diễn tả đủ tứ tượng.
-Người gác cổng trời hay thiên đường.
Người gác cổng trời hay thiên đường ở thuyền 3.
Người này đứng trên cầu đài tam thế quay mặt về phía đầu thuyền tức theo chiều dương. Cho biết tộc này là tộc dương Càn-Li. Đầu tóc phía trên có nọc mũi mác lửa dương ở đây là Càn, phần dưới sọc nghiêng gió nước Khôn âm. Trên người có chấm-vòng tròn Càn- Khôn. Váy tròn đầu có sọc không gian Khôn, trong có 3 chấm nọc Càn là váy Càn/Khôn. Ở đây người này cầm lao khiên rất to, rất cường điệu nhấn mạnh nghĩa Càn-Khôn.
Nói gọn lại người này mang biểu tượng của tộc Càn/ Khôn.
-Người chèo thuyền.
Trang phục đầu phía trước có hình đầu chim có mỏ cong, cứng mang dương tính Càn dương phía âm, phần sau hình hộp chữ nhật đứng hơi cong trong có các sọc không gian Khôn gió-nước biểu tượng Khôn âm. Trang phục đầu người này mang biểu tượng Càn Khôn.
Taychèo đã nói ở trên.
Tóm lại những người trên thuyền số 3 này nhìn dưới diện tộc mang biểu tượng Càn/Khôn nước.
Kiểm chứng với gầm đài cầu. Ở đây trống trơn biểu tượng cho Khôn hư không lưỡng hợp với Càn.
Chắn chắn hơn ta có thể kiểm chứng với hình khung đa giác ở thân thuyền. Khung này trắng, trong biểu tượng nòng Khôn dương hóa trong có những chấm nọc dương Càn. Cả khung mang nghĩa Càn Khôn.
.Thuyền 4

Thuyền số 4 biểu tượng cho tộc Li/Khảm trên trống Ngọc Lũ I (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).
-Người thuyền trưởng hay đại biểu của tộc.
.Trang phục đầu
gồm có bốn phần chính với một phần:
./ phần chung ở bên phải dương là hình đầu chim có mỏ cong âm cắm xuống trán mang âm tính giống như tất cả các người còn lại có nghĩa là dương, thái dương, cõi trời phía âm.
Ở đây đầu chim này có mỏ khá cứng cáp, cường điệu mang khá nhiều dương tính trông giống như đầu chim cắt có mỏ cong nghĩa là biểu tượng cho thiếu dương Li.
./ phần thứ hai có hình hai cây nọc cong như hai chiếc tai thỏ dài cong trong có phụ đề các dấu chấm nọc dương là hai nọc âm, hai chiếc sừng âm, thiếu dương, lửa âm có một khuôn mặt là Li âm.
./ phần thứ ba có hình đầu chim nọc mũi mác chỉ địa V có một nghĩa là nước thái dương mang âm tính, Chấn nước thái dương. Bờm có 4 tua dài cong có và sừng hình chữ nhật có sọc nước cũng có bốn gạch nghiêng ngắn. Số 4 là Cấn hôn phối với Chấn.
./ phần thứ tư có hình cánh chim có một khuôn mặt Đoài gió cõi trời.
./ phần sau gáy hình nọc có chấm là Càn.
Như thế trang phục đầu dưới diện tộc là Li/Khảm diễn tả đủ tứ tượng.
.Rìu biểu.
Người này cầm rìu hình Y, mấu rìu giống như mấu sừng. Rìu trông như chiếc sừng có hai mấu nhọn của hươu sủa mang gạc muntjac.
Nói gọn lại, ở diện tộc người này biểu tượng tộc, chi Li/ Khảm.
-Người phụ tá thuyền trưởng
Người này ở ngay phía sau người thuyền trưởng, cũng ở tư thế ngồi. Trang phục đầu phía trước có hình chim như những người khác nhưng đầu chim trông mạnh mẽ mang nhiều dương tính, tính lửa hơn.
Như thế trang phục đầu này mang biểu tượng cho Nọc-Nước, Li-Khảm nước sinh tạo cõi trời.
-Người phán xét linh hồn
Người phán xét linh hồn ở thuyền 4.
Người này tay phải gõ vào trống Cây Vũ Trụ, Cây Đời để khơi động vòng sinh tử, để phán xét linh hồn.
Trang phục đầu ngoài phần hình chim phía trước trán giống các người khác, nhưng ở đây cường điệu vừa phải và rất cong mang âm tính, tức âm của dương là thiếu âm nguyên thể của Li. Phần giữa có ba tia cong dài có một khuôn mặt Chấn nước dương lưỡng hợp với Càn và phần sau hình hộp có sọc đứng và ngang diễn tả không gian, ở giữa có hai nọc ngang mang nhĩa thái dương. Như thế không gian thái dương là Đoài vũ trụ. Đoài lưỡng hợp Li.
Người này mang biểu tượng của Li/Khảm có Chấn nước dương đại diện.
-Linh hồn
Người nhỏ bé ngồi dưới sàn thuyền.
-Người gác linh hồn.
Người này cầm đòng dí vào đầu linh hồn.
Đòng ở đây mũi đòng chỉ địa mang âm tính. Đuôi đòng có ba nọc tẽ ra như dòng nước chẩy mang ý nghĩa lửa, dương mang tính âm dòng nước. Thân đòng khung chữ nhật có sọc ngang nước. Gộp lại nhìn theo tính nòng nọc, âm dương thì âm của dương là thiếu dương Li. Như thế đòng là đòng lửa âm Li dòng nước Khảm.
Trang phục đầu
./ phía trước hình đầu chim có bờm tia sáng mang tính lửa, dương.
./ Phần giữa nhưng sọc song song cong mang nghĩa nước.
./ Phần hình hộp nghiêng trong có những sọc nghiêng diễn tả không gian dương gió.
Trang phục đầu diễn tả lửa trời âm không gian.
-Người gác cổng trời hay thiên đường.

Người gác cổng trời hay thiên đường ở thuyền 4.
Người này đứng trên đài cầu Tam Thế quay mặt về phía đầu thuyền tức theo chiều dương. Cho biết tộc này là đại tộc dương Càn-Li. Đầu tóc phía trên có nọc mũi mác dương Li, phần dưới sọc nghiêng nước gió Khảm. Trên người có vòng tròn-chấm, ở đây theo phía dương là thiếu dương Li. Váy có các sọc nghiêng gió nước cho thấy ở đây váy mang âm tính của tộc nọc dương vì người này quay mặt về phía dương đầu thuyền. Âm của dương là thiếu dương Li. Ở đây cái lao chỉ hơi chênh chếch lên cao ra phía trước mang âm tính, tức âm của dương là thiếu dương Li.
Nói gọn lại người này mang biểu tượng của tộc Li/ Khảm.
-Người chèo thuyền.
Trang phục đầu có hình trụ dài cong gồm có 4 đường cong song song diễn tả nước âm (số 4 là số chẵn là số âm) Khảm
Phần phía sau có hình hai chiếc tai thỏ hay hai chiếc sừng âm Li âm và phần dưới hình chữ nhật có phụ đề các vạch nước không gian Khảm. Phần này mang nghĩa Li/Khảm. Như thế trang phục đầu của người chèo thuyền mang biểu tượng Li/Khảm.
Taychèo đã nói ở trên.
Tóm lại những người trên thuyền số 4 này nhìn dưới diện tộc mang biểu tượng Li/Khảm.
Kiểm chứng với vật hình ấm nước hình bầu nậm cổ lùn đựng nước để trên bếp lửa dưới gầm đài cầu thì bếp lửa có lửa Li, bình nước hình trái bầu là nước không gian Khảm.
.Thuyền số 5

Thuyền số 5 biểu tượng cho tộc Đoài/Cấn trên trống Ngọc Lũ I (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).
Mấu chốt căn cước tay chèo.
Người này tay cầm tay chèo có đầu hình chim hình núi tháp
có góc cạnh, có chấm nọc dương mang dương tính tức đất dương Li. Tuy nhiên mang âm tính của phía âm vì người gác cổng thiên đường quay mặt về chiều âm đuôi thuyền. Li này đại diện cho non, đất âm Cấn. Đầu chim có bờm gió Đoài vũ trụ.
Đây là cây chèo Đoài/Cấn.
-Người thuyền trưởng.
.Trang phục đầu
gồm có bốn phần:
./ phần bên phải dương là hình đầu chim có mỏ cong âm cắm xuống trán mang âm tính giống như tất cả các người còn lại có nghĩa là dương, thái dương, cõi trời phía âm.
Ở đây đầu chim này có mỏ hơi cứng cáp, mang chút ít dương tính trông giống như đầu chim bổ nông gió Đoài.
./ phần thứ hai có hình mã tấu cong trong có phụ đề các dấu chấm nọc dương là nọc âm, Càn âm thái dương tức Đoài/Càn của nòng âm.
./ phần thứ ba phía trái hình đầu chim có mỏ rất cường điệu bên trong có phụ đề chấm nọc dương sinh tạo, cõi trời, có mũ sừng có gạch song song âm và bờm có 4 tua. Số 4 là Cấn có một khuôn mặt là non (núi Li âm). Đây là chim Đoài/bồ cắt Li thái dương cõi trời âm.
./ phần thứ tư thấp có hình cánh chim tam giác có một khuôn mặt biểu tượng gió cõi trời Đoài.
./ phần thứ sau gáy hình nọc chữ nhật trống trơn biểu tượng cho Khôn nước thái dương.
Như thế bốn phần sau cùng biểu tượng Tứ Tượng Lửa, Đất, Gió, Nước cõi trời của tộc Đoài/Cấn.
.Rìu biểu.
Người này cầm rìu hình Y, ở đây có hình đầu chim gần
giống gậy ở thuyền thứ 1 Càn-Li. Như thế có một khuôn
mặt Càn mang tính chủ và một khuông mặt Đoài ngược với Li.
Nói gọn lại người này biểu tượng mang tính chủ Đoài/Càn.
-Người phụ tá thuyền trưởng
Đây là người ngồi ở ngay phía sau người thuyền trưởng. Người này cũng ngồi cho thấy thuộc về tộc âm. Trang phục đầu phía trước có hình chim như những người khác nhưng đầu chim trông mạnh mẽ mang nhiều hùng tính hơn. Phần giữa gồm hình bờm dài cong biểu tượng gió dương Đoài vũ trụ. Bờm có ba nọc cong là Càn âm, thái dương âm là gió dương Đoài. Phần thứ ba gồm sáu tua ngắn song song. Số 6 là Tốn O||. Tốn theo âm Dịch đi với Chấn. Phần thứ ba này mang ý nghĩa Chấn Nước thái dương. Phụ đề chấm-vòng tròn ở đây có nghĩa là thiếu âm, gió. Như thế trang phục đầu mang biểu tượng Đoài/Chấn nước thái dương.
-Người phán xét linh hồn.

Người phán xét linh hồn ở thuyền 5.
Người này tay phải gõ vào trống Cây Vũ Trụ, Cây Đời để khơi động vòng sinh tử, để phán xét linh hồn. Trang phục đầu có phần đầu chim bên phải dương là hình đầu chim có mỏ cong âm cắm xuống trán mang âm tính giống như tất cả các người còn lại nhưng đầu chim mang hùng tính hơn, có nghĩa là dương, thái dương, cõi trời phía âm. Phần giữa là hình nọc cong giống người phụ tá thuyền trưởng mang nghĩa Đoài. Phần thứ ba sau đầu hình tháp có sọc âm và phía trên có hình nọc mũi mác /\, lửa, trong có phụ đề vòng tròn-chấm thiếu dương. Hình này là Đoài/Li âm tức Đoài/Cấn.
Như thế trang phục đầu mang biểu tượng Đoài/Li âm tức Cấn.
-Linh hồn
Người nhỏ bé ngồi dưới sàn thuyền.
-Người gác linh hồn.
Người này cầm đòng dí vào đầu linh hồn.
Trang phục đầu có
./ Phần đầu chim bên phải giống như những người khác đã nói qua.
./ Phần giữa giống người phụ tá và người phán xét linh hồn có hình nọc cong mang nghĩa Đoài.
./ Phần thứ ba có hình nọc vuông góc là Khôn thái dương trong có phụ đề vòng tròn có chấm mang nghĩa thiếu âm, gió. Phần này mang nghĩa Đoài/Khôn gió cõi trời sinh tạo. Tay cầm đòng âm chỉ địa, có khung lông chim hay tua lá có nghĩa là gió, đầu đòng có phụ đề chấm nọc có nghĩa là dương, thái dương, có phụ đề chấm-vòng tròn có nghĩa là dương, thiếu âm gió, sinh tạo, cõi trời.
Như thế người này mang biểu tượng của Đoài/ Khôn thái dương Đoài sinh tạo.
Ta thấy bốn người này mang biểu tượng của bốn chi ứng với Tứ Tượng của phía nòng dương Đoài. Người thuyền trưởng trang phục đầu có hai phần chính biểu tượng chi Đoài/Càn thái dương, người phụ tá là chi Đoài/Chấn, người phán xét linh hồn là chi Đoài/Đất Li và người canh linh hồn là chi Đoài/Gió Đoài của ngành nòng âm.
-Người gác cổng trời hay thiên đường.

Người gác cổng trời hay thiên đường ở thuyền 5.
Người này đứng trên đài cầu Tam Thế quay mặt về phía đuôi thuyền tức theo chiều âm, cho biết đại tộc này là mang tính âm của ngành nòng âm thái dương. Búi tóc ngắn có cạnh thẳng đứng như hình trụ có đỉnh nọc nhọn mũi mác phía trên, mang tính thiếu dương Li. Tay phải người này cầm lao mũi tên chỉ lên trời mang hình ảnh trụ chống trời Li. Người này quay mặt về phía đuôi thuyền âm nên Li mang âm tính tức đại diện cho Cấn, non, đất âm. Tay trái cầm khiên hình hai chữ DD ngược nhọn hai đầu lồng vào nhau mang nghĩa nòng thái âm thái dương. Đọc theo chiều âm lao mũi tên là nọc dương (I) và khiên là nòng âm (O) tức IO, thiếu âm nguyên thể của Đoài vũ trụ.
Hai vạt váy có góc cạnh dương và có phụ đề những chấm nọc dương mang ý nghĩa nọc dương. Đây là váy thái dương của phía nòng (vì người này quay mặt về chiều âm nòng) tức Đoài vũ trụ.
Nói gọn lại người này mang biểu tượng của tộc Đoài/Cấn thái dương cõi trời âm.
-Người chèo thuyền.
Trang phục đầu có hình bờm dài cong gió có 6 đường cong song song. Số sáu là số Tốn gió âm. Phần dưới hình chữ nhật Khôn dương có phụ đề những chấm nọc là Khôn dương Đoài.
Kiểm chứng với vật hình trống để dưới gầm đài cầu thì theo duy âm trống là đực của nòng âm tức thiếu âm, gió, Đoài vũ trụ có một nghĩa là không, không khí, gió. Trống có một khuôn mặt biểu tượng cho trống không, hư không, không gian Đoài vũ trụ.
Tóm lại những người trên thuyền số 5 này nhìn dưới diện tộc, mang biểu tượng Đoài/Cấn.
.Thuyền số 6

Thuyền số 6 biểu tượng cho tộc Chấn/Tốn trên trống Ngọc Lũ I (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).
Mấu chốt căn cước tay chèo.
Taychèo này giống tay chèo ở thuyền số 2 như thế có khuôn mặt chủ là tay chèo Chấn.
-Người thuyền trưởng hay đại biểu của tộc.
.Trang phục đầu
Trang phục đầu gồm có bốn phần:
./ phần bên phải dương là hình đầu chim có mỏ cong âm cắm xuống trán mang âm tính giống như phần lớn những người còn lại có nghĩa là dương, thái dương, cõi trời phía âm. Đầu chim này cho thấy những người trên thuyền thuộc nhánh nòng âm thái dương cõi trời âm.
./ phần chính giữa có hình như tóc gợn sóng bay trong gió biểu tượng cho nước chuyển động cõi trời là Chấn/Khôn nước thái dương cõi trời âm.
./ phần chính giữa có hình đầu chim cong gợn sóng biểu tượng nước gió Chấn/Tốn
./ phần sau gáy có hình bờm nước-gió, tức Chấn/Khôn.
Như thế trang phục đầu mang ý nghĩa Chấn/Tốn.
.Rìu biểu
Người này cầm rìu chữ Y, mang hình ảnh của tia chớp hay rìu búa thiên lôi. Rìu gần giống rìu ở thuyền số 2 nên có khuôn mặt chính là rìu Chấn. Đây có thể là cây rìu thiên lôi, phán xét mưa gió.
Nói gọn lại, dưới diện tộc người này mang biểu tượng Chấn/Tốn.
-Người phán xét linh hồn.
Người phán xét linh hồn ở thuyền 6.
Tay phải giữ đầu linh hồn, tay trái gõ vào trống Cây Vũ Trụ, Cây Đời để khơi động vòng sinh tử, để phán xét linh hồn. Lưu ý trong trống có chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình hai vòng tròn đồng tâm có chấm là nuớc dương Chấn. Người trên thuyền này có một khuôn mặt Chấn mang tính chủ.
Trang phục đầu có
/. Phần đầu chim bên phải dương là hình đầu chim có mỏ cong âm cắm xuống trán mang âm tính giống như tất cả các người còn lại có nghĩa là dương, thái dương, cõi trời phía âm.
/.Phần giữa là hình nọc cong như hình cái kiếm cong bằng đầu mang âm tính, trong có phụ đề các chấm nọc sinh tạo là thái dương âm Đoài vũ trụ khí gió dương đại diện cho Tốn gió âm.
./ Phần thứ ba sau đầu hình hộp vuông có sọc không gian trong có phụ đề chấm-vòng tròn thiếu âm gió. Phần này là Đoài vũ trụ gió dương đại diện cho Tốn gió âm.
Vậy trang phục đầu của người này mang biểu tượng của tộc Chấn/Tốn.
Như thế người này mang biểu tượng của tộc Chấn/Tốn.
-Linh hồn
linh hồn bị soi mòn mất một phần.
-Người gác cổng trời hay thiên đường.

Người gác cổng trời hay thiên đường ở thuyền 6.
Người này đứng trên đài cầu Tam Thế quay mặt về phía đuôi thuyền tức theo chiều âm, cho biết tộc này là mang tính âm. Tóc ngắn có gạch nước. Hai tay chỉ cầm khiên hình hai chữ DD ngược nhọn hai đầu lồng vào nhau mang nghĩa hai nòng âm OO, nước thái dương, Chấn. Hai vạt váy có gạch nước gió.
Nói gọn lại người này mang biểu tượng của tộc Chấn nước gió tức Chấn/Tốn.
-Người chèo thuyền.
Trang phục đầu có hai phần. Phần trước có hình chim mỏ cong mang âm tính có phụ đề chấm-vòng tròn rất nhỏ mang dương tính, thiếu âm. Đây là đầu chim nước gió Chấn/Tốn có thể là bồ nông gió. Phần sau có hình chim mỏ cong gợn sóng mang nhiều âm tính, có phụ đề chấm-vòng tròn lớn mang âm tính, thái âm có nghĩa sinh tạo, Khôn dương. Đây là đầu chim nước nước Chấn/Khôn, có thể là bồ nông nước. Phần dưới hình hộp chữ nhật có nghĩa là Khôn dương trong có hình sóng cuộn tiếp tuyến nối hai vòng tròn-chấm. Hình sóng mang nghĩa nước, hai chấm là thái dương. Hình sóng cuộn là Chấn/Tốn thái dương.
Điểm mấu chốt quan trọng nữa là thuyền này có con chó âm đứng sau cầu thử thách giống như ở thuyền số 2. Ta đã biết thuyền số 2 là thuyền Chấn-Đoài như thế thuyền số 6 này với sự hiện diện của con chó cõi âm bắt buộc phải có một khuôn mặt Chấn. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt Lạc Long Quân Chấn thần sấm có một khuôn mặt trị vì cõi âm, có thủy phủ ở Vịnh Hạ Long. Vì thế thuyền có con chó cõi âm phải liên hệ với khuôn mặt Chấn.
Kiểm chứng với hai cái bình để dưới cầu đài ta cũng thấy không sai. Hai bình đựng là hai nòng OO, nước. Bình bên phải hình cái âu rộng miệng hình chữ U biểu tượng nước thái dương Chấn và bình bên trái giống hình cái ngỗng đựng rượu mang dương tính biểu tượng cho Đoài vũ trụ/Tốn gió âm.
Tóm lại những người trên thuyền số 6 này nhìn dưới diện tộc mang biểu tượng Chấn/Tốn.
TỔNG LƯỢC
Những người trên sáu chiếc thuyền này mang trọn vẹn nghĩa Vũ Trụ giáo. Họ là những người mặt trời của ngành nòng thái dương trên sóng nước thuộc những nhánh, đại tộc, tộc, chi ứng với Lưỡng Nghi, Tứ Tượng, Tam Thế, Bát Quái, Dịch Nòng Nọc của nòng âm nước thái dương. Theo duy dương, phía, lửa, nội là dương Dịch của dòng nước. Ở trống Ngọc Lũ I này còn trọng âm dương đề huề của toàn họ Người Vũ Trụ, Người Mặt Trời Không Gian, còn mang tính âm dương đề huề còn theo Dịch nòng nọc, âm dương đề huề.
Những người này đang tham dự những cảnh Phán Xét Linh Hồn. Những thuyền này là những Thuyền Phán Xét Linh Hồn.
Ở những trống diễn tả Tam Thế trọn vẹn, chính thống như trống Ngọc Lũ I hay ở các trống phỏng theo chính thống cõi âm thường được diễn tả qua hình ảnh những con thuyền phán xét linh hồn ở trên vùng mặt nước thế gian ở tang trống. Vùng nước tang trống có một khuôn mặt là cõi sinh tạo, tạo hóa của Cõi Âm thông thương với Hạ Thế chân trống bằng trụ thân trống Trục Thế Giới.
(còn nữa).