Bac Si Nguyen Xuan Quang’s Blog

April 10, 2009

DẦN LÀ DẰNG LÀ VẰN…

Filed under: Dần Là Dằng Là Vằn — Quang Nguyen @ 9:22 pm

 

TÊN NÔM NA MÁCH QUÉ CỦA 12

                  CON GIÁP.

                    Dần-Dằng-Rằng-Vằn.

                                                              Nguyễn Xuân Quang

Tác giả Nguyễn Cung Thông qua loạt bài viết về Nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp đã chứng minh hết sức cặn kẽ, hết sức thâm cứu là tên các con giáp không phải có gốc từ tiếng Hán, mà là tiếng nôm hay thuần Việt.

Tôi cũng đồng ý là tên của 12 con giáp có nguồn gốc Việt Nam thì tên 12 con giáp này phải có nghĩa thuần Việt nghĩa là phải hiểu theo kiểu nôm na mách qué của những người Việt dân dã chứ không phải hiểu theo nghĩa bác học. Ta thấy rõ tên 12 con giáp là những từ bác học, những từ có khuynh hướng thường hay vay mượn từ những ngôn ngữ khác do giao lưu văn hóa. Cái gì ruột thịt của một dân tộc nào đó thì phải thấm nhuần vào tâm hồn và thể xác, vào đời sống hàng ngày của cả nước, cả làng, cả ổ của dân tộc đó. Tên 12 con giáp nếu có nguồn gốc Việt Nam thì dân dã Việt Nam phải dùng nó hàng ngày với nghĩa thuần Việt. Tôi cũng đã chứng minh những từ dùng trong Dịch lý như tên tám quẻ Càn, Khôn, Li, Khảm, Chấn, Cấn, Đoài, Tốn là thuần Việt, có nghĩa nôm na mách qué để chứng minh Dịch không phải là có nguồn gốc từ Trung Hoa, mà Dịch có nguồn gốc từ Đại Tộc Việt, người Việt cổ ít ra cũng có một thứ Dịch riêng mang sắc thái Việt gọi là Dịch nòng nọc. Dịch này có một hình thức dân dã được diễn tả qua trò chơi Bầu Cua Cá Cọc mà tôi gọi là Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt và Tiếng Việt Huyền Diệu, Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc). Tác giả Richard Wilhem cũng cho rằng Trung Hoa không phải là xuất xứ của Dịch vì tên tám quẻ trong bát quái không được dùng trong ngôn ngữ dân gian Trung Hoa (The I Ching or Book of Ching, New York).

Cũng cần nói thêm là những từ Nôm ở đây chỉ dùng với nghĩa là từ Nam, ngôn ngữ của người Nam, chứ không phải của người phương Bắc Trung Hoa, không phải là chữ Nôm, một thứ chữ viết có nguồn gốc từ chữ Hán. Phải hiểu rõ là tiếng Nôm là biến âm của Nam là tiếng nói của dân gian Việt Nam, từ nôm hay thuần Việt ở đây phải hiểu là những từ không phải là Hán Việt. Từ nôm hay thuần Việt có thể có gốc hay liên hệ với tất cả các ngôn ngữ khác của loài người (ngoại trừ Trung Hoa). Ta cũng nên biết thêm nghĩa cụm từ nôm na mách qué.

Qua từ láy nôm na ta có nôm = na. Gốc chữ (root) na- có nghĩa là nước, âm, nữ… thuộc nòng Khôn (ngược với nọc Càn) ví dụ na là lưới như quả na là quả vỏ có hình mắt lưới mà Trung Nam gọi là măng cầu, đúng ra phải nói là mạng cầu (trái hình cầu tròn có vỏ hình mạng lưới), na là lưới bắt cá liên hệ với nước; là ruộng nước, (nam hóa thành ) là nước ngọt (fresh water)… ngay cả từ nôm cũng có một nghĩa liên hệ với nước như qua từ nôm của miền Nam mà miền Bắc gọi là nơm chỉ một dụng cụ đánh cá. Nôm, nơm là dụng cụ đánh cá nên liên hệ với nước. Tiếng Nôm na là tiếng phương Nam của vùng Nước dòng Nòng Khôn vũ trụ của Hùng Vương sinh ra từ bọc Trứng Vũ Trụ dòng Mặt Trời Nước Lạc Long Quân. Còn mách qué có máchnói, bảo như mách u, mách mẹ, mách bảo, mách lẻo, thóc mách… và qué có gốc que (cọc). Theo qui luật của từ ghép thấy qua hai từ ghép gà qué ta có thành tố ghép qué phải có cùng gốc nghĩa với gà, = qué. Qué biến âm với que là nọc, cọc, chỉ dương tính, bộ phận sinh dục nam. Con qué là con que, con ke. Ke chỉ bộ phận sinh dục nam (Alexandre de Rhode, Từ Điển Việt-Bồ-La). Con qué, con que, con cọc (Quân tử có thương thì đóng cọc, Xin đừng mân mó nhựa ra tay, hay Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không, Hồ Xuân Hương) nói chung là vật nhọn biểu tượng cho bộ phận sinh dục phái nam. Gà trống biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam. Anh ngữ cock, Pháp ngữ coq, gà trống là con cọc, con cặc. Từ cock, coq chính là Việt ngữ cọc, cặc vì thế cock cũng có nghĩa là bộ phận sinh dục nam.

Tóm lại quéque, cọc, bộ phận sinh dục nam (Tiếng Việt Huyền Diệu). Mách qué là nói chuyện que, chuyện cọc, chuyện cược, chuyện c. . .c, chuyện nọc, chuyện đọc (đọc ong = nọc ong), chuyện đực, chuyện đục (dùi đục, chisel) (đục cũng có nghĩa là làm tình của phái nam, đục bỏ chữ c của từ đục đi thì đục trở thành đụ). Mách qué là nói que, nói cọc, nói đục, nói tục (d=t). Con người (đàn ông hay đàn bà) ngay từ khi mới từ loài đười biến thành người có ngôn ngữ, vì bản năng truyền giống, đã nhận biết ra chiếc cọc và cái túi, cái bao rồi nên đã biết nói tục, nói đục, đã biết gọi tên các bộ phận truyền giống vì vậy những từ chỉ bộ phận sinh dục (nói rộng ra là những từ chỉ thân thể con người) là những từ căn bản cân bằng bền (basic stable words), đây chính là những từ gốc của một ngôn ngữ không phải là những từ vay mượn từ ngôn ngữ khác. Con người không phải chờ tiếp xúc với một ngôn ngữ khác mới vay mượn của ngôn ngữ đó để gọi tên bộ phận sinh dục của mình. Nói tục, nói nôm na mách qué của dân dã Việt Nam là nói tiếng gốc cội của người Việt, là tiếng nôm, tiếng phương Nam không phải là tiếng thánh hiền, tiếng Hán Việt của phương Bắc.

Trên khoahoc.net số ngày 3 tháng 01, 2008, tác giả Nguyễn Cung Thông có bài viết Nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp (phần 9): Dần-kính-kễnh. Để cho được đồng bộ, cho ăn khớp, tôi xin khởi đầu bằng con giáp Dần. Như đã nói, nếu Dần có nguồn gốc Việt Nam thì Dần phải là một từ nôm na mách qué. Theo tác giả Nguyễn Cung Thông Dần là biến âm của từ nôm kính, kễnh theo biến âm d=k. Biến âm d=v= k này cũng thấy trong Việt ngữ như dênh = vênh = kênh. Anh nhìn theo một đường hướng biến âm theo d=k, tôi nhìn theo một đường hướng biến âm khác là d=d=v, Dần = dằng = vằn.

Trong Việt ngữ có nhiều từ gọi tên con cọp. Những từ này nhìn chung giống như tên các loài vật khác được gọi dựa theo một cá tính đặc thù của con vật như về hình dáng bên ngoài ví dụ như chim nông là loài chim nước dưới mỏ có cái túi, cái nang rất đặc thù để xúc cá (nông biến âm với nang như nôm với nam); như về cách bắt mồi ví dụ con gấu là con cấu, con bấu, con bear là con paw, con bấu; như về cách sống… và cũng tùy theo địa phương (với tên theo các phương ngữ).

-Dần:

Trước hết ta thấy ngay Dần là một từ nôm na. Dần biến âm với dằng (rằng) có nghĩa là có sọc, có vằn như khăn rằng (xin mở một dấu ngoặc ở đây, ngày nay ta học chữ quốc ngữ nên phân biệt dằng với rằng, người cổ Việt không học chữ quốc ngữ nên không phân biệt dằng và rằng). Trước đây trong quân đội Miền Nam Việt Nam có binh chủng Biệt Động Quân có biệt danh là “Cọp Ba Đầu Rằng”. Theo biến âm d=v (người Nam phát âm d = người Bắc âm v) như đi dề = đi về, ta có dằng = vằn như ngựa dằng = ngựa vằn. Như thế Dần = dằng = vằn. Con cọp là con vằn, con dằng, con Dần vì người có sọc, có những đường vằn. Đây là một cách gọi tên loài vật dựa vào những nét đặc thù của hình dáng bên ngoài.

Con cọp gọi tên dằng theo những đường vằn ở da cũng thấy qua việc dùng từ cọp như một tính từ với nghĩa là vằn như con tôm vằn gọi là tôm cọp tiger prawn, con chuồn chuồn người có vằn đen gọi là con chuồn chuồn cọp. Con cọp con vằn còn thấy qua truyện cổ tích giải thích “tại sao con cọp có vằn trên người”. Con cọp thắc mắc thấy con trâu to lớn hơn người, bị người bắt phải làm việc cực nhọc mà nó vẫn ngoan ngoãn nghe lời. Một hôm nghỉ trưa nhân lúc vắng mặt người, con cọp thay vì ăn thịt trâu, nó chỉ hỏi con trâu tại sao lại như vậy? Con trâu mới bảo rằng con người tuy nhỏ nhưng có trí khôn lớn. Cọp bèn đến hỏi người để xem trí khôn ra sao. Người bảo “trí khôn tao để ở nhà”, cọp bảo “ông về lấy đi”. Người trả lời “tôi về lấy, ở đây ông ăn thịt trâu của tôi thì sao, nếu muốn, để tôi trói ông lại” Cọp bằng lòng. Trói xong, người lấy rơm đốt cọp và nói rằng “trí khôn tao đây”. Con cọp lúc trước lông không có vằn, bị đốt trong khi bị trói nên từ đó có những vằn trên da.

Con cọp gọi tên dằng theo các vằn trên da cũng còn có tên là tu như thấy qua hai câu đối:

Cái là tượng, tượng là voi, voi chầu cửa cái.

Tu là hổ, hổ là cọp, cọp bắt thầy tu.

Cái có một nghĩa là to, lớn (ngón cái, cửa cái) và tượng biến âm với tướng cũng có một nghĩa là to, lớn (to tướng, lớn tướng) như tấm thân bồ tượng (to tướng). Tại sao tu là hổ? Ta thấy tu biến âm với tua (dải, dây), tau là dây (tau nôi), thao là dải, dây (nón quai thao). Con tu là con tua, con tau, con thao, con dải, con vằn, con dằng, con Dần.

Đối chiếu với Ấn Âu ngữ ta cũng thấy Anh ngữ tiger, con cọp, hổ, Dần, theo t=d=đ, có ti- = /tai/ = dải, giải, đai, liên hệ với tie /tai/, dây cột, cà vạt và Pháp ngữ tigre có ti- = ty (Hán Việt), tơ, dây, dải. Con Dần là con vật có các vằn trên người trông như những giải dây.

-Cọp

Tên cọp được gọi theo những động tác đặc thù để kiếm ăn của nó. Con cọp còn gọi là con cụp (Alexandre de Rhodes, từ điển Việt Bồ La). Đọc thêm hơi vào từ cọp, cụp ta có cọp = chộp, cụp = chụp (ngược lại với h câm, chộp, chụp = cọp, cụp). Con cọp, con cụp là con chộp, con chụp (mồi). Có một hoán chuyển âm, một biến âm rất “lý thú” giữa Anh ngữ và Việt ngữ là Anh ngữ copy có nghĩa là sao, Xerox, chụp phó bản, xem bài, sao chép lại bài của người khác. Việt ngữ phiên âm copycóp-pi, cọp-pi, nói tắt lại là cóp, cọp (bài). Copy nghĩa chính là chụp làm phó bản và cóp, cọp, cóp-pi còn gọi là “quay phim” của người khác. “Quay phim” là “chụp” (hình). Rõ ràng qua biến âm này ta thấy cọp là chụp, chộp. Ta cũng có từ lóng “coi cọp”, là coi ké không trả tiền theo kiểu “chụp giựt”. Rõ ràng cọp, cụp là chộp, là chụp.

Đối chiếu với Anh ngữ, theo c=h, cọp = hop (nhẩy). Theo h=ch, hop = chộp, chồm; con cọp là con hop, con chồm (nhẩy), con chộp, chụp (mồi); chồm có nghĩa là nhẩy tới ruột thịt với Anh ngữ jump, chồm (nhẩy), chờm tới, chụp lấy, chụp giật, túm lấy vật gì, ăn cắp, xoáy của. Theo j=ch (java = chà và), jump = chồm, chờm, chụp. Với nghĩa chụp giựt, ăn cắp, jump biến âm với Việt ngữ chôm (của), chôm chĩa.

Ta cũng thấy tính đặc thù chộp, chụp, chồm, chôm mồi này qua con mèo cùng họ nhà cọp. Anh Mỹ cũng gọi cọp là cat.

Anh ngữ cat, Pháp ngữ chat, mèo ruột thịt với catch, cắp (như diều hâu cắp gà con), bắt (như bắt cá), chụp, chộp (vồ như chụp, chộp banh).

Con cọp, con cat (mèo, cọp) là con catch, con chụp, con chộp.

-Hùm

Việt ngữ còn có từ hùm gọi cọp:

Chốn ấy hang hùm chớ mó tay.

(Hồ Xuân Hương)

Râu hùm, hàm én, mày ngài.

(Kiều, Nguyễn Du).

Điểm lý thú là hai ví dụ này cho thấy hùm gắn bó với lông, râu. Ở trên ta thấy con cọp còn gọi là con tu là con tua, con dây, con dải. Hán Việt tu có một nghĩa là râu. Râu liên hệ với tua, dải, sợi như râu ria ba sợi. Rõ ràng cọp gắn bó với râu, lông.

Theo h=g (hồi = gồi), con hùm = con gầm. Tên hùm gọi tên theo tiếng gầm rống của nó. Mặt khác, theo h=c, con hùm = con cùm hàm nghĩa cầm, bắt giữ (giam cùm, giam cầm, gông cùm) = con cum cũng có nghĩa là cầm, bắt giữ như bị công an, cảnh sát, bị “cớm” cum. Thời Pháp thuộc sở công an gọi là sở Cẩm. Cẩm biến âm với cầm, cùm, cum, cớm.

Nghĩa sau này ăn khớp với nghĩa chộp bắt của từ cọp.

-Mâu

Đặc tính chộp, chụp của họ nhà mèo, cọp là do chân có móng sắc vì vậy mà mèo, cọp còn có tên gọi theo đặc tính mấu, bấu của móng sắc này. Con cọp còn có tên là con mâu như thấy qua từ “mũ đầu mâu”, Mã ngữ gọi con cọp là hari mau. Hari là trời, và mâu, maumấu, bấu (m=b), biến âm ruột thịt với mão, mẹo, mèo, liên hệ với Anh ngữ mau. Maul có nghĩa là bị loài có móng vuốt cấu xé như sư tử, cọp. Con cọp là con hari mau là con mấu trời, con mão, con mèo trời.

Con cọp là con mấu, con maul thuộc họ nhà mão, nhà mẹo, nhà mèo. Họ nhà mèo còn có báo, beo (theo b=m, báo = mão, beo = mèo). Con báo là con bấu. Loài báo, beo ở Mỹ châu puma có pu- = paw = bấu = báo.

-Kễnh

Ngoài ra con cọp còn có biệt danh là ông kễnh:

Mèo tha miếng thịt thì đòi,

Ông kễnh tha lợn thì coi chừng chừng.

Đây chính là điểm mà tác giả Nguyễn Cung Thông chứng minh Dần là biến âm của Kính, Kễnh. Kễnh là gì? Kễnh biến âm với kềnh là to, lớn ví dụ như to kềnh, kềnh càng, chấy kềnh. Kễnh biến âm với kình như kình ngư, loài cá lớn, chúa tể trong loài cá. Kễnh liên hệ với Anh ngữ king, vua, to, lớn như king size, cỡ lớn. Con cọp được tôn vinh là ông kễnh vì cọp là loài chúa tể sơn lâm. Ông kễnh, ông kình là ông king tương đương với Lion King của Âu Mỹ (vì Âu Mỹ chỉ có lion, không có kễnh, cọp.)

-Khái

phương ngữ Bắc Miền Trung gọi cọp là con khái, có câu nói Qua truông trỏ lọ cho khái [truông là vùng đất hoang rộng có nhiều cây (Việt Nam Tân Từ Điển, Thanh Nghị): Yêu em anh cũng muốn vô, Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Gianglọ là bộ phận sinh dục nam, (Alexandre de Rhodes, từ điển Việt Bồ La), lọ, lõ là dạng nam hóa của (cọc, như đóng nõ mít), mũi lõ là mũi đâm ra như cái nõ, cái cọc nhọn. Nõ là cọc là c…c như thấy qua từ ghép nghịch nghĩa nõ nường]. Với h câm, khái = cái. Cái có những nghĩa như lớn, cả (thợ cái = thợ cả), đứng đầu, chủ (nhà cái = nhà chủ), chúa (chủ = chúa như chủ nhật = chúa nhật), liên hệ với Đức ngữ kaiser, vua, chúa tể, hoàng đế (kaiser có kai- = cái). Như thế con khái là con cái, con Kaiser, con chúa tể sơn lâm.

Mặt khác khái cũng biến âm với khẩy, với gãi (kh=g như khảo = gạo, bánh khảo = bánh làm bằng bột gạo nếp). Gãi cũng liên hệ với móng vuốt. Nhưng ta thấy biến âm với nghĩa gãi này là một nghĩa đã lệch với nghĩa mấu, bấu, chộp bắt nên không ruột thịt bằng khái biến âm với cái.

-Hán Việt hổ

Hổ là tên Hán Việt, quan thoại là hủ. Theo biến âm h=s như hói = sói, hổ = sổ (xổ). Ta có từ đôi nhẩy sổ với sổ = nhẩy, sấn sổ (nhẩy sấn tới). Con hổ là con sổ, con nhẩy sổ tới, sấn sổ tới. Theo biến âm h=v (hớt = vớt), hổ = vồ. Như thế hổ cùng nghĩa chồm tới, nhẩy tới để chụp mồi, để vồ mồi như từ cọp.

Ta thấy có lẽ tên Dằng, tên Dần cổ nhất vì nhìn thấy con vật là thấy ngay những cái vằn đặc thù của nó đập ngay vào mắt và với đầu óc giản dị của người cổ chỉ cần gọi tên con vật theo những vằn đặc thù trên da của nó thấy trước mắt mà chẳng cần phải suy nghĩ gì. Vẽ con cọp mà trên người không có vằn không thể thành cọp được. Điểm này thấy rõ ở trên qua sự kiện là các vằn là một nét đặc thù của cọp nên tên cọp được dùng như một tính từ chỉ vằn và có cả một truyện cổ tích giải thích tại sao có các vằn này. Một điểm nữa là như trên ta đã thấy trong Ấn Âu ngữ con cọp cũng được gọi tên theo các vằn trên da như Anh ngữ tiger có ti- = /tai/ = dải, giải, đai, Pháp ngữ tigre có ti- = ty (Hán Việt), tơ, dây, dải. Như thế ta thấy Dần với biến âm Dằng mang tính chủ yếu.

Tên hùm nếu cho là do tiếng gầm của con cọp, thì tiếng gầm chỉ chung cho cả các loài mãnh thú khác như voi gầm, sư tử gầm, từ gầm không mang tính chuyên biệt cho cọp. Như thế hùm nghiêng nhiều về biến âm cùm, cầm, bắt giữ hơn, nghĩa là gần nghĩa với tên cọp.

Tên cọp, chộp, mấu chỉ đặc tính săn mồi của con vật có lẽ muộn hơn vì đòi hỏi một sự nhận xét cặn kẽ hơn, đòi hỏi đầu óc hơn. Hơn nữa ta thấy từ cọp không phổ quát trong ngôn ngữ Việt Nam. Từ cọp dùng nhiều ở Trung Nam còn từ hùm, hổ dùng nhiều ở miền Bắc.

Còn tên kễnh, tên kình, tên king, tên khái, tên Kaiser, tên chúa tể (sơn lâm) là một biệt danh, là một tên đã muộn sau những tên vằn, dần, tên chộp, chụp, cụp, cọp, tên mấu, tên mâu. Ý tưởng cọp là chúa tể sơn lâm chỉ có khi con người đã nhận ra con cọp là loài thú dũng mãnh nhất trong các loài thú và đã có quan niệm về thần linh. Khi con người nhìn thấy con hổ đầu tiên thì những vệt dằng, vằn trên con người đập ngay vào mắt chứ chưa nghĩ đến con vật là chúa tể sơn lâm.

Tác giả Nguyễn Cung Thông đã so sánh những tên gọi cọp với các ngôn ngữ Đông Nam Á rất tỉ mỉ, tôi xin nhìn về một hướng khác, xin so sánh với Ấn Âu ngữ. Các từ nôm gọi cọp đều liên hệ với Ấn Âu ngữ:

.Dần biến âm với dằng, dải, theo biến âm kiểu dằng dai, ta có dằng = dải. Dần, dằng, dải liên hệ với Anh ngữ stripe, dải, sọc, theo tr = d như tràn = dàn, ta có -tri- =/trai/ = dải.

.cọp, cụp, chộp, chụp, chồm biến âm với copy, hop, jump.

.hùm biến âm với cùm, cum (bắt giữ) liên hệ với Anh ngữ grab,

chộp, chụp, nắm, lấy, theo g=c và (b=m), g(r)ab = -cab = cầm, cùm, cum, theo g=ch, có -gab = chộp, chụp, liên hệ với Phạn ngữ garbh, grab.

.mâu liên hệ với Anh ngữ maul có nghĩa là bị loài có móng vuốt cấu xé như sư tử, cọp. Con mâu là con mấu, con maul.

.kễnh liên hệ với Anh ngữ king.

.khái liên hệ với Đức ngữ Kaiser.

.Tu liên hệ với tau, thao, tơ liên hệ với Anh ngữ tiger, Pháp ngữ tigre.

Ở đây ta thấy rõ những từ nôm, thuần Việt của cọp liên hệ với Ấn Âu ngữ. Tiếng Nôm và Ấn Âu ngữ có liên hệ với nhau qua Phạn ngữ. Như thế Học Anh ngữ bằng Việt ngữ và ngược lại là một điều hữu lý.

Như thế tên Dần có gốc từ từ nôm na mách qué dằng, rằng biến âm với vằn. Có người sẽ nêu nên thắc mắc là vằn biến âm với Hán Việt vân như thế Dần cũng có thể là của Hán ngữ vì Dần biến âm với Hán Việt vân.

Để trả lời thắc mắc này ta thấy trước hết Dần biến âm ruột thịt mẹ con theo d=d, chỉ biến âm theo dấu giọng chứ không theo vần (chữ) với từ nôm na mách qué dằng (cùng một vần d) và biến âm anh chị em với vằn, vần, Hán Việt vân (đã chuyển từ d qua v tức hai vần khác nhau). Như thế Dần ruột thịt theo kiểu mẹ con với Việt ngữ dằng hơn ruột thịt theo kiểu chị em với vằn, với Hán Việt vân. Thứ đến là tác giả Nguyễn Cung Thông đã chứng minh là từ Dần (yin) có nghĩa là cọp không có trong Hán ngữ như thế Hán Việt Dần là cọp không thể biến âm với Hán Việt vân trong Hán ngữ.

Tóm lại con Dần với các tên khác là cọp, cụp, hùm, mâu, khái, kễnh là những tên nôm na mách qué. Trong mười hai con giáp, con cọp gọi là con Dần. Con Dần là con dằng, con vằn. Như trên đã thấy tên Dần gọi theo những điều thấy ngay trước mắt dựa trên những vệt vằn đặc thù của con vật có lẽ là tên cổ nhất. Từ Dần là từ nôm na mách qué biến âm với dằng theo biến âm mẹ con cùng vần d với d chỉ thay đổi dấu giọng nên ruột thịt hơn Dần với các nghĩa khác đi theo những biến âm khác vần. Dần với biến âm Dằng mang tính chủ yếu.

Cộng chung với công cuộc khảo cứu của tác giả Nguyễn Cung Thông, Dần là từ nôm na mách qué biến âm mẹ con với Dằng của tôi cho thấy một điều chắc chắn là nguồn gốc của Dần không phải là của Trung Hoa.

Theme: Silver is the New Black. Blog at WordPress.com.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.