Bac Si Nguyen Xuan Quang’s Blog

April 27, 2012

TRỒNG NGƯỜI MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG BÁCH VIỆT NGỌC LŨ I (20).

Filed under: Trống Bách Việt Ng. Lũ I (20) — Quang Nguyen @ 5:26 am

TRỐNG NGƯỜI MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG BÁCH

VIỆT NGÀNH VIÊM VIỆT NGỌC LŨ I.

(TRỐNG NHÓM MẶT TRỜI NỌC THÁI DƯƠNG LƯỠNG HỢP  TIỂU VÀ ĐẠI VŨ TRỤ).

(phần 20)

Nguyễn Xuân Quang

 

 Thuyền Trên Các Trống Và Đồ Đồng Đông Sơn Khác.

Bây giờ ta so sánh thuyền trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I với các thuyền trên các trống và đồ đồng Đông Sơn khác để xác thực, bổ túc những điều chúng ta vừa giải đọc về thuyền trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I.

Thuyền thấy xuất hiện trên khoảng 25 trống. Trong danh sách này có cả thuyền trên trống Nam Dương, Nam Trung Hoa, Thái Lan, Lào nhưng không kể các thuyền loại Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I) thuộc vùng Nam Trung Hoa. Số thuyền tương đối lớn này cho thấy chủ nhân của trống đồng âm dương là những tộc Khôn dòng nước và các tộc liên hệ với họ. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, chủ nhân của trống đồng nòng nọc, âm dương bắt buộc phải là của Bách Việt những cư dân sống ở vùng sông biển Đông Nam Á, tuyệt nhiên không phải là của dân du mục bắc phương Trung Hoa.

Ngoài ra thuyền biểu tượng còn thấy trên các thạp đồng như thạp Đào Thịnh, thạp Hợp Minh, thạp thấy trong mộ Nam Việt Vương ở Quảng Châu, Nam Trung Hoa.

 Thuyền Trên Trống Đồng Hoàng Hạ.

Trống Hoàng Hạ là trống có mặt trời16 nọc tia sáng. Số 16 là số Khôn tầng 3 (0, 8, 16). Như thế trống đồng âm dương Hoàng Hạ thuộc nhóm Càn/Khôn thế gian tầng nước.

Quẻ Khôn là ba hào nòng âm OOO có một khuôn mặt nước âm O thái âm OO của phía nòng O (nòng, âm, không gian) có khuôn mặt đại diện là nước dương I thái âm OO tức Chấn IOO. Ta cũng đã biết Chấn lưỡng hợp với Càn III ở dạng đại vũ trụ. Vì thế theo duy âm của ngành thái dương trống có khuôn mặt Chấn  IOO tức nọc I thái âm OO của ngành thái dương mang tính chủ.

Xin nhắc lại, trống Quảng Xương có mặt trời 8 nọc tia sáng với số 8 là số Khôn tầng 2 (0, 8) tầng trời đất thế gian. Trống đồng âm dương Hoàng Hạ và Quảng Xương cùng một nhóm trống Càn/Khôn. Nhưng trống đồng âm dương Hoàng Hạ ở tầng 3 mang nhiều âm tính hơn, thuộc vùng nước thế gian. Vì thế trống Quảng Xương có khuôn mặt khí gió bầu trời  thiếu âm Đoài mang tính chủ, trong khi trống đồng âm dương Hoàng Hạ có khuôn mặt nước dương thái âm Chấn mang tính chủ.

 Lưu Ý

 Xin nhắc lại mặt trời trên trống đồng nòng nọc, âm dương càng có nhiều tia sáng càng mang âm tính nhiều, càng thuộc về vùng nước, cõi âmMặt trời có số nọc tia sáng dưới 8 là mặt trời vũ trụ. Mặt trời có số nọc tia sáng bằng hay lớn hơn 8 là mặt trời thế gian. Các thạp đồng dùng trong mai táng liên hệ với cõi âm là một thứ trống âm hình trứng Nguyễn Xuân Quang loại I giống như trống để ở đền Tổ Hùng ở Phú Thọ mang tính sinh tạo, tạo hóa (tro than, sọ người chết chôn trong thạp để được tái sinh hay được về cõi vĩnh hằng) có mặt trời có nọc tia sáng rất lớn. Vì thế mặt trời trên nắp thạp có số tia sáng rất lớn lên tới 20 tia sáng.

 

Nắp thạp Đào Thịnh có mặt trời 20 nọc tia sáng. 

Một nắp thạp khác cũng có mặt trời 20 nọc tia sáng. 

Lưu ý trên nắp thạp có những vành sóng chuyển động hai vòng tròn đồng tâm có chấm nọc dương có nghĩa là nước dương, lửa nước, Chấn cho thấy rõ khuôn mặt liên hệ với cõi âm của thạp (Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, Lạc Long Quân Chấn có một khuôn mặt Long Vương cõi âm có thủy phủ ở vịnh Hạ Long). Ngoài ra còn có vành chim nông  biểu tượng cho tạo hóa, sinh tạo. Chim nông đẻ ra trứng vũ trụ. Trên người chim nông cũng có chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình vòng tròn-chấm, ở đây có nghĩa nòng nọc, âm dương, sinh tạo (vòng tròn chấm cũng là hình ảnh của quả trứng có chấm là tròng đỏ và vòng tròn bao quanh tròng trắng). Người chết chôn trong thạp là chôn trong bầu sinh tạo vũ trụ  để được tái sinh…

Do đó trống đồng âm dương Hoàng Hạ và Quảng Xương cùng một nhóm nhưng trống đồng âm dương Hoàng Hạ có mặt trời có nọc tia sáng lớn hơn nên mang nhiều âm tính hơn.

Trên vai trống đồng âm dương Hoàng Hạ cũng có 6 chiếc thuyền.

Tổng quát thuyền trên trống Hoàng Hạ tương tự như các thuyền trên trống Ngọc Lũ I nhưng thuộc diện nọc thái âm của nhánh thái dương của họ Người Mặt trời-vũ trụ.

Ở đây chỉ xin nêu ra các điểm khác biệt chính yếu.

Nhìn chung các điểm khác biệt là theo tính nòng nọc, âm dương. Trống đồng âm dương Hoàng Hạ có khuôn mặt Nọc I thái âm OO tức quẻ IOO, Chấn mang tính chủ vì thế thuyền trên trống đồng âm dương Hoàng Hạ chủ yếu mang tính nọc I thái âm OO trong khi thuyển trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I chủ yếu mang tính nọc I thái dương II tức III, Càn. Nói một cách dễ hiểu thuyền trên trống đồng âm dương Hoàng Hạ mang nhiều âm tính hơn. Theo diện lưỡng hợp thì thuyền trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I và trống đồng âm dương Hoàng Hạ ở dạng lưỡng hợp thái dương, thái âm đại vũ trụ.

Trong 6 thuyền cũng có hai thuyền đại biểu cho nhánh âm và dương ứng với lưỡng nghi. Nhánh  dương gồm hai đại tộc Càn Li và nhánh âm gồm hai đại tộc Chấn Đoài. Còn lại 4 thuyền biểu tượng cho bốn tộc ứng với tứ tượng.

Xin thật vắn tắt ở đây. Tôi chỉ dựa vào mấu chốt những hình chim, cá đứng trước mũi và sau đuôi thuyền để nhận diện mỗi con thuyền.

Liếc mắt qua ta nhận thấy ngay trong 6 con thuyền chỉ có hai con thuyền phía mũi và sau đuôi có hai hình chim/cá còn lại 4 con thuyền kia chỉ có hình chim ở đuôi thuyền. Rõ như ban ngày hai thuyền có hai hình chim/cá là hai thuyền biểu tượng cho nhánh còn lại bốn thuyền chỉ có hình chim đứng dưới nước sau đuôi thuyền biểu tượng cho bốn tộc ứng với tứ tượng.

Ở bốn thuyền biểu tượng cho 4 tộc này, hình chim mang ý nghĩa cõi trời, cõi trên. Chim đứng trong nước, không bay, mang ý nghĩa cõi nước, vùng nước thế gian. Đứng ở phía đuôi thuyền có âm tính mang ý nghĩa ngành, nhánh, phía âm. Gộp lại 4 thuyền chỉ có chim đứng sau mũi thuyền biểu tượng cho cõi trời vùng nước của bốn tộc ngành âm.

Ta cũng thấy rất rõ ba thuyền không có bánh lái hay chỉ có một bánh lái ở mũi thuyền thuộc về nhánh thứ nhất còn lại ba thuyền có hai bánh lái thuộc về nhánh thứ hai.

1. Thuyền biểu tượng cho nhánh dương Càn Li.

Thuyền không có bánh lái. Nhắc lại thuyền của nhánh dương không có tay lái hay chỉ có một tay lái đơn giản.

 Thuyền biểu tượng cho nhánh dương Càn Li trên trống đồng âm dương Hoàng Hạ (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Ta thấy ngay không có bánh lái với số 0 là số Khôn hôn phối với Càn (dương), vậy thuyền không có bánh lái thuộc nhánh dương Càn Li.

Đầu thuyền và đuôi thuyền có hai con chim cho thấy thuyền biểu tượng cho hai tộc tức cho một nhánh. Ở đây là nhánh dương tức Càn Li.

Thật vậy

.Con chim đứng ở mũi thuyền là loài chim nước có con mắt âm hai vòng tròn đồng tâm. Trên người có hình sóng hai vòng tròn đồng tâm có chấm nọc dương có nghĩa là nước dương, lửa nước cũng xác thực con chim này là con chim nước ngành nước dương thái dương. Đầu chim không có bờm mà có mũ tia sáng ngắn mang ít dương tính nghiêng về lửa thế gian Li.

Nhưng mấu chốt rõ nhất là tên con chim viết bằng hình hai chân có hình núi tháp vách (hình chữ delta) kép Li. Bên cạnh còn có “tấm biển nhỏ” viết chữ nòng nọc vòng tròn-que hình vòng tròn-chấm có một nghĩa là Li để xác quyết thêm là con chim Li.

Trong núi tháp này không có chấm nọc dương cho thấy núi Li của phía nòng âm tức núi âm tức Non Cấn. Điểm này ăn khớp với hình người ngồi trên cầu thử thách có tóc dài mặc váy phồng mang vóc dáng của một người phái nữ. Ngồi là âm. Người này quay mặt về phía mũi thuyền dương. Như thế thuộc về phía nữ thái dương, thái dương thần nữ.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là Mẹ Tổ Âu Cơ, thái dương thần nữ.

Ta cũng thấy khuôn mặt Li mang tính chủ vì con chim Li này đứng ở phía dương mũi thuyền và người nữ tộc thái dương là con người thứ hai duy nhất ở trên cầu thử thách thấy trong 6 con thuyền.

.Con chim bay ở đuôi thuyền.

Chim bay biểu tượng cho cõi trời, cõi trên, bầu trời thường phần lớn không phải là chim nước thái âm. Theo duy dương (I) của ngành thái dương (II) là III, Càn.  Chim ở đây có con mắt dương một vòng tròn, mỏ lớn hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) mang dương tính, lửa. Người chim thon gọn như hình mũi tên nhọn mang dương tính. Chim mang vóc dáng chim lửa không phải là chim nước.

Mấu chốt chính là tên con chim này viết bằng chữ nòng nọc vòng tròn-que hình nọc que ở cổ chim. Chữ này xác thực tính nọc dương, lửa của chim bay là lửa vũ trụ Càn.

Tóm lại con chim bay này diễn tả lửa vũ trụ Càn.

Như thế thuyền có hai loại chim ở mũi và đuôi thuyền này biểu tượng cho nhánh dương Li Càn. Nhánh này gồm hai đại tộc Càn và Li và Li mang tính chủ.

a.Thuyền biểu tượng cho tộc Càn.

Thuyền chỉ có một bánh lái ở mũi thuyền. Số một là số lẻ, số dương. Bánh lái hình chuông úp không gian trong có ba nọc que tức quẻ Càn.Tay lái mang nghĩa Càn Khôn, tạo hóa sinh tạo. Tay lái cho biết thuyền  thuộc về nhánh dương Càn Li.

 

Thuyền biểu tượng cho tộc Càn (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

 Con chim có con mắt âm hai vòng tròn đồng tâm là loài chim nước. Chim đứng ở sau đuôi thuyền có mỏ rìu mang dương tính lửa Càn Li ngành nòng âm. Trong có viết chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình nọc nhọn mũi lao dương tính nhưng hình nọc rỗng mang âm tính. Mỏ diễn tả dương, lửa tức Càn Li ngành âm.

Tuy nhiên có nhiều yếu tố cho thấy thuyền có khuôn mặt Càn. Thứ nhất con chim quay về phía mũi thuyền Dương vậy thuyền mang tính dương trội tức thuần dương Càn. Thứ nhì người chim có những sọc ngang và dọc diễn tả không gian Khôn cho thấy khuôn mặt Càn hôn phối với Khôn mang tính chủ. Thứ ba, đuôi chim hình tia sáng tỏa rạng cũng xác thực chim có khuôn mặt lửa vũ trụ Càn. Thứ tư chim có bờm hình sừng có tia sáng ngắn cũng nghiêng về lửa vũ trụ Càn. Thứ năm, chim đang mổ mồi hình hộp chữ nhật là dạng thể hiệp (accord) theo tính âm dương hay thể điệu hóa của nòng O, trong có các sọc dọc ngang diễn tả không gian Khôn lưỡng hợp với Càn. Nhìn theo góc cạnh khác, mồi hình nọc que mang dương tính, lửa.

Vậy thuyền này qua hình chim đứng sau mũi thuyền là thuyền biểu tượng cho tộc Càn nhánh dương Càn Li.

Thuyền có một tay lái Càn-Khôn cho biết thuyền mang ý nghĩa sinh tạo ở cõi trên.

b. Thuyền biểu tượng cho tộc Li.

 Thuyền biểu tượng cho tộc Li (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

 Con chim có con mắt âm hai vòng tròn đồng tâm là loài chim nước. Trên người chim cũng có chữ hai vòng tròn đồng tâm có chấm nọc dương có nghĩa là nước dương, lửa nước xác thực chim là loài chim dương của nhánh nước.  

Chim đứng ở sau đuôi thuyền có mỏ rìu mang dương tính lửa Càn Li nhưng mỏ chim ở đây đầu mỏ bằng không nhọn như mỏ chim Càn ở trên, mang âm tính hơn, tức nghiêng về thiếu dương Li (âm của dương).Trong mỏ cũng có viết chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình nọc nhọn mũi lao dương tính nhưng hình nọc to và rỗng hơn mang nhiều âm tính hơn so với con chim Càn ở trên tức nghiêng về thiếu dương Li. Mỏ diễn tả thiếu dương Li ngành âm.

Ngoài ra con chim quay về phía âm đuôi thuyền như vậy là âm của dương tức thiếu dương Li.

Nhưng mấu chốt rõ nhất là tên con chim viết bằng hình hai chân có hình núi tháp (hình chữ delta) vách kép Li giống con chim Li đứng ở mũi thuyền biểu tượng cho nhánh Càn Li.

Vậy thuyền này qua hình chim đứng sau đuôi thuyền là thuyền biểu tượng cho tộc Li nhánh dương Càn Li. Thuyền không có tay lái.

Lưy Ý

Cả ba người gác cổng trời đứng trên cầu thử thách hình đài tam thế của ba thuyền thuộc nhánh dương này đều quay mặt về chiều âm đuôi thuyền và tay chỉ cầm khiên hình hai chữ DD lồng vào nhau  không cầm lao (không có dương) mang âm tính cho biết ba thuyền nhánh dương này thuộc ngành nòng âm nước thái dương.

2. Thuyền biểu tượng cho nhánh âm Chấn Đoài vũ trụ.

Thuyền biểu tượng cho nhánh âm Chấn-Đoài trên trống đồng âm dương Hoàng Hạ (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Ta thấy ngay thuyền có hai bánh lái ở mũi thuyền thuộc về nhánh âm. Số 2 là số chẵn số âm. Thuyền biểu tượng cho nhánh âm Chấn Đoài.

Đầu thuyền và đuôi thuyền có hai con chim/cá cho thấy thuyền biểu tượng cho hai tộc tức cho một nhánh. Ở đây là nhánh âm tức Chấn Đoài.

Thật vậy nhìn tổng quát ta thấy ngay chim có một khuôn mặt biểu tượng cho cõi trời khí gió Đoài và cá biểu tượng cho nước Chấn.

.Con chim đứng ở mũi thuyền

Chim là loài chim nước có con mắt âm hai vòng tròn đồng tâm. Chim có cổ dài, cong, chân dài, mỏ dài, nhọn đang mổ con cá, có bờm mang hình bóng cò.

Ta đã biết cò biểu tượng cho thiếu âm khí gió Đoài vũ trụ (Thế Giới Loài Vật trong Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á). Chữ vòng tròn-chấm có một nghĩa là thiếu âm khí gió xác thực đây là con cò gió Đoài vũ trụ.

Ta cũng thấy cò có những chấm nọc thái dương, quay mặt về chiều dương hướng mũi thuyền đi tới mang ý nghĩa thái dương II của âm O tức quẻ IIO, Đoài.

Cò đứng ở mũi thuyền nên khuôn mặt Đoài vũ trụ  mang tính chủ. Người gác cổng trời (mất chỉ còn hai chân) quay về chiều dương cũng cho biết thiếu âm Đoài vũ trụ mang tính chủ.

.Con cá ở đuôi thuyền

Hiển nhiên cá biểu tượng cho nước, âm. Con cá ở đây có con mắt dương một vòng tròn, có mõm hình chữ nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) mang tính nọc lửa thái dương. Vậy con cá này biểu tượng cho nước lửa, Chấn.

Ở phía mũi thuyền có một con cá nhỏ nữa. Nhìn tổng quát hai con cá với số 2 là số chẵn số âm cũng cho biết cá thuộc phía âm, nước. Con cá nhỏ này quay về phía dương mũi thuyền là dương của âm tức thiếu âm thuộc tộc Đoài. Ta cũng thấy rất rõ con cá này có lưng hình vòm bầu trời diễn tả khí gió Đoài. Vậy con cá nhỏ này nói rõ thêm mũi thuyền  mang tính Đoài  thuộc nhánh nước âm.

Con cá lớn ở đuôi thuyền quay về phía âm đuôi thuyền nên Chấn mang tính liệt, thứ yếu.

Như thế thuyền có cò và cá ở mũi và đuôi thuyền này biểu tượng cho nhánh âm Đoài Chấn.

Ta cũng thấy rất rõ khuôn mặt Đoài mang tính chủ ở thuyền biểu tượng cho nhánh âm này hôn phối với khuôn mặt mang tính chủ Li của thuyền biểu tượng cho nhánh dương ở trên. Đây là dạng lưỡng hợp thiếu âm thiếu dương tiểu vũ trụ.

.Thuyền biểu tượng cho tộc Đoài.

 

Thuyền biểu tượng cho tộc Đoài.

Thuyền có hai tay lái thuộc nhánh âm Đoài Chấn. Chỉ có một con chim đứng sau đuôi thuyền.

Con chim có con mắt âm hai vòng tròn đồng tâm là loài chim nước.  Chim có mỏ túi phình to là con chim nông. Chim có nhiều yếu tố mang dương tính.

Trong mỏ, cổ và người có đánh dấu các chấm nọc dương, lửa thái dương. Trong mỏ còn có chữ nọc que. Chim đứng quay mặt về phía mũi thuyền mang dương tính. Vậy con chim nông này là chim nông dương, thái dương tức bổ nông có một khuôn mặt biểu tượng cho khí gió Đoài vũ trụ.

Chim cũng có bờm gió Đoài vũ trụ.

Ngoài ra con chim quay về phía dương mũi thuyền như vậy là dương của âm là thiếu âm Đoài.

Vậy thuyền này qua hình chim đứng sau đuôi thuyền là thuyền biểu tượng cho tộc Đoài nhánh âm Chấn Đoài.

.Thuyền biểu tượng cho tộc Chấn.

Thuyền biểu tượng cho tộc Chấn (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Thuyền có hai tay lái thuộc nhánh âm Đoài Chấn.

Chỉ có hai chim đứng sau đuôi thuyền. Số hai là số chẵn số âm cho thấy ngay khuôn mặt âm trội tức nước Chấn của thuyền này. Hai con chim đứng trên bè có hình sóng nước cũng cho biết chúng là loài chim nước.

Con chim có con mắt âm hai vòng tròn đồng tâm là loài chim nước.

Nhưng mấu chốt chính là tên chim viết trên thân chim bằng chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình hai vòng tròn đồng tâm có chấm nọc dương có nghĩa là nước dương, lửa nước, Chấn.

Chim có mỏ túi phình to mang nhiều âm tính là con chim nông nước.

Con đứng trước mỏ túi phồng lên mang âm tính nhiều là con cái. Con đứng sau trên lưng con cái  là con đực và mỏ có túi hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) cũng cho biết rõ là con đực.

Trong mỏ còn có chữ nọc que xác thực là con đực. Hai con nông đang giao hợp diễn tả tính sinh tạo.

Trong mỏ, cổ và người hai con chim có đánh dấu các chấm nọc dương, lửa thái dương. Ở đây lấy nghĩa thái dương.

Chim có bờm tua nước Chấn.

Vậy thuyền này qua hình hai chim nông đứng sau đuôi thuyền là thuyền biểu tượng cho tộc Chấn nhánh âm Chấn Đoài.

Như thế 6 con thuyền trên trống đồng âm dương Hoàng Hạ cũng là những con thuyền mang trọn vẹn triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh trong Vũ Trụ giáo và diễn tả theo nòng nọc, âm dương theo Dịch. Sáu con thuyền này thuộc phía nòng thái âm trong khi 6 con thuyền ở  trống đồng âm dương Ngọc Lũ I thuộc phía nòng thái dương của ngành nòng âm thái dương.

Thuyền ở đây cũng là thuyền phán xét linh hồn như thuyền trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I.

Sau đây là những điểm khác biệt chính yếu  quan trọng và hữu ích giữa 6 con thuyết trên trống  đồng âm dương Hoàng Hạ và trống đồng âm dương Ngọc Lũ I.     

1. Người trên thuyền ở trống đồng âm dương Hoàng Hạ có trang phục đầu có nhiều  đường nét cong mang âm tính hơn người ở trống đồng âm dương Ngọc Lũ I.

2. Cổng vào cầu thử thách ở trống đồng âm dương Hoàng Hạ có khuôn cửa rõ hơn cho thấy rõ các cổng diễn tả đơn giản ở trống Ngọc Lũ I.

 

3. Có linh hồn người chết đang đi vào cổng để vượt qua cầu thử thách để vào  được cõi trên.

Một linh hồn người chết đang đi vào cổng cầu thử thách để vượt qua thử thách để vào  được cõi trên.

4. Sau đuôi thuyền hình đầu chim bổ nông, có thuyền có hai cọc đầu chim cắt riêng rẽ để diễn tả hai dương, lửa, thái dương. Điểm này xác thực một nọc có thể diễn tả hai đầu chim cắt mang nghĩa lửa, thái dương ở trống đồng âm dương Ngọc Lũ I là đúng.

5. Chiếc sừng tê giác ở mũi thuyền ở trống đồng âm dương Hoàng Hạ cong hơn, mang nhiều âm tính hơn ở thuyền trên trống Ngọc Lũ I cho thấy Hoàng Hạ thuộc nhành nòng âm thái âm ngành thái dương.

Ta cũng thấy ba thuyền của nhánh âm đều có sừng tê giác mang nhiều âm tính này. Điểm này cho biết thuyền nhánh âm thuộc nọc thái âm ngành thái dương.

6. Hình khắc trên các thuyền trên trống đồng âm dương Hoàng Hạ đã kém mỹ thuật và chính xác hơn ở thuyền trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I cho biết trống đồng âm dương Hoàng Hạ muộn hơn. Vì thế mà cách diễn tả theo hình, chữ viết nòng nọc vòng tròn-que dễ hiểu hơn.

(còn nữa).

April 20, 2012

TRỐNG NGƯỜI MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG BÁCH VIỆT NGỌC LŨ I (19).

Filed under: Trống Bách Việt Ng. Lũ I (19) — Quang Nguyen @ 5:11 am

TRỐNG NGƯỜI MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG BÁCH VIỆT

NGÀNH VIÊM VIỆT NGỌC LŨ I.

(TRỐNG NHÓM MẶT TRỜI NỌC THÁI DƯƠNG LƯỠNG HỢP  TIỂU VÀ ĐẠI VŨ TRỤ).

(phần 19)

Nguyễn Xuân Quang

Nhận Diện Chi Tiết Những Thuyền Trên Trống Ngọc Lũ I.

Ta đã hiểu rõ về cấu trúc, các tài vật (paraphernalia) của con thuyền và người trên thuyền, bây giờ ta đi vào chi tiết từng thuyền một. Như đã nói ở trên, dựa vào mấu chốt ở hình vẽ trong The Kettle Drums of Southeast Asia của A.J. Bernet Kempers ta có thuyền số 1 ở bên trái và số 6 ở bên phải đọc theo chiều âm theo tức theo chiều kim đồng hồ

Hình thuyền số 6 và số 1 (The Kettle Drums of Southeast Asia của A.J. Bernet Kempers). 

Lưu Ý

 Mấu chốt chính để nhận diện ra thuyền số 6 là ở dưới đài cao Tam Thế có hai chiếc bình (xem dưới).

Như thế đọc theo chiều âm cùng chiều kim đồng hồ của ngành âm nước, ta có theo thứ tự như sau:

1. Thuyền số 1 dẫn đầu biểu tượng cho một nhánh gồm hai đại tộc ứng với một cực trong lưỡng nghi.

Thuyền số 1 biểu hiện nhánh âm Li Càn vũ trụ của người dòng Nước (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Thuyền có những đặc tính sau:

Mũi thuyền

Sáu thuyền, nhìn chung đều có mũi giống nhau chỉ khác về chi tiết nòng nọc, âm dương diễn tả theo các diện khác nhau của Vũ Trụ luận, chúng cũng cho biết thuyền thuộc nhánh, đại tộc, tộc nào. Như đã biết, tổng quát các mũi thuyền đều biểu hiện thái dương chim mỏ rìu biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam nằm trong miệng thái âm rắn nước biểu tượng cho bộ phận sinh dục nữ. Nó diễn tả Nhất Thể, Thái Cực, hay Lưỡng Thể tức sự kết hợp giữa âm và dương, nước và lửa ở dạng thái dương và thái âm ở cõi đại vũ trụ, nghĩa là mang trọn vẹn vũ trụ thuyết.

Ở đây, con chim có mỏ rìu nhọn Càn trong có phụ đề nọc nhọn mang dương tính. Con chim mỏ rìu biểu tượng cho Càn. Rắn nước ở đây biểu tượng cho thái âm. Rắn có mào sừng nên thuộc ngành thái dương. Như thế đấu rắn biểu tượng cho Chấn. Rõ ràng ta có lưỡng hợp thái dương Càn với thái âm Chấn dạng đại vũ trụ ngành thái dương.

Ở đây điểm đặc thù nhất là mũi thuyền đầu rắn nước có sừng cong như sừng tê giác. Sừng là nọc nhọn biểu tượng cho nọc, dương và cong mang âm tính. Sừng nhọn và cong này diễn tả nhánh nọc, dương, thái dương tức Càn-Li của ngành nòng âm, nước  tức Thần Nông thái dương.  Trong sừng có đánh dấu hay viết chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình nọc que cong cũng xác thực sừng là sừng nọc dương Càn Li phía nòng âm nước.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, An Dương Vương  dòng Lạc Long Quân (được thần Rùa Vàng,  một thú biểu của Lạc Long Quân giúp xây thành Cổ Loa) lúc cuối đời cầm sừmg tê giác 7 khấc rẽ nước đi xuống biển về với Lạc Long Quân.  Sừng tê giác có 7 khấc với số 7 là số Càn biểu tượng cho  nọc dương Càn Li  ngành nòng nước thái dương giống như sừng tê giác có chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình nọc que ở thuyền này.

Mũi thuyền cho thấy thuyền là thuyền đại biểu của nhánh nọc Càn-Li dòng nòng nước thái dương.

Thân thuyền

Mấu chốt đặc thù là ở giữa thân thuyền 1, hình đĩa nổi (mầu đen) diễn tả đất âm, đất có nước, đất ruộng đồng Cấn hay Li âm tức Li dòng Cấn, đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là Li Kinh Dương Vương dòng Cấn Âu Cơ (Âu Cơ Cấn non đem 50 con lên non Cấn). Li dòng Cấn này là khuôn mặt dương số 5 (Li Kinh Dương Vương) cha của Âu Cơ Cấn 4 khác với Li Khảm ở thuyền số 4, Li này hôn phối với Khảm (Li Kinh Dương Vương chồng của Thần Long Khảm) (xem dưới).

Thân thuyền số 1 cho thấy thuyền này biểu tượng nhánh Li (dòng Cấn)-Càn (dòng Tốn) của ngành thái âm Nước thái dương.

Một mấu chốt quí báu nữa ở ngoài con thưyền là con chim ở mũi thuyền.

Như đã nói ở trên, trước mũi thuyền có một hình chim đứng trong nước, trước mũi thuyền và ở vùng nước tang trống là một loài chim nước. Chim nước này mang dương tính vì đứng ở mũi thuyền chuyển động theo chiều ngược với kim đồng hồ, theo chiều mặt trời (mũi thuyền dương còn đuôi thuyền âm). Con chim có bờm gió. Chim nước có bờm gió là chim nông. Chim nông này có mỏ phình hình búa rìu là chim bổ nông mang dương tính, nọc lửa, thái dương [xin nhắc lại theo duy dương chim nông gọi theo cái mỏ lớn hình rìu là chim bổ (nông) như người Tây phương theo duy dương gọi là pelican có gốc Hy Lạp ngữ pelikus, cái rìu. Trong khi chúng ta theo duy âm gọi theo cái túi dưới mỏ là chim nang (túi), chim nông].

Trên người có hai chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình vòng tròn có chấm có một nghĩa là hai mặt trời, hai dương, thái dương, lửa.

Lưu Ý

Như đã biết chim nông mang trọn vẹn ý nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo. Vì thế chim nông mỏ rìu có một khuôn mặt biểu tượng cho nọc lửa Càn-Li ngành nòng nước. Trong thực tế là con chim nông lửa mỏ đỏ.

Vậy con bổ nông này là chim bổ nông ngành nọc lửa thái dương. Như thế con chim rìu bổ nông nói cho biết thuyền 1

dẫn đầu của 6 con thuyền có khuôn mặt chủ là thuyền của nhánh nọc lửa thái dương Li Càn.

Đuôi thuyền

Đuôi thuyền đầu chim nông của thuyền số 1 này có con mắt âm hai vòng tròn đồng tâm có túi nang hình tháp ngược đầu có phụ đề với nhiều đường sọc song song nghiêng là chim bổ nông nước dòng Li ngành nòng âm. Bờm chim có những sợi lông dài như tia sáng mang dương tính Càn dòng âm nước. Đầu chim bổ nông này diễn tả nhánh Li-Càn của dòng nước. Đầu chim bồ cắt sau đuôi thuyền có mũ sừng có tia sáng và bờm dương diễn tả Li-Càn. Hộp chữ nhật có chấm dưới đươi thuyền biểu tượng vũ trụ, không gian dương Li Càn.

Tóm gọn lại, đuôi thuyền 1 diễn tả nhánh Li-Càn của dòng Nước. Có sự hôn phối, giao hòa giữa thiếu âm bổ nông với thiếu dương bồ cắt ở cõi tiểu vũ trụ.

Tay lái

Taylái của thuyền này có cái dầm hình trụ chống có đáy hình núi Li.

Như thế, tay chèo diễn tả nhánh Li của dòng Nước.

Trống Cây Vũ Trụ

 Trống Cây Vũ Trụ trên thuyền số 1 trên trống Ngọc Lũ I.

Trống Cây Vũ Trụ có hình lục giác kép Khôn hôn phối với Càn và trên có cắm hai thanh cong như hai cái tai thỏ diễn tả hai sừng âm Li dòng nước. Trống Cây Vũ Trụ này biểu tượng nhánh Li Càn dòng nước âm (xem chương Ý Nghĩa Dấu và Biểu Tượng).

Cầu Thử Thách hay Gian Nguy.

 Cầu Thử Thách trên thuyền số 1 trên trống Ngọc Lũ I.

Dưới gầm cầu thuyền này có một cái trống hay một vật đựng hình trống hình cái đồng hồ nước. Theo duy âm thì vật này là một vật đựng. Đọc theo âm là Khảm O|O, hôn phối với Li. Theo duy dương thì là trống Khảm-Li. Nếu là trống thì đây chính là trống Moko của Nam Dương là loại trống Li càn thế gian của dòng nước. Hiển nhiên các tộc ở hải đảo như Nam Dương có một gốc lớn thuộc dòng nước.

Như thế đây là trống hay vật đựng Li/Khảm.

Cầu có một tay vịn diễn tả bằng hai đầu chim không có bờm mang nghĩa hai dương, thái dương Li Càn.Tayvịn này biểu tượng nhánh Li càn. Thành cầu, những chấm nhỏ dương nguyên tạo bụi lửa vũ trụ Càn hay bụi đất Li.

Tay chèo

Đầu chim trên đầu tay chèo có mỏ mang dương tính trông giống cái búa chim Càn hay rìu Li vì có phụ đề “vòng tròn có chấm” Li. Phần dưới tay chèo cong vòng mang nghĩa Khôn đi với Càn hay vũ trụ cho biết Li là Li vũ trụ.Taychèo này biểu tượng nhánh Càn-Li vũ trụ.

Người

Như đã thấy ở trên người trên thuyền này thuộc đại tộc Li Càn.

Tóm lại, tất cả các chi tiết trên thuyền số 1 đều ăn khớp với nhánh dương Càn Li của người tộc Nước và khuôn mặt Li mang tính chủ vì trống trống Ngọc Lũ I là trống thế gian. Thuyền diễn tả hai cảnh phán xét linh hồn (afterlife judgment) và mang trọn ý nghĩa Vũ Trụ luận.

2. Thuyền số 2 sau thuyền dẫn đầu biểu tượng cho một nhánh gồm hai đại tộc ứng với một cực trong lưỡng nghi.

 

Thuyền 2 sau thuyền dẫn đầu là thuyền đại biểu của tộc Đoài của nhánh Đoài Chấn dòng nòng âm thái dương (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Thuyền này có những đặc tính sau:

Mũi thuyền:

Mũi thuyền biểu hiện đầu linh thú Rắn nước giao hợp với chim Rìu lửa. Như thuyền số 1 là dạng lưỡng hợp thái âm thái dương ở cõi đại vũ trụ, mang trọn vẹn vũ trụ thuyết.

Ở thuyền này hình chim không rõ lắm nhưng theo suy luận thì đây phải là chim lửa thái dương (II) phía nòng (O) âm tức IIO, Đoài. Đầu rắn rắn nước mang tính thái âm Chấn. Như thế mũi thuyền diễn tả ngành nòng âm thái dương Chấn-Đoài (đối ứng với khuôn mặt Càn Li thưyền số 1).

Ta thấy rất rõ mũi thuyền không có sừng tê giác tức không có dương tính của ngành nọc lửa Càn Li.

Thân thuyền

Thân thuyền có những sọc ngang nước Chấn và các sọc nghiêng có chấm nọc dương Đoài. Ở giữa thân thuyền 2, có một khoảng trống không giống hình đĩa hay vật đựng biểu tượng Khôn dương, vũ trụ dương tức Chấn-Đoài. Chấn ở đây là khuôn mặt dương đại diện cho Khôn, khác với Chấn dòng Tốn ở thuyền số 6 và Đoài ở đây là khuôn mặt đại diện cho Khảm, khác với Đoài dòng Cấn ở thuyền số 5 (xem dưới). Thuyền này biểu hiện nhánh Chấn khôn Đoài khảm vũ trụ của người sống dưới Nước.

Thân thuyền 2 biểu hiện nhánh Chấn khôn-Đoài khảm vũ trụ của người Nước.

Đuôi thuyền

Đặc biệt là túi nang cách điệu của đầu chim bổ nông có sọc nước diễn tả Chấn và bờm hình dải phướn gió diễn tả gió Đoài vũ trụ. Chim diễn tả nhánh Chấn-Đoài.

Khung  hình chữ nhật có chấm dưới đuôi thuyền biểu hiện vũ trụ hay không gian Chấn-Đoài. Như thế đuôi thuyền đầu chim bổ nông diễn tả nhánh Chấn Đoài.

Đầu chim bổ cắt trên chiếc trụ cắm sau đuôi thuyền có sừng nước Chấn và mỏ có chấm dương gió dương vũ trụ Đoài.

Tóm lại, đuôi thuyền biểu hiện nhánh Chấn-Đoài của người Nước.

Ở đuôi thuyền có sự hôn phối, giao hòa giữa thiếu âm bổ nông với thiếu dương bổ cắt ở cõi tiểu vũ trụ.

Tay lái

Taylái hình chữ nhật giống như cái dầm chèo thuyền có phụ đề hai nọc thái dương diễn tả nhánh Đoài vũ thụ thái dương.Taylái có khuôn mặt Đoài mang tính chủ.

Trống Cây Vũ Trụ:

Trống Cây Vũ Trụ trên thuyền 2 trên trống Ngọc Lũ I.

Trống Cây Vũ Trụ có chữ chấm-vòng tròn thiếu âm Đoài ở giữa và đoản dao âm nước Chấn thái dương cắm trên trống. Trống Cây Vũ Trụ này diễn tả nhánh Chấn-Đoài vũ trụ (xem chương Ý Nghĩa Dấu, Hình, Biểu Tượng Trên Trống Đồng).

Cầu Thử Thách.

Cầu Thử Thách hay Cầu Gian Nguy trên thuyền 2 trống Ngọc Lũ I.

Như đã nói ở trên người gác cổng thiên đường đứng trên cầu thử thách trần truồng thuộc dòng nước Chấn. Tay chỉ cầm khiên hình hai chữ DD ngược lồng vào nhau là hai nòng OO, nước, thái âm ỡ dạng dương hóa, thái dương. Ở đây không cầm lao cho thấy người này thuộc tộc thuần âm nước. Ta cũng thấy rất rõ người này quay mặt về phía đuôi thuyền tức chiều âm.

Dưới gầm cầu Thử Thách của thuyền này, có một cái bình.

Tổng quát bình, vật đựng biểu tượng cho nòng, âm, nữ, nước, thái âm. Bình có cổ thẳng và rộng mang dương tính, t

Và thâm bầu tròn mang tính thái âm. Trong bình có chấm nọc dương, thái dương. Chiếc bình này diễn tả Chấn thái dương dòng nòng, nước.

Cầu chỉ có một tay vịn diễn đạt bằng hình đầu chim dương với bờm dài mang âm tính. Đầu chim này biểu tượng Đoài vũ trụ. Trên thành sàn cầu, có hình ngữ hình sóng biểu tượng cho nước dương chuyển động Chấn. Sóng gồm có bốn chữ chấm-vòng tròn nối lại với nhau bằng tiếp tuyến. Số 4 là số Cấn hôn phối với Chấn.

Lưu Ý     

Đặc biệt sau Cầu Thử Thách có con chó cõi âm phụ giúp trong việc phán xét linh hồn cho thấy vững chắc thuyền ngày thuộc nhánh nòng âm Chấn-Đoài.

 Tay chèo

Đầu chim dương trên đầu tay chèo thuyền 2 có bờm gió-nước biểu tượng Đoài.

Người

Như đã thấy ở trên người trên thuyền này thuộc đại tộc Đoài -Chấn.

Tóm lại, tất cả các chi tiết trên thuyền 2 đều ăn khớp với nhánh âm Chấn-Đoài của người tộc Nước và Chấn là khuôn mặt mang tính chủ. Thuyền diễn tả hai cảnh phán xét linh hồn (afterlife judgment) biểu tượng cho cả nhánh, đại nòng âm và mang trọn ý nghĩa Vũ Trụ luận.

3. Thuyền số 3 biểu tượng cho một tộc ứng với một tượng trong tứ tượng.

Thuyền biểu tượng tộc Khôn/Càn dòng nòng âm

thái dương (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Thuyền này có những đặc tính sau:

Mũi thuyền

Sáu thuyền, nhìn chung đều có mũi giống nhau, chỉ khác về chi tiết diễn tả theo các diện khác nhau của vũ trụ luận.

Ở thuyền này con chim có mỏ hình búa chim diễn tả Càn. Hàm trên miệng rắn nước có chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình vòng tròn cò chấm có một nghĩa là  mặt trời, Càn. Hàm dưới hình khung chữ nhật có các sọc diễn tả không gian ngành thái dương. Như thế đầu rằn nước diễn tả Khôn dương Chấn ngành thái dương.

Đầu thuyền diễn tả Càn Khôn thái âm ngành nòng thái dương.

Thân thuyền

Ở giữa thân thuyền này có khung chữ nhật có chấm dương diễn tả Khôn/Càn vũ trụ. Thuyền này biểu tượng tộc Khôn/Càn thái dương.

Đuôi thuyền

Đầu chim bổ nông nước có mắt âm đuôi thuyền này có túi nang hình chữ nhật Khôn phụ đề với ba nọc nước song song nghiêng mang tính Càn lưỡng hợp Chấn. Bờm chữ nhật phụ đề với các sọc song song nghiêng theo chiều âm, Khôn và lông hình tia sáng Càn. Mấu gai hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) ở chân cổ chim nông mang nghĩa dương, thái dương, Càn. Như thế đầu chim bổ nông đuôi thuyền biểu tượng chi Khôn/Càn dòng Chấn.

Trụ hơi cong sau đuôi thuyền có hai đầu chim bồ cắt diễn tả thái dương Càn. Đầu chim bổ cắt này là bổ cắt Càn thái dương.

Hộp chữ nhật có chấm dương dưới đuôi thuyền diễn tả Khôn/Càn.

Tóm lại, đuôi thuyền này biểu tượng chi Khôn/Càn vũ trụ.

Tay lái

Taylái hình hộp chữ nhật có sọc không gian Khôn có một nọc dài dương Càn dương diễn tả Càn Khôn. Như thế tay lái biểu tượng chi Khôn/Càn vũ trụ.

Trống Cây Vũ Trụ

Trống Cây Vũ Trụ trên thuyền số 3 trống Ngọc Lũ I.

Chữ vòng tròn-chấm ở giữa trống mang nghĩa âm dương Khôn-Càn bởi vì đầu chim cắm trên trống có đầu hình tròn O Khôn. Đầu chim cắm trên trống có mỏ cường điệu mang dương tính và con mắt có vòng nòng Khôn bao bọc. Trống Cây Vũ Trụ này biểu tượng chi Khôn/ Càn (xem Dấu và Biểu Tượng).

Cầu Thử Thách

Cầu Thử Thách trên thuyền 3 trên trống Ngọc Lũ I.

Khoảng trống không ở gầm sàn cầu diễn tả không gian, vũ trụ Khôn, giao hòa với Càn. Cầu chỉ có một tay vịn diễn tả bằng cái trụ có đầu chim cắt có mắt bao bọc bởi vòng tròn lớn Khôn. Thành cầu có chuỗi hình sóng gồm 3 vòng tròn-chấm nối với nhau bằng tiếp tuyến diễn tả nước dương Chấn cho biết tộc Càn Khôn này thuộc dòng Chấn.

Người gác cổng trời có chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình vòng tròn có chấm có một nghĩa là mặt trời, Càn.Taycầm mộc và lao Càn-Khôn. Quay mặt về phía mũi thuyền dương thuộc tộc nọc dương Càn.

Tay chèo

Phần trên tay chèo có hai thành tố: thành tố bên trên là đầu chim dương có mỏ rất lớn có chấm mang dương tính và bờm hình tia sáng. Đầu chim này diễn tả thái dương Càn. Cái khiên chữ D kép hai đầu nhọn Khôn nước dương Chấn. Như thế tay chèo biểu tượng chi Khôn/ Càn dòng Chấn.

Người

Như đã thấy ở trên người trên thuyền này thuộc đại tộc Càn-Khôn.

Tóm lại, tất cả các chi tiết trên thuyền 3 đều ăn khớp với chi Khôn/Càn vũ trụ của người tộc Nước. Thuyền diễn tả một cảnh phán xét linh hồn (afterlife judgment) và mang trọn ý nghĩa Vũ Trụ luận.

4. Thuyền số 4 biểu tượng cho một tộc ứng với một tượng trong tứ tượng.

Thuyền số 4 biểu tượng tộc Khảm/Li dòng nòng âm thái  dương (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Thuyền này có những đặc tính sau:

 Mũi thuyền

Sáu thuyền, nhìn chung đều có mũi giống nhau, chỉ khác về chi tiết diễn tả theo các diện khác nhau của vũ trụ luận.

Ở thuyền này, con chim dương có mỏ rìu trong có chữ viết nòng nọc vòng tròn-que nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) hình tháp nhọn Li và ở đuôi có chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình vòng tròn có chấm có một nghĩa là Li.

Như thế chim rìu dương Càn-Li có khuôn mặt Li mang tính chủ.  Rắn nước Chấn có nhiều sọc nước mang tính Khảm chủ. Nhìn chung đầu thuyền này giống đầu thuyền Li Càn biểu tượng cho nhánh Li Càn ở đầu thuyền số 1.

Đầu thuyền này cũng có sừng tên giác nhưng chỉ khác là cái sừng này nhỏ, ít thể điệu hơn tức ít dương tính hơn và đầu sừng bằng không nhọn cho biết Li mang tính chủ.

Đầu thuyền diễn tả Li/Khảm.

Thân thuyền

Ở giữa thân thuyền này có hai hình ngữ hình học. Một hình nêm dạng hình thang nhỏ nổi giống như hình ở thân thuyền số 1 nhánh Càn Li nhưng ở đây nhỏ hơn để diễn tả Li dòng Khảm. Hình thứ hai có hình thoi nổi biểu Đoài, khuôn mặt dương của Khảm. Như thế thân thuyền biểu tượng chi Khảm Li dòng Đoài.

Đuôi thuyền

Đầu chim bổ nông nước có mắt âm đuôi thuyền này có túi nang không gian có ba sọc Càn tức không gian dương Đoài. Bờm có hình trụ chống Li phụ đề các sọc ngang nước Khảm. Như thế, đuôi thuyền đầu bổ nông diễn tả chi Li Khảm dòng Đoài. Trụ đầu chim bổ cắt sau đuôi thuyền có sừng hình thanh trụ thẳng đứng Li có bờm gió lông dài Đoài.

Trang trí dưới mũi thuyền có hình trụ cụt Li và hình chữ nhật gió Đoài.

Tóm lại, đuôi thuyền 3 biểu tượng chi Khảm Li dòng Đoài. Có sự hôn phối, giao hòa giữa thiếu âm bổ nông với thiếu dương bổ cắt ở cõi tiểu vũ trụ.

Tay lái

Taylái thuyền này giống thuyền số 1 của nhánh Càn Li nghĩa là có hình cái dầm hình trụ chống có đáy hình núi Li. Ở đây chỉ khác là cái dầm ít cường  điệu hơn và có hình tròn mang âm tính hơn vì Li biểu tượng cho một tộc ứng với một tượng nghĩa là Li đi với Khảm. Như thế tay lái  diễn tả chi Khảm/Li.

Trống Cây Vũ Trụ

Trống Cây Vũ Trụ trên thuyền 4 trên trống Ngọc Lũ I.

Chữ vòng tròn-chấm ở giữa trống mang nghĩa thiếu dương Li. Điểm này được xác định bằng con dao ngắn thiếu dương Li âm và đầu chim dương Đoài với mỏ chỉ hơi cong cắm trên trống. Trống Cây Vũ Trụ này là trống Cây Vũ Trụ Li khảm dòng Đoài (xem chương Ý Nghĩa Dấu, Hình, Biểu Tượng Trên Trống Đồng).

Cầu Thử Thách

Cầu Thử Thách trên thuyền 4 trên trống Ngọc Lũ I.

 Người gác cổng thiên đường đứng trên cầu quay mặt về phía mũi thuyền dương tức thuộc đại tộc dương Càn-Li. Trên người có chữ viết nòng nọc vòng tròn-que vòng tròn có chấm có một nghĩa là Li. Tay cầm khiên và lao có âm O

có dương I. Người này quay về phía dương nên có khuôn mặt chủ là thiếu dương OI Li.

Ở gầm cầu có một ấm trong có nước Khảm để trên lửa Li.  Như thế hình này diễn tả Khảm Li.

Cầu chỉ có một tay vịn là cái trụ đầu có 5 hình chữ L hơi cong diễn tả Li dòng nước âm Khảm (số 5 là số Li). Trên thành cầu có hình sóng ba chữ vòng tròn-chấm diễn tả nước. Chữ vòng tròn-chấm mang dương tính là thiếu dương Li. Như thế sóng này diễn tả Li Khảm dòng Đoài.

Vậy cầu thử thách diễn tả Li Khảm.

 Tay chèo

Đầu chim dương với mỏ lớn có chấm dương là đầu chim bồ cắt Li. Như thế tay chèo diễn tả chi Li.

Người

Như đã thấy ở trên, người trên thuyền này thuộc đại tộc Li Khảm.

Tóm lại, tất cả các chi tiết trên thuyền số 4 đều ăn khớp với tộc Li/Khảm ứng với tượng Li của người ngành Nước.

Thuyền diễn tả một cảnh phán xét linh hồn (afterlife judgment) và mang trọn ý nghĩa Vũ Trụ luận.

5. Thuyền số 5 biểu tượng cho một tộc ứng với một tượng trong tứ tượng.

Thuyền 5 biểu tượng tộc Cấn/Đoài dòng Li thái dương.

Thuyền này có những đặc tính sau:

Mũi thuyền

Sáu thuyền, nhìn chung đều có mũi giống nhau, chỉ khác về chi tiết diễn tả theo các diện khác nhau của vũ trụ luận.

Ở thuyền này, con chim dương không có chữ viết nòng nọc vòng tròn-que  hình nọc nhọn Càn Li mà chỉ có những chầm nọc mang tính dương, thái dương. Đuôi hình tua gió.

Chim diễn tả khuôn mặt Đoài thái dương.

Thân thuyền

Ở giữa thân thuyền, khoảng trống không diễn tả khí vũ trụ Đoài và ngay phía trái, có 4 nọc nghiêng Cấn. Thuyền này biểu tượng chi Cấn/Đoài vũ trụ.

Đuôi thuyền                 

Đầu chim bổ nông nước có mắt âm có túi nang hình hộp

Có sọc diễn tả không gian. Bờm hình túi lông chim khí gió Đoài vũ trụ. Như thế đuôi thuyền  diễn tả chi Đoài vũ trụ.

Trụ một đầu chim cắt sau mũi thuyền có sừng hình chữ nhật đất Cấn phụ đề các sọc song song nghiêng âm và bờm gió Đoài với các tua như chùm lông dài. Đầu chim cắt biểu tượng Li dòng Cấn/Đoài.

Trang trí dưới đuôi thuyền hình hộp chữ nhật có chấm dương Đoài.

Tóm lại, đuôi thuyền này biểu tượng chi Đoài Cấn ngành nước. Ta cũng thấy có sự hôn phối, giao hòa giữa thiếu âm bổ nông với thiếu dương bổ cắt ở cõi tiểu vũ trụ.

Tay lái

Thuyền này không có tay lái biểu tượng chi gió khí Đoài (không là không có gì, hư không, không gian, không khí có một nghĩa là khí gió Đoài). Sự vắng bóng của tay lái ăn khớp với khoảng trống không Đoài ở giữa thân thuyền.

Trống Cây Vũ Trụ

Trống Cây Vũ Trụ thên thuyền 5 trên trống Ngọc Lũ I.

Hình ngữ chấm-vòng tròn ở giữa trống theo duy âm có nghĩa là thiếu âm gió Đoài (đọc theo duy âm vì người gác cổng cõi trên quay mặt về chiều âm đuôi thuyền). Hình đầu chim có mỏ cong nhiều và bờm gió diễn tả Đoài. Nọc đầu cong có chấm dương diễn tả Li âm tức Cấn. Trống Cây Vũ Trụ này biểu tượng chi Đoài Cấn ngành nòng nước.

Cầu Thử Thách

Cầu Thử Thách trên thuyền 5 trên trống Ngọc Lũ I.

Người gác cổng trời đứng trên cầu thử thách quay mặt về đuôi thuyến, chiều âm thuộc về nhánh âm Chấn Đoài. Trên người có chấm nọc dương, thái dương như thế khuôn mặt

âm thái dương tức Đoài vũ trụ mang tính chủ.Taycầm khiên và lao. Cây lao chỉ lên trời diễn tả khí gió cõi trên Đoài vũ trụ.

Người này thuộc tộc Đoài vũ trụ.

Dưới gầm cầu có một cái trống hay một vật đựng hình trống. Theo duy dương thì vật này nghiêng nhiều phía trống. Trống có một nghĩa là Không biểu tượng cho hư không, Khôn dương khí gió. Trống biểu tượng cho sấm và theo thiếu âm, trống có một khuôn mặt là sấm dông Đoài.

Trống cho biết thuyền có một khuôn mặt Đoài vũ trụ tức Khôn dương có một khuôn mặt là dông gió vũ trụ.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, ông thần sấm dông Phù Đổng thiên vương liên hệ với trống như thấy qua câu ca dao vùng Hà Bắc “Ông Đổng mà đúc trống đồng” (Ca Dao Tục Ngữ, Tinh Hoa Dân Việt).

Trống ở đây có phần trên bầu tròn, thân và eo không phân biệt thuộc loại trống hình dù, lọng tức trống Đoài loại Nguyễn Xuân Quang III. Vậy chiếc trống Đoài này cho biết thuyền này có một khuôn mặt dương là Đoài đi với Cấn non (ông thần sấm có nhà ở đầu non gió hú).

Cầu chỉ có một tay vịn diễn tả bằng hình đầu chim với mắt dương, bờm gió dương và mỏ thẳng dương biểu tượng gió dương Đoài.

Tay chèo

Taychèo có hình đầu chim mõ rìu có chấm nọc thái dương  có bờm gió Đoài.  Đây là con chim bổ nông gió thái dương Đoài nhìn theo cái mỏ rìu đúng với tên pelican.

Taychèo này diễn tả tộc Đoài.

Người

Như đã thấy ở trên, gười trên thuyền này thuộc đại tộc Đoài.

Tóm lại, tất cả các chi tiết trên thuyền số 5 đều ăn khớp với tộc Đoài/Cấn/của người tộc Nước.

Thuyền diễn tả một cảnh phán xét linh hồn (afterlife judgment) và mang trọn ý nghĩa Vũ Trụ luận.

6. Thuyền số 6 biểu tượng cho một tộc ứng với một tượng trong tứ tượng.

 Thuyền số 6 biểu tượng tộc Tốn/Chấn dòng Càn thái dương.

Thuyền này có những đặc tính sau:

Mũi thuyền

Sáu thuyền, nhìn chung đều có mũi giống nhau, chỉ khác về chi tiết diễn tả theo các diện khác nhau của vũ trụ luận.

Ở thuyền này, con chim dương có mỏ rìu cũng không có chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình nọc nhọn mang dương tính Càn-Li, cho thấy chim Càn thuộc nhánh nòng âm, nước.

Mũi thuyền đầu rắn nước không có một yếu tố dương nào (không có chữ viết nòng nọc vòng tròn-que nọc mũi tên mũi mác, răng cưa, răng sói, nọc que hay chấm nọc) chỉ có các sọc song song diển tả không gian gió nước, mang nhiều âm tính và nghiêng về thuần âm thái âm nước.

Mũi thuyền có chiếc sừng diễn tả bằng hai hình sóng nước chuyển động >>. Đây là sừng nước diễn tả nước thái dương Chấn.

Vậy đầu thuyền cho biết đây là tộc Chấn lưỡng hợp chim Càn ngàn

Toàn thân thuyền này chỉ có các sọc không gian gió nước, ở giữa có một nhóm sọc ngang song song dài nhất trong tất cả các thuyền diễn tả nước vũ trụ thái dương Chấn cho thấy thuyền này có khuôn mặt chính là Chấn.

Đuôi thuyền

Đầu chim đuôi thuyền có con mắt âm hai vòng tròn đồng tâm có chấm nọc dương có nghĩa là nước dương, lửa nước Chấn. Túi chim bổ nông nước ở đây có hình chữ V nghiêng. Chữ viết nòng nọc vòng tròn-que V có một khuôn mặt diễn tả nước âm thái dương Chấn. Trong chữ V có phụ đề các sọc song song song nước xác thực rõ chim là chim nông nước Thái dương Chấn.

Đầu chim bổ nông diễn tả nước Chấn thái dương.

Sau mũi thuyền, trụ hình uốn cong có hai đầu chim cắt diễn tả Li thái dương dòng nước Chấn.

Trang trí dưới đuôi thuyền gồm các hình chữ L nghiêng trông giống dòng thác nước đổ xuống. Chữ  L nghiêng là dạng biến thể theo âm dương của chữ V nước thái dương. Như thế hình trang trí này diễn tả chi nước dương Chấn mang tính thái dương.

Ngoài ra có một con chim đứng dưới nước sau đuôi thuyền như thấy ở hình của Kempers viện dẫn ở trên.

Chim đứng dưới nước sau đuôi thuyền 6. 

Chim đứng dưới nước phải là loài chim sống được dưới nước hay ở bờ nước. Chim quay mặt về phía âm đuôi thuyền biểu tượng cho ngành âm Chấn-Đoài. Chim có hình dáng loài gà có chân cao để lội nước. Đây chính là loài chim thuộc loài chim cuốc.  Trên người có chữ viết nòng nọc vòng tròn-que  hai vòng tròn đồng tâm có chấm nọc dương có nghĩa là nước dương, lửa nước, Chấn (bị mất một vòng cung nhỏ). Người chim có những chấm nọc mang nghĩa thái dương. Đây là chim cuốc Chấn thái dương, cho bíết thuyền có một khuôn mặt Chấn thái dương mang tính chủ.

Tóm lại, đuôi thuyền biểu tượng tộc Chấn/Tốn.

Ở đây cũng có sự hôn phối, giao hòa giữa thiếu âm bổ nông với thiếu dương bồ cắt ở cõi tiểu vũ trụ.

Tay lái

Taylái thuyền có hình cái dầm chèo thuyền nhưng ở đây hở đáy có các sọc nước dương diễn tả dòng nước chẩy Chấn thái dương

Trống Cây Vũ Trụ

Trống Cây Vũ Trụ thên thuyền 6 trên trống Ngọc Lũ I.

Hình ngữ vòng tròn kép có chấm ở giữa trống cho biết đây là trống Chấn nước dương. Những chấm nhỏ trên mặt trống diễn tả dương, thái dương nguyên khởi (vũ trụ). Hình đầu chim thẳng, ngắn mang nhiều dương tính có bờm gió, theo duy âm là Tốn gió âm.

Như thế trống Cây Vũ Trụ này biểu tượng cho chi Chấn/Tốn thái dương.

Cầu Thử Thách

Cầu Thử Thách trên thuyền 6 trên trống Ngọc Lũ I.

Người gác cổng thiên đường quay mặt về phía đuôi thuyền cho biết thuộc về nhánh nòng âm Chấn-Đoài. Trên ngưới có chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình vòng tròn có chấm có một nghĩa là thái dương. Người này chỉ cầm khiên hình hai hai chữ DD có đầu nhọn lồng vào nhau có một nghĩa là nước OO thái dương Chấn. Ta thấy khiên này giống ở thuyền số 2 mà ta đã biết có một khuôn mặt là Chấn. Người này biểu tượng cho một tộc ứng với một tượng trong  tứ tượng, Tứ Tượng nên có mặc quần áo khác với người ở thuyền số 2 cũng có một khuôn mặt biểu tượng cho Chấn nhưng ứng với đại tộc nên ở trần truồng.

Tóm lại người này diễn tả khuôn mặt Chấn thái dương.

Dưới gầm cầu có hai cái bình. Hai bình diễn tả hai nòng OO tức thái âm có một khuôn mặt nước.

Bình bên phải rộng miệng mang âm tính diễn tả nước. Bình bên trái có hình bầu nậm giống cái ngỗng rượu mang hình ảnh nọc que dương biểu tượng nọc dương phía âm. Hai bình có một khuôn mặt là nước dương tức Chấn. Điểm này thấy rõ là hai bình đều có chấm nọc dương, thái dương.  Hai bình cho biết thuyền này biểu tượng tộc nước Chấn đi cặp với Tốn gió âm OII tức thái dương, lửa của âm.

Cầu có hai tay vịn diễn tả bằng trụ đầu chim.Tayvịn phải có đầu chim có mắt dương và bờm lửa diễn tả thái dương.Tayvịn trái có hình đầu chim có bờm gió, có phụ đề vòng tròn-chấm tí hon mang nhiều âm tính Đoài âm tức Tốn và hai hình vòng tròn đồng tâm có chấm Chấn. Tay vịn này diễn tả chi Chấn Tốn thái dương.

Thành cầu có hình sóng nước Chấn gồm có bốn hình ngữ chấm- vòng tròn nối với nhau bằng tiếp tuyến (Cấn 4 hôn phối với Chấn) giống như ở thuyền 2 biểu tượng nhánh Chấn-Đoài.

Lưu Ý    

Đặc biệt sau Cầu Thử Thách cũng có một con chó cõi âm phụ giúp trong việc phán xét linh hồn như ở thuyền số 2 cho thấy vững chắc thuyền này có một khuôn mặt Chấn như thuyền số 2, thuộc nhánh nòng âm Chấn-Đoài. Cả hai đều có khuôn mặt Chấn nhưng mang nghĩa biểu tượng khác nhau. Ở thuyền 2, Chấn thuộc nhánh hay đại tộc nòng âm thái dương ứng với cực âm của lưỡng nghi, trong khi ở thuyền số 6 này, Chấn biểu tượng cho một tộc ứng với một tượng trong tứ tượng.

Trong 6 con thuyền chỉ có hai thuyền có con chó cõi âm cho biết rõ khuôn mặt mang tính âm thái dương của hai con thuyền.

 Điểm này cũng xác thực thuyền số 2 đã là biểu tượng cho cực âm thì tất nhiên thuyền số 1 bắt buộc phải

biểu tượng cho cực dương và thuyền số 6 biểu tượng cho một tượng Chấn thì còn lại ba thuyền biểu tượng cho ba tộc kia bắt buộc phải biểu tượng cho ba tượng còn lại.

 Như thế chỉ riêng con chó thôi đã cho ta biết trong 6 thuyền thì có hai thuyền biểu tượng cho hai nhánh ứng với lưỡng nghi  và 4 thuyền biểu tượng cho 4 tộc ứng với  tứ tượng.

 Tay chèo

Taychèo thuyền này cũng giống tay chèo thuyền 2 Chấn-Đoài nhưng đầu chim lớn hơn có bờm gió mang âm tính nhiều hơn nghĩa là nghiêng về Chấn nhiều hơn.Taychèo biểu tượng tộc Chấn.

Người

Như đã thấy ở trên, người trên thuyền này thuộc đại tộc Chấn/Tốn.

Tóm lại, tất cả các chi tiết trên thuyền số 6 đều ăn khớp với chi Chấn/Tốn của người tộc Nước.

Thuyền diễn tả một cảnh phán xét linh hồn (afterlife judgment) ứng với một tượng/tộc trong  tứ tượng và mang trọn ý nghĩa Vũ Trụ luận.

Tóm Lược

Thuyền trên trống Ngọc Lũ I là thuyền phán xét linh hồn. Chúng mang trọn ý nghĩa vũ trụ luận.

-Thuyền số 1 là thuyền dẫn đầu biểu tượng nhánh dương gồm hai đại tộc Càn Li của người tộc Nước và Li là khuôn mặt mang tính chủ. Thuyền diễn tả hai cảnh phán xét linh hồn (afterlife judgment) ứng với hai đại tộc Càn Li và mang trọn ý nghĩa Vũ Trụ luận.

-Thuyền số 2 biểu tượng nhánh âm Chấn Đoài của người tộc Nước và khuôn mặt Chấn mang tính chủ. Thuyền diễn tả hai cảnh phán xét linh hồn (afterlife judgment) ứng với hai đại tộc Chấn Đoài và mang trọn ý nghĩa Vũ Trụ luận.

-Thuyền số 3 biểu tượng tộc Khôn/Càn vũ trụ của người tộc Nước ứng với tượng Càn trong tứ tượng. Thuyền diễn tả một cảnh phán xét linh hồn và mang trọn ý nghĩa Vũ Trụ luận.

-Thuyền số 4 biểu tượng tộc Khảm/Li của người tộc Nước ứng với tượng Li trong  tứ tượng.  Thuyền diễn tả một cảnh phán xét linh hồn và mang trọn ý nghĩa Vũ Trụ luận.

-Thuyền số 5 biểu tượng tộc Cấn/Đoài của người tộc Nước ứng với tượng Đoài trong tứ tượng. Thuyền diễn tả một cảnh phán xét linh hồn và mang trọn ý nghĩa Vũ Trụ luận.

-Thuyền số 6 biểu tượng chi Tốn/Chấn của người tộc Nước ứng với tượng Chấn trong  tứ tượng. Thuyền diễn tả một cảnh phán xét linh hồn và mang trọn ý nghĩa Vũ Trụ luận.

Thuyền trên trống Ngọc Lũ I là thuyền phán xét linh hồn. Chúng mang trọn ý nghĩa vũ trụ luận. Trong 6 thuyền, hai thuyền biểu tượng âm dương hay hai cực hay hai nhánh âm dương của ngành âm, nước. Bốn chiếc còn lại biểu tượng tứ tượng hay tứ tộc tương ứng với tứ tượng. Những thuyền này thuộc diện thái dương dòng âm.

Những thuyền này mang tính cách là thuyền phán xét linh hồn cho thấy vai trống tức là Tầng Nước của Cõi Giữa nhân gian có một khuôn mặt là bầu trời âm tạo hóa, Cõi Trên âm của Cõi Nước, Cõi Âm.

(còn nữa).

April 13, 2012

TRỐNG NGƯỜI MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG BÁCH VIỆT NGỌC LŨ I (18).

Filed under: Trống Bách Việt Ngọc Lũ I (18) — Quang Nguyen @ 8:33 pm

TRỐNG NGƯỜI MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG BÁCH VIỆT

NGỌC LŨ I.

(TRỐNG NHÓM MẶT TRỜI NỌC THÁI DƯƠNG LƯỠNG HỢP  TIỂU VÀ ĐẠI VŨ TRỤ).

(phần 18)

Nguyễn Xuân Quang

Ý NGHĨA HÌNH NGƯỜI TRÊN THUYỀN TRÊN TRỐNG ĐỒNG ÂM DƯƠNG NGỌC LŨ I.

Bây giờ ta  đi vào chi tiết về người trên mỗi con thuyền.

a. Hai thuyền dẫn đầu biểu tượng cho toàn nhánh. Mỗi nhánh có hai đại tộc nòng nọc, âm dương, nội ngoại.

.Thuyền số 1

Đây là thuyền thứ nhất trong hai thuyền dẫn đầu đọc theo chiều âm.

 

Thuyền số 1 biểu tượng cho cực dương gồm hai đại tộc Càn-Li ngành nòng âm trên trống Ngọc Lũ I.

 Mấu chốt căn cước tay chèo.

Để tránh rườm rà ở đây tôi chỉ nói tới một mấu chốt tay chèo mà thôi. Phần trên tay chèo có hình đầu chim hình cây búa chim, chim mỏ rìu mang nghĩa Li Càn, Chim chúc đầu xuống nước tức mang âm tính, có nghĩa là chim nọc của dòng nòng nước. Phần tay chèo phía dưới cong vòng nhấn mạnh ý nghĩa âm, của nhánh nòng. Tay chèo đầu chim bổ, chim rìu chỉ xuống nước này theo duy dương là chim cắt mang tính thái dương là Bổ cắt Càn và tính thiếu dương là Bồ cắt Li; còn theo duy âm là chim Bổ nông thiếu âm gió và Bồ nông thái âm nước của nhánh nòng (vì đầu chim chỉ xuống nước).

-Người thuyền trưởng hay người đại biểu của ngành, đại tộc.

.Trang phục đầu

Trang phục đầu của người đại biểu gồm có ba phần:

./ Phần bên phải dương là hình đầu chim có mỏ cong âm cắm xuống trán mang âm tính giống như phần lớn những người còn lại có nghĩa là dương, thái dương, cõi trời phía âm. Đầu chim này cho thấy những người trên thuyền thuộc nhánh nòng âm thái dương cõi trời âm.

Tuy nhiên, đặc biệt mỏ chim ở đây rất to, khỏe, cường điệu mang nhiều dương tính, nọc tính ăn khớp với khuôn mặt Càn Li.

./Phần chính giữa có hình đầu chim cong Khôn có ba phụ đề: trên hết là hình lưỡi rìu ngang có góc cạnh nhọn mang ý nghĩa Càn Li, trong có phụ đề chấm-vòng tròn có nghĩa thái dương hay Li. Ở giữa mỏ chim có vòng tròn-chấm có một nghĩa là thiếu dương Li. Phụ đề dưới cùng hình vuông Khôn dương, trong có chấm-vòng thái dương Càn xác định nghĩa Li Càn.

./ Phần sau gáy có hình tia sáng Càn.

Như thế trang phục đầu mang ý nghĩa Càn-Li.

.Gậy biểu hay khí biểu

Người này cầm rìu hình chữ Y. Hai nhánh chữ V dài ngắn khác nhau. Nhánh phụ bên phải hình mũ sừng chim cắt (hornbill) hay mấu sừng hươu mang nhiều dương tính. Đây là búa rìu nọc dương ăn khớp với bổ cắt Càn, bồ cắt Li, (hay theo duy âm Bổ nông và bồ nông đực). Trong gậy có phụ đề các chấm nọc dương, thái dương cõi trời. Vậy đây là rìu nhà trời, rìu phán xét, rìu tia chớp Càn Li.

-Người gác linh hồn thứ nhất.

Tay phải giữ đầu linh hồn (bị soi mòn chỉ còn nắm tóc), tay trái cầm đòng. Đòng chỉ địa mang nghĩa đòng của dòng âm. Mũi đòng có phần đỉnh nhọn chữ V, to bản mang dương tính, trong đánh dấu những chấm nọc mang nghĩa thái dương.

Cuối đòng là chim có mỏ dài cong đầu có bờm gió Đoài.

Thân đòng có khung hình mã tấu chỉ thiên có những sọc ngang âm Đoài thái dương. Phụ đề vòng tròn-chấm, thiếu âm Đoài.

Bên ngoài có phụ đề hình núi tháp vách đôi nối giữa đòng và đầu chim ở trang phục đầu biểu tượng núi tháp Li. Hai phụ đề này xác định đòng cũng như người này có khuôn mặt Li Đoài.

Như thế đòng mang tính chủ Li-Đoài thái dương. Tộc Li mang tính chủ.

Trang phục đầu có

/. phần đầu chim bên phải dương là hình đầu chim có mỏ cong âm cắm xuống trán mang âm tính giống như tất cả các người còn lại có nghĩa là dương, thái dương, cõi trời phía âm.

/. Phần giữa là hình hai nọc cong có hình hai chiếc mã tấu ngắn (ngắn mang âm tính) chỉ thiên trông như hai chiếc sừng, biểu tượng Li hươu thế gian.

./ Phần sau gáy hình hộp chữ nhật nòng âm Khôn dương hóa vì hiệp với hai nọc lửa, thái dương.  Khôn dương là Đoài. Đây là nòng âm thái dương Đoài.

Như thế người này thuộc đại tộc Càn Li với Li mang tính chủ biểu tượng cho chi Li/Đoài dòng nước.

-Người phán xét linh hồn.

Người phán xét linh hồn ở thuyền 1.

Tay phải giữ đầu linh hồn, tay trái gõ vào trống Cây Vũ Trụ, Cây Đời để khơi động vòng sinh tử, để phán xét linh hồn.

Trang phục đầu có

/.phần đầu chim bên phải dương là hình đầu chim có mỏ cong âm cắm xuống trán mang âm tính giống như tất cả các người còn lại có nghĩa là dương, thái dương, cõi trời phía âm.

/.Phần giữa là hình hai nọc cong có hình như hai tai thỏ là hai nọc lửa âm, là Li âm.

/.Phần thứ ba sau đầu hình bờm nước. Đọc gộp hai phần lại là Li Chấn nước thái dương.

Lưu Ý

Trên trống Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) có hình đầu chim mỏ dài cong giống như ở trang phục đầu nhưng mỏ to cướng điệu hơn và bờm hình sừng thẳng  mang dương tính Càn Li. Phía sau có cặp sừng cong mang âm tính nhưng trong có đánh dầu các chấm nọc dương diễn tả lửa ngành âm tức Càn Li ngành âm. Hai biểu tượng này xác thực người trên thuyền này thuộc đại tộc Càn Li.

Như thế người này thuộc đại tộc Càn Li với Li mang tính chủ biểu tượng cho chi Li/Chấn dòng nước.

-Người gác linh hồn thứ hai.

Tay trái cầm đòng để trên đầu linh hồn. Đòng chỉ địa mang nghĩa đòng của dòng âm, mũi có phần đỉnh nhọn chữ V ngắn nhất và rất nhọn mang thái dương tính, trong có những chấm nọc mang nghĩa thái dương Càn, có khung phướn hình lưỡi mác có sọc tua chỉ thiên Đoài. Đây là đòng gió thái dương Càn Đoài vũ trụ.

Phụ đề chấm-vòng tròn, thiếu âm, gió và đuôi đòng hình thoi kép là dạng lửa gió. Hai chi tiết này xác định đòng là đòng Càn Đoài vũ trụ.

Tay phải người này cầm lao hình mũi tên chỉ thiên với đầu mũi lao hình nọc mũi tên rất cường điệu mang ý nghĩa trụ dương, núi trụ chống trời Li.

Trang phục đầu có:

/. phần đầu chim bên phải dương là hình đầu chim có mỏ cong âm cắm xuống trán mang âm tính giống như tất cả các người còn lại có nghĩa là dương, thái dương, cõi trời phía âm.

/. Phần giữa là hình hai nọc cong hai tai thỏ là hai nọc lửa Li âm.

/. Phần thứ ba sau đầu hình nọc thẳng Li.

Vậy trang phục đầu của người này mang biểu tượng của tộc Li/Li thái dương.

Như thế người này thuộc đại tộc Càn Li với Li mang tính chủ biểu tượng cho chi Li/Li dòng nước.

Ta thấy rất rõ bốn người (thuyền trưởng, 2 người gác linh hồn và một người phán xét linh hồn) ở thuyền số 1 mang thuộc nhánh cực dương Càn Li với hai đại tộc Càn Li và đại tộc Li mang tính chủ. Đại tộc Li lại chia ra bốn tộc Càn, Đoài, Chấn và Li ứng với tứ tượng của nhánh nòng thái dương.

Một lần nữa điểm này xác nhận là hai chiếc thuyền này là hai thuyền dẫn đầu và là hai thuyền đại biểu của nhánh nòng thái dương.

-Linh hồn

Có hai linh hồn ứng với cảnh phán xét linh hồn của hai đại tộc. Một linh hồn bị soi mòn mất một phần. Hai thuyền này là hai thuyền duy nhất mỗi thuyền có hai linh hồn, một lần nữa xác nhận là hai chiếc thuyền dẫn đầu này là hai thuyền đại biểu của ngành nòng thái dương. Tổng cộng bốn linh hồn ứng với bốn cảnh phán xét linh hồn của bốn tộc ứng với Tứ Tượng.

-Người gác cổng trời hay thiên đường.

Người gác cổng trời hay thiên đường ở thuyền 1.

Người này ở trần theo duy dương là Li (theo duy âm là Đoài) đã nói ở trên.

-Người chèo thuyền.

Trang phục đầu có hai phần. Phần trước có những hình nọc dài cong như dòng thác đổ nước dương Chấn.  Phần sau hình tia sáng Càn. Trang phục đầu cho thấy người này thuộc đại tộc Càn-Chấn, Càn của ngành nòng âm nước ho ặn nhìn theo nòng nọc, âm dương thì là dạng Càn-Chấn lưỡng hợp đại vũ trụ nghĩa là Càn mang tính sinh tạo.

Đặc biệt là người chèo thuyền này là người ở tư thế ngồi. Ta đã biết ngồi là âm. Như thế khuôn mặt Càn Li ở đây mang khuôn mặt nòng âm, nước.

Kiểm chứng lại ta cũng thấy rất rõ ở thân thuyền có hình giống như vật đựng, như cái chậu có chứa nước đặc (đen) biểu tượng ao đầm thế gian, đất âm, Li âm. Điểm này cũng cho thấy Li âm mang tính chủ.

Dưới gầm cầu tam thế có để một cái trống hay vật hình trống. Theo duy dương là trống cho biết người thuyền này thuộc nhánh dương cực dương tức Càn-Li.

Tóm lại

Những người trên thuyền số 1 này nhìn chung mang trọn nghĩa Vũ Trụ thuyết. Nhìn dưới lăng kính vũ trụ là người biểu tượng phía dương của ngành Trụ trong Vũ Trụ tức là nhánh Viêm Đế của Viêm Đế-Thần Nông. Nhìn dưới đại tộc của trống là hai đại tộc dương, nội, Càn Li của nòng âm, nòng nước.

. Thuyền số 2.

Thuyền số 2 biểu tượng cho cực âm gồm hai đại tộc Chấn Đoài ngành nòng âm trên trống Ngọc Lũ I (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Nhìn tổng quát, ta suy ra ngay đây là thuyền biểu tượng cho nhánh âm ngược với thuyền 1 tức  biểu tượng phía âm ngành Vũ trong Vũ Trụ, tức là ngành Thần Nông của Viêm Đế-Thần Nông. Nhìn dưới đại tộc là hai đại tộc âm Chấn Đoài vũ trụ nòng nước. Ở đây dòng nước âm, khuôn mặt Chấn mang tính chủ.

Thuyền đại biểu này là thuyền Chấn Đoài có khuôn mặt Chấn mang tính chủ.

Mấu chốt căn cước tay chèo.

Phần trên tay chèo có hình đầu chim mỏ cong mang âm tính, trên có bờm 4 tua âm nước, mắt là vòng tròn có chấm mang nghĩa âm dương sinh tạo. Đây là tay chèo chim nông Khôn nước. Đây là thuyền Khôn Chấn Đoài vũ trụ.

-Người thuyền trưởng hay đại biểu của ngành, đại tộc.

.Trang phục đầu

Trang phục đầu của người đại biểu gồm có ba phần:

./ phần bên phải dương là hình đầu chim có mỏ cong âm cắm xuống trán mang âm tính giống như phần lớn những người còn lại có nghĩa là dương, thái dương, cõi trời phía âm. Đầu chim này cho thấy những người trên thuyền thuộc nhánh nòng âm thái dương cõi trời âm.

./ phần chính giữa có hình đầu chim cong Khôn có phụ đề chấm-vòng tròn chia ra làm hai phần: phần dưới cong vòng mang nhiều âm tính biểu tượng cho nước Khôn thái âm Chấn. “Chấm vòng tròn” có thể nhìn theo hai diện: một là con mắt của đầu chim thứ hai, nói chung là hai đầu chim Khôn nhánh nòng âm thái dương. Chấm-vòng tròn còn có nghĩa là thiếu âm, dương, sinh tạo. Hai đầu chim này diễn tả Chấn Đoài vũ trụ nhánh nòng nước. Cách nhìn thứ hai là coi “chấm vòng tròn” ở dưới là một cái dấu mang nghĩa lửa, dương, thái dương thì đầu chim là chim Chấn thái dương.

./ phần thứ ba sau gáy có hình bờm nước trới tức Chấn trời.

Như thế trang phục đầu mang ý nghĩa Chấn-Đoài vũ trụ  (Đầu thuyền Rắn Nước-Đuôi thuyền Bổ Nông tức biểu tượng cho cả con thuyền) và Chấn nước thái âm Đầu Rắn nước mang tính chủ (vì ở phía đầu thuyền).

.Gậy, Rìu biểu hay Khí biểu.

Người này cầm rìu tia chớp hay búa rìu thiên lôi hình chữ Y, rìu nhà trời, rìu phán xét biểu tượng chung cho toàn nhánh nòng âm cõi trời âm và cho biết đây là thuyền phán xét linh hồn. Phần đầu chẻ hình chữ V, nhánh dương bên phải nhọn đầu hình mỏ chim biểu tượng cho Đoài và nhánh âm bên trái là nọc bằng đầu hình chữ nhật biểu tượng cho Chấn. Trong gậy có phụ đề các chấm nọc dương, thái dương cõi trời. Vậy cây rìu này có một khuôn mặt là cây rìu Khôn thái dương Chấn-Đoài vũ trụ thái dương cõi trời. Đây có thể là rìu sấm chớp mưa-dông. Ở đây hai phần chẻ bằng nhau mang nghĩa thái (thái âm OO hay thái dương ||). Vì là dòng nòng nước nên đây là hai nòng thái âm OO dương hóa, tức thái âm nước mang dương tính dương hay thái dương tức Chấn. Điểm này cũng cho thấy Chấn là khuôn mặt chủ.

Nói gọn lại, dưới diện nhánh, người này là biểu tượng của ngành Nòng Khôn Chấn-Đoài vũ trụ thái dương cõi trời của nhánh nòng thái dương; dưới diện đại tộc người này mang biểu tượng Khôn thái âm Chấn nước dương.

-Người gác linh hồn.

Tayphải giữ đầu linh hồn, tay trái cầm đòng. Đòng chỉ địa mang nghĩa đòng của dòng âm, mũi có phần đỉnh nhọn chữ V cường điệu dài mang ý nghĩa dương của âm tức thiếu âm, trong có những chấm nọc mang nghĩa thái dương, có khung phướn chữ nhật có những sọc răng lược nghiêng. Đây là đòng nước Chấn. Trang phục đầu có phần đầu chim bên phải dương là hình đầu chim có mỏ cong âm cắm xuống trán mang âm tính giống như tất cả các người còn lại có nghĩa là dương, thái dương, cõi trời. Phần giữa là hình hai nọc cong có hình như hai tai thỏ mang âm tính có phụ đề chấm dương sinh tạo, tổng quát là hai nọc lửa âm, là thái dương âm. Phần sau gáy hình chữ nhật nhỏ có các sọc song song dọc ngang mang ý nghĩa Khôn Chấn Đoài vũ trụ.

Như thế người này mang biểu tượng của tộc Khôn Chấn Đoài vũ trụ.

-Người phán xét linh hồn.

Người phán xét linh hồn ở thuyền 2.

Tayphải giữ đầu linh hồn, tay trái gõ vào trống Cây Vũ Trụ, Cây Đời để khơi động vòng sinh tử, để phán xét linh hồn. Trang phục đầu có phần đầu chim bên phải dương là hình đầu chim có mỏ cong âm cắm xuống trán mang âm tính giống như tất cả các người còn lại có nghĩa là dương, thái dương, cõi trời. Phần giữa là hình hai nọc cong có hình như hai tai thỏ là hai nọc lửa âm, là thái dương âm. Phần thứ ba sau đầu hình hộp chữ nhật có sọc song song có nghĩa là Khôn nước thái dương. Đọc gộp hai phần lại là Khôn nước thái dương Chấn.

Tóm lại, trang phục đầu của người này mang biểu tượng của tộc Khôn âm Chấn nước thái dương.

Ta thấy rất rõ hai người này đều giữ đầu linh hồn mang biểu tượng cảnh phán xét linh hồn của hai tộc Chấn Đoài vũ trụ  đại diện cho đại tộc Khôn này.

-Linh hồn

Có hai linh hồn ứng với cảnh phán xét linh hồn của hai đại tộc.

-Người gác cổng trời hay thiên đường.

Người gác cổng trời hay thiên đường ở thuyền 2.

Người này trần truồng với khuôn mặt tộc nước mang tính chủ đã nói ở trên. Lưu ý người này quay mặt về hướng đuôi thuyền mang âm tính tay chỉ cầm khiên mang âm tính, không cầm lao (mang dương tính) cho biết nhánh hay hai đại tộc người ở thuyền này thuộc phía âm nòng.

-Người chèo thuyền.

Trang phục đầu có ba phần. Phần trước có hình nọc cong biểu tượng dương mang âm tính. Phần sau hình hộp chữ nhật hơi cong trong có các sọc ngang và đứng biểu tượng cho Khôn. Hộp ở đây cao, dài mang nhiều âm tính ngả về phía Khôn thái âm nước. Phần tua sau gáy biểu tượng nước. Tóm lại trang phục đầu diễn tả Khôn nước dương tức Chấn dương.

Tóm lại những người trên thuyền số 2 này nhìn chung mang trọn nghĩa Vũ Trụ thuyết. Nhìn dưới lăng kính vũ trụ là người biểu tượng phía âm của nhánh Vũ trong Vũ Trụ tức là nhánh Thần Nông của Viêm Đế-Thần Nông. Nhìn dưới đại tộc là đại tộc âm, ngoại, Chấn Đoài vũ trụ dòng nòng nước.

Nhìn dưới diện toàn họ Nọc Nòng thì thuyền này giống như người dẫn đầu cầm đòng Đoài Chấn ở nhóm 6 người nhẩy múa nghĩa là có hai khuôn mặt của Khôn Đoài Chấn. Nhìn tổng quát đây là thuyền Khôn âm dòng nước gồm hai đại tộc là Khôn thái âm nước (Rắn Nước) và Khôn thiếu âm gió (Bổ Nông) trong họ Nọc Mặt Trời Hừng Rạng. Nhưng ở đây dòng nước âm, khuôn mặt Chấn mang tính chủ. Như thế thuyền này có những khuôn mặt chính là Chấn nước cõi trời. Thuyền đại biểu này là thuyền Đoài Chấn có khuôn mặt Chấn mang tính chủ.

Lưu Ý

Ở thuyền này người phụ ta thuyền trưởng kiêm luôn vai trò của người gác linh hốn nên phía trước chỉ có ba người thay vì bốn người. Do đó cách diễn tả kheo ứng theo  tứ tượng.

Nhìn tổng quát toàn diện cả hai vùng đất trên mặt trống và vùng nước tang trống thì hai thuyền 2 và 1 này biểu tượng hai phía nòng nọc, âm dương của ngành Vũ  của Vũ Trụ ứng với Thần Nông của Viêm Đế-Thần Nông nhất thể trong khi những người trên mặt đất biểu tượng cho ngành Trụ ứng với khuôn mặt Viêm Đế. Nhìn dưới lăng kính

Ngành, đại tộc nòng nọc, âm dương đề huề, hai thuyền này biểu tượng ngành nòng âm, nòng nước thái dương trong khi những người trên mặt đất biểu tượng ngành nọc dương nọc lửa.

b. Bốn thuyền còn lại biểu tượng cho bốn tộc ứng với Tứ Tượng.

.Thuyền số 3.

Thuyền số 3 biểu tượng cho tộc Càn/Khôn trên trống Ngọc Lũ I (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Thuyền này có những khuôn mặt chính như sau:

Mấu chốt căn cước tay chèo.

 Người này tay cầm tay chèo có hai phần rất khác biệt: phần trên hình đầu chim có mỏ rất to mang dương tính tức chim bổ, chim cắt nhưng mỏ có những nét cong và không có mũ sừng mang âm tính tức Cắt âm. Trong có phụ đề những chấm nọc lửa nguyên tạo, nọc, dương, thái dương, sinh tạo và vòng-tròn-chấm có nghĩa là dương, Càn Khôn.  Đây là đầu chim duy nhất có “hai con mắt thái dương” tức chim cắt thái dương Càn. Phần dưới có hình khiên hai chữ DD nhọn đầu lồng vào nhau quay về phía dương tức hai nòng OO thái dương. Đây là Khôn thái âm mang tính thái dương.

Như thế nhìn chung qua tay chèo, con thuyền này có hai khuôn mặt chính là Càn/Khôn.

Như thế con thuyền số 3 này là thuyền biểu tượng cho tộc Càn/Khôn.

-Người thuyền trưởng hay đại biểu của tộc.

.Trang phục đầu

gồm có bốn phần:

./ phần chung ở bên phải dương là hình đầu chim có mỏ cong âm cắm xuống trán mang âm tính giống như tất cả các người còn lại có nghĩa là dương, thái dương, cõi trời phía âm.

Nhìn dưới dạng Tứ Tượng, đầu chim này có hình vòng tròn Khôn trong có mắt tròn có chấm Lửa, dương, Càn và mỏ

dài cong, cứng cáp, cường điệu mang nhiều dương tính, thái dương của âm là Đoài vũ trụ, Tốn gió âm. Phần bờm  hình chữ nhật có sọc không gian Khôn dương Đoài vũ trụ, Tốn.  Đầu chim mang ý nghĩa Càn/Tốn.

./ phần thứ hai có hình đầu chim có mỏ cong gợn sóng biểu tượng Càn/Khảm.

./ phần thứ ba hình tháp trụ chữ nhật lùn trong có sọc dọc và hai sọc ngang lửa, thái dương biểu tượng Cấn đất âm (Li âm) thái dương. Ta có Càn/ Cấn.

./ phần thứ tư sau gáy có sọc nước biểu tượng Chấn. Ta có Càn/Chấn.

Như thế trang phục đầu diễn tả bốn chi ứng với Tứ Tượng âm thái dương của Càn.

.Rìu biểu.

Người này cầm rìu hình Y,  giống như cây đao mũi nhọn, trong phụ đề các nọc chấm dương, thái dương mang biểu tượng Càn thái dương, nhánh nhỏ bên phải hình móc cong mang âm tính. Đây là cây rìu Càn âm thái dương.

Nói gọn lại, ở diện tộc người này biểu tượng cho Càn/ Khôn.

-Người phán xét linh hồn.

Người phán xét linh hồn ở thuyền 3.

Người này tay trái gõ vào trống Cây Vũ Trụ, Cây Đời để khơi động vòng sinh tử, để phán xét linh hồn. Lưu ý đầu chim trên trống Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống)  có mỏ cương điệu mang dương tính Càn , com mắt dương Càn nằm trong vòng tròn Khôn và bờm tia sáng Càn.  Đầu chim diễn tả Càn/Khôn của ngành âm.

Trang phục đầu có bốn phần:

./ phần chung ở bên phải dương là hình đầu chim có mỏ cong âm cắm xuống trán mang âm tính giống như tất cả các người còn lại có nghĩa là dương, thái dương, cõi trời ngành âm.

Nhìn dưới dạng  tứ tượng là Đoài vũ trụ.

./ phần thứ hai hình hai tai thỏ hay sừng âm có chấm nọc mang nghĩa hai lửa âm, thái dương âm, Càn âm.

./ phần thứ ba hình tháp Li âm.

./ phần sau gáy những sọc Khôn nước Chấn.

Trang phục đầu của người này mang mang trọn vẹn ý nghĩa  tứ tượng phía âm.

-Linh hồn

Người nhỏ bé ngồi dưới sàn thuyền.

-Người gác linh hồn.

Người này cầm đòng dí vào đầu linh hồn.

Trang phục đầu có bốn phần:

./ Phần đầu chim có mỏ cong âm cắm xuống trán mang âm tính giống như tất cả các người còn lại có nghĩa là dương, thái dương, cõi trời phía âm.

Nhưng ở đây đầu chim có mũ sừng như cặp sừng tai thỏ ngắn, trong có phụ đề chấm nọc nhỏ cho biết người này biểu tượng cho phía nọc, dương, nội khác với người phán xét linh hồn biểu tượng cho phía nòng, âm ngoại và khuôn mặt Li mang tính chủ.

./ Phần thứ hai như tai thỏ giống ở trang phục đầu mang tính Càn của người phán xét linh hồn.

./ Phần thứ ba có hình cánh chim có hình nọc mũi mác /\ dương. Đây là cánh chim dương, gió dương Đoài (ngược với cánh chim âm Tốn của người phán xét linh hồn).

. Phần sau gáy là nọc thẳng đáng lý phải có các sọc nước Chấn để diễn tả đúng tứ tượng.

Như thế trang phục đầu diễn tả đủ  tứ tượng.

Taytrái cầm đòng chỉ địa mang âm tính, đầu đòng nhỏ sắc trong có phụ đề que nọc, dương. Đuôi đòng hình thoi không cân có phần âm V dài hơn phần chóp mũi mác /\  dương, trong cũng có phụ đề hình que nọc. Dọc suốt thân đòng là khung phướn chữ nhật có tua gió. Đây là dòng gió dương Đoài.Tayphải cầm gậy Y có mấu hình mỏ chim cắt nhưng gậy chỉ địa mang âm tính, biểu tượng Càn của phía dương ngoại.

Tóm lại người này mang biểu tượng chính của tộc Càn/Khôn diễn tả đủ tứ tượng.

-Người gác cổng trời hay thiên đường.

Người gác cổng trời hay thiên đường ở thuyền 3.

Người này đứng trên cầu đài tam thế quay mặt về phía đầu thuyền tức theo chiều dương. Cho biết tộc này là tộc dương Càn-Li. Đầu tóc phía trên có nọc mũi mác lửa dương ở đây là Càn, phần dưới sọc nghiêng gió nước Khôn âm. Trên người có chấm-vòng tròn Càn- Khôn. Váy tròn đầu có sọc không gian Khôn, trong có 3 chấm nọc Càn là váy Càn/Khôn. Ở đây người này cầm lao khiên rất to, rất cường điệu nhấn mạnh nghĩa Càn-Khôn.

Nói gọn lại người này mang biểu tượng của tộc Càn/ Khôn.

-Người chèo thuyền.

Trang phục đầu phía trước có hình đầu chim có mỏ cong, cứng mang dương tính Càn dương phía âm, phần sau hình hộp chữ nhật đứng hơi cong trong có các sọc không gian Khôn gió-nước biểu tượng Khôn âm. Trang phục đầu người này mang biểu tượng Càn Khôn.

Taychèo đã nói ở trên.

Tóm lại những người trên thuyền số 3 này nhìn dưới diện tộc mang biểu tượng Càn/Khôn nước.

Kiểm chứng với gầm đài cầu. Ở đây trống trơn biểu tượng cho Khôn hư không lưỡng hợp với Càn.  

Chắn chắn hơn ta có thể kiểm chứng với hình khung đa giác ở thân thuyền. Khung này trắng, trong biểu tượng nòng Khôn dương hóa trong có những chấm nọc dương Càn. Cả khung mang nghĩa Càn Khôn.

.Thuyền 4

Thuyền số 4 biểu tượng cho tộc Li/Khảm trên trống Ngọc Lũ I (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

-Người thuyền trưởng hay đại biểu của tộc.

.Trang phục đầu

gồm có bốn phần chính với một phần:

./ phần chung ở bên phải dương là hình đầu chim có mỏ cong âm cắm xuống trán mang âm tính giống như tất cả các người còn lại có nghĩa là dương, thái dương, cõi trời phía âm.

Ở đây đầu chim này có mỏ khá cứng cáp, cường điệu mang khá nhiều dương tính trông giống như đầu chim cắt có mỏ cong nghĩa là biểu tượng cho thiếu dương Li.

./ phần thứ hai có hình hai cây nọc cong như hai chiếc tai thỏ dài cong trong có phụ đề các dấu chấm nọc dương là hai nọc âm, hai chiếc sừng âm, thiếu dương, lửa  âm có một khuôn mặt là Li âm.

./ phần thứ ba có hình đầu chim  nọc mũi mác chỉ địa V có một nghĩa là nước thái dương mang âm tính, Chấn nước thái dương. Bờm có 4 tua dài cong có và sừng hình chữ nhật có sọc nước cũng có bốn gạch nghiêng ngắn. Số 4 là Cấn hôn phối với Chấn.

./ phần thứ tư có hình cánh chim có một khuôn mặt Đoài gió cõi trời.

./ phần sau gáy hình nọc có chấm là Càn.

Như thế trang phục đầu dưới diện tộc là Li/Khảm diễn tả đủ  tứ tượng.

.Rìu biểu.

Người này cầm rìu hình Y, mấu rìu giống như mấu sừng. Rìu trông như chiếc sừng có hai mấu nhọn của hươu sủa mang gạc muntjac.

Nói gọn lại, ở diện tộc người này biểu tượng tộc, chi Li/ Khảm.

-Người phụ tá thuyền trưởng

Người này ở ngay phía sau người thuyền trưởng, cũng ở tư thế ngồi. Trang phục đầu phía trước có hình chim như những người khác nhưng đầu chim trông mạnh mẽ mang nhiều dương tính, tính lửa hơn.

Như thế trang phục đầu này mang biểu tượng cho Nọc-Nước, Li-Khảm nước sinh tạo cõi trời.

-Người phán xét linh hồn

Người phán xét linh hồn ở thuyền 4.

Người này tay phải gõ vào trống Cây Vũ Trụ, Cây Đời để khơi động vòng sinh tử, để phán xét linh hồn.

Trang phục đầu ngoài phần hình chim phía trước trán giống các người khác, nhưng ở đây cường điệu vừa phải và rất cong mang âm tính, tức âm của dương là thiếu âm nguyên thể của Li. Phần giữa có ba tia cong dài có một khuôn mặt Chấn nước dương lưỡng hợp với Càn và phần sau hình hộp có sọc đứng và ngang diễn tả không gian, ở giữa có hai nọc ngang mang nhĩa thái dương. Như thế không gian thái dương là Đoài vũ trụ. Đoài lưỡng hợp Li.

Người này mang biểu tượng của Li/Khảm có Chấn nước dương đại diện.

-Linh hồn

Người nhỏ bé ngồi dưới sàn thuyền.

-Người gác linh hồn.

Người này cầm đòng dí vào đầu linh hồn.

Đòng ở đây mũi đòng chỉ địa mang âm tính. Đuôi đòng có ba nọc tẽ ra như dòng nước chẩy mang ý nghĩa lửa, dương   mang tính âm dòng nước. Thân đòng khung chữ nhật có sọc ngang nước.  Gộp lại nhìn theo tính nòng nọc, âm dương thì âm của dương là thiếu dương Li. Như thế đòng là đòng lửa âm Li dòng nước Khảm.

Trang phục đầu

./ phía trước hình đầu chim có bờm tia sáng mang tính lửa, dương.

./ Phần giữa nhưng sọc song song cong mang nghĩa nước.

./ Phần hình hộp nghiêng trong có những sọc nghiêng diễn tả không gian dương gió.

Trang phục đầu diễn tả lửa trời âm không gian.

-Người gác cổng trời hay thiên đường.

Người gác cổng trời hay thiên đường ở thuyền 4.

Người này đứng trên đài cầu Tam Thế quay mặt về phía đầu thuyền tức theo chiều dương. Cho biết tộc này là đại tộc dương Càn-Li. Đầu tóc phía trên có nọc mũi mác dương Li, phần dưới sọc nghiêng nước gió Khảm. Trên người có vòng tròn-chấm, ở đây theo phía dương là thiếu dương Li. Váy có các sọc nghiêng gió nước cho thấy ở đây váy mang âm tính của tộc nọc dương vì người này quay mặt về phía dương đầu thuyền. Âm của dương là thiếu dương Li. Ở đây cái lao chỉ hơi chênh chếch lên cao ra phía trước mang âm tính, tức âm của dương là thiếu dương Li.

Nói gọn lại người này mang biểu tượng của tộc Li/ Khảm.

-Người chèo thuyền.

Trang phục đầu có hình trụ dài cong gồm có 4 đường cong song song diễn tả nước âm (số 4 là số chẵn là số âm) Khảm

Phần phía sau có hình hai chiếc tai thỏ hay hai chiếc sừng âm Li âm và phần dưới hình chữ nhật có phụ đề các vạch nước không gian Khảm. Phần này mang nghĩa Li/Khảm. Như thế trang phục đầu của người chèo thuyền mang biểu tượng Li/Khảm.

Taychèo đã nói ở trên.

Tóm lại những người trên thuyền số 4 này nhìn dưới diện tộc mang biểu tượng Li/Khảm.

Kiểm chứng với vật hình ấm nước hình bầu nậm cổ lùn đựng nước để trên bếp lửa dưới gầm đài cầu thì bếp lửa có lửa Li, bình nước hình trái bầu là nước không gian Khảm.

.Thuyền số 5

Thuyền số 5 biểu tượng cho tộc Đoài/Cấn trên trống Ngọc Lũ I  (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

 Mấu chốt căn cước tay chèo.

Người này tay cầm tay chèo có đầu hình chim hình núi tháp

có góc cạnh, có chấm nọc dương mang dương tính tức đất dương Li. Tuy nhiên mang âm tính của phía âm vì người gác cổng thiên đường quay mặt về chiều âm đuôi thuyền.  Li này đại diện cho non, đất âm Cấn. Đầu chim có bờm gió Đoài vũ trụ.

Đây là cây chèo Đoài/Cấn.

-Người thuyền trưởng.

.Trang phục đầu

gồm có bốn phần:

./ phần bên phải dương là hình đầu chim có mỏ cong âm cắm xuống trán mang âm tính giống như tất cả các người còn lại có nghĩa là dương, thái dương, cõi trời phía âm.

Ở đây đầu chim này có mỏ hơi cứng cáp, mang chút ít dương tính trông giống như đầu chim bổ nông gió Đoài.

./ phần thứ hai có hình mã tấu cong trong có phụ đề các dấu chấm nọc dương là nọc âm, Càn âm thái dương tức Đoài/Càn của nòng âm.

./ phần thứ ba phía trái hình đầu chim có mỏ rất cường điệu bên trong có phụ đề chấm nọc dương sinh tạo, cõi trời, có mũ sừng có gạch song song âm và bờm có 4 tua. Số 4 là Cấn có một khuôn mặt là non (núi Li âm). Đây là chim Đoài/bồ cắt Li thái dương cõi trời âm.

./ phần thứ tư thấp có hình cánh chim  tam giác có một khuôn mặt biểu tượng gió cõi trời Đoài.

./ phần thứ sau gáy hình nọc chữ nhật trống trơn biểu tượng cho Khôn nước thái dương.

Như thế bốn phần sau cùng biểu tượng Tứ Tượng Lửa, Đất, Gió, Nước cõi trời của tộc Đoài/Cấn.

.Rìu biểu.

Người này cầm rìu hình Y, ở đây có hình đầu chim gần

giống gậy ở thuyền thứ 1 Càn-Li. Như thế có một khuôn

mặt Càn mang tính chủ và một khuông mặt Đoài ngược với Li.

Nói gọn lại người này biểu tượng mang tính chủ Đoài/Càn.

-Người phụ tá thuyền trưởng

Đây là người ngồi ở ngay phía sau người thuyền trưởng. Người này cũng ngồi cho thấy thuộc về tộc âm. Trang phục đầu phía trước có hình chim như những người khác nhưng đầu chim trông mạnh mẽ mang nhiều hùng tính hơn. Phần giữa gồm hình bờm dài cong biểu tượng gió dương Đoài vũ trụ. Bờm có ba nọc cong là Càn âm, thái dương âm là gió dương Đoài. Phần thứ ba gồm sáu tua ngắn song song. Số 6 là Tốn O||. Tốn theo âm Dịch đi với Chấn. Phần thứ ba này mang ý nghĩa Chấn Nước thái dương. Phụ đề chấm-vòng tròn ở đây có nghĩa là thiếu âm, gió. Như thế trang phục đầu mang biểu tượng Đoài/Chấn nước thái dương.

-Người phán xét linh hồn.

Người phán xét linh hồn ở thuyền 5.

Người này tay phải gõ vào trống Cây Vũ Trụ, Cây Đời để khơi động vòng sinh tử, để phán xét linh hồn. Trang phục đầu có phần đầu chim bên phải dương là hình đầu chim có mỏ cong âm cắm xuống trán mang âm tính giống như tất cả các người còn lại nhưng đầu chim mang hùng tính hơn, có nghĩa là dương, thái dương, cõi trời phía âm. Phần giữa là hình nọc cong giống người phụ tá thuyền trưởng mang nghĩa Đoài. Phần thứ ba sau đầu hình tháp có sọc âm và phía trên có hình nọc mũi mác /\, lửa, trong có phụ đề vòng tròn-chấm thiếu dương. Hình này là Đoài/Li âm tức Đoài/Cấn.

Như thế trang phục đầu mang biểu tượng Đoài/Li âm tức Cấn.

-Linh hồn

Người nhỏ bé ngồi dưới sàn thuyền.

-Người gác linh hồn.

Người này cầm đòng dí vào đầu linh hồn.

Trang phục đầu có

./ Phần đầu chim bên phải giống như những người khác đã nói qua.

./ Phần giữa giống người phụ tá và người phán xét linh hồn có hình nọc cong mang nghĩa Đoài.

./ Phần thứ ba có hình nọc vuông góc là Khôn thái dương trong có phụ đề vòng tròn có chấm mang nghĩa thiếu âm, gió. Phần này mang nghĩa Đoài/Khôn gió cõi trời sinh tạo. Tay cầm đòng âm chỉ địa, có khung lông chim hay tua lá có nghĩa là gió, đầu đòng có phụ đề chấm nọc có nghĩa là dương, thái dương, có phụ đề chấm-vòng tròn có nghĩa là dương, thiếu âm gió, sinh tạo, cõi trời.

Như thế người này mang biểu tượng của Đoài/ Khôn thái dương Đoài sinh tạo.

Ta thấy bốn người này mang biểu tượng của bốn chi ứng với Tứ Tượng của phía nòng dương Đoài. Người thuyền trưởng trang phục đầu có hai phần chính biểu tượng chi Đoài/Càn thái dương, người phụ tá là chi Đoài/Chấn, người phán xét linh hồn là chi Đoài/Đất Li và người canh linh hồn là chi Đoài/Gió Đoài của ngành nòng âm.

-Người gác cổng trời hay thiên đường.

Người gác cổng trời hay thiên đường ở thuyền 5.

Người này đứng trên đài cầu Tam Thế quay mặt về phía đuôi thuyền tức theo chiều âm, cho biết đại tộc này là mang tính âm của ngành nòng âm thái dương. Búi tóc ngắn có cạnh thẳng đứng như hình trụ có đỉnh  nọc nhọn mũi mác phía trên, mang tính thiếu dương Li. Tay phải người này cầm lao mũi tên chỉ lên trời  mang hình ảnh trụ chống trời Li. Người này quay mặt về phía đuôi thuyền âm nên Li mang âm tính tức đại diện cho Cấn, non, đất âm. Tay trái cầm khiên hình hai chữ DD ngược nhọn hai đầu lồng vào nhau mang nghĩa nòng thái âm thái dương.  Đọc theo chiều âm lao mũi tên là nọc dương (I) và khiên là nòng âm (O) tức IO, thiếu âm nguyên thể của Đoài vũ trụ.

Hai vạt váy có góc cạnh dương và có phụ đề những chấm nọc dương mang ý nghĩa nọc dương.  Đây là váy thái dương của phía nòng (vì người này quay mặt về chiều âm nòng) tức Đoài vũ trụ.

Nói gọn lại người này mang biểu tượng của tộc Đoài/Cấn  thái dương cõi trời âm.

-Người chèo thuyền.

Trang phục đầu có hình bờm dài cong gió có 6 đường cong song song. Số sáu là số Tốn gió âm. Phần dưới hình chữ nhật Khôn dương có phụ đề những chấm nọc là Khôn dương Đoài.

Kiểm chứng với vật hình trống để dưới gầm đài cầu thì theo duy âm trống là đực của nòng âm tức thiếu âm, gió, Đoài vũ trụ có một nghĩa là không, không khí, gió. Trống có một khuôn mặt biểu tượng cho trống không, hư không, không gian Đoài vũ trụ.

Tóm lại những người trên thuyền số 5 này nhìn dưới diện tộc, mang biểu tượng Đoài/Cấn.

.Thuyền số 6

Thuyền số 6 biểu tượng cho tộc Chấn/Tốn trên trống Ngọc Lũ I (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Mấu chốt căn cước tay chèo.

Taychèo này giống tay chèo ở thuyền số 2 như thế có khuôn mặt chủ là tay chèo Chấn.

-Người thuyền trưởng hay đại biểu của tộc.

.Trang phục đầu

Trang phục đầu gồm có bốn phần:

./ phần bên phải dương là hình đầu chim có mỏ cong âm cắm xuống trán mang âm tính giống như phần lớn những người còn lại có nghĩa là dương, thái dương, cõi trời phía âm. Đầu chim này cho thấy những người trên thuyền thuộc nhánh nòng âm thái dương cõi trời âm.

./ phần chính giữa có hình như tóc gợn sóng bay trong gió biểu tượng cho nước chuyển động cõi trời là Chấn/Khôn nước thái dương cõi trời âm.

./ phần chính giữa có hình đầu chim cong gợn sóng biểu tượng nước gió Chấn/Tốn

./ phần sau gáy có hình bờm nước-gió, tức Chấn/Khôn.

Như thế trang phục đầu mang ý nghĩa Chấn/Tốn.

.Rìu biểu

Người này cầm rìu chữ Y, mang hình ảnh của tia chớp hay rìu búa thiên lôi. Rìu gần giống rìu ở thuyền số 2 nên có khuôn mặt chính là rìu Chấn. Đây có thể là cây rìu thiên lôi, phán xét mưa gió.

Nói gọn lại, dưới diện tộc người này mang biểu tượng Chấn/Tốn.

-Người phán xét linh hồn.

Người phán xét linh hồn ở thuyền 6.

Tay phải giữ đầu linh hồn, tay trái gõ vào trống Cây Vũ Trụ, Cây Đời để khơi động vòng sinh tử, để phán xét linh hồn. Lưu ý trong trống có chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình hai vòng tròn đồng tâm có chấm là nuớc dương Chấn. Người trên thuyền này có một khuôn mặt Chấn  mang tính chủ.

Trang phục đầu có

/. Phần đầu chim bên phải dương là hình đầu chim có mỏ cong âm cắm xuống trán mang âm tính giống như tất cả các người còn lại có nghĩa là dương, thái dương, cõi trời phía âm.

/.Phần giữa là hình nọc cong như hình cái kiếm cong bằng đầu mang âm tính, trong có phụ đề các chấm nọc sinh tạo là thái dương âm Đoài vũ trụ khí gió dương đại diện cho Tốn gió âm.

./ Phần thứ ba sau đầu hình hộp vuông có sọc không gian trong có phụ đề chấm-vòng tròn thiếu âm gió. Phần này là Đoài vũ trụ gió dương đại diện cho Tốn gió âm.

Vậy trang phục đầu của người này mang biểu tượng của tộc Chấn/Tốn.

Như thế người này mang biểu tượng của tộc Chấn/Tốn.

-Linh hồn

linh hồn bị soi mòn mất một phần.

-Người gác cổng trời hay thiên đường.

Người gác cổng trời hay thiên đường ở thuyền 6.

Người này đứng trên đài cầu Tam Thế quay mặt về phía đuôi thuyền tức theo chiều âm, cho biết tộc này là mang tính âm. Tóc ngắn có gạch nước. Hai tay chỉ cầm khiên hình hai chữ DD ngược nhọn hai đầu lồng vào nhau mang nghĩa hai nòng âm OO, nước thái dương, Chấn.  Hai vạt váy có gạch nước gió.

Nói gọn lại người này mang biểu tượng của tộc Chấn nước gió tức Chấn/Tốn.

-Người chèo thuyền.

Trang phục đầu có hai phần. Phần trước có hình chim mỏ cong mang âm tính có phụ đề chấm-vòng tròn rất nhỏ mang dương tính, thiếu âm. Đây là đầu chim nước gió Chấn/Tốn có thể là bồ nông gió. Phần sau có hình chim mỏ cong gợn sóng mang nhiều âm tính, có phụ đề chấm-vòng tròn lớn mang âm tính, thái âm có nghĩa sinh tạo, Khôn dương. Đây là đầu chim nước nước Chấn/Khôn, có thể là bồ nông nước. Phần dưới hình hộp chữ nhật có nghĩa là Khôn dương trong có hình sóng cuộn tiếp tuyến nối hai vòng tròn-chấm. Hình sóng mang nghĩa nước, hai chấm là thái dương. Hình sóng cuộn là Chấn/Tốn thái dương.

Điểm mấu chốt quan trọng nữa là thuyền này có con chó âm đứng sau cầu thử thách giống như ở thuyền số 2. Ta đã biết thuyền số 2 là thuyền Chấn-Đoài như thế thuyền số 6 này với sự hiện diện của con chó cõi âm bắt buộc phải có một khuôn mặt Chấn. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt Lạc Long Quân Chấn thần sấm có một khuôn mặt trị vì cõi âm, có thủy phủ ở Vịnh Hạ Long. Vì thế thuyền có con chó cõi âm phải liên hệ với khuôn mặt Chấn.  

Kiểm chứng với hai cái bình để dưới cầu đài ta cũng thấy không sai. Hai bình đựng là hai nòng OO, nước. Bình bên phải hình cái âu rộng miệng hình chữ U biểu tượng nước thái dương Chấn và bình bên trái giống hình cái ngỗng đựng rượu mang dương tính biểu tượng cho Đoài vũ trụ/Tốn gió âm.

 Tóm lại những người trên thuyền số 6 này nhìn dưới diện tộc mang biểu tượng Chấn/Tốn.

TỔNG  LƯỢC

Những người trên sáu chiếc thuyền này mang trọn vẹn nghĩa Vũ Trụ giáo. Họ là những người mặt trời của ngành nòng thái dương trên sóng nước thuộc những nhánh, đại tộc, tộc, chi ứng với Lưỡng Nghi, Tứ Tượng, Tam Thế, Bát Quái, Dịch Nòng Nọc của nòng âm nước thái dương. Theo duy dương, phía, lửa, nội là dương Dịch của dòng nước. Ở trống Ngọc Lũ I này còn trọng âm dương đề huề của toàn họ Người Vũ Trụ, Người Mặt Trời Không Gian, còn mang tính âm dương đề huề còn theo Dịch nòng nọc, âm dương đề huề.

Những người này đang tham dự những cảnh Phán Xét Linh Hồn. Những thuyền này là những Thuyền Phán Xét Linh Hồn.

Ở những trống diễn tả Tam Thế trọn vẹn, chính thống như trống Ngọc Lũ I hay ở các trống phỏng theo chính thống cõi âm thường được diễn tả qua hình ảnh những con thuyền phán xét linh hồn ở trên vùng mặt nước thế gian ở tang trống. Vùng nước tang trống có một khuôn mặt là cõi sinh tạo, tạo hóa của Cõi Âm thông thương với Hạ Thế chân trống bằng trụ thân trống Trục Thế Giới.

(còn nữa).

 

April 6, 2012

TRỐNG NGƯỜI MẶT TRỜI BÁCH VIỆT (17).

Filed under: Trống Bách Việt Ng. Lũ I (17) — Quang Nguyen @ 5:28 am

TRỐNG NGƯỜI MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG BÁCH VIỆT

 NGÀNH VIÊM VIỆT NGỌC LŨ I.

(TRỐNG NHÓM MẶT TRỜI NỌC THÁI DƯƠNG LƯỠNG

HỢP  TIỂU VÀ ĐẠI VŨ TRỤ).

(phần 17)

Nguyễn Xuân Quang

Ý NGHĨA HÌNH NGƯỜI TRÊN THUYỀN TRÊN TRỐNG ĐỒNG ÂM DƯƠNG NGỌC LŨ I.

Những người này ở trên thuyền, theo duy âm là những người của ngành nòng âm thái dương và theo duy dương là những người của nhánh nọc âm thái dương.

Như đã biết ở trên là 6 con thuyền gồm có hai con thuyền 1 và 2 dẫn dầu. Nói một cách khác, theo nòng nọc, âm dương đề huề, hai thuyền này là hai thuyền biểu tượng cho hai phía nòng nọc, âm dương của toàn họ thái dương hay theo duy âm là biểu tượng cho riêng nhánh nòng nước thái dương.

Bốn thuyền còn lại biểu tượng cho cho 4 tộc ứng với  tứ tượng.

Mỗi tộc lại chia ra hai phía nòng nọc, âm dương, ngoại nội nữa, ta có bốn chi dương ứng với bốn Tứ Tượng dương và bốn chi âm ứng với bốn Tứ Tượng âm, gộp lại là bát quái, ứng với Dịch lý. Ở trống Ngọc Lũ I âm dương nòng nọc còn đề huề nên ta phải đọc theo Dịch âm dương đề huề. Vì ở trên trống mang dương tính và trên thuyền nước ngành âm nên ta cũng phải đọc theo duy dương của âm Dịch, một loại Dịch giống Dịch Phục Hy mang tính chủ (xin nhắc lại là Phục Hy có đuôi rắn nên thuộc dòng Rắn nước-Chim Nông  và là mộtngười nam mang dương tính vì thế Dịch Phục Hy là dương Dịch ngành âm).

Hiển nhiên những người này mang trọn ý nghĩa Vũ Trụ giáo, Dịch (xem thêm chương Ý Nghĩa Hình Người Trên  Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á).

Tổng Quát về Người Trên Thuyền  

Phần lớn những người trên thuyền đều có trang phục đầu có nét cong mang âm tính khác với trang phục đầu có góc cạnh mang dương tính của những người nhẩy múa trên mặt trống thuộc nhánh nọc thái dương.

Trang phục đầu có những nết cong mang âm tính.

 Trang phục đầu có nét cong này cho biết những người trên thuyền thuộc nhánh nòng âm thái dương.

Những người ở đầu thuyền là thuyền trưởng hay người đại biểu của đại tộc, tộc đều ngồi. Ta đã biết ngồi là âm, đứng là dương (xem Chữ Nòng Nọc). Điểm này cũng cho thấy rõ những đại tộc, tộc này thuộc nhánh nòng âm thái dương.

Ngoại trừ một số người chèo thuyền và những người đứng trên đài cao còn lại những người khác có trang phục đầu phía trước đều có hình chim có mỏ dài cong cắm xuống trán. Chim là dương, là trời, mỏ dài và cong là mỏ âm thái dương. Những người này mang biểu tượng người thái dương cõi trời của nhánh nòng âm thái dương.

Tất cả những người thuyền trưởng hay đại biểu của đại tộc hay tộc ngồi ở mũi thuyền tay đều cầm gậy hay khí biểu (ceremonial weapon) đầu chẻ hai hình chạc cây Y mà đa số các tác giả cho rằng đây là cây rìu chiến.

Cũng như tất cả các dấu, hiệu, vật biểu tượng, người, thú… khí biểu, gậy thờ biểu tượng cũng mang trọn vẹn ý nghĩa  Vũ Trụ giáo nên  phải được giải đọc theo âm dương, tứ hành, sinh tạo, nói một cách khác phải theo Dịch lý. Vì thế Rìu chữ Y trên trống Ngọc Lũ I này có đầu rìu thay đổi với tính âm dương.

Trước hết loại rìu này thấy nhiều ở trên thuyền và trên trục trống tức Trục Thế Giới thông thương Ba Cõi vì thế rìu này mang âm tính và liên hệ tới quá trình sinh tạo, sinh tử, tái sinh. Rìu có đầu chẻ hai hình chữ V (tôi gọi là rìu hình chữ Y). Ta đã biết theo duy âm, hình ngữ Y có một khuôn mặt lửa vũ trụ Càn và khuôn mặt của tia sấm mưa Chấn (xem chương Chữ Nòng Nọc Trên Trống Đồng). Rìu, gậy Y này mang hình bóng của tia chớp (the forked lightning symbol) của thần sấm, mưa Adad (Canaanite Hadad Baal).

Tia chớp hình Y của thần Adad trên trụ đá biên giới ở Marduk-nadine-ahhe (BritishMuseum,London).

Hai nhánh hình sóng hai bên biểu tượng hai nòng OO nước chuyển động và thân hình trụ | là nọc dương, gộp lại là lửa-nước, |OO, Chấn, có một khuôn mặt sấm. Như thế rìu chữ Y thấy ở tay người thuyền trưởng là thứ rìu lửa-nước, rìu sấm sét, rìu Chấn (ta thấy rõ thuyền, các tộc nước thuộc dòng Chấn Mặt Trời Nước như Giao Việt Lạc Long Quân). Sấm sét là dạng giao hòa hôn phối lửa nước vũ trụ, thái dương thái âm có một khuôn mặt mang nghĩa tạo sinh, sinh tạo, tạo hóa. Tiếng sấm khai thiên lập địa chính là tiếng nổ Big Bang.

Mặt khác nhìn theo diện tín ngưỡng búa rìu sấm sét là búa rìu thiên lôi, búa rìu nhà trời, là rìu tử sinh, phán xét. Những kẻ ác thường bị sét đánh, “trời đánh”. Vì thế mà rìu này thường thấy trên thuyền phán xét linh hồn (xem dưới) và trên Trục Thế Giới là vậy. Vì liện hệ tới sự phán xét linh hồn và vòng sinh tử nên tôi gọi rìu này là rìu phán xét sinh tử, rìu trời. như đã nói ở trên, đầu chữ V có hình dạng thay đổi ứng với nghĩa theo âm dương. Ngày nay người Fuji cũng còn có một thứ vũ khí cổ truyền hình chữ Y này mà họ gọi là cái “bẻ cổ” (neck breaker).

Rìu bẻ cổ của người Fuji.

Tôi cũng đã thấy một chiếc rìu loại này ở Bảo Tàng Viện Fonck chuyên về nền văn hóa đảo Easter và Đa Đảo ở Valparaiso, Chile. 

Rìu chữ Y ở Đa Đảo ở bảo tàng viện Fonck, Valparaiso, Chile (ảnh của tác giả).

Tóm lại

Gậy hay khí giới hình Y ở cõi nước mang một biểu tượng của rìu búa sấm sét “búa” thiên lôi, rìu nhà trời, rìu phán xét biểu tượng của nhánh nòng thái dương (xem thêm chương Ý Nghĩa Dấu, Hình, Biểu Tượng Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á). Như đã nói ở trên, những đầu rìu này thay đổi tùy theo ý nghĩa trong Vũ Trụ thuyết của từng đại tộc, tộc.

Tất cả các thuyền đều có một (thuyền 3, 4, 5, 6) hay hai người tí hon (thuyền 1 và 2)  ngồi bệt dưới sàn thuyền bị canh gác mà hiện nay các nhà khảo cổ học về trống đồng đang hiểu lầm là tù nhân. Đây chính là những linh hồn người chết (xem dưới).

Những linh hồn này cho biết cảnh sinh hoạt của những người trên thuyền liên hệ với cõi âm.

Tất cả những người chèo thuyền đều cầm tay chèo có đầu chèo hình đầu chim cho thấy những con thuyền này biểu tượng cho Cõi Trời của dòng nước và đều có thể bay trong không gian được, bằng chứng là dưới thuyền không có một dấu vết sóng nước nào cả.

 

Đầu tay chèo hình đầu chim.

Đây là những thuyền trời cõi nước.

Tôi chia những người trên thuyền ra như sau:

-Thuyền trưởng hay đại biểu của đại tộc hay tộc.

Đây là người đầu tiên ngồi sau mũi thuyền (xem hình ở trên). Đầu chim dương trước tiên của trang phụ đầu của người này diễn tả Tầng Trời dương, thái dương của Cõi Nước, Cõi Âm.

-Người phụ tá thuyền trưởng.

Người này ở ngay phía sau người thuyền trưởng.

 

Người phụ tá thuyền trưởng, ở đây đang gác một linh hồn.

Đôi khi người này là đại biểu của một chi cùng tộc với người thuyền trưởng và trong trường hợp thuyền có hai linh hồn (thuyền 1 và 2) người này giữ thêm vai trò canh gác linh hồn thứ nhất.

– Linh hồn.

Trống Ngọc Lũ I và các trống họ hàng có những hình người nhỏ bé trần truồng trông như những đứa trẻ con ngồi bệt dưới sàn thuyền bị canh gác và phán xét mà các tác giả hiện nay gọi lầm là những tù nhân.

 

Linh hồn người chết như một đứa trẻ trần truồng ngồi trên sàn thuyền đang bị canh giữ và phán xét. Trên thuyền này có hai linh hồn.

Đây chính là những hồn người chết. Vũ trụ quan của Việt cổ tin là lúc nào hồn con người cũng trẻ thơ như một đứa trẻ, hồn sinh ra trẻ thơ như trẻ thơ, tự nhiên, thiên nhiên, trần truồng không quần áo, không trang sức. Với năm tháng thân xác con người già đi nhưng hồn người mãi mãi vẫn là trẻ thơ. Khi chết những linh hồn trẻ thơ này vẫn thế và được về miền vĩnh cửu hay tái sinh. Quan niệm này thấy rõ trong đức tin của người Mường cũng như ở các hải đảo Nam Á. Xin trích dẫn nguyên văn một đoạn nói về đức tin linh hồn trẻ thơ này trong cuốn Les Mường của J. Cuisinier (Jeanne Cuisinier, Les Mường, Géographie humaine et Sociologie, Paris, Institut  d’Ethnologie, 1946, p.463-64):

 “À côté du cercueil, on installe l’autel du mort devant lequel seront presentées les offandes et recitées les prières jusqu’à la fin du deuil; parfois (nous l’avon observé dans le Mường Vang et à Ngọc Mỹ) on suspendre entre les deux un étrange objet appelé ‘jouet à huit angles’ tlai kon bát yák parce qu’il doit de deux carrés superposés auxquels pendent des écheveaux de soie multicolores, de petits cubes et de petits calices en calocot blanc ou en papier d’oré. On le met entre l’autel et le cercueil pour que l’âme du mort s’amuse avec ce jouet, parce que les âmes, disent les Mường, même dans le corps de vieillards, sont toujours pareilles à de jeunes enfants. Devant la croyance en une perpétuelle enfance de lâme, on ne peut s’empêcher d’évoquer les Dayak chez lesquels, au cours de leurs grandes fêtes funéraires, les prêtresses portent dans les plis de leurs vêtements, comme des petits enfants, les âmes des donateurs de la fêtes” (R. Hertz, Contribution à une étude sur la présentation collective de la mort, p.102). (Bên cạnh quan tài, người ta dựng bàn thờ người chết, trước đó dâng cúng lễ vật và cầu nguyện cho tới mãn tang chế, đôi khi (chúng tôi nhận thấy ở Mường Vang và Ngọc Mỹ) người ta treo giữa quan tài và bàn thờ một vật lạ gọi là “đồ chơi tám góc” tlai kon bát giác bởi vì gồm có hai hình vuông chồng xéo lên nhau trên đó có treo các sợi tơ đa sắc và các khối lập phương và hình chén nhỏ bằng calocot trắng hay giấy vàng. Người ta để đồ chơi này giữa bàn thờ và quan tài để cho linh hồn người chết vui chơi bởi vì người Mường cho rằng linh hồn người chết ngay cả trong các thân xác người già, vẫn luôn luôn giống như những trẻ thơ. Trước đức tin là linh hồn trẻ thơ mãi mãi, ta không thể không nói tới ở người Dayak (một tộc Bộc Việt), trong suốt các tang lễ lớn, những nữ pháp sư, nữ tế mang các linh hồn người chết chủ lễ trong các túi gấp nếp ở quần áo của họ như địu (mang) các trẻ con (R.Hetz). J. Cuisinier cũng dẫn thêm cho rằng các người Fidji cũng quan niệm linh hồn người chết “chỉ là những đứa trẻ” (et on songe aussi à la conception de l’âme chez les Fidjiens qui se servent de grands éventails pour protéger l’âme du mort qu’ils enterrent, afin de la protéger, dit Frazer “because as one explained to a missionary his soul is only a little child”) (D’une lettre du  Rev. Lorimer Fison, citée par Frazer in Taboo and the perils of the soul, p.30). Người Semang Pygmies, một trong nhóm người cổ đại nhất ở quần đảo Mã Lai cho rằng người chết trở thành trẻ con trở lại, do đó sửa soạn cho một đời khác trên thế gian (among one of the most archeic peoples of the Malay Peninsula, the Semang Pygmies beleive that the dead become infants again, thus preparing themselves for another life on earth) (M. Eliade, Shamanism, p.280- 281).

Rõ như ban ngày những người nhỏ bé trẻ thơ trần truồng đang bị canh giữ, phán xét ngồi trên sàn thuyền chính là những linh hồn và cũng chính vì có sự hiện diện của những linh hồn này mà thuyền mới được gọi là thuyền linh hồn là vậy. Tất cả thuyền trên trống Ngọc Lũ I đều có cảnh một hay hai linh hồn ngồi dưới sàn thuyền đang được phán xét, riêng ở trống Hoàng Hạ, ở thuyền số một, có một linh hồn sau khi đã làm xong thủ tục phán xét đang đi vào cổng Trục Thế Giới để vượt qua thử thách cuối cùng là đi qua cầu thử thách hình Tam Thế để lên Cõi Trời.

Ở một thuyền trên trống Hoàng Hạ, một linh hồn sau khi đã làm xong thủ tục phán xét đang đi vào cổng Trục Thế Giới để đi qua cầu thử thách hình Tam Thế để lên Cõi Trời (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

* Cần lưu tâm

.Cần phải phân biệt những người nhỏ bé như trẻ con trần truồng là những linh hồn với những người lớn trần truồng (như những người đánh trống ở trần hay trần truồng hay hai người gác cổng trời trần truồng ở thuyền số 1 và 2 trên trống Ngọc Lũ I) là những người cõi trời hay thuộc ngành âm đội lốt người nhà trời. Người thế gian thường có quần áo.

.Như đã thấy ở trên, hồn người chết đi qua cầu thử thách ở Phong Đô Trung Hoa cũng trần truồng.

Tóm lại những người nhỏ bé trẻ thơ đang bị canh giữ, phán xét ngồi trên sàn thuyền chính là những linh hồn và cũng chính vì có sự hiện diện cửa những linh hồn này mà thuyền mới được gọi là thuyền phán xét linh hồn là vậy.

-Người phán xét linh hồn.

 

Người phán xét linh hồn.

Người này một tay để lên đầu linh hồn, một tay gõ vào trống Cây Vũ Trụ, Cây Đời để khơi động vòng tử sinh trong quá trình định giá linh hồn (xem chương Ý Nghĩa Dấu, Hình, Biểu Tượng Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á).

-Người gác cổng cõi trên hay thiên đường.

Người gác cổng trời, cổng thiên đường đứng trên đài cầu cao Tam Thế cầm lao và khiên hay chỉ cầm khiên thôi.

Người gác cổng cõi trên hay thiên đường

Sáu người gác cổng trời có một người trần truồng (thuyền số 2) mang tính thái âm, biểu tượng đại tộc nước Chấn (ứng với Thần của ngành Thần Nông), một người ở trần (thuyền số 1) theo duy âm mang tính thiếu âm, biểu tượng đại tộc Gió Đoài (ứng với Nông) và theo duy dương mang tính thiếu dương và bốn người còn lại ở bốn thuyến 1, 2, 3, 4 đều mặc áo, có ba người nhìn về chiều dương mũi thuyền thuộc về tộc ứng với phía dương và ba người nhìn về chiều âm đuôi thuyền thuộc về tộc ứng với phia âm cho thấy họ là đại biểu của những đại tộc, tộc khác nhau.

Người chèo thuyền tay cầm tay chèo có đầu hình chim như đã nói ở trên. Tay chèo là một trong những mấu chốt, một thứ căn cước để nhận dạng ra một con thuyền

(còn nữa).

 

March 30, 2012

TRỐNG NGƯỜI MẶT TRỜI BÁCH VIỆT NGỌC LŨ I (16).

Filed under: Trống Bách Việt Ng. Lũ I (16) — Quang Nguyen @ 6:02 am

TRỐNG NGƯỜI MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG

BÁCH VIỆT NGÀNH VIÊM VIỆT NGỌC LŨ I.

(TRỐNG NHÓM MẶT TRỜI NỌC THÁI DƯƠNG LƯỠNG HỢP  TIỂU VÀ ĐẠI VŨ TRỤ).

(phần 16)

Nguyễn Xuân Quang

 THUYỀN TRÊN TRỐNG NGỌC LŨ I

Trên vai trống Ngọc Lũ I có 6 con thuyền biểu tượng. Hiển nhiên, thuyền thuộc tộc nước, âm. Số sáu là số lão âm, âm thái dương, vậy sáu con thuyền này và những người trên thuyền theo nòng nọc, âm dương đề huề thuộc ngành Nòng âm thái dương và theo duy dương tức ở ngành nọc thái dương vì ở trên trống thì thuộc nhánh nọc âm thái dương mang tính chủ.  Tổng quát về các con thuyền này đã nói ở chương Ý Nghĩa Hình Thuyền Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á. Ở đây chỉ xin tóm lược lại.

Sau đây là hình vẽ 6 con thuyền trong quyển Những Trống Đồng Đông Sơn Đã Phát Hiện Ở Việt Nam của Nguyễn Văn Huyên:

Sáu con thuyền trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Thuyền mang trọn ý nghĩa Vũ Trụ thuyết nhánh nòng âm. Nhìn theo diện giới hạn ở nhánh nòng thái dương, thì những con thuyền này diễn tả nhánh nòng thái dương dưới nước có đầu thuyền là đầu linh vật Rắn Nước thái dương biểu tượng cho đại tộc Chấn nước thái dương và đuôi thuyền hình chim Nông mang dương tính biểu tượng Đoài gió thái dương (xem chi tiết ở dưới). Nhánh này là nhánh Rắn Nước-Bổ Nông. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, ứng với Thần-Nông (ứng với con Tôm trên bàn Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc).

Nhìn tổng quát thân sáu con thuyền này đều có những nét chung là những hình ngữ sọc đứng và sọc ngang mang ý nghĩa nòng Khôn gió nước Đoài Chấn. Thân thuyền chỉ khác nhau các chữ viết nòng nọc vòng tròn-que, các dấu (markers) hay các phụ đề thay đổi theo tính âm dương của các đại tộc, tộc…

Giống như con số 6 ở nhóm 6 người nhẩy múa ở bán viên âm như đã nói ở trên, con số 6 chiếc thuyền  cũng mang theo nghĩa trong Vũ Trụ Tạo Sinh ( 6 = 2, âm dương + 4, tứ tượng). Theo Dịch số 6 là số thành, sinh thành. Như thế ta biết ngay giống như 6 người múa trên mặt trống, trong 6 thuyền, có hai thuyền biểu hiệu cho âm dương, Lưỡng Nghi, cho hai đại tộc và 4 thuyền cho Tứ Tượng hay bốn tộc, chi tộc tương ứng với Tứ Tượng. Nói một cách khác có ba thuyền thuộc phía âm, trong đó có một thuyền đại diện cho  đại tộc nòng âm và hai thuyền cho hai tộc âm là nòng thái âm và nòng thiếu âm và 3 thuyền dương trong đó có một thuyền đại diện cho đại tộc nòng dương và hai thuyền cho hai tộc dương là nòng thái dương và nòng thiếu dương.

Hình dạng và kích thước các thuyền trên trống Ngọc Lũ I đều giống nhau nhưng về chi tiết không một thuyền nào giống một thuyền nào. Hiển nhiên mỗi thuyền biểu hiệu cho một ngành, nhánh hay một đại tộc, tộc, chi tộc riêng biệt nào đó. Chi tiết là yếu tố quyết định để nhận dạng mỗi thuyền. Trái lại, trên trống Nam Dương Beelaerts, một trống muộn, hình dáng và kích thước các thuyền khác nhau. Trên trống này, hình dạng và kích thước là chìa khóa để nhận dạng các thuyền. Cũng có 6 thuyền, ba thuyền có hình gần giống hình bán nguyệt, hai đầu thuyền có ba vòng tròn đồng tâm tức Khôn (OOO). Đây là ba thuyền thuộc dòng âm. Ba thuyền còn lại mũi nhọn dương, thuộc dòng dương. Bốn thuyền lớn, mỗi thuyền có hai người chèo trang phục lông chim biểu tượng Tứ Tượng hay bốn chi tộc tương ứng với Tứ Tượng. Hai thuyền nhỏ hơn, mỗi thuyền chỉ có một người chèo, biểu tượng âm dương, lưỡng nghi, hai ngành. Điều này xác định vững chắc rằng 6 thuyền trên trống Ngọc Lũ I có cùng ý nghĩa biểu tượng trong Vũ Trụ giáo như 6 con thuyền trên trống Beelaerts thấy rất rõ qua hình dáng và kích thước khác nhau.

(rất tiếc tôi đã để thất lạc hình 6 con thuyền của trống Beelaerts này ở một chỗ nào đó tìm chưa ra, có thể vào tìm reference trong The The Kettle Drums of Southeast Asia của A.J. Bernet Kempers).

Vậy điểm mấu chốt cốt yếu, sinh tử là phải nhận diện ra hai chiếc thuyền đại biểu cho nhánh nòng âm nước trong 6 chiếc thuyền này. Ở đây theo nguồn Nguyễn Văn Huyên chính là hai con thuyền  số 5 và số 6.

Thật vậy ta thấy rất rõ hai thuyền hai thuyền cuối cùng có những đặc tính khác biệt với các thuyền khác, cho thấy đây là hai thuyền biểu tượng phía nước hay của nhánh nòng thái dương như sau:

– Hai thuyền cuối là hai thuyền biểu tượng cho nhánh này gồm hai đại tộc thấy rõ khi ta lấy đường nối đúc trống làm mốc. Ở  hình dưới đây cho ta thấy rõ như ban ngày thuyền cuối cùng số 6 có hình chim đứng trước mũi thuyền ở bên trái đường nối và thuyền số 1 có chim đứng ở phía đuôi thuyền ở bên phải đường nối theo nguồn Nguyễn Văn Huyên.

Thuyền số 6 và thuyền số 1 ở hai bên đường nối của trống.

Rõ hơn trong hình vẽ dưới đây trích trong  The Kettle Drums of Southeast Asia của A.J. Bernet Kempers.

Hình vẽ lại thuyền số 6 và số 1 (The Kettle Drums of Southeast Asia của A.J. Bernet Kempers). 

Lưu Ý

Ta thấy thuyến số 6 theo nguồn Nguyễn Văn Huyên là thuyền dẫn đầu của nhóm 6 con thuyền. Như vậy nếu ta lấy theo hình của Kempers thì thuyền 6 này là thuyền số 1 rồi kế tiếp theo sau là những thuyền số 2,  3, 4, 5 và 6 tức là vị trí sẽ ngược với nguồn Nguyễn Văn Huyên. Tính theo cách sau này thì hai thuyền  1 và 2 dẫn đầu nhóm lại là hai thuyền hướng về tới đường nối khuôn đúc bên trái (tức thuyền 6 và 5 theo nguồn Nguyễn Văn Huyên).

Vì đây là vùng Nước tang trong nên phải đọc theo theo duy âm tức theo chiều kim đồng hồ khởi đầu từ thuyền số 1 (tức số 6 của nguồn Nguyễn Văn Huyên). Trong khi đó nguồn Nguyễn Văn Huyên đọc theo  duy dương tức theo chiều ngược với kim đồng hồ.

Tôi sẽ đọc theo thứ tự duy âm này.

Để dễ theo dõi, tôi sắp xếp các hình thuyền lại theo chuyển động vòng tròn như trên vai trống.

Sáu thuyền trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I sắp xếp lại theo chuyển động vòng tròn như trên vai trống và theo duy âm đọc theo chiều kim đồng hồ của tôi dựa vào mốc đường nối đúc trống. 

Trên hai thuyền dẫn đầu 1 và 2 đọc theo chiều âm của nhánh nước, mỗi thuyền có hai linh hồn người chết

.Ở thuyền số 1, một trong hai linh hồn bị soi mòn mất chỉ còn một phần nên trông giống như chiếc khăn. Linh hồn người chết trông như trẻ con trần truồng mà hiện nay các học giả về trống đồng hiểu lầm là tù nhân (xem dưới ở phần Người Trên Thuyền) đang ngồi bệt dưới sàn.

Thuyền số 1 dẫn đầu đọc theo chiều âm của nhánh Nước.

Thuyền số 2, một trong hai thuyền dẫn đầu đọc theo chiều âm của nhánh Nước.

Có hai linh hồn có nghĩa là có hai cảnh phán xét linh hồn ứng với hai phía nòng nọc của nhánh nòng nước gồm có hai đại tộc trong khi bốn con thuyền còn lại chỉ có một linh hồn người chết tức một cảnh phán xét linh hồn ứng với mỗi tộc..

-Hai người gác cổng thiên đàng đứng trên đài cao ở hai thuyền này khác hẳn với những người ở bốn thuyền còn lại.

Người gác cổng trời ở thuyền số 1 ở trần có mặc váy hay quần tức chỉ có một âm (và một dương), theo duy âm là thiếu âm và theo duy dương là thiếu dương.(chiếc váy trong hình của A.J. Bernett Kempers ở trên thấy rõ hơn là ở trong hình của Nguyễn Văn Huyên).

Người chim ở trần trên trống Quảng Xương thuộc ngành dương, theo duy dương là thiếu dương Li và theo duy âm là thiếu âm Đoài, khí gió vũ trụ. 

Người này tròn trịa, tóc ngắn mang dương tính và quay về phía mũi thuyền tức chiều dương. Tay cầm khiên và lao tức có hai yếu tố âm dương, ở đây cây lao để nằm ngang song song với mặt đất diễn tả gió thiếu dương Li đất bằng mang tính chủ.  Đây là người tiêu biểu của đại tộc Li Càn  của cả nhánh nọc dương thái dương ngành nòng âm nước.

Người ở thuyền số 2 trần truồng, mảnh mai, thon gọn mang nhiều âm tính tức thái âm, nước, Chấn.

Lưu Ý

Những tộc nước được biểu tượng bằng người trần truồng vì khi bơi lặn không mặc quần áo, sợ bị ướt như thấy rõ ở tộc người nước trần truồng phía 50 Lang nhánh Lạc Long Quân trống Quảng Xương (xem trống này).

Ngưới Rắn tộc nước trần trưồng phía 50 Lang theo Lạc Long Quân ở trống Quảng Xương.

Người này quay mặt về chiều âm đuôi thuyền, tay chỉ cầm cái khiên hai chữ DD ngược nhọn đầu lồng vào nhau (DD là biến dạng của hai chữ nòng âm OO) với hai đầu nọc nhọn là hai dương tức thái âm mang tính thái dương tức Chấn. Người này không cầm cây lao (lao mang dương tính) cho thấy rõ thuộc về phía nòng thuần âm, nước. Đây là người tiêu biểu của phía nòng Khôn âm Chấn nói chung của toàn họ hay thái âm của riêng ngành nòng âm Chấn Đoài vũ trụ thái dương.

Một mấu chốt bằng vàng nữa để xác định danh tính, bộ mặt thật của hai con thuyền biểu tượng cho nhánh, đại tộc nòng nước này là hình chim đứng ở đầu hay đuôi thuyền. Như đã thấy ở trống Sông Đà hình chim đứng ở mũi và đuôi thuyến diễn tả tính nòng nọc, âm dương của thuyền tức danh tính của thuyền.

Ở đây, như đã nói ở trên, ta đã thấy ở đầu con thuyền số 1  và đuôi thuyền số 6  có hình chim.

 Trước mũi thuyền 1 có một hình chim đứng trong nước, trước mũi thuyền và ở vùng nước tang trống là một loài chim nước. Chim nước này mang dương tính vì đứng ở mũi thuyền chuyển động theo chiều ngược với kim đồng hồ, theo chiều mặt trời (mũi thuyền dương còn đuôi thuyền âm). Con chim có bờm gió. Chim nước có bờm gió là chim nông. Chim nông này có mỏ phình hình búa rìu là chim bổ nông mang dương tính, nọc lửa, thái dương [xin nhắc lại theo duy dương chim nông gọi theo cái mỏ lớn hình rìu là chim bổ (nông) như người Tây phương theo duy dương gọi là pelican có gốc Hy Lạp ngữ pelikus, cái rìu. Trong khi chúng ta theo duy âm gọi theo cái túi dưới mỏ là chim nang (túi), chim nông].

Trên người có hai chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình vòng tròn có chấm có một nghĩa là hai mặt trời, hai dương, thái dương, lửa.

Lưu Ý

Như đã biết chim nông mang trọn vẹn ý nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo. Vì thế chim nông mỏ rìu có một khuôn mặt biểu tượng cho nọc lửa Càn-Li ngành nòng nước. Trong thực tế là con chim nông lửa mỏ đỏ.

 Vậy con bổ nông này là chim bổ nông ngành nọc lửa thái dương. Như thế con chim rìu bổ nông nói cho biết thuyền dẫn đầu của 6 con thuyền có khuôn mặt chủ là thuyền của nhánh nọc lửa thái dương Li Càn.

Tóm lại

Nhìn theo hai người gác cổng thiên đường này ta thấy:

.Thuyền số 1 là thuyền có khuôn mặt chủ là Càn đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt ứng với  ngành Viêm Đế.

.Thuyền số 2 là thuyền có khuôn mặt chủ là Chấn của ngành Thần Nông. Theo lưỡng hợp nòng nọc, âm dương khuôn mặt Chấn này lưỡng hợp Càn ở dạng lưỡng hợp đại vũ trụ.

Sáu con thuyền này thuộc nhánh nòng âm thái dương.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là nhánh Thần Nông thái dương có khuôn mặt Nông thái dương mang tính chủ.

Ta suy ra căn cước của bốn con thuyền còn lại biểu tượng cho bốn tộc ứng với Tứ Tượng.

Ý Nghĩa Các Con Thuyền

Tôi chia thuyền ra làm hai phần: phần thứ nhất gồm cấu trúc và các tài vật (paraphernalia) của con thuyền và phần thứ hai gồm người, thú trên thuyền.

Một chiếc thuyền trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I (nguồn: Nguyễn Văn Huyên) .

1. Cấu trúc và Tài Vật của Thuyền.

Thân thuyền

Bán diện của thuyền hình cong như hình bán nguyệt biểu tượng cho nước dương. Hình cong biểu tượng cho thân của loài bò sát sống được dưới nước như rắn nước, cá sấu (water reptiles). Trên thân thuyền có những chữ nòng nọc hay những hình nòng nọc giúp ta nhận diện ra danh tính con thuyền. Thân của sáu con thuyền căn bản đều có những chữ viết nòng nọc vòng tròn-que, hình ngữ âm gồm các sọc song song nằm ngang khí gió không gian và các sọc song song đứng nước không gian và các biến thể của chúng như hình răng lược, nhìn chung chung là Khôn. Tóm lại thân thuyền biểu hiện các con thuyền của ngành âm, những con thuyền vũ trụ, không gian. Đầu tất cả sáu tay chèo đều có hình đầu chim cho thấy các con thuyền này có thể bay được trong vũ trụ.

Mũi thuyền

Mũi thuyền biểu tượng đầu linh thú nước (mythical water creatures). Mắt âm “hai vòng tròn đồng tâm có chấm” xác định con thú này là con thú âm, thú sống được dưới nước, theo duy dương là Chấn. Mũi thuyền biểu hiện đầu linh thú nước. So sánh với truyền thuyền và cổ sử Việt, các thú này có thể là loài “thuồng luồng” (mythical water creatures). Loài linh thú nước này biểu tượng âm, nước. Miệng thú há rộng biểu hiện bộ phận sinh dục nữ. Theo truyền thuyết của người Ngaju, Dayak, Borneo, Rắn nước Watersnake Tampon (trong ngôn ngữ Hindu-Javanese gọi là naga) là thần Nước Nguyên khởi hay Âm thế (deity of the Primeval water or Nether world). Dưới thời ảnh hưởng văn hóa Hindu, vị thần này được gọi dưới tên là Bawin Jata Balawang Bulau có nghĩa là “ thần nữ Jata với cửa vàng” (the feminine Jata with the golden door”). Biểu ngữ “cửa vàng” chỉ âm hộ phái nữ (the expression “golden door” is a euphemism for the female pudenda) (Hans Scharer, tr.15). Như thế , theo thuần âm, đầu thuyền hình rắn nước, linh thú nước biểu tượng nòng, âm, nước nguyên khởi, nước vũ trụ, cực âm, thái âm và bộ phận sinh dục nữ, Cõi Âm. Ta cũng đã thấy phần rễ của Cây Vũ Trụ Yggdrasill của người Bắc Âu ứng với Cõi Dưới, Cõi Âm được biểu tượng bằng hình con rắn độc có lưỡi mầu đỏ (xem chương Khái Lược Về Vũ Trụ Giáo).

Một hình chim có mỏ hình rìu lao vào trong miệng linh thú rắn nước.

 Hiển nhiên, chim mỏ rìu là chim dương, chim lửa, biểu tượng cho Lửa Nguyên khởi, Lửa vũ trụ, dương, cực dương và bộ phận sinh dục nam. Dưới một diện, có thể đây là con chim rìu chim mỏ cắt. Rõ như ban ngày, mũi thuyền biểu hiện sự Lưỡng Hợp hay Nhất Thể (Duality or Totality), kết hợp giữa âm dương vũ trụ, thái âm, thái dương, Lửa Nước, Thái Cực, v.v… ở cõi Đại Vũ Trụ (thái âm thái dương có thái là đại).

Chi tiết của đầu linh thú nước cũng diễn tả theo Tứ Tượng. Mắt hai vòng tròn đồng tâm biểu hiện tượng nước dương Chấn; sừng hình nêm, hình tháp biểu hiện đất đá dương Li; những chấm nhỏ biểu hiện tượng lửa nguyên khởi Càn và các sọc song song nằm ngang hay đứng ở hàm dưới, tượng gió vũ trụ Đoài. Đầu thuyền linh thú nước diễn tả trọn vẹn nghĩa Vũ Trụ giáo.

Đuôi thuyền

Đuôi thuyền có hình đầu chim có con mắt âm “hai vòng tròn có chấm” và cái túi, cái nang nam hóa có góc cạnh nhọn dưới mỏ-cổ cho thấy đây là đầu chim bổ nông nước.

Một đuôi thuyền trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I hình chim bổ nông có con mắt âm hai vòng tròn đồng tâm có chấm nọc con ngươi và có túi dưới mỏ hình rìu nhọn.  

Trụ phía sau mũi thuyền diễn tả một hay hai đầu chim. Những đầu chim này có con mắt dương “vòng tròn đơn có chấm” và chiếc mũ sừng nam hóa cho biết đây là chim bồ cắt. Trụ có hai đầu chim bồ cắt như thấy ở hình trên (thuyền 1 và 4) mang ý nghĩa hai dương, thái dương. Trên trống Hoàng Hạ hai đầu chim bồ cắt này được diễn tả bằng hai cây trụ riêng rẽ. Cây trụ chim bồ cắt này diễn tả Núi Trụ, núi Kỳ, Trụ Chống Trời, Trục Thế Giới, Cõi Đất thế gian. Đuôi thuyền diễn tả sự hôn phối, giao hòa giữa thiếu âm bổ nông với thiếu dương bồ cắt ở cõi Tiểu Vũ Trụ (xem thêm chương Thú Vật Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á).

Trang trí dưới đuôi thuyền mang ý nghĩa biểu tượng kết hợp thiếu âm và thiếu dương.

Như thế đầu thuyền hình linh thú nước Rắn nước có sừng thái dương tức Chấn nước thái dương có hình chim rìu lửa vũ trụ Càn trong miệng diễn tả sự giao hợp âm dương chim lửa-rắn nước, càn khôn duới dạng thái Cõi Trên Đại Vũ Trụ tức thái dương chim lửa Càn và thái âm rắn nước Chấn. Đuôi thuyền hình đầu chim nông gió có túi, bìu (nang, nông) dưới cổ có góc cạnh mang dương tính, nghĩa là chim nông này là chim dương, thái dương, bổ nông, bổ nông thái dương. Phía sau mũi thuyền có nọc hình đầu chim bồ cắt. Hai đầu chim diễn tả sự giao hợp âm dương dạng thiếu (thiếu âm chim bổ nông với thiếu dương chim bồ cắt) tức Cõi Trời thế gian, Tiểu Vũ Trụ (trời vì là chim).

Tay  lái:

Ngoại trừ thuyền số 5, năm thuyền kia đều có tay lái dưới mũi thuyền.

Một thuyền có tay lái dưới mũi thuyền.

Hình dạng khác nhau của tay lái mang ý nghĩa biểu tượng khác nhau. Những tay lái này giúp nhận diện các thuyền (xem dưới).

Tay  chèo

Tay chèo mang ý nghĩa biểu tượng (xem hình ở hình đuôi thuyền). Không có một tay chèo nào giống nhau về chi tiết. Đầu sáu tay chèo đều có hình chim cho thấy các thuyền này có thể bay lên Cõi Trên như chim bay. Các tay chèo cũng giúp nhận diện các thuyền (xem dưới).

Trống Cây Vũ Trụ hay Cây Đời.

Trên mỗi thuyền có một người dùng tay trái gõ vào một vật hình lục giác đặt trên một cây trụ biểu tượng cho Trục Thế Giới. Đây là chiếc trống Cây Vũ Trụ hay Cây Đời.

Trống Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) ờ một thuyền trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I.  

Trống hình lục giác  (biến thể của nòng O) biểu tượng không gian, sinh thành (theo Dịch số 6 là số thành). Dưới diện ma thuật, có thể mang hình ảnh của con mắt thần hay cái gương thần dùng trong quá trình phán xét linh hồn (xem chương Ý Nghĩa Dấu và Biểu Tượng Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á). Tay phải của người này nắm đầu một người nhỏ bé, trần truồng ngồi trên sàn thuyền. Đây là linh hồn người chết (xem chi tiết ở dưới ở phần Ý Nghĩa Hình Người Trên Thuyền Trên Trống Ngọc Lũ I). Người gõ trống và giữ đầu linh hồn là người phán xét linh hồn. Những người này gõ trống Cây Đời để khơi động dậy vòng tử sinh và lượng giá, thẩm định linh hồn. Sau khi được phán xét xong, linh hồn thiện, tốt được cho qua Cầu Thử Thách để về miền hằng cửu ở Cõi Trên, để sống đời đời hay tái sinh và các hồn ác, xấu bị tống xuống cõi âm hay âm ty (xem dưới).

Đầu chim cắm trên trống biểu tượng cõi trên, xác nhận đây là trống Cây Vũ Trụ hay Cây Đời thật sự, trong khi các trống trong các ngôi nhà nọc, mặt trời cũng để trên các trụ nhưng không có hình đầu chim chỉ mang nghĩa biểu tượng của hình ngữ (symbolic scripts). Trong mỗi trống hình lục giác, có hình ngữ nòng nọc và phía trên trống bên cạnh hình đầu chim, trên bốn thuyền còn có cắm thêm các gậy hay khí giới biểu tượng. Những hình vật này giúp nhận diện các thuyền. Không một trống Cây Vũ Trụ nào giống nhau về chi tiết. Sự khác nhau của mỗi trống diễn tả các diện khác nhau của triết thuyết Vũ Trụ giáo hay biểu tượng của các tộc khác nhau.

Cầu Thử Thách hay Cầu Gian Nguy.

Cầu thử thách (“bridge of challenge”) hay cầu gian nguy (“dangerous bridge”) là cây cầu mà người chết phải đi qua để chịu sự thử thách cuối cùng trước khi được về cõi hằng cửu, cõi trời, Cõi Trên (thiên đường). Những linh hồn ác hay tội lỗi không thể nào vượt qua được cây cầu này và bị rơi xuống vực thẳm của Cõi Âm. Cầu thử thách là nhịp cầu nối, giao thông giữa Tam Thế mang hình bóng của Cây Vũ Trụ đúng như M. Eliade đã ghi nhận: “Sự giao thông giữa thiên đường và trần gian có thể mang lại-hoặc có thể là illo tempore- bởi một vài phương tiện thể chất (cầu vòng, cầu, cầu thang, cây thang, dây, rợ, “xâu chuỗi mũi tên”, núi, v.v…). Tất cả những hình ảnh biểu tượng của sự liên kết giữa trời và đất chỉ là dạng biến thể của Cây Thế Giới hay trục vũ trụ. Trong một chương trước, chúng ta đã thấy huyền thoại hay biểu tượng của Cây Vũ Trụ bao hàm ý của “Trung Tâm Thế Giới” ở điểm mà đất, trời và âm thế gặp nhau” (M. Eliade, 1964, p. 492). M. Eliade cũng đã viết: Người Niassans biết rằng Cây Vũ Trụ đã sinh ra mọi vật. Để đi lên trời, người chết đi qua một cây cầu, dưới cầu là vực thẳm của Cõi Âm. Một người gác với lao và khiên đứng ở cổng trời, một con mèo giúp hắn ném hồn người ác xuống nước hỏa ngục (ghi chú thêm của tác giả: ở trống Ngọc Lũ I có con chó thay cho con mèo). Quan niệm về cây “cầu gian nguy” này rất phổ thông trong tôn giáo ở Đông Nam Á: Có một sự tương đồng giữa phức thể này của người Niassans và ý tưởng của người Naga ở (cận) Ấn Độ (ghi chú thêm của tác giả: Naga là người Rồng ruột thịt với Ao-Naga tức Âu-Long, một thứ Âu Lạc), chúng ta đang “dealing” với di tích của cái gọi là nền văn minh Nam Á, chia xẻ với người Tiền-Aryan và Tiền-Nam Ấn của Ấn Độ và đa số của dân bản địa ở Đông Dương và Quần Đảo Ấn Độ.

Một điểm rất quan trọng cần phải nhấn mạnh ở đây là cây cầu thử thách trên các thuyền này trong quá trình phán xét linh hồn người chết mà M. Eliade đã xác nhận là thuộc nền văn minh Nam Á và của dân bản địa Đông Dương trước cả nên văn hóa Tiền-Aryan và Tiền-Nam Ấn của Ấn Độ cho thấy trống đồng thuộc dân bản địa Đông Dương.

Cây cầu này cũng thấy ở địa ngục trong các tôn giáo sau này như Phật giáo chẳng hạn. Trong chuyến du hành trên sông Dương Tử đi đến Trùng Khánh, tôi có ghé qua Phong Đô (Feng Du), thành phố của Người Chết, tại đây có những cảnh Cõi Âm, địa ngục và cũng có một tấm bích họa vẽ chiếc cầu thử thách này.

Cầu Thử Thách ở Thành Phố Người Chết Phong Đô, Trung Hoa (ảnh của tác giả, tháng 9-2007)

Lưu ý hồn người chết ở đây cũng trần truồng như hồn người chết ngồi trên sàn thuyền.

Ở trống Ngọc Lũ I và các trống họ hàng, trên mỗi thuyền, phía sau cảnh phán xét linh hồn đều có một cây cầu thử thách có hình một đài cao biểu tượng Tam Thế trong có Trục Thế Giới.

 Một chiếc cầu thử thách trên một chiếc thuyền ở trống đồng âm dương Ngọc Lũ I. 

Cầu Tam Thế có ba tầng: Tầng trên hay Cõi Trên là khoảng không gian trên mặt cầu biểu hiệu bằng một hay hai cây trụ hay thành cầu có hình đầu chim. Một người đứng trên sàn cầu cầm mộc và giáo (hoặc chỉ cầm mộc thôi) là người gác cổng Cõi Trên (hay thiên đường). Người này có nhiệm vụ chỉ cho những linh hồn thiện, tốt đi vào Cõi Trên và ngăn chặn, tống xuất các linh hồn ác ra khỏi Cõi Trên (xem chương Người Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á). Sàn cầu biểu tượng Cõi Giữa. Phần nước dưới thuyền dưới gầm cầu là Cõi Dưới. Gầm cầu là Trục Thế Giới nối liền Tam Thế. Không một chiếc Cầu Thử Thách nào giống nhau về chi tiết. Sự trình bày khác nhau của mỗi chiếc cầu diễn tả những diện khác nhau của Vũ Trụ giáo hay của các ngành, tộc hay chi tộc khác nhau.

2. Người và Thú Trên Thuyền

Người

Nhìn tổng quát, người trên thuyền mang trọn vẹn ý nghĩa Vũ Trụ giáo của dòng âm, nước. Hiển nhiên người trên thuyền tiêu biểu cho dòng nước hay cõi âm. Người trên nước diễn tả theo âm Dịch.

Những người này đang thực hiện một cảnh phán xét linh hồn (afterlife judgment). Xem ở dưới và xem chương Người Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á.

Thú

Chó gác Cầu Thử Thách hay chó phán xét linh hồn (The afterlife judgment dogs).

Trên thuyền 1 và 5 có một con chó đứng sau Cầu Thử Thách (xem hình ở hình thuyền ở trên). Những con chó này gác Cầu Thử Thách hay gác cổng Cõi Trên. Chúng phụ giúp người gác cổng Cõi Trên xé xác hay ném những linh hồn ác xuống vực thẩm âm ty (xem Thế Giới Loài Vật Trên Trống Đồng Âm Dương). Chúng giống như những con mèo phán xét linh hồn trong truyền thuyết của tộc Nissan ở Polynesia. “A cat throws the guilty souls into the infernal waters for him” (the guardian of the sky gate) (“Một con mèo ném những linh hồn ác xuống cõi nước địa ngục cho người gác Cổng Trời”). Những con chó này là những con chó phán xét linh hồn. Chúng có một khuôn mặt liên hệ với con chó Anubis của Cổ Ai Cập hay con chó ngao ở địa ngục của nhà Phật.

(còn nữa).


 

March 23, 2012

TRỐNG BÁCH VIỆT NGỌC LŨ I (phần 15).

Filed under: Trống Bách Việt Ng. Lũ I (15) — Quang Nguyen @ 7:33 am

TRỐNG NGƯỜI MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG

BÁCH VIỆT NGÀNH VIÊM VIỆT NGỌC LŨ I.

(TRỐNG NHÓM MẶT TRỜI NỌC THÁI DƯƠNG LƯỠNG HỢP  TIỂU VÀ ĐẠI VŨ TRỤ).

(phần 15)

Nguyễn Xuân Quang

 2. VÙNG NƯỚC THẾ GIAN

 Vùng nước là phần phình tang trống (trông như một vật đựng nước).

 Vùng Nước thế gian ở tang trống  đồng âm dương Ngọc Lũ I  (Nguồn: The Bronze Dongson Drums compiled by Hà Thúc Cần, 1989).

.Phần trên tang trống có 6 vành hoa văn hình học gồm hai vành giới hạn chấm nọc lửa sinh tạo còn lại bốn vành hoa văn có hai vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) thái dương trong có bỏ hai dấu nọc chấm cũng cho biết là lửa, thái dương. Hai vành này kẹp giữa hai vành vòng tròn đồng tâm có chấm Lửa Nước Chấn có tiếp tuyến. Ở đây ở vùng nước tang trống ngoài nghĩa chuyển vận, sinh động, tiếp tuyến cũng có thể có một nghĩa là sóng nước chuyển động, nước dương.

Như thế so sánh với các vành ngoài biên trống, ta thấy các vành ở phía trên tang trống này chỉ khác ở hai vành nằm giữa là hai vành có hai vòng tròn đồng tâm có chấm nọc dương có tiếp tuyến có nghĩa là nước dương, lửa nước, Chấn sinh động trong khi ở biên trống là hai vành một vòng tròn có chấm/chấm vòng tròn có tiếp tuyến có nghĩa là thiếu dương Li, thiếu âm Đoài vũ trụ sinh động. Điểm này cũng dễ hiểu vì tang trống là vùng nước và chúng cũng cho biết các tộc ở vùng nước thế gian này có khuôn mặt nòng Khôn thái âm nước của ngành thái dương Chấn mang tính chủ.

Lưu ý

Ở biên trống Ngọc Lũ I hai vành nọc mũi tên thái dương kẹp ở giữa hai vành vòng tròn có chấm (hay chấm vòng tròn) thiếu dương Li/thiếu âm Đoài trong khi ở các trống khác chỉ kẹp ở giữa có một vành cho thấy trống đồng âm dương Ngọc Lũ I là trống mang tính lưỡng hợp nòng nọc, âm dương dưới dạng tiểu vũ trụ hay liên hiệp hai tộc của hai nhánh nòng nọc, âm dương của ngành nọc dương thái dương. Ở những trống chỉ có một vành thì chỉ diễn tả một ngành, nhánh, đại tộc, tộc mà thôi. Đôi khi cụng thấy chỉ có một vành nhưng vành đó lại có hai hình thái. Ví dụ như ở trống Sông Đà chỉ có một vành kẹp ở giữa diễn tả một nhánh nhưng vành này có hai hình thái là sóng hình thoi nhọn đầu Khí gió Đoài vũ trụ (Khôn dương) thái dương và sóng uốn khúc hình vuông Nước dương Chấn (Khôn âm) thái dương cũng cho biết ở dạng lưỡng hợp nhưng chỉ ở riêng trong nhánh nòng âm Khôn thôi.

.Phần dưới chân tang trống có 5 vành gồm hai vành ngoài cùng là hai vành trống không nòng Khôn âm kế đến hai vành  chấm nọc dương, thái dương, Càn, sinh tạo kẹp giữa một vành vòng tròn có chấm có tiếp tuyến Li/Đoài. Theo duy âm tức đi với vành trống không Khôn âm thì vành này mang tính Đoài vũ trụ và theo duy dương tức vành này đi với vành chấm nọc dương sinh tạo Càn thì vành này mang nghĩa Li. Ta thấy 5 vành này diễn tả Đoài Li sinh tạo với Đoài mang tính chủ vì ở vùng nước âm và vì vành trống không Khôn âm nằm phía ngoài cùng (gần mặt trời hơn).

Hai nhóm vành trên Chấn và dưới Đoài mang tính chủ ở vùng tang trống này cho thấy cảnh thuyền nằm giữa ở tang trống mang tính chủ Chấn-Đoài tức ngành Khôn. Điểm này ăn khớp trăm phần trăm vì đây là vùng nước tang trống và cũng ăn khớp với phần đất dương ở mặt trống có Càn Li mang tính chủ theo dạng lưỡng hợp đại và tiểu vũ trụ.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt những vành này cho biết các thuyền và chim thuộc ngành nòng Khôn Thần Nông thái dương.

.Thuyền

Hai phần trang trí với các vành chữ viết nòng nọc vòng tròn-que này giới hạn phần chính vùng nước ở giữa của tang trống có chủ thể là 6 hình thuyền.

Lưu ý

Với nghĩa sinh tạo của hai nhóm những vành chữ viết nòng nọc vòng tròn-que của tang trống cho thấy các thuyền này là những thuyền thuộc cõi trên mang ý nghĩa biểu tượng trong quá trình sinh tạo, tạo hóa, tái sinh… đây không phải là thuyền thế gian dùng trong lễ hội nước, dùng làm thuyền chiến, chuyên chở người…

Số 6 là số lão âm, âm thái dương, vậy 6 con thuyền này và những người trên thuyền, theo nòng nọc, âm dương đề huề thì thuộc nhánh Nòng âm thái dương (vì thuyền thuộc tộc nước, âm) nhưng theo duy dương thì thuộc nhánh nọc âm thái dương. Số 6 Tốn, theo duy âm (vì ở vùng âm, nước) hôn phối với Đoài và Chấn. Chi tiết về các con thuyền này đã nói ở chương Ý Nghĩa Hình Người Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á (tập 2). Ở đây chỉ xin tóm lược lại.

Hình vẽ 6 con thuyền trên trống trống đồng âm dương Ngọc Lũ I trong quyển Những Trống Đồng Đông Sơn Đã Phát Hiện Ở Việt Nam của Nguyễn Văn Huyên.

Tổng quát

Như đã thấy ở trên, mặt trống đồng âm dương Ngọc Lũ I diễn tả trọn vẹn triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh nên thuyền  không phải là thuyền thông thường dùng làm phương tiện vận chuyển trên mặt nước thường thấy trên các trống muộn ở miền Nam Trung Hoa (ví dụ hình thuyền trên trống Nam Trung Hoa Shih Chai Shan Tây Hải Sơn) mà chúng mang ý nghĩa biểu tượng tín ngưỡng ma thuật (magico- religious meaning) là những thuyền thiêng liêng (sacred boats).

Có nhiều loại thuyền biểu tượng:

– Thuyền tang

Thuyền tang (funerary boats and/or Boats of the Dead) dùng như một phương tiện chuyên chở người chết tương dương với xe tang ngày nay. Ví dụ thuyền tang của người Ai Cập Cổ.

 

Thuyền tang Ai Cập cổ chở một xác người đem đi chôn vẽ trong nhà mồ ở Barsha (Peter Miller, Nat. Geographic April 1988).

– Thuyền vong hay thuyền linh hồn (soul boats and/or Boats of the Spirits)

Thuyền vong chở vong linh người chết về miền vĩnh cửu hay chở hồn những giáo nhân (religious care takers) ví dụ Phật A Di Đà (Amida) lái con thuyền Bát Nhã chở các vong linh vượt bể khổ về nát bàn, thuyền “funata” của Nhật Bản chở vong linh người chết trong lễ vong nhân “O bon”, các bà đồng ViệtNamngày nay vẫn còn dùng tay chèo trong lúc lên đồng. Việt Mường, Indonesia, Ai Cập v. v… đều có thuyền vong (Nguyễn Xuân Quang, Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt, tr. 117).

Thuyền vong của Việt Mường (Barque des âmes or Esprits) (V. Goloubew, 1937).

Thuyền vong của người Ngaju, Dayak, Borneo, Indonesia: Thuyền Rắn Nước hay Thuyền Vàng (Watersnake or Gold-boat) chở vong linh phái nữ. Plate XX, illustration 23 (Hans Scharer).

Thuyền Bổ Cắt hay thuyền châu báu (Hornbill or Jewel-boat) dùng cho phái nam (Plate XIX, illustration 22).

Dưới một góc cạnh, những thuyền tang tí hon này dùng như những vật tùy táng chôn theo người chết (grave goods) giống như những trống minh khí Đông Sơn tí hon. Dùng làm phương tiện chuyên chở linh hồn các vua chúa, những thuyền tang mặt trời tí hon đã được chôn trong các mộ cổ Ai Cập hàng ngàn năm. Luôn luôn, chúng mang những biểu tượng của thần mặt trời mà các vị vua là con trời.  ví dụ như thuyền tang mặt trời bằng ngọc trắng alabaster trang trí đầu dê rừng ibex, biểu tượng của thần mặt trời tìm thấy trong mộ Tutankhamun.

Một chiếc thuyền trời tí hon bằng ngọc trắng (alabaster “solar bark”) tìm thấy trong mộ Tutankhamun. Đầu và đuôi thuyền trang trí đầu dê rừng ibex, biểu tượng của thần mặt trời (Peter Miller, National Geographic, April 1988, tr.541).

– Thuyền biểu tượng Vũ Trụ giáo.

Thuyền Vũ Trụ giáo mang biểu tượng sự Sống, Chết, Tái Sinh và Hằng Cửu…

Thuyền trời Ai Cập Hennut. Thuyền chở linh hồn của Ai Cập cổ bay về miền tái sinh. Thuyền người chết đi qua bầu trời đầy sao đến Amenti, vùng đất của Osiris, để được phán xét và tái sinh (Papyrus Mes-em-neter dated 4266 B.C.), (James Churchward,1965, tr.140).

 – Thuyền quan tài

Thuyền dùng làm quan tài trong thuyền táng cũng mang ý nghĩa trong Vũ Trụ giáo như đưa người chết về cõi trên của nhánh nước để được sống hằng cữu hay được tái sinh. Ví dụ như thuyền táng ở di chỉ Việt Khê Hải Phòng, các thuyền táng của Vikings, Bắc Âu.

– Thuyền  trừ  tà ma và bệnh tật.

– Thuyền lễ hay thuyền đua dùng trong các hội nước (water festivals).

THUYỀN BIỂU TƯỢNG TRONG VŨ TRỤ GIÁO

Thuyền liên hệ với nước nên thuyền biểu tượng Vũ Trụ giáo của ngành âm, nước.

.Thuyền Vũ Trụ (Cosmic boat).

Thuyền vũ trụ biểu tượng hư không, vũ trụ âm hay biển vũ trụ (cosmic ocean). Thuyền mặt trời Ai Cập (Egyptian solar barque) là một thứ thuyền vũ trụ chở mặt trời vượt biển vũ trụ hàng ngày.

.Thuyền Thái Cực.

Thuyền biểu tượng Thái Cực hay Nhất Thể (Great Ultimate or Totality or Unity) có âm dương kết hợp với nhau. Ví dụ thuyền tang Rắn Nước-Bổ Cắt (Watersnake-Hornbill ship of the dead) của người Ngaju, Dayak.

.Thuyền Lưỡng Cực hay Lưỡng Nghi.

– Cực âm

Thuyền liên hệ tới nước biểu tượng cho âm, nữ, bộ phận sinh dục nữ. Anh ngữ “ship” có giống cái, Việt ngữ “ghe” (boat) có một nghĩa là bộ phận sinh dục nữ (Tiếng Việt Huyền Diệu). Thuyền Rắn Nước (Watersnake boat) của người Ngaju, Dayak biểu tượng cho âm, nữ, nước, âm thế v. v……

– Cực dương

Thuyền có hình chim hay trang trí các phần có dương tính của chim biểu tượng cực dương hay dương. Thuyền Bổ Cắt của người Ngaju, Dayak biểu tượng cho dương, nam, cõi dương, v. v…

.Thuyền Tứ Tượng.

Thuyền có thể biểu tượng cho tất cả Tứ Tượng hay cho riêng từng tượng một.

–/ Thuyền Tượng Lửa vũ trụ hay thái dương:

Loại thuyền này có hình chim lửa hay các bộ phận dương tính của chúng ví dụ chim bổ cắt lửa, phượng hoàng, v. v…

–/ Thuyền Tượng Nước vũ trụ hay thái âm:

Theo duy âm, loại thuyền này có hình rắn nước không có trang trí gì cả hay hình cá v. v… Vào thời muộn sau này, thuyền có hình thú vật sống dưới nước hay trang trí các thú vật sống dưới nước có mang tính thần thoại hóa ít nhiều như thuồng luồng của ViệtNam, Naga của Hindu, rồng nước của Trung Hoa.

–/ Thuyền Tượng Đá vũ trụ hay thiếu dương:

Đất đá liên hệ với thuyền là đất âm, đất thấp, đất có nước, đầm lầy, v. v… Thuyền loại này có hình cá sấu hay trâu nước hay trang trí các loại thú này. Ví dụ các thuyền ở Nam Dương trang trí sừng trâu.

–/ Thuyền Tượng Khí vũ trụ hay thiếu âm:

Thuyền loại này có hình loài chim gió như bồ nông gió hay có trang trí cánh chim, bườm chim, chim bay, v.v…

.Thuyền biểu tượng sự Sống, Chết và Tái Sinh, Hằng Cửu.

Như đã nói ở trên.

Nói thật tóm tắt thì thuyền liên hệ với nước. Nước là Mẹ của sự Sống. Vì thế thuyền biểu tượng mang trọn vẹn ý nghĩa Vũ Trụ luận bao gồm cả sự Sống, Chết và Tái Sinh, Hằng Cửu… Điểm này giải thích tại sao người cổ Việt được chôn trong các quan tài hình thuyền. Ví dụ như chiếc quan tài hình thuyền với một cái tay chèo tìm thấy ở di chỉ khai quật Việt Khê, Hải Phòng. Người Mường và vài sắc dân ở Tây Nguyên ngày nay còn chôn người trong các quan tài làm bằng thân cây khoét rỗng. Nhìn dưới một khía cạnh của nhánh nước âm, đây là những quan tài thuyền độc mộc.

Ngoài ra còn có những ngôi mộ hay nghĩa trang hình thuyền như nghĩa trang hình thuyền của người Todo (Flores,Indonesia).

Thuyền tái sinh thấy rất rõ trong truyền thuyết Ai Cập.

Hình thuyền trên một sợi dây chuyền cổ của vua Tutankhanum,  con bọ hung, tiêu biểu cho thần mặt trời bình minh biểu tượng cho tái sinh. Đĩa tròn đỏ (ở giữa) biểu tượng mặt trời mọc, trong khi hai đĩa tròn vàng trên hai vành trăng bán nguyệt trên đầu hai con vượn biểu tượng mặt trăng (Peter Miller, National Geographic, April 1988, tr.540-541).

Hai cây gậy âm dương “was” ở hai bên xác nhận chiếc thuyền này mang ý nghĩa âm dương, nguyên lý căn bản của Vũ Trụ Tạo Sinh. Đầu gậy có hình con thú viết dưới dạng nọc nghiêng biểu tượng cho dương, chân gậy có hình túi vòm omega, âm (trông giống như âm đạo hay dạ con). Thổ dân Úc châu biểu tượng đàn bà bằng hình vòm này. Thần Bầu Trời Nut của Ai Cập cổ thường diễn đạt bằng hình người đàn bà uốn cong hình vòm trời như phần chân của cây quyền trượng was này (xem chương Ý Nghĩa Dấu, Hình, Biểu Tượng Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á).

 Tóm lại thuyền này biểu tượng mang trọn vẹn Vũ Trụ thuyết.

THUYỀN BIỂU TƯỢNG TRÊN TRỐNG ĐỒNG ÂM DƯƠNG ĐÔNG NAM Á.

Các thuyền biểu tượng chính thống trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn cũng phải mang trọn vẹn ý nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh của Vũ Trụ giáo. Thuyền thấy xuất hiện trên khoảng 25 trống. Trong danh sách này không kể các thuyền loại Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I) thuộc vùng Nam Trung Hoa và VânNam. Số thuyền tương đối lớn này cho thấy chủ nhân của trống đồng âm dương có hình thuyền là những tộc Khôn dòng nước hay các tộc liên hệ với họ.

Chính thống, trên trống đồng âm dương các thuyền phải xuất hiện trên vùng nước tức trên vai trống (xem chương Cơ Thể Học Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á). Trên các trống muộn và mất chính thống, thuyền xuất hiện ngoài vùng nước, ví dụ trên trống Nam Ngãi II có 15 chiếc thuyền nằm ở vùng đất âm ở ngoài biên mặt trống.

Thuyền thường có sáu chiếc mang trọn nghĩa vũ trụ luận (hai chiếc biểu tượng âm dương và bốn chiếc biểu tượng Tứ Tượng), di chuyển theo chiều dương, chiều mặt trời (ngược chiều kim đồng hồ). Trên các trống muộn, có thể chỉ thấy có bốn chiếc ứng với Tứ Phương, Tứ Tượng…

(Còn nữa).

 

March 16, 2012

TRỐNG NGƯỜI MẶT TRỜI BÁCH VIỆT NGỌC LŨ I (14).

Filed under: Trống Bách Việt Ng. Lũ I (14) — Quang Nguyen @ 6:07 am

TRỐNG NGƯỜI MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG

BÁCH VIỆT NGÀNH VIÊM VIỆT NGỌC LŨ I.

(TRỐNG NHÓM MẶT TRỜI NỌC THÁI DƯƠNG LƯỠNG HỢP  TIỂU VÀ ĐẠI VŨ TRỤ).

(phần 14)

Nguyễn Xuân Quang

 

Ý NGHĨA VÀNH CHIM BAY VÀ CHIM ĐỨNG TRÊN TRỐNG ĐỒNG ÂM DƯƠNG NGỌC LŨ I.

 MƯỜI TÁM CHIM BAY  Ở VÀNH SỐ 10.

 Cò Trên Trống Đồng và Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo.

Theo chính thống, cũng như các loài chim thú khác và các vật biểu tượng khác ở trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn, cò có đủ những khuôn mặt diển tả trọn vẹn thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo. Tôi đã viết rõ trong Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt và Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt cũng như ở các bài viết khác như trong chương Thế Giới Loài Vật trong Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á, ở đây chỉ xin nhắc lại một cách tóm lược.

Tổng quát, cò là một loài chim lội nước được thờ phượng và làm vật tổ ở nhiều nơi theo hay bị ảnh hưởng của Vũ Trụ giáo, đạo Thờ Mặt Trời.

-Ai Cập

Ai Cập cũng thờ mặt trời như chúng ta và cũng có vật tổ cò và cũng thờ cò.

Một con chim nổi tiếng trong các trong các loài chim biểu, chim thờ là con cò Bennu. Cò Bennu là hóa thân, hiện thân của  thần mặt trời.

 Cò vàng Bennu ở lăng Anhurtkhawi, vùng Thebes (Triều đại thứ 20).

Theo truyền thuyết ở Heliopolis (Thành phố Mặt Trời), Cò Bennu biểu tượng cho thần mặt trời Ra Atum đậu xuống trụ đá Benhen, một thứ thạch trụ nhọn đầu-nọc tia sáng mặt trời (sun ray-obelisk) vào lúc bình minh, làm tỏa ra ánh dương để xua đuổi bóng đêm đi. Cây thạch trụ ánh sáng mặt trời coi như cây trụ diêm, trụ lửa (một nghĩa của Viêm Đế), cò Bennu đậu xuống đầu que diêm kích hỏa tạo ra ánh dương khiến tạo vật tái sinh sau một đêm tăm tối liên hệ với cõi âm, cõi chết.

Cò Bennu cũng được cho là được tạo sinh từ ngọn lửa cháy trên linh mộc (sacred tree) persea vào lúc bình minh tại thành phố Heliopolis. Theo truyền thuyết linh mộc persea được đem xuống trần gian từ vùng đất của thượng đế. Người Ai Cập cổ dùng cành cây này trong bó hoa tang. Quả của persea được coi là trái tim thiêng liêng của thần mặt trời Horus. Thần mặt trời Ra (Re) cũng liên hệ với linh mộc persea, Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) lúc này Re dưới dạng là con mèo gọi là Mau  [Re was connected with the Persea, the Tree of Life, here he took on the form of a cat... This male Cat is Ra himself, and he was called 'Mau' (The Book of Ani)] (http://www.reshafim.org.il/ad/egypt/botany/persea.htm).

(lưu ý Mau ruột thịt với Việt ngữ mấu, mão, mèo, xem Mão là Mấu là Mèo).

Như thế ta thấy cò Bennu là mặt trời rạng đông liên hệ với Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) persea.

Vì thế cò Bennu có một khuôn mặt là biểu tượng cho tái sinh, phục sinh, hằng cửu. Cò Bennu vì thế cũng liên hệ với cõi sau khi chết, đây là cõi trời, cõi trên, cõi tiên, thiên đường. Những người chết sẽ gặp cò Bennu.

Tương tự, có tộc thổ dân Mỹ châu (có gốc từ Đông Nam Á) cũng quan niệm là sau khi chết hồn cưỡi cò bay về hư vô. Trung Hoa tin là cưỡi hạc (cùng họ nhà cò) qui tiên.

Người Ai Cập cổ vì thế coi cò ibis, một loài cò có nhiều ở vùng sông Nile, là cò thiêng ibis. Trên chóp đỉnh châu thổ sông Nile là thành phố Saquarra, thành phố của Người Chết (City of the Dead) liên hệ với Memphis còn có những nhà mồ chứa hàng triệu xác ướp cò thiêng ibis quấn trong băng vải đặt trong các bình chôn cất.

Ở Hermopolis, một trung tâm thờ thần cò Thoth, phía thượng lưu sôngNile cũng có những nhà mồ chứa xác ướp cò thờ ibis.

Cổ Ai Cập cũng có truyền thuyết nói rằng thần cò Thoth đẻ ra trứng vũ trụ ăn khớp với Âu Cơ của chúng ta có một khuôn mặt là U Cò “lặn lội bờ ao, phất phơ hai giải yếm đào gió bay” đẻ ra một bọc trứng chim.

-Maya

Maya Trung Mỹ ruột thịt với Bách Việt có DNA giống hệt người cổ Việt Đông Nam Á. Văn hóa Maya cũng giống Việt Nam theo Vũ Trụ giáo dựa trên căn bản nòng nọc, âm dương Chim-Rắn, Tiên Rồng. Họ có nòng nọc, âm dương gọi là Kanah và Ku và cũng có bát quái, Dịch (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Họ phát minh ra con số không vẽ hình con sò có hai cái răng.

Đây chính là hình ảnh Nữ Oa là “con sò có hai ngà” (Kim Định). Nữ Oa là nữ, âm, Khôn diễn tả bằng chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình vòng tròn O tức con số không zero 0 và thuộc ngành thái dương nên có hai ngà. Hai ngà là hai nọc, hai lửa, thái dương.

Họ cũng cò hình ảnh trai cò nòng nọc, âm dương thấy qua một vật thờ.

Các nhà khảo cổ học đào tìm thấy ở thành phố Rio Azul (Thành phố Sông Xanh) còn gọi là The Lost City of Maya ở Guatemala một vật thờ có hình con chim mà họ gọi là con cốc (cormorant) khắc trên một chiếc vỏ ốc. Các nhà khảo cổ học này hoàn toàn sai khi cho đây là con cốc. Đây phải là con cò vì chân nó không có màng. Chim cốc là loài chim nước chân phải có màng.

Hình trai cò của Maya (Richard E. W. Adams, Rio Azul, Lost City of Guatemala, Nat. Geo, vol.4, No 4, 4-1986, tr. 449).

-Aztec

Aztec có văn hóa ruột thịt với Maya chỉ khác tính nòng nọc, âm dương (văn hóa Maya nghiêng nhiều về thái âm, Khôn âm trong khi văn hóa Aztec nghiêng về thiếu âm, Khôn dương nhưng cả hai cùng thuộc ngành nòng Khôn). Aztec có nghĩa là Người Cò: “The name Aztec means ‘the heron people’ (Irene Nichelson, Mexican and Central American Mythology, tr.136). Các nhà khảo cổ học cũng đào tìm thấy nhiều tượng cò bằng đá ở Mễ.

Người Aztec cũng có truyền thuyết vị thần râu tóc bạc hẹn trở về cứu giúp họ khi gặp nguy khốn giống như truyền thuyết Lạc Long Quân của chúng ta. Cũng vì truyền thuyết nầy mà đế quốc Aztec đã mất vào tay nhà viễn chinh Tây Ban Nha Hernán Cortés chỉ có dưới tay vài chục tên thủ hạ. Các vua chúa Aztez đã tưởng lầm Cortés là vị thần da trắng râu tóc bạc của họ trở về cứu giúp họ (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).  

Người Aztec cũng tự cho mình là Người Mặt Trời ‘People of the Sun” giống chúng ta là Người Việt Mặt Trời thái dương rạng ngời Xích Quỉ.

Ta thấy rất rõ Người Cò, Người Mặt Trời Aztec nằm trong đại tộc Người Mặt Trời thái dương. Trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I có vành chim biểu cò bay, chim biểu tượng của Hùng Vương Mặt Trời, như thế Người Cò Aztec cũng nằm trong Đại Tộc Bách Việt. Điều này cũng dễ hiểu thôi vì Maya có DNA giống hệt người Việt Nam mà văn hóa Aztec ruột thịt với văn hóa Maya. 

Bây giờ xin tóm tắt thật vắn gọn cò và Vũ Trụ giáo.

Hư vô

Cò có một khuôn mặt biểu tượng cho hư vô thấy qua hình ảnh cò đưa linh hồn người chết về hư vô. Như đã nói ở trên, có tộc thổ dân Mỹ châu quan niệm là sau khi chết hồn cưỡi cò bay về hư vô. Trung Hoa tin là cưỡi hạc (cùng họ nhà cò) qui tiên. Cò biểu tượng cho hư vô, miền vĩnh cửu hay tái sinh thấy rõ qua con cò Bennu.

Thái cực

Cò mang dương tính, cò biến âm với cồ (đực) với cu (bộ phận sinh dục nam) sống ở bờ nước mang âm tính. Như thế cò có âm có dương, nhìn dưới dạng nhất thể cò có một khuôn mặt thái cực, trứng vũ trụ. Vì thế mà cò đẻ ra trứng thế gian, vũ trụ mang khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa như khuôn mặt của U Cò Âu Cơ và của Cò Thoth của Ai Cập cổ đẻ ra Trứng Thế Gian.

Tổ Hùng Vương có một khuôn mặt tạo hóa sinh ra từ bọc Trừng Thế Gian có hai ngành nòng nọc, âm dương nên cò Lang, chim biểu của Hùng Vương cũng có khuôn  sinh tạo, nòng nọc, âm dương nhất thể.  

Như đã nói ở trên, cò Bennu sinh ra từ tro lửa của linh mộc persea có một khuôn mặt là Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) có quả được coi là trái tim thiêng liêng của thần mặt trời Horus tương đương với Hùng Vương (xem Sự Tương Đồng Giữa Cổ Sử Việt với Ai Cập Cổ). Thần mặt trời tạo hóa Ra nòng nọc, âm dương nhất thể (thái cực, trứng vũ trụ) liên hệ với Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) như thế cò Bennu cũng có một khuôn mặt sinh tạo nhất thể. Cò Bennu có một khuôn mặt biểu tượng sinh tạo, tạo hóa của Horus (Tổ Hùng).

Lưỡng nghi

Khi khuôn mặt nòng nọc, âm dương nhất thể tách rời ra, cò biểu tượng cho cực dương và âm tức lưỡng nghi.

Theo duy dương, như đã nói ở trên cò Bennu là hóa thân của mặt trời tức cực dương.

Theo duy dương Hùng Vương là Vua Mặt Trời (Hùng là đực, là dương, là mặt trời).

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Ai Cập cổ, ta thấy rất rõ Tổ Hùng (Hùng Lang) có một khuôn mặt của thần mặt trời hóa công Re (Ra) và Hùng Vương có một khuôn mặt của thần mặt trời rạng đông Horus (Lang là trai trẻ ứng với mặt trời rạng sáng trong khi mặt trời lặn ứng với cụ già Lạc Long Quân). Horus và Ra liên hệ với cò Bennu thì dĩ nhiên Tổ Hùng và Hùng Vương có chim biểu là con cò là chuyện hiển nhiên. 

Tứ Tượng

Cò có khuôn mặt lưỡng nghi thì cũng có khuôn mặt tứ tượng. Trong triết thuyết cổ dùng bốn loại cò khác nhau để diễn tả tứ tượng như cò lửa, cò nước (cò Lạc), cò đá, cò lả (cò gió). Ở trên ta đã thấy rõ qua bốn khuôn mặt  ứng với tứ tượng của bốn loại cò trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn.

Tam Thế

Như đã thấy cò Bennu liên hệ với cây persea có một khuôn mặt là Cây Đời Sống (Cây Vũ Trụ, Cây Tam Thế).

Tái sinh, hằng cửu, sinh sản

Như đã nói ở trên qua cò Bennu của Ai Cập cổ.

Về sinh đẻ, Tây phương có truyền thuyết con cò biểu tượng cho sinh đẻ qua hình bóng con cò tha trẻ sơ sinh trong một cái tã.

Đối Chiếu Với Truyền Thuyết và Cổ Sử Việt

Hùng Vương có dòng máu cò Gió.

Truyền thuyết nói rằng Mẹ Tổ Âu Cơ đẻ ra một bọc trứng chim nở ra Trăm Lang Hùng. Như thế cò biểu của các Lang Hùng mang di thể (gene) bọc, bầu, trứng (vũ trụ). Điều này thấy rất rõ qua hình bóng con cò Thoth của Ai Cập cổ đẻ ra Trứng Vũ Trụ (hay Trứng Thế gian). Cò bỉểu của Lang Hùng mang di thể bầu, bọc Trứng Vũ Trụ (hay Trứng Thế gian) nên có một khuôn mặt Khôn, bầu vũ trụ, bầu trời dương khí, gió.

Có tác giả cho rằng tên Âu Cơ là biến âm của U Cò. Phụ nữ Việt con cháu của Mẹ Tổ Âu Cơ nên là những nàng “cò lặn lội bờ ao, phất phơ hai giải yếm đào gió bay”.

Vậy Cò Gió là chim biểu của Lang Hùng. Lang cũng có nghĩa là trắng, là trong là mầu của khí gió. Cò Lang là Bạch Hạc. Vì có bản thể Gió, bầu trời nên vùng đất tổ của Hùng Vương mới có tên là châu Phong. Cò Gió là chim biểu của Hùng Vương ở đất châu Phong.

Địa danh Bạch Hạc, thuộc đất tổ châu Phong cho thấy rõ Cò Lang, Cò Trắng, Bạch Hạc là chim biểu của Hùng Vương. Hai địa danh Hạc Trì tức Ao-Cò (hạc đi với ao là con cò chứ không phải là con hạc crane sống trên cạn, đất khô), Việt Trì là Ao Việt ở vùng đất tổ châu Phong cũng liên hệ với Hùng Vương vì Hùng Vương thế gian có khuôn mặt Đoài thế gian là ao đầm. Cò là loài chim lội nước sống ở ao đầm nên cò Gió Đoài cũng có một khuôn mặt là chim biểu của bầu trời vùng Đoài thế gian ao đầm của Hùng Vương thế gian hay lịch sử.

Vì thế mà ta thấy gần như trống đồng nào cũng có hình cò bay. Trống đồng là trống biểu của Hùng Vương, của các tộc thuộc liên bang Văn Lang. Vì liên bang Văn Lang có cả trăm tộc Bách Việt (hiểu theo nghĩa rất nhiều) nên có cả trăm loại trống và do đó có cả trăm loài cò trên trống đồng âm dương. Mỗi trống có một loài cò khác nhau, trên những trống khác nhau, không có cò nào giống cò nào. 18 cò bay trên trống Ngọc Lũ I là 18 Cò Lang, Cò Gió, Bạch Hạc của Đại Tộc Việt Hùng Vương.

Những con chim bay này tuyệt nhiên không phải là chim Lạc ngỗng trời, không phải là cò nước, cò nác, cò Lạc, chim biểu của Lạc Long Quân. Cò trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I là cò Lang, cò Trắng, cò Chàng, cò Hùng, cò Gió, Bạch Hạc.

Ca dao Việt thường nhắc tới con cò bay lả bay la:

Con cò bay lả bay la,

Bay từ cửa tổ bay ra cánh đồng.

Đây chính là hình ảnh con cò lả, cò liệng, cò Gió, chim biểu của Hùng Vương. Ca dao cũng nói tới con cò trắng toát như bông và có bờm:

Con cò trắng toát như bông,

Gió bay lất phất chùm lông trên đầu.

Con cò trắng toát như bông” chính là con cò trắng, cò Lang và “Gió bay lất phất chùm lông trên đầu” chính là hình ảnh chiếc bờm gió hình túi, hình phướn, hình con diều gió trên đầu 18 con cò bay trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I.

Chúng ta có một điệu hát Cò Lả, đây chính là điệu hát của Đại tộc Cò Gió Hùng Vương (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Con cò là chim biểu của Tổ Hùng vì thế khi cò chết, đám ma cò được tổ chức linh đình như quốc táng. Đủ mọi ngành, mọi tộc của liên bang Văn Lang tham dự như thấy qua các bài đồng dao về đám ma cò (có nhiều dị bản, chỉ xin đưa ra một bài):

Con cò chết rũ trên cây,

Bổ cu mở lịch xem ngày làm ma,

Cà cuống uống rượu la đà,

Bao nhiêu ếch nhái nhẩy ra chia phần.

Chào mào thì đánh trống quân,

Chim chích cởi trần, vác mõ đi rao…

Bổ cubổ cắt là chim Rìu, chim Việt có một khuôn mặt biểu tượng cho Đại Tộc Lửa Trời ứng với Đế Minh đội lốt Viêm Đế ở cõi tạo hóa. Cà cuống là con Nọc Nước (Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt) biểu tượng cho Đại Tộc Nước Dương ứng với Lạc Long Quân. Ếch nhái ruột thịt với Hán Việt oa, một khuôn mặt của Mẹ Tổ Âu Cơ, biểu tượng cho Đại Tộc Lửa âm Thái dương Thần Nữ Âu Cơ. Chào mào biểu tượng cho Đại Tộc Gió Dương (mào biểu tượng cho gió, chim biểu tượng cho dương) ứng với Hùng Vương. Chim chích có chích là kim nhọn, cọc nhọn biểu tượng cho Trụ Chống Trời, Núi Trụ Thế Gian ứng với Núi Kì, với Đại Tộc Đất Dương Kì Dương Vương. Xin lưu tâm hai từ cởi trần với trần cũng có một nghĩa là bụi đất (biểu tượng cho đất khô, đất dương) là một mấu chốt, một chiếc chìa khóa cho thấy Chim chích cởi trần biểu tượng cho Đại Tộc Đất Dương Trần (xem thêm Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt).

……

Tóm tắt

Tóm tắt lại, những con chim bay ở vành số 10 trên trống Ngọc Lũ I là những con cò Gió. Trống đồng âm dương Ngọc Lũ I có một khuôn mặt là trống Đoài/Tốn có mặt trời 14 nọc tia sáng nên cò trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I là Cò Đoài (có hai khuôn mặt: Đoài vũ trụ khí gió và Đoài thế gian ao đầm). Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt Cò Gió, Cò Đoài, Cò Lang, Cò Lả, Cò Trắng, Bạch Hạc, là chim tổ của Hùng Vương, là chim biểu cõi trời của liên bang Văn Lang.

Tổng quát những con cò liệng bay này mang đủ ý nghĩa vũ trụ luận và là chim biểu của 18 chi tộc ứng với càn khôn và tứ tượng dương và âm của hai ngành nòng nọc, âm dương thái dương.

Mười tám con cò bay chia ra hai bán viên 9 chín con: bán viên dương nhóm 7 người nhẩy múa có khuôn mặt Khôn dương mang tính chủ Lửa Đoài và bán viên âm nhóm 6 người nhẩy múa khuôn mặt Khôn âm mang tính chủ Nước dương Chấn.

Cò có hai khuôn mặt tạo hóa sinh tạo và thế gian (biểu tượng cho các ngành, đại tộc, tộc người thế gian).

Cò thiếu âm Khí Gió ở cuối vòng sinh tạo của Vũ Trụ Tạo Sinh mà cũng là ở khởi đầu trở lại vòng sinh tạo vũ trụ vì thế cò có khuôn mặt tạo hóa đội lốt chim tổ tạo hóa.

Đối chiếu với sử miệng qua bài đồng dao Bồ Nông Bồ Cắt diễn tả các loại chim biểu của Việt Nam theo Vũ Trụ giáo:

Bổ nông là ông bồ cắt,

Bồ cắt là bác chim di,

Chim di là dì sáo sậu

Sáo sậu là cậu sáo đen

Sáo đen là em tu hú

Tu hú là chú bồ nông.

……

Cò tương đương với chim tu hú trong bài đồng dao này biểu tượng cho khí gió thiếu âm ở cuối chu kỳ sinh tạo lại là chim khởi đầu cho vòng sinh tạo trở lại nên tu hú mới là chú bồ nông. Bài hát tiếp nối vòng tròn như vòng sinh tạo nối tiếp vô cùng tận (Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt).

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt cò là chim biểu tượng của Tổ Hùng ở cuối vòng sinh tạo khởi đầu từ Viêm Đế-Thần Nông (có một khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa) và Tổ Hùng cũng là khởi đầu của vòng sinh tạo kế tiếp tức sinh ra, ngang hàng hay đội lốt Viêm Đế-Thần Nông nhất thể (như thấy qua bài ca dao: Sinh con rồi mới sinh cha, Sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông). Vì thế Hùng Vương lịch sử di duệ của Tổ Hùng có hai khuôn mặt một khuôn mặt sinh tạo đội lốt Tổ Hùng và một khuôn mặt thế gian lịch sử.

Như thế ta thấy rất rõ cò trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn cũng có hai khuôn mặt như thế.

Ta cũng thấy rõ DNA của Tổ Hùng. Viêm Đế là nọc, dương I mặt trời, Thần Nông là nòng âm O không gian,

Tổ Hùng là di duệ hay sinh ra hoặc đội lốt Viêm Đế-Thần Nông nên có hai khuôn mặt nòng nọc, âm dương (vì thế mới chia ra hai ngành lửa núi và nước biển). Dưới dạng nhất thể, lưỡng nghi mang khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa.

Dưới dạng lưỡng nghi, theo duy dương Hùng Vương là vua mặt trời đội lốt Đế Minh trong thái dương hệ và Viêm Đế ở cõi tạo hóa vũ trụ. Dưới dạng tứ tượng dương và âm sinh tạo thế gian thấy qua khuôn mặt của bốn tổ phụ Lửa Đế Minh, Đất Kì Dương Vương, Nước Lạc Long Quân và Khí gió Tổ Hùng và của bốn tổ mẫu Vụ Nước bầu trời thế gian Vụ Tiên, Gió bầu trời Thần Long, Lửa bầu trời thế gian (thái dương thần nữ) Âu Cơ và Đất âm thế gian Vợ Tổ Hùng.

Chim biểu cò cũng vậy.     

 Hàng 18 chim đứng

­­

Năm con chim đứng (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Tiếc là chỉ có hình vẽ chi tiết 5 con chim đứng nên không thể giải đọc chi tiết được. Tất cả các tác giả từ trước tới nay đều cho rằng đây là những con chim nước. Điểm này chỉ đúng một phần. Thật vậy để ý ta thấy có những con chim đứng dưới mỏ có hình cái mồi nên gọi là chim nước “tha mồi” (“insatiable birds”). Như đã nói ở trên, theo tôi cái mồi có một nghĩa là chữ nòng nọc hình nọc nhọn V có một nghĩa là Chấn, nước dương (IOO). Hình ngữ chữ V “tha mồi” này xác định những con chim nước đứng này là chim nước ngành thái dương. Tuy nhiên, trong nhóm 18 chim đứng này còn có những loài chim khác không phải là chim nước, như có mỏ như mỏ rìu, trên người có chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình vòng tròn có chấm hay chấm vòng tròn có nhiều nghĩa như lửa vũ trụ thái dương, thiếu dương lửa đất, thiếu âm gió (con chim đứng thứ ba trên hình)…

Vành 18 chim đứng biểu tượng cho cõi trời (vì là chim) thế gian (vì đứng trên mặt đất) có một khuôn mặt mang tính lửa (lửa vũ trụ Càn và lửa đất Li) của đại tộc người thế gian với khuôn mặt lửa đất Li mang tính chủ.

 Kết Luận

Tóm lại vành số 10 có 18 cò gió đang bay liệng biểu tượng cho bầu trời sinh tạo, tạo hóa thế gian và 18  chim đứng Li đất  biểu tượng bầu trời vùng đất thế gian.

18 con Cò bay là khuôn mặt thiếu âm, Khôn dương, dương I thiếu âm IO (thiếu âm của nhánh dương, thái dương), tức quẻ Đoài IIO trong khi 18 con chim đứng trên đất mang khuôn mặt chủ là Li thiếu dương, đất dương, dương I thiếu dương OI tức quẻ Li IOI (thiếu dương của nhánh dương, thái dương).  Hai loài chim bay và chim đứng cùng ở trên một vành số 10 như thế chúng có một khuôn mặt lưỡng hợp. Ở đây ta lại thấy có dạng lưỡng hợp tiểu vũ trụ thiếu âm với thiếu dương. Ta thấy rõ vành chim bay và chim đứng là những chim biểu của cõi thế gian trong khi chim nông có khuôn mặt chính là chim biểu của cõi tạo hóa.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, vành cò bay và chim đứng biểu tượng cho Hùng Vương thế gian lịch sử trong khi chim nông có một khuôn mặt biểu tượng cho Thần Nông cõi tạo hóa.

Nhìn cả hai vành chim thú ta thấy:

-Đế Minh ứng với Chim đứng (với lửa bầu trời thái dương thế gian mang tính chủ).

-Kì Dương Vương ứng với Hươu (với Lửa đất thái dương mang tính chủ).

-Lạc Long Quân ứng với chim nông (với khuôn mặt nước thái dương mang tính chủ).

-Tổ Hùng Vương ứng với 18 cò bay (với khuôn mặt gió thái dương mang tính chủ).

Ta cũng thấy trên mặt trống có ba loài chim:

.chim nông nước đang bay ứng với khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa phía nòng âm Thần Nông.

.chim đứng ứng với khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa của bầu trời thế gian phía nọc dương Viêm Đế.

.Cò bay ứng với khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa của Tổ Hùng và khuôn mặt lịch sử của Hùng Vương thế gian. Cò là di duệ của ngành nọc dương Viêm Đế chim đứng và của ngành nòng âm Thần Nông chim nông tức là dạng kết hợp nòng nọc, âm dương của hai ngành Viêm Đế-Thần Nông. Vì thế cò có bản thể âm dương (về động vật học thì mỏ mang dương tính và sống bên bờ nước mang âm tính) có di thể (gene) nòng nọc, âm dương (nên mới chia ra làm hai ngành núi biển). Cò và Tổ Hùng mang trọn vẹn ý nghĩa biểu tượng của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo và của Dịch dựa trên nguyên lý nòng nọc, âm dương.

Như thế hai vành chim thú là những vật biểu, vật tổ của Đại Tộc Người Mặt Trời trong họ Người Vũ Trụ trên mặt trống được diễn tả thật trọn vẹn theo ý nghĩa của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, Việt Dịch.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt đây là những vật biểu, vật tổ của Đại Tộc Việt Người Mặt Trời thái dương rạng ngời con cháu của Tổ Hùng Vương có thủ đô là Bạch Hạc ở châu Phong…

Vành  11 đến 16: sáu vành chữ viết nòng nọc vòng tròn-que ở biên trống.

 .Vành giới hạn số 11 và 16 là những vành có chấm nhỏ nọc cho biết trống là trống nọc lửa, thái dương.

.Ba vành chữ viết nòng nọc vòng tròn-que gồm hai vành 12 và 15 ở ngoài có hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) có một nghĩa là nọc lửa, thái dương.

Vì trống Ngọc Lũ I diễn tả trọn vẹn âm dương đề huề của ngành nọc thái dương (còn có hiện diện của nai cái) nên các vành này phải nhìn trọn vẹn dưới lăng kính nòng nọc, âm dương của Vũ Trụ Tạo Sinh của Dịch.

Tổng quát hai vành răng cưa là hai vành sáng, vành lửa, vành thái dương. Nhìn theo nòng nọc, âm dương thì ta có thể đọc theo hai dạng nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) chìm và nổi. Theo duy dương tức đọc theo diện nổi hai vành này có nghĩa mà ta thường hiểu trên trống (có một nghĩa là là đực, là dương) là nọc dương thái dương ngành nọc dương ứng với Viêm Đế. Nhìn theo nòng nọc, âm dương đề huề ở trống này, nhìn theo duy âm ta có thể đọc thêm theo diện chìm, thì hai vành chìm có nghĩa là nọc dương thái dương ngành nòng âm ứng với Thần Nông thái dương. Trong mỗi hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) có đánh dấu hai chầm nọc nhấn mạnh thêm khuôn mặt lửa, thái dương.

Hai vành này kẹp giữa hai vành sóng vòng tròn có chấm hay chấm vòng tròn có tiếp tuyến đối ngược nhau, như đã nói ở trên là vành Li/ Đoài vận hành, sinh động, hai khuôn mặt chủ của hai nhánh nòng nọc, âm dương, ở dạng lưỡng hợp tiểu vũ trụ thiếu dương Li với thiếu âm Đoài.

Như đã biết nhìn các vành chữ viết nòng nọc vòng tròn-que ở biên trống ta biết được đó là trống biểu của dòng, tộc nào. Ở đây trống Ngọc Lũ I là trống lưỡng hợp đại và tiểu vũ trụ ngành nọc thái dương.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là trống diễn tả trọn vẹn Đại Tộc Việt Người Mặt Trời Thái Dương Xích Quỉ ngành nọc thái dương của họ Người Tiểu Vũ Trụ.

Tóm tắt nhìn lại cả mặt trống từ tâm trống ra ngoài biên ta có:

.Thượng Thế là mặt trời 14 nọc tia sáng thái dương. Không gian có vỏ là vòng tròn có nét vừa phải mang tính nòng nọc, âm dương đề huề.

Các khoảng không gian giữa tia sáng mặt trời có hình thái tứ tượng và các vành tứ hành sinh động mang nghĩa sinh tạo.

.Trung Thế

Vùng đất dương có vành chủ yếu diễn tả sinh hoạt nhân sinh. Người là Người Mặt Trời thái dương có trang phục đầu hình chim có góc cạnh mang tính nọc thái dương của họ người tiểu vũ trụ (qua trang phục đầu hình quả bầu của người cuối cùng nhóm 7 người nhẩy múa ở bán viên dương). Đại tộc thiếu dương Li ứng với người Xích Quỉ Kì Dương Vương mang tính chủ. Trống này diễn tả trọn vẹn triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh của Vũ Trụ giáo, của đại tộc Người Mặt Trời thái dương ngành nọc thái dương nên có thêm hai vành chim thú là vật biểu, vật tổ cũng được diễn tả trọn vẹn theo Vũ Trụ Tạo Sinh của Vũ Trụ giáo của Việt Dịch.

Cò bay là Cò Gió mang hai khuôn mặt tạo hóa ứng với Tổ Hùng đội lốt Viêm Đế-Thần Nông nhất thể và lịch sử thế gian. 18 con chim đứng có một khuôn mặt biểu tượng cho 18 ngành, đại tộc, tộc Người Mặt Trời (ứng với Người Mặt Trời Bách Việt). 18 tộc này là con cháu của Tổ Hùng chia ra là hai bán viên nòng nọc, âm dương. Mỗi bán viên có 9 chim đứng với 9 cò bay tương ứng có thể xem là biểu tượng của 9 vị thần hay của 9 ngành, tộc. Trong 9 con có một con đại diện ngành và 8 con đại cho đại tộc ứng với tứ tượng dương và âm của mỗi ngành.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Ai Cập, 9 thành phần phía âm tương ứng với Cửu Thần của phía nòng âm Re-Atum ở Heliopolis.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt:

-Nếu  nhìn dưới lăng kính trọn vẹn Tam Thế  thì con số 18 chia ra:

.9 khuôn mặt (Cửu Thần) ngành nọc dương thái dương gồm Viêm Đế, 4 thần tổ cõi tạo hóa và 4 thần tổ thế gian là Đế Minh, Kì Dương Vương, Lạc Long Quân  và Tổ Hùng.

.9 khuôn mặt ngành nọc âm thái dương gồm Thần Nông thái dương và 8 vị thần tương ứng.

-Nếu nhìn dưới diện thế gian lịch sử thì con số 18 này có chín khuôn mặt gồm một đại biểu nhánh nọc dương thái dương và 8 đại tộc ứng với  tứ tượng dương và âm phía nọc lửa Kì Dương Vương và 9 khuôn mặt mặt gồm một đại biểu nhánh nọc âm thái dương và 8 đại tộc ứng với  tứ tượng dương và âm phía nọc nước An Dương Vương.

Ở diện lịch sử hai nhóm 9 khuôn mặt thế gian này có thể tương ứng với Cửu Lê Cửu Lạc.

Những vành chữ viết nòng nọc vòng tròn-que ở biên trống cũng cho biết trống ở dạng lưỡng hợp đại và tiểu vũ trụ của ngành nọc thái dương và thiếu dương Li mang tính chủ.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, mặt trống diễn tả nhánh Người Mặt Trời thái dương Bách Việt ngành nọc thái dương Viêm Đế-Thần Nông (Thần Nông ở đây mang khuôn mặt là mặt trời thái dương ngành nòng âm chứ không phải là không gian) thuộc chủng Người Tiểu Vũ Trụ sinh ra từ một quả bầu vũ trụ đúng như truyền thuyết Mường Việt đã lưu truyền.

(còn tiếp).

March 9, 2012

TRỐNG NGƯỜI MẶT TRỜI BÁCH VIỆT NGỌC LŨ I (13).

Filed under: Trống Bách Việt Ng. Lũ I (13) — Quang Nguyen @ 6:55 am

TRỐNG NGƯỜI MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG

BÁCH VIỆT NGÀNH VIÊM VIỆT NGỌC LŨ I.

(TRỐNG NHÓM MẶT TRỜI NỌC THÁI DƯƠNG LƯỠNG HỢP  TIỂU VÀ ĐẠI VŨ TRỤ).

(phần 13)

Nguyễn Xuân Quang

Ý NGHĨA VÀNH CHIM BAY VÀ CHIM ĐỨNG TRÊN TRỐNG ĐỒNG ÂM DƯƠNG NGỌC LŨ I.

 MƯỜI TÁM CHIM BAY  Ở VÀNH SỐ 10.

 

Vành 10 gồm 18 chim bay và 18 chim đứng (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Như thế nhìn tổng quát 18 con chim bay ở vành số 10 là những con cò, sống ở bờ nước chứ không phải là những con chim nước chân có màng như chim ngỗng, chim Lạc. Đây là những con cò gió, cò lả, đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là cò Lang, Bạch Hạc.

Ta thấy 18 con cò này đều có bờm gió cường điệu hình phướn hay cánh diều giống nhau cho thấy chúng cùng một đại tộc cò gió, đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử là cùng một đại tộc cò Lang Hùng Vương. Trong bờm có chữ viết nòng nọc vòng tròn-que khác nhau cho biết mỗi con cò mang một tính nòng nọc, âm dương khác nhau, biểu tượng cho các khuôn mặt khác nhau của  thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh hay là cò biểu của các tộc, chi tộc khác nhau của đại tộc cò gió.

Như đã nói ở trên, tiếc là không có hình vẽ chi tiết của 18 con cò giò mà chỉ có hình chi tiết năm con nên tôi không muốn giải đọc một cách suy diễn năm con cò này vì dễ rơi vào sai lầm.

Tuy nhiên nhìn tổng quát ta thấy 18 con cò bay này là chim biểu tượng cho đại tộc cò gió ứng với Hùng Vương.

Ta cũng đã thấy rất rõ con số 18 này là mã số DNA của Hùng Vương (xem bài viết này).

Mười tám cò bay này chia ra mỗi bán viên 9 con. Ở bán viên dương nhóm 7 người nhẩy múa,  9 con cò gió mang dương tính biểu tượng cho phía dương, lửa.  9 con ở bán viên âm nhóm 6 người nhẩy múa mang âm tính biểu tượng cho phía âm nước.

Trong 9 con phía dương có một con biểu tượng cho nhánh dương còn lại 8 con biểu tượng cho bốn tộc hay chi tộc dương và âm của nhánh dương này ứng với  tứ tượng dương và tứ tượng âm của nhánh cò gió phía dương. Tương tự ở bán viêm âm cũng vậy.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, 18 con cò gió bay, cò Lang biểu tượng cho đại tộc Hùng Vương.

Chín con ở nhánh dương ứng với 50 Hùng Lang theo mẹ lên núi có một con biểu tượng toàn nhánh này còn lại 8 con  biểu tượng cho 8 chi là chi lửa nòng/nọc, âm/ dương, chi nước nòng/nọc, âm/dương, chi gió nòng/nọc, âm/dương và chi đất nòng/nọc, âm/dương ứng với tứ tượng nòng/nọc, âm/dương của nhánh dương này.

Tương tự ở nhánh âm ứng với 50 Hùng Lang theo cha xuống biển có một con có một con biểu tượng toàn nhánh này còn lại 8 con  biểu tượng cho 8 chi là chi lửa nòng/nọc, âm/ dương, chi nước nòng/nọc, âm/dương, chi gió nòng/nọc, âm/dương và chi đất nòng/nọc, âm/dương ứng với  tứ tượng nòng/nọc, âm/dương của nhánh âm này.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, ta thấy phía ngành dương Viêm Đế (Viêm Việt) gồm có 9 khuôn mặt biểu tượng ngành, tộc. Một đại tộc biểu tượng cho toàn ngành Viêm Đế, bốn tộc phía  tứ tượng dương là Lửa vũ trụ Ánh Sáng Đế Minh, Lửa thế gian Đất Dương Kì Dương Vương, Nước Dương Lạc Long Quân và Gió Dương Hùng Vương thế gian.

Về phía ngành Thần Nông thái dương (Hoàng Việt với Hoàng hiểu theo nghĩa là mầu âm thái dương của của mầu đỏ, mầu của ngành nòng âm trong khi Viêm là nóng đỏ, mầu đỏ là mầu dương thái dương của ngành dương) gồm có 9 khuôn mặt biểu tượng 9 ngành và tộc. Một đại tộc biểu tượng cho toàn ngành Thần Nông thái dương, bốn tộc phía  tứ tượng dương là Nước vũ trụ Vụ Tiên, Khí gió Thần Long, Lửa thế gian Âu Cơ  và Đất Dương vợ Hùng Vương thứ nhất với khuôn mặt thái dương.

Lưu ý

Trên  trống có khuôn mặt chủ là trống (đực, nọc, nam) không có các khuôn mặt nữ thuần âm mà chỉ có khuôn mặt Nam (chồng hay con trai) đại diện cho khuôn mặt nữ. Vì vậy cần phải có từ thái dương đi kèm trong Thần Nông thái dương (tức mặt trời) chứ không phải Thần Nông thái âm (không gian).    

Trong cổ sử Bách Việt cũng có nói tới 18 tộc chia ra Cửu Lê và Cửu Lạc. Nhìn dưới diện nòng nọc, âm dương thì Cửu Lạc là 9 tộc phía Nước, âm và Cửu Lê là 9 tộc phía Lửa (Lê hiểu theo biến âm với lá, lửa), dương.

Đối chiếu với truyền thguyết và cổ sử Ai Cập ta cũng thấy  phía Đại Tộc Nước Osiris, mặt trời Chiều Tối của ngành mặt trời Âm, Nước Atum ở Heliopolis gồm có Cửu Thần  (The Ennead were the nine great Osirian gods) là:

1. Thần Atum (Tem, Temu, Tum, Atem).

2. và 3:  Nam thần  Shu và  nữ thần Tefnut.

4. và 5: Thần Keb (Geb, Seb) và Nut.

6, 7, 8 và 9:  Thần Seth Nephrys, Osiris, Isis.

Chín vị thần này ứng với thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh và Vũ Trụ giáo giống như trong truyền thuyết và cổ sử Việt (xem sự Tương Đồng Giữa Cổ Sử Việt và Ai Cập Cổ).

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, trống đồng có  cò bay là biểu tượng cho Đại tộc Hùng Vương có khuôn mặt ở cõi tạo hóa sinh tạo ứng với Tổ Hùng Tạo Hóa và ở cõi thế gian có một khuôn mặt Hùng Vương lịch sử gồm 18 khuôn mặt biểu tượng cho ngành, đại tộc, tộc, chi  tộc của Bách Việt, Người Mặt Trời thái dương con cháu của Hùng Vương Mặt Trời thái dương rạng ngời được diễn tả ở trống này.

  Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Sơn khác.

Như thế ta thấy rất rõ họ nhà cò có nhiều loại cò khác nhau biểu tượng cho ngành, đại tộc, chi tộc khác nhau về tính nòng nọc, âm dương. Do đó trên các loại trống biểu của ngành, đại tộc, chi tộc khác nhau có những loại cò khác nhau. Cò trên trống đồng có thể có hai khuôn mặt:

-một là khuôn mặt tạo hóa, sinh tạo, vũ trụ (ứng với Viêm Đế-Thần Nông thái dương nhất thể và khuôn mặt tạo hóa của Hùng Vương đội lốt Viêm Đế-Thần Nông của ngành nọc, dương, lửa Viêm Đế  hay nòng, âm, nước Thần Nông thái dương). Khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa này thấy rõ qua hình cò bay trên những trống vũ trụ có mặt trời dưới 7 nọc tia sáng ví dụ như trên trống Bình Đà mặt trống chỉ có mặt trời có 5 nọc tia sáng và 4 hình cò bay.

Trống Bình Đà (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

-hai là khuôn mặt thế gian, lịch sủ tức là cò biểu của ngành, đại tộc, tộc, chi tộc của cò Gió (Lang) (Hùng Vương Gió), cò Nước (Lạc) (Lạc Long Quân Nước), cò Lửa vũ trụ (Càn), (Đế Minh Ánh sáng) và cò Đá (Li) (Kì Dương Vương).

Lưu ý

.Vì thế phải phân biệt ý nghĩa biểu tượng của mỗi con cò trên mỗi trống theo ý nghĩa biểu tượng của thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh của Vũ Trụ giáo theo từng giai đoạn trong quá trình  Vũ Trụ Tạo Sinh của trống. Cần phải nhớ là trong mỗi ngành lại chia những đại tộc theo Vũ Trụ Tạo Sinh và các tộc,  chi tộc cũng vậy. Ví dụ ngành Viêm Đế có biểu tượng là cò Lửa thái dương tạo hóa, có bốn đại tộc là Cò Lửa vũ trụ Đế Minh, Cò Đá Kì Dương Vương, cò Lạc Lạc Long Quân và cò Lang Hùng Vương. Trong đại tộc Cò Đá Kì Dương Vương chẳng hạn là chia ra 4 tộc Lửa vũ trụ Càn của đại tộc Đất; tộc Đất dương Li của đại tộc Đất, tộc Nước Chấn của đại tộc Đất và tộc Gió Đoài của đại tộc Đất. Mỗi tộc và chi này có một loại cò biểu tượng tương ứng.   

 Trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn gần như hầu hết các trống đều có hình cò bay mang hình bóng cò Gió tức Cò Lang biểu tượng cho Hùng Vương. Điều này, như đã biết, ăn khớp trăm phần trăm với trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn là trống biểu của Hùng Vương.

 Vì thế phải nhận diện xem một con cò trên trống đồng nòng nọc, âm dương có khuôn mặt cò gió sinh tạo tạo hóa ứng với khuôn mặt tạo hóa của Tổ Hùng sinh ra từ bọc trứng thế gian hay chỉ là một khuôn mặt biểu tượng cho một đại tộc, một tộc, một chi của họ Hùng Vương lịch sử.

 .Cò cũng như các thú và các biểu tượng khác trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn được diễn tả khác nhau theo chữ viết nòng nọc vòng tròn-que, dấu, biểu tượng nòng nọc khác nhau dọc theo bề dầy thời gian nghĩa là tùy theo tuổi của trống.

1.Cò trên mặt trống.

-Cò gió

a. Trống đồng âm dương Ngọc Lũ I.

Ta đã thấy rất rõ cò bay trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I là cò Gió. Trống Ngọc Lũ I mang trọn vẹn ý nghĩa của Vũ Trụ Tạo Sinh của Vũ Trụ giáo nên 18 con cò như đã thấy mang trọn vẹn ý nghĩa biểu tượng cho sinh tạo, tạo hóa, cho họ, ngành, đại tộc, chi của họ mặt trời thái dương.

b. Trống Miếu Môn I.

Ở trên trống hơi muộn Miếu Môn I có mặt trời 14 nọc tia sáng cùng một nhóm với trống Ngọc Lũ I, cò gió được diễn tả khác đi một chút để thấy rõ khuôn mặt cò giò hơn nữa. Cò trên trống Miếu Môn I cũng có bờm phướn gió cường điệu như cò trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I này.

Hình cò gió có hình ngữ “túi âm thanh” ở dưới mỏ trên trống Miếu Môn I.

Nhưng đặc biệt là dưới mỏ có “phụ đề” một hình ngữ hình túi chữ V hay hình tam giác mà các tác giả hiện nay cho là chiếc mồi và gọi là cò tha mồi hay “cò đói” (“insatiable birds”, Kempers, p.175).

Như đã nói ở trống Miếu Môn I, “cái mồi” này là một chữ, một dấu hình trong chữ viết nòng nọc vòng tròn-que.

Nếu nhìn theo diện thiếu âm gió thì đây là cái túi dương khí gió tức túi âm thanh cho biết những con có này là những con cò “húyt sáo” được tức những con cò gió Đoài. Nếu nhìn theo diện chữ V thì có nghĩa là âm, nước thái dương Chấn ứng với khuôn mặt Lạc Long Quân của trống. Nếu nhìn dưới dạng hình tam giác thì đây là nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) hình tam giác ngược có cũng nghĩa là nước lửa thái dương Chấn. Hiểu theo Chấn nước này thì đây là con cò gió (có bờm phườn gió)  biểu tượng cho cho chi gió của đại tộc nước dương Chấn (xem Trống Văn Lang Miếu Môn I).

c. Trống Bình Phủ.

Ở những trống muộn hơn nữa cò gió được diễn tả một cách dễ hiểu, giản dị, bình dân học vụ hơn. Ví dụ

cò há to đang kêu hay “huýt gió” như thấy trên trống đồng âm dương Bình Phủ.

 Cò há mỏ trên trống Bình Phủ (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Cò há miệng diễn tả đang kêu là cò gió (phát ra tiếng kêu, tiếng hót, tiếng hú biểu tượng cho gió giống như khèn là nhạc cụ bộ gió).

Ta thấy rõ trên trống này, sát mặt trời có vành “chấm vòng tròn” Đoài và vành răng lược dương thái âm diễn tả Đoài khí gió thái dương. Ngoài biên trống có vành “chấm vòng tròn” Đoài nằm ở giữa hai vành răng lược dương thái âm, dương Khôn. Trống này có một khuôn mặt khí gió Đoài dương thái âm nên cò là cò gió.

Trống có mặt trời 10 nọc tia sáng. Số 10 là số Khảm tầng 2. Theo hôn phối là trống Khảm/Li của đại tộc Li. Đoài cũng là khuôn mặt dương đại diện cho Khảm. Như thế trống có một khuôn mặt là trống tộc Đoài của đại tộc Li/Khảm. Tóm lại mỏ cò há miệng là mấu chốt chính cho biết cò là con cò tộc gió.

-Cò Nước, Cò Lạc, Cò Vạc, Cò Chấn.

Cò nước, cò Lạc cũng được diển tả dưới nhiều cách ở các trống khác tuổi nhau.

a. Trống Hữu Chung

Ta đã biết trống Hữu Chung là trống thuộc nhóm trống Cấn/Chấn có mặt trời thế gian có 12 nọc tia có một khuôn mặt la trống sấm mưa (xem Nhóm Trống Cóc/Ếch). Ở đây chỉ xin đưa thêm một thí dụ xác thực trăm phần trăm là trống mặt trời có 12 nọc tia sáng có một khuôn mặt Sấm Mưa. Tôi đã tìm thấy trong Bảo Tàng Viện Quốc Gia National Museet ở Copenhagen, Đan Mạch có một chiếc trống da Nhật Bản trên mặt có mặt trời 12 nọc tia sáng và khối lửa mặt trời diễn tả bằng biểu tượng đĩa sấm.

Trống da Nhật Bản trên mặt có mặt trời 12 nọc tia sáng và khối lửa mặt trời diễn tả bằng biểu tượng đĩa sấm (ảnh của tác giả).

Như đã biết đĩa sấm gồm có ba chữ viết nòng nọc vòng tròn-que móc nước cong do ba vòng tròn nòng OOO mở ra tức quẻ Khôn OOO có một khuôn mặt là nuớc vũ trụ. Ba đầu móc nọc nhọn là ba hào dương Càn lửa vũ trụ. Lửa nước vũ trụ liên tác tạo ra sấm. Ba móc nươc-lửa chuyển động vòng tròn mang nghĩa sinh tạo, sinh động. Ta cũng đã biết tộc Tráng Zhuang thờ trống đồng nòng nọc, âm dương như chúng ta nhưng ngay nay họ nghiêng nhiều về nghĩa duy tục là nhìn trống đồng dưới diện trống sấm trống mưa, trống cầu mùa (có lẽ bị ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa). Vì thế trống tiêu biểu mà họ hãnh diện nhất là Trống Đại Lôi (Great Thunder Drum). Thờ trống sấm mưa nên họ thờ thần sấm mưa qua biểu tượng đĩa sấm (xem Lạc Việt Tráng Zhuang 2).

 Thờ Thần Sấm qua biểu tượng ‘đĩa sấm’ Lửa-Nước Càn-Khôn vũ trụ (ảnh của tác giả chụp tại Làng Tráng Zhuang ở Làng Văn Hóa Sắc Tộc Quảng Tây tại Nam Ninh).

Ở trống da Nhật này, với biểu tượng khối lửa mặt trời là đĩa sấm xác nhận mặt trời 12 nọc tia sáng có một khuôn mặt là Sấm. Nhất là lại còn ở trên trống vì trống vốn có một khuôn mặt biểu tượng cho  sấm (đánh trống qua cửa nhà sấm, thần sấm thường cầm biểu tượng trống).

Vành 6 trên trống Hữu Chung là vành hỗn hợp có hình cò bay và hình dóng sấm, búa thiên lôi (thunderbolts, Phạn ngữ vajras) mà các học giả về trống đồng thường gọi sai là ‘hình trâm’ (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á).

  

Trống Hữu Chung (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Như thế chỉ mới nhìn thoáng qua, trực giác cho ta biết ngay những con cò này bay cùng chung một vành với các hình dóng sấm, búa thiên lôi thì chúng phải có một khuôn mặt liên hệ với sấm.

Bây giờ ta kiểm chứng lại bằng chữ viết nòng nọc vòng tròn-que viết trên người những con cò này.

Mười con cò bay xen kẽ với hai hình dóng sấm, búa thiên lôi (‘hình trâm’), mỗi nhóm 5 con.

Cò có mỏ thon dài hơi cong lên mang âm tính nghiêng về cò nước.

Cò trên trống Hữu Chung.

Bờm cụp xuống che cổ như mũ che mưa. Mắt âm có hai vòng tròn thái âm nước. Cánh có những hình sóng nước gẫy là sóng dương, sóng động là nước chuyễn động, ở cõi trời là mưa. Hai đầu cánh có hai chữ nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) > có một nghĩa là dương, hai chữ > là hai dương, là thái dương, lửa. Như thế cánh cò là lửa-nước, chớp mưa tức sấm.

Ta cũng thấy ở cổ cò có hình giống như con diều hình con nòng nọc. Đầu hình vuông đứng trên một đỉnh là dạng thái dương chuyển hành của nòng O (yoni vuông là ỵang thái dương của yoni tròn) có một nghĩa là nước thái dương chuyễn động. Hình vuông cũng có một biểu tượng cho tứ phương, bốn phương trời. Ở đây hình vuông đứng trên một đỉnh dưới dạng chuyển đông bốn phương trời liên hệ với sấm mưa.

Chữ viết nòng nọc vòng tròn-que sấm hình cánh diều hay con nòng nọc trên cổ cò ở trống Hữu Chung.

Đuôi nòng nọc cong vì hợp (accord) với đầu nước âm là nọc lửa, là tia chớp.

Hình con diều nòng nọc mang tính nòng nọc, âm dương sinh động này diễn tả sấm chuyển động bốn phương trời. Đây là một hình ngữ, một chữ viết nòng nọc vòng tròn-que diễn tả sấm. Thật vậy, khi so sánh với Hán tự dìan có nghĩa là chớp, điện,

ta thấy rất rõ chữ dian, điện, chớp ruột thịt với hình chữ viết nòng nọc vòng tròn-que ‘con diều hình con nòng nọc’ trên cổ cò. Chớp là phần dương của sấm. Về sau chữ diàn, chớp này cắt bỏ đuôi thành chữ điền gộp với  (vũ, mưa) tạo thành chữ lei (lôi, sấm).

Như thế rõ như ban ngày con cò ở trống Hữu Chug này trăm phần trăm là cò sấm mưa. Chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình con diều ở sấm mưa cổ có chính là tên con cò.

Tóm lại 10 con cò bay trên trống này là cò sấm mưa.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, cò sấm là chim biểu của Lạc Long Quân có một khuôn mặt sấm mưa.

Đây là một loại cò Lạc, con cò Lạc có khuôn mặt sấm mưa.

Ngoài hình dóng sấm, búa thiên lôi và mặt trời Chấn/Cấn 12 nọc tia sáng cho biết là trống sấm mưa,  trống Hữu Chung còn nhiều yếu tố khác nữa xác thực những con cò bay là cò sấm, cò nước là trống có Tượng cóc có chữ viết nòng nọc vòng tròn-que sấm gầm (100%  là trống sấm mưa), vành sóng nước-lửa, uốn khúc sấm gầm.

 Như thế cò bay trên trống Hữu Chung 100% là cò nước, cò sấm mưa, cò Lạc.

b. Trồng Hàng Bún

Cò trên trống Hàng Bún (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

mỏ cong vòng hình móc nước, sấm trên trống Hàng Bún là những con cò sấm mưa. Những sọc nước trên cánh cò xác nhận những con cò này là cò mưa (lưu ý trống này cũng có búa thiên lôi hay lưỡi tầm sét “hình trâm” và vành uốn khúc sấm gầm cho biết trống này là trống sấm mưa vì thế cò trên trống này là cò sấm mưa).

Ta thấy rất rõ các trống vừa nêu trên đều là những trống có mặt trời 12 tia sáng và có một khuôn mặt là những trống sấm mưa Chấn/Cấn vì thế cò trên những trống này là cò sấm mưa.

-Cò Lửa vũ trụ, Cò Càn.

Trống Đông Sơn IV.

Mỏ cò dài, to, khỏe, trông cương cường giống bộ phận sinh dục nam đang cương cứng. Trong mỏ có phụ đề hình que nọc mang nghĩa cọc, dương. Đây là con cò Nọc lửa trời Càn.   Thêm vào đó cò không có bờm.Cò Nọc Càn trên trống Đông Sơn IV (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Kiểm chứng lại ta cũng thấy trống Đông Sơn IV thuộc nhóm trống Càn/Khôn với mặt trời có 8 nọc tia sáng (số 8 là số Khôn thế gian hôn phối với Càn thế gian). Hai vành răng sói, răng cưa ở biên trống xác định trống có khuôn mặt lửa, thái dương, Càn.

-Cò Núi, Cò Đá, Cò Đất dương, Cò Li.

clip_image002[17]

Trống Hà Nội I.

Cò được diễn tả bằng mỏ hình búa chim hay hình tháp.

Bờm cò cóp hình búa chim biểu tượng cho lửa đất dương Li.Trên trống Hà Nội I những con cò cuối mỏ có hình móc. Có tác giả cho rằng những con cò này tha mồi. Kempers cho rằng những con chim này cũng giống những con chim ở trên trống Banyumering, Nam Dương là những con cốc (the small hook at the end of the bird’s beak in Banyumering, suggests a cormorant rather than a heron). Đây không phải là những con cò tha mồi hay chim cốc (con cốc đuôi ngắn, mỏ ngắn, thường không có bờm). Chiếc móc hợp với đầu mỏ diễn tả chiếc rìu, cây búa chim thể điệu hóa. Rìu biểu tượng cho đất dương. Những con cò mỏ rìu, mỏ búa này là cò Đất dương Li. Cánh và thân hình chữ T, trụ chống trời Li. Kiểm chứng lại thì trống này thuộc nhóm trống Li/Khảm thế gian có mặt trời 10 nọc tia sáng (số 10 là số Khảm tầng 2 hôn phối với Li tầng 2).

b. Trống Đông Sơn VI.

.Bờm Cò Đất dương, Cò Đá.

clip_image002[21]

Cò đá trên trống Đông Sơn VI.

Cò trên trống Đông Sơn VI có bờm hình ngạnh nhọn hình núi tháp Li hợp với đầu thành hình búa rìu giống như loài cò “đầu búa”.

Kiểm chứng lại, trống này thuộc nhóm Li/Khảm thế gian có mặt trời 10 nọc tia sáng.Búa rìu ngang biểu tượng cho Đất dương Li. Cò này có mỏ nhọn vừa phải hơi cong diễn tả âm của dương tức thiếu dương Li, trong mỏ có phụ đề một hình que nọc trụ chống trời Li. Thân và đuôi hình tháp Li (>). Thân và cánh hợp thành nọc chữ T, hình ảnh của Núi Trụ Chống Trời, Trục Thế Giới. Đây là cò Đất dương, cò Đá, cò Li.

Lưu Ý

Tên những con cò bay trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn thường được viết bằng chữ viết nòng nọc vòng tròn-que. 

2. Cò ở tang trống

Cò ở trên mặt trống thường là cò bay có một khuôn mặt biểu tượng cho thượng thế, bầu trời thế gian có khuôn mặt biểu tượng cho sinh tạo và là cò biểu của ngành, đại tộc,  tộc chi tộc đất thế gian. Cò ở tang trồng vùng nước thường là cò đứng có một khuôn mặt chính biểu tượng cho nước, tộc nước, thường là cò nước.

Xin đưa ra một hai ví dụ điển hình về những con cò đứng ở vùng nước tang trống.

  1. Trống đồng âm dương Hoàng Hạ.

Trước mũi một con thuyền trên trống đồng âm dương Hoàng Hạ có một con chim. Chim thuộc loài chim nước hay sống ở bờ nước vì nó đứng ở tang trống vùng nước, đứng trước mũi thuyền và rõ nhất là nó đang mổ con cá.

Một hình thuyền trên trống đồng âm dương Hoàng Hạ (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Chim nước này có chân cao, cổ cao và cong, có bờm thuộc loài cò sếu. Chim có con mắt âm hai vòng tròn đồng tâm thái âm nước có con ngươi là điểm chấm cho biết thuộc loài cò dòng Khôn nước. Mỏ dài nhọn trong có chữ nọc que hình kim. Trên người có chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình vòng tròn có chấm thái dương. Như thế đây là con cò nước thái dương Chấn.

Kiểm chứng lại ta thấy trống đồng âm dương Hoàng Hạ là trống thuộc nhóm Càn/Khôn thái dương thế gian cõi nước có mặt trời 16 nọc tia sáng có một khuôn mặt chủ lửa nước Chấn (xem trống này).

b. Trống Đồi Ro.

Ở đầu và đuôi thuyền trên trống Đồi Ro có những con chim nước giống loài cò. Nhưng chim có cổ ngắn, người thon tròn, đuôi ngắn thuộc họ nhà vạc, cò đêm.

Những con vạc trên trống Đồi Ro.

Đây chính là những cò nước, cò vạc, cò Lạc, cò Chấn. Kiểm chứng lại ta thấy trống Đồi Ro là trống thuộc nhóm Càn/Khôn thái dương thế gian cõi nước có mặt trời 16 nọc tia sáng. Trên mặt trống, sát mặt trời có vành chấm vòng tròn kép Chấn và ngoài biên có vành chấm vòng tròn kép Chấn nằm kẹp giữa hai vành răng sói, răng cưa thái dương. Trống này có một khuôn mặt Chấn thái dương vì thế những con chim này là những con vạc, cò Lạc, cò Chấn.

(còn nữa).

 

 

 

March 2, 2012

TRỐNG NGƯỜI MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG BÁCH VIỆT NGỌC LŨ I (12).

Filed under: Trống Bách Việt Ng. Lũ I (12) — Quang Nguyen @ 7:30 am

TRỐNG NGƯỜI MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG

BÁCH VIỆT NGÀNH VIÊM VIỆT NGỌC LŨ I.

(TRỐNG NHÓM MẶT TRỜI NỌC THÁI DƯƠNG LƯỠNG HỢP  TIỂU VÀ ĐẠI VŨ TRỤ).

(phần 12)

Nguyễn Xuân Quang

 

Ý NGHĨA VÀNH CHIM BAY VÀ CHIM ĐỨNG TRÊN TRỐNG ĐỒNG ÂM DƯƠNG NGỌC LŨ I.

 MƯỜI TÁM CHIM BAY  Ở VÀNH SỐ 10.

 

Vành 10 gồm 18 chim bay và 18 chim đứng (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

 .Vành giới hạn số 9.

Vành này nhìn thoáng qua giống vành số 7 là vành sóng chuyển động vòng tròn có chấm (đọc theo chiều dương tức thiếu dương) hay chấm vòng tròn (đọc theo chiều âm tức thiếu âm) có tiếp tuyến. Tiếp tuyến ở đây mang nghĩa chuyển động, vận hành, sinh tạo, không có nghĩa là nước.

Nhưng nhìn kỹ ta thấy nó ngược với vành số 7.

Tiếp tuyến ở đây có tiếp điểm ở phía dưới vòng tròn đi lên  nối với tiếp điểm ở trên của vòng tròn kế tiếp nghĩa là tiếp tuyến âm. Như thế ta suy ra ngay với tiếp tuyến âm ở đây vành này mang nghĩa thiếu âm Đoài (ngược với vành 7 thiếu dương Li). Kiểm chứng lại ta cũng thấy vành này nằm xa mặt trời nên mang âm tính so với vành 7 gần mặt trời mang nhiều dương tính. Thêm nữa, vành này là vành số 9 tức số Chấn tầng 2 nước dương thuộc phía nòng Khôn nên mang âm tính so với vành 7 Càn lửa vũ trụ. Do đó chấm vòng tròn ở vành này mang nghĩa là thiếu âm Đoài.

 Lưu ý

Vành giới hạn số 9 này mang nghĩa thiếu âm Đoài cho biết vành chim bay và chim đứng số 10 có một khuôn mặt thiếu âm Đoài  mang tính chủ nghĩa là những con chim bay mang tính chủ.

.Vành số 10 với 18 chim bay và 18 chim đứng.

Kế tới là vành số 10 gồm 18 chim bay và 18 chim đứng. Như đã nói, chim thú trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I mang khuôn mặt biểu tượng tức chim thú biểu, vật tổ nghĩa là ta phải hiểu theo ý nghĩa biểu tượng trong Vũ Trụ giáo.

Những loài vật dùng làm biểu tượng hay mang ý nghĩa biểu tượng không nhất thiết phải giống y chang những loài tương ứng có trong thiên nhiên.

Số 10 là số Khảm tầng 2 thế gian như thế chim thú ở vành này có khuôn mặt Khảm viết theo Dịch nòng nọc vòng tròn-que là OIO (nòng âm O thiếu âm IO) hôn phối với Li (IOI) và có khuôn mặt Đoài IIO (nọc dương I thiếu âm IO) là đại diện (số Đoài 11 tầng 2 là số dương ngay theo sau số âm Khảm 10 tầng 2). Do đó ta thấy ngay 18 con chim đứng trên mặt đất mang khuôn mặt Li hôn phối với Khảm 10 và 18 con chim bay Đoài đại diện cho Khảm 10.

Mỗi bán viên dương và âm đều có một nhóm 9 chim bay và 9 chim đứng.

Rất tiếc không có hình vẽ chi tiết của tất cả 18 con chim bay và 18 con chim đứng. Trong Nguyễn Văn Huyên chỉ có hình vẽ chi tiết của 5 con chim bay và 5 con chim đứng.

 Hình 5 chim bay và 5 chim đứng ở vành 10 trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I  (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Do đó tôi chỉ xin giải độc tổng quát không muốn đi vào chi tiết từng con một qua suy diễn.

1. 18 con chim bay.

Mười tám con chim bay trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I là chim gì?

Các nhà làm văn hóa Việt Nam hiện nay gọi 18 con chim bay trên mặt trống đồng âm dương Ngọc Lũ I là chim Lạc, là gọi theo tác giả Đào Duy Anh. Theo ông con chim Lạc là một loài ngỗng trời. Đào Duy Anh trong Cổ sử Việt Nam (Hà Nội 1955) khi nói về Lạc Việt đã viết : “Theo Từ Quảng thì Lạc là họ, tức tên thị tộc của một nhóm người Việt ở xứ Mãn… tên Lạc kia có thể là vật tổ được không? Chữ Lạc… chỉ một loài hậu điểu ở miền Giang Nam tương tự với loài ngỗng trời. Có thể chim Lạc là vật tổ của người Lạc Việt… (dẫn L. Pinot và V. Goloubev)… Chúng tôi (tức Đào Duy Anh) đồng ý với hai tác giả trên, duy phải nói thêm rằng chim Lạc mà những người sản xuất trống đồng đã thờ làm vật tổ chính là người Lạc Việt”.

Thật vắn tắt ở đây, ta thấy những con chim bay trên mặt trống đồng âm dương Ngọc Lũ I có dáng dấp thanh lịch, lả lướt, có mỏ rất dài đầy dương tính không phải là loài ngỗng nên không phải là chim Lạc ngỗng trời.

 Một con cò bay trên trống Ngọc Lũ I (Nguyễn Văn Huyên, tr.169).

Hiển nhiên trước mắt ta thấy rất rõ là những con chim bay có dáng dấp họ nhà cò. Ngỗng có chân màng bơi được dưới nước trong khi những con chim trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I chân không có màng, không thể là ngỗng được. Ngỗng Lạc (và ngay cả cò Lạc, cò nác, cò nước, cò đêm tức con vạc đi nữa) có đuôi ngắn. Chim Lạc với từ Hán Việt Lạc viết với bộ chuy là con ”chim đuôi ngắn”. Chim ở đây có đuôi dài không thể là chim Lạc. Trăm phần trăm đây không phải là loài ngỗng. Đây nhất định phải là cò. Đây chính là những con cò thanh lịch đuôi dài. Điều này cũng thấy rất rõ qua sự kiện là những loài chim này khắc ở ngoài cùng mặt trống tức vùng đất âm có nước của Cõi Giữa đất thế gian, chỗ tiếp cận với tầng nước ở vai trống (Cơ Thể Học Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á). Đây là loài chim sống ven bờ nước (wading birds), cò không biết bơi. Cò “đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao” thì phải kêu cứu “ông ơi, ông vớt tôi nao” nếu không được vớt thì cò sẽ bị chết đuối.
Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt , các chim tổ phía Nọc, Lửa, Mặt Trời, Nọc thái dương của Đại tộc Việt đều là những loài chim mang dương tính có tên có nghĩa là nọc, cọc, que, vọt (nói chung là vật nhọn)… tức là CHIM VIỆT vì Việt có một nghĩa là vọt (roi, nọc), vớt (con dao cán dài), hiểu theo nghĩa Hán Việt thì Việt là rìu, một thứ vật nhọn sắc (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt), ví dụ ở Cõi Tạo Hóa, ở ngành lửa, ta có chim biểu là chim cắt, chim rìu tức Chim Việt tạo hóa; ở Cõi Trời đất dương thế gian ở phía ngành nọc lửa là con trĩ lửa hay con Gà qué (gà trống), qué là que, nọc (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc). Trĩ lửa là trĩ Việt và gà là gà Việt Cõi Đất dương thế gian vì tuy là loài chim nhưng trĩ và gà sống nhiều trên mặt đất. Ở Cõi Đất âm có nước là con . Cò biến âm với cồ (đực), cu, với cổ (cây, trụ, cổ người là cây trụ cắm đầu vào thân người, ông Bàn Cổ là ông Trụ Chống Trời  với Bàn là phiến đá bằng, bàn thạch, bằng như mặt bàn và Cổ là cây Trụ). Cò là Cò Việt của vùng Đất âm có nước, ao đầm (nên nhớ cò là loài chim lội nước, sống ở bờ nước, vùng đất có nước chứ không phải là loài chim nước, sống dưới nước); chim biểu thật sự của Cõi Nước âm là con Cốc. Con cốc có mỏ mang dương tính nhọn như mũi phi tiêu, có loài dùng mỏ đâm cá vì thế dân dã Âu Mỹ còn gọi tên là “darter” (“chim phi tiêu”). Từ Cốc biến âm với cọc… Con cốc mang âm tính nhiều hơn cò vì chân cốc có màng, bơi lội và lặn hụp dưới nước được. Con cốc thường có mầu đen là mầu của nước thái âm. Như thế con Cốc biểu tượng dương của nước thái âm. Cốc là chim biểu của nước-dương của Lạc Long Quân. Cốc là Chim Việt Cõi Nước. Vì thế Cò nhìn chung là chim biểu, chim tổ của những tộc sống ở vùng đất âm có nước như ao đầm (Đoài thế gian), sông ngòi nhưng mang dương tính nhiều nghĩa là dương của âm tức thiếu âm, nguyên thể của khí gió tức Đoài vũ trụ. Nhìn chung Cò là chim biểu Khôn dương, bầu trời, gió của vùng đất âm có nước, ao đầm Đoài thế gian. Cò mang khuôn mặt dương trội cồ, cu nên nghiêng nhiều về phía chim biểu Khôn dương khí gió, mang khuôn mặt tiêu biểu cho Khôn dương, khí gió, Đoài của vùng đất âm có nước.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, cò là chim biểu của Tổ Hùng Vương có một khuôn mặt bầu trời thế gian Đoài. Tổ Hùng Vương sinh ra từ bọc trừng thế gian có một khuôn mặt là bầu Trời đội lốt bầu Vũ Trụ, Khí Gió. Ta cũng thấy Hùng Vương cùng mạng với Phù Đổng Thiên Vương nên được Thần Sấm Dông Gió Phù Đổng Thiên Vương giúp đánh dẹp giặc Ân. Như thế cò mang khuôn mặt chính biểu tượng cho Khôn dương khí gió phải là chim biểu của Tổ Hùng Vương sinh ra từ bọc Trứng Vũ Trụ. Kỉểm chứng với truyền thuyết Aztec, ta cũng thấy cò mang khuôn mặt biểu tượng chính liên hệ với Gió. Aztec có nghĩa là Người Cò (Heron People). Aztec người cò liên hệ với ardeidea, họ chim cò. Aztec có Az- với A, ruột thịt với mẫu tự “rustic a” /\ cùng một gốc chữ nọc mũi mác /\ (có nghĩa là dực, dương, mặt trời). Ardeidea có gốc ar- có nghĩa là vật nhọn, nọc nhọn, dương như adze, rìu, việt, arrow, mũi tên, Phạn ngữ ar, cầy (vật nhọn dùng xới đất), Pháp ngữ arbre, cây… Vật nhọn là dực, nọc, cọc, là c…c, là cu, là cồ, là cò. Con cò được gọi tên theo chiếc mỏ dài nhọn mang dương tính. Như thế tộc Cò Aztec có một khuôn mặt chính là Gió dương (Tiếng Việt Huyền Diệu). Cò có một khuôn mặt chính biểu tượng cho Gió, bầu trời.

Cò là chim tổ của chúng ta chứ không phải con ngỗng trời Lạc (Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt).

Mười tám con chim bay trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ là loại cò gì?

Bây giờ ta hãy nhận diện xem 18 con cò bay trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I là loài cò gì? Có phải là cò nước, cò Lạc tức cò đêm mà chúng ta thường gọi là con vạc không? Đây có phải là Cò Lạc, một thứ chim Lạc, chim biểu của Lạc Long Quân như các nhà làm văn hóa hiện nay thường gọi không?

Sau đây là mười một đặc tính của con cò trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I:

1. Mỏ

Nhìn chung chung, mỏ chim càng thẳng, càng to, càng nhọn, càng dài, càng khỏe, càng mang dương tính.

Những con cò bay trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I có mỏ rất dài, dài bằng thân người và nhọn, rất cường điệu mang dương tính, lửa, thái dương, mặt trời. Điều này được xác nhận bằng dấu (marker) nọc mũi mác, răng cưa, răng sói (>) ở trên mỏ cò có nghĩa là nọc, đực, thái dương, mặt trời (Chữ Nòng Nọc Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á). Đây là cò thái dương (II) của ngành nòng Khôn (O), tức IIO (Đoài), cò gió. Mặt khác mỏ ở đây rất dài mang dương tính nhưng mỏ trông rất tao nhã mang âm tính nghĩa là dương của âm, tức thiếu âm, nguyên thể của gió. Tóm lại mỏ cò trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I cho biết những con cò này là loài cò Gió, cò Đoài.

2. Bờm

Nhìn chung chung cò có bườm cường điệu thuộc về đại tộc Gió. Cò Đại tộc gió có bờm cường điệu nhất. Tùy theo tính chất của bờm gió ta biết cò thuộc về chi tộc nào của đại tộc Gió. Cò trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I có bờm rất cường điệu, rất đặc biệt, bờm có hình túi nang, hình cờ phướn hay con diều gió (kite) bay theo chiều gió tạt ngang về sau, trên có tua hay mào. Túi nang biểu tượng cho gió; cờ phướn, con diều biểu tượng cho gió; tua, mào biểu tượng cho gió. Đọc theo chữ viết nòng nọc bờm cò có hai phần, một phần túi, nang là dạng dương hóa của chữ nòng O thành hình chữ nhật nằm ngang ở bên trái và phần tua, mào hình trụ I. Đọc theo duy âm tức theo chiều âm từ phải qua trái, theo chiều kim đồng hồ, của chim sống ở bờ nước, ta có IO, thiếu âm, nguyên thể của gió. Như thế bờm cò là bờm thiếu âm IO, nguyên thể của gió. Phần đứng hình tua, mào gồm 3 chiếc lông. Số 3 là số Đoài vũ trụ khí gió. Bờm mang tính gió Đoài.

Tóm lại bờm rất cường điệu cò hình túi, hình phướn, hình con diều gió cho thấy những con cò trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I là cò Gió.

Bờm cò gió trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I khác với bờm của Cò Lửa, Cò Đất dương, Cò Nước (xem dưới).

3. Cánh

Cò trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I có cánh trải rộng như cánh diều lướt trên cánh gió. Cánh có hình chữ nhật có những tua bay trong gió trông như một tấm thảm thần lướt bay trong gió của xứ Ngàn Lẻ Một Đêm.

Tóm lại cánh hình cánh diều, hình thảm thần cho biết cò trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I là cò Gió.

4. Cò Liệng

Cò trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I bay ở thế liệng nghĩa là đang xoải cánh rộng buông la đà trong gió, không ở thế vỗ cánh hình chữ V và có nét đặc thù là khi bay cổ duỗi thẳng không co rụt cổ lại dựa vào vai. Mỏ cũng duỗi thẳng. Toàn thân trông như một mũi tên bay trong gió.

Cũng xin lưu tâm, tổng quát chỉ cần một yếu tố giản dị là bay cũng đủ biểu tượng cho gió. Ở đây đã bay mà còn liệng nữa thì chắc chắn là biểu tượng cho gió.

Tóm lại cò ở thế bay, liệng la đà cho biết cò trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I là cò lả (bay lả bay la), cò Gió.

5. Mắt dương

Cò trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I có con mắt dương vòng tròn-chấm (khác với con mắt âm có hai vòng tròn đồng tâm có chấm ở tâm như con mắt âm của chim nông ở cùng vành với hươu), đây là loài chim Khôn dương tức gió Đoài. Chữ vòng tròn-chấm cũng có một nghĩa là Đoài (Chữ Nòng Nọc Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á). Với con mắt dương này những con cò trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I không thể là cò nước cò Lạc.

Tóm lại cò có con mắt dương cho biết cò trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I là cò Gió.

6. Cổ

Cổ cong nhưng không rụt quá mang tính dương của âm tức thiếu dương, khí gió. Trong cổ có viết chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình nọc cong thiếu âm hình đuôi con diều gió.

7. Thân và đuôi dài

Thân thon nhỏ và đuôi dài, trông thanh lịch, giống như một mũi phi tiêu gấp bằng giấy lao vút trong gió. Như trên đã nói con vạc, cò nước, cò Lạc có đuôi ngắn. Chim Lạc viết với bộ chuy là con ”chim đuôi ngắn”.

Tóm lại thân thon nhỏ và đuôi dài trông thanh lịch cho biết cò trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I là cò Gió.

8. Địa bàn đất âm ao hồ.

Cò trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I bay trên vùng đất âm có nước ao đầm ở vùng biên trống (Cơ Thể Học Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á). Đoài thế gian có một khuôn mặt ao đầm. Cò bay trên vùng đất âm này biểu tượng cho tầng trời Đoài vũ trụ khí gió của vùng Đoài thế gian ao đầm (cò Nước, cò Lạc phải bay trên vùng nước ở vai trống).

Tóm lại cò bay ở vùng đất âm cho biết cò trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I là cò Gió biểu tượng cho tầng trời Đoài vũ trụ khí gió của vùng Đoài thế gian ao đầm.

9. Vành số 10

Mười tám con cò bay trên trống Ngọc Lũ I ở vành số 10. Số 10 theo Dịch là Khảm tầng 2 nước vùng đất dương thế gian. Khảm 10 là số âm có một khuôn mặt dương đại diện là Đoài thế gian 11 (số 10 bước thêm một bước nữa về phía chiều dương bên phải là số 11). Ta cũng thấy 18 chim bay với số 18 cũng là Khảm tầng 3, vùng đất âm có nước. Tương tự ta suy ra 18 con cò này có một khuôn mặt dương đại diện là Đoài 19. Với hai nét Đoài này cho thấy cò trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I mang tính chủ là cò gió Đoài.

Tóm lại cò ở vành số 10, theo Dịch, cho biết cò trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I là cò Gió.

10. Trống Ngọc Lũ I thuộc nhóm trống Tốn/Đoài thái dương.

Trống đồng âm dương Ngọc Lũ I có mặt trời 14 nọc tia sáng có khuôn mặt là Tốn/Đoài thái dương. Cò trên trống này phải mang tính chủ là cò gió Đoài.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là trống biểu của Hùng Vương có một khuôn mặt là khí gió, bầu trời Đoài (Giải Đọc Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á).

Tóm lại cò ở trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I Đoài/Tốn thế gian, có một khuôn mặt là cò Gió và là cò lang, chim biểu của Hùng Vương có khuôn mặt bầu trời, khí gió.

11. Con số 18 con cò

Số 18 là số của ma phương Đoài 3/18 (ma phương này có số trục là số 3 Đoài và số 18 là tổng số các nhánh của ma phương cộng lại). Con số 18 cò bay ở vùng đất âm ứng với Đoài. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt con số 18 là mã số di truyền DNA của Hùng Vương (xem bài viết Mã Số Di Truyền DNA của Hùng Vương).

Tóm lại 

Qua 11 đặc điểm trên, những con chim bay ở vành số 10 cò trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I là con cò có khuôn mặt mang tính chủ là Cò Gió. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là Cò Lả, Cò Lang, Bạch Hạc, Cò Đoài, cò Hùng Vương. Tuyệt nhiên không phải là Chim Lạc ngỗng trời hay Cò Nước, Cò Lạc, Cò Vạc.

(còn tiếp).

 

 

 

February 24, 2012

TRỐNG BÁCH VIỆT NGƯỜI MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG NGỌC LŨ I (11).

Filed under: Trống Bách Việt Ng. Lũ I (11) — Quang Nguyen @ 7:28 am

TRỐNG NGƯỜI MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG

BÁCH VIỆT NGÀNH VIÊM VIỆT NGỌC LŨ I.

(TRỐNG NHÓM MẶT TRỜI NỌC THÁI DƯƠNG LƯỠNG HỢP  TIỂU VÀ ĐẠI VŨ TRỤ).

(phần 11)

Nguyễn Xuân Quang

 Ý NGHĨA VÀNH CHIM THÚ TRÊN TRỐNG ĐỒNG ÂM DƯƠNG NGỌC LŨ I.

 VẬT TỔ HƯƠU CỦA ĐẠI TỘC VIỆT

Qua tác phầm Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt, Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt và nhiều bài viết khác, chúng ta đã viết rõ hươu là vật tổ cõi thế gian, là hươu Việt  của Bách Việt phía nọc dương Viêm Đế đối ứng với thiên cẩu sói lang phía Thần Nông.

Ở đây chỉ xin nhắc qua vài điểm chính yếu.

Ta đã biết Việt là vọt, nọc, đực, mặt trời nọc tia sáng, mặt trời rạng ngời. Hùng cũng có một nghĩa là con thú đực. Như vậy vật tổ của chúng ta phải có tên mang nghĩa như vậy. Ở cõi Thượng Thế, cõi trời có vật biểu là một loài chim, đó là con chim cắt, chim có mũ sừng, chim Việt. Ở  cõi đất Trung Thế là một loài thứ bốn chân sống trên mặt đất có tên cũng phải có nghĩa nọc, đực, vọt, Việt, đó chính là con hươu, hiêu, con hèo, con nọc, con Cọc, con Hươu Việt.

Hươu Việt, hươu sừng có di thể Sừng (gene) truyền  từ thần mặt trời Viêm Đế họ Khương (Sừng). Truyền thuyết ghi rằng Đế Minh là cháu ba đời thần Mặt Trời Viêm Đế đẻ ra vua đầu tiên thế gian của chúng ta là Vua Hươu Mặt Trời Kì Dương Vương có nhũ danh là Lộc Tục, Hươu Nọc, Hươu Sừng. Viêm Đế có họ là Khương (Sừng), ở thượng thế biểu tượng chính là con chim Sừng, chim mỏ cắt có mũ sừng (hornbill), là con chim Việt. Ở trung thế, cõi đất trần gian, dòng máu, gene Sừng có từ Viêm Đế này truyền xuống nên Đế Minh có biểu tượng là con  mang trời. Đế Minh sinh ra Kì Dương Vương có khuôn mặt chính là con thú bốn chân ở cõi thế gian có sừng là  Kì Mang, Muông Gạc, Mang gạc. Như thế khuôn mặt hươu nai có sừng trên trống Ngọc Lũ I có mang gene sừng từ thần mặt trời Viêm Đế. Như đã thấy ở trên, sừng ba mấu Lửa vũ trụ Càn sinh tạo có một khuôn mặt biểu tượng cho Đế Minh Càn và sừng hai mấu nhọn hay 5 mấu nhọn biểu tượng cho Kì Dương Vương Li thế gian.

Lưu ý

Hươu sừng là thú biểu cho vùng đất dương, đất khô, đất núi. Còn nếu là đất âm có nước là loài thú bốn chân sống được trên đất có nước và dưới nước, ở địa bàn Bách Việt là con cá sấu Việt, Trâu Việt… và  ở cõi nước Hạ Thế là con rắn nước có mào sừng.

Sau đây chỉ xin vắn tắt nhắc lại một hai hình ảnh hươu sừng là thú biểu của cõi đất dương Trung Thế.

.Trước hết là ở trên Cây Tam Thế (Cây Vũ Trụ, Cây Đời Sống) Yggdrasill của Bắc Âu, ta thấy rất rõ cõi trên Thượng Thế ứng với vòm ngọn cây có biểu tượng là con chim ưng, Trung Thế ứng với cành cây là con Hươu Sừng và Hạ Thế ở gốc cây là con rắn độc đang lè lưỡi đỏ ra.

 Cây Tam Thế (Cây Vũ Trụ, Cây Đời Sống) Yggdrasill của Bắc Âu (Nordic).

.James Churchward cũng đã nói tới hình bóng con hưou Keh là thủy tổ loài người trong những tác phẩm viết về một lục địa cổ mà ông gọi là Continent of Mu (Mu chính là Việt ngữ Mụ. Mẹ) tức là Đất Mẹ (Motherland) ở vùng biển Đông Nam Á (lúc đó còn dính liền với Đông Nam Á) mà ông cho đó là cái nôi của nền văn minh của con người. Ông đã diễn tả sự sáng thế bằng hình chính tay ông vẽ dưới đây:

Hươu Keh là con người đầu tiên của loài người (James Churchward) mang khuôn mặt Kì Dương Vương.

Theo ông, truyền thuyết Đông Á cổ cho rằng con hươu Keh là con người đầu tiên của nhân loại. Hình vẽ cho thấy trong quá trình sáng thế từ biển nước Vũ Trụ nhô lên mô đất nguyên khởi (tương tự như Primevial Mound của Ai Cập cổ), trong có Trục Thế Giới hình chữ T (cũng là Cây Vũ Trụ, Cây Tam Thế, Cây Đời Sống). Núi Trụ Thế Gian là một phần của Trục Thế Giới nên Núi Trụ cũng biểu tượng cho cõi đất thế gian vì thế mà phần nằm ngang của Trục Thế Giới biểu tượng cho cõi bằng mặt đất trên đó có hình cây và thú. Trên mặt đất con hươu Keh xuất hiện đầu tiên. Con hươu này có sừng là hai cọc nhọn không có đâm nhánh tương tự như cặp sừng của con hươu sủa trên trống Phú Xuyên. Hươu Keh đứng trên hai chân mang hình bóng con người đầu tiên.

Hươu Keh chính là hình bóng Kì Dương Vương (xem dưới).

Bây giờ ta thử xem hươu sủa mang gạc có phải là con thú Việt bốn chân tức con Hươu Việt sống trên mặt đất ở cõi Trung Thế hay không?

Theo truyền thuyết vua tổ cõi thế gian của Việt Nam là Kì Dương Vương, vị vua của nước đầu tiên Xích Quỉ, Người Đỏ, tức Người Mặt Trời của chúng ta.

Xin nhắc lại Xích là Đỏ. Quỉ biến âm với Pháp ngữ Qui, Latin Quo (Quo Vadis) có một nghĩa là Kẻ, Người. Quỉ ruột thịt với Kì, Kẻ có một nghĩa là Người. Bằng chứng cụ thể là ở Vân Namhiện nay còn một tộc người tên là Naxi mà người Trung Hoa phiên âm là Nạp Tây. Người Naxi có một thứ chữ viết vẽ hình hay hình tự (pictograph) do các pháp sư tên là Dongba sáng tạo ra dùng đế viết sớ trong tế lễ. Chữ này là thứ chữ vẽ hình sống (live) duy nhất ngày nay còn dùng (xem Hình Tiêu Biểu Tháng 6, 2011). Nguyên gốc nghĩa của Naxi là “Người Đen”. Có giả thuyết cho rằng người này có da ngăm đen nên gọi là ‘Người Đen” (Hắc tộc). Giải tự từ Naxi ta có Nax- đen và Xi là người. Nax (đen) liên hệ với Việt ngữ nắc là đêm như con nắc nẻ là con bướm đêm, với Hán Việt nặc có một nghĩa là kín, bí mật, đen (xã hội kín, bí mật là xã hội đen) như thư nặc danh, với Đức ngữ nacht là đêm. Còn Xi, theo x= s = k như kong (Mekong, Sông Mẹ) = sông, ta có Xi = Kì, Kẻ, người và theo x= q như xoăn = quăn, ta có Xi = Pháp ngữ Qui, Kẻ, Người.

Tóm lại Xích Quỉ là Kẻ Đỏ, Người Mặt Trời còn Naxi là Kẻ Đen.

Kì Dương Vương nghĩa là gì?

1. Kì Dương là Kẻ Dương, Cọc Dương, Cọc Lửa, Nọc Đực, Bộ Phận Sinh Dục Nam.

Kì với nghĩa là kẻ (que, cọc, thước kẻ), ke (bộ phận sinh dục nam.

Trước hết Kì Dương Vương có Kì biến âm với kẻ có nghĩa là que, nọc, cọc như thước kẻ, kè là cọc, cột (cây kè là cây palm có thân như cây cọc, cây cột không có cành)… Kì biến âm với ke có một nghĩa là bộ phận sinh dục nam (Alexandre de Rhodes, từ điển Việt Bồ La). Theo  k = c =que, ta có ke = que (que, cọc, c…c).

Như thế kì là cây, cọc nếu hiểu theo tận cội nguồn của chữ viết nòng nọc vòng tròn-que thì là cọc dương, nọc dương, là bộ phận sinh dục nam. Vậy Kì Dương Vương có một khuôn mặt biểu tượng cho phái nọc nam, cho ngành nọc, ngành mặt trời, ngành Việt (vật nhọn, mặt trời).  Ở đây ta hiểu tại sao Kì Dương Vương là con người Nam đầu tiên và là thần tổ Nam của con Người. Theo duy dương, Nọc dương, bộ phận sinh dục nam sinh tạo ra con người (qua tinh dịch). Thần tổ Nọc Dương đẻ ra loài người.

Đối chiếu với truyền thuyết Ấn giáo đây là khuôn mặt linga của thần Shiva. Thần Shiva có một khuôn mặt là Cọc Lửa, Trụ Lửa ‘Pillar of Fire’. Cọc Lửa của Shiva có một khuôn mặt là Cọc Lửa, Cọc Dương, bộ phận sinh dục nam này của Kì Dương Vương. Về ngôn ngữ học ta cũng thấy rất rõ Shiva có Shi- biến âm với Kì (s=sh= k = c).

Ta có từ đôi Kẻ Sĩ với Kẻ = Sĩ = Kì = Shi. Sĩ có nguồn gốc nguyên thủy là bộ phận sinh dục nam (xem Kẻ Sĩ). Như thế ta có Kì (Dương) = Shi(va) có một nghĩa là bộ phận sinh dục nam, là Linga.

Một lần khi đi du lịch đến Ấn-Độ, tôi đã chứng kiến tận mắt một phụ nữ trẻ vái lạy linga rồi đổ sữa lên đầu linga trông giống hệt như linga đang xuất tinh. Người nữ nầy lấy tay xoa sữa trên đầu linga rồi xoa lên đầu lên mặt mình. Chắc cô ta cầu xin lấy chồng, cầu tự hay cầu mắn sinh, thịnh vượng.

Đây là khuôn mặt tạo hóa sinh tạo này của Kì Dương Vương ở cõi Đất thế gian đội lốt khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa của Viêm Đế ở Thượng Thế.

Lưu Ý

 .Kì Dương Vương với Kì Dương có nghĩa là bộ phận sinh dục nam cũng như các từ Việt có nghĩa là vật nhọn, Hùng có nghĩa là đực…  cũng có nguồn gốc nguyên thủy là gốc nọc, bộ phận sinh dục nam đã khiến nhiều người “cau mặt” hay “sợ hãi”. Với nghĩa bộ phận sinh dục nam này, ta phải hiểu theo nghĩa sinh tạo, tạo hóa sinh ra loài người của ngành nọc nam, mặt trời nam. Thời nguyên sơ cũng như trong các tôn giáo thờ sinh thực khí như chúng ta thờ Nõ Nường, như Ấn giáo thì các bộ giống phái nam nữ có một khuôn mặt là sinh tạo, tạo hóa.

.Trống có một nghĩa là đực cũng hàm nghĩa bộ phận sinh dục nam. Trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn là trống biểu của Hùng Vương lưỡng hợp Chim-Rắn, Tiên Rồng, của Bách Việt nên trống đống hình Cây Nấm Vũ Trụ (Cây Nấm Tam Thế, Cây Nấm  Đời Sống) Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I) cũng mang hình ảnh bộ phận sinh dục nam (cắt bằng đầu để làm mặt trống) và nếu nhìn theo duy âm từ dưới lên có hình âm đạo dạ con).  Trống mang hình dương vật (bằng đấu) thấy rõ nhất ở những trống thô sơ có mặt giống hình vòm cây nấm như trống Thượng Nông (D-IV-1):

 Trống Thượng Nông (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên) có hình dương vật (bằng đầu). Trống Vạn Gia Bá ở Xử Hùng, Vân Nam mà các nhà khảo cổ Trung Quốc cho là cổ nhất cũng có hình dáng như trống này. Rất tiếc trống Thượng Nông này không thử được Carbon 14 phóng xạ để định tuổi.

 2. Kì Dương là Cọc Lửa Thế Gian, Núi Trụ Thế Gian. Núi Trụ Thế Gian, Núi Chống Trời.

Kì với nghĩa là Kẻ (chổ ở, vùng đất dương, đất núi, đất cao).

Cũng với khuôn mặt Cọc Lửa Trụ Lửa này, Kì Dương Vương là Trục Thế Giới ngành nọc lửa dương. Núi Trụ thế gian nằm trong Trục Thế Giới nên Kì Dương Vương Trụ Lửa Trục Thế Giới có một khuôn mặt là Núi Trụ Thế Gian, Núi Trục Thế Gian ngành nọc lửa tức biểu tượng cho núi dương, cõi đất dương, Trung Thế. Ở đây ta thấy Kì = Kẻ với nghĩa Kẻ là chỗ ở, vùng đất, mường… như Kẻ Sặt, Kẻ Mau, Kẻ Trọng.

Với nghĩa là Cọc Dương, Cọc Lửa, Trụ Dương, Kì Dương Vương có nghĩa là vua Nọc Dương, Cọc Lửa, Trụ Lửa thế gian đội lốt thần mặt trời Viêm Đế, Cọc Lửa vũ trụ.

Ta cũng thấy rất rõ Cọc Dương vừa có nghĩa là Bộ Phận Sinh Dục Nam vừa có nghĩa là Núi Cọc, Núi Trụ Thế Gian, Núi Trụ Chống Trời qua hình ảnh Núi Nam Giới ở Hà Tĩnh (Nam giới là “chữ thánh hiền” chỉ Núi Cọc, Núi C…c). Theo truyền thuyết bà Nữ Oa thách ông Tứ Tượng đắp núi thi, nếu ông đắp cao hơn bà sẽ lấy làm chồng. Kết quả ông Tứ Tượng đắp núi thua bà. Nữ Oa đắp một ngọn núi cao ngất trời, đứng trên đó có thể thấy khắp cõi trời đất. Dấu tích còn lại của ngọn núi cao do bà Nữ Oa đắp, dân gian cho là núiNamgiới ở Hà Tĩnh ngày nay… Núi Nam Giới chính là hình ảnh Núi Trụ Thế Gian, Núi Trụ Chống Trời  (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Đối chiếu với truyền thuyết Ấn giáo, Shiva  có biểu tượng chính là linga với khuôn mặt Trụ Lửa cũng có một khuôn mặt Trục Thế Giới nên mới nói là có nguồn gốc sinh ra từ Núi Trụ Thế gian Kalaisha ở Hy Mã Lạp Sơn.

Đối chiếu với truyền thuyết Ai Cập cổ Thần Đất Keb có Ke- = kẻ = ki, cọc, nọc và ke-,như đã nói ở trên có nghĩa là bộ phận sinh dục nam (Alexandre de Rhodes, Từ Điển Việt Bồ La). Vì thế mà thần Đất Keb có bộ phận sinh dục nam mang hình bóng núi Trụ Thế Gian, Núi Chống Trời chống bầu trời là nữ thần Bầu Trời Nut đang uốn cong người thành hình vòm trời.

Thần Đất Keb có bộ phận sinh dục nam cương cứng cố rướng lên tới thân người của thần nữ Bầu Trời Nut mang hình ảnh Cọc Dương (Kì Dương), Núi Trụ Thế Gian, Trụ Chống Trời chống bầu trời của thần Bầu Trời Nut.

Đây là khuôn mặt ở cõi đất thế gian của Kì Dương Vương.

Như thế ta thấy rất rõ ta có thể dùng Kì Dương Vương của chúng ta với Kì Dương có nghĩa là Cọc Dương, Bộ Phận Sinh Dục Nam, Núi Trụ Thế Gian, Trục Thế Giới, Trụ Chống Trời, biểu tượng cho cõi đất Trung Thế này mà giải thích được truyền thuyết về thần Shiva của Ấn giáo và thần Đất Keb của Ai Cập cổ.

3. Kì Dương là Người Dương, Người Nam, Người Mặt Trời.

Với biến âm với Kì = Kẻ và Kẻ có một nghĩa là Người như kẻ nào đó = người nào đó, như Kẻ Sặt… thì Kì Dương là Người Dương, NgườiNam, Người Mặt Trời.

Điểm này được xác thực bởi sự kiện là Kì Dương là Cọc Dương, bộ phận sinh dục nam sinh ra con ngườiNamđầu tiên như đã nói ở trên.

Xác thực bởi truyền thuyết và cổ sử Việt, Kì Dương Vương là vua tổ đầu tiên của nước Xích Quỉ, Người Mặt Trời của chúng ta và cũng là Người đầu tiên của nhân loại.

Xác thực bởi cổ ngữ Đông Nam Á Keh, là con hươu và cũng là con người đầu tiên của nhân loại (James Churchward) như đã thấy qua hình ở trên.

Lưu Ý

 Từ Kẻ chỉ người dương, người nam, người mặt trời, theo duy dương nhìn tổng quát chỉ chung loài người giống như Anh ngữ man là người nam cũng chỉ chung con người.

Nhìn dưới góc cạnh tộc người thì Kẻ chỉ người thuộc tộc nọc, tộc ngành mặt trời thái dương, tộc người ở trên vùng cao, vùng núi, tộc hươu sừng, tộc thuộc đại tộc Kì Dương Vương.  

4. Kì Dương là Mặt Trời Thiên Đỉnh trên đỉnh Trục Thế Giới.

Kì là Kẻ là Nọc, như đã biết Nọc có một nghĩa là mặt trời (Việt Là Gì?). Kì Dương là Cọc Dương là Mặt Trời thái dương. Với nghĩa này, Kì Dương là Mặt Trời Thiên Đỉnh trên đỉnh Trục Thế Giới, chính ngọ, giữa trưa tức vua mặt trời nóng bỏng, chói chang nhất trong ngày.

Ta đã thấy ở trống Kì Việt Phú Xuyên, trên mặt trống tất cả các yếu tố đều mang dương tính và trống có một nghĩa là đực, dương nên ăn khớp trăm phần trăm với khuôn mặt trời thiên đỉnh nóng bỏng chói chang rạng ngời nhất của Kì Dương Vương.

5. Kì Dương là con Cọc, con Hươu Cọc, Con Mang Gạc, Hươu Gạc, Hươu Sừng, Hươu Đực.

Kì = Kẻ với Kẻ có một nghĩa là là con Cọc, con Hươu Sừng, Mang Gạc.

Về ngôn ngữ học ta đã biết hươu, hưu biến âm với hèo (roi, vọt, nọc). Con hươu là con hèo con nọc, con cọc. Ta cũng đã biết con Cọc là con hươu sừng qua trò chơi Bầu Cua Cá Cọc (thường gọi lầm là Bầu Cua Cá Cọp, trên bàn Bầu cua không có con cọp mà chỉ có con Cọc hươu sừng) (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc).

Theo h = k (hết = kết), hèo = kèo và ta có từ đôi kì kèo nghĩa là kì = kèo = hèo = hươu. Con hươu là con Kì, con Kèo, con Cọc.

Ta cũng thấy kì, kẻ biến âm với gốc Hy Lạp ngữ kera-, sừng, với Pháp ngữ cerf, con hươu.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử, như đã biết Việt Kì Dương Vương  có Kì Dương có một nghĩa là con Hươu Đực (dương với nghĩa là đực) hay Hươu Mặt Trời (dương với nghĩa là mặt trời), là vua đầu tiên của nước Xích Quỉ. Kì Dương Vương là Hươu Đực, Hươu Gạc Mặt Trời vì thế mới có nhũ danh là Lộc Tục (Hươu Đục, Hươu Đực). Kiểm chứng với con Hươu Keh của Đông Á cổ có một khuôn mặt là con người đầu tiên của nhân loại ta thấy trăm phần trăm Keh chính là Việt ngữ Kẻ (cọc, người, hươu), chính là Kì Dương Vương với khuôn mặt hươu cọc, hươu sừng, mang gạc, hươu mặt trời, con người đầu tiên của Xích Quỉ, của nhân loại.

Như thế trăm phần trăm mang gạc hươu sửng cervulus muntjac là thú biểu, là thú chủ của Kì Dương Vương. Kì Dương Vương là vua mặt trời thiên đỉnh ở trên đỉnh Núi Trụ Thế Gian, Trung Thế, vị vua đầu tiên của nước Xích Quỉ, Kẻ Đỏ, Người Mặt Trời Bách Việt.

Để cho chắc chắn thêm, ta kiểm chứng với Mã Lai ngữ, một thứ ngôn ngữ ruột thịt với Việt ngữ và vả lại ở Mã Lai-Nam Dương còn có con cháu của những tộc Bộc và Giao Việt, Giao nhân giỏi về sông biển đã đi khắp năm châu bốn biển. Ta cũng thấy họ gọi Hươu sủa barking deer này là Munt’jac, Munt’jak, Mun jak tức Muông gạc, Mang gạc như chúng ta.  Eureka! Tôi đã tìm ra! Hươu sủa muntjac Mã Lai còn có tên là kijang, kijangjan.

Từ kijang là muntjac trong English-Malay Dictionary của R.O. Winstedt, 1920.

 Eureka! Kijang chính là Kì Dương! Kijang Hươu Sủa, barking deer chính là hươu Kì Dương, mang gạc.

Như thế trăm phần trăm Kì Dương Vương có thú biểu bốn chân là con hươu sủa barking deer, mang gạc cervulus muntjac, kijang, Kì Dương. Con thú trên trống Phú Xuyên chính là con hươu này.

Ta đã thấy trống Kì Việt Phú Xuyên có một khuôn mặt chủ là con mang gạc kì dương là trống có một khuôn mặt chủ là Kì Dương Vương.

Kiểm chứng với truyền thuyết và cổ sử Việt ta cũng thấy rõ Mẹ Tổ Âu Cơ, Nàng Lửa, thái dương thần nữ của chúng ta dẫn 50 con lên núi, đất dương thuộc ngành Lửa (Viêm Đế-Đế Minh)-Kì Dương Vương nên có một thú biểu thế gian là con nai sao (nai là con cái).

Điểm này thấy rõ qua truyền thuyết Mường, bà Ngu Cơ (Âu Cơ) có biểu tượng là con hươu sao. Khi tế lễ bao giờ cũng có lá cờ nai sao biểu tượng cho Ngu Cơ và cờ cá chép biểu tượng cho Lạc Long Quân (J. Cuisinier, Les Mường).

Cờ hươu sao biểu tượng của Ngu Cơ của người Mường (nguồn: J. Cuisinier, Les Mường).

Trong Lĩnh Nam Chích Quái, có truyền thuyết nói về một vị Thần Núi Tản Viên có tên là Kỳ Mang, Kỳ Mạng cứu con rắn nước Tiểu Long Hầu con của Lạc Long Quân. Kỳ Mang là Mang Kì, Mang Kẻ, Mang Gạc chính là Mang Gạc Muntjac Hươu Sủa. Mang Sừng cũng có thể hiểu là con Muông Sừng nghĩa là nói chung hươu, dê (Ai Cập cổ lấy dê núi làm vật biểu)… vì thế mà trong truyền thuyết nói rằng Kỳ Mang được dê núi nuôi. Núi Tản Viên có một khuôn mặt là núi Trụ Thế Gian, Núi Trục Thế Giới nên còn gọi là Tam Từng ứng với Tam Thế. Trong Cây Tam Thế (Cây Vũ Trụ, Cây Đời Sống) có Trục Thế Giới. Núi Tản Viên cũng còn gọi là núi Ba Vì biểu tượng của ba vị vương Kì Dương Vương, Lạc Long Quân, Hùng vương. Thần Kỳ Mang là khuôn mặt ứng với Kì Dương Vương,   khuôn mặt Lạc Long Quân thấy qua Tiểu Long Hầu và theo truyền thuyết Mường Tản Viên có một khuôn mặt Hùng Vương.

Tác giả Bình Nguyên Lộc cho biết “Theo sử Tầu nhà Hạ chia nước ra làm 9 châu trong đó có đất Kinh Việt gọi là châu Kinh (cũng còn gọi là châu Kì). Ở phía đông châu Kinh, đất cũng do dân Việt làm chủ, người Trung Hoa gọi là Dương Việt và cho làm thành Châu Dương”, (Nguồn Gốc Mã Lai Củaa Dân Tộc Việt Nam tr.147). Ở chỗ khác ông viết tiếp : «Nhưng khu tứ giác đó, tức bờ Tây sông Hán là đất của ai? Chủ đất ở đó thuộc một chủng mà họ gọi là Việt, lần đầu tiên trong sử của họ. Ở đó có một cái núi mà dân di cư đặt tên là núi Kinh…

Tỉnh Hồ Bắc nằm trong khu tứ giác đó, là đất của chủng Việt”.

Như thế Núi Kinh, Núi Kì, Châu Kì, Kì Việt, Dương Việt thuộc Bách Việt tất phải liên hệ với Kì Dương Vương.

Xin nhắc lại những địa danh trong cổ sử Việt và Trung Hoa ứng với  tứ tượng là Châu Dương (Châu Mặt Trời ứng với Đế Minh, Châu Kì ứng với Kì Dương Vương, Châu Hoan ứng với Lạc Long Quân và Châu Phong ứng với Hùng Vương) (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).   

Từ Việt trong hai chữ Việt Nam hiện nay viết với bộ tẩu là “chậy”. Con hươu là con  thú bốn chân chạy trên mặt đất biểu tượng cho đất dương, dương trần. Con hươu biểu tượng cho đất dương, đốt khô cũng thấy rất rõ qua từ Hán Việt trần (bụi) có chữ lộc (hươu). Con hươu chậy trên đất khô làm bụi tung lên gọi là trần. Rõ ràng con hưou biểu tượng cho cõi dương trần, trần thế.

Chữ tẩu là chạy liên hệ mật thiết với con hươu là loài có nét đặc thù là chỉ có cách chậy để thoát thân (tam thập lục kế, tẩu vi thượng sách). Ta cũng thấy rõ tính chậy này qua câu ví của người Việt “chỉ đường cho HƯƠU CHẠY”. Vậy con vật chậy có (bộ) búa, qua, vật nhọn (sừng) trong chữ Việt viết với bộ tẩu mang một hình bóng con hươu. Việt viết với bộ tẩu phải hiểu là Việt Hươu, Việt Lộc Tục (Hươu Đực, Hươu Dương, Hươu Mặt Trời). VIỆT viết với bộ tẩu CHẠY là VIỆT HƯƠU, là VIỆT KÌ DƯƠNG VƯƠNG. Kì Dương Vương là con người đầu tiên và là vị vua đầu tiên của nước Xích Quỉ của chúng ta ở cõi đất thế gian. Chữ Việt Nam hiện nay viết với bộ tẩu là lấy theo truyền thuyết Kì Dương Vương này. Ngoài ra ta cũng có câu ví nói chuyện con tườu con vượn tức nói hươu nói vượn. Ta có con tườu = con hươu. Tườu biến âm với tiều, tìu, dìu (rìu). Ông tiều phu là ông thợ rìu chặt cây trong rừng. Như vậy con tườu, con tiều là tìu, con dìu, con rìu, con Việt. Rõ như “con cua tám cẳng hai càng một mai hai mắt rõ ràng con cua” Việt có một khuôn mặt là rìu là Hươu.

Gần cận chúng ta, lịch sử của vương triều Lana Lúa Nước ở phía bắc Thái Lan còn ghi chép lại việc vua Mengrai vào thế kỷ 13 khi tuần du đến một vùng rừng núi phía nam, nằm mơ thấy con hươu sủa barking deer và năm con chuột bạch nên đã dời đô từ Chiang Rai về một chỗ mới đặt tên là Chiang Mai (Chiềng Mới, Giềng Mới) lập nên triều Đại Lúa Nước Lana huy hoàng vang bóng một thời, ngày nay còn lại những di tích tường thành. Nằm mơ thấy hươu sủa là điềm lành, được thánh thần phù trợ, đất có hươu sủa xuất hiện là đất lành. Điều này cho thấy rõ hươu sủa là con thú chủ thần thoại hóa thành con nghê, con kì trong cặp kì lân. Người Trung Hoa tin là khi thấy kì lân xuất hiện là có thánh nhân, minh quân ra đời (xem dưới). Vương quốc Lana Lúa Nước ruột thịt với với Lạc Việt Lạc Long Quân con của Kì Dương Vương.

Ngôn ngữ của Lạc quốc Lana Lúa Nước rất ruột thịt với ngôn ngữ cổ Mường Việt, ví dụ tên thủ đô Chiang Mai chính là Việt ngữ Chiềng Mới, Giềng Mới. Giềng là xóm, xóm giềng. Tên nước Lana người Tây phương dịch là “country of rice field” (xứ của đồng lúa). Lana là Cổ Ngữ Mường Việt, La là ló: lúa và na là nà, ruộng lúa nước, nà liên hệ với nã, nác, nước. Lana là xứ trồng Lúa Nước. Họ liên hệ với Lạc Việt, Lạc dân có lạc điền. Lana là một tộc của dân Lạc làm ruộng nước. Lana liên hệ với Lạc Việt nên cũng thờ Hươu Sủa Kinh Dương Vương.

Tóm lại hươu sừng, hươu cọc, hươu đực, hươu mặt trời là vật tổ thú bốn chân của chúng ta ở cõi giữa Trung Thế. Hiển nhiên vật tổ Hươu Việt này cũng mang trọn ý nghĩa trong Vũ Trụ Tạo Sinh Vũ Trụ giáo.

Nhìn dưới diện Tam Thế, Kì Dương Vương với nghĩa là vua Cọc Dương, Cọc Lửa, Trục Thế Giới dương có đủ ba khuôn mặt nọc lửa dương ở Tam Thế ứng với ba phần của Trục Thế Giới dương.

Ở Thượng Thế Cọc Lửa Kì Dương đội lốt Cọc Nóng Viêm Đế và với khuôn mặt bộ phận sinh dục nam mang khuôn mặt sinh tạo, Tạo Hóa. Ở Trung Thế, Cọc Dương mang khuôn mặt Núi Trụ Thế Gian, Núi Trụ Chống Trời, Trụ Trời. Kì Dương Vương tương đương với thần đất Keb của Ai Cập cổ và Shiva của Ấn-Độ.

Kì Dương Vương, Shiva, Keb có khuôn mặt là thần Cọc dương bộ phận sinh dục nam vì thế là vị thần tổ loài người, là thần sinh tạo ra loài người và là con người đầu tiên của ngành nọc lửa (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Ở Hạ Thế cõi Nước là khuôn mặt Cọc Lửa Búa Thiên Lôi của khuôn mặt thần sấm Lạc Long Quân.

Chứng tích thờ vật tổ hươu còn thấy nhiều trong xã hội ta ngày nay. Nhiều làng ở vùng đất tổ miền Bắc trước đây còn thờ hươu. Như đã nói ở trên, vật tổ chính của người Mường là con nai sao biểu tượng cho bà Ngu Cơ (và con cá chép biểu tượng cho Lạc Long Quân).

 Linh Thú Nghê hay Kì.

Mang gạc thần thoại hóa thành con Kì trong cặp kì lân. Nghê là một linh vật đa thú (chimera) có nghĩa là con thú chủ (host) được ghép thêm nhiều phần tượng trưng của nhiều con thú vật tổ của các chi tộc khác (ghép ngoại chủng, xenotransplation) của ngành nọc lửa thế gian. Con thú chủ của Nghê là con hươu sủa, mang gạc muntjac bổn mạng của Kì Dương Vương (xem chương Linh Vật trong Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Nghê và mang gạc munjac có những điểm đặc thù giống nhau là sừng ngắn chỉ chia ra hai mấu nhọn, răng biến thành nanh nhọn, mũi to (mũi kì lân), nhỏ con, thấp, chân ngắn. Hai điểm mấu chốt là cái sừng ngắn chỉ chia hai nhánh và cái răng nanh lòi ra như răng lợn lòi. Trên người con Nghê Kì cũng có nhiều hay ít nhất 4 phần thân thể khác của các thú biểu ứng với tứ tượng của ngành nọc lửa thế gian. Sừng hai mấu biểu tượng cho Lửa Đất  Dương Kì Dương Vương Li, các ngọn lửa bay trên người và chung quanh người biểu tượng cho Lửa vũ trụ Đế Minh Càn, đuôi trâu, mình có vẩy thuộc về Nước dương Lạc Long quân Chấn, tai chó thuộc về Gió dương Hùng vương Đoài…

Hươu sủa muntjac rất hiền, rất nhát, thường đi từng cặp lẻ loi, lông lẫn vào cỏ cây nên hiếm thấy, những điều này ăn khớp với truyền thuyết về Kì-lân có những đặc điểm là “Đi rất êm ái, không dẫm nát cỏ dưới chân, sống bằng cây cỏ, không ăn động vật…. không làm hại người lương thiện… và thánh nhân mới gặp được nó. Mỗi lần thấy nó xuất hiện là có minh quân ra đời, là điềm lành, được thánh thần phù trợ, đất có hươu sủa xuất hiện là đất lành…” (như đã nói ở trên Vua Lana Thái nằm mơ thấy hươu sủa nên dời đô về Chiang Mai. Điều này cho thấy hươu sủa chính là con Kì trong cặp kì lân) (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Ở đây cũng cần nhấn mạnh một điều là hươu sủa, mang gạc là con thú chủ (host)của linh thú nghê hay kì chỉ sống ở địa bàn Đông Nam Á và Nam Đảo không có ở vùng phía bắc Trung Hoa. Điểm này và các điều ta thấy về hươu sủa trong truyền thuyết và cổ sử Việt nhất là con hươu sủa trong cổ sử của Lana Thái liên hệ với Lạc Việt  xác thực linh vật Kì (lân) là gốc của Bách Việt.

Tóm lại Kì Dương với nghĩa Cọc Dương, Nọc Đực, Bộ Phận Sinh Dục Nam, Núi Trụ Thế Gian, Trụ Chống Trời, Người Mặt Trời, Thần Tổ Nam của loài người, Mặt Trời Thiên Đỉnh, Nọc Việt, con Cọc, Hươu Sừng, Mang Gạc, Hươu Mặt Trời, Hươu Việt liên hệ với thần Shiva của Ấn giáo và thần Đất Keb của Ai Cập cổ.

Con hươu sủa, mang gạc là thú biểu của Kì Dương Vương, Vua Nọc Việt thế gian, Vua Mặt Trời Việt thiên đỉnh rạng người, của Người Việt Mặt Trời Xích Quỉ của nhánh Nọc Việt thái dương của họ Hồng Bàng Mặt Trời thế gian của ngành Mặt Trời Viêm Đế.

Vậy ta thấy rất rõ hươu nai ở vành số 8 trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I là vật tổ bốn chân biểu tượng cho cho cõi đất thế gian mang tính chủ của chủng Người Mặt Trời thái dương có trang phục đầu hình chim có góc cạnh.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt hươu nai này là vật tổ của ViệtNamnói riêng và của Bách Việt nói chung tức của Đại Tộc Việt Người Mặt Trời thái dương.

Ta thấy rõ sử đồng của đại tộc Đông Sơn ăn khớp trăm phần trăm với sử miệng và sử sách ViệtNam.

Kết Luận

.Vành chim thú số 8 có những con chim bay là những con chim nông và các con thú là hươu nai mang ý nghĩa biểu tượng trọn vẹn của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo.

.Vì là loài chim nước, các con chim nông bay này là chim biểu của phía nòng âm Khôn, trong khi hươu nai có sừng là thú biểu của phía nọc dương Càn.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt chim nông là chim biểu của phía Thần Nông và hươu nai là thú biểu phía Viêm Đế.

.Các con chim nông đang bay biểu tượng cho cõi thượng thế, cõi trời thế gian mang tính sinh tạo, tạo hóa ăn khớp với truyền thuyết chim nông, chim nang, chim Trứng Vũ Trụ. Trong khi các hươu nai là thú bốn chân mang tính chủ biểu tượng cho cõi giữa Trung Thế. Chim nông là chim nước trong khi hươu sừng mang tính lửa đất. Ở đây chim thú cùng một vành nên có một khuôn mặt lưỡng hợp nòng nọc, âm dương nước-lửa, Trời âm đất dương.

Nhìn dưới diện lưỡng hợp đại vũ trụ thì khuôn mặt chim nông thái âm (nhóm 8 con) mang tính chủ lưỡng hợp với khuôn mặt nai cái (10 con) thái dương mang tính liệt. Nhìn dưới diện lưỡng hợp tiểu vũ trụ thì khuôn mặt thiếu dương (10 con hươu đực) lưỡng hợp với khuôn mặt chim nông thiếu âm (nhóm 6 con).

Như thế ta có lưỡng hợp đại vũ trụ với khuôn mặt nòng âm mang tính chủ và lưỡng hợp tiểu vũ trụ với khuôn mặt nọc dương mang tính chủ.

.Chim chia ra làm hai nhóm. Nhóm 6 con ứng với Khôn dương thiếu âm và nhóm 8 con ứng với Khôn âm thái âm.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, chim nông là chim biểu của ngành nòng Khôn Thần Nông và chia ra hai nhóm 6 con nông Khôn dương Nông Đoài và nhóm 8 con nông Khôn âm Thần Chấn. Chim nông biểu tượng cho Thần Nông chia ra hai nhóm Thần và Nông.

Trong khi hươu nai nhóm 10 con ở nhóm 7 người nhẩy múa ở bán viên dương có khuôn mặt chủ lửa đất Li ứng với Đế và nhóm 10 ở nhóm 8 người nhẩy múa ở bán viên âm có một khuôn mặt là lửa trời Càn âm. Hươu nai biểu tượng cho Viêm Đế và chia ra hai nhóm Viêm và Đế.

Ở đây là trống thế gian ta có lưỡng hợp Nông Đoài và Hươu Li ứng với Nông của Thần Nông với Đế của Viêm Đế, tức lưỡng hợp Đế-Nông.

.Ở đây ta thấy lưỡng nghi Thần Nông chim nông và Viêm Đế hươu đã phân ra làm bốn nhóm ở dạng tứ tượng là Thần, Nông, Viêm và Đế. Điểm này cho thấy vật tổ ở đây có một khuôn mặt chính là dạng  biểu tượng cho sinh tạo ở cõi thế gian ứng với tứ tượng.

Ta cũng thấy rõ khuôn  mặt sinh tạo thế gian này qua sự kiện là lửa trời thế gian tức ánh sáng mặt trời ứng với Đế Minh (Đế Ánh Sáng) Càn ở cõi trời sinh tạo thế gian được biểu tượng bằng một con thú bốn chân sống trên mặt đất là con mang trời có sừng 3 mấu nhọn Càn thay vì phải là một loài chim cắt hay trĩ lửa biểu tượng cho lửa trời thế gian hay ánh sáng. Khuôn mặt thế gian này ăn khớp trăm phần trăm với tộc Người Mặt Trời Thái Dương thế gian và với khuôn mặt thế gian của trống có mặt trời 14 nọc tia sáng.

Khuôn mặt thế gian này ăn khớp trăm phần trăm với tộc Người Mặt Trời Thái Dương thế gian và với khuôn mặt thế gian của trống có mặt trời 14 nọc tia sáng.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt Viêm Đế Thần Nông tách ra thành Viêm, Đế, Thần và Nông  ứng với 4 vị vua tổ của chứng ta là Đế Minh (ứng với Viêm),  Kì Dương Vương (ứng với Đế), Lạc Long Quân (ứng với Thần) và Hùng Vương (ứng với Nông). Với khuôn mặt mang trời Càn Đế Minh có tính phụ, tính liệt, mang tính biểu tượng sinh tạo thì vành vật tổ này là vật tổ của Họ Mặt Trời, Họ Đỏ, Họ Hồng Bàng thế gian của Kẻ Đỏ Xích Quỉ, Người Việt Mặt Trời Thái Dương kể từ Kì Dương Vương trở xuống đúng như truyền thuyết và cổ sử Việt đã nói.

Như thế tóm lại ở cõi tạo hóa, chim nông biểu tượng cho Thần Nông, hươu biểu tượng cho Viêm Đế . Ở cõi thế gian bốn nhóm chim nông và hươu biểu tượng cho bốn vị vua tổ của ViệtNam.

.Chim nông là loài chim nước là chim tổ tối cao về ngành nòng âm của Bách Việt sống ở vùng sông biển, tuyệt nhiên Trung Hoa không có. Trống đồng âm dương Ngọc Lũ I có hình chim tổ nông nước là trống biểu của Bách Việt nói chung và của Việt Nam nói riêng.

(Còn nữa).


Older Posts »

Theme: Silver is the New Black. Blog at WordPress.com.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.