Bac Si Nguyen Xuan Quang’s Blog

February 10, 2012

XÓA NÓI NGỌNG N/L

Filed under: Xóa Ngọng N/L — Quang Nguyen @ 4:49 am

 

 “XÓA NGỌNG N/L”

 Nguyễn Xuân Quang

Gần đây các diễn đàn trên mạng ở trong nước và hải ngoại nổ ra những cuộc tranh luận về hiện tượng “Xóa Ngọng N/L” (“Nói Ngọng Nờ Ngắn và Lờ Dài”). Cuộc tranh luận này có nguồn gốc từ Việt Nam. Vào đầu tháng 11/2011, tại Việt Nam, Sở Giáo dục-Đào Tạo thành phố Hà Nội tiến hành chủ trương lên kế hoạch xóa nói «ngọng» L/N tại 13 huyện ngoại thành Hà Nội trong năm học 2011-2012. Hiện tượng “nói ngọng N/L” bây giờ tràn làn ở Việt Nam vì có hiện tượng nông thôn hóa thành thị và vì các vùng quê ngày trước giờ đã thống lĩnh các đô thị lớn, ngay cả thủ đô Hà Nội, vốn được coi là có tiếng nói thanh lịch, chuẩn nhất Việt Nam.

Vấn đề nói lẫn lộn âm N với L này tôi đã đề cập trong tác phẩm Tiếng Việt Huyền Diệu nhưng dưới cái nhìn nghiêng nhiều về ngôn ngữ học. Ở đây để góp mặt vào cuộc tranh luận hiện nay, tôi xin góp ý về vấn đề được cho là Ngọng N/L này dưới các diện khác nữa.

Những câu hỏi cần bàn tới là có phải thật sự là nói Ngọng N/L không?  Tại sao còn nhiều nơi ở ViệtNamvà trên thế giới nói lẫn lộn N với L? Tại sao thích nói âm N hơn âm L? Tại sao phải “xóa” nói ngọng?  Có nên xóa không? Xóa như thế nào? Dựa vào những tiêu chuẩn nào để xóa?

1. Nói Lẫn Lộn N/L hay Nói Ngọng L/N?

Thật vắn tắt, theo tôi dùng từ ngọng (N/L) không chỉnh vì:

-Ngọng hiểu theo nghĩa thông thường hiện nay là từ dùng để chỉ những trường hợp lẻ loi thấy ở khắp các nơi, các vùng không riêng rẽ ở một vùng nào cả. Ngọng thường hay áp dụng cho trẻ em và về phương diện y học, ngọng có thể là một chứng rối loạn về ngôn ngữ cần phải trị liệu (speech therapy). Ta có từ ngọng nghịu. Theo qui luật từ đôi, ta có ngọng ruột thịt với nghịu. Nghịu biến âm với nhịu (nói nhịu). Nói ngọng, nói nghịu, nói nhịu có thể có nguồn gốc bệnh lý.

Ở đây hiện tượng nói lẫn lộn giữa N/L thấy ở cả một vùng rộng lớn, mọi người người đều nói như vậy. Họ nói theo một thứ tập quán đặc thù của vùng đó. Trẻ em khi học nói, phát âm như vậy và được mọi người trong gia đình, làng xã chấp nhận vì chúng nói theo tiếng nói của mẹ, của “quê hương” các em. Các nhà ngữ học gọi đây là thổ ngữ (một vùng nhỏ ít người) hay phương ngữ (một vùng lớn nhiều người).

Nói lẫn lộn N/L không những thấy ở nhiều vùng ở Bắc Việt Nam mà còn thấy trong nhiều nơi nhất là trong đại tộc Bách Việt như thấy ở trong một vài tộc người Quảng Đông, Hẹ (Triều Châu) …  ví dụ như nông (nông nghiệp) còn đọc là nung4 lung4 (giọng Quảng Đông), lung2 nung2 (Hẹ), long5 (Mân Nam/Đài Loan) … Giọng Hẹ (ở Phúc Kiến, bờ biển Quảng Đông … thuộc Mân Việt cổ đại) có khuynh hướng lẫn lộn l/n rõ nét nhất trong các phương ngữ  Trung Quốc hiện nay (Nguyễn Cung Thông, email trả lời một vị tên Lan). Tác giả Đỗ Ngọc Thành có sở trường về tiếng Nôm Bách Việt trong blog Nhạn Nam Phi (nhannamphi.com) cũng đề cập tới hiện tượng nói lẫn lộn N/L này trong tiếng Nôm Bách Việt (ở Nam Trung Hoa).    : “Lạm” là “Lam” hay “nam” tức là “Năm”, “L” và “N” thường là biến âm, ngày nay màu “Lam” tiếng Triều Châu là “Nam”. Rất nhiều nơi ở Quảng, Triều, Việt thường lẫn lộn “L” và “N”   (Đỗ Ngọc Thành, Việt Nhân Ca).

Điểm quan trọng nhất là dân một số vùng ở Bắc Việt họ nói được cho là “nói ngọng” N/L mà nhiều trường hợp họ lại nói đúng nghĩa và chúng ta “không ngọng” lại là nói sai (xem dưới).

Hơn nữa qui ước chữ quốc ngữ ngày nay chỉ mới có vài trăn năm mới đây, những âm N/L có từ thượng cổ. Không nói theo ký âm chữ quốc ngữ của các giáo sĩ Tây phương là nói ngọng?

Trước hết ta thử xem đây là hiện tượng nói lẫn lộn N/L hay đây là một hiện tượng nói ngọng?

Đây không thể nói là ngọng hay nói sai qui uớc chữ quốc ngữ hiện nay mà ta nên dùng từ nói lẫn lộn N/L. Tại sao?

 Tại sao có sự nói lẫn lộn N và L

Trước tiên, ta hãy đi tìm âm N và L khác nhau như thế nào?

.Về thời gian âm N là âm cổ hơn âm L.

Về xã hội học, loài người nguyên thủy theo mẫu hệ sau đó chuyển qua phụ hệ và xã hội loài người hiện nay phần lớn theo phụ quyền cực đoan. Ngôn ngữ loài người thời mẫu hệ nói nhiều theo âm mẹ, nữ, nòng, âm. Có nhiều bằng chứng âm N là âm mẹ, nữ, nòng, âm. Ví dụ các từ cổ chỉ phái nữ  có N như nạ là mẹ (chờ được nạ thì má đã sưng), là mẹ (áng ná là cha mẹ), Thái ngữ là mẹ, người nữ. Cùng gốc na ta có nàng, nường, Hán Việt nữ, Anh ngữ nany (vú em, người giữ trẻ em), nun (bà sơ), nurse (y tá)… Bằng chứng rất rõ và cụ thể nhất là mẫu tự N của linh tự Ai Cập cổ diễn tả nước.

 Mẫu tự N sóng nước của linh tự Ai Cập cổ.

 Các từ dùng trong linh tự Ai Cập cổ thường không viết nguyên âm, các nhà Ai Cập học kiện nay lấy nguyên âm e để đọc những từ viết bằng mẫu tự linh tự. Vì thế thật sự mẫu tự N của linh tự Ai Cập cổ có thể phát âm theo bất cứ nguyên âm nào cũng được không nhất thiết phải là âm e. N có thể phát âm là Na (Nă, Nâ), Ne (Ne), No (nô, nơ), Ni Nu (Nư) và tất cả đều có nghĩa là Nước. Điểm này thấy rõ trong Việt ngữ:

-gốc na là nước như nalưới liên hệ với nước (na biến âm với Hán Việt la là lưới như thiên la địa võng), là ruộng nước, ruộng phù sa ven sông, là nước (ngày nay nói lã, nước lã), nả (vật đựng cá hình quả bầu; vật đựng cá liên hệ với nước) và nạ là loài thủy quái, chúa tể cõi nước (ruột thịt với naga)…

-cổ ngữ  ne là nước, Việt ngữ ne ne là loài chim nước (ngày nay nói là le le). Bà Vụ Tiên với Vụ Tiên có nghĩa là con Le Le, có mạng Khôn có một khuôn mặt thái âm là nước ở cõi trên và là vợ của Đế Minh tức Đế Ánh Sáng cháu ba đời của thần mặt trời Viêm Đế có một khuôn mặt lửa vũ trụ thái dương (Đế Minh lửa thái dương Càn nên hôn phối với Vụ Tiên thái âm Khôn nước). Hawaii vẫn giữ âm cổ ne ne này. Con chim biểu (state bird) của tiểu bang Hawaii là con ngỗng trời, họ gọi là ne ne. Con vịt trời ne ne, le le  Vụ Tiên của Việt Nam bay ra ngoài Hawaii trở thành con ngỗng trời ne ne (nên nhớ ngôn ngữ Hawaii có một phần ngôn ngữ từ Nam Đảo vượt đại dương tới, mà ngôn ngữ Nam Đảo liên hệ với ngôn ngữ Việt nên ngôn ngữ Hawaii liên hệ với Việt ngữ là chuyện tất nhiên).

-Việt ngữ là nước bùn.

-nò (vật bắt cá) (Chồng chài vợ lưới con câu, Con trai đứng đó, nàng dâu ngồi nò). Vật đánh cá liên hệ với nước.

-nờ là vật đánh cá (hiện nay nói là lờ). Vật đánh cá liên hệ với nước.

…..

Nước là âm (lửa là dương). Âm N mang tính âm, nước, mẹ.

Ngược lại âm L mang tính dương, lửa, cha (xem Tiếng Việt Huyền Diệu).

.Trong chữ viết nòng nọc vòng tròn-que chữ L do hai nọc que ghép lại và thấy rõ nhất qua chữ lamda của Hy Lạp. Hai nọc là hai hào dương, thái dương. L mang tính dương, lửa, ngược với N. Rõ nữa chữ L trong linh tự Ai Cập cổ diễn tả bằng con sư tử (lion) loài mãnh thú mang dương tính (xem hình ở trên).

Lửa có các âm cổ là la, lá, lu…  (như lấp lánh, lập lòe, lung linh… có gố la, lá)/ Anh ngữ light, ánh sáng, lửa (lighter, máy lửa, hộp quẹt, mồi lửa), Tây Ban Nha ngữ luz, ánh sáng, Latin lux, ánh sáng có gốc Phạn ngữ luk, lửa. Ta thấy rất rõ Việt ngữ lửa ruột thịt với Phạn ngữ luk.

Như thế N mang tính âm, tính mẹ, nước. Thời mẫu quyền khởi thủy con người dùng tiếng nói của mẹ, của vú. Do đó ta mới nói là ngôn ngữ mẹ, tiếng nói của mẹ (mother tongue), ta nói hai ngôn ngữ chị em mà không nói là ngôn ngữ cha hay hai ngôn ngữ anh em. Từ ngôn ngữ có giống cái như Pháp ngữ nói la langue.

Như vậy âm N mang tính âm và là âm cổ hơn âm L. Người cổ Việt dùng nhiều âm N ngày nay chúng ta chuyển qua âm L.

Về chữ viết nòng nọc vòng tròn-que  thì chữ N trong mẫu tự ABC hiện nay (vốn là con cháu của chữ viết nòng nọc vòng tròn-que, xem chương Chữ Nòng Nọc trong Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á) là dạng dương hóa của chữ S nằm (giống dấu ngã). Chữ S là do hai chữ nòng OO chuyển động mở ra thành hình sóng nước chữ S nằm. Hai nòng OO là hai hào âm thức thái âm có một khuôn mặt là Nước.

.Về quá trình biến âm thì âm N giản dị có trước âm L.

Tác giả Nguyễn Cung Thông trong một điện thư trả lời cho một vị tên Lan cũng đã xác nhận: «Vấn đề phụ âm đầu lưỡi mà chị nói đến như l/r (A) là những phụ âm đòi hỏi khả năng liên hợp lưỡi, môi, họng … và là những phụ âm cuối cùng trong quá trình đắc thụ ngôn ngữ (language acquisition)».  Âm L khó đọc và nói khổ công hơn âm N. Điểm này giải thích tại sao các em bé đang tập nói thường nói ngọng từ N thành L mà ít nói ngọng từ L thành N. Các bé này nói nhiều âm N vì nói theo tiếng mẹ, nói theo phản xạ, nói N vì dễ dàng như một thứ «bẩm sinh» trong khi nói L cần phải có khả năng liên hợp lưỡi, mội họng và phải cần có sự can thiệp nhiều của não bộ. Điểm này cũng giải thích là khi lớn lên trẻ em tự nhiên hết nói ngọng vì khi đó óc đã giúp nói được L hay  khoa ngôn ngữ trị liệu (speech therapy) chữa được chứng nói ngọng N/L ở trẻ em Việt đang học nói.

 .Về tầm nguyên nghĩa ngữ ta cũng thấy âm N là âm cổ có trước âm L.

NÕ/LÕ

Tiếng cổ Việt nõ chỉ bộ phận sinh dục nam như “nõ nường” (nọc nòng). Nõ là cây cọc, cây nọc như đóng cọc mít cho mau chín gọi là đóng nõ mít. Âm cổ nõ tiến hóa thành âm kim . Trong từ Điển Việt Bồ La của Alexandre de Rhodes có từ “lô, “con lô: cơ quan sinh dục của đàn ông” và từ “lõ”: “làm dương vật cương lên như khi con vật giao cấu. Blỏ cùng một nghĩa”. Có phương ngữ nói con lỏ, c…c lỏ (dấu hỏi).

Hiển nhiên lõ, lỏ, lô là biến âm của nõ. Lõ trong tiếng Việt hiện nay chỉ vật gì đâm ra như cây cọc nhọn ví dụ mũi lõ, c…c lõ hay lõ c…c. Lõ biến âm với nõ (cọc), nỏ, ná vật bắn mũi nhọn (tên). Đúng ra phải nói “mũi nõ” là cái mũi đâm ra trông như cây nõ, cây cọc nhọn. Con muỗi là con mũi gọi theo chiếc vòi nhọn hút máu đặc thù của nó. Từ c…c  cũng cùng nghĩa với nõ (Quân tử có thương thì đóng cọc, Hồ Xuân Hương). Còn từ lõ, lỏ, lô vô nghĩa.

 NÒNG, NỒN/LÒNG, L…N

Như đã biết nòng là nường, bộ phận sinh dục nữ, ngày nay ta có từ l…n  biến âm với lồng là dạng âm kim của nồng, nòng, nường ( xem chương Ý Nghĩa Những Từ Thô Tục trong Tiếng Việt Huyền Diệu và trong bacsinguyenxuanquang.wordpress.com ).

NÒNG VÒNG/LÒNG VÒNG

Ta có từ ghép điệp nghĩa “lòng vòng” (lòng = vòng), thật ra cổ Việt nói là “nòng vòng” vì nòng có nghĩa là vòng tròn (theo n=v như níu = víu, ta có nòng = vòng), nòng biến âm với  nang là cái bọc tròn, con nòng nọc là con có thân hình vòng tròn, có đuôi hình nọc, chữ nòng nọc là loại chữ viết có hai chữ cái là chữ có hình vòng tròn (O) và hình que (I). Nói “nòng vòng” là nói vòng tròn, nói vòng vo. Còn nói “lòng vòng” không thể hiểu là nói vòng quanh như… cỗ lòng (!). Nếu cho rằng lòng (ruột) cũng có nghĩa là vòng vì lòng cuộn thành những vòng tròn trong bụng thì cũng không đúng vì nguyên thủy lòng (ruột) cũng nói là “nòng”, chứng tích là  Mường ngữ “nòo” là lòng ruột.

NOÒ = LÒNG

Như vừa nói Mường Việt cổ ruột nói là nòo, ngày nay chúng ta nói lòng.

 NỌNG/LỌNG (THÒNG)

Ta có từ “nọng” có nghĩa là “cổ” như thấy qua câu tục ngữ “Đầu trọng nọng khinh” có nghĩa là cái đầu hay thịt đầu thì coi trọng còn cái cổ hay thịt cổ thì coi khinh. Ngày nay ta có từ “thòng lọng” chỉ sợi dây tròng cổ. Thật ra theo nguyên thủy nói là “thòng nọng”. Theo biến âm th=tr như tháng = trăng (một tháng là một trăng, một nguyệt, một month là một moon), ta có thòng = tròng. Thòng nọng là vật, dây tròng cổ. Như thế phải nói “ngọng” (!) là thòng nọng mới đúng vì mới có nghĩa. Còn “lọng” trong “thòng lọng” vô nghĩa. Thòng lọng không thể hiểu là sọi dây tròng cây lọng, chiếc tán (parasol) (xem thêm Giống Đực Giống Cái Trong Việt Ngữ).

 NỌ/LỌ

Nọ biến âm với nỏ, nõ có nghĩa là không, chẳng (xem Những Từ Phủ Định Trong Việt Ngữ). Ngày nay thường dùng lọ. Từ lọ cũng mang nghĩa phủ định.

         Lọ là thét mắng cặp rèn,

        Một lời xía cạnh, bằng ngàn roi song.

Nọ, nõ ruột thịt với Anh ngữ no (không). Lọ không có nghĩa.

NỐC/LỐC

Nốc là thuyền đò và cũng chỉ bộ phận sinh dục nữ. Nốc cũng biến thành lốc như thấy qua câu ca dao:

        Cô lô cô lốc,

        Một nghìn ghính ốc đổ vào l..n. cô.

 Thật ra phải viết là “cô lô cô nốc” mới đúng. Từ hiện kim “lốc” vô nghĩa (xem Dịch Lý và Việt Ngữ)..

NÒNG/LÒNG (SÚNG)

Tiếng Việt cổ nòng là cái bao, cái bọc, cái túi, phần rỗng, bộng như cái bụng, cái xoang, vật hình ống rỗng như âm đạo vì thế  phần ống dài của súng gọi là “nòng súng”. Súng tiếng cổ gọi là “ống” vì thủy tổ của súng là ống thổi mũi tên (ống xì đồng) như thấy qua từ ghép điệp nghĩa “súng ống” (súng = ống). Tiếng Tày-Thái  gọi súng là “ống” (Diệu Tần, 2000, tr.168). Ngày nay chúng ta thường nghe nói “lòng súng” hiểu theo nghĩa ruột súng.

NÃ/LÃ

Nã có gốc “na” có nghĩa là nước, nước ngọt (xem Gốc Chữ Trong Việt Ngữ) mang âm tính biểu tượng cho âm. Ngày nay chúng ta nói lã (nước) với lã vô nghĩa.

NẠT/LẠT

Nạt là không mặn vì có nhiều nác, nước. Ngày nay ta nói lạt, nhạt.

NUỘC/LUỘC

Nuộc là nấu chín chỉ bằng nác, nước không cho thêm cái gì khác vào. Ngày nay ta nói luộc.

……

-TẠI SAO NGƯỜI VIỆT NGÀY NAY CÓ KHUYNH HƯỚNG NÓI L NHIỀU HƠN N?

Tại sao ngày nay người Việt có khuynh hướng nói nhiều âm L hơn âm N? Ngoài những lý do vừa nói, là vì  những lý do sau đây, thứ nhất là theo ‘dòng chẩy’ của biến âm lịch sử từ N qua L, thứ đến ảnh hưởng của các ngôn ngữ mang dương tính cực đoan liên hệ với Việt ngữ như Hán Việt, Ấn Âu ngữ (qua cách ký âm theo âm nghiêng về dương tính của Ấn Âu ngữ của các nhà sáng tạo ra chữ quốc ngữ).

Biến Âm Lịch Sử Từ N Qua L

Trong ngôn ngữ Việt cũng như trong ngôn ngữ loài người có hiện tượng biến âm từ âm cổ qua âm kim, từ âm gốc  qua âm cành nhánh, từ âm mẹ qua âm con, từ ngôn ngữ này qua ngôn ngữ khác. Trong Việt ngữ như:

-chuyển từ âm cổ b  qua âm kim m, chẳng hạn như trước đây các cụ thường dùng bồ hôi, bồ hóng, thuốc bồi, bóng nước (cá voi phun nước)…, ngày nay chúng ta dùng mồ hôi, mồ hóng, thuốc mồi, móng nước…

-chuyển từ âm cổ b qua âm kim v như bó ngựa = vó ngựa, con bọp = con vọp (con trăn)…

-chuyển từ d qua nh như  dìn = nhìn, dòm = nhòm, nom; dè dẹ = nhè nhẹ

……

Dĩ nhiên cũng có hiện tượng biến âm lịch sử giữa N và L. Vì như đã biết âm N là âm cổ, là một âm nòng ( âm, mẹ, nước) dùng nhiều thời mẫu quyền và âm L là âm kim, một âm nọc (dương, mẹ, cha). Vì tiếng Việt có mang tính nòng nọc, âm dương (Tiếng Việt và Dịch) nên tôi còn gọi hiện tượng này là hiện tượng nam hóa, dươngb hóa âm N thành âm L (xem Hiện Tượng Nam Hóa Trong Tiếng Việt).

Xin lưu tâm:

Hiện tượng biến âm lịch sử hay nam hóa từ N qua L thường thường là hai từ đều có nghĩa cùng gốc nghĩa như nhau, chỉ khác nhau ở tính cổ và kim, âm và dương mà thôi.

Xin đưa ra một vài ví dụ:

 NÁC/LÁC

Từ lác đác chỉ mưa lưa thưa vài giọt nước. Lác biến âm với với nác là nước. Lác ở đây vẫn có nghĩa là nước, liên hệ với nước. Darlac là vùng có hồ nước, ở Đà Lạt có hồ Lac. Theo qui luật từ đôi của tôi, qua từ lác đác, ta có lác = đác. Mường ngữ đác, đắc, Môn ngữ đak là nước. Đác biến âm với đước, cây đước là cây mọc dưới đác, dưới nác, dưới nước.

.NÁC/LÁC

Cỏ nác là loại cổ mọc dưới nác, dưới nước, miền Bắc gọi là cói. Ngày nay nói là cỏ lác. Ở đây lác vẫn có nghĩa là nước, liên hệ với nước.

NÀNG/LÀNG

Thời mẫu hệ ngày xưa người cổ Việt gọi ngôi nhà cộng đồng là nhà nàng (nhà nạ, ná… nhà mẹ, nhà cái), ngày nay chúng ta theo phụ hệ nên gọi là nhà làng (nhà thanh niên, phái nam, nhà đực). Từ làng chính là biến âm của từ lang. Ngày nay nhà làng chính là nhà lang. Người Mường ngày nay vẫn còn gọi ngôi nhà công đồng là nhà lang, trong khi chúng ta ngày nay gọi là nhà đình. Từ đình chính là biến âm của từ đinh (con trai như tráng đinh, thành đinh) cùng nghĩa với từ lang.

………

Hiện tượng biến âm lịch sử hay nam hóa N thành L này cũng thấy giữa Việt ngữ và các ngôn ngữ mang dương tính cực đoan như Ấn Âu ngữ và Hán ngữ.

-Ấn Âu ngữ và Việt ngữ

-Nọc/Lộc/Log

Log chỉ khúc gỗ, thân cây, phần thân cây đã chặt bỏ hết cành lá: backlog, khúc cây lớn phía sau lò sưởi.

.log = lộc, thường hiểu theo nghĩa lệch là lá non như đâm chồi nẩy lộc, hái lộc đầu xuân (mùa xuân cây thường ra lá non, ra lộc và lộc cũng có nghĩa là lộc may mắn vì thế mới hái lộc để có lộc. Lộc may mắn chính là lucky, xem chữ này). Tuy nhiên lộc cũng còn có nghĩa là thân cây trơ trụi lá như log, đến mùa xuân lại đâm chồi nẩy lộc như thấy qua bài ca dao:

            Bồng bồng cái lộc ra hoa,

            Một đàn vợ lính chẩy ra thăm chồng…

Từ lộc ở đây phải hiểu là thân cây trơ trụi lá tức log. Cây mới ra hoa. Có những loài cây mùa đông rụng hết lá chỉ còn thân cây lộc, log và đến mùa xuân lại ra hoa rồi mới ra lá như hoa đào, hoa mơ, hoa mận. Vì thế cái lộc ra hoa chỉ các lọai cây này. Còn hiểu lộc là lá non, theo tôi, không đúng. Lá non làm sao mà ra hoa được.

Log biến âm Việt ngữ lộc, nọc.

-Nọc/ Nog/Lock (khóa) có gốc từ Việt ngữ nọc, là dạng biến âm, nam hóa của nọc. Lock ruột thịt với log với nog (nọc cài cửa, cây chốt, cây ngạc bằng gỗ). Nog chính là Việt ngữ nọc. Khóa nguyên thủy chỉ là một cây nọc cài, cây then cài.

Như thế lock là biến âm của nog, Việt ngữ nọc.

.Ne/Lait

Như đã nói ở trên, Việt ngữ ne là nước biến âm với Pháp ngữ lait /le/, sữa. Sữa là nước vú, địa danh Dakto có nghĩa là Nước Vú, tức Sữa.

…….

.Giữa thuần Việt và Hán Việt.

Nang/Lang

Quả cau, Mường Việt cổ gọi là quả “nang”; “mo nang” là cái bao bọc hoa cau. Nang có một nghĩa là “trứng”. Quả cau, quả “nang” hình trứng, khi bổ đôi trông giống quả trứng luộc bổ dọc. Mã Lai ngữ nang chỉ cau như đảo Pinang hay Penangđảo Cau. Người Trung Hoa không ăn trầu cau, nguyên thủy trong ngôn ngữ của họ không có từ chỉ cau nên họ biến âm từ “nang” của Việt Mường cổ thành “lang”,  gọi cau là “binh lang”. Trong truyện Trầu Cau, Lang sinh chết biến thành cây cau vì Hán Việt Lang có nghĩa là cau, Tân Sinh chết biến thành tảng đá vôi (Tân có gốc Ta- là đá). Nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu trong bản nhạc Truyện Trầu Cau cho Lang sinh chết biến thành tảng đá là sai.

Nọc/Lộc

Hán Việt lộc là con hươu chính là con nọc tức con hươu (con đực, con sừng) của Việt ngữ. Con hươu được gọi tên theo chiếc sừng. Việt ngữ hươu, hiêu, hươu là con hèo (nọc), Mường ngữ hẻo là húc (bằng sừng). Anh ngữ hươu đực là hart = gạc (h=g, hồi = gồi), Pháp ngữ cerf, hươu = kẻ, nọc (c=k).

Con nọc (hươu cọc, hươu sừng) biến âm qua Hán Việt là lộc (hươu sừng). Cổ Việt nọc, cọc là con hươu nọc, hươu sừng. Trò chơi Bầu Cua hiện nay thường gọi sai là Bầu Cua Cá Cọp vì không có con cọp mà phải gọi là Bầu Cua Cá Cọc vì có con hươu cọc (xem Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc).

Nõ/Lỗ

Thời An Dương Vương chế được cái nỏ bắn ‘liên xạ”, bắn được nhiều mũi tên liên tục, người chế “nỏ  thần“ được gọi là Cao Lỗ. Ngày nay còn các địa danh như thôn Phù Lỗ, Kim Lỗ, Lỗ Khê ở vùng Cổ Loa. Rõ ràng Hán Việt Lỗ là dạng nam hóa của từ Nỏ.

 Nác/Lạc

Từ “nác” (nước) Hán Việt hóa thành Lạc, nước dương, nước lửa như thấy qua từ dầu lạc là chất lỏng để đốt đèn. Dầu lạc là “nước lửa”, nước dương ép ra từ đậu lạc (đậu phụng). Ruộng nác (ruộng nước) là ruộng Lạc, Lạc điền. Dân làm ruộng nác là dân Lạc.  Lạc Long Quân là vua Rồng Nước dương (nước biển là một thứ nước dương) vì  thế mà Lạc Long Quân có một khuôn mặt là Thần Biển. Cũng xin nhắc lại Lạc Long thuộc dòng âm, nước nên gọi là Quân chứ không gọi là Vua, Vương như Kinh Dương Vương, Hùng Vương (Nguyễn Xuân Quang, Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt, 1999).

Na/La

Việt ngữ na là lưới: quả na là quả lưới vì vỏ có mắt lưới. Miền Trung Namgọi sai là măng cầu, mãng cầu, thật ra phải gọi là mạng cầu tức thứ quả hình cầu tròn có vỏ hình mạng lưới. Na biến âm Hán Việt la, lưới (thiên la địa võng).

……

-Ảnh Hưởng của Hán Việt

Như đã biết có hiện tượng nam hóa khi chuyển từ âm N Việt qua âm L Hán Việt như thế Hán Việt có thể  đóng một vai trò trong khuynh hương nói L nhiều hơn ngày nay.

-Ảnh Hưởng của Ấn Âu Ngữ

Xã hội Tây phương theo phụ quyền cực đoan vì theo

Thiên Chúa giáo ngày nay nói nhiều vần L hơn N như đã thấy có sự chuyển âm N Việt ngữ qua âm L Ấn Âu ngữ ở trên, nên Ấn Âu ngữ có thể giữ một vai trò trong khuynh hướng nói L nhiều hơn trong Việt ngữ ngày nay.  Thêm một điểm nữa là các tu sĩ Tây phương khi ghi âm tiếng Việt đã vô tình dùng âm L của họ hay nói để ký tự các âm N cổ của Việt ngữ.

CÓ NÊN SỬA HAY KHÔNG?

 1.   không nên

 Như đã thấy đây không phải là nói ngọng mà là một thổ ngữ, một phương ngữ. Ta phải bảo tồn vì:

-N là âm cổ, một địa khai, một hóa thạch ngôn ngữ (language fossil),  phải bảo tồn cổ ngữ để tìm hiểu biến âm lịch sử trong Việt ngữ, ngôn ngữ thế giới và giữa Việt ngữ và ngôn ngữ loài người.

-là một phần văn hóa cổ của những vùng đó.

-âm N là âm mẹ cho biết những vùng nói nhiều âm N còn giữa truyền thống mẫu hệ từ ngày xưa.

-âm N là âm vùng sông nước cho biết các tộc còn nói nhiều âm N thuộc về ngành nòng, nước ứng với Thần Nông, Lạc Long Quân. Trong Bách Việt các tộc còn nói lẫn lộn N/L thuộc dòng nòng âm, nước tức Bộc Việt (Bộc hiểu theo nghĩa Bọc, túi nang, Nòng). Các vùng ở Bắc Việt Nam còn nói lẫn lộn có thể là các tộc thuộc Bộc Việt, bằng chứng thấy rõ nhất là người Hẹ là một thứ Bộc Việt họ nói lẫn lộn N/L rõ nhất, nhiều nhất…

-âm N còn giữ gốc cổ, âm cổ còn thấy rõ nghĩa ngay, còn có nghĩa sẽ giúp nhiều trong việc nghiên cứu về tầm nguyên nghĩa ngữ trong ngôn ngữ Việt.

…..

 2.   Nên sửa

  Tuy nhiên cũng có những khía cạnh cần phải sửa:

-vì phải theo đà tiến hóa của ngôn ngữ loài người, xã hội hiện nay là xã hội phụ quyền cực đoan nên âm của tiếng nói cũng phải nam hóa, nghĩa là N nam hóa thành L. Chúng ta khó lội ngược dòng lịch sử biến âm. Chúng ta phải nói theo những tiến hóa về cơ thể học của những phần có liên hệ tạo ra tiếng nói như lưỡi, môi, họng hộp âm thanh… (những phần này của người cổ khác người kim hiện nay).

-phương ngữ cũng nói sai vì tiếng nói đã bị sai lệch  của một vài địa phường khi đã rời xa vùng kinh đô có tiếng nói chuẩn.

-vì có khuynh hướng nói theo phản xạ, nói theo dễ dãi, theo tập quán nhiều khi quen miệng, nói bừa bãi, âm L nào cũng nói N nên nói sai nghĩa ví dự lửa mang dương tính phải nói là lửa thay vì nói nửa. Nói nửa sẽ lầm lẫn với nửa (half).

Nói sai thì cần phải sửa lại theo tiếng nói chuẩn.

Như thế ta thấy vừa nên và vừa không nên sửa. Vậy cách hay nhất là phải sửa chọn lọc.

 SỬA CHỌN LỌC DỰA VÀO NHỮNG QUI TẮC NÀO?

 -Phải giữ lại thổ ngữ, phương ngữ, không thể xóa ngọng N/L một cách toàn diện.

-Phải có một tiêu chuẩn về N/L.

-Sửa theo tính nòng nọc, âm dương.

Chỉ sửa những phần sai của âm N và L dựa vào tính nòng nọc, âm dương của Việt ngữ.

-Sửa theo nghĩa ngữ.

Phải sửa theo nghĩa ngữ nguyên thủy ví dụ nếu N có nghĩa còn âm L vô nghĩa thì lấy theo âm N và ngược lại ví dụ mũi nõ thay vì mũi lõ.

Phải có một ủy ban ngôn ngữ học truy tìm tính nòng nọc, âm dương và nghĩa gốc của các từ có âm N và L trong Việt ngữ và lấy đó làm tiêu chuẩn để sửa.

-Phải sửa theo hai chiều, phải công bằng, thiểu số

nói âm N theo thổ ngữ, phương ngữ của họ mà đúng

nghĩa thì đa số cũng phải theo ví dụ nên nói mũi nõ hơn là mũi lõ. Không thể lấy thịt đè người, cả vú lấp miệng em, dùng bạo quyền bắt người đúng phải nói theo luật rừng của đa số kẻ sai. Ngược lại nếu họ nói sai nghĩa thì họ phải theo đa số.

-Sửa theo đa số, luật đám đông.

Trong trường hợp tìm không ra được tính nòng nọc, âm dương và nghĩa ngữ, ta nên sửa theo luật đa số, luật của đám đông hay luật chuẩn được coi của tiếng nói hiện hành, đó là tiếng nói Hà Nội quí phái thanh lịch ngày xưa.

Những âm N hay L đã được dùng phổ quát trong quần chúng Việt đã thành nếp, thành ngữ pháp “ miệng“

(đa số bầu“ bằng miệng“) mà ta không tìm ra nghĩa gốc hay chưa tìm ra được nghĩa gốc thì ta dùng theo đám đông. Các người nói phương ngữ N hay L khi ra khỏi địa phương phải nói theo âm của đám đông dùng chuẩn nhưng khi về quê quán vẫn phải giữ thổ ngữ hay phương ngữ của mình. Cả nước nói cái nồi, thì khi ra khỏi làng xã họ phải sửa phải nói là cái nồi vì gần cả nước nói như thế, khi về quê quán muốn nói cái lồi cũng chẳng ai khó chịu vì cả làng cả tổng nói như thế và vì đó là một nét văn hóa đã có từ ngàn xưa của đất mẹ mình.

-Khi viết liên hệ với vấn đề học viện (viêt chính tả, đi thi, làm đơn từ xin việc, văn bản ngoại giao, kinh tế…) bắt buộc phải viết đúng theo ngữ pháp qui định, chuẩn về các từ có âm N và L.

-Sửa sai bắt buộc trong các trường hợp đặc biệt:

.trẻ em ở vùng không nằm trong phương ngữ hay bị trở ngại về ngôn ngữ.

.Các nhà mô phạm, dậy học, các xướng ngôn viên truyền thông, các nhà ngoại giao, lãnh đạo phải sửa sai.

.khi viết phải sửa N, L theo ngữ pháp, chính tả chuẩn.

Như đã nói ở trên, khi cần thì phải sửa theo ngữ pháp chuẩn đã được chấp thuận do một ủy ban nghiên cứu dựa vào tính nòng nọc, âm dương và nghĩa ngữ của các từ có âm N và L.

 ….

Dù gì thì ta cũng phải giữ thái độ “có học“ với các người nói phương ngữ cổ vì có những âm họ nói vẫn giữ đúng âm của tổ tiên Việt từ ngàn năm trước và vẫn giữ đúng nghĩa của âm đó. Họ là những địa khai, hóa thạch ngôn ngữ sống của tiếng Việt và cũng là những địa khai, hóa thạch quí giá cho các ngành khảo cứu khác.

Không nên chế riễu, nhái tiếng một cách mù quáng vì “chửi cha không bằng pha tiếng“, trong trường hợp chúng ta nói L vô nghĩa, chúng ta tự chửi cha mình vậy.

 

 

February 3, 2012

THÌN LÀ THẰN, LÀ THẮN, LÀ RẮN.

Filed under: Thìn Là Thằn Là Thắn Là Rắn — Quang Nguyen @ 5:35 am

TÊN NÔM NA MÁCH QUÉ CỦA 12

CON GIÁP.

                    THÌN LÀ THẮN, LÀ THẰN, LÀ RẮN.

                                                   Nguyễn Xuân Quang

Nhiều dữ kiện về lịch sách, thiên văn, Dịch đã cho thấy  là tên 12 con giáp không phải có nguồn gốc từ Trung Hoa mà có thể có nguồn gốc Bách Việt. Về đời Đạo đường Việt Thường có Lịch Rùa ghi khắc trên lưng rùa đem tặng Chu Thành Vương. Có lịch thì tất nhiên có tên năm tháng, ở phương Đông cổ theo âm lịch. Tác giả Bùi Huy Hồng trong bài Mấy Nét Về Thiên Văn Học Thời Hùng Vương đã viết: «Ở Cam-pu-chia còn lưu lại đến ngày nay một cuốn lịch cổ nhất là lịch Bầu Ràn (634 AD) dùng 12 tên con giống tiếng Việt và tiếng Mường… » (Hùng Vưong Dựng Nước, 1972 tập III, tr.299). Tác giả Nguyễn Cung Thông qua loạt bài viết về Nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp phần lớn dựa vào chữ Hán và Hán Việt đã chứng minh là tên các con giáp không phải có gốc từ tiếng Hán, mà có nguồn gốc Việt Nam.

Trong khi đó tôi đi theo một hướng khác là dựa vào tiếng thuần Việt (tiếng nôm) và ngôn ngữ loài người nhất là Ấn Âu ngữ (Anh, Pháp ngữ…) chứng minh là tên của 12 con giáp đều là tên thuần Việt, có nguồn gốc Việt Nam.

Thật vậy nếu tên 12 con giáp này của Việt Nam thì chúng bắt buộc phải có nghĩa thuần Việt, nghĩa là phải hiểu theo kiểu nôm na mách qué của những người Việt dân dã chứ không phải hiểu theo nghĩa bác học. Ta thấy rõ tên  Hán Việt của 12 con giáp là những từ bác học, những từ có khuynh hướng thường hay vay mượn từ những ngôn ngữ khác do giao lưu văn hóa. Cái gì ruột thịt của một dân tộc nào đó thì phải thấm nhuần vào tâm hồn và thể xác, vào đời sống, trong đó có tiếng nói, ngôn ngữ hàng ngày của dân tộc đó. Tên 12 con giáp nếu có nguồn gốc Việt Nam thì dân dã Việt Nam phải dùng nó hàng ngày với nghĩa thuần Việt. Tôi cũng đã chứng minh những từ dùng trong Dịch lý như tên tám quẻ Càn, Khôn, Li, Khảm, Chấn, Cấn, Đoài, Tốn là thuần Việt, có nghĩa nôm na mách qué để chứng minh Dịch không phải là có nguồn gốc từ Trung Hoa, mà Dịch có thể có nguồn gốc từ Đại Tộc Việt, nói một cách dè dặt thì người Việt cổ ít ra cũng có một thứ Dịch riêng mang sắc thái Việt gọi là Dịch nòng nọc còn ghi khắc lại trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Dịch Việt có một hình thức dân dã được diễn tả qua trò chơi Bầu Cua Cá Cọc mà tôi gọi là Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc).

Cũng cần nói thêm là những từ Nôm ở đây chỉ dùng với nghĩa là từ Nam, ngôn ngữ của người Nam, chứ không phải của người phương Bắc Trung Hoa, không phải là chữ Nôm, một thứ chữ viết có nguồn gốc từ chữ Hán. Phải hiểu rõ Nôm là biến âm của Nam là tiếng nói của dân gian Việt Nam, (nói rộng ra của Bách Việt) từ nôm hay thuần Việt ở đây phải hiểu là những từ không phải là Hán Việt. Từ nôm hay thuần Việt có thể có gốc hay liên hệ với tất cả các ngôn ngữ khác của loài người 

Ta cũng nên biết thêm nghĩa nhóm từ nôm na mách qué.

Qua từ láy nôm na ta có nôm = na. Gốc chữ (root) na- có nghĩa là nước, âm, nữ… thuộc nòng Khôn (ngược với nọc Càn) ví dụ na là lưới như quả na là quả vỏ có hình mắt lưới mà Trung Nam gọi sai là măng cầu, đúng ra phải nói là mạng cầu (trái hình cầu tròn có vỏ hình mạng lưới), na là lưới bắt cá liên hệ với nước (na là dạng cổ của Hán Việt la là lưới như thiên la địa võng);  là ruộng nước,  (nam hóa thành ) là nước ngọt (fresh water), nạ là loài thủy quái ruột thịt với naga, ná là mẹ (thuộc phía âm, nữ, cổ ngữ Việt áng ná cha mẹ), nả là vật đựng cá (liên hệ với nước)… ngay cả từ nôm cũng có một nghĩa liên hệ với nước như miền Nam gọi một dụng cụ đánh cá là cái nôm trong khi miền Bắc gọi là nơm. Nôm, nơm là dụng cụ đánh cá nên liên hệ với nước. Tiếng Nôm na là tiếng phương Nam của vùng dòng Nòng Khôn Nước vũ trụ ngành Thần Nông của họ Thần Nông-Viêm Đế. Còn mách qué có mách là nóibảo như mách umách mẹ, mách bảomách lẻothóc mách… và qué có gốc que (cọc). Theo qui luật của từ ghép thấy qua hai từ ghép gà qué ta có thành tố ghép qué phải có cùng gốc nghĩa với gà, gà qué. Qué biến âm với que là nọc, cọc, chỉ dương tính, bộ phận sinh dục nam. Con qué là con que, con ke. Ke chỉ bộ phận sinh dục nam (Alexandre de Rhode, Từ Điển Việt-Bồ-La). Con qué, con que, con ke, con cọc (Quân tử có thương thì đóng cọc, Xin đừng mân mó nhựa ra tay, hay Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không, Hồ Xuân Hương) nói chung là vật nhọn biểu tượng cho bộ phận sinh dục phái nam. Gà trống biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam. Anh ngữ cock, Pháp ngữ coq, gà trống là con cọc, con c…c. Từ cockcoq chính là Việt ngữ cọcc…c vì thế cock cũng có nghĩa là bộ phận sinh dục nam.

Tóm lại qué là quecọcbộ phận sinh dục nam (Tiếng Việt Huyền Diệu). Mách qué là nói chuyện que, chuyện cọc, chuyện cược, chuyện c. . .c, chuyện nọc, chuyện đọc (đọc ong = nọc ong), chuyện đực, chuyện đục (dùi đục, chisel). Đục cũng có nghĩa chỉ động tác làm tình của phái nam, theo đ=th như đủng đỉnh =thủng thình, ta có đục = thục, thúc ruột thịt với Anh ngữ thrust (động tác làm tình của phái nam). Đục bỏ chữ c của từ đục đi thì đục trở thành đ…). Mách qué là nói que, nói cọc, nói đục, nói tục (d=t). Nói tục, nói nôm na mách qué của dân dã Việt Nam là nói tiếng gốc cội của người Việt, là tiếng nôm, tiếng phương Nam không phải là tiếng thánh hiền, tiếng Hán Việt nằm trong «vòng lễ giáo» của phương Bắc.

Qua những bài viết về các con giáp khác ta đã biết:

-Tí là con chuột. Việt ngữ Tí là nhỏ (nhỏ tí, tí síu, tí ti), lắt, nhắt. Chuột biến âm với chút là nhỏ (chút síu, tí chút, chút chít…) ruột thịt với Phạn ngữ chutt, to become small (trở thành nhỏ). Vậy Tí là chút là chuột. Theo r=l như róc = lóc (mía), Anh ngữ rat = Việt ngữ lắt. Theo l=nh (lời = nhời), lắt = nhắt. Rat ruột thịt với Việt ngữ (chuột) lắt, (chuột) nhắt. Ta thấy rõ trong ngôn ngữ dân dã Việt Nam chuột có nghĩa là nhỏ như dưa chuột là loại dưa rất nhỏ.

Như vậy theo qui tắc từ đôi tí chút ta có tí = chút = Phạn ngữ chutt = chuột. Con Tí là con Chuột.

-Sửu là con trâu. Sửu biến âm với Việt ngữ Sẩu có nghĩa là sừng (Xin khúc đầu, những xương cùng sẩu…), Sậu là cứng [ngô sậu là bắp cứng, sáo sậu là « sáo cứng » tức con sáo đá (cứng như đá)]. Theo c=s (cắt = sắt), cứng = sừng. Như thế Sửu là con Sẩu, con Sậu, con Sừng. Sửu liên hệ với cổ ngữ Anh , Anh ngữ hiện kim Cow, bò cái. Về âm ta có cow = /cao/ = châu = trâu (biến âm lệch nghĩa). Vậy con Sửu là con Sẩu, con Sậu, con Sừng, con Trâu.

Sửu là từ chỉ chung loài vật có sừng nên chúng ta làm ruộng nước thì Sửu là con Trâu loài có sừng sống được dưới nước trong khi Trung Hoa không trồng lúa nước thì đối với họ Sửu là con bò đực (ox) chỉ sống trên cạn. Năm sửu của Trung Hoa là năm con bò đực  (bacsinguyenxuanquang.wordpress.com).

-Dần là con cọp. Dần biến âm với Việt ngữ dằn (rằn), dằng (cọp ba đầu dằng), vằn. Con dần là con cọp con có lông dằn, dằng, lông vằn (tôm cọp là tôm vằn) (bacsinguyenxuanquang.wordpress.com) .

-Mão là con mấu, con mâu (cọp), con mấu (có mấu vuốt nhọn), con mẹo, con mèo ruột thịt với Anh ngữ maul (cào cấu, xé xác bằng mấu vuốt), tuyệt nhiên không phải là con  thố, con thỏ không có mấu vuốt (bacsinguyenxuanquang.wordpress.com).

Vân vân…

 Năm nay là năm Thìn xin nói tới con Thìn.

.Thìn biến âm mẹ con với Mường ngữ Thắn, rắn. 

Con thìn là con thắn, con rắn.

Thìn cũng biến âm với Hán Việt thận là con rắn nước lớn, con trăn nước (anaconda).

Trong Việt ngữ, những từ chỉ loài vật được gọi dựa theo một cá tính đặc thù của con vật. Con thắn gọi được theo đặc tính trườn, lăn.

.Theo th = l (thủng = lủng), ta có thắn = lăn. Con  thắn là con lắn, con lăn.

.Cũng theo r=l (róc = lóc),  ta thấy con rắn = con lăn

Rắn = lăn biến âm mẹ con với lươn. Lươn coi như một loài rắn nước cũng có tính lăn, trườn. Theo l=tr, ta có lăn = lươn = trườn.

.theo th = tr như tháng = trăng [một tháng là một trăng, một nguyệt; một month, một mois (Pháp ngữ), một mes (Tây Ban Nha ngữ) là một moon, trăng], ta có thắn = trăn, loài rắn lớn. Theo tr = l (trệch = lệch), ta có trăn = lăn = lươn = trườn.

Từ thắn và biến âm trăn là cổ ngữ Á châu bằng chứng là Maya ngữ can là con trăn, con rắn như thấy qua tên vật tổ của họ là Kukucan loài rắn có lông chim nên thường được gọi là Rắn-Lông Chim (Feathered serpent). Kukucan có Kuku là chim Cúc Cu (một loại tu hú), loài chim biểu tượng cho gió (Tiếng Việt Huyền Diệu) và -can là chăn, rắn. Maya ngữ can đọc thêm hơi vào thành chăn (trăn). Xin nhắc lại Maya ngữ ruột thịt với Việt ngữ vì người Maya đến Mỹ châu từ Đông Nam Á và Maya có DNA giống hệt người cổ Việt ở Đông Nam Á. Vì thế Maya ngữ can ruột thịt với Việt ngữ chăn (trăn) là điều tất nhiên và cho thấy chăn (trăn), Maya can rất cổ. Thìn biến âm với Mường ngữ thắn biến âm với chăn, trăn là một cổ ngữ liên hệ với cả Maya ngữ can.

Như thế Thìn có gốc thắn, trăn, lăn (rắn), lươn liên hệ với Maya ngữ can.

-Thìn, thắn biến âm với  Hán Việt thẩn là con giao long (có cốt là con cá sấu). Cá sấu là loài bò sát như thằn lằn, rắn.

-Ta có thìn thắn biến âm với với thằn, lằn. Con thằn lằn cùng loài bò sát với rắn.

Như thế từ thìn có gốc từ Mường ngữ Thắn, rắn ruột thịt với thằn lằn, cá sấu, giao long, lươn, liên hệ với Maya ngữ can.

Thìn có gốc Nước.

Ta đã biết con rắn đơn thuần không có trang trí gì thêm biểu tượng cho nước. Con rắn uốn khúc trông giống dòng nước, biểu tượng cho nước (sông ngòi, sóng, nước). Điểm này thấy rõ từ thời Tân Thạch qua các hình khắc, vẽ trên đá (petroglyph). Xin đưa ra một ví dụ người Hopi có biểu tượng con rắn chỉ sông nước và chỉ tộc nước (Water Clan) vẽ, khắc trên đá (Heike O wusu, tr.83).

Anh ngữ snake, rắn có (s) nak(e) ruột thịt với Việt ngữ nác, nước (ca dao: trăm rác lấy nác làm sạch), Anh, Pháp ngữ serpent, rắn có gốc gốc Aryan-Phạn ngữ sera-, nước, Việt ngữ sen cũng có gốc từ sera-, có một nghĩa là nước (hoa sen là loài hoa mọc dưới nước, con sen là bé gái hầu nước)…

Mường ngữ thắn ruột thịt với Hán Việt Thần, thận có một nghĩa là Nước. Với h câm thần = tần, loài rau mọc dưới nước (rau cần có thể là một loại rau tần). Tần tảo là rau và rong ở dưới nước. Người tần tảo có nghĩa gốc chỉ người phải lội xuống nước vớt rau, rong về bán lấy tiền hay dùng làm thực phẩm nuôi gia đình.

Thận có nghĩa là nước như thấy qua cơ quan lọc máu làm nước tiểu gọi quả thận.

Rõ hơn nữa là Thần, thận phát âm trong tiếng Hoa là Shen.

Như đã nói ở trên Shen ruột thịt với Việt ngữ Sen chỉ hoa Sen, loài hoa mọc dưới nước, con Sen, bé gái hầu nước.

Thần tổ phía nòng âm không gian của Bách Việt tên là Thần Nông (Shen Nung). Như đã nói ở trên Thần ruột thịt với Mường ngữ Thắn là con Rắn (biểu tượng cho nước). Như thế Shen-Thần hàm nghĩa Nước. Nông biến âm với Không (Pháp ngữ non = Việt ngữ không; nỏ = khỏ = khô) là không khí, gió. Shen Nung Thần Nông có hai khuôn mặt thái âm (Khôn âm) Nước Shen-Thần và thiếu âm khí gió Nung-Nông tức có một khuôn mặt nòng Khôn. Nhìn dưới diện nhất thể. Vị thần tổ tối cao tối thượng của Bách Việt là Thần Nông Viêm Đế. Nhìn dưới dạng nhất thể (Trứng Vũ Trụ, Thái Cực) thì Viêm Đế-Thần Nông nhất thể (một nhân vật , Viêm Đế có hiệu là Thần Nông hay Thần Nông có hiệu là Viêm Đế) có hai khuôn mặt nòng nọc, âm dương là thần mặt trời-không gian tức vũ trụ của Bách Việt. Ở dạng lưỡng nghi, Thần Nông là khuôn mặt không gian ở cực âm và Viêm Đế là thần mặt trời ở cực dương.

Cũng cần nói thêm ở dạng tứ tượng, Viêm Đế tách ra Viêm (lửa vũ trụ Càn) và Đế (Đất, Đá, lửa thế gian Li) trong khi Thần Nông tách ra thành Thần (nước dương Chấn và Nông, khí gió dương Đoài). Ở đây ta thấy rõ mồn một Rắn Lông Chim tức Rắn-Chim Cúc Cu Kukucan của Maya nhìn theo Vũ Trụ giáo có một khuôn mặt là Rắn Can Thần và Chim Cúc Cu tu hú Kuku biểu tượng cho gió Nông. Kukucan ứng với Thần Nông. Maya thuuộc về ngành Thần Nông trong Vũ Trụ giáo (xem Đức Chúa Jesus Nói Tiếng Việt, bacsinguyenxuanquang.wordpress.com).  Các nhà Maya học ngày nay giải thích Kukucan không theo Vũ Trụ giáo, không theo Dịch không thể nào thấu hiểu văn hóa Maya trọn vẹn được.

Thần Nông của Bách Việt tuyệt nhiên không phải là ông thần Shen Nung đầu bò, thần làm ruộng của Trung Hoa (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Kiểm chứng với các loại thìn (rồng) của các nền văn hóa khác ta cũng thấy thìn có gốc nước. Rồng rắn Naga của Ấn  giáo có gốc na- là nước. Dragon, Latin là draco của phương Tây có d(r)ac- = cổ ngữ Việt đác, đước là nước (địa danh Darlac là vùng hồ nước, vùng Đà Lạt có hồ Lac, cây đước là cây mọc dưới nước) = tiếng Mon dak, nước (địa danh Dakto là Nước Vú tức Sữa).

Trong truyền thuyết Việt bà Thần Long là Rồng Nước  Khảm lấy Kì Dương Vương, Vua Lửa Đất thế gian Li theo dạng lưỡng hợp Lửa-Nước, Li-Khảm.

 Như thế con thìn có cốt rắn, cốt nước.

Rồng nhà Lý, rồng Thăng Long có thân hình sóng nước.

Phục Hy có đuôi rắn có hiệu Thanh Tinh, Rồng Xanh thuộc dòng nòng Khôn không gian có một khuôn mặt thiếu âm là khí gió Nông phía Thần Nông. Dịch Phục Hy là Dịch của tộc nước phía Thần Nông tức của Lạc Việt họ Bách Việt. Người Trung Hoa vốn là dân du mục, võ biền, làm ruộng khô (trống lúa mì) nên không có Dịch Phục Hy. Chu Dịch khác Việt Dịch.

-Thìn liên hệ với cá sấu.

Thìn biến âm với thòng, thong. Thong có nghĩa là cây đòng. Thong long là cây đòng dài nhọn, một thứ khí giới (Lê Ngọc Trụ, Việt Nam Chính Tả Tự Vị). Ta thấy rõ Việt ngữ long là dài chính là Anh ngữ long (dài) (Tiếng Việt Huyền Diệu). Con vật sống được dưới nước thân dài, mõm nhọn như cái đòng là con cá sấu. Như đã nói ở trên, sẩu, sấu biến âm với sậu có một nghĩa là cứng, sừng, một thứ vật nhọn. Con cá sấu có vi sừng, con cá sừng, con cá nọc, cọc. Anh Pháp ngữ crocodile, cá sấu thường gọi tắt là croc. Ta thấy rất rõ croc = c(r)oc = Việt ngữ cọc, vật nhọn. Con croc là con cọc, con đòng.

Ta đã biết cá sấu là vật tổ ở vùng đất âm có nước (đầm lầy, sông rạch) của Bách Việt. Nọc nhọn, đòng nhọn, sừng nằm trong nghĩa từ Việt (rìu, vật nhọn). Cá Sừng là cá gạc, cá lạc (bắn gạc = bắn lạc) = cá ngạc (Hán Việt ngạc là cá sấu). Cá sấu là cá Việt. Cá sấu, cá Lạc, cá Việt còn thấy khắc trên trống đồng Lạc Việt Hòa Bình của đại tộc Lạc Long Quân  (xem Trống Đồng Lạc Việt Hòa Bình, bacsinguyenxuanquang.wordpress.com).

Cá sấu thần thoại hóa thành giao long, vật tổ của Giao Việt.

Điểm này thấy rõ hơn là thìn biến âm mẹ con với Hán Việt thẩn là con giao long. Giao long có cốt là con cá sấu mõm dao (gavial, gharial) còn thấy ghi khắc rõ trên nhiều đồ đồng Đông Sơn (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á).

Tóm lại thìn liên hệ với cá sấu, giao long thẩn.

-Thìn liên hệ với thuồng luồng.

Sử chép rằng, thời Hùng Vương, dân Việt xuống nước đánh cá thường bị một loại thủy quái gọi là thuồng luồng làm hại. Vua Hùng  sai vẽ hình thuồng luồng lên người. Từ đó loài thủy quái thấy hình vẽ mình không ăn thịt nữa. Tục xâm mình của dân Bách Việt có từ đó. Thuồng luồng chuyên sống dưới nước thấy rõ qua câu: thuồng luồng ở cạn  có nghĩa là sống trong nghịch cảnh… không phải môi trường sống của mình.

Ta cũng thấy thong long, cây đòng dài nhọn biến âm với thuồng luồng. Như thế thuồng luồng là con đòng dài, ruột thịt với loài cá sấu, với giao long.

Thuồng luồng cũng biến âm với thằn lằn, một loài bò sát như cá sấu. Sauria, thằn lằn có sau- = sấu. Dinosaur, loài thằn lằn kinh khủng, Hán Việt gọi là khủng long (con rồng kinh khủng). Cá sấu cũng là con cháu của một loài khủng long, một loài Saur kinh khủng.

Ngày nay thằn lằn lớn cũng được gọi là dragon (rồng, long) như ở Nam Dương có loài thằn khổng lồ gọi là dragon Komodo.

Người Thái ở Việt Nam có vật tổ tu luông tương tự như con thuồng luồng. Ta thấy rõ tu luông biến âm mẹ con với thuồng luồng.

 Thìn là Rồng.

 Rồng là gì ?

-Rồng ruột thịt với Rắn.

Ta thường thấy rồng đi đôi với rắn. Rồng rắn.

.Rồng biến âm mẹ con với Ròng, Dòng (nước chuyển động) tức ruột thịt với nước. Như thế rồng liên hệ với nước như rắn. Rồng ruột thịt với rắn nước có một tên là liu điu hay thìu điu. Trong bài thơ nói về Rắn Đầu Biếng Học, Chiêu Lì Lê Quí Đôn cho biết rõ liu điu là một loài rắn:

 Chẳng phải liu điu cũng giống nhà,

Rắn đầu biếng học lẽ không tha…

Ca dao tục ngữ Việt Nam cho thấy rõ thìu điu là con rắn nước:

Đôi ta như thể thìu điu,

Nước chẩy mặc nước, ta dìu lấy nhau.

 Và  rắn nước liu điu ruột thịt với rồng:

 Trứng rồng lại nở ra rồng,

Liu đi lại nở ra dòng liu điu.

 Theo biến âm iu, iêu = in, iên như diễu binh = diễn binh ta có  thìn = thìu,  và  theo th = đ (thủng thỉnh = đủng đỉnh), ta có thìn = thìu = điu. Rõ ràng thìn ruột thịt với rắn nước thìu điu.

Thìn, Rồng và Long (lung) Trung Hoa

Rồng biến âm với Long (người Trung Hoa nói r thành l như fried rice, cơm chiêm nói thành fried lice, chấy chiên).

Từ long chỉ cả các loài có thân giống rắn như địa long là con giun đất; chỉ loài bò sát như thằn lằn ví dụ như bích long là con thạch sùng, khủng long là loài ‘thằn lằn” khổng lồ kinh khủng…

Long biến âm với lươn, luồng, thong long, thuồng luồng.

Qua từ long ta thấy rõ con long của Trung Hoa liên hệ với rồng, thằn lằn, cá sấu, thuồng luồng.

 Như thế long có vẻ có gốc từ Bách Việt sông nước thờ rắn, cá sấu, thuồng luồng, rồng.

 Những điểm cho thấy Thìn nghiêng về gốc Việt Nam. 

Tại sao trong 12 con giáp chỉ có một linh vật duy nhất là thìn?

Trong 12 con giáp thì 11 con đều là những con thú có thật trong thiên nhiên như Tí chuột, Sửu thú có sừng, Dần là cọp… chỉ riêng con Thìn là một linh thú, một con thú thần thoại không có trong thiên nhiên. Phải có một lý do nào đó.

Thìn có cốt là con thú gì có trong thiên nhiên? Ở trên, ta đã biết Thìn có cốt loài sống dưới nước biến âm với Thìu (điu) (rắn nước), Thắn (Mường ngữ rắn), thong long (cá sấu), thuồng luồng, thằn lằn. Ta hãy tìm xem thật sự Thìn có cốt là con thú nào.

.Thìn có cốt Thìu (rắn nước), Thắn (rắn)?

Không thể được. Thìn Trung Hoa có bốn chân. Rắn không có chân. Vả lại trong 12 con giáp đã có con Tỵ là Rắn. Vì thế ta gạt bỏ nghĩa Thìu Rắn Nước, Thắn Rắn của Thìn qua một bên để tránh trùng nhau.

.Thìn có cốt là con thong long (đòng dài nhọn) tức con cá sấu). Rất có thể. Thìn có 4 chân và có vẩy như vẩy cá.

.Thìn có cốt là con thuồng luồng. Thuồng luồng gần cận với cá sấu. Dựa vào cổ sử thuồng luồng ăn thịt dân Việt xuống nước bắt cá. Cá sấu cũng ăn thịt người. Ngưởi Khmu có vật tổ tương tự  thuồng luồng gọi là prư-đồng có hình rắn có mào, có vẩy, có chân… Hình rắn có chân là hình ảnh con cá sấu. Tục ngữ có câu «thuồng luồng ở cạn» cũng cho thấy thuồng luồng ở trên cạn được dù sống trong nghịch cảnh khó khăn khó kiếm ăn trên cạn được.

Như thế Thìn có thể có cốt thuồng luồng ruột thịt với cá sấu.

.Thìn có cốt là Thẩn giao long có cốt cá sấu, thú biểu của Giao Việt.

.Thìn có cốt là con thằn lằn?

Vì có cốt nước, phải là con thằn lằn nước. Có thể các tộc ở vùng không có cá sấu dùng con thằn lằn nước hay con thằn lằn có trang trí thêm các biểu tượng cho nước thay thế cá sấu. Tuy nhiên quan sát con Thìn của Trung Hoa, ta thấy rõ Thìn Trung Hoa không thể nào có cốt là thằn lằn mà phải có cốt cá sấu. Lưỡi thằn lằn có thể lè ra, búng ra khỏi miệng để bắt côn trùng trong khi lưỡi cá sấu dính sát vào hàm dưới không lè ra khỏi miệng được. Thìn Trung Hoa không lè lưỡi ra khỏi miệng nên có cốt là cá sấu, chứ không phải thằn lằn.

Một điểm nữa ta cũng thấy Thìn có cốt cá sấu qua nhận xét tính nòng nọc, âm dương của 12 con giáp. Trong 12 con giáp ta thấy có các cặp thú giống nhau mang tính âm dương đối nghịch như Dần cọp mang dương tính đi cặp với Mão mèo mang âm tính, Sửu là trâu loài có sừng sống được dưới nước mang âm tính trong khi Mùi dê có sừng mang dương tính (biểu tượng cho mặt trời trong văn hóa Ai Cập cổ), Thân vọc (khỉ) và Tuất chó. Con vọc là con bọc, con túi, sống trên ngọn cây biểu tượng cho khí gió âm (Tôn Ngộ Không là con khỉ gió bay được), ta có câu chửi «đồ khỉ gió» sau kiêng nói trại đi để tránh từ khỉ xui xẻo nên nói là khí như «đồ khí gió». Khỉ liên hệ với khí gió. Tuất chó, con chó là con  chu (tru) con hú biểu tượng cho khí gió dương (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt)… Như vậy Tỵ đã là rắn mang âm tính nước rồi thì phải đối ngược với Thìn cá sấu mang dương tính đòng nhọn thong long sống ở vùng đất âm đầm lầy. Thìn phải có cốt cá sấu mới hợp lý.

Như vậy người Trung Hoa cổ đã né tránh không lấy con cá sấu nên họ đã lấy Thìn, một linh thú có cốt cá sấu. Tại sao? Thứ nhất tại vì cá sấu chỉ có ở vùng đầm lầy sông rạch phía nam Trung Hoa thuộc địa bàn Bách Việt. Người Trung Hoa ở phía bắc không có cá sầu. Thứ nhì, tại vì cá sấu là vật tổ Cá Việt thần thọai hóa thành giao long, vật tổ của Giao Việt. Trung Hoa cổ và Bách Việt thù nghịch nhau.

Như đã nói, trên đồ đồng cổ Đông Sơn còn ghi khắc lại hình cá sấu như trên trống Hòa Bình, còn ghi khắc lại rất nhiều giao long bốn chân hình cá sấu thần thọai hóa đi. Trên các trống đồng của đại tộc Đông Sơn cổ không có hình rồng long Trung Hoa. Chỉ những trống muộn ở Nam Trung Hoa sau này mới có hình long Trung Hoa vì đã bị ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa.

Cái ấn hành chánh của Triệu Mô Vũ Đế cháu Triệu Đà có hình rồng giao long cá sấu của Bách Việt (xem Mộ Nam Việt Vương Triệu Mô, bacsinguyenxuanquang.wordpress.com).

Người Trung Hoa cổ không phải chỉ né tránh dùng con cá sấu mà trong 12 con giáp ta cũng thấy họ né tránh dùng một hai con thú nữa liên hệ với Bách Việt. Ví dụ như con Mão, mèo phát âm là Miêu trùng tên với Tam Miêu nên họ không dùng Mão mèo mà thay bằng Mão thỏ. Sửu là sừng họ không lấy trâu vì trâu là vật tổ Kim Ngưu của Lạc Việt làm lạc điền ruộng nước mà họ lấy Sửu bò hợp với văn hóa võ biền, du mục trồng lúa mì, kê. Thật ra như đã nói ở trên trong 12 con giáp có hai con thú có sừng là Sửu và Mùi thì theo nòng nọc, âm dương một con Mùi dê có sừng đã mang dương tính biểu tượng cho đất dương (thú bốn chân sống trên mặt đất nên biểu tượng cho đất) thì Sửu có sừng phải là biểu tượng cho đất âm có nước tức phải là con trâu mới hợp lý hơn con bò.

Như thế Thìn trong 12 con giáp có một khuôn mặt chính là có cốt cá sấu, có cốt thuồng luồng, giao long (cũng có cốt là cá sấu).

Kết luận

Tóm lại về ngôn ngữ học từ Thìn trong 12 con giáp ruột thịt với các từ thuần Việt, nôm Việt nôm na mách qué là Thìu (điu) rắn nước, là thắn (Mường ngữ rắn), là trăn, là thong long đòng dài cá sấu, thuồng luồng cốt cá sấu. Nếu nhìn  theo Hán Việt thì thìn là thẩn, là giao long cốt cá sấu. Người Trung Hoa gốc phương Bắc không có cá sấu nên từ thẩn có xác xuất cao lấy từ Mường ngữ thắn, thuồng… của Bách Việt. Căn cứ vào bốn chân, Thìn có cốt là cá sấu, thuồng luồng, giao long vật tổ của ngành nòng Khôn âm trong đó có Lạc Việt của Bách Việt.

Về văn hóa Thìn có nguồn gốc Bách Việt có địa bàn sông nước. Bách Việt có 12 con giáp riêng hợp với văn hóa sông nước. Người Trung Hoa đã lấy 12 con giáp và sử đổi lại cho hợp với văn hóa du mục sống vùng đất khô. Qua con giáp Thìn này ta thấy họ không có cá sấu và vì cá sấu chỉ có ở phía nam Trung Hoa, địa bàn của Bách Việt và vì cá sấu là vật tổ Cá Việt của Giao Việt còn khắc ghi rõ trên trống Hòa Bình nên họ đã thần thoại hóa đi thành con long Thìn, một con linh vật duy nhất, lẻ loi trong 12 con giáp.

Một lần nữa qua  từ Thìn cho thấy tên 12 con giáp có gốc nôm na mách qué thuần Việt, nôm Việt.

July 29, 2011

Ý NGHĨA NHỮNG TỪ THÔ TỤC TRONG VIỆT NGỮ.

Filed under: Ý Nghĩa Những Từ Thô Tục — Quang Nguyen @ 6:58 am

Ý NGHĨA NHỮNG TỪ THÔ TỤC TRONG VIỆT NGỮ

 Nguyễn Xuân Quang

Những từ mà chúng ta ngày nay cho là “thô tục”, đối với tổ tiên ta chúng mang đầy ý nghĩa về triết lý, vũ trụ quan và nhân sinh quan, nói một cách khác những từ này mang ý nghĩa của Dịch lý.

Vì đây là một bài khảo cứu về ngôn ngữ và Dịch học, nên tác giả xin phép viết các từ thô tục này “nguyên con” (nguyên chữ). Xin các nhà đạo đức tạm gác cái bầu đạo đức qua một bên khi đọc loạt bài này kẻo không sẽ nguy hại tới sức khỏe (đây là lời khuyên của một thầy thuốc).

NHỮNG TỪ CHỈ BỘ PHẬN SINH DỤC NỮ

Trước hết xin nói về những từ chỉ bộ phận sinh dục phái nữ vì xã hội loài người bắt đầu từ mẫu hệ và hư vô trung tính chuyển qua vũ trụ âm trước. Việt ngữ có những từ chỉ bộ phận sinh dục nữ như nường, lồn, dánh, ke, ghe, nốc, dốc, đốc v. v…

NƯỜNG

Nường là tiếng cổ Việt chỉ bộ phận sinh dục nữ thấy rõ qua từ kép “nõ nường”. Nõ là nọc là cọc là cặc (xem dưới). Nường là nương, là nang có nghĩa là cái bao, cái túi, cái bọc. Nường là nòng, nõ là nọc. Nõ nường là nọc nòng dương âm là càn khôn. Ta cũng có từ nõn nường hàm nghĩa chỉ bộ phận sinh dục:

                         Ba mươi sáu cái nõn nường,

                        Cái để đầu giường, cái gối đầu tay.

                                        (ca dao).

 Thật ra nõn nường chỉ bộ phận sinh dục gái tơ với nõnnon, trẻ, mượt mà như vải phin nõn, trắng nõn trắng nà. Từ nõn nà với nà là ná, nạ (mẹ) nàng, nường.  Nõn nà là nường non, gái tơ, cái nường trắng nõn, trắng nà. Nõn nà là nàng đẹp tương đương với mị nương chính là Mã Lai-Java ngữ nona, nàng.

 LỒN

Lồn là lồng, lòng, nòng, nàng, nường, nang có nghĩa là cái bao cái túi, cái bọc.

Lồn, lồng là dạng nam hóa, hiện kim của nòng, nường (l là dạng nam hóa, hiện kim của n). Lồn liên hệ với lồng thấy rõ trong Anh Pháp ngữ: vagina, vagin (âm đạo) liên hệ với invagination (lồng vào nhau) như intestinal invagination (chứng ruột lồng) còn có tên là intestinal intussusception. Lồng còn có nghĩa là  vật đựng, dùng để “nhốt” chim hay gà. Ở một diện, chim biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam (xem dưới) và gà trống cũng vậy. Anh ngữ cock là gà trống và cũng là từ chỉ bộ phận sinh dục nam. Anh ngữ “cock” có gốc coc-, chính là Việt ngữ cọc, cặc. Rõ ràng cái lồn, cái lồng dùng để “nhốt” chim và gà của phái nam. Với nghĩa là túi, bao, bọc, lồn tương ứng với Pháp ngữ vagin, Anh ngữ vagina (âm đạo). Theo v=b như víu = bíu, vagin, vagina có gốc vag- = bag (túi, bao). Anh ngữ vaginate có nghĩa là có bao, có túi. Với nghĩa là lồng, lòng, dạ, lồn liên hệ với Ba Lan ngữ lono (‘bosom’, ngực, lòng; lap, đùi, chỗ trũng, chỗ lõm, với Phạn ngữ yoni (vulva, âm hộ) (theo qui luật l=d=y). Phạn ngữ yoni liên hệ với yauna (dạ con), yauna chính là yoni + a. Ta thấy rõ trong tiếng Việt, phái nữ nàng, nương, nường gọi theo bộ phận sinh dục nữ nường, lồn giống hệt như các tộc khác của Ấn Âu ngữ như Phạn ngữ yoshana, yosha, yoshit (đàn bà) là gọi theo yoni. Ý ngữ donna, Tây Ban Nha dona (n có dấu ngã), Bồ Đào Nha dona, v. v… có nghĩa là lady (bà, đàn bà, phái nữ) tất cả có gốc don-, theo d=l như dần dần = lần lần, don- = lồn. Ở Thái Bình có loài sò hến gọi là con don. Món canh don ở Thái Bình rất nổi tiếng. Sò hến có một nghĩa dùng chỉ bộ phận sinh dục phái nữ. Con don là con yoni con lồn.

Cũng xin nói thêm ở đây là vì có biến âm d=l nên ta có từ nói lái đôn lò.

KE

Trong Từ Điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes có từ ke chỉ “chỉ bộ phận sinh dục đàn ông hay đàn bà”. Về phía phái nữ ke chính là kẽ như kẽ nứt, kẽ hở, kẽ tay, đọc thêm hơi vào ke thành khe. Ke, kẽ, khe là những từ tượng hình chỉ bộ phận sinh dục nữ, Anh ngữ bình dân gọi là slit. Cũng trong Từ Điển Việt Bồ La có tứ dánh, dắnh chỉ lồn. Đây chính là từ dãnh, rãnh chỉ cái khe, cái mương, cái máng.

GHE

 Ghe chỉ bộ phận sinh dục nữ như thấy qua câu ca dao:

         Khôn thì ăn cháo, ăn chè,

        Dại thì ăn đếch, ăn đác, ăn ghe, ăn đồ.

                                        (ca dao).

Ghe chỉ bộ phận sinh dục nữ như thấy qua cách biếu xén quà cáp. Muốn chửi rủa ai, vào dịp giỗ tết đem biếu hai quả cau và ba chén chè. Hai quả cau “nang” chỉ hai cái “trứng” của phái nam và ba (chén) chè nói lái lại là ghe bà. Theo chuyển hóa k= gh như ké = ghé, kê = ghế (cái đòn kê để ngồi là dạng nguyên thủy của cái ghế ngày nay), ta có ke = ghe. Ghe là ke là kẽ, là khe.  Ghe chỉ bộ phận sinh dục nữ nên ta có từ “ghế” tiếng nói trại đi của từ “gái”. Con ghế có ghe. Nguyên thủy cái ghe làm từ một thân cây khoét rỗng (dug-out) có hình cái khe. Vì thế mà thuyền độc mộc gọi là cái ghe. Phi Luật Tân Tagalog ngữ gay”là ghe biến âm với gái, theo g = c, gay = cây. Rõ ràng ghe, gay là thuyền độc mộc khoét từ một khúc cây và liên hệ đến gái, bộ phận sinh dục nữ. Ở đây ta có thể dùng tiếng Việt để giải thích nguyên ngữ của từ Anh ngữ she (nàng, nường, phái nữ, đại danh từ ngôi thứ ba số ít, giống cái). She liên hệ với Việt ngữ chị, với Quảng Đông ngữ chế (nên nhớ là Quảng Đông là phần đất cũ của Bách Việt). Áp dụng qui luật c = k = s như cắt = sắt, khe = she. She liên hệ với khe, ghe. She có khe, có ghe ! Một điểm cũng cần nói tới là Việt ngữ ghe cũng có nghĩa  là thuyền tàu (ship). Như đã nói, ghe  biểu tượng cho bộ phận sinh dục nữ mang tính thuần âm nên chỉ nói là “cái ghe” chứ không bao giờ nói “con ghe”. She gần âm với shipship cũng có giống cái phải dùng she thay cho ship.

Xin bước ra ngoài lề bài viết để kể một câu chuyện lúc tôi đi tuần du hải dương (sea cruise). Trong một buổi gặp mặt thuyền trưởng, một du khách hỏi vị thuyền trưởng là tại sao ship có giống cái và nói là she. Vị thuyền trưởng trả lời là các người đi biển coi con tầu, chiếc thuyền như một mỹ nhân, một người yêu, họ sống chết theo con tầu, chiếc thuyền. Tôi có nói nhỏ với vị thuyền trưởng là trong Việt ngữ  ghe ship có nghĩa là bộ phận sinh dục nữ. Ông ta há hốc miệng. Bằng chứng là Ainu ngữ của thổ dân ở Nhật có từ chip là ghe thuyền cũng có nghĩa lóng là bộ phận sinh dục nữ (xem dưới).

NỐC, DỐC, ĐỐC

 Nốc là cổ ngữ Việt chỉ thuyền, ghe. Ngày nay chỉ thuyền nhỏ, còn dùng ở miền bắc Trung Việt:

         Ăn thì cúi chốc, kéo nốc thì than.

                                (Tục ngữ).

 Ăn thì cắm đầu xuống ăn, còn kéo thuyền thì than.

Hay

         Một trăm chiếc nốc chèo xuôi,

        Không có chiếc mô chèo ngược, để tôi gởi lời viếng thăm.

                                (Hát đò đưa Nghệ Tĩnh).

Hay

         Đêm khuya thắp ngọn đèn chai,

        Quen o nốc đáy, ăn hoài cá tươi.

(ca dao).

 Cũng nên biết nốc ở dưới nước nên liên hệ tới nước. Nốc còn có nghĩa là uống như nốc nước, nốc rượu. Nốc biến âm với nác, nước, núc. Nguyên thủy nốc cũng làm từ một thân cây khoét rỗng. Nốc liên hệ với Anh ngữ nog (cái chốt bằng khúc cây) log (thân cây). Nốc là ghe cũng có nghĩa là bộ phận sinh dục nữ. Nốc liên hệ với An ngữ nook (chỗ lõm, “xó” nhà, chỗ lõm dùng làm chỗ ngồi ăn gần bếp). Theo n=l, nốc = lốc, lốc cũng chỉ bộ phận sinh dục như thấy qua câu ca dao:

        Cô lô cô lốc,

        Một nghìn ghính ốc đổ vào lồn cô.

Thật ra phải viết là “cô lô cô nốc” mới đúng. Từ hiện kim lốc là dạng nam hóa của nốc (giống như của ) vô nghĩa. Như thế nguyên thủy nốc là thuyền độc mộc. Cổ ngữ Việt cũng có từ  dốc, đốc chỉ thuyền. Trong Từ Điển Việt Bồ La có từ dốc chỉ cơ quan sinh dục đàn bà. Theo n = d như này = đây, ta có nốc = dốc, đốc. Đốc cũng chỉ cơ quan sinh dục đàn bà như thấy qua từ mồng đốc chỉ hạt tình (clitoris) (1).  Mồng đốc là cái mồng thịt ở cái đốc, cái nốc phái nữ.

Như thế ta thấy một nhóm chỉ bộ phận sinh dục nữ qua các từ có nghĩa là ghe, nốc liên lạc với nước mang tính thái âm, thuần âm. Ngay cả từ đò đôi khi cũng được dùng để chỉ bộ phận sinh dục nữ như thấy qua câu ca dao:

         Khi xưa anh ở cùng đò,

        Bây giờ đò rách anh mò thuyền nguyên.

 Từ đò gần âm với đồ. Từ đồ có nghĩa là ông đồ nho và cũng có nghĩa là bộ phận sinh dục như thấy qua câu thơ của một nhà thơ cổ chế riễu hai ông nhà nho:

         Hai đứa tranh nhau một cái đồ!

 Đò biến âm với đỏ. Đỏ cũng có một nghĩa là con gái, bộ phận sinh dục nữ như thấy trong câu hát:

                Thằng cu vỗ chài,

Bắt trai bỏ giỏ.

Cái đỏ ẵm em,

Đi xem đánh cá…

 Cái đỏ đối với thằng cu, “đỏ” đối với “cu”.

Đò cũng biến âm với đó, dụng cụ bắt cá có hình túi cũng chỉ bộ phận sinh dục nữ như thấy qua câu tục ngữ:

                 Đó rách ngáng chỗ.

 Ý nói các bà vợ có “đó đã rách” nên nằm ngáng chỗ khiến các ông chồng không thể mò được “thuyền nguyên”. Cái hay nữa là “đó” cũng có nghĩa là “ấy”. Cái đó là cái ấy.

Điều rất thú vị là không những các từ cổ Việt chỉ bộ phận sinh dục nữ còn có nghĩa là ghe, nốc mà trong ngôn ngữ của người Ainu (Hà Di), thổ dân sống ở Nhật Bản có từ chỉ bộ phận sinh dục nữ cũng có nghĩa là ghe, nốc. Ainu ngữ chip chỉ ghe thuyền. Ta thấy rất rõ chip liên hệ với Anh ngữ ship (ghe thuyền, theo c=s). Ngoài ra Ainu ngữ chip cũng dùng như một tiếng lóng chỉ âm đạo:chip, a slang word for the vagina(Rev. John Batchelor, Aini-English-Japanese Dictionary, Tokyo, 1905). Người cổ Việt đã gặp người Ainu “trong phòng the” cách đây hàng mấy ngàn năm. Nên biết là cái nốc, cái độc mộc có thể đi khắp bốn biển sang tới tận Madagascar (ngày nay thuyền độc mộc còn dùng nhiều ở đảo này, ngôn ngữ Magdagascar liên hệ với tiếng Mã-Nam Dương và Nam Á) thì thuyền độc mộc hay cái “nốc” của phái nữ cổ Việt sang tới đất Nhật Bản cũng là chuyện không có gì đáng ngạc nhiên cả.

Dĩ nhiên, ngoài ra còn có những tiếng lóng chỉ bộ phận sinh dục nữ. Chỉ xin nói tới một từ phổ thông nhất là từ lá đa.

 LÁ ĐA

Lá đa chỉ bộ phận sinh dục nữ thấy qua câu ca dao:

 Sự đời như cái lá đa,

Đen như mõm chó, chém cha sự đời.    

Như đã giải thích ở chương Giống Đực Giống Cái trong Tiếng Việt Huyền Diệu, miền Bắc gọi là cây đa trong khi Trung Nam gọi là cây da. Từ da của Trung Nam theo duy âm, nòng có một nghĩa là cái túi cái bao, cái bọc thân người như da người, da trời.  Thái ngữ nang là da. Với nghĩa là túi, bọc, nang nên lá đa là lá nường, là lá nàng, lá nòng, là lồng, lồn.

Về ngôn ngữ học, lá đa theo duy dương, nọc có nghĩa là lửa, mặt trời, đỏ.

Như thế lá đa theo duy dương là lá trời, lá đỏ (Nguyễn Xuân Quang, Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt, 2002). Như trên ta đã thấy đỏ cũng chỉ bộ phận sinh dục nữ, phái nữ như “con đỏ ẵm em”. Lá đỏ chỉ bộ phận sinh dục nữ vì thế lá vông cũng dùng chỉ bộ phận sinh dục nữ vì vông biến âm với vang có nghĩa là đỏ.  Đỏ biến âm với đẻ, Phạn ngữ ja là đẻ cùng âm với Việt ngữ da, đa. Lá đa, lá vông có thể hiểu là “lá đỏ”, “lá đẻ”. Lá vông chỉ bộ phận sinh dục nữ, phái nữ thấy rõ qua tục mai táng của Việt Nam:

         Cha gậy tre, mẹ gây vông.

 Khi cha chết con trai chống gậy tre. Như đẵ biết tre là cây “que”, loài thảo mộc thẳng như cái que không có cành nhánh lớn. Que biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam, phái nam vì thế mà khi cha chết con trai phải chống gậy tre là vậy. Trong khi đó lá vông là lá đỏ chỉ bộ phận sinh dục nữ, phái nữ nên khi mẹ chết con trai phải chống gậy vông.

Ngoài ra về hình dạng lỗ sinh dục phái nữ cũng giống lá đa. Hình lá đa chỉ lỗ sinh dục phái nữ còn thấy rất rõ trong gốm cổ Moche của Peru (Gốm Tình Dục Peru Cổ).

Gốm diễn tả bộ giống phái nữ làm theo cơ thể học, người nữ hình Mẹ Đời ngồi ở tư thế sinh con, hai tay giơ lên phía đầu, ở trong Trứng Vũ Trụ (ở giữa), hình nòng O (bên trái) và hình lá đa (bên phải), Bảo Tàng Viện Larco (ảnh của tác giả).

 Lá đa, lá vông, lá mơ đều có hình dạng giống nhau vì thế “hiện thực” hơn nữa, lá mơ lông cũng dùng chỉ bộ phận sinh dục nữ.

Hơn nữa tổ tiên ta chọn lá đa, lá da và từ lá đa, lá da được dùng phổ thông hơn các thứ lá khác vì cây đa, cây da là cây thờ, cây linh thiêng, Cây Đời (Tree of Life), Cây Vũ Trụ (Cosmic Tree) sinh ra vũ trụ muôn loài. Người đàn bà đầu tiên của loài người hay Mẹ Đời của truyền thuyết Mường Việt cổ là Dạ Dần sinh ra từ một cây si, cùng họ với cây đa (Nguyễn Xuân Quang, Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt,  2002). Cái lá đa của phụ nữ Việt là một thứ lá “thiêng liêng” vì thế tục thờ  “lá đa” nói riêng và thờ nõ nường, thờ dâm thần của người cổ Việt theo mẫu hệ là chuyện dĩ nhiên.

THÌ LA, THÌ LẨY, THÈ LE, TÈ LE

Xin nói tới một từ chỉ bộ phận sinh dục nữ rất bí hiểm không một ai biết nghĩa. Ta có bài đồng dao nói về con gái:

Thì la thì lẩy,

Con gái bẩy nghề,

Ngồi lê là một,

Dựa cột là hai,

Ăn quà là ba,

Kêu ca là bốn,

Trốn việc là năm,

Hay nằm là sáu,

Láu táu là bẩy.

Thì la thì lẩy là gì? Xin thưa bài hát này nói về “con gái” nên thì la, thì lẩy có nghĩa là bộ phận sinh dục nữ. Tiếng dân dã bộ phận sinh dục gọi là cái “thè le” , “tè le” như thấy qua câu nói “dập cái thè le”,cái tè le”. Mường ngữ có hai từ thim lớ (hay “xiêm rỡ”) chỉ tình nhân cùng âm với thì la. Thì la, thì lẩy, thè le ruột thịt với Mã Lai ngữ  *tila, tilay, female genital, tộc Kelantan Borneo  teli, vagina, Balinese teli, vulva và Phi Luật Tân Tagalog ngữ tilin, vagina.  Tộc Gorontalo (WMP; Pateda 1977) tele, ‘vagina’ = tè le. Trong khi đó gốc til có nghĩa là hạt tình, mồng đốc, hột le, cái thè le (clitoris): tộc Bare’e (WMP; Adriani 1828)  tile, ‘clitoris’ = (hột) le’, thè le, thè lè; tộc Samoan (OC; Milner 1966) tela (not in decent use), ‘clitoris’ = thè le. Tôi gọi là ‘hạt tình’ vì gốc til cùng âm với ‘tình’ và “hạt’ tương ứng ‘với “hạt” dẻ rừng (glans) tức qui đầu của phái nam. Về phương diện cơ thể học hạt tình, hạt til clitoris = hạt dẻ glans.

Ông đồ nào là tác giả làm bài đồng dao này cho con nít hát quả thật là một ông “đồ thâm” nho,  một ông đồ “nho nặng” (nhọ), đồ này rất “đen” và rất “nhọ”. Cũng nên biết là bài đồng dao này rất phổ biến ở miền Bắc vì thế không phải chỉ có Trung Nam có liên hệ với Nam Đảo như Mã- Phi Luật Tân mà miền Bắc cũng có liên hệ.

NU NA NU NỐNG

Ta cũng thường nghe trẻ em hát bài đồng dao:

         Nu na nu nống,

        Cái bống nằm trong,

        Con ong nằm ngoài. . .

 Như đã  giải nghĩa  ở chương Dịch Học trong Tiếng Việt Huyền Diệu, na là một tiếng cổ Việt có nghĩa là (ná, nạ là mẹ), nàng, nang, nường như  nõn nà = nõn nường (cái nà, cái nường trắng nõn). Cổ Việt  nống là cái nọc để chống, để nâng vật gì lên. Na và nống là nường nõ, nòng nọc. Na là nà, là nàng, là nường là nòng là dòng là nước nên đi với câu hát thứ nhì có con cá bống, còn nống là cọc là nọc nên đi với câu thứ ba có con ong là loài có nọc (“ong non ngứa nọc”). Hai câu sau giải thích nghĩa của hai từ cổ ‘na” và nống”.  Còn từ “nu” nghĩa là gì? Nu biến âm với neo, néo, đeo, đéo với đu, đụ. Nu na nu nống hiển nhiên là “đu na đu nống” là làm tình. Ông đồ nào làm ra bài đồng dao này cũng là loại đồ thâm.

 NHỮNG TỪ CHỈ BỘ PHẬN SINH DỤC NAM

Việt ngữ có những từ chỉ bộ phận sinh dục nam như nõ, lõ, ke, que, buồi, cặc, chông, chim, cò, cu v. v…

Nhìn chung những từ chỉ bộ phận sinh dục nam có nghĩa là “vật nhọn” như nọc, cọc, que, roi, dùi…

NÕ                                 

Tiếng cổ Việt nõ chỉ bộ phận sinh dục nam như nõ nường (nọc nòng). Nõ là cái cọc, cái nọc như đóng cọc mít cho mau chín gọi là đóng nõ mít. Nõ nam hóa thành lõ. Trong từ Điển Việt Bồ La của Alexandre de Rhodes có từ “lõ”: ‘làm dương vật cương lên như khi con vật giao cấu. Blỏ cùng một nghĩa’ và có từ “lô”, “con lô”: ‘cơ quan sinh dục của đàn ông’. Hiển nhiên lõ, lô là biến âm của nõ. Lõ trong tiếng Việt hiện kim chỉ vật gì đâm ra như cái cọc nhọn ví dụ mũi lõ, cặc lõ hay lõ cặc. Có phương ngữ nói là cặc lỏ (dấu hỏi). Theo l=n, lỏ = nỏ, vật bắn mũi tên (một thứ nọc, cọc nhọn). Thời cổ con người dùng cây nõ, cây cọc nhọn đâm thú vật mải về sau mới phát minh ra cây nỏ, cây ná bắn mũi tên. Ta thấy cây nõ đẻ ra cân nỏ, cây ná.

Ở đây ta thấy lõ (dấu ngã) và lỏ (dấu hỏi) theo hai cách nói và viết với hỏi ngã khác nhau của hai phương ngữ khác nhau đều đúng cả, chỉ có từ này cổ hơn từ khác mà thôi. Vì thế trong Việt ngữ vùng này nói theo âm dấu hỏi vùng kia nói theo âm dấu ngã chưa hẳn là ai đúng ai sai. Chúng ta phải chờ cho tới khi có một hàn lâm viện Việt Nam quyết định chọn viết theo dấu nào để dùng trong pháp ngữ Việt thì khi đó ta đem dùng trong các viết theo học viện (academic). Giả dụ các ông học viện sĩ (hàn lâm viện sĩ, viện sĩ) hỏi ý kiến tôi chọn cách viết theo dấu ngã hay theo dấu hỏi, thì tôi chọn viết theo lõ (dấu ngã) dựa vào các lý lẽ sau đây:

./ gốc nõ (cây cọc) cổ hơn nỏ (vật bắn cọc nhọn) như đã nói ở trên cây nõ đẻ ra cây nỏ.

./ theo cách giúp trí nhớ về hỏi ngã mà chúng ta thường nghe nói tới là “(Chị) Huyền ngã nặng, hỏi sắc (thuốc) không?” thì dấu ngã (lõ) đi với dấu nặng (cặc).

./ta thường viết mũi lõ rồi  thì viết cặc lõ cho nó  thuận chiều với nhau.

 NỌC

Heo nọc là heo đực.

CỌC

  Cọc chỉ bộ phận sinh dục nam như thấy qua thơ Hồ Xuân Hương:

         Quân tử có thương thì đóng cọc,

        Xin đừng mân mó nhựa ra tay.

                (vịnh Quả Mít).

 Hay

 Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không.

                        (vịnh Cái Đu).

 Anh ngữ cock gà sống cũng có nghĩa là bộ phận sinh dục nam, có coc- chính là cọc.

CHÔNG

Chông là cái cọc nhọn cũng chỉ bộ phận sinh dục nam:

. . . . . .

 Thịt chó tiểu đánh tì tì,

Bao nhiêu lỗ tội tiểu thỉ cắm chông.

Nam mô xứ Bắc xứ Đông,

Con gái chưa chồng thì lấy tiểu tôi.

(ca dao).

Chông cùng vần với chống là cái que, cái nọc để đỡ vật gì, với trống là đực với chồng là người có chông, có chống là người trống. Trong khi đó vợ biến âm với vỏ là cái bao, cái bọc, cái túi (xem Dịch Lý).

KE, QUE

Như đã nói trong từ Điển Việt Bồ La của Alexandre de Rhodes có từ ke chỉ bộ phận sinh dục nữ và nam. Theo duy dương, ke biến âm với kẻ (kèo nhỏ, thước kẻ), với que chỉ bộ phận sinh dục nam.

CẶC

Trung Nam gọi bộ phận sinh dục nam là cặc. Cặc là biến âm của cược, cọc như tiền đặt cọc là tiền đặt cược (Lê Ngọc Trụ, Việt Ngữ Chính Tả Tự Vị). Từ cặc liên hệ với những từ chỉ bộ phận sinh dục nam của Tây Ban Nha carajo, Latin dân dã caracium, Hy Lạp karas (pointed stake, cọc nhọn, REW. 1862) có car- là cặc; với Breton kalc’h, Cornish cal, Welsh col (sting, ngòi, nọc), Ái Nhĩ Lan colg (sword, gươm, kiếm, Pederson 1.105), giáo hội Slavic kocanu (c và u có dấu ă), Albanian kotsh (rod, stalk, que, roi, cọng cây, Berneker 536); Phạn ngữ kaprt(h)- (r có chấm ở dưới) (Walde –P. 1.348, 2.49). . .

BUỒI

Miền Bắc dùng từ buồi chỉ bộ phận sinh dục nam không dùng từ cặc. Buồi biến âm với bổ, búa (búa đây là búa có mỏ nhọn tức búa chim) cũng là vật nhọn. Buồi liên hệ với Anh ngữ bur (mũi khoan), ebur (ngà voi), spur (mấu nhọn như cựa gà, mấu nhọn ở gót giầy để thúc ngựa). Buồi biến âm thành “bòi »: trong từ Điển Việt Bồ La của Alexandre de Rhodes có từ bòi: ‘cơ quan sinh dục của đàn ông’. Buồi ngày nay  cũng nói trại đi thành “bòi” như “Đứa nào cười tớ nó ăn bòi”. Buồi, bòi liên hệ với Anh ngữ boy (con trai). Thằng “boy” có bòi, có buồi. Theo biến âm b=v, bòi = vòi. Vòi cũng mang nghĩa bộ phận sinh dục nam. Phái nam đi tiểu trông giống như  cái vòi phun nước nên Anh ngữ cock có nghĩa là bộ phận sinh dục nam và cũng có nghĩa là “vòi nước”. Khái Hưng trong truyện Trống Mái có một nhân vật rất nổi tiếng, một biểu tượng về tình dục (sex symbol) mang đầy hùng tính, nam tính tên là Vọi. Có lẽ Khái Hưng đã chọn tên này vì nó gần cận với Vòi, Bòi. Theo biến âm b=m, buồi = muồi, muỗi. Con muỗi là con mũi có vòi nhọn như kim nhọn hút máu; buồi = mùi. Trong mười hai con giáp Mùi là con dê là con thú có sừng biểu tượng cho dương, nam tương đương với con hươu. Hán Việt dương là dê. Dương có một nghĩa là đực. Đực biến âm với đục (chisel) là vật nhọn.

Nhìn chung buồi là  bổ, búa, vật nhọn liên hệ với gốc tái tạo Ấn-Âu ngữ *pes-, *pesos- (Walde-P. 2.68, Ernout-M 7520. Anh ngữ penis có gốc pen- có một nghĩa là  cây bút, viết. Bút là bót, vót, viết là vót, vọt, cái que vót nhọn, nguyên thủy cái que vót nhọn dùng làm viết vạch lên đất sét, đá mềm. Pháp ngữ verge, Latin virga phát xuất từ gốc rod (roi), stalk (que, cọng cây) ta thấy rõ gốc ver-, vir- liên hệ với Việt ngữ vọt. Hòa Lan ngữ roed (penis) liên hệ với Việt ngữ roi

 CHIM, CÒ, CU.

 Dưới một góc cạnh, chim cò, cu có mỏ nhọn biểu tượng cho dương, bộ phận sinh dục nam. Theo biến âm ch= k như chặt = cắt, chim = kim (vật nhọn). Ta có từ ghép đồng nghĩa chim chóc. Chóc là chim. Tày-Thái ngữ chốc là chim. Với h câm chóc = cóc = cọc. Thái Lan ngữ nok là chim. Nok là nọc. Cò biến âm với cồ là đực. Đực biến âm với đục (chisel), vật nhọn. Đực là nọc như heo đực là heo nọc. Tục ngữ có câu:

    Cơm no, cò đói.

 Câu này cùng nghĩa với câu:

 No cơm, ấm cật,

Rậm rật tối ngày.

Cu biến âm với cò, cồ. Chim cu biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam:

                 Mù u, ba lá mù u,

                Vợ chồng cãi lộn, con cu giải hòa.

(ca dao).

 Con trai nhỏ thường gọi là thằng cu. Như thế chim, cò, cu có gốc từ vật nhọn, kim, nọc, cọc nên biểu tượng cho dương, bộ phận sinh dục nam.

Tóm lại, qua những từ chỉ bộ phận nam nữ ta thấy có những điểm quan trọng cầm lưu tâm như sau:

-Trong những từ chỉ bộ phận sinh dục nữ như  nường, lồn, ghe, nốc, khe, kẽ v. v. từ lồn hiện kim có gốc từ cổ ngữ nường, nòng là cái bao cái túi, cái bọc liên hệ tới Nòng (ngược với Nọc), Khôn (ngược với Càn) dùng trong vũ trụ quan, vũ trụ giáo, thờ mặt trời, Dịch học. Lồn, lồng là dạng nam hóa, hiện kim của nòng, nường (l là dạng nam hóa, hiện kim của n).  Từ lồn dùng phổ thông cả ba miền Bắc Trung Nam. Còn những từ khác gọi theo “bề ngoài” như ke, ghe, nốc  v. v… ít phổ thông. Ghe, nốc dùng nhiều ở Trung Nam thôi.

-Trong tất cả các từ chỉ bộ phận sinh dục nam như ke (que), buồi, cặc, chim cò đều có nghĩa là vật nhọn, nọc, cọc. Miền Bắc dùng buồi trong khi Trung nam dùng cặc. Điểm này một lần nữa ngôn ngữ cho thấy hai xã hội Bắc Nam mang màu sắc Nam Bắc phân ranh (giới) có thể một phần là do hậu quả của một thời Nam Bắc phân tranh. Từ buồi của miền Bắc có gốc là bổ, búa. Từ bổ biến âm với bố (đi với mẹ). Điểm này ta thấy gần cận với Hán ngữ phụ (bố) biến âm với phủ (rìu, búa). Bố có bổ, có buồi; phụ có phủ.  Buồi của miền Bắc gần cận văn hóa Trung Hoa. Bố Việt và phụ Trung Hoa đều có búa cả. Trong khi từ cặc của Trung Nam như đã thấy liên hệ với Phạn ngữ kaprt(h)- (r có chấm ở dưới), bộ phận sinh dục nam (nên nhớ là trong Chàm ngữ, Mã Lai ngữ có rất nhiều gốc Phạn)  và gần cận với Mã Lai ngữ (bang Riau Johor) chok chỉ bộ phận sinh dục nam. Chok chính là cọc là cặc. Mã-Lai cận đại theo Hồi giáo vay mượn tiếng Ả Rập hak, zakar (cặc). Theo h = c (hủi = cùi) hak = cak, cặc và zakar có –kar là cặc. Từ cặc của Trung Nam gần cận với văn hóa Mã Lai Đa Đảo.

-Về bộ phận sinh dục nam Bắc Trung Nam có hai từ riêng biệt buồi và cặc, trong khi từ lồn ngày nay được dùng phổ thông khắp ba miền. Điều này cho thấy mẹ Việt Nam đời đời như nhất, ảnh hưởng mẫu hệ vẫn còn duy trì kiên cố trong xã hội Việt Nam;  vai trò phụ nữ trong xã hội Việt Nam vẫn không thay đổi, nói một cách khác vẫn được duy trì, tôn thờ dù ở xã hộ mẫu quyền hay phụ quyền dù ở bất cứ một thể chế chính trị nào. . . Trong khi nam phái đã chia rẽ, phân biệt Bắc Trung Nam và đi theo các xu hướng, thể chế văn hóa , chính trị khác nhau.

-Lồn hiện kim có gốc từ cổ ngữ nường, nòng là cái bao cái túi, cái bọc liên hệ tới Nòng. Mặt khác buồi và cặc tuy là hai từ khác nhau nhưng đều có nghĩa gốc là vật nhọn, nọc. Như thế những từ chỉ bộ phận sinh dục nữ, nam phổ thông hiện nay đều mang nghĩa nòng nọc (âm dương). Điểm này cho thấy Dịch lý giữ một vai trò cốt yếu trong tiếng Việt nói riêng và trong văn hóa Việt nói chung. Ta thấy rõ bai chữ cái nòng (O) và nọc (I) trong chữ viết nòng nọc vòng tròn-que có gốc từ bộ phận sinh dục nữ và nam.

Điều này giải thích cho thấy rất rõ là người cổ Việt thờ nõ nường. Khảo cổ học tìm thấy những đôi tượng đá tạc bộ phận sinh dục nam nữ (nõ nường) ở  Sông Mã, tượng bộ phận sinh dục nam ở Văn Điển, trên nắp thạp Đào Thịnh có những cặp nam nữ đang làm tình… Nhiều nơi ở vùng đất tổ Việt như  ở xã Khúc Lạc và Dị Hậu tỉnh Phú Thọ gần đây còn giữ tục thờ sinh thực khí. Hàng năm hai xã vào đám ngày mồng 7 và 26 tháng giêng. Đồ lễ ngoài trầu cau rượu thịt còn có  36 âm vật và dương vật (18 cặp) gọi là nõ nường, dân địa phương gọi là “nọ nường”. Làng Đông Kỵ, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh tổ chức hội xuân rước nõ nường vào ngày mồng 6 tháng giêng. Một bô lão dẫn đầu đám rước một tay cầm dương vật và một tay cầm âm vật bằng gỗ vừa đi vừa hát:

         Cái sự làm sao, cái sự làm vầy,

        Cái sự thế này, cái sự làm sao.

 Vừa hát cụ vừa múa điệu âm dương diễn tả theo động tác làm tình. Cụ lồng hai hai bộ phận nam nữ vào nhau v. v… Một vài xã ở Hải Dương cũng có tục này. Khi đi rước thanh nam hát:

         Cái nạo thế sừ, là cái sự thế nào?

 Thanh nữ hát đáp lại:

         Cái nạy thế sừ, là cái sự thế này. . .

(Nguyễn Xuân Quang, Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt, 2002). Sự thờ phượng nõ nường, thờ phượng dâm thần hay sinh thực khí của cổ Việt không phải là thứ “man di mọi rợi”, là thứ ‘dâm phong” “ngoài vòng lễ giáo” như người Trung Hoa gán cho người cổ Việt. Nhiều người Việt ngày nay đã sai lầm cho rằng sự thờ phượng nõ nường là thô tục, là điều đáng xấu hổ. Phải hiểu nõ nường là nọc nòng là nguồn cội, là sinh tạo, là tạo hóa sinh ra vũ trụ muôn loài. Thờ nõ nường là đạo thờ nòi giống, là đạo duy trì giống nòi, là đạo hiếu sinh, trường tồn. Thờ nõ nường là đạo tối cổ của nhân loại. Hình bóng thờ nõ nường để lại trong những nền văn minh “tiến bộ hơn” nghĩa là muộn hơn như thờ lingayoni của Ấn Độ. Vào thời phụ quyền sự thờ phượng “nõ” ngự trị hơn như hình thạch bi obelisk của Ai Cập, Menhirs ở Anh và các trụ thạch ở nhiều nơi khác. . . với ý nghĩa đã xa rời “đạo gốc”, nõ nường âm dương.

Một điểm rất lý thú là trong truyền thuyết vũ trụ tạo sinh của người Hawaii có hai vị thần tổ sinh tạo ra trần thế (Earth and the things on the Earth) có tên là thần KuLono  (Martha Beckwith, Hawaiian Mythology, tr.32) tương ứng với Việt ngữ là  thần Cu và thần Lồn. Điều này cũng dễ hiểu vì những tộc Mặt trời nước liên hệ với cổ Việt hay phát xuất từ cổ Việt ở Đa Đảo (Polynesia), Mã-Nam Dương đã dùng thuyền đi tìm đất mới tới tận các đảo xa xôi, trong đó có quần đảo Hawaii.

Chim biểu của bang Hawaii là con ngỗng ne ne ruột thịt với con vịt trời le le (ne ne là âm cổ của le le ; ne biến âm với na, nã là nước và le biến âm với lã là nước ngọt, ngỗng ne ne và vịt trời le le đều là loài chim nước). Ngỗng ne ne của Hawaii ruột thịt với le le Vụ Tiên của Việt Nam. Con vịt trời le le Vụ Tiên bay tận đến Hawaii biến thành con ngỗng ne ne. Do đó ngôn ngữ cũng như truyền thuyết về vũ trụ tạo sinh của người Hawaii vẫn còn sót lại những dấu tích của cổ Việt.

Người cổ Việt thờ nõ nường nên Việt Dịch nòng nọc là Dịch nguyên thủy. Trong khi Trung Hoa có thuyết âm dương nhưng không thờ nõ nường chứng tỏ Dịch Trung Hoa không phải là Dịch nguồn cội, là loại Dịch đã tân tiến, đã muộn.

NHỮNG TỪ CHỈ LÀM TÌNH

Những từ phổ thông chỉ làm tình miền Bắc có những từ như địt, đéo, lẹo (loài vật), phủ…, Trung Nam có từ đụ.

ĐỊT

Miền Bắc dùng từ địt chỉ làm tình, trong khi đó Trung Nam từ địt chỉ đánh hơi (Miền Bắc nói đánh hơi là đánh rắm). Trong những năm còn là sinh viên y khoa tôi thường được nghe kể lại câu chuyện một vị gáo sư Y Khoa người miền Nam, sau khi giải phẫu bụng cho một cô gái người Bắc di cư, lúc đi thăm hậu giải phẫu, vị giáo sư này hỏi người bệnh “Chị đã địt chưa?”. Con bệnh đỏ mặt, xấu hổ . . .  Cho tới khi tôi viết những dòng này, không ai hiểu tại sao. Xin giải toả thắc mắc này.

-Địt là làm tình.

Theo biến âm đ=d như đa = da (cây), ta có địt = dịt. Từ dịt có một nghĩa là dính vào nhau, dán dính vào, buộc vào nhau như dịt thuốc vào vết thương. Theo d = r (dăng = răng), dịt = rịt, rít. Rít có nghĩa là dính như rít rịt. Theo d = ch như  giăng = chăng, dịt = chịt, chít. Chằng chịt là cột cứng bằng nhiều dây rợ qua lại nhiều lần. Chít khăn là cột, quấn khăn. Theo d = n như dăm = năm, ta có dịt = nịt. Nịt là dây, đai, thắt lưng; nai nịt là cột người bằng thắt lưng, bằng dây. Như thế địt chỉ làm tình có nghĩa là dính vào nhau, cột vào nhau. Ta thấy rất rõ miền Bắc có từ đi tơ chỉ loài vật (thường là chó) giao hợp với nhau. Tơ là sợi dây. Đi tơ là cột vào nhau như cột bằng sợi tơ, sợi dây.  Địt liên hệ với Phi Luật Tân Tagalog dikit, joined, Paiwan d’ekets (e ngược), to stick, gốc Uraustronesisch Dempwolff’s construction *deket (e ngược), to stick (Davidson). Rõ nhất là địt và Tagalog dik-, joined có nghĩa là nối với nhau, giao nhau cùng nghĩa với giao hợp. Địt liên hệ với Phạn ngữ snit, to love, yêu, có -nit là địt (n=đ như này = đây). Phạn ngữ snit biến âm với Phạn ngữ snih, attached, đính vào, cột vào. Rõ như ban ngày địt biến âm với dịt liên hệ ruột thịt với Phạn ngữ snit, snih.  Ngoài ra địt cũng liên hệ với Phạn ngữ nidhuvana, sexual intercourse, làm tình.  Rõ như “Con cua tám cẳng hai càng, Một mai hai mắt rõ ràng con cua” là địt  liên hệ với phần đầu nid- của Phạn ngữ nidhuvana. Nid- = nịt = địt.

-Địt là đánh hơi

Theo biến âm đ = r như đôm đốp =  rôm rốp (tiếng kêu),  ta có địt = rít. Từ rít có một nghĩa là tiếng kêu do hơi thoát qua một ống hay một lỗ nhỏ như ấm nước sôi rít lên, còi tầu hỏa hay tầu thủy (chạy bằng hơi nước) rít lên từng hồi. Rít liên hệ với Phạn ngữ ri là rít, là rú lên. Ta có từ ghép rên rỉ với từ rỉ chính là Phạn Ngữ ri (các nhà ngữ học hiện nay cho rằng rên rỉ là tiếng láy với thành tố láy rỉ vô nghĩa là sai). Như thế đánh địt, đánh hơi là đánh rít. Vì thế mà người Bắc nói đánh hơi là đánh rắm, đánh rítrắm rít. Rắm rít là đánh hơi. Ta thấy người Bắc nói rắm còn Trung Nam biến rít thành địt. Từ rắm rít là một từ ghép điệp nghĩa, rít có nghĩa là tiếng kêu thì rắm cũng phải có nghĩa là tiếng kêu. Thật vậy, rắm biến âm với rầm chỉ tiếng kêu như rầm rầm. Hiển nhiên đánh hơi cũng kêu thành tiếng. Trong một truyện tiếu lâm ví tiếng đánh hơi như tiếng sấm rầm rầm hay sấm gầm. Theo r = g như  rợn = gợn (sóng) ta có rầm = gầm. Trong một buổi ngự triều, một vị vua đang ngủ gà ngủ gật, một ông quan lỡ đánh “bụp” rầm một tiếng làm vua giật mình thức dậy, hoảng hốt, vua hỏi “Cái gì kêu vậy?” Vị quan lanh miệng đáp: “Bẩm Thượng Hoàng, sấm kêu!”. Vua vặn lại “Sấm kêu sao lại thối?”. Vị quan chữa lại “Dạ có con cóc chết!”. Vua thắt mắc: “Cóc chết sao lại kêu?”. Vị quan giải thích: “Sấm kêu làm cóc chết!”. Vua giận “Cóc kêu gọi sấm thì làm sao sấm làm cóc chết được”.  Rồi ra lệnh lôi vị quan ra chém đầu, nghi vị quan này muốn ám sát mình.

Rõ nhất là rít,  địt liên hệ ruột thịt với Phạn ngữ dhish, to emit sound (phát ra tiếng kêu). Cũng rõ như  “Con cua  tám cẳng hai càng, Một mai hai mắt rõ ràng con cua” là địt  ruột thịt Phạn ngữ dhish, phát ra tiếng kêu. Anh ngữ đánh hơi gọi là to fart liên hệ với Phạn ngữ pard (to fart), Hy Lạp ngữ là perdo, Old High German là ferzan. Các từ này có gốc fa-, pa-“ liên hệ với Việt ngữ phà là xì ra hơi, nhả ra hơi như phà ra hơi, phà khói, phì phà điếu thuốc  và gốc pe-, fe- liên hệ với Việt ngữ phèo như thấy qua từ ghép phì phèo, với Hán Việt phế là phổi (phổi là cơ quan hô hấp phì, phà ra hơi…). Việt ngữ có từ phá thối nếu hiểu theo nghĩa thô tục thì gần cận với từ phà thối. Ở đây ta có thể dùng Việt ngữ phà ra hơi, đánh hơi để hiểu ngọn ngành Anh ngữ to fart là phà ra hơi.

Như thế ta thấy rất rõ hai từ địt của miền Bắc và Trung Nam là hai từ đồng âm dị nghĩa. Đúng ra Trung Nam phải nói đánh dít hay rít  cho đồng điệu với từ rắm của miền Bắc theo đúng  như từ đôi rắm rít thay vì địt mới không gây ra hiểu nhầm.

ĐÉO, LẸO.

Miền Bắc cũng thường dùng từ đéo chỉ làm tình như giai thoại “đá bèo” (nói lái lại là ‘đéo bà”) của Trạng Quỳnh và thơ Cao Bá Quát có câu:

         Hai hồi trống giục, đù cha kiếp,

        Một lưỡi gươm đưa, đéo mẹ đời.

 Đéo biến âm với đeo, có nghĩa là bám cứng vào nhau, dính chặt vào nhau như “đeo như đỉa đói”. Đéo biến âm với “đèo” là chở nhau, ôm nhau, cõng nhau như đèo bòng tức đèo bồng (bồng là bế, bồng bế”). Đéo cũng biến âm với néo, hai khúc cây nối bằng một khúc dây dùng “neo” bó lúa để đập lúa. Néo hàm nghĩa cột cứng vào nhau (cùng nghĩa với nai, nịt, địt). Néo liên hệ với Anh ngữ nail, vật nhọn dùng đóng chặt hai vật vào nhau. Nguyên thủy neo, nailnêu, cọc nhọn. Như thế từ đéo cũng có nghĩa giống như từ địt làm tình là dính vào nhau, cột vào nhau. Từ đéo biến âm với đeo, đèo, néo nghiêng nhiều về hình ảnh bám chặt vào nhau, ôm nhau, cõng nhau thường thấy nhiều ở loài vật khi giao cấu với nhau như hai con sam khi giao hợp ôm cứng nhau nên tục ngữ có câu “đeo như sam”, cóc ếch khi giao cấu ôm nhau, cõng nhau, đèo nhau… Theo biến âm đ = l như đãng tai = lãng tai, ta có đéo = lẹo. Lẹo cũng có nghĩa là làm tình như con đó với thằng đó lẹo tẹo với nhau. Hai con chó giao cấu với nhau thường nói là “mắc lẹo”.

ĐỤ

Trung Nam nói làm tình là đụ. Ta thấy có thể:

-Đụ là biến âm với đu có một nghĩa là bám cứng như đeo, với đâu (nối lại như  đâu lại với nhau) cũng hàm nghĩa như từ địt của miền Bắc. Theo t = n như túm = núm (nắm, bắt) ta có địt = địn. Địn là từ nói trại đi của địt. Ta có từ đụn địn là từ nói trại đi của hai từ đụ địt. Địa khai ngôn ngữ đụn địnđụ địt còn đào tìm thấy qua bài đồng dao sau đây:

 Mười rằm trăng náu,

Mười sáu trăng treo,

Mười bẩy sẩy chiếu,

Mười tám rám trấu,

Mười chín đụn địn,

Hai mươi giấc tốt

. . . . . .

“Mười bẩy sẩy chiếu” là đêm mười bẩy sải chiếu, trải chiếu.“Mười tám rám trấu” là đêm mười tám đốt trấu làm lò sưởi đã cháy rám, đã cháy nám, đã bén cháy. Tất cả đã sửa soạn sẵn sàng xong, “Mười chín đụn địn” là đêm mười chín đụn địn, tức là làm tình đụ-địt. Các tác giả hiện nay thường giải thích “né tránh” cho khỏi thô tục cho đụn địn có nghĩa là “đi ngủ”. Từ ngủ cũng có nghĩa là làm tình như “con đó ngủ với nhiều thằng”. “Hai mươi giấc tốt” là đêm hai mươi ngủ ngon. Rõ ràng đêm mười chín đâu có ngủ, suốt đêm thức lục đục lo “đụn địn” nên đêm hôm sau mới lăn ra ngủ, mới có “giấc tốt”. Làm tình là liều thuốc ngủ thiên nhiên tốt nhất.

-Đụ là dạng giảm thiểu của đục. Từ đục bị đục bỏ chữ “c” cuối còn lại “đụ”. Đục chỉ động tác làm tình. Theo biến âm đ = th (đủng đỉnh = thủng thỉnh), ta có đục = thục, thúc, thọc, thụt, thọt liên hệ với Anh ngữ thrust, chỉ động tác làm tình.

-Đụ là biến âm với tụ, tủ (theo đ = t). Tụ có nghĩa là qui vào nhau như tụ tập, tụ họp. Đụ, tụ là kết vào nhau, dính vào nhau, đến với nhau. Những nghĩa này đều hàm ý làm tình thấy rất rõ qua từ Latin coitus, coire, Pháp ngữ coit có nghĩa đen là come together (có gốc “co-“, cùng, chung). Coitus, coit gần âm với Việt ngữ chơi (chơi là đến với nhau, cùng vui với nhau), chọi

Còn tủ là phủ là che đậy. Phủ cũng chỉ nghĩa giao cấu, giao hợp như trong truyền thuyết có chuyện thuồng luồng “phủ” người. Làng Ngãi ở Bắc Việt có tục thờ bà Phạm Ngọc Dong. Bà đã được thuồng luồng phủ và sinh ra một bọc trứng nở ra Đại Hải Long Vương. Ông này sau làm tướng giúp  vua Hùng đánh thắng quân Thục bằng các quân lính hoàn toàn là loài thủy tộc. Hàng năm vào ngày mồng 3 tháng giêng, dân làng mở hội, cúng tế, bao giờ cũng có món gỏi cá để cúng ông thần sông Hà Bá và bà Chúa Đầm; cúng ở đình và ở  các bến nước bằng gỏi cá. Vì thế tại vùng này có câu ca dao “Trống Mơ, cờ Sỏi, gỏi Nghìa” để ca tụng  món gỏi cá nổi tiếng của làng Nghìa, làng Nghĩa tức làng Ngãi (Lê Thị Nhâm Tuyết). Mổ xẻ ta thấy quân Thục thuộc sắc dân Tầy-Thái thuộc họ ngoại Mặt Trời Êm Dịu An Dương Vương dòng Nước, âm, họ ngoại Âu Cơ (An Dương Vương dựng nước Âu Lạc kết hợp giữa Âu Việt của Âu Cơ  và Lạc Việt của Lạc Long Quân). Vì thế phải có một vị tướng con của Thuồng Luồng có cốt cá sấu (cá sấu mới đẻ ra trứng) thuộc dòng nước là Đại Hải Long Vương (rõ ràng rồng Long có cốt cá sấu thuồng luồng) và phải dùng quân là các loài thủy tộc mới đánh thắng được quân Thục thuộc dòng nước. Ta cũng thấy tên Dong có nghĩa là bao bọc như thấy qua từ ghép đồng nghĩa bao dong. Lá dong là thứ lá dùng để bao, để bọc, để gói như bánh chưng. Dong là bao bọc là Nong là Nòng.  Tên bà là Bao, Bọc nên bà đẻ ra một bọc trứng và bà là di duệ của Âu Cơ đẻ ra một bọc trứng nở ra trăm Lang Hùng). Bà Phạm Ngọc Dong thuộc dòng nòng, dòng nước nên được thuồng luồng phủ là vậy. Ta cũng thấy công chúa Ngọc Dung (Dung biến âm của Dong như bao dung = bao dong) con vua Hùng vương có dòng máu “mẹ”, nước nên lấy một gã thuyền chài tên là Chử Đồng Tử (Cậu Con Trai sống bên Bến Sông) ở làng Chử Xá (Làng Ven sông). Cuối cùng tại sao chọn ngày 3 tháng giêng làm ngày hội? Xin thưa số 3 là số Đoài tức ao đầm và số 1 là số Chấn (Nguyễn Xuân Quang, Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt, 2002) tức nước dương có một khuôn mặt là biển (Vua Mặt Trời Nước Lạc Long Quân có mạng Chấn nên có một khuôn mặt là Long Vương Thần biển hóa thành con Rùa Vàng Kim Qui giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa, xây thành xong con Rùa Vàng quay về Biển. An Dương Vương thuộc dòng nước Âu-Lạc, cuối đời cầm sừng tê giác bẩy khấc rẽ nước đi xuống biển là vậy). Ngày 3 tháng giêng đều là ngày của dòng nước, ao hồ sông biển.

Ở đây ta có thể dùng tiếng Việt tìm nguyên ngữ của Anh ngữ fuck. Từ “fuck” có gốc fu- ruột thịt với Việt ngữ phủfu(ck) = phủ = tủ = đụ.

Cuối cùng, như đã nói ở trên, là từ địt của miền Bắc liên hệ với phần đầu nid- của Phạn ngữ nidhuvana (sexual intercourse). Nid- = nịt = địt. Ta cũng thấy từ đụ của Trung Nam cùng âm –dhu- phần thứ hai của Phạn ngữ nidhuvana. Phải chăng miền Trung Nam lấy phần âm giữa còn miền Bắc lấy phần âm đầu? Cả hai cùng một gốc Phạn?

Những từ làm tình của Việt cũng mang ý nghĩa kết hợp, giao hòa, giao hợp nghĩa là mang ý nghĩa của Dịch lý. Qua hai từ địt của miền Bắc và đụ của miền Nam ta cũng thấy có sự phân biệt, chia rẽ như hai từ buồi và cặc.

Cước Chú

(1). Tôi gọi clitoris là hạt tình vì clitoris về cơ thể học tương đương với glans (qui đầu) của dương vật. Tiếng phổ thông glans chỉ một thứ hạt dẻ rừng, vì cơ thể học tương đương với nhau nên đã gọi glans là hạt thì clitoris cũng phải dùng từ hạt cho cân xứng.

Ta cũng thấy dân dã Việt Namgọi clitoris là “hạt chay” như thấy qua câu ca dao:

        Chị em rủ nhau tắm đầm,

        Của em son đỏ, chị thâm thế này?

        Chị thâm là tại anh mày,

        Xưa kia chị cũng hạt chay đỏ lòm.

 

NHỮNG THẮC MẮC VỀ CÁCH VIẾT CHỮ QUỐC NGỮ (phần 1).

Filed under: Thắc Mắc Viết Việt Ngữ 2 — Quang Nguyen @ 5:58 am

NHỮNG THẮC MẮC THƯỜNG GẶP TRONG CÁCH VIẾT CHỮ QUÓC NGỮ.

(phần 1)

Nguyễn Xuân Quang

 Những thắc mắc thường gặp trong chữ quốc ngữ là trong nhiều trường hợp ta nên chọn viết theo âm nào, theo ch hay tr, d hay gi, l hay n, r hay d, s hay x… hỏi hay ngã…,  i ngắn hay y dài ?…

Bài viết này giới hạn vào vấn đề nên viết theo âm nào ch hay tr, d hay gi, l hay n, r hay d, s hay x…

Trước hết xin tóm tắt vài điểm chính quan trọng về ngôn ngữ liên hệ với những thắc mắc này.

.Ngôn ngữ của con người là một sinh ngữ. Có những từ (ghi âm tiếng nói) sinh ra, già đi, đẻ ra các từ khàc và có thể chết đi xuyên qua quá trình biến âm.

Tiếng nói, âm nói biến âm theo thời gian, biến đổi theo thời gian. Có rất nhiều yếu tố nội tại và ngoại tại can dự vào quá trình biến âm.

Trong các yếu tố nội tại có yều tố di truyền tham dự vào (ngày nay các nhà ngôn ngữ học cũng dùng yếu tố DNA để nghiên cứu ngôn ngữ, nhất là trong địa hạt đi tìm nguồn gốc các tộc, nhánh ngôn ngữ trên cây ngôn ngữ loài người).

Yếu tố ngoại tại có rất nhiều kể từ ngay thể xác con người đến môi trường sống.

Về thể chất (cơ thể học) người thượng cổ ăn tươi nuốt sống có hàm to, lưỡi dầy, lớn, khẩu cái cứng, dầy,  mũi “dạn dầy” với không khí thay đổi theo thời tiết khắc nghiệt… Con người ngày nay ăn dồ nấu chín, tế nhuyễn có hàm, lưỡi, khẩu cái tinh tế hơn… thanh quản người tiền cổ cũng khác người hiện đại.  Vì thế người cổ nói âm cổ, chúng ta nói âm kim biến âm của âm cổ. Ví dụ trong Việt ngữ, âm b là âm cổ của âm m như ngày xưa các cụ nói bồ hôi, bồ hóng, thuốc bồi… ngày nay chúng ta thường nói mồ hôi, mồ hóng, thuốc mồi…; âm L là âm kim của âm cổ N như lòng súng là âm kim của nòng súng (xem dưới).

Môi trường sống như thổ ngơi của mỗi vùng ảnh hưởng lên tiếng nói của con người. Vùng biển phát âm khác vùng núi.  Vùng biển được cho là có âm nói nặng hơn vùng núi. Vùng có nhiều bão cát, sa mạc con người thường hay phải ngậm miệng khi nói đẻ tránh cát bay vào miệng nên âm nói theo âm ngậm hay pha giọng mũi…

Một yếu tố quan trọng nữa là các cộng đồng con người sống chung hay giao lưu mật thiết. Tại sao Bắc, Trung, Nam ViệtNamnói giọng khác nhau?

Xin thật vắn tắt. Chúng ta thường thấy tiếng Bắc được cho là tiếng dùng làm “chuẩn” (như người Trung, Namkhi hát thường hát theo tiếng Bắc). Tiếng Bắc cổ tiêu biểu là tiếng Kinh Bắc vùng Bắc Ninh, một thứ tiếng được coi là mẫu mực của tất cả các phương ngữ của vùng đất tổ Việt.  Nên biết là trong một dân tộc có nhiều phương ngữ thì tiếng nói của vua chúa, dân vùng kinh đô được chọn làm mẫu mực. Ví dụ Anh ngữ có từ ‘either’, có vùng phát âm là ‘i-dơ’, có vùng phát âm là ‘ai-dơ’. Dân Anh ở thủ đôLondon chọn cách phát âm theo Nữ Hoàng Elizabeth II làm chuẩn. Khi Kinh Bắc dời đô về Thăng Long thì tiếng Hà Nội trước đây được chọn làm mẫu mực cho tiếng nói Miền Bắc. Khi đất nước chia đôi thành Đàng Trong và Đàng Ngoài. Chúa Nguyễn ở Đàng Trong chỉ có mang theo quần thần và binh lính không được bao nhiêu người. Chúa Nguyễn đã phải dùng tối đa nhân lực địa phương. Tiếng Bắc Thăng Long của những kẻ theo Chúa Nguyễn chỉ là thiểu số và tan loãng vào tiếng địa phương của dân phía Bắc Miền Trung và vùng Trường Sơn giáp Lào tạo thành tiếng Bình Trị Thiên. Tiếng nói Bình Trị Thiên là kết quả của tiếng Bắc pha loãng vào tiếng địa phương. Trong đó tiếng Huế vì là tiếng của hoàng gia nên còn giữ được phần tiếng Bắc nhiều hơn nên có người Huế cho rằng tiếng Huế ‘thanh cao’ hơn hết tiếng địa phương ở đây và ngay với tất cả tiếng Miền Trung vì là tiếng nói của cố đô).

Tôi khám phá ra tiếng Bình Trị Thiên có rất nhiều từ cổ thuần Việt và liên hệ mật thiết với gốc Aryan-Phạn ngữ (xem Mô Tê Răng Rứa) như Tê chính là Anh ngữ ‘There’…

Người Việt di cư qua đèo Hải Vân, tương tự như trên, tiếng Việt bị ảnh hưởng các ngôn ngữ địa phương trong đó có Champa trở thành tiếng Quảng. Tiếng Bình Định, Khánh Hòa và tiếng MiềnNamcũng thành hình tương tự như thế…

Ta có thể kiểm chứng bằng một ví dụ mà ta đang thấy ngay trước mắt hiện nay. Đó là những người mà Trung Quốc gọi là dân tộc thiểu số Jing (Kinh). Những người này vốn là những người Việt

vào khoảng thế kỷ 16, di cư lên lập nghiệp ở vùng Trường Bình – Bạch Long, bấy giờ thuộc Đại Việt nhưng theo Công ước Pháp-Thanh ký năm 1887 thì Trường Bình bị sáp nhập vào Trung Hoa (vi. Wikipedia). Họ sinh sống chủ yếu trên 3 đảo (Vạn Vĩ, Sơn Tâm và Vu Đầu), nay gọi chung là Kinh Đảo hay Kinh tộc Tam Đảo, thuộc thị xã Đông Hưng, khu tự trị người Tráng hay Choang Quảng Tây (xem Lạc Việt Tráng Zhuang ở mục Hình Tiêu Biểu Của Tháng Bẩy 2011, bacsinguyenxuanquang.wordpress.com).

Họ còn nói tiếng Việt nhưng với giọng Trung Quốc (như trong chúng ta có người đã được nghe một cô gái Kinh hát bài Qua Cầu Gió Bay trong một video quảng bá du lịch). Tiếng Việt của sắc tộc Kinh này còn rất nhiều tiếng Việt cổ.

…….

Như thế âm nói thay đổi theo các yếu tố nội tại và ngoại tại và vì thế mới có ngành học lịch sử ngôn ngữ dựa nhiều vào biến âm và đi tìm âm gốc, tái tạo ra âm gốc.

Dựa theo dòng tiến hóa của ngôn ngữ chung của loài người ta không thể nói ai đúng ai sai cả, không thể nói âm cổ sai hay âm hiện thời đúng hơn (xem dưới).

Tất cả những điều nói về biến âm ở trên nếu diễn tả bằng chữ quốc ngữ ABC thì sẽ nói và viết theo âm ch hay tr, d hay gi, l hay n, r hay d, s hay x… hỏi hay ngã… mỗi nơi một khác. Do đó người Việt có chổ phát âm theo ch, có chỗ phát âm theo tr, có chổ phát âm theo s, có chỗ phát âm theo x vân vân… là chuyện tự nhiên, không tránh khỏi, không có gì là sai trái cả.

Trong một đại tộc ngôn ngữ, mỗi tộc nói theo một cách phát âm khác nhau như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Ý là những  ngôn ngữ chị em trong gia đình Ấn Âu ngữ mà người Anh Mỹ nói blue (bờ lu), người Pháp nói bleu (bờ lơ), Đức nói là blau, Ý nói là blu là mầu trời. Ngôn ngữ Việt là đa tộc, là một đại tộc nên có vùng nói mù (như âm Anh ngữ blue),  có vùng nói mờ (như âm Pháp ngữ bleu).

Ngôn ngữ Việt là một ngôn ngữ cổ hay liên hệ với một ngôn ngữ tối cổ, ở một cành lớn, ở thân hay gốc của cây ngôn ngữ loài người như ở trên ta thấy blue, bleu, blau, blu có gốc từ Việt ngữ blời (bờ lời) là trời vì blue, bleu, blau, blu mầu trời là tính từ nên là chữ phụ còn Việt ngữ blời là danh từ là từ gốc (có trời mới có mầu trời). James Churchward cho rằng ở vùng biển Đông Nam Á cổ đại lúc đó còn có các cầu đất nối liền với lục địa có một Đại Lục Mẹ (Continent of Mu) (Mu chính là Việt ngữ Mụ) gọi là Đất Mẹ (Motherland). Ông cho rằng Ngôn ngữ Đất Mẹ Mu là Tiếng Mẹ (Mother Tongue) của loài người. Ôn Frey, một đại tá hải quân Pháp trước đây cũng đã viết tác phẩm Langue Vietnamienne, Mère des Langues… Tôi cũng đã chứng minh ngôn ngữ Việt là tiếng cổ đại liên hệ với, ruột thịt với nguồn gốc ngôn ngữ loài người (xem bài viết Việt Ngữ và Ngôn Ngữ Thế Giới, Việt ngữ và Nguồn Gốc Ngôn Ngữ Loài Người trong Tiếng Việt Huyền Diệu). James Churchward chứng minh Đức Chúa Jesus Nói tiếng Cổ Đông Á mà ông gọi là Naga-Maya ruột thịt với tiếng Đất Mẹ Mu. Tôi đã chứng minh Đức Chúa Jesus Nói Tiếng Việt (bacsinguyenxuanquang.wordpress.com), nghĩa là tiếng cổ Việt liên hệ với Tiếng Mẹ của Đất Mẹ Mu mà James Churchward cho là Mother Tongue của loài người.

Nói một cách nhún nhường thì Việt ngữ nằm tận gốc (tránh không nói là nguồn gốc để cho một số người khỏi bực bội) hay liên hệ với một ngôn ngữ gốc của loài ngươi. Như thế ngôn ngữ Việt là một ngôn ngữ đa tộc vì thế mà trước đây Việt ngữ được cho là thuộc nhóm Tầy Thái (H. Maspero), có tác giả cho là có gốc Hoa ngữ, Bình Nguyên Lộc cho là có gốc Đa Đảo, ngày nay cho là thuộc nhóm Nam Á. Tôi lại khám phá thấy tiếng thuần Việt liên hệ mật thiết với Aryan-Phạn ngữ nên liên hệ với Ấn Âu ngữ như Anh, Pháp, Đức, Phạn ngữ … Ví dụ Việt ngữ mỏng theo từ láy mỏng dính thì theo qui luật Grimn  d = th thì dính = Anh ngữ thin, mỏng; theo từ láy mỏng manh thì manh chính là Pháp ngữ mince, mỏng (mince lame, dao cạo râu); theo từ láy mỏng tang, mỏng tanh, mỏng teng thì tang, tanh, teng ruột thịt với Phạn ngữ tan là mỏng…

Điểm này cũng dễ hiểu vì như đã nói ở trên tiếng Việt là một ngôn ngữ tối cổ mà gốc Aryan-Phạn ngữ cũng được cho là rất cổ.

Và Việt ngữ dĩ nhiên liên hệ với với cả ngôn ngữ Thổ Dân Mỹ Châu vì những người này từ Đông Nam Á cổ qua. Người Maya có DNA giống cổ Việt Đông Nam Á nên tiếng Maya ruột thịt với tiếng cổ Việt (xem Đức Chúa Jesus Nói Tiếng Việt)…

Ngôn ngữ Việt đa dạng, đa tộc. Điểm này cũng dễ hiểu vì ViệtNamlà một hợp chủng thu nhỏ lại của Bách Việt của liên bang Văn Lang. Do đó ngôn ngữ Việt biến âm gần như với tất cả các đại tộc của ngôn ngữ loài người (Tiếng Việt Huyền Diệu).

Vậy thì muốn chọn một qui tắc làm chuẩn để viết chữ quốc ngữ ta phải chọn theo âm nói của một ngôn ngữ ruột thịt ở gần hay tận gốc của cây ngôn ngữ loài người, theo tôi, đó là Aryan-Phạn ngữ vì nó được coi là một ngôn ngữ rất cổ (xem dưới).

.Chữ quốc ngữ do các giáo sĩ Tây phương đặt ra dựa vào các mẫu tự ABC mới có cách đây hơn năm thế kỷ.

Chữ quốc ngữ ABC cũng như các chữ viết khác chỉ là một ký tự ghi lại âm của tiếng nói. Tiếng nói (âm) cổ Việt có từ ngàn xưa.

Chữ cổ Việt (nếu có), chữ nôm dựa vào chữ Hán và chữ quốc ngữ cũng chỉ là những ký tự dùng ghi âm tiếng nói. Không có một ký tự nào có thể ghi âm trung thực một tiếng nói, một ngôn ngữ trăm phần trăm được. Chữ quốc ngữ còn tệ hơn chữ Nôm vì do người ngoại quốc đặt ra. Các giáo sĩ không phải là người Việt (không có DNA Đại Tộc Việt) và dựa vào các chữ ABC và các ký hiệu dấu giọng đã có sẵn trong chữ viết Âu châu như thế chữ quóc ngữ dù gì củng đã bị “đổ khuôn” ít nhiều theo các qui luật chữ viết ABC Tây phương. Hiển nhiên chữ quốc ngữ không thể nào diễn tả được trăm phần trăm âm Việt. Các giáo sĩ dựa vào tiếng nói của người Việt mà họ tiếp cận được, những nơi họ tới truyền đạo được… Như đã nói ở trên, âm nói thay đổi theo từng vùng từng miền vì thế chữ quốc ngữ họ dùng chỉ ký âm được theo tiếng nói của vài địa phương. Chữ quốc ngữ ghi âm lại âm nói theo ch, tr, s, x của các xóm đạo, giáo phận tất nhiên khác các nơi khác.

Những quyển tự điển cổ do các giáo sĩ viết ra chỉ ký âm theo tiếng nói của vài địa phương của ngôn ngữ Việt toàn diện. Đó là chưa kể họ ký âm theo âm giọng quen thuộc, theo di thể ‘gene’ có trong máu (có khi không phải họ có chủ ý) và đầu óc Tây phương, nói một cách khác là theo ch, tr, s, x…, hỏi ngã có âm hưởng chút ít nào đó của Tây phương.  Ví dụ cổ ngữ Việt Nõ là cọc, là bộ phận sinh dục nam, nhưng trong Từ Điển Việt Bồ La Alexandre de Rhodes ta thấy: “lõ, con lõ: cơ quan sinh dục của đàn ông”. Có thể có nhiều xác suất là giáo sĩ Đắc Lộ đã ghi âm theo L (lõ) ở dạng nam hóa của N (nõ) (Tiếng Việt Huyền Diệu) theo sắc thái duy dương của Thiên Chúa giáo, vì cho tới hiện nay còn nhiều vùng ở Miền Bắc ViệtNam vẫn còn nói và viết Nõ. Rồi từ đó từ âm lõ xuất hiện trong chữ quốc ngữ như mũi lõ… (xem từ Nõ với Lõ ở dưới).

Chỗ lợi của chữ quốc ngữ ABC rất nhiều không ai chối cãi. Nhưng chữ quốc ngữ cũng có khuyết điểm. Riêng về các dấu (không dấu, sắc, huyền, hỏi, ngã nặng) giúp cho phân biệt, nhận ra được ý nghĩa nhanh, đúng theo qui ước và tránh tranh cãi nhiều như ma khác mà. Nhưng cũng vì những dấu giọng này mà chữ quốc ngữ đã làm tiếng Việt phiến diện hơn, đơn nghĩa, làm mất đi nhiều ẩn nghĩa và đôi khi mất gốc cổ (như nõ và lõ). Với dấu giọng, nghĩa của một từ đã bị đóng khung vào một diện thôi, chữ chỉ ký âm được một âm-nghĩa theo cái dấu thôi. Ví dụ chữ cổ Việt không có dấu như âm /Ke/ là âm lưỡng tính phái chỉ cả bộ phận sinh dục đàn ông và dàn bà (Alexandre de Rhodes, Từ Điển Việt Bồ La). Nếu nói theo âm mang tính dương (âm hùng, mạnh ‘như mũi nhọn’ của kích thích tố nam androgen, đục ồ ồ của phái nam) thì /ke/ có nghĩa là bộ phận sinh dục nam. Ke biến âm với que (bộ phận sinh dục nam). Nếu nói theo âm mang tính âm, nữ thì /ke/ có nghĩa là bộ phận sinh dục nữ. Ke biến âm với kẽ (khe hở như kẽ tay), khe (bộ phận sinh dục nữ). Ke phát âm thêm hơi vào thành khe. Một ví dụ nữa từ ma theo âm cổ gồm nhiều nghĩa tùy theo khi nói âm /ma/ diễn tả theo giọng nói như thế nào. Ma có thể nói biến âm thành má, mạ, mã… và tùy trường hợp /ma/ của cổ Việt có những nghĩa khác nhau trong khi viết theo ABC ma không thể là mã, mả, mà, mạ… được mà bắt buộc phải phát âm theo nghĩa con ma, ma quái, ma thuật. Anh ngữ không có dấu phát âm theo âm nghĩa nên viết lời nhạc dễ viết hơn lời nhạc Việt có dấu.

. Ngữ pháp hay văn phạm.

Ngữ pháp (văn phạm) chỉ là một Qui Ước được đặt ra để viết một ngôn ngữ cho tiện, lợi và thống nhất trong lãnh vực giáo dục và vài lãnh vực khác như luật pháp, kinh tế, tài chánh…  Hàn lâm viện, các nhà ngữ học, ngữ pháp học, các “thầy cô” dậy chữ nghĩa đã sửa đổi, hệ thống hóa ngôn ngữ nhằm mục đích chính là để viết theo một khuôn mẫu chung, để tiện dụng, minh bạch, tránh không bị lầm lẫn và cho thống nhất.

Nhưng qui ước chỉ là “nhân tạo” được đặt ra và chỉ những người theo qui ước tôn trọng thôi. Vì thế ngữ pháp không áp dụng và không thể áp dụng triệt để cho đám quần chúng mù chữ, dốt chữ nghĩa hay coi nhẹ hoặc không màng tới qui ước ngữ pháp.

Ví dụ một người Miền Nam quốc gia cũ ở Việt Nam bây giờ phải viết theo qui ước pháp ngữ do nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay đặt ra để viết chính tả được điểm cao, để đi thi đậu, để viết vặn kiện đúng theo qui luật hiện hành hầu được chấp thuận… Nhưng đối với những người khác mà không bị ràng buộc bởi các qui ước ngữ pháp hiện nay nhất là khi thấy không chỉnh của nhà nước Việt Nam như các Việt kiều hải ngoại thì họ vẫn nói và viết theo “gia sản” cũ vốn có của họ.

……

Bây giờ ta thử góp ý về những tranh luận là nên viết ch hay tr, d hay gi, l hay n, r hay d, s hay x…

1. Ch với tr

Xin đưa ra một ví dụ về đúng hay sai theo âm cổ Ch và âm kim Tr.

Trước đây tôi có gởi một bài viết Sự Liên Hệ Giữa Việt Ngữ và Ấn Âu Ngữ cho một đặc san với nhan đề là Nêu Cao Chàng Pháo Bánh Chưng Xanh… Ban biên tập không đăng và trả lời cám ơn rất lịch sự, trong mục thư tín và không quên “sửa lưng” tôi cho là tôi viết sai “Tràng pháo” chứ không phải “Chàng pháo…”.  Ban biên tập rất đúng vì là những vị có nhiều chữ nghĩa và tuân thủ cách viết hiện nay. Nhưng đâu có biết rằng bài viết của tôi là một bài viết khảo cứu về ngôn ngữ học có liện hệ với chữ cổ Việt. Người cổ Việt đâu đã học chữ quốc ngữ mà đặt ra vần đề viết tr hay ch. Tôi dùng ch vì chàng (hiện vẫn còn dùng ở nhiều nơi ở Miền Bắc) biến âm mẹ con với từ thuần Việt chằng (sợi dây buộc, từ đôi dây chằng có dây = chằng), chuyền, chuỗi (dây đeo cổ), chăng (căng dây), chàng nhạc là bệnh lao hạch, ở cổ có nhiều hạch như là đeo một chuỗi lục lạc (lạc = nhạc), cổ Việt chão (dây lớn), liên hệ với  Pháp ngữ chaine (production en chaine: sản xuất dây chuyền),Anh ngữ chain

 Hiện nay đa số hay không có ai nói là dây trằng hay trằng dây, truỗi, dây truền cả.

Tôi viết Ch vì cho Ch là âm cổ của Tr vì đang so sánh với Ấn Âu ngữ có gốc Aryan-Phạn ngữ mà theo tôi đa số các từ thuần Việt (từ nôm) đều ruột thịt với gốc Aryan-Phạn ngữ. Việt ngữ chàng biến âm với mẹ con với Anh ngữ chain, Pháp ngữ chaine.

Ngôn ngữ thay đổi theo thời gian nên chúng ta không thể đem áp dụng một cách mù quáng những qui luật ngữ pháp, văn phạm của chữ quốc ngữ hiện nay vào công việc nghiên cứu tiếng cổ Việt. Thời cổ Việt không có chữ quốc ngữ, người cổ Việt không học chữ quốc ngữ nên không thể nói người cổ Việt nói n, l, ch, tr, s, ch… hỏi, ngã, sắc, nặng, huyền, không dấu sai ngữ pháp hiện nay hay nói ngọng. Vì thế khi nghiên cứu cổ ngữ Việt, tôi thường chọn viết theo biến âm mẹ con khi so sánh Việt ngữ với các ngôn ngữ khác mà không quan tâm lắm là người Việt hiện nay viết như thế nào.

Tuy nhiên đây là dựa vào biến âm thuần Việt liên hệ với Phạn ngữ.

Có một tác giả nào đó, cũng có thể nhìn theo cách biến âm với một tộc ngôn ngữ khác vì ngôn ngữ Việt đa dạng. Một vị nghiêng nhiều về Hán học chẳng hạn sẽ chọn viết theo âm Tr (mà tôi cho là âm mới, âm kim). Tôi đã chứng minh Hoa ngữ mang dương tính, ‘macho’ vì người Hoa vốn gốc du mục, võ biền. Khi chuyển từ âm Việt cổ sang Hán Việt kim thì thường mang âm có tính dương của xã hội phụ quyền ‘macho’ ví dụ như âm cổ N thành âm kim L như từ nang (cau) thành âm kim mang dương tính L là Hán Việt Lang, Binh Lang (cau); Nác (nước) thành Hán Việt  Lạc (nước dương như Lạc Long Quân); Nọc (nọc là cọc, là con hươu sừng như thấy trong Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc) chuyển qua Hán Việt là Lộc (con hươu nọc, hươu sừng) (Tiếng Việt Huyền Diệu).

Các từ Hán Việt chuyển từ các từ thuần Việt thường mang dương tính của xã hội phụ quyền vì thế nếu tìm ra trong một quyển từ điển Hán Việt nào đó có chàng viết Tr thì Tr cũng là âm kim. Giống như ngày nay viết Tràng là viết theo âm kim của âm cổ Chàng.

Nói tóm lại ví dụ này cho thấy ch viết theo một âm cổ và tr theo âm kim dựa vào ngữ pháp hiện nay của chữ quốc ngữ.  Đúng hay sai tùy theo hướng nhìn. Khi viết Chàng thì đối với ban biên tập của tờ đặc san dựa theo ngữ pháp hiện nay cho là sai, phải viết là Tràng nhưng đối với tôi dựa vào  âm cổ liện hệ với Ấn Âu ngữ có gốc Aryan-Phạn ngữ ruột thịt với các từ thuần Việt, từ nôm trong đó có từ chằng, chàng thì tôi chọn viết Ch và chàng không sai.

Ta phải nhận thấy dựa vào âm cổ Việt có vẻ đúng hơn vì như đã nói ngữ pháp của chữ quốc ngữ mới có cách đây hơn năm thế kỷ và không hoàn chỉnh trăm phần trăm và tiếng Việt là ngôn ngữ rất cổ.

2. D với gi

Xin lấy một ví dụ cho thấy viết theo gốc Phạn ngữ qua Ấn Âu ngữ  đúng hơn.

Nếu dựa theo Anh ngữ (qua gốc Phạn ngữ), hãy lấy một ví dụ là từ between, giữa, (theo qui luật ngữ pháp hiện nay phải viết là giữa). Thật ra Việt ngữ dữa đúng nghĩa hơn giữa nếu nhìn theo gốc thuần Việt của dữa tức liên hệ với Aryan-Phạn ngữ. Dữa liên hệ biến âm mẹ con với với đũa (hai cái que), với đôi, với Pháp ngữ deux, double (đúp, đụp), với Hy Lạp duò, Latin duo, Phạn ngữ dva, Tây Ban Nha dos, Nga ngữ dba (dva-)… gốc tái tạo proto-Indo-European *dw…

(lưu ý dữa biến âm mẹ con và có mặt chữ in hệt Phạn ngữ dva).

Dữa là ở điểm hay khoảng nằm cách đều, cách bằng hai đầu, hai bên. Anh ngữ giữa between là be- và tween (là twintwo, hai) là “be two in”, nằm giữa hai. Một thời “be” được coi như một mạo từ cổ (old article) như thấy trong believebeginberate

Kiểm chứng lại ta cũng thấy Dữa đúng hơn Giữa. Theo biến âm chị em d = n (dòm = nom) ta có dữa = nửa (nửa là chia đôi ngay ở dữa) trong khi biến âm gi = n  tôi tìm không thấy, nếu có cũng là biến âm họ hàng xa.

Ngày nay chúng ta dùng giữa theo qui ước ngữ pháp hiện nay (theo đa số) đã mất “gốc” (dựa theo Aryan-Phạn ngữ) vậy mà các nhà nhiều chữ nghĩa hiện nay cho là viết dữa là sai, nhiều người châm chọc dân ở một số vùng đất tổ miền Bắc nói theo âm dữa là nói ngọng.

Do đó không thể cho từ giữa viết theo gi theo qui ước hiện nay đúng hơn dữa viết theo d.

3. N với L

Ví dụ này cho thấy viết theo âm kim L hiện nay không có nghĩa.

Tôi khám phá ra âm N là âm cổ của âm L một trăm phần trăm.

Biến âm này là một hóa thạch hay địa khai ngôn ngữ (language fossil) giúp ta có những bằng chứng vững chắc và thuyết phục hơn.

Chữ quốc ngữ Việt ABC (cũng như các ngôn ngữ khác của thế giới dùng ABC là di duệ của chữ viết nòng nọc vòng tròn-que do tôi khám phá ra, xem Chữ Nòng Nọc). Đặc biệt là tiếng Việt còn thấy rõ hơn các ngôn ngữ khác là có những âm Nòng âm, cái và các âm Nọc dương, đực (xem Dịch Lý và Tiếng Việt).

Ở đây để tóm gọn và đơn giản hóa, xin đưa ra vài ba ví dụ để chứng minh trong Việt ngữ có những âm cổ biến chuyển thành âm kim, có những âm thời mẫu quyền mang âm tính như N chuyển thành âm kim L mang dương tính thời phụ quyền ngày nay.

-Nõ với Lõ.

Tiếng cổ Việt Nõ là cái cọc, nọc như đóng nõ mít. Nõ vì thế cũng chỉ bộ phận sinh dục nam như thấy qua từ đôi nõ nường (nọc nòng). Nõ là cọc là c…c (Quân tử có thương thì đóng cọc, Hồ Xuân Hương). Âm cổ Nõ biến âm thành âm kim (tôi cũng gọi biến âm này là âm N nam hóa thành L). Lõ có một nghĩa với Nõ là bộ phận sinh dục nam còn thấy rõ trong từ điển Việt Bồ La của Alexandre de Rhodes: “lõ, con lõ: cơ quan sinh dục của đàn ông” và “lõ: làm dương vật cương lên như khi con vật giao cấu”. Từ sau này là một tính từ cho thấy lõ ruột thịt với danh từ nõ nguyên thủy có nghĩa là cây cọc. Tính từ chỉ dương vật cương lên như cây cọc nõ. Từ lõ trong tiếng Việt hiện nay chỉ vật gì đâm ra như cây nọc nhọn như mũi lõ, c…c lõ.

Như vậy nếu không hiểu lõ có gốc gác từ nõ ta không hiểu nghĩa lõ là gì. Lõ vô nghĩa.

Ta thấy trăm phần trăm lõ là âm kim biến âm từ âm gốc cổ Nõ.

-Nòng với Lồn(g).

Tiếng cổ nòng là vòng tròn. Cổ Việt nói nòng vòng ngày nay chúng ta nói lòng vòng. Theo qui luật từ đôi của Nguyễn Xuân Quang ta có nòng = vòng. Con nòng nọc là con có thân hình nòng vòng tròn và đuôi hình nọc que. Chữ viết nòng nọc vòng tròn-que của tôi là chữ viết có hai chữ cái là Nòng vòng tròn O phát gốc nguyên thủy từ bộ phận sinh dục nữ và chữ nọc que I phát gốc nguyên thủy từ bộ phận sinh dục nam (cây nọc, nõ như vừa nói).

Cổ Việt nói nòng, nồng (nòng biến âm với nường chỉ bộ phận sinh dục nữ) là vòng tròn chỉ bộ phận sinh dục nữ, ngày nay chúng ta nói là Lồng, L…n.

Ở đây ta thấy rõ một điều là xã hội Tây Phương là xã hội phụ quyền cực đoan, “macho” (các giáo sĩ theo Thiên Chúa Giáo coi Đức Chúa Trời là toàn năng thiên về phụ quyền cực đoan) nên các giáo sĩ Tây phương CÓ THỂ đã phiên âm Nõ (dù cố ý hay theo bản năng Tây phương, tôn giáo) theo duy dương là Lõ chứ thật ra một số vùng Việt Nam còn giữ chế độ mẫu quyền vẫn nói âm Nõ như ngày nay chúng ta còn thấy. Đây là điểm cho thấy viết theo biến âm của ngôn ngữ nào thì có từ Việt viết theo một âm khác nhau theo tính nòng nọc, âm dương của ngôn ngữ, ở đây viết theo ngôn ngữ duy dương Âu Châu của các giáo sĩ nên Nõ viết thành Lõ (con Lõ thay vì cổ ngữ Việt con Nõ).

-Nòo với Lòng

Mường ngữ (tiếng Việt cổ) nòo có nghĩa là lòng (ruột).

Rõ như ban ngày âm cổ Nòo biến thành âm kim Lòng.

-Thòng Nọng với Thòng Lọng.

Cổ Việt nọng là cổ như “đầu trọng nọng khinh” (thịt đầu, thịt sỏ thì quí trọng còn thịt cổ thì khinh rẻ vì có nhiều mỡ; nọng cổ chỉ phần mỡ xệ xuống dưới cổ). Còn từ thòng, theo biến âm th = tr  như Mường ngữ Then = Việt ngữ Trên, Mường Then = Mường Trên. Mường ngữ Then ruột thịt với Hán Việt Thiên (Mường Then là Mường Trên, Mường Thiên); như tháng = trăng (một tháng là một trăng, là một nguyệt, một month, một mois, một mes là một moon) ta có thòng = tròng.

Như vậy người Việt cổ nói thòng nọng chỉ cái tròng đeo vào cổ, tròng vào cổ. Ngày nay chúng ta nói thòng lọng. Lọng vô nghĩa. Lọng nhất định không phải là cái lọng (parasol)!

-Nang với Lang

Cổ Việt và Mường ngữ nang là quả cau. Mo nang là cái bao hoa cau.

Việt, Mường Nang ruột thịt với Mã Lai ngữ nang cũng là cau như Pinang (Anh ngữ) Pénang (Pháp ngữ) là Đảo Cau, chỗ Bá Đa Lộc và Hoàng Tử Cành đã tá túc.

Nang biến âm thành Hán Việt Lang, binh lang chỉ cau. Nên biết rằng người Trung Hoa không ăn trầu nên từ cau Lang, binh lang là từ họ nhập cảng của Bách Việt, nói một cách khác Nang là gốc là mẹ của Lang. Lang biến âm từ Nang. L biến âm của N. Chúng ta có Truyện Trầu Cau do nho sĩ viết có hai anh em sinh đôi là Tân sinh và Lang sinh. Tân có gốc tấ-, tá là đá khi chết biến thành hòn đá vôi và Lang là Cau khi chết biến thành cây Cau. Nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu có bài hát Truyện Trầu Cau, ông cho Tân sinh chết biến thành cây Cau và Lang sinh chết biến thành hòn đá vôi là sai.

Ví dụ này cho thấy âm N của Việt, Mường  biến âm qua Hán Việt thành L. Điểm này dễ hiểu vì xã hội Trung Hoa gốc là du mục, võ biền, «macho» nên dùng âm nam tính nhiều như các giáo sĩ Tây phương đã nói ở trên.

Và còn nhiều nữa… (xem Tiếng Việt Huyền Diệu).

Vậy ta thấy rất rõ âm N là âm cổ luôn luôn có nghĩa còn L là biến âm hiện kim của N nhiều khi vô nghĩa.

Ở đây ta thấy viết theo âm cổ N đúng trăm phần trăm vì có nghĩa còn âm kim có khi vô nghĩa. Nhưng ngày nay chúng ta nói theo âm kim L cũng không phải hoàn sai hay có lỗi vì chúng ta phải sống theo dòng chuyển hóa của ngôn ngữ, của xã hội (mà có khi chùng ta không hề biết những biến chuyển này) (ngoại trừ trường hợp do lỗi của các giáo sĩ đã viết sai, đã ghi âm sai từ âm N thành âm L quen thuộc của ngôn ngữ của họ). Nếu là biến âm tự nhiên thì chúng ta không thể đi ngược lại để sống trong xã hội cổ.

Mặt khác các vùng ở miền Bắc Việt họ vẫn nói theo âm cổ N theo di thể gene từ tiếng nói của mẹ sinh ra mình, theo xã hội cổ họ còn bảo tồn được… và với âm N còn giữ được cái ý nghĩa của âm nói có gốc từ ngàn xưa. Ngôn ngữ của họ nói chung, âm N nói riêng, là những hóa thạch, những địa khai ngôn ngữ quí giá vô cùng cho các nhà ngôn ngữ học. Họ không phải là những người nói… ngọng hay hạng người… quê kệch, vô học.

Vì thế chúng ta không nên nhái tiếng, nhái N và L để chế riễu họ vì

thứ nhất tục ngữ có câu “Chửi cha không bằng pha tiếng”, thứ nhì

chúng ta nói N và L theo ngày nay chưa chắc đã đúng vì nhiều khi vô nghĩa.

Ở đây ta cũng thấy rất rõ, như đã nói, không thể áp dụng những ngữ pháp của quốc ngữ ABC hiện nay một cách mù quáng vào công việc khảo cứu tiếng Việt cổ vì người cổ Việt không có học chữ quốc ngữ. Vì thế khi nghiên cứu cổ ngữ Việt tôi không theo ngữ pháp quốc ngữ hiện nay một cách máy móc. Tôi chọn một âm, một từ thích hợp viết theo ch, tr, n, l. s, x… hỏi ngã tùy nghi để có biến âm mẹ con, dù cho có người nói tôi thất học hay viết sai ngữ pháp hiện nay.

Tóm tắt lại phần này ta thấy rõ có biến âm trong ngôn ngữ loài người theo những yếu tố nội và ngoại tại. Tiếng Việt cũng vậy. Người ba miền nói âm khác nhau.

Chữ quốc ngữ chỉ mới có cách đây hơn năm thế kỷ do người Tây phương đặt ra. Ngữ pháp chữ quốc ngữ chỉ là một qui ước và được cho là rất lỏng lẻo, không thoàn chỉnh. Vì thế những qui ước chữ quốc ngữ về ch tr, n, l, s, x… hỏi ngã… chưa qui về được một mối.

(còn nữa).

NHỮNG THẮC MẮC VỀ CÁCH VIẾT CHỮ QUỐC NGỮ (phần 2 và hết).

Filed under: Thắc Mắc Viết Việt Ngử 1 — Quang Nguyen @ 5:43 am

NHỮNG THẮC MẮC THƯỜNG GẶP TRONG CÁCH VIẾT CHỮ QUÓC NGỮ.

(phần 2 và hết)

Nguyễn Xuân Quang

Những Tranh Luận Về Cách Viết Quốc Ngữ

Các tranh luận thường dựa vào các yếu tố sau đây:

-Tự điển

Các tác giả tranh luận thường viện dẫn là tự điển này viết theo thế này tựa điển kia viết theo thế kia (ví dụ có tự điển viết theo S, có tự điển viết theo X).

Dựa vào các yếu tố nói ở trên, từ điển không thể dùng làm hậu thuẫn cho đúng sai một cách trắng đen được.

Người viết Tự điển viết theo các yếu tố nội tại có ảnh hưởng di truyền (viết theo cái cốt DNA của ngôn ngữ mẹ đẻ, nơi sinh của tác giả) và sự hiểu biết, học viện (yếu tố ngoại) của tác giả đã học theo môn phái nào, vùng nào. Như thế không thể dùng làm thước đo, làm mẫu mực cho cả ngôn ngữ Bách Việt nhìn tổng thể.Ví dụ như đã nói ở trên các Từ Điển cổ của các giáo sĩ Tây phương cũng chỉ phản ánh ngôn ngữ của những vùng họ tiếp cận được với dân vùng đó.

-Dựa vào các nhà ngôn ngữ học

ViệtNamchưa có hàn lâm viện về ngôn ngữ nên một số tác gỉà

dựa vào các nhà ngôn ngữ học có học vị nổi tiếng.

Nếu dựa vào các từ điển của các nhà ngữ học, thì cũng vấp phải những điều đã nói ở trên.

Còn dựa vào quan điểm, kiến thức academic mà tôi dịch là học viện (có người dùng từ hàn lâm) cũng không xác quyết được.

Kiến thức học viện của các nhà ngôn ngữ học cũng thay đổi theo trường phái.

Các nhà ngữ học miềnNamngày trước và của ViệtNamhiện nay hiển nhiên khác nhau. Tiếng Việt của MiềnNamngày trước khác tiếng Việt Miền Bắc. Ngay cả tiếng Việt Miền Bắc ngày trước cũng khác tiếng ViệtNamhiện nay (ảnh hưởng tiếng Trung Quốc). Như thế các qui luật về pháp ngữ (văn phạm) của MỘT, HAI học giả cũng không phải là một mẫu mực CHUNG bằng vàng.

-Dựa vào chữ Nôm.

Chữ nôm có trước chữ quốc ngữ, không dựa vào ngữ pháp chữ quốc ngữ nên cách phát âm của chữ Nôm không theo ngữ pháp của chữ quốc ngữ, không theo qui luật ch, tr, d, gi; l, n; s, x, hỏi ngã…

Như thế tổng quát chữ Nôm không phải là khuôn vàng thước ngọc để làm kim chỉ nam cho cách viết chữ quốc ngữ.

Tuy nhiên hai thứ chữ đều cùng dùng để ký âm tiếng Việt. Chữ Nôm do người Việt và chữ quốc ngữ do người Tây phương nên có ít nhiều khác nhau. Chữ Nôm dựa theo “khuôn” Hán ngữ và chữ quốc ngữ dựa theo “khuôn” Ấn Âu ngữ viết bằng ABC. Như thế ta có thể dùng chữ Nôm để truy tìm các dấu tích ảnh hưởng Tây phương và ngược lại dùng chữ quốc ngữ để tìm dấu tích ảnh hưởng Hán ngữ (điểm này hiển nhiên) nghĩa là có lợi ích trong công cuộc truy tìm ra khuôn mặt đích thực của một từ thuần Việt cổ. Nhưng đây chỉ là những khảo cứu chuyên biệt.

-Dựa vào Hàn Lâm Viện

Rất tiếc ViệtNamchưa có hàn lâm viện về ngôn ngữ.

Chúng ta phải có một Hàn Lâm Viện Ngôn Ngữ ViệtNamđể có được một mẫu mực chuẩn cho cách viết chữ quốc ngữ (xem phần cuối).

……

Vậy thì thái độ của chúng ta hiện nay như thế nào?

Tôi chia ra làm mấy trường hợp sau đây:

1. Trong phạm vi học viện (giáo dục, văn học, kinh tế, tài chánh, ngoại giao…), chúng ta phải viết theo ngữ pháp đương thời (nếu ở ViệtNamphải viết theo ngữ pháp hiện nay của ViệtNam). Ở hải ngoại chúng ta “cố” viết theo ngữ pháp vốn có của những người Miền Nam ViệtNamcũ làm “chuẩn”. Trường hợp người Việt hải ngoại bây giờ “tự do” hơn, tất cả là do tự nguyện (vì Miền Nam ViệtNamkhông còn).

2. Viết theo đa số.

Trường hợp không bị ràng buộc bởi phạm vi học viện, chúng ta có thể viết theo “luật của đám đông” để hòa mình với đám đông. Ví

dụ một từ đã thành nề nếp đã được đa số chấp thuận dùng làm chuẩn như sắt (iron) ai cũng viết là S, ta phải viết theo S. Trong một phạm vi hạn hẹp như diễn đàn A, tờ báo B đặt ra nguyên tắc triệt để phải viết theo cách họ đề nghị thì ta viết theo họ (nếu ta còn muốn hợp tác với họ).

Đây là theo cái lẽ sống “ở bầu thì tròn ở ống thì dài”.

3. Khi nghiên cứu tiếng cổ Việt ta không nhất thiết phải viết tuân theo triệt để ngữ pháp chữ quốc ngữ hiện nay một cách mù quáng vì người cổ không học chữ quốc ngữ.

4. Viết thoải mái như gió bay.

Nếu không bị ràng buộc bởi bất cứ một cái gì cả như viết cho người thân, bạn bè (không thắc mắc), ở những chỗ cần viết nhanh như ‘text’, trong email… thì viết thoải mái theo “tiếng mẹ” (đẻ ra mình), theo huyết thống của mẹ, theo DNA, theo hơi thở của chính bản thân mình. Viết theo ý thích riêng mình. Không cần để ý, e ngại là có những người cho mình viết đúng hay sai.

Lúc này tôi viết mũi nõ, c…c nõ thay vì mũi lõ, c… c lõ.

 Một Hàn Lâm Viện Ngôn Ngữ Việt Nam

Đây là một vấn đề trọng đại và cần thiết. Tôi không phải là một nhà ngữ học, một nhà ngữ pháp học khoa bảng nên chỉ có một vài ý kiến cá nhân có thể không giống ai.

THEO TÔI, hàn lâm viện ngôn ngữ Việt cần phải có những yếu tố sau đây:

-Hàn lâm viện “mở ngỏ

.Cần phải có một hàn lâm viện ngôn ngữ “mở ngỏ” cho tất cả các nhà ngôn ngữ học hay không ngôn ngữ học trong nước và ngoài nước đóng góp vào. Hàn lâm viện phải có đủ các vị học viện (hàn lâm viện sĩ, viện sĩ) uyên bác về ngôn ngữ loài người, về ngôn ngữ Bách Việt, ngôn ngữ các đại tộc ruột thịt với Việt ngữ như về tiếng thuần Việt cổ, Nam Á ngữ, Tầy Thái ngữ, Nam Đảo ngữ, Hán Việt, Hoa ngữ và nhất là gốc Aryan-Phạn ngữ qua Ấn-Âu ngữ, vân vân…

Mở ngỏ cũng với tính cách là phải cứ tiếp tục tu chính không ngừng cho tới một ngày nào có được một ngữ pháp cho Việt ngữ càng đạt tới mức gần lý tưởng chừng nào hay chừng đó mà người Việt cả ba miền vừa lòng.

-Phải dựa vào những qui luật ngôn ngữ loài người nói chung và của Bách Việt nói riêng.

-Phải chọn một ngôn ngữ thỏa đáng để làm chuẩn.

Như đã biết ngôn ngữ Việt đa tộc, đa dạng. Vậy ta phải chọn âm nói của một tộc ngôn ngữ nào được coi là thỏa đáng nhất để làm chuẩn mà theo. Chọn theo Nam Á?Tầy Thái,NamĐảo, Hoa ngữ…?

Tôi NGHIÊNG về đại tộc ngôn ngữ có gốc lớn là gốc Aryan-Phạn ngữ. Vì sao? Vì những lý lẽ sau đây.

.Như đã nói tiếng Việt cổ là một ngôn ngữ tối cổ.

.Aryan-Phạn ngữ được coi là một ngôn ngữ rất cổ hiện nay.

Nó bao trùm một số lớn các đại tộc ngôn ngữ loài người trong đó có các nhóm ngôn ngữ liên hệ với Việt ngữ.

.Tôi nhận thấy hầu hết các từ thuần Việt (từ Nôm) của cổ Việt là những từ còn có dấu tay DNA của chúng ta, liên hệ ruột thịt với gốc Aryan-Phạn ngữ (Tiếng Việt Huyền Diệu).

.Các giáo sĩ đặt ra chữ quốc ngữ ABC và các ký hiệu dấu giọng đã có sẵn trong chữ viết Ấn Âu ngữ như thế chữ quốc ngữ dù gì củng đã “đổ khuôn” ít nhiều theo các qui luật chữ viết ABC của Ấn-Âu ngữ (có gốc Aryan-Phạn ngữ).

.Trong các ngôn ngữ liên hệ với Việt ngữ có rất nhiều từ liên hệ với gốc Aryan-Phạn ngữ như Nam Á Môn-Khmer ngữ có rất nhiều Phạn ngữ (chữ Khmer hiện nay viết theo dạng Phạn ngữ), Nam Đảo, hơn năm mươi phần trăm từ ngữ Java liên hệ với Phạn ngữ, Champa có rất nhiều Phạn ngữ (họ có một gốc lớn theo Ấn giáo), Tầy Thái  cũng vậy (Thái Lan có chữ viết dạng Phạn ngữ)… ngay cả Hoa ngữ cũng có rất nhiều Phạn ngữ…

Cũng xin nói là có rất nhiều nhà ngôn ngữ học xưa và nay so sánh Việt ngữ với các ngôn ngữ cho là có liên hệ với Việt ngữ, đã vấp phải một lỗi lầm rất lớn là khi lấy một từ của các tộc đó đem so sánh với Việt ngữ mà quên rằng trước hết là phải biết rõ từ đó không liên hệ gì với Phạn ngữ vì nếu nó liên hệ với Phạn ngữ thì đem so sánh với một từ thuần Việt ruột thịt với Phạn ngữ tất nhiên chúng liên hệ với nhau. Trong các từNamĐảo của tác giả Bình Nguyên Lộc đem so sánh với Việt ngữ có nhiều từ có gốc liên hệ với Phạn ngữ (Tiếng Việt Huyền Diệu).

Vậy thì thay vì lấy âm của các tộc ngôn ngữ này làm chuẩn ta lấy ngay Phạn ngữ hay tiện lợi hơn ta lấy âm của Ấn Âu ngữ có một gốc lớn Phạn ngữ như Latin, Anh, Pháp, Đức… (vì cùng dùng mẫu tự ABC) làm kim chỉ nam. Trong đó Anh ngữ được coi là có ngữ pháp chuẩn nhất vì hiện đang được dùng để viết các văn kiện quốc tế.

Nói một cách khác ta sẽ chọn viết theo ch với tr, n với  l, s với x… theo cách biến âm mẹ con với các ngôn ngữ hiện viết theo ABC ruột thịt với gốc Aryan-Phạn ngữ, trong đó có Anh ngữ, Pháp ngữ, Đức ngữ … làm bó đuốc dẫn đường.

Ở trên qua ba thí dụ ta thấy các từ thuần Việt đều liên hệ với Ấn Âu ngữ.  Thí dụ thứ nhất qua biến âm Ch là chàng với Tr là tràng ta thấy âm cổ Ch là âm có biến âm mẹ con với Ấn Âu ngữ là Anh ngữ chain và Pháp ngữ chaine. Thí dụ hai, biến âm D dữa và Gi giữa, ta thấy dữa biến âm máu mủ với Ấn Âu ngữ nhất là Phạn ngữ dvadữa biến âm chị em với âm N nửa, còn Gi thì tôi tìm không thấy biến âm với N. Thí dụ 3 ta thấy rất rõ và rất thuyết phục là âm N là Nõ là âm cổ có nghĩa còn âm L là lõ vô nghĩa.

Nõ là nọc biến âm mẹ con với Anh ngữ nogcây nọc cài cửa, cây chốt, cây ngạc gỗ, gốc cây chặt sát đất, đóng chốt. Rõ như hai năm là mười nog = nọc. Trong Anh ngữ cũng có biến âm n=l, là nog = log (khúc cây, thân cây).

Bây giờ để trọn vẹn ta lấy thêm một ví dụ nữa về âm S và X. Việt ngữ Sẻ thường có nghĩa là chia (chia sẻ) hàm nghĩa nhường, chung… nhưng không hay ít liên hệ với cắt bằng vật sắc nhọn như sẻ cơm, sẻ cháo, sẻ giường, sẻ chiếu. Ta thấy Sẻ biến âm mẹ con với Anh ngữ Share (chia…). Anh ngữ share ở Mỹ đã Việt hóa thành Se ruột thịt với Sẻ như se phòng (room share), tôi chưa thấy ai viết xe phòng. Trong khi âm X có nghĩa là chia nhưng nghiêng nhiều về chia cắt bằng vật sắc nhọn như xẻ thịt, xẻ gỗ, cò cưa kéo xẻ, xẻ thân (thân này ví xẻ làm đôi)… Ta thấy Xẻ, xả có một nghĩa là thịt. Thịt có một nghĩa là Xẻ, Xả với nghĩa cắt bằng vật sắc nhọn. Qua từ đôi xẻ thịt, xả thịt ta có xẻ, xả = thịt. Thịt với nghĩa xẻ, xả này có nghĩa là cắt xẻ thân xác con vật làm thịt.  Thịt xẻ, xả hàm ý, liên hệ với xác như thấy qua từ đôi xác thịt với xác = thịt.

Ta thấy xẻ, xả biến âm mẹ con với ngôn ngữ ở Barcelona (một phương ngữ gốc Pháp ngữ pha Tây Ban Nha ngữ) xarcuteries, thịt. Pháp ngữ charcuterie, người bán thịt lợn, thịt nguội pha trộn với Tây Ban Nha ngữ carne, thịt thành xarcuteries. Ta thấy rõ x, ch, c biến âm với nhau.

Trong Hy Lạp ngữ X gọi là Chi. Ấn Âu ngữ X biến âm ruột thịt với Ch như Xmas. Giữa Ấn Âu ngữ và Việt ngữ cũng có biến âm ch=x như chef = xếp. Ở đây ta cũng thấy rất rõ xẻ nghiêng về sự phân chia do cắt xẻ bằng vật sắc nhọn qua biến âm xẻ = chẻ (chặt).

Với ch= c=x, ta thấy rất rõ char(cuterie) = car (ne)- = xả = xác.

Đây là một ví dụ cho thấy một âm ch (tương đương với Pháp ngữ charcuterie) ở một tộc ngôn ngữ trong Bách Việt, nói thu nhỏ lại trong một vùng, một tộc của Việt Nam (như đã nói ngôn ngữ Việt Nam là một thứ ngôn ngữ thu nhỏ của liên bang Văn Lang)  như chặt  khi tiếp xúc với một tộc hay một vùng khác có âm cắt (tương đương với Tây Ban Nha ngữ carne) sẽ đẻ ra âm xắt (tương đương với phương ngữ Barcelona).

Điểm này giải thích Việt ngữ là đa tộc và tại sao vùng này nói chặt vùng kia nói cắt, vùng nọ nói xắt và dĩ nhiên cả nước nói cả ba từ.

Ta thấy rõ  X nghiêng về chặt, cắt ra. Chúng ta nên chọn viết xắt thịt chứ không viết sắt thịt. Từ sắt nên dành riêng để dùng cho kim loại sắt.

. Hoa ngữ

Như đã nói ở trên trong Hoa ngữ cũng có nhiều gốc gốc Aryan-Phạn ngữ. Người Hoa gốc từ Trung Á đến vùng Cam Túc, Thiểm Tây hợp văn hóa bản địa (có tác giả cho là Bách Việt) lập ra Hoa Hạ… Ngôn ngữ Trung Á không khỏi liên hệ với gốc Aryan-Phạn ngữ. Hoa ngữ dĩ nhiên lấy nhiều từ của ngôn ngữ Bách Việt mà như tôi nhận thấy các từ thuần Việt, nói rộng ra là các từ Bách Việt (từ Nôm Bách Việt của tác giả Đỗ Ngọc Thành, anh cho là có trước Hán ngữ) liên hệ với  Phạn ngữ. Vì thế khi lấy một từ thuần Việt đem so sánh với Hán Việt, Hán ngữ, trước khi cho là từ Hán Việt đẻ ra từ thuần Việt thì trước hết là ta phải xem từ Hán Việt đó có liên hệ với gốc Aryan-Phạn ngữ hay không.

Riêng tôi, về Hoa ngữ, tôi xem thứ yếu. Ta phải độc lập với ngôn ngữ Trung Quốc. Tổ tiên ta đã giữ độc lập bằng cách gạn lọc lấy Hán ngữ chuyển qua Hán Việt.

. Hàn lâm viện dựa vào các qui luật ngôn ngữ thế giới, các đại tộc ngôn ngữ liên hệ với Việt ngữ và cả trong ngôn ngữ Việt làm kim chỉ nam đặt ra các qui luật viết ch, tr; d; gi; l, n; s, x…, hỏi ngã… để viết chữ quốc ngữ một cách chuẩn mực.

Dĩ nhiên có những chọn lựa khó khăn vì phải mất lòng nhiều vùng, nhiều nơi, nhiều người, nhưng khi cần thì dù có phải hy sinh một số lợi ích nhỏ, một số bất đồng nhỏ cũng chấp nhận được.

Hãy lấy ví dụ là Trung Quốc đã thay cách chữ viết trước đây cho là “rườm rà” bằng chữ viết giản thể. Dĩ nhiên chữ giản thể tiện dụng nhưng cũng có những khuyết điểm ví dụ như chữ sâm trước đây viết là  Trên đầu chữ sâm có chóp gồm có ba chữ “tư”   xếp theo hình cái nón lá, cả chữ sâm trông như người đội nón lá. Tôi khám phá ra một điều lý thú là cái nón 3 chòm lá trên chữ sâm diễn tả phần ngọn cây nhân sâm tại đỉnh tẽ ra ba chòm lá kép. Ngày nay, viết theo giản thể chỉ viết một chữ “tư” trên đầu chữ nhân, thay vì ba chữ “tư” như trước. Đây này là một điểm đáng tiếc. Nhìn chữ sâm giản thể không biết được cây sâm vốn có ba chòm lá che đầu vì sợ nắng (!). Sâm sợ nắng nên mọc trong chỗ bóng rợp gọi là sâm (viết bằng ba chữ mộc) (Sâm và Hợp Chứng Lạm Dụng Sâm, GAS Syndrome). Chắc chắn những người Trung Quốc quen lối viết cũ không hài lòng nhiều điểm. Tuy nhiên Trung Quốc phải sửa đổi chữ viết vì những cái lợi ích lớn hơn (chì nói riêng về mặt tiền bạc với chữ giản thể, Trung Quốc tiết kiệm được mỗi năm cả tỉ đô la tiền mực in). Thế hệ trẻ học chữ giản thể không trở ngại, không bực bội và dĩ nhiên không biết đọc chữ cũ.

Một Hàn Lân Viện Ngôn Ngữ Việt Nam tương tự cũng vậy, phải hy sinh những tiện lợi nhỏ cho những điều lợi lớn miễn là nó đạt tới gần mức “lý tưởng” chừng nào hay chứng ấy. Các thế hệ mới sẽ có được một đường lối viết chữ quốc ngữ trong sáng, theo mẫu mực, thống nhất càng ngày càng tiến tới chân thiện mỹ.

Ngữ pháp Anh ngữ ngày nay coi như tuyệt hảo được dùng làm văn kiện quốc tế cũng là hậu quả của những tu sửa những ngữ pháp từ cổ tới giờ.

Ngoài địa hạt học viện, dĩ nhiên các phương ngữ địa phương vẫn cứ để cho trăm hoa đua nở, người địa phương nào muốn viết, muốn nói theo âm nào cũng chẳng sao. Phương ngữ là kho báu của các nhà ngôn ngữ học.

Phải có một hàn lâm viện ngôn ngữ học Việt Nam loại mở ngỏ và tiếp tục tu chính không ngừng.

Ở hải ngoại, nếu chúng ta lập ra được một hàn lâm viện riêng dù là một hàn lâm viện loại e hay i cho người Việt hải ngoại thì quá tốt.

Chắc chắn hàn lâm viện ngôn ngữ Việt hải ngoại sẽ giữ được ngôn ngữ Việt có sắc thái Việt không bị đồng hóa bởi ngôn ngữ Trung Quốc.

Đây là ý kiến riêng của cá nhân tôi, có một vị nào đó, không phải là một vị mà mười vị, trăm vị có những ý kiến khác, dựa vào các ngôn ngữ khác để dùng làm chuẩn thì càng hay. Trăm hoa đua nở. Các học viện sĩ càng có nhiều đóng góp để chọn lựa, đúc kết lại.

January 21, 2011

MÃO LÀ CON MẤU, CON BẤU.

Filed under: Mão Là con Mấu Con Bấu — Quang Nguyen @ 5:35 am

TÊN NÔM NA MÁCH QUÉ CỦA 12 CON GIÁP.

CON MÃO LÀ CON MẤU, CON BẤU.

Nguyễn Xuân Quang

Qua những bài viết trước ta đã thấy một số tên con thú trong 12 con giáp đều là những từ thuần Việt. Dần là con Dằng, con Dằn, con Vằn (xem Dần là Dằng là Vằn); Sửu là Sẩu là Sừng (xem bài viết này). Nhân dịp tết Tân Mão  xin viết về con MÃO. Nếu chứng minh được tên gọi 12 con giáp  là nôm na, thuần Việt thì 12 con giáp mới có nhiều triển vọng là của Đại Tộc Việt không phải lấy của Trung Hoa. Nếu 12 con giáp có nguồn gốc Việt thì tên của chúng phải thuần Việt. Bắt buộc. Bắt buộc. Và bắt buộc.

Cũng xin nhắc lại là những từ Nôm ở đây chỉ dùng với nghĩa là từ Nam, ngôn ngữ của người Nam (nói chung là của Bách Việt), chứ không phải của người phương Bắc Trung Hoa, không phải là chữ Nôm của riêng Việt Nam, một thứ chữ viết có nguồn gốc từ chữ Hán.  Từ nôm hay thuần Việt ở đây phải hiểu là những từ không phải là Hán Việt phát gốc từ Hán ngữ. Từ nôm hay thuần Việt có thể có gốc hay liên hệ với tất cả các ngôn ngữ khác còn lại của loài người.

Việt ngữ có mão, mẹo, mèo, Thái ngữ maew, mèo, Champa ngữ muryao, mèo, Phạn ngữ màrjara-, mèo, Hán Việt mèo là miêu. Miêu  貓 tiếng Bắc Kinh và Quảng Đông đều đọc là “Máo 貓”. Nhưng Mão, Mẹo, trong 12 con giáp viết là  卯, theo người Việt là con mèo và người Trung Hoa là con thỏ.

Mão là một từ hết sức quan trọng trong 12 con giáp, một thứ địa khai ngôn ngữ (language fossil), là một mấu chốt quyết định để xác quyết 12 con giáp của Việt Nam là chính thống hay của Trung Hoa là chính thống. Mão là ‘dấu tay’ dùng để xác thực xem 12 con giáp có phải có nguồn gốc từ Bách Việt không.

Trong 12 con giáp, Mão là chi duy nhất có hai khuôn mặt thú bốn chân mèo và thỏ. Cùng một tên Mão mà chỉ hai con vật hoàn toàn khác nhau. Một con là mèo mang mầu sắc văn hóa sông nước nông nghiệp Bách Việt thiên về nòng âm, mẫu quyền và một con là thỏ mang mầu sắc văn hóa du mục Trung Hoa thiên về nọc dương phụ quyền. Hai con trái ngược nhau về thể chất cũng như về ý nghĩa biểu tượng. Con mèo lớn, mèo rừng có thể ăn thịt con thỏ được. Một con thuộc loài ăn thịt, một con thuộc loài ăn thực vật khác nhau như trời và trăng. Phải có một bên sai. Ai đúng ai sai? Hay cả hai cùng lấy từ một nguồn thú tổ mão rồi Việt lấy mão-mèo, Trung Hoa lấy mão-thỏ. Con thú tổ đó là con thú gì ? Mão-mèo của Việt còn giữ chính thống, cùng DNA với con mão tổ tức là di duệ ruột thịt với mão tổ  hay con thỏ của Trung Hoa? Trong 12 con giáp của Trung Hoa và của Việt Nam, con mão duy nhất có hai khuôn mặt mèo và thỏ còn ở những con giáp khác đều chỉ cùng chung một con vật nên khó thấy rõ ai đúng ai sai trăm phần trăm như ở con mão này. Vì vậy nhận diện được con Mão tổ sẽ cho ta câu trả lời dứt khoát.

Có người cho rằng con mèo được gọi theo âm của tiếng kêu meo meo của nó. Sự thật không phải vậy. Những tên chỉ thú vật trong Việt ngữ cũng như  trong phần lớn ngôn ngữ loài người thường được đặt dựa theo một cá tính về thể chất hay cách sinh sống của con vật đó. Con mão-mèo cũng vậy. Họ mèo là họ có mấu nhọn, vuốt sắc hay cấu hay cào, quào:

Tuổi mẹo là con mèo ngao,

Hay cấu hay quào, ăn vụng quá tinh.

(vè động vật).

Con mão, con mèo là con cào, con cấu. Ta  cũng thấy rõ qua Anh ngữ cat, Pháp ngữ chat. Con cat, con chat là con scatch (cào, cấu). Trong y học có chứng sốt do mèo cào gọi là scatch fever.

Rõ như ban ngày mão biến âm với mấu. Mấu là cái móc, vật có mũi nhọn cong như móng vuốt. Theo m=v=b  như mụ = vú = bu (cả ba từ đều có một nghĩa là mẹ), mấu = vấu = bấu là cào bằng móng nhọn như mèo, cọp, báo, beo… Như thế con mão là con mấu, con bấu. Ta cũng thấy rõ các con thú họ nhà mèo (feline) đều có mấu vuốt để mấu, để bấu. Con báo, con beo cũng có nghĩa liên hệ với tới cào, cấu, bấu. Theo m=b, mèo, mẹo = beo. Con beo là con bẹo, béo, nhéo. Cũng theo m=b, mão = báo. Con báo là con bấu, con béo. Loài báo, beo puma ở Mỹ châu có pu-= bấu =  báo. Theo p=b=m, puma có pu- = mấu. Con báo puma là con bấu, con mấu họ nhà mèo, mẹo, mão, mấu.

Bây giờ ta thử đi tìm xem con mão có thật sự là con mèo không hay con mão là một con vật thuộc họ thú có mấu hay cấu hay cào  như cọp, báo, beo?

Cổ ngữ Việt mâu là con hổ, con cọp, mũ đầu mâu là mũ đầu cọp. Mã ngữ gọi con cọp là hari mau (Bình Nguyên Lộc, Nguồn Gốc Mã Lai của Dân Tộc Việt Nam tr. 154). Hari là trời, hari mau là con mau trời. Như thế rõ ràng mâu cũng có nghĩa là mấu, mão,  mèo. Mâu trời là con cọp, là con mèo trời. Con cọp họ nhà mèo hiển nhiên mâu, mau là một thứ mèo. Điểm này thấy rõ người Mỹ cũng gọi con cọp là big cat tương tự Mã Lai ngữ gọi là hari mau, mèo trời. Con mâu (cọp) và con mão (mèo)  cùng một âm, cùng một họ thú mấu, bấu, cấu, cào.

Như thế con mão cũng có thể là con mâu, con (hari) mau (hổ, cọp).

Mặt khác qua thư riêng, anh Đỗ Ngọc Thành (xin lỗi tác giả, tôi có sắp xếp lại một chút cho thích hợp với bài viết) cho biết:

Chữ tượng hình “mèo ” hay “Miêu ”  được thấy sớm nhất ở thời Tây Chu: sách “Kinh Thi-Đại Nhã-Hàn Dịch《詩經·大雅·韓奕… trong đó có ghi “Hữu Hùng hữu Bi, hữu Miêu hữu Hổ 熊有羆有貓有虎。(詩經·大雅·韓奕,當中內容寫到「有熊有羆,有貓有虎」但詩句中將貓與熊、棕熊等並列在一起,似乎不是指家貓

(trích từ

http://zh.wikipedia.org/zh/%E7%8C%AB#.E6.BC.A2.E5.AD.97.E7.9A.84.E8.B2.93).

Nhìn theo câu văn nói về Gấu/Hùng ,Bi và Hổ … toàn là thú dữ cho ta thấy chữ Miêu trong câu nầy không phải để nói về con Miêu-mèo !

Theo anh Thành thì: 

1/ Chữ Miêu-Mèo / đã có từ thời nhà Thương của Trụ Vương, vì đã có trước, cho nên chúng ta mới thấy được nó ghi trong Kinh Thi thời Tây Chu.
2/ Chữ Miêu-Mèo
của thời nhà Thương, rồi đến đời nhà Chu…

không phải nói về con Mèo! Mà là chỉ tên của một loài mãnh thú to lớn và nguy hiểm tương đương với con Gấu To và Cọp, Hổ (Như thấy ở ví dụ đã dẫn chứng phía trên: chứng minh bằng văn trong Kinh Thi).

Theo biến âm m=b thì Mèo/Miêu = Beo và Máo, Mão = Báo cho nên trong kinh Thi viết “Hữu Miêu hữu Hổ 有貓有虎” thì phải hiểu theo diện mãnh thú đi đôi với nhau là Hữu Báo hữu Hổ. Trong 12 chi thì Dần Mão đi liền kề nhau thì Mão có độ cao là Báo …  Báo cũng là Beo và “Beo-” sinh ra âm “Mèo/Miêu”. Báo/Beo- đã bị đọc thành “Mèo” và ngày nay người ta cho là con “mèo” nằm trong 12 chi là sai lầm! Người ta đã dùng Báo/Beo trở thành “Mèo” (và lại đặt ra chữ khác để gọi con Báo = 豹)

Theo anh Thành thì phải có một từ nào đó gọi con mèo khác từ miêu:

Thời chiến quốc, Trang Tử có nhắc đến “Con Mèo” và gọi là Ly Sinh-狸狌. Như thế trước khi Tần Thủy Hoàng thống nhất quần hùng thời chiến quốc lập ra nhà Tần (và trước đó…) thì khi đó “Mèo” là “Ly Sinh-狸狌“ và “Beo, Báo là máo nằm trong 12 chi.  Các thời sau Trung Hoa đã biến “Máo/Mão-” trở thành Mão- với ý nghĩa Mão- là con Thỏ và Việt Nam biến Mão Beo/Báo-” thành “con Mèo/Miêu/Mão”/ trong 12 địa chi.

Xin mở một dấu ngoặc ở đây: ta cũng thấy ly (sinh) liên hệ với Anh ngữ lynx, mèo rừng. Mèo nhà là thú thuần hóa từ một tộc mèo hoang, mèo rừng (xin đóng ngoặc lại).

Mặt khác tác giả Nguyễn Cung Thông cũng cho biết:Miêu là từ Hán Việt nghĩa là mèo, nhưng nghĩa Hán cổ đại của miêu là loài hổ ít lông chứ không phải là mèo’ [Nguồn gốc Việt (Nam) của tên 12 con giáp-Mão/Mẹo/mèo (4B)].

Bây giờ tôi đi tìm sự liên hệ của mão với Ấn Âu ngữ. Như đã biết mão-mèo liên hệ với Phạn ngữ màrjara-, mèo. Ta có mão = mar-.  Anh ngữ cũng soi sáng rõ thêm nữa là con mèo, con mẹo, con mão, con mâu, con mấu ruột thịt với Anh ngữ maul (cào, cấu xé bởi loài thú dữ có mấu sắc như cọp, mèo, sư tử, báo, beo….). Con mão, mèo nằm trong họ thú dữ có mấu vuốt là con mấu, con cào, là con maul. Họ nhà mão, mẹo, mèo có đặc tính maul này Anh ngữ gọi là feline. Latin felis catus là con mèo. Theo f=m (fai = mờ, fường = mường, fat = mập), feline, felisfel- = mèo.

Ngoài ra qua Anh ngữ cũng cho thấy con mèo và con cọp trong họ nhà mão cũng có đặc tính bắt mồi bằng cách dùng tay có móng vuốt để chộp, chụp mồi. Anh ngữ cat, Pháp ngữ chat, mèo ruột thịt với catch, bắt (như bắt cá), chộp, chụp (như chộp, chụp banh). Con cat, con chat là con catch, con chộp, con  chụp (bắt) mồi. Con cọp họ nhà mèo cũng là con chộp, con chụp. Với h câm, chộp = cọp. Con cọp là con chộp, con chụp (mồi). Biến âm này cũng thấy rõ qua từ copy, sao, Xerox, chụp phó bản. Copy phiên âm là cop-pi, cọp-pi. Copy có cọp- là chụp (phó bản). Copy còn chỉ cóp bài, cọp bài, “quay phim” của người khác. “Quay phim” là chụp (hình).  Rõ ràng cọp = chộp, chụp giống hệt copi = chụp. Con cọp là con chộp, chụp, con catch họ nhà cat, nhà mèo.

Ở đây một lần nữa ta thấy rất rõ con mão, mèo, con mâu, con mấu, con maul được gọi tên theo một đặc tính của con vật là tính mấu, bấu, cấu, cào, chụp, chộp giống như con chó là con tru (con hound, một loài chó là con howl, hú), con Dần là con Dằng, Dằn, con vằn, con Sửu là con Sẩu, con Sừng…

Tóm lại ta thấy rất rõ

. Mão là con Mấu, con Bấu (Nguyễn Xuân Quang)

. Mão là con maul (Anh ngữ) (Nguyễn Xuân Quang).

. Mão biến âm với Cổ ngữ Mâu là con Cọp.

. Mão biến âm với Mã Lai ngữ hari mau là con cọp (Bình Nguyên Lộc).

.Mão biến âm với puma, báo của Thổ Dân Mỹ châu (Nguyễn Xuân Quang).

. Mão, Mẹo, Hán cổ là con Báo, con Beo (Đỗ Ngọc Thành).

. Mão biến âm với Miêu là con hổ ít lông (Nguyễn Cung Thông).

Như thế qua cổ ngữ Việt (hiện được cho là thuộc gia đình Nam Á ngữ) mâu, qua Việt ngữ hiện kim mèo, qua Đa Đảo Ngữ (‘hari’) mau, qua cổ ngữ Hán Tạng máo, miêu, qua ngôn ngữ thổ dân Mỹ châu puma và qua Ấn Âu ngữ maul rõ như ban ngày từ MÃO

chỉ chung một HỌ thú có mấu vuốt hay bấu, cấu, cào trong đó có báo, beo, cọp, mèo thuộc họ nhà mèo (feline) không phải chỉ riêng con mèo.

Như vậy rõ như dưới ánh sáng mặt trời Mão của Việt Nam chỉ con mèo thuộc họ thú có mấu nhọn móng vuốt ruột thịt với báo, cọp rất chí lý trong khi Máo, Mão là con thỏ của Trung Hoa là ngoại tộc. Về DNA con mèo mang chính huyết với mão-bấu trăm phần trăm còn con mão-thỏ của Trung Hoa sai trăm phần trăm. Để nhấn mạnh, xin lặp lại một lần nữa Mão là con thỏ sai trăm phần trăm. Không còn gì để nói nữa Trung Hoa đã lấy Mão của một nền văn hóa khác hay của Bách Việt. Lấy của người khác rồi sửa đổi lại nên mới sai toét.

Bây giờ tới câu hỏi kế tiếp được đặt ra là tại sao Việt Nam đã chọn con mèo hay đã chuyển con mão-bấu (vốn có nguồn gốc là loài thú dữ báo, beo, cọp) của một nền văn hóa gốc nào đó thành con mèo nhà và người Trung Hoa lại biến con mão-bấu thành con thỏ?

Về phía Việt Nam, chúng ta đã biến con mão-bấu thú rừng (báo, beo, cọp) thành con mèo hay đã chọn con mèo? Để trả lời câu hỏi này trước hết hãy tìm xem có dấu tích gì của con báo đã được dùng trong lịch sách, ngày tháng của các tộc người Á châu cổ trong đó có Bách Việt không? Tôi xin đưa ra một chứng tích được bảo đảm bằng DNA, đó là một vài tộc thổ dân Mỹ châu trong đó có Maya, vốn từ Á châu sang Mỹ châu. Họ có vật tổ là một loài báo như các con báo jaguar, puma thuộc họ nhà mão. Xin nhắc lại Maya có DNA giống người Đông Nam Á tức cổ Việt.  Họ dùng con báo trong lịch sách, hình ngữ. Một tấm thạch bia ở Quiriguá, Guatemala có khắc hình ngữ ghi lại cho biết thần báo Jaguar ‘fire god lunation’ là thần tuần trăng sáng (tháng âm lịch). Từ ‘fire’ ở đây hiểu là dương, thái dương, sáng (lửa do hai que nọc làm ra). Trăng của thần báo có hai nanh nhọn là trăng lửa, trăng t’hái dương’ (rạng sáng).

Hình Fig.3.23 Trụ thạch D ở Quiriguá (Guatemala) có hình tự ghi: ”bốn ngày từ khi mặt trăng xuất hiện, thần tuần trăng sáng… (Matthew LooperA Guide to an Ancient Maya City, Editorial Antigua, S.A., Guatemala, 2007).

Lưu ý hình tự ‘Fire god lunation’ có hình đầu thần báo jaguar.

Điều này chứng tỏ con báo ở châu Á cổ đại được dùng trong lịch sách, thiên văn là chuyện có thể có. Người Maya rời Á châu qua châu Mỹ vẫn giữ báo vì báo vẫn có trong địa bàn sống của họ. Một vài tộc Bách Việt dòng lửa, núi có thể đã dùng báo như Maya trong khi đó một vài tộc sống ở vùng thấp sông nước trong đó có tổ tiên người Việt Nam có thể  đã dùng mèo hay chuyển đổi báo qua mèo khi con mèo được thuần hóa hay khi bước vào thời xã hội nông nghiệp. Sự chọn lựa báo và mèo riêng rẽ hay chuyển đổi báo qua mèo này là một chuyện hữu lý, không có gì trật đường rầy vì báo, mèo trong cùng một họ mão-bấu. Hai con vật chỉ khác nhau về tính thú hoang và thú nhà. Điểm này cũng thấy rõ trong các nền văn hóa theo Vũ Trụ giáo. Ví dụ như biểu tượng của mặt trời là một loài chim mang dương tính (chọn loài mỏ to biểu tượng cho dương vật như chim cắt hay loài mãnh cầm như ưng, ó, diều hâu…). Mỗi nền văn hóa chọn một con chim có trong địa bàn sống của mình nhưng vẫn phải nằm trong cùng một loài chim mang dương tính biểu tượng cho mặt trời. Ví dụ Bách Việt có chim cắt, chim Việt, Ai Cập cổ có ưng ó horus… Vì thế sự chuyển đổi báo thành mão mèo rất chính chuyên vì cùng một họ mão-bấu.

Cũng cần nói thêm là sự kiện các tộc thổ dân châu Mỹ như Maya dùng báo trong lịch sách xác thực thêm là Bách Việt dùng báo và mèo họ mão-bấu là chính chuyên, chính thống.

Việt Nam đã chuyển đổi từ một mão-bấu thú hoang (báo) hay chọn mèo như thế có thể là vì:

-Bản chất văn hóa Bách Việt vốn nhu hòa theo duy lý, sông nước và nông nghiệp nên chọn con mèo nhà, một con thú hiền hòa sống gần cận và giúp ích cho con người (con mèo bắt chuột giúp bảo vệ các nông phẩm) thay vì lấy hay giữ con báo, beo, cọp rừng rú tuy cùng họ mèo nhưng là

mãnh thú thích hợp với tính võ biền, du mục, săn bắn hơn. Bằng chứng là Vương quốc Điền (có một gốc Điền Việt) có một nét văn hóa du mục võ biền nên trong đồ đồng có rất nhiều hình tượng cọp, hổ, báo. Trong khi đồ đồng Đông Sơn tìm thấy ở Việt Nam không thấy hay rất hiếm thấy hình tượng hổ, cọp.

-Trong 12 con giáp, Mão nằm sau Dần. Dần đã là hổ, cọp đã là mãnh thú rồi mà lại lấy một con mãnh thú nữa theo sau là Mão với nghĩa chỉ báo, beo, cọp, có thể không hợp với sự chuyển dịch, tuần hoàn của vũ trụ, trời đất. Một năm cọp hung dữ, rừng rú như con Dần rồi thì kế tiếp tới một năm Mão phải là năm hiền hòa an lành hơn (hết cơn bĩ cực tới hồi thái lai) vì vậy lấy nghĩa là mèo nhà cho thuận lẽ của trời đất. Xin lưu ý trong 12 con giáp chỉ có con hổ Dần là mãnh thú và con rồng Thìn là linh thú còn lại những con khác không phải là mãnh thú. Như thế các con thú dùng trong 12 con giáp có khuynh hướng hiền hòa của một nền văn hóa sông nước, nông nghiệp vì vậy con mèo được chọn thay cho báo là điều hợp lý.

-Chọn mão-mèo vì muốn mão biểu tượng cho tính âm, thái âm, thuần âm theo đúng nguyên lý lưỡng hợp nòng nọc, âm dương, cốt lõi của văn hóa Chim-Rắn Tiên-Rồng của Việt Nam. Con mèo biểu tượng cho âm, thái âm, nữ, nhiều khi bị coi là âm ma như thấy qua con mèo đen. Mèo đã biểu tượng cho âm, cộng thêm mầu đen là mầu âm nên mèo đen biểu tượng cho “tối âm”, âm thế, âm ma như thấy hình bóng con mèo đen luôn luôn có mặt trong ngày lễ Halloween. Trong khi đó báo, cọp là nòng âm nhưng còn mang tính thú dữ có hai nanh nhọn mang dương tính (trong các hình tượng báo của Maya hai chiếc răng nanh bao giờ cũng được diễn tả một cách cường điệu)

nên có thể không hoàn toàn thích hợp với triết thuyết nòng nọc, âm dương của chu kỳ 12 địa chi của các tộc thái âm sông nước, nông nghiệp Bách Việt.

-Việt Nam chọn hay đổi Mão-báo qua Mão-mèo vì nếu lấy báo thì báo sẽ trùng với cọp Dần của năm trước. Báo và cọp coi như là một.

Còn về phía Trung Hoa, chẳng lẽ họ lại “quá dốt” đã biến Mão-bấu thành con thỏ. Các nhà tư tưởng, các triết gia, học giả bậc thầy của Trung Hoa cổ phải dựa vào một lý do chính đáng nào chứ? Bắt buộc. Họ đâu có dốt.

Họ chọn mão-thỏ có thể là vì:

.Mèo yếu đuối mang âm tính, nữ không hợp với tính “macho”, du mục, võ biền, trọng nam khinh nữ. Mèo, báo không thể là vật tổ của Trung Hoa. Trung Hoa có tứ linh long li qui phượng. Thú biểu bốn chân là con li tức con kì trong cặp kì lân có cốt là con hươu sừng mang dương tính chứ không phải là loài mão (báo, beo, cọp, mèo). Mèo, báo không thích hợp với văn hóa du mục của họ. Trong khi đó, Bách Việt thuộc ngành nòng âm nguyên thủy theo mẫu hệ thích hợp với họ nhà mèo.

.Họ thù ghét mèo, báo, cọp, vì các con thú họ mão này là biểu tượng của những tộc thù nghịch. Trong Tứ Di, có những tộc thù nghịch với Trung Hoa cổ có vật tổ là một loài thú họ nhà mão-bấu… nên họ né tránh không dùng, sửa đổi con thú của Mão-bấu đi. Bách Việt cũng có các tộc có vật tổ là báo, beo hổ như ở miền Bắc Việt Nam có tộc Mường Bi (con thú trong hữu bi hữu hổ… ở trên). Ngoài ra như đã nói sự thờ phượng các loài thú Mão-bấu này của Tứ Di, Bách Việt cũng còn thấy những dấu tích ở các tộc thổ dân Mỹ châu như Maya có cùng DNA với cổ Việt.

Người Trung Hoa cổ thù nghịch với Bách Việt hiển nhiên họ né tránh dùng vật tổ báo của Bách Việt.

Sự né tránh này cũng thấy rất rõ qua chi Thìn, con Rồng. Thìn cũng là một từ nôm na mách qué (khai triển rõ ràng trong bài viết Tên Nôm Ma Mách Qué của Thìn, ở đây chỉ xin tóm lược những điểm cần thiết)…. Thìn biến âm với thằn, thắn, thần, thẩn… có nghĩa liên hệ với rắn, trăn, cá sấu. Mường ngữ thắn là rắn. Người Mường tin rằng vía của con người chia ra làm hai loại: wại thắn (vía rắn) trị được muông thú dữ và wại khang (vía sáng) trị được loài cá dữ dưới nước: “vía rắn bỏ muông, vía sáng bỏ cá” (Trương Sỹ Hùng Bùi Thiện, Vốn Cổ Văn Hóa Việt Nam, Đẻ Đất, Đẻ Nước, nxb VHTT Hà Nội 1995 tập I, tr.73). Hán Việt thẩn: loài giao long (có cốt cá sấu). Thẩn, thằn biến âm với lằn (th = l như thủng = lủng), thằn lằn gồm cả thằn lằn (lizard) và cá sấu (aligator với phụ từ al và ligator, con thằn lằn) cùng họ bò sát với rắn. Theo th=tr  như tháng = trăng (một tháng là một trăng, một nguyệt) ta có Thìn, thần, thằn, thắn = trăn. Thìn biến âm với Mường ngữ tlăn, con trăn. Rắn, trăn và cá sấu là vật tổ của ngành nòng âm ứng với Thần Nông của Bách Việt trong lưỡng hợp chim-rắn (Tiên Rồng) Viêm Đế-Thần Nông. Vì vậy người Trung Hoa đã không dùng Thìn là rắn, trăn, cá sấu (Trung Hoa ở miền bắc không có cá sấu) là những vật tổ của Bách Việt mà dùng Thìn chỉ con Rồng. Cái đuôi rắn, trăn, cá sấu Bách Việt của con rồng Thìn Trung Hoa vẫn lòi ra rất rõ là ta thấy con Thìn-rồng Trung Hoa là con thú duy nhất trong 12 con giáp chỉ một linh thú, một con thú thần thoại kiểu văn hóa Trung Hoa. Văn hóa rồng là văn hóa muộn so với văn hóa rắn, trăn, cá sấu Bách Việt. Tên 12 con giáp gọi là 12 địa chi có nghĩa là 12 con giáp phải là những con vật sống ở cõi đất trần gian vậy mà con rồng lại là linh vật lạc loài sống ở trên mây theo văn hóaTrung Hoa. Trong 12 con giáp thủa trước của Việt Nam có thể Thìn là rắn, trăn, cá sấu về sau bị Hán hóa biến thành con rồng. Điểm này giống hệt như vật tổ lưỡng hợp nguyên thủy của Bách Việt là Chim-Rắn còn ghi khắc rành rành trong sử đồng Đông Sơn, sau này bị ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa biến thành Tiên-Rồng…

Nhưng tại sao họ lại chọn con thỏ mà không chọn một con thú khác?

Trung Hoa chọn con thỏ cho thấy hai con vật mèo và thỏ về thể chất là hai loại thú khác nhau hoàn toàn nhưng về biểu tượng cho triết thuyết, vũ trụ quan, nhân sinh quan, tín ngưỡng, Dịch lý bắt buộc phải có một điểm nào đó giống nhau. Điểm giống nhau này phải nằm trong ý nghĩa biểu tượng về vũ trụ quan, thiên văn, Dịch lý…

Con thỏ có một nét đặc thù gì? Thỏ có «dấu tay» là hai tai dài. Không có tai dài thì không phải là thỏ. Ngay trong giáp cốt văn, cổ văn và triện văn con thỏ cũng đã được vẽ có tai dài.

Trong giáp cốt văn, cổ văn và triện văn con thỏ được vẽ nhấn mạnh có tai dài (Wang Hongyuan).

Như thế người Trung Hoa cổ đã dùng hai cái “dấu tay” tai dài của thỏ để diễn đạt một ý nghĩa biểu tượng triết thuyết nào đó mà con báo, con mèo không có (vì không có tai dài).

Muốn biết, không gì hơn là tìm xem hình tai thỏ trong các hình tượng, chữ viết nòng nọc vòng tròn-que có mang một ý nghĩa biểu tượng gì? Tìm ở đâu? Trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn là một bộ từ điển của hình tượng, chữ viết nòng nọc vòng tròn-que (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á). Ta hãy vào tra quyển tự điển bằng đồng này. Thật vậy, hình hai tai thỏ đã ghi khắc rõ trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. Trong sáu chiếc thuyền trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I, ở thuyền số 3 có người thuyền trưởng ngồi ở đầu mũi thuyền có trang phục đầu có phần ở giữa giống hai tai thỏ.

Thuyền số 3 trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I (nguồn Nguyễn Văn Huyên).

Hình giống hai tai thỏ này trông như hai chiếc sừng cong trong có đánh các dấu (accents, markers) bằng các dấu chấm nọc, dương, lửa và đầu tận cùng có chữ viết nòng nọc vòng tròn-que là chữ hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) Λ  cho biết rõ là hai sừng cong lửa, tức sừng âm lửa, đất lửa của ngành âm (ngành âm vì họ là người ở trên thuyền). Người thuyền trưởng với cặp sừng âm lửa đất cho biết thuyền này của tộc lửa âm tức Li ngành âm. Ta cũng thấy rõ người chèo thuyền sau cùng ở đuôi thuyền cầm tay chèo đầu chim mũ sừng mỏ cắt biểu tượng cho ngành nọc lửa, thần mặt trời thái dương Viêm Đế. Phía sau trang phục đầu của người này có hai vật nhọn như sừng hơi cong nhô ra từ khung chữ nhật như diễn tả chiếc đầu hươu trong có chấm nọc lửa, dương cũng chỉ cho biết thuyền này thuộc tộc lửa Li ngành âm. Như thế người thuyền trưởng có cặp sừng âm tai thỏ ở trang phục đầu thuộc tộc lửa đất Li âm thuộc ngành người chèo thuyền dòng thần mặt trời Viêm Đế, Viêm Việt (có tay chèo là chim cắt, chim Việt, chim biểu của Viêm Đế) thuộc đại tộc hươu sừng ngành âm ứng với cặp sừng ở đầu hươu mang ở sau trang phục đầu của người chèo thuyền.

Thuyền số 3 này thuộc tộc Đất Li dòng nước ngành nọc dương Viêm Đế, Viêm Việt trong họ Viêm Đế-Thần Nông. Cũng xin nhắc lại sơ qua là 6 con thuyền trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I là những con thuyền phán xét linh hồn diễn tả theo Vũ Trụ giáo, không phải là thuyền chiến hay thuyền tế hà bá (người nhỏ bé trần truồng như một đứa trẻ ngồi bệt dưới sàn thuyền bị canh giữ là một linh hồn đang bị phán xét, tuyệt nhiên không phải là tù binh hay người đem hiến tế). Hai con thuyền dẫn đầu (số 5 và 6) biểu tượng cho toàn nhánh nòng nước và hai đại tộc dương âm, nội ngoại ứng với lưỡng nghi ngành âm nước. Bốn con thuyền theo sau biểu tượng cho bốn đại tộc ứng với tứ tượng (nước, gió, đất và lửa) ngành âm nước. Thuyền số 3 này là thuyến Đất Li dòng nước (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á).

Như thế con thỏ với hai tai dài dựng đứng như một cặp sừng âm đầu tròn biểu tượng cho lửa mang âm tính và vì là thú bốn chân sống trên mặt đất nên có một khuôn mặt chủ là lửa đất, thiếu dương Li ngành nòng âm trong khi cặp sừng nhọn đầu của hươu biểu tượng cho thái dương lửa ngành nọc dương.

Để giản dị và dễ hiểu hơn (đỡ nhức đầu cho những ai chưa quen nòng nọc, âm dương), ta chỉ cần so sánh con thỏ và con hươu là ta có thể hiểu rõ được ngay ý nghĩa biểu tượng của con thỏ. Cả hai đều là thú bốn chân sống trên mặt đất biểu tượng cho Đất. Hươu có sừng nhọn mang nghĩa hai nọc, lửa ngành nọc, dương. Thỏ có hai tai dài đầu tròn mang hình ảnh cặp sừng âm mang nghĩa hai nọc âm, lửa âm, thái dương âm.

Như vậy người Trung Hoa cổ chọn con thỏ thay cho con mèo vì con thỏ có hai tai biểu tượng cho Li âm. Con thỏ mang tính lửa ngành âm thích hợp với bản tính du mục, võ biền của họ hơn mèo. Ngoài ra, con Cọp-Dần là loài mãnh thú có hai nanh nhọn mang dương tính biểu tượng cho dương của âm tức thiếu âm (khí gió) thì kế tiếp con Mão-thỏ có hai tai sừng âm biểu tượng cho lửa thiếu dương (đất dương) ngành âm. Trong tiểu vũ trụ cõi nhân sinh thiếu dương bắt cặp với thiếu âm (trong khi ở đại vũ trụ cõi tạo hóa thái dương bắt cặp với thái âm). Trong khi đó Việt Nam lại diễn đạt kết hợp theo một chiều hướng khác. Việt Nam có Dần biểu tượng cho thiếu âm (khí gió) và Mão-mèo biểu tượng cho thái âm (nước). Cả hai cùng thuộc về nòng âm. Cọp-Dần và Mão-mèo thuộc văn hóa ngành nòng, âm, Khôn Bách Việt. Khôn có Khôn dương (thiếu âm khí gió) và Khôn âm (thái âm, nước). Cọp Dần và Mão-mèo cùng một ngành nòng Khôn thích hợp với ngành Thần Nông (Thần là nước, Nông là khí gió) có một khuôn mặt thế gian là Lạc Long Quân.

Tiến xa thêm, ta thấy con thỏ Trung Hoa có một khuôn mặt biểu tượng cho trăng. Trên mặt trăng có con thỏ ngọc Ngọc thố. Trăng là âm thuộc ngành nòng âm (trăng nước, gió trăng) và mèo cũng thuộc ngành nòng âm. Như thế về Vũ Trụ Tạo Sinh dựa trên lưỡng hợp nòng nọc, âm dương mèo và thỏ đều được dùng làm biểu tượng cho nòng âm (chỉ khác về tính nòng nọc, âm dương). Điều này giải thích tại sao có sự lẫn lộn, lầm lẫn giữa thỏ rừng và  mèo rừng như tác giả Nguyễn Cung Thông đã cho biết: Thố tôn còn được gọi là dương xá lị 洋猞猁…. Xá lị 猞猁 là loài mèo hoang (lynx).  Sự lẫn lộn này dĩ nhiên nghiêng nhiều về ý nghĩa biểu tượng chứ không phải là về thể chất.

Trung Hoa lấy Mão-thỏ hoàn toàn sai với tên mão-bấu. Họ chọn thỏ chỉ vì dựa theo tính nòng nọc, âm dương, theo Dịch lý, thích hợp với bản thể văn hóa du mục, võ biền của họ. Điểm này cũng thấy rõ qua con giáp sửu. Như đã biết Sửu tổng quát là con Sẩu-Sừng. Bách Việt nông nghiệp, ruộng nước chọn con Sửu-Sẩu-Sừng là con trâu nước. Trung Hoa chọn con thú Sửu-Sẩu-Sừng là con bò đực (Ox) vì con bò sống trên cạn mang dương tính thích hợp với bản thể văn hóa du mục, võ biền của họ. Con bò thích hợp với văn hóa du mục thấy rất rõ trong văn hóa người Điền. Văn hóa Điền có một khuôn mặt du mục, võ biền nổi trội nên cũng tôn vinh bò chứ không phải là trâu (Sự Tương Quan Giữa Nghệ Thuật Đồ Đồng Điền và Đông Sơn). Điểm khác biệt ở đây là mèo và thỏ không cùng họ mão bấu không giống như trâu bò cùng họ Sửu-Sẩu-Sừng. Trung Hoa đã phạm một lầm lỗi chết người (fetal error) chỉ vì lấy của người khác “biến chế” theo kiểu ”made in China”.

Kết Luận

Mão là con Mấu, con Bấu. Mão chỉ chung một HỌ các con thú có Mấu vuốt nhọn, có tính Maul, bấu, cấu, cào gồm mâu, mau (cọp), bấu (báo), béo (beo), mèo…

Bách Việt chọn mão là mèo trong họ thú có mấu hay bấu, cấu, cào (họ mèo) trong 12 địa chi rất chí lý, rất chính thống và hợp với văn hóa duy lý, sông nước, nông nghiệp. Về DNA mèo chính huyết với mão-bấu một trăm phần trăm. Trung Hoa cổ đã lấy Mão-bấu và cho nó là con thỏ hoàn toàn sai lạc trăm phần trăm với tên Mão. Sở dĩ họ chọn thỏ vì thỏ khác tính nòng nọc, âm dương với mèo. Thỏ diễn tả tính nòng nọc, âm dương ăn khớp, thích hợp với văn hóa Trung Hoa vốn “macho”, du mục, võ biền.

Một lần nữa cho thấy từ mão là thuần Việt. Trường hợp con mão này với hai khuôn mặt thú khác nhau trong 12 con giáp rất đặc biệt và tối quan trọng vì từ mão là một địa khai ngôn ngữ, một thứ dấu tay cho biết rõ là nguồn gốc của 12 con giáp Việt Nam khác Trung Hoa, tuyệt nhiên Việt Nam không lấy 12 con giáp từ  Trung Hoa. Nguồn gốc này có thể của Bách Việt hay cũng có thể từ một nguồn gốc Á châu cổ đại nào khác nhưng chúng ta giữ chính huyết, chính thống.

Trung Hoa cho mão-thỏ sai trăm phần trăm, họ có thể đã lấy mão-bấu của Bách Việt và sửa đổi đi.

January 14, 2011

CON MÈO MÀ TRÈO CÂY CAU

Filed under: Con Mèo Mà Trèo Cây Cau — Quang Nguyen @ 6:50 am

SỰ LIÊN HỆ GIỮA VIỆT NGỮ VÀ ẤN ÂU NGỮ.

CON MÈO MÀ TRÈO CÂY CAU…

Nguyễn Xuân Quang

Tôi đã khám phá ra có sự liên hệ giữa Việt ngữ và Ấn Âu ngữ (Tiếng Việt Huyền Diệu).  Nhân dịp Xuân Con Mèo về, xin đối chiếu sự liên hệ này qua câu đầu của bài đồng dao:

Con Mèo Mà Trèo Cây Cau…

*CON

Trong câu này con là một phụ từ chỉ động vật, một vật cử động, chuyển động được và có sự sống từ mặt trời, dương (dương là động, âm là tĩnh).  Sống là động. Sống động. Ví dụ để diễn tả tính động tĩnh nòng nọc, âm dương của thuyền ta phải dùng phụ từ con và phụ từ cái khác nhau: con thuyền khác với cái thuyền. Khi thuyền đang chuyển động trên dòng nước (do nước đẩy, do người chèo hay kéo đi) thì dùng CON thuyền nhưng khi thuyền neo đứng một chỗ hay nằm trên bờ không chuyển động thì gọi là CÁI thuyền (Tiếng Việt Huyền Diệu). Người Việt xưa quan niệm theo Tam Thế trong Vũ Trụ giáo có ba loại hồn (ba hồn bẩy vía) hay phân rõ ra là hồn ứng với Thượng Thế, phách ứng với Trung Thế và ma ứng với Hạ Thế. Phần hồn là phần tinh anh linh thiêng của sự sống (linh hồn) từ mặt trời của Thượng Thế. Tất cả những gì có sự sống, có động, do sinh khí từ mặt trời Thượng Thế, đều có hồn. Điều này thấy rõ qua từ Latin  animasoul (hồn) ruột thịt với animal, động vật. Theo qui luật biến âm  c = h (cùi = hủi) ta có con = hồn. Rõ ràng con có một khuôn mặt động, hồn. Ta cũng thấy rõ soul biến âm với sol (mặt trời). Hồn là phần sống, sinh khí, tinh anh từ mặt trời nên mang dương tính (dương là mặt trời, là chuyển động, động và có thêm nghĩa là đực). Hồn biến âm với hồng, hùng. Hồng, hùng có một nghĩa là đỏ. Đỏ là tỏ là mặt trời. Hùng có một nghĩa là đực (thư hùng). Đực là dương, có một nghĩa là mặt trời. Hùng Vương là Vua Mặt Trời.

Phách là phần sống từ cõi đất trần gian Trung Thế thuộc về thể xác. Phách là thể xác, hồn là tinh anh. Theo ph=v (phành ra = vành ra), phách = vách. Vách có một nghĩa là đất. Bức vách là tường đất bùn: tai vách mạch rừng. Trong xã hội phụ quyền (theo mặt trời, nam, đực, cha) hồn được coi trọng hơn phách và ma.

Theo phụ quyền hay xã hội thuộc ngành dương thì ma là phần sống ở Hạ Thế, được coi là «ma quái», nhưng trong các xã hội mẫu quyền ngành nòng âm, ma là phần tinh anh tương đương với hồn. Ví dụ Ai Cập cổ thuộc ngành nòng âm (mặt trời đĩa tròn không có tia sáng, không gian là Biển Vũ Trụ…) nên hồn gọi là ba. Theo b=m, ta có ba = ma. Ta thấy rõ ma là âm hồn, mang âm tính, nòng, nước…liên hệ với mây, mưa, với Tây Ban Nha ngữ mar là biển…

Như thế con dùng với nghĩa động vật, động, sống, dương, mặt trời liên hệ với hồn, với soul. Theo c=s, con = soul (hồn) = sol (mặt trời). Theo h=s (hói sói), hồn = soul.

Tóm lại con = hồn =  hồng, hùng (mặt trời) = soul = sol.

Ngoài ra con còn có nghĩa là một sản phẩm sinh ra như con cái (child, offspring). Vì con của Việt ngữ liên hệ với hồn, hùng, mặt trời (mầm sống tinh anh từ mặt trời) nên con cũng thường mang dương tính đi theo những danh từ giống đực như con cược, con c… (không bao giờ dùng cái cược, cái c…, dùng cái cược, cái c… là dùng theo cách vô học!). Cũng xin nhắc lại khi nói con gái thì từ con không có nghĩa là đực mà dùng với nghĩa động vật. Con gái là một động vật (Tiếng Việt Huyền Diệu). Con với nghĩa động vật chỉ chung cả con trai và con gái giống như Anh ngữ man là đàn ông nhưng cũng chỉ chung con người gồm cả hai phái.  Con với nghĩa theo duy dương, đực biến âm với Anh ngữ son, con trai. Theo c=s, con = Anh ngữ son. Ngày xưa nói tới con là nói tới con trai, son (nam viết hữu, nữ viết vô).  Con còn một nghĩa nữa là nhỏ, trẻ như bé con, con con, nhỏ con, trẻ con, con nít… Ta cũng thấy có sự liên hệ  giữa con với nghĩa nhỏ, trẻ con này qua  hồn. Người Việt cổ quan niệm hồn người là một đứa trẻ con trần truồng không già theo thân xác, từ khi con người sinh ra cho tới khi con người chết, hồn vẫn không thay đổi, vẫn như một đứa trẻ con trần truồng. Trên trống đồng nòng nọc, âm dương Ngọc Lũ I, những hình người nhỏ bé trần truồng ngồi trên sàn thuyền bị canh giữ không phải là tù nhân mà là những linh hồn đang bị phán xét. Những con thuyền này là Thuyền Phán Xét Linh Hồn (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á).

Ta cũng thấy son liên hệ với sun, mặt trời và soul. Anh ngữ son, con trai liên hệ với mặt trời cũng liên hệ với Việt ngữ son, một mình, còn độc thân như anh hãy còn son và em cũng hãy còn son… (một câu hát giao duyên vùng Hà Nam). Việt ngữ son (một mình) liên hệ với Anh ngữ solo, Tây Ban Nha ngữ solamente, Pháp ngữ seul (một mìmh, chỉ cò một)… Việt ngữ son cũng có một nghĩa là đỏ (vết son, môi son) là tỏ là mặt trời. Son với nghĩa là một liên hệ với mặt trời và với nghĩa đỏ cũng liên hệ với mặt trời biến âm với Tây Ban Nha ngữ sol, Anh ngữ sun, Pháp ngữ soleil…

Lĩnh Nam chích quái ghi rằng thời Hùng Vương quan văn gọi là Lạc hầu, quan võ gọi là Lạc tướng… Bề tôi gọi là hồn. Hồn ở đây có nghĩa là thuộc hạ coi như con cái. Bằng chứng ngày nay vẫn còn thấy là các người thuộc giới bề tôi vẫn xưng con với người coi là hàng trên, «bề trên» cho dù về tuổi tác họ lớn hơn giới bề trên. Ví dụ một u già xưng hô với một cậu con quan, con chủ như cậu để con thay áo cho cậu hay một cụ già xưng con với một cậu bác sĩ như con bị nhức đầu… Hơn hai ngàn năm từ hồn lột xác thành từ con ngày nay.

Tóm lại con = hồn =  hồng, hùng (mặt trời) =  son (một, đỏ) = soul = sol = Anh ngữ son.

Con dùng như một phụ từ (article) chỉ động vật, động ,mang dương tính liên hệ với mặt trời, với hồn (tinh anh của con người từ mặt trời)…

*MÈO

Con mèo còn gọi là con mão, con mẹo, Hán Việt là miêu. Có người cho rằng con mèo được gọi theo âm của tiếng kêu meo meo của nó.  Sự thật không phải vậy. Họ mèo là họ có mấu nhọn, vuốt sắc hay cấu hay cào, quào:

Con mèo là con mèo ngao,

Hay cấu hay cào, ăn vụng thành tinh.

(vè động vật).

Ta thấy rõ mão biến âm với mấu. Mấu là cái móc, vật có mũi nhọn cong như móng vuốt. Mấu, vấu, bấu (m=v=b) là cào bằng móng nhọn như cọp, sư tử, báo, beo… Con báo, con beo cùng họ nhà mèo, mẹo, mão. Theo m=b, mèo, mẹo = beo. Con beo là con bẹo, béo, nhéo. Cũng theo m=b, mão = báo. Con báo là con bấu, con béo. Loài báo, beo puma ở Mỹ châu có pu-= bấu =  báo. Theo p=b=m, puma có pu- = mấu. Con báo puma là con bấu, con mấu họ nhà mèo, mẹo, mão, mấu.

Cổ ngữ Việt mâu là con hổ, con cọp, mũ đầu mâu là mũ đầu cọp. Mã ngữ gọi con cọp là hari mau (Bình Nguyên Lộc, Nguồn Gốc Mã Lai của Dân Tộc Việt Nam tr. 154). Hari là trời, hari mau là con mâu trời. Như thế rõ ràng mâu cũng có nghĩa là mấu, mão,  mèo. Mâu trời là mèo trời, là con cọp. Mâu biến âm với mão, với Thái ngữ maew, mèo.

Con mèo, con  mẹo, con mão, com mâu, con mấu ruột thịt với Anh ngữ maul, cào, cấu xé bởi loài có mấu sắc như cọp, mèo, sư tử, báo, beo…. Con mão, mèo là con mấu, con cào cũng thấy rõ qua Anh ngữ cat, Pháp ngữ chat. Con cat, con chat là con scatch (cào, cấu, maul). Trong y học có chứng sốt do mèo cào gọi là scatch fever.

Anh ngữ cat, Pháp ngữ chat, mèo ruột thịt với Anh ngữ catch, bắt (như bắt cá), chụp (như chụp banh). Con cat, con chat là con catch, con chộp, con  chụp (bắt) mồi. Con cọp họ nhà mèo cũng là con chộp, con chụp. Với h câm, chộp = cọp. Biến âm này cũng thấy rõ qua từ copy, sao, Xerox, chụp phó bản. Copy phiên âm là cop-pi, cọp-pi. Copy có cọp- là chụp. Copy còn chỉ cóp bài, cọp bài, “quay phim” của người khác. “Quay phim” là chụp (hình).  Rõ ràng cọp = chộp, chụp giống hệt copi = chụp. Con cọp là con chộp, chụp, con catch họ nhà cat, nhà mèo. Họ nhà mão, mẹo, mèo Anh ngữ gọi là feline. Theo f=m (fat = mập), feline có fel- = mèo.

Mão, mẹo, mèo ruột thịt với Phạn ngữ màrjara-, mèo. Ta thấy rất rõ mão = mar- của Phạn ngữ. Champa ngữ muryao, mèo. Ta thấy rõ Champa ngữ  muryao biến âm  ruột thịt với  Phạn ngữ màrjara. Điều này dễ hiểu ngôn ngữ Champa có đầy rẫy Phạn ngữ  vì Champa có một ngành lớn theo Ấn giáo (bia Champa ở Võ Cạnh viết bằng một thứ Phạn ngữ). Xin nhắc lại khi so sánh Champa ngữ hay bất cứ một ngôn ngữ nào liên hệ tới Phạn ngữ với Việt ngữ ta phải loại ra các từ có gốc Phạn ngữ vì có thể Việt ngữ và các ngôn  ngữ đó có cùng chung một gốc Phạn ngữ chứ không hẳn là liên hệ trực tiếp với nhau (Tiếng Việt Huyền Diệu).

Vậy con mão, con mẹo, con mèo, con mâu là con mấu, con maul, con màr(jara-).

Ở đây ta thấy con mèo, con mâu, con mấu con maul được gọi tên theo một đặc tính

của con vật giống như con cọp là con chộp, con  gấu là con cấu (g=c, gài = cài), con bấu (con bear là con paw, con bấu)…

Cũng nên biết là người Trung Hoa không có tuổi mão, họ lấy con thỏ thay vì con mèo.

Ta thấy rõ mão rất là thuần Việt. Tên 12 con giáp đều là thuần Việt như Dần là con Dằng, con Vằn (xem Dần là Dằng là Vằn); Sửu là Sẩu là Sừng (xem bài viết này) và Hợi là con con heo, con hoi (hoi mùi dầu, mỡ, bơ sữa như miệng còn hoi sữa), con huile, dầu nhớt (Pháp ngữ), con oi (với h câm, hoi = oi), con  oil, dầu nhớt (Anh ngữ). Con lợn là con lờn, con nhờn liên hệ với dầu mỡ. Thái ngữ mo, moo là con heo. Mo chính là Việt ngữ mỡ. Con hợi, con heo, con lợn, con mo là con vật có nhiều mỡ  (mập hư heo).

Con Mão là cón mấu (xem những con vật này trong tên thuần Việt của 12 con giáp)..

*Mà

Từ của Việt ngữ có nhiều nghĩa.

-là một đại danh từ.

là liên quan đại danh từ (relative pronoun) và nhân sinh đại danh từ.

Trong câu  con mèo mà trèo cây cau thì từ có thể coi như là một liên quan đại danh từ tương đương với từ that của anh ngữ: the cat that climbs the betel-nut tree.

Với chức vụ như một đại danh từ thay thế cho từ mèo nên từ có thể giữ vai trò như một nhân sinh đại danh từ ngôi thứ hai hay thứ ba.

Thật vậy là thể giảm thiểu hay giản lược của mày. Ví thế ta cũng nghe có người hát ru Con Mèo MÀY trèo câu cau… Nhân sinh đại danh từ  ngôi thứ hai số ít mày cũng tương đương với đấy, đằng ấy, đó đúng y như là that vừa là một liên quan đại danh từ vừa có nghĩa là đấy, đó như that house (nhà đấy, nhà đó). Theo m=đ, mắc = đắt, mắc mỏ = đắt đỏ ta có mày, mầy = đấy, đó. Việt ngữ cổ đấy, đó là danh xưng đại danh từ ngôi thứ hai số ít như cho đây với đấy nên đôi vợ chồng. Đấy, đó là nhân xưng đại danh từ ngôi thứ hai số ít  giống hệt như ngôn ngữ của các tộc khác thuộc đại tộc Ấn Âu ngữ  có nhân xưng đại danh từ ngôi thứ hai số ít cũng là that có nghĩa là you (Swadesh, The Origine and Diversification of Language 1971, p.141). Theo d=th, đó = thó = Anh ngữ cổ thou. Đó, đấy liên hệ với với gốc Ấn Âu ngữ *tu, *t(ew), *tw-, thou, thee bao gồm Phạn ngữ tva, tu, yuva, yu, yushma i.e. yu+sma và ta, va ; Latin tu, te, vos ; Gothic thu, jus, Anglosaxon thu, Anh ngữ thou, you, Pháp ngữ tu, toi.

Ta thấy Việt ngữ đó = thó = thu = thou = you.

Việt ngữ mà, mày liên hệ với Phạn ngữ tvăm, tvà, tváyà, ta, và (v=m).

-va (nó).

Mà cũng có nghĩa là va (nó) : Con mèo mà trèo cây cau cũng có nghĩa là Con mèo nó trèo cây cau. Theo m=v (màng =váng), = va (nó). Va là biến âm của mà, mày đã có nghĩa là đấy, đó, Anh ngữ that thì va cũng có nghĩa là đấy, that. Ta có va = da (người Nam phát âm v=d như về = dề) = that. Kiểm chứng ta cũng thấy nó biến âm với nớ (bên ni bên nớ). Theo n=đ (hôm nọ = hôm đó), ta có nó = đó. Va (da) cũng liên hệ với they, their (chúng nó). Việt ngữ cũng có từ yva (y là một đứa gian manh). Y liên hệ với Pháp ngữ il, elle, Anh ngữ it, Hy Lạp ngữ  ó (demonstrative pronoun Anh ngữ defenite article).

Tóm lại mà = va =  đấy = thatmà = va = ấy = ý = y = il, ell = it = ó.

- có nghĩa là nhưng.

Mà có một nghĩa là nhưng như tôi tính đi mà không được = Tôi tính đi nhưng không được. Với nghĩa là nhưng Việt ngữ liên hệ với Pháp ngữ mais (nhưng).

- có nghĩa là (and).

Mà có một nghĩa là ví dụ đến mà xem = đến và xem (come and see). Mà là tiếng article có nghĩa là and (và) còn có nghĩa là also (cũng), as (như), like (giống như). Với những nghĩa này mà, và chính là Phạn ngữ (as, like, just, even, indeed) ; iva (i+va) (like, so, just…),  Proto-nostratic *wa (and, also, as, like, but).

Một điểm lý thú là Việt ngữ và (and) liên hệ với Tây Ban Nha ngữ y (and) y hệt như Việt ngữ y = va (nó).

*Trèo

Trèo biến âm với leo (leo trèo). Leo trèo có nghĩa là lên cao. Ngày xưa muốn lên cao thì phải leo trèo, ngày nay ta có thể dùng vật nhấc lên cao như  thang máy. Ta có leo liên hệ với Anh ngữ lift, thang máy, với Pháp ngữ lever, se lever, soulever, Ý ngữ levaris… nâng lên cao…

*Cây

Cây cổ ngữ là ki biến âm với (cọc) như Kì Dương Vương là vua Cọc Mặt Trời  tức vua Mặt Trời Thiên Đỉnh, chính ngọ (sáng nhất trong ngày) trên Trụ Trời, Trục Thế Giới, Vua (Hươu) Cọc Mặt Trời có nhũ danh là Hươu Đực Lộc Tục (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).  Cổ ngữ Việt Cọc là con hươu. Hươu, hiêu biến âm với hèo (roi, nọc). Theo h=k (hết = kết), hèo = kèo (cọc nhỏ). Qua qui luật từ đồi kì kèo ta có kèo = kì. Như vậy rõ ràng Kì (Dương Vương) = kèo = hèo = hươu. Hươu sừng (đực) là con Cọc (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc).

Cây, ki, kì, kèo biến âm với ke, que, kè (cây, nọc đóng ở bờ nước)… Nguyên thủy cây, cọc, nọc cắm ở bờ nước để cột thuyền về sau nơi đó trở thành bến thuyền, bến tầu. Anh ngữ quay (phát âm là ki), cầu tầu,  bến ghe, tầu, Pháp ngữ quai chính là Việt ngữ kè, cừ. Anh ngữ key (phát âm ki), như Key West ở Florida, Caribbean ngữ gọi là Cay (phát âm ki) là đảo, chỗ đậu thuyền tầu có gốc là Việt ngữ cây, ki, kè. Cũng nên biết Anh ngữ key có nghĩa là chìa khóa cũng có gốc cây, ki, ke, que. Nguyên thủy chìa khóa key chỉ là một cây que, cây then cài cửa để khóa cửa. Ta thấy rất rõ Việt ngữ chìa (khóa) biến âm với kia, ki, ke, que. Chả chìathịt nướng que, chìa vôi là cây que quệt vội

Anh ngữ  dock, bến tầu, chỗ bốc rỡ hàng của tầu thuyền, theo đ=n (đây =này), ta có dock = nọc. Dock nguyên thủy cũng là một thứ nọc cắm ở bờ nước tức một thứ kè để cột thuyền sau thành chỗ đậu thuyền, chỗ bốc rỡ hàng lên xuống tầu thuyền.

Cây biến âm với gậy (c=g như cài = gài). Cây liên hệ với Anh ngữ cane (gậy), Pháp ngữ canne, Ái Nhĩ Lan ngữ crann; Wells coed (gỗ), coeden (cây), Lettic kuoks (tree), Phạn ngữ kàsthà- (s có chấm dưới) (gỗ)… Lưu ý lettic kuoks (cây) biến âm với Việt ngữ guốc (làm từ cây, gỗ), theo k=c=g, kuoks = guốc. Theo g=v=w (góa = vá), ta có guốc = wood (gỗ)…

*Cau

Trước hết cau liên hệ với Phạn ngữ khadira ( cau có gốc ca- = kha-).

Quả cau là một vật tổ thực vật của Đại Tộc Việt theo Vũ Trụ giáo nên cau dùng trong các tế lễ liên quan tới Tam Thế, trời đất. Cau đi với trầu dùng trong hôn nhân chỉ là một diện nhỏ trong Vũ Trụ giáo. Chúng ta có truyện Trầu Cau diễn tả theo triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh, theo Vũ Trụ giáo (Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt).  Vì thế cau mang trọn ý nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh dựa trên nguyên lý lưỡng hợp nòng nọc, âm dương.

Bây giờ ta hãy đối chiếu cau với Ấn Âu ngữ qua quá trình Vũ Trụ Tạo Sinh, qua Vũ Trụ giáo:

-Cau với nghĩa bọc Hư Không, Hư Vô ứng với Vô Cực

Cổ ngữ Mường Việt cau gọi là nang. Từ mo nang chỉ cái bao hoa cau. Mo là cái bao, cái bọc cái túi. Theo m=b, ta có mo = bồ (vật đựng), bầu, bao. Mo nang là bao (hoa) cau. Mo liên hệ với Anh ngữ maw có nghĩa là cái túi, cái bao chỉ một cái túi, cái bao, cái ngăn trong dạ dầy nhiều túi của loài nhai lại như trâu bò. Theo m=p, mo = Pháp ngữ peau, da. Da là cái túi bao bọc thân thể. Thái ngữ nang là da. Như thế cau là nang có một nghĩa là bầu, bao, bọc ứng với  cái túi, cái bao biểu tượng cho hư khộng, hư vô, vô cực. Ta thấy rất rõ, ông mo (một thứ thầy pháp) là hiện thân của bầu vũ trụ, bầu trời, tạo hóa trong khi bà đồng (có nghĩa là mẹ, đồng áng là cha mẹ, việc đồng áng là việc “mẹ cha” trọng hệ; Mã Lai ngữ indong là mẹ,) hiện thân của Mẹ vũ trụ, Mẹ Đời. Nang có nghĩa là cau cũng thấy trong Mã ngữ như thấy qua tên đảo Pinang là đảo Cau (Bá Đa Lộc và hoàng tử Cảnh đã ở đây).

Nang chuyển qua Hán Việt là lang, binh lang chỉ cau. Xin nhắc lại L là dạng nam hóa, dạng cận đại của âm cổ N . Một số từ với âm N chuyển qua L thấy trong Việt ngữ  và khi chuyển qua Hán Việt thành L như  thành :  cổ ngữ mũi nõ (mũi đâm ra như cái nõ, cây cọc nhọn) thành Việt ngữ hiện kim mũi lõ ; c… nõ thành c.. lõ;  Việt ngữ nỏ thành lỗ như Cao Lỗ là ông tổ làm ra nỏ… (Tiếng Việt Huyền Diệu). Trong chuyện Trầu Cau, Lang sinh chết biến thành cây Cau vì Lang có nghĩa là Cau. Trong nhiều truyện viết về trầu cau và trong bản nhạc Truyện Trầu Cau của Phan Huỳnh Điểu cho rằng Lang sinh chết biến thành tảng đá là sai. Tân sinh có tâ- biến âm với tá (đá), với tảng (đá) nên chết biến thành tảng đá. Ta cũng thấy Hán Việt binh lang biến âm với  Mã ngữ Pinang.

Theo duy dương ngành nọc dương, lửa thì hư không chuyển qua bọc dương, Khôn  dương, không gian dương tức bầu khí, không khí trước tiên. Theo n=kh như nỏ = khỏ (trái cây bị khỏ là bị khô), ta có nang = nông = không. Ta cũng có Pháp ngữ non = Việt ngữ không.

Ta cũng thấy cau có nghĩa là không. So sánh hai cặp từ đôi trầu cau trầu không, ước lược bỏ từ trầu chung, ta có cau = không nghĩa là cau = không = nông = nang.

Vậy trái cau có một khuôn mặt biểu tượng cho bầu khí gió, không gian dương. Điểm này giả thích tại sao sau ngày lễ Phù Đổng Thiên Vương có một khuôn mặt là một vị thần Sấm Dông có biểu tượng là quả cau với khuôn mặt bầu khí gió, một vài nơi ở miền Bắc Việt Nam lại có lễ rước trầu. Trầu đi đôi với cau cho hòa hợp đôi.

Theo duy âm ngành nòng âm, nước thì hư không chuyển qua bọc âm, không gian âm tức bọc nước, Biển Vũ Trụ trước. Nang có một nghĩa là cái bọc nước như thấy qua từ bướu nang (cyst) là bướu bọc nước. Nang có gốc na- là nước như (lã), nác là nước  (Tiếng Việt Huyền Diệu). Ta thấy cau có gốc ca- là nước. Ca- biến âm với cá (loài sống dưới nước), Phạn ngữ -ka, nước, Ba Tư ngữ kar, cá… theo c=ch=g=kh, cau = chậu = khau = gầu (những vật liên hệ với nước). Với nghĩa liên hệ với vật đựng nước cau = chậu = Pháp ngữ seau (cái ‘sô’ đựng nước).

-Trứng Vũ Trụ hay Thái Cực

Vô cực cực hóa có nòng nọc, âm dương nhưng nòng nọc, âm dương hãy còn quyện vào nhau, giai đoạn này gọi là Trứng Vũ Trụ hay Thái Cực.

Nang có một nghĩa là trứng. Ta thấy rất rõ quả cau có hình trứng và khi bổ đôi ra nửa quả cau với hột trông giống hệt nửa quả trứng luộc chín. Cau có một khuôn mặt biểu tượng cho Trứng Vũ Trụ. Với nghĩa Trứng Vũ Trụ sinh tạo, tạo hóa này, cau là biểu tượng cho bọc trứng trăm lang Hùng của Mẹ Tổ Âu Cơ. Vì vậy mà ngày giỗ tổ Hùng, trên bàn thờ có cúng cau (theo đúng nguyên tắc chỉ cúng cau mà không có trầu). Ta thấy rõ cau không phải chỉ dùng trong hôn nhân. Cau có ca- biến âm với . Cà liên hệ với Thái Lan ngữ kra là bao, bọc nang, trứng: kra thoong là chim nông, chim nang, chim đẻ Trứng Vũ Trụ (x. Bồ Nông Là Ông Bổ Cắt, Tiếng Việt Huyền Diệu). Hiển nhiên cau nang và cà, kra, nang là trứng. Quả cà hình trứng. Cà có nghĩa là trứng thấy rõ qua Anh ngữ gọi cây cà là cây trứng egg plant. Cà với nghĩa là trứng liên hệ với Nga ngữ jajco, Serbo-Croatian jajce, trứng… có ja- = chà- (Java = Chà Và) = cà. Cau, cà với nghĩa nang, nông là bọc biểu tượng cho hư không, khí gió, liên hệ tới bọc hư không, tới khí gió và với nghĩa trứng biểu tượng cho Trứng Vũ Trụ, cho bầu vũ trụ. Trong truyền thuyết Thánh Dóng Phù Đổng Thiên Vương, khi có giặc Ân, mõ rao tìm người ra cứu nước, ông Dóng rời chõng đá, đứng phắt dậy, vươn mình thành người khổng lồ nói với mõ:

Bay về bay dổng vua bay,

Cơm thời bay thổi cho đầy bẩy nong,

Cà thời muối lấy ba gồng,

Ngựa sắt vọt sắt ta dùng dẹp cho…

Ông Dóng đòi ăn cà, đòi ăn ba gồng, ba gánh cà. Chỗ khác lại kể ông Dóng ăn liền một lúc hết:

Bẩy nong cơm ba nong cà,

Uống một hơi nước cạn đà khúc sông.

Người anh hùng dân tộc Phù Đổng thiên vương đã chỉ nhờ cơm cà mà đã có sức mạnh vô biên. Tại sao ông Dóng ăn cà muối mà có sức mạnh vũ bão như dông tố? Như đã nói cà là trứng là bọc biểu tượng cho bọc hư vô, không gian, khí gió, bầu vũ trụ. Ông Đổng ăn cà vào giống như ăn cả hư vô, khí gió, vũ trụ vào người trở thành ông Thần Sấm dông gió. Chúng ta có một thứ cà dùng muối chua rất ngon được gọi là cà pháo. Có lẽ ông Dóng cũng đã ăn loại cà pháo muối chua này. Cà pháo được đặt tên là pháo vì ăn dòn tan nổ như pháo? Có thể, nhưng gượng ép. Ta phải hiểu pháo theo nghĩa sấm nổ như pháo tống, pháo đùng. Ta có câu nói “sấm chớp đùng đùng”, “sấm nổ đùng đùng”. Ông Đổng ăn cà pháo vào trở thành ông Thần Sấm Dông gió nổ vang trời, nổ đùng đùng như pháo đùng. Như thế cái tên cà pháo cũng liên hệ với ông Dóng Thần pháo đùng nhà trời.

-Lưỡng nghi

Cau có khuôn mặt âm là trứng. Theo duy âm trứng là trứng âm của phái nữ, trứng liên hệ với nước : trứng nước. Theo duy dương, trứng là trứng dương của phái nam, trứng dái. Nang (cau Việt-Mường) nam hóa thành lang (cau binh lang Hán Việt). Nang âm là nàng nam hóa thành lang (con trai). Cau liên hệ với cà nên liên hệ với trứng dái tức trứng phái lang thấy rõ qua bài đồng dao :

Cậu lậu quả cà,

Cậu già cậu chết,

Thổi nồi cơm nếp,

Đem ra ngo ài đồng,

Đánh ba tiếng cồng,

Cậu ơi là cậu…

Với nghĩa lưỡng hợp nòng nọc, âm dương này cau dùng trong lễ cưới. Đây chỉ là một khuôn mặt thứ yếu trong Vũ Trụ Tạo Sinh.

-Tứ Tượng

Cau với nghĩa lang, con trai, phái nam có một khuôn mặt biểu tượng cho nọc lửa, tượng lửa. Cau với nghĩa nang, nông = không có một khuôn mặt biểu tượng cho không khí, gió, tượng Gió. Cau với nghĩa nang là nước có một khuôn mặt biểu tượng cho nước, tượng nước. Thân cây cau thẳng như cây trụ biểu tượng cho đất.

-Tam Thế

Với tất cả nghĩa trên cây cau biểu tượng cho Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) vì thế cây cau được trồng ở những nơi thờ tự mang ý nghĩa chính của Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) hơn là mang ý nghĩa hôn phối vợ chồng.

-Sinh tạo

Cau được dùng trong lễ cưới.

Tóm lại cau ruột thịt với Phạn ngữ khadira và với các nghĩa trong Vũ Trụ Tạo Sinh, cau đều liên hệ với Ấn Âu ngữ.

Kết Luận

Như thế ta thấy có sự liên hệ giữa Việt ngữ và Ấn Âu ngữ. Một lần nữa những ai chưa tin nhiều phải tin thêm một lần nữa.

Dù là liên hệ dưới bất cứ là dạng nào đi nữa, khi đã có liên hệ với nhau, thì ta có thể dùng Việt ngữ học Ấn Âu ngữ (Anh ngữ, Pháp ngữ, Đức ngữ…  ) và ngược lại.

November 5, 2010

GỐC CHỮ TRONG TIẾNG VIỆT.

Filed under: Gốc Chữ Trong Tiếng Việt — Quang Nguyen @ 6:02 am

(Bài hội luận tại Buổi Họp Mặt Văn Hóa Phong Châu Mở Hội Tiên Rồng tại San José, Bắc Cali, Hoa Kỳ Ngày 11 Tháng 9, 2010).

GỐC CHỮ TRONG TIẾNG VIỆT

Nguyễn Xuân Quang

 

Học ngoại ngữ ta thấy có nhiều ngôn ngữ có những gốc chữ (roots). Nhiều từ cùng xuất phát ra từ một gốc ví dụ như gốc Hy Lạp ngữ trong các danh từ y hoc Anh Pháp chẳng hạn, các từ như keratitis (sưng giác mạc, sưng màng sừng mắt), keratine (chất sừng), keratomy (cắt giác mạc), vân vân đều có cùng một gốc ‘ker-‘, sừng. Pháp ngữ “cerf’ là con vật có sừng tức con hươu cũng phát xuất từ gốc ‘cer-‘, ‘ker-‘, sừng. Con hươu đực được gọi tên theo chiếc sừng. Việt ngữ hươu, hưu, hiêu biến âm với hèo (cây que, cây roi như “nọc ra đánh cho năm mươi hèo”, hai từ “nọc ra” cũng cho thấy đánh bằng nọc, bằng hèo), Mường ngữ “hẻo” có nghĩa là húc (bằng sừng). Anh ngữ hươu đực (hươu đực hầu hết đều có sừng ngoại trừ nai cái reindeer có sừng) gọi là “hart”. Theo biến âm h=g (hồi = gồi),” hart” biến âm với “gạc”, sừng. Thoạt khởi thủy ngôn ngữ loài người chỉ giới hạn vào sự truyền thông dựa trên những nhu cầu căn bản của con người sau đó loài người tiến bộ, ngôn ngữ nẩy nở theo đòi hỏi của những nhu cầu mới. Những từ mới dĩ nhiên phát triển từ cái vốn ngôn ngữ cũ (hay vay mượn từ ngôn ngữ khác). Những ngôn ngữ cũ coi như là những gốc chữ. Nói cho cùng nếu chấp nhận con người tiến hóa từ loài đười (hominid) thì ngôn ngữ loài đười chỉ giới hạn vào những tiếng kêu, tiếng gọi tiếng hú. Từ những ngôn ngữ loài thú nguyên sơ này sau đó tiến hóa thành ngôn ngữ loài người. Thoạt khỏi thủy vì thế ngôn ngữ loài người cũng rất đơn sơ và giản dị. Như thế thì ngôn ngữ nào cũng có gốc chữ. Tiếng Việt cũng vậy.

Xin đưa ra một vài ví dụ :

.Gốc KE/QUE

-Ke:

bộ phận sinh dục nam (Alexandre de Rhode, Từ Điển Việt-Bồ-La). Theo k=c=qu như kẽo kẹt = quẽo quẹt, ta có ke = que. Que, nọc (heo nọc), cọc (“Quân tử có thương thì đóng cọc, Xin đừng mân mó nhựa ra tay”, hay “Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không”, Hồ Xuân Hương), nói chung là vật nhọn biểu tượng cho bộ phận sinh dục phái nam, ví dụ Anh ngữ “penis” (dương vật) có pen-, bút, viết. Bút biến âm với bót, vót. Viết biến âm với vót, là cây que vót nhọn để vạch, để viết và với vọt là cây que.

-Kè:

cây que, cây cọc đóng ở bờ nước. Sau này đổ đá gọi là kè đá. Theo e=u như me = mụ, ta có kè = cừ. Đóng cừ là đóng kè. Đọc thêm hơi vào ta có cừ = chừ, chử. Hán Việt chử là bờ nước, bến sông, Chử Đồng Tử là cậu bé sống ở ven sông, Chử Xá là làng ở ven sông. Cây cọc, cây kè đóng ở bờ nước để cột thuyền, sau chỗ có cắm cọc cột thuyền trở thành bến nước, bến thuyền, Pháp ngữ “quai”, Anh ngữ “quay” bờ nước, bờ sông có cùng gốc kè của Việt ngữ. Anh ngữ “key”, vùng biển Caribean gọi là “cay” “caya” (vẫn phát âm là “ki”), cù lao, hòn đảo nhỏ, bến nước như Key West, Coco Cay ở Florida chẳng hạn cũng vậy.

-Kè:

Kè thấy trong từ đôi cò kè như “cò kè bớt một thêm hai”, ngày xưa đếm bằng cây que có khắc vạch. Que có khắc vạch coi như là các con số. Trả giá bằng các que khắc nên mới có câu cò kè bớt một thêm hai. “Cò kè” là từ ghép điệp nghĩa: “cò” cũng có nghĩa là “kè”. Con cò là con kè, con que, con nọc, con cọc, biểu tượng cho bộ giống phái nam.

-Kèo:

kèo nhà là cây cọc nhỏ có gốc kẻ, que. Giao kèo: ngày xưa giao ước bằng cách bẻ đôi một cây que có khắc đánh dấu mỗi người giữ một nửa để làm tin gọi là giao kèo.

-Kì:

Kì biến âm với kè, kèo. Núi Kì là núi Trụ chống trời, núi Trụ thế gian. Kì Lân có Kì là que, nọc tức con đực. Kì có cốt (host) là con Cọc tức con hươu sủa sừng hai mấu nhọn munjac (mang gạc) ((Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc); Lân biến âm từ “nang”, cái bọc, cái túi chỉ con cái (Nguyễn Xuân Quang, KQKTCSHV, 1999). Kì kèo giống như cò kè.

-Kè (palm)

Kè là loại cây có thân như cây que, cây cột thẳng đứng không có cành nhánh.

-Tre:

Tre cũng là loại cây thẳng tuột như cây que không có cành (chỉ có nhánh nhỏ). Theo tr= qu, như trái = quả, ta có tre = que.

-Kẻ:

kèo nhỏ (Lê Ngọc Trụ, Việt Ngữ Chính Tả Tự Vị).

-Kẻ:

gạch bằng một cây que thẳng. Cây que dùng làm thước để gạch gọi là thước kẻ.

-Khẻ:

gõ bằng que gọi là khẻ như khẻ tay. Ngày xưa thầy cô thường dùng thước kẻ khẻ tay học trò.

-Kẻ:

là người như kẻ đó, chỗ ở như Kẻ Sặt, Kẻ Nhoi, Kẻ Trọng…

Đồn rằng Kẻ Trọng lắm cau,

Kẻ Cát lắm lúa, Kẻ Mau lắm tiền.

Kẻ biến âm với Kì có nghĩa là núi vì núi có hình trụ, là trụ chống trời. Cổ ngữ Việt nổng là núi biến âm với nống, que chống đỡ. Kẻ là tộc người ở vùng núi, vùng cao, tộc hươu (Nguyễn Xuân Quang, Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt, 1999).

-Ké:

cổ ngữ ké là gà như “trói thúc ké” là trói ghịt cánh gà.

-Kê:

Hán Việt kê là gà liên hệ với Việt ngữ ké, qué, gà.

-Ghè

đánh bằng que ví dụ ghè cho một trận. Theo gh=k như ghế = kê (vật để ngồi như như cái đòn kê), ta có ghè = kè, kẻ, que.

-Ghẹ:

ghẹ liên hệ với  kẻ, ke que, nọc: gà mái ghẹ là gà mái đến thời chịu nọc, chịu đực.

Anh ngữ con “hen” (gà mái) đến tuổi “ghẹ” là con “hen” đến thời chịu “cọc” chịu “cock”. Con ghẹ là con cua xanh có hai gai nhọn như hai cây que nhọn ở hai bên mai.

-Qué:

Theo k=c=qu, ta có ké = qué. Qué là gà như thấy qua từ ghép điệp nghĩa gà qué (xem Tiếng Láy và Tiếng Ghép Trong Tiếng Việt).

-Què:

người phải chống que, chống gậy, chống nạng mà đi.

-Quẻ:

cây que thăm.

-Vẽ:

theo qu = v như quấn = vấn, ta có que, quẻ = vẽ, khởi thủy dùng cây que vạch hình, ký hiệu,  hình sau gọi là vẽ. Vẽ có gốc que.

Pháp ngữ cerf, hươu sừng, Hy Lạp ker-, sừng, Pháp ngữ quai, bờ sông, bến nước, Anh ngữ key, Caribean cay đảo nhỏ dùng làm bờ nước, bến nước liên hệ với gốc ke, kè, kẻ, que của Việt ngữ.

. . . . . .

.Gốc CHỐC/ĐẦU

-Chốc: đầu

Chốc có nghĩa là đầu như thấy trong câu:

Ăn thì cúi chốc,

Kéo nốc thì than. (tục ngữ)

có nghĩa là khi ăn thì cắm cúi đầu xuống ăn, khi kéo thuyền (nốc là thuyền) thì than.

-Chốc, trốc:

trên, trước tiên, đầu tiên, đứng đầu:

Chốc có nghĩa là trên, trước tiên, hàng đầu ví dụ “ăn trên ngồi trốc” là ăn trên ngồi đầu, ngồi trước tiên.

-Trốt:

người Huế nói chốc là trốt.

-Chốc (favus): cứt trâu trên đầu.Chứng nấm mọc trên đầu trẻ gọi là chốc đầu, trông giống như cứt trâu nên dân dã cũng gọi là cứt trâu.

-Cốc, cộc:

dùng tay gõ lên đầu gọi cốc đầu hay cộc đầu. Với h câm ta có chốc = cốc. Người Bắc nói cốc đầu hay cộc đầu, Trung Nam gọi là cú đầu. Từ cú của miền Trung Nam liên hệ mật thiết với Phạn ngữ “kuta”, đầu, với Sumerian ngữ “gú” ‘head, forehead’ (c=g: cú = gú).

-Cốc:

Người Bắc cũng gọi vật dùng uống nước là cốc, Trung Nam gọi là ly. Có người cho là “cốc” do Anh ngữ “cup” mà ra. Ta thấy rõ cốc là do chốc (đầu) và “cup” là do “cap” (đầu). Thời thượng cổ con người thường dùng sọ làm vật đựng nước, uống nước. Phật giáo Tây Tạng La-Ma dùng những cốc bằng sọ người dâng vật cúng lễ. Ta có thể kiểm chứng thấy trong Trung cổ Thượng Nhật Nhĩ Man ngữ (Middle High German) “koft”, ‘drinking cup’, tuy nhiên vài khi cũng có nghĩa là sọ, đầu (hence sometime ‘skull, head’) (REW 8682).

-Tróc:

có nghĩa gốc là đầu: trúng ngay tróc, ngay chóc tức trúng ngay đầu.

Tróc nóc là phần đầu nóc nhà bị lật lên hay bay mất.

-Trọc:

Đầu không có tóc. Trọc lóc như câu “đầu trọc lóc bình vôi”. Lóc là gọt như lóc mía. Trọc lóc là đầu gọt hết tóc.

-Nóc:

phần trên đầu mái nhà. Theo ch = n như chũm = nũm, núm (cau), ta có chốc = nóc.

-Chóp:

trên đỉnh, trên đầu cùng chóp bu. Chóp biến âm của chốc.

-Chỏm:

phần đỉnh cao, đầu cao của núi, cây như chỏm núi, chỏm cây. Hiển nhiên có gốc liên hệ với đầu, chốc.

-Chòm:

phần đầu cây: chòm cây. Chòm biến âm với chỏm.

-Chùm, trùm:

phủ, che kín đầu như chùm, trùm khăn, mền.

Hiển nhiên trùm, chùm biến âm với chòm.

-Trùm:

đứng đầu như ông trùm xóm đạo, tên trùm tướng cướp.

Như trên.

-Chũm

phần chóp đầu trái cau gọi là chũm cau:

Vú em nhu nhú chũm cau,

Để anh bóp thử có đau không nào?

(ca dao).

Chũm biến âm với chùm, trùm.

-Chụp

phủ lên đầu, đội lên đầu như chụp mũ.

. . . . . .

.Gốc NA/NƯỚC

-Nã, lã:

nước ngọt.

-Nà:

ruộng nước.

-Nê:

bùn nước.

-Nác:

Cổ ngữ Việt nác là nước:

Trăm rác lấy nác làm sạch

(tục ngữ).

Người Huế còn dùng từ nác.

-Nắc:

Mường ngữ nắc là ruộng nước để gieo mạ:

Tháng tư vãi mạ xuống nắc,

Rắc mạ xuống nà.

(Hoàng Anh Nhân, t. I, tr. 157).

-Nát:

Trạng thái nhũn ra vì nhiều nước: ví dụ nấu cơm nhiều nước sẽ bị nát: “trên sống dưới khê, tứ bề nát bét”. Tan nát: cho vào nước tan ra.

-Nầm:

vú, mẹ, người cung cấp sữa. Nước là Mẹ của sự sống, cũng tiêu biểu và đồng hóa với mẹ, nữ, âm. Nước vì thế có giống cái. Rõ nhất qua anh ngữ các từ liên hệ với nước có giống cái ví dụ ship (tàu thuyền), nation (nước, quốc gia)… Nầm liên hệ với Thái ngữ “nàm” là nước như “nàm pla” là nước mắm.

-Nậm:

vật đựng nước, rượu.

-Nấm:

loài thực vật mọc ở chỗ ẩm ướt.

-Nấu:

đun chín thức ăn với nước như nấu cơm. Miền Trung dùng từ nấu cùng chung với từ luộc như “khoai nấu” là khoai luộc. Phần nhiều nấu có cho thêm các thực phẩm phụ vào. Nấu ngược với nướng.

-Nốc:

thuyền nhỏ, vật di chuyển trên nước.

-Nuốt:

tên gọi một loài sứa, thân gần như hoàn toàn nước.

-Nước:

chất lỏng, nguồn gốc của sự sống. Nước biến âm với Pháp ngữ nue, nuage (mây).

-Nước:

chỉ một quốc gia, chính phủ như nước Việt Nam. Một quốc gia có nguồn gốc nguyên thủy từ một bờ nước, một bến nước. Khi còn sống từng bầy, từng bộ lạc, con người thường phải tìm đến sống bên một nguồn nước. Rồi nếu tiện lợi, định cư lại luôn, lập thành xóm làng và bảo vệ vùng đất đó thành một quốc gia vì thế mà tên quốc gia gọi là nước. Tất cả những nền văn minh lớn của nhân loại đều xuất phát từ những dòng sông lớn. Anh Mỹ Pháp gọi nước là “nation” có gốc “na-“ nat-” , Đại Hàn ngữ nara là quốc gia, nước (nation), tất cả  liên hệ với Việt ngữ nã (nước), nát (tan, liên hệ với nước), có gốc na-, nước.

Gốc na/nước là một gốc thấy hầu hết trong ngôn ngữ của loài người vì sữa là một thứ nước dinh dưỡng đầu tiên của loài có vú . Nước là nguồn gốc của sự sống, là Mẹ của sự sống.  Ấn-Âu ngữ có gốc na- là nước như Phạn ngữ naus là tầu bè, Anh Pháp ngữ  ‘nation’, nước, quốc gia, nautic, thuộc về nước, navigation, thủy hành, navy, hải quân, Pháp ngữ nager, navir; Ainu ngữ gốc nai chỉ nước, dòng nước, Ai Cập có nahar, sông, có con sông chính là sông Nile (Nai)…

Biến âm n= d như năm = dăm.

Ta có nầm, nậm = dầm

Dầm:

Ngâm nước, chất lỏng.

Biến âm n= đ như này = đây

ta có. Nác = đác

-Đác:

cổ ngữ Việt có nghĩa là nước liên hệ với tiếng Mon “dak”, nước. Darlac chỉ chỗ ở bên hồ nước. Dak Tô: Nước Vú tức sữa. Theo n=đ ta có nác = đác.

-Đước:

loài cây mọc dưới nước. Theo đ=n, ta có đước = nước.

-Đà:

Đà cũng có nghĩa là nước. Sông Đà, Đà Rằng có thể hiểu là sông Nước. Đà Nẵng có từ Đà có nghĩa là nước. Danube cũng có nghĩa dòng nước.

-Đá:

nước đông cứng lại.

-Đê:

vật ngăn nước tràn ra.

-Đầm:

vùng đất thấp có nước.

-Đầm:

ngâm trong nước như trâu đầm.

-Đầm đìa:

nhiều nước.

-Đẫm

sũng nước.

-Đập:

vật chặn nước.

Biến âm n=l nòng = lòng (súng).

Ta có nã = lã.

-Lã:

nước ngọt.

-Lác:

cỏ mọc dưới nước dùng đan giỏ, dệt chiếu. Theo n=l, ta có nác = lác.

-Lác:

chứng nấm mọc ở chỗ da ẩm ướt như lác đồng tiền.

-Lạc:

ruộng nước, lạc điền. Dân làm ruộng nước gọi là Lạc dân. Lạc Long Quân: Vua Rồng Nước của dân Việt ruộng nước Lạc Việt. Lạc có nghĩa là nước dương, nước lửa (xem Giống Đực, Giống Cái Trong Tiếng Việt).

-Lạc:

đậu phọng. Đậu ép ra nước đốt đèn. Dầu lạc là một thứ “nước lửa”.

-Lác đác

mưa lác đác là mưa lưa thưa vài hạt. Lác liên hệ với nước và đác là nước.

-Lạt, nhạt:

do có nhiều nước.

-Luộc:

Nấu thức ăn với nước không cho thêm gì cả. Luộc biến âm với nước (l=n).

Biến âm n=ng như nơm nớp = ngơm ngớp (lo).

Ta có nậm =  ngâm.

Ngâm: dìm mình xuống nước.

Biến âm n=t như nâng niu = tâng tiu.

Ta có nát = tát.

-Tát

đem nước vào ruộng hay làm cạn nước ao đầm.

-Tạt:

hất nước vào như tạt nước vào ai, mưa tạt vào nhà.

-Tắm

nhúng người vào nước.

. . . . . .

Tôi xin dừng lại ở đây, nếu muốn viết hết thì phải viết một cuốn từ điển về gốc chữ Việt mới đủ.

Qua những hiện tượng đặc thù  về Biến Âm Lịch Sử và Chữ Câm, ngôn ngữ Việt có thể chuyển hóa qua tất cả các nguyên âm và phụ âm, như thế  ngôn ngữ Việt từ một gốc chính có thể chuyển hóa qua nhiều gốc phụ. Nói một cách tổng quát cho dễ hiểu là nếu Việt ngữ có bao nhiêu âm, bao nhiều vần, vận, bao nhiêu dấu giọng, bao nhiêu mẫu tự thì có bấy nhiều gốc cùng một nghĩa. Ví dụ nếu cho rằng Việt ngữ có khoảng trên dưới 24 chữ cái (mẫu tự) và nếu nói về nước thì sẽ có khoảng chừng trên dưới 24 gốc nước như sau:

-Gốc a- (ă, â-) là nước hay liên hệ với nước như ách là tiếng nước kêu (óc ách);  ảng là vật đựng nước; ao là hồ nước nhỏ; át là ướt (ướt át); ẩm là có nước; ấm là vật nấu nước…. . .

-Gốc ba- (bă-, bâ-, be-. . .) là nước hay liên hệ với nước như bả nguyên thủy là loài cây đập dập bỏ xuống nước bắt cá; là phần còn lại sau khi vắt hết nước; bát là vật đựng nước; bập bềnh (sóng); be là vật đựng nước, là vật dùng đi trên sông; bến là bờ nước. . .

-Gốc ca- (că-, câ-, ke-. . .), cha- (chă-, châ-. . ., tra- (tră-, trâ-. . .) là nước hay liên hệ với nước như là loài động vật sống dưới nước; cạn là hết nước, canh là món ăn có nước; cần là loài rau mọc dưới nước, trà (chè) là nước uống nấu bằng cây cỏ, chà là chỗ nuôi cá, chài là lưới đánh cá. . .

-Gốc da- (dă-, dâ-. . .) hay gia-, ya-. . . là nước hay liên hệ với nước như dạt là trôi (bèo dạt mây trôi);  dầm là ngâm nước; dòng (nước, sông); dọt, giọt (hạt nước); dột (nước thấm qua mái nhà). . .

-Gốc đa- (đă-, đâ-, đe-. . .) là nước hay liên hệ với nước như đã nói ở trên.

-Gốc e-, ê-, i- là nước như é là hạt rau húng quế dùng làm nước giải khát, ếch là loài vật sống dưới nước (trong khi cóc chỉ sống được trên bờ). . .

-Gốc ga- (gă-, gâ-. . .) là nước hay liên hệ với nước như gáo là vật múc nước, gạo là hạt của loài cỏ mọc dưới nước; gầu là vật để tát nước, gội là rửa tóc. . .

-Gốc ha- (hă-, hâ-. . .) là nước hay liên hệ với nước như hắt, hất là tạt nước, nước bắn tung; hến là loài nhuyễn thể sống dưới nước; húp là ăn chất lỏng; hút là uống bằng ống. . .

-Gốc ka- (kă-, kâ-, ke-. . .), kha-(khă-, khâ-. . .) là nước hay liên hệ với nước như  Mường ngữ kha là bẫy cá, khảo là bánh làm bằng bột gạo nếp; khau là gầu; khát là thèm nước, khe là lạch nước…

-Gốc la- (lă-, lâ-. . .)  như đã nói ở trên.

-Gốc ma- (mă-, mâ- . . .) là nước hay liên hệ với nước như  ma, má, mẹ. . . thuộc dòng nước, âm; mưa; móc là sương; mương là rãnh nước. . .

-Gốc na- (nă-, nâ-.. .) đã nói ở trên. Gốc nga- (ngă-, ngâ-. . .)  như ngâm (dầm nước), ngao,  nghêu loài nhuyễn thể sống dưới nước. . . Gốc nha- (nhă-, nhâ-. . .) như nhão là  có nhiều nước, nhạt là lạt; nhúng là cho vào nước. . .

-Gốc o, ô là nước hay liên hệ với nước như ồ ồ tiếng nước chẩy; là bị hoen bẩn vì nước; ốc là loài nhuyễn thể sống dưới nước, óc là phần cơ thể nằm trong nước, Khả Lá Vàng óc là nước (theo Bình Nguyên Lộc Khả Lá Vàng là một tộc dân Lạc Việt). Hiển nhiên ngay cái tên Khả cũng đã nói rọ họ là một tộc Lạc.  Khả biến âm vớ Sà, Xà là rắn tức là tộc Rắn Rồng con cháu Lạc Long Quân như chúng ta.  Người Khả, Khmu còn có tên là Xá. Chữ Xá với Xà một vần. Hiển nhiên các tộc Khả, Khmu liên hệ với Rắn Rồng Lạc Việt.

-Gốc p, pha- (phă-, phâ-) là nước hay liên hệ với nước như  pha là cho nước vào như pha trà; phá là vùng đầm nước ven biển như phá Tam Giang;  phễu là vật dùng rót chất lỏng. . .

-Gốc q, qua- (quă-, quâ-. . .) là nước hay liên hệ với nước như quặng là  cái phễu, quấy, quậy là khuấy nước…

-Gốc ra- (ră-, râ-. . .) là nước hay liên hệ với nước như rạch là lạch nước, rót là đổ nước vào; róc rách là tiếng nước chẩy, ròng ròng là nước chảy thành dòng như nước mắt chảy ròng ròng, khóc ròng. . .

-Gốc sa- (să-, sâ-. . .) hay xa-. . . là nước hay liên hệ với nước như chim sả là  chim bói cá, chim thằng chài; sả (lemon grass) là loài cỏ dùng đun nước là trà, tắm gội và làm gia vị; sả là xối nước như  sả nước, mưa sối sả; sen là loài hoa mọc dưới nước. . .

-Gốc ta- (tă-, tâ-. . .); tha- (thă-. thâ-. . .); tra- (tră-, trâ-. . .) như đã nói ở trên.

-Gốc u, ư là nước hay liên hệ với nước như uống; ứa là rỉ ra nước; ướt. . .

-Gốc va- (vă-, vâ-. . .) là nước hay liên hệ với nước như và là nước (mắm và rau là mắm nước rau); cỏ là cỏ mọc bên bờ nước; là chẩy ra nhiều nước (vã mồ hôi ra như tắm), là hất nước như vã nước lên mặt; vại, ve là vật đựng nước. . .

Như thế  ta thấy từ một gốc tổ một từ nẩy sinh ra những gốc phụ theo nhu cầu phát triển của ngôn ngữ. Có hơn hai chục gốc nước trong ngôn ngữ Việt. Gốc nào là gốc tổ có cội nguồn cao nhất? Ta biết ngôn ngữ loài người có thể bắt gốc từ ngôn ngữ (tiếng kêu) loài đười và ngôn ngữ loài đười bắt nguồn từ những tiếng kêu đơn giản nhất thường là nguyên âm (xem Ngôn Ngữ Việ và Nguồn Gốc Ngôn Ngữ Loài Người). Như thế những gốc chữ bằng nguyên âm có thể là những gốc tổ tối cao nhất. Gốc nước bằng  nguyên âm a (ă, â) như ách, át hay e (ê) như é hay o (ô, ơ) như ồ ồ hay u (ư) như  ú (giản lược của vú, uống), uống. . . có thể là gốc tổ nguyên khởi của nước.

Từ những gốc nước này có thể đẻ ra những từ rắn vì con rắn mang hình ảnh của dòng nước, trông giống hệt dòng nước chẩy. Ta cũng có những từ rắn hay liên hệ tới rắn tương ứng với những gốc nước:

.B: bọp tiếng Việt cổ chỉ con bóp tức con trăn (constrictor boa), ngày nay gọi là con vọp. Anh ngự ‘boa’ liên hệ với Việt ngữ bọp, bóp. Từ boa ruột thịt với bọp, bóp.

.C: chăn, chạch

Lươn ngắn mà chê chạch dài,

Thờn bơn méo miệng chê trai lệch mồm

(Ca dao)

.D: rắn, dòng, dồng.

.G: giun

.K: khú, Mường ngữ Khú là sú, sấu (cá).

.L: lươn, liu điu (rắn nước), lăn.

.M: mang là rắn như mang gầm, mang ghì, hổ mang.

.N:  ngo ngoe (như rắn), Thái Lan ngữ ngoo là rắn; ngoằn ngoèo.

.R: rắn, rồng.

.S: sà, sâu, sú, sấu (cá).

.T: trăn, thằn lằn, thuồng luồng, thìu điu (cùng nghĩa với liu điu), trùn (cùng nghĩa với giun), trườn.

.U: uốn éo. Uốn biến âm với Anh ngữ worm, con sâu (w = uu). Từ worm trong nhiều ngôn ngữ cổ Ấn-Âu cũng có nghĩa là rắn vì con sâu là những con rắn tí hon, bằng chứng là sâu có gốc sa- cùng với sà, rắn.

.V: vọp cùng nghĩa với bọp; vặn vẹo: vẹo biến âm với Pháp ngữ vers, con sâu.

.X: xà; xà nẹo, đi vặn mình như con rắn.

Nếu nhìn qua ngôn ngữ loài người hiển nhiên những từ gốc nước của chúng ta cũng có mặt trong những tộc nhóm ngôn ngữ nhất là những chi liên hệ ruột thịt hay tiếp xúc với chúng ta:

-A-: gốc Phạn aka-, nước, Ấn-Âu ngữ aqua-, nước.

-Ba-: Pháp ngữ bateau, tầu thuyền, Anh ngữ bay, vịnh, barque, thuyền; Ouoloft (Soudan) bat, vật lõm, vật đựng. . .

-Ca-: thổ dân Mỹ châu canoe, thuyền, Anh Pháp canal, kênh, cataract (e), thác.

-D-: Ouoloft dan, rắn, mẫu tự Ai Cập Dj , dj có hình con rắn.

-Đ-: Mon ngữ dak, nước, Anh ngữ dam, đập, các tộc Tây nguyên Việt Nam có các tên địa danh mang nghĩa nước Dak Tô (Nước Vú, Sữa) Dak Suk, Darlac, Đa Nhim;  Đáp Nông. . .; Ba Tư ngữ darya, biển . .

-Ea-: Lượng Hà có Thần Mẫu, Thần Nước EA, Chàm cũng vậy; Pháp ngữ eau, nước. . .

-Ga-: Ouolof: gal, thuyền; Phi Luật Tân Tagalog: gay, thuyền; Ấn có sông Hằng Ganges. . .

-Ha-: Hán ngữ hà, sông, há, con tôn, hào, con nghêu.

-Ka-: Ba Tư ngữ kar, cá; Thổ dân Mỹ Châu kayak, một loại thuyền.

-La-: Anh ngữ lake, Pháp ngữ lac, Ý lago, hồ; Pháp ngữ lait, sữa; Mã Lai laut, nước.

-Ma-: Tây Ban Nha ngữ mar, biển, Pháp marais, Anh marsh, đầm. . .

-Na-: Ainu ngữ gốc nai là sông nước; Ai Cập nahar, sông, có sông Nile;  các tộc bị ảnh hương Ấn giáo có naga, một thứ rồng. . .

-Oa-: Nữ Oa, người đàn bà nguyên khởi của Bách Việt và Trung Hoa có đuôi rắn; Oannes, Người Ở Dưới Nước (thuyền) vùng Lưỡng Hà cổ; Hán Việt oan ương là chim le le, loài chim nước;  oasis,  đảo nước ở sa mạc. . .

-Pa-: Mã ngữ paulau, đảo; Anh ngữ pail, thùng xách nước, paddle, tay chèo. . .

-Ra-: Anh ngữ rain, mưa, ravine, khe nước, rãnh; Hy Lạp rana, ếch…

-Sa-: gốc Phạn sa-, sara-, nước, rắn.

-Ta-: gốc Phạn ngữ tar-, tầu bè, Hán ngữ tầu, thuyền.

-Va-, Wa-:Thụy Điển ngữ vater, nước; Gothic vasser, nước; Anh ngữ  vase, bình, vat, thùng lớn, water, nước.. .

-Xa-: Hán ngữ xà, rắn.

-Ya-: yacht, du thuyền.

Như thế từ một nhóm từ căn bản, từ những từ gốc theo các hiện tượng chữ câm và  biến âm sinh sôi nẩy nở ra  những dòng từ mới. Qua Việt ngữ ta thấy từ một gốc nước “na-“, nếu chấp nhận có 24 mẫu tự trong Việt ngữ thì sẽ có 24 từ chỉ nước và 24 từ chỉ vật thể nước (water body) như ao, bể, biển, bầu, chuôm, dạch, đầm, ghềnh, hồ, khe, kênh, lạch, mương, ngòi, sông, thác, vũng… rồi 24 từ chỉ rắn, con vật có hình như dòng nước chẩy vân vân. . . và cứ như thế sinh sôi nầy nở mãi. Theo đà tiến hóa của con người những từ mới theo nhu cầu sinh ra thành những gốc mới ví dụ thời nguyên thủy con người dùng các hiện vật có trong thiên nhiên như  cành cây chẳng hạn, sau dùng cây để đào lấy củ gọi là cậy,  đâm xuống đất trồng cây gọi là  cấy, dùng khúc cây để xới đất gọi là cầy, dùng cây để đuổi thú, đánh nhau gọi là gậy, khoét khúc cây rỗng dùng để nghiền giã thức ăn gọi là cối,  dùng làm thuyền gọi là nốc, đốc, gay (Phi Luật Tân Tagalog gay là thuyền); đến khi có sự tôn thờ, sùng bái, cây trở thành gậy thờ cây nêu. . .

Tóm lại trong ngôn ngữ nào cũng có gốc chữ, tiếng Việt cũng vậy. Trong Việt ngữ  ta phải dựa vào gốc chữ để tìm hiểu căn cội của một từ, cần để tầm nguyên nghĩa ngữ một từ. Tôi chưa thấy có một quyển từ điển chữ Việt nào xếp chữ theo gốc chữ, giải nghĩa theo gốc chữ. Nếu có thì giờ, tôi sẽ viết một cuốn từ điển Việt ngữ theo gốc chữ. Cần phải học và dạy chữ Việt theo gốc chữ mới hiểu thấu đáo được tiếng Việt.

Nhưng điểm quan trọng nhất là nhờ vào gốc chữ ta có thể mò tìm ra được ngồn gốc ngôn ngữ loài người. Tôi dựa vào gốc chữ trong Việt ngữ mò tìm nguồn gốc ngôn ngữ loài người (xem Ngôn Ngữ Việt Và Nguồn Gốc Ngôn Ngữ Loài Người).

(Trích trong Tiếng Việt Huyền Diệu).

 


August 6, 2010

KẺ SĨ

Filed under: Kẻ Sĩ — Quang Nguyen @ 4:37 am

KẺ SĨ

TẦM NGUYÊN NGHĨA NGỮ TỪ SĨ.

Nguyễn Xuân Quang

Ngày nay chúng ta thường thấy từ Hán Việt đi chung với nhiều loại người chỉ những người này có một chúc vụ quan trọng trong xã hội như bác sĩ, dược sĩ, nha sĩ, binh sĩ, nghệ sĩ, liệt sĩ, dũng sĩ … kể cả văn và võ, kể cả hai phái nam và nữ. Trong xã hội ngày xưa, sĩ được xếp vào giai cấp đứng đầu trong xã hội: sĩ nông công thương và thường thường chỉ phái nam. Nguyễn Công Trứ đã tả rõ địa vị của Sĩ trong bài Kẻ Sĩ:

Tước hữu ngũ sĩ cư kỳ liệt,

(Tước có năm bậc thì sĩ cũng dự vào)

Dân hữu tứ sĩ vi chi tiên.

(Dân có bốn nghề thì sĩ đứng đầu tiên).

Bây giờ ta hãy đi tìm nguồn gốc nghĩa ngữ của Hán Việt sĩ. Nguyễn Công Trứ đã dùng từ đôi KẺ SĨ, như thế ta thấy ngay theo qui luật từ đôi trong Việt ngữ của Nguyễn Xuân Quang (Tiếng Việt Huyền Diệu) thì Sĩ chính là từ Kẻ của Việt ngữ. Sĩ = Kẻ. Vậy ta tìm nguồn gốc nghĩa ngữ của từ Kẻ thì ta sẽ truy ngay ra được nguồn gốc nghĩa ngữ của từ sĩ.

Trong Tiếng Việt Huyền Diệu qua bài Gốc Chữ (Roots) Trong Tiếng Việt, ta đã biết:

.Kẻ có nghĩa là ‘cái kèo ngắn’ (Lê Ngọc Trụ, Việt Ngữ Chính Tả Tự Vị). Kèo là cây nọc đi đôi với cột: cột kèo. Cây que dùng để gạch gọi là thước kẻ. Như thế kẻ có một nghĩa là cây kèo ngắn, cây cọc, cây que.

Kẻ có gốc (root) từ chữ cổ Việt Ke, bộ phận sinh dục nam (Alexandre de Rhode, Từ Điển Việt-Bồ-La). Theo k=c=qu như kẽo kẹt = quẽo quẹt, ta có ke = que. Que, nọc (heo nọc), cọc (“Quân tử có thương thì đóng cọc, Xin đừng mân mó nhựa ra tay”, hay “Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không”, Hồ Xuân Hương), nói chung là vật nhọn biểu tượng cho bộ phận sinh dục phái nam. Ta cũng thấy  điểm này trong Anh ngữ, từ “penis” (dương vật) có pen-, bút, viết. Bút biến âm với bót, vót. Viết biến âm với vót, là que vót nhọn để vạch, để viết và với vọt là cây roi, cây que.

Ngoài ra còn có những từ cùng gốc ke, kẻ như :

-Kè:

cây que, cây cọc đóng ở bờ nước. Sau này đổ đá gọi là kè đá. Theo e=u như me = mụ, ta có kè = cừ. Đóng cừ là đóng kè. Đọc thêm hơi vào ta có cừ = chừ, chử. Hán Việt chử là bờ nước, bến sông, Chử Đồng Tử là cậu bé sống ở ven sông, Chử Xá là làng ở ven sông. Cây cọc, cây kè đóng ở bờ nước để cột thuyền, sau chỗ có cắm cọc cột thuyền trở thành bến nước, bến thuyền, Pháp ngữ “quai”, bờ nước, bờ sông có cùng gốc kè của Việt ngữ. Anh ngữ “key”, vùng biển Caribean gọi là “cay” “caya” (vẫn phát âm là “ki”), cù lao, hòn đảo nhỏ, bến nước như Key West, Coco Cay ở Florida chẳng hạn cũng vậy.

-Kè:

Kè thấy trong từ đôi cò kè như “cò kè bớt một thêm hai”, ngày xưa đếm bằng cây que có khắc vạch. Cây que có khắc vạch coi như là các con số. Trả giá bằng các cây que có khắc nên mới có câu cò kè bớt một thêm hai. “Cò kè” là từ ghép điệp nghĩa: “cò” cũng có nghĩa là “kè”. Con cò là con kè, con que, con nọc, con cọc, biểu tượng cho cái giống phái nam.

-Kè (palm)

Kè là loại cây có thân như cây que, cây cột thẳng đứng không có cành nhánh.

-Kẻ:

thước kẻ, đã nói ở trên.

-Khẻ:

gõ bằng que gọi là khẻ như khẻ tay. Ngày xưa thầy cô thường dùng thước kẻ khẻ tay học trò.

-Kẻ:

có nghĩa là ‘đất’, ‘làng’, ‘chỗ ở’ ví dụ như Kẻ Đổng, Kẻ Noi, Kẻ Sặt…

Đồn rằng Kẻ Trọng lắm cau,

Kẻ Cát lắm lúa, Kẻ Mau lắm tiền.

(ca dao).

Kẻ đẻ ra từ quê (theo qui luật biến âm k=qu như ke = que). Với nghĩa là chỗ ở, Việt ngữ kẻ liên hệ với ngôn ngữ vùng Lưỡng Hà:  Semitic kar chỉ ‘town’, thành phố như Assyrian kar; Do Thái ngữ kir, kirjah (Brugsch, Egypt Under The Pharaohs, p.200); Syrian: Qir-Kamosh ‘the town of Kamosh’ (trong Holy Scripture gọi là Karchemish) (Brugsch, p.291). Hán Việt là ‘đất người ở’: “kỳ: cõi, cuộc đất ngàn dặm… Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam kỳ… Kỳ là thần đất…” (Huỳnh Tịnh Paulus Của, Đại Nam Quốc Âm Tự Vị). Với nghĩa kẻ là chỗ ở và kẻ là nọc thì kì, kẻ nguyên thủy chỉ chỗ ở vùng cao tức miền núi. Quê nguyên thủy là miền kẻ, miền núi, ngành đất dương, nọc… Thật sự quê ruột thịt với kẻ, ke nguyên thủy chỉ dùng cho phía nọc, cha tức Quê Cha mà thôi, ngày nay dùng chung cho cả phía nữ, mẹ nên dùng là Quê Mẹ. Đúng ra nên dùng Quê Cha Đất Mẹ mới chỉnh.

-Kẻ:

là người như kẻ đó = người đó.

Kẻ với nghĩa là người liên hệ với Quảng Đông ngữ cá, cô, với Pháp ngữ ‘qui’ (kẻ, người)…  Kẻ nguyên thủy chỉ người phía ngành nọc, cọc, dương, mặt trời, ngành hươu cọc (xem dưới).

-Ké:

cổ ngữ ké là gà như “trói thúc ké” là trói ghịt cánh gà.

Ké biến âm với qué (k=qu, ke = que) cũng có nghĩa là gà như thấy qua từ đôi điệp nghĩa “gà qué”: gà = qué.

Ké biến âm với ke, bộ phận sinh dục nam, với kè là cái nọc, con gà là con ké, con kè, con kẻ, con qué, con ke, con que, con cọc, con c… Điều này cũng thấy rõ qua Anh ngữ con cock là con gà trống mà cũng có nghĩa là bộ giống phái nam.  Con ké, con qué là con gà trống, gà nọc.

-Kê:

Hán Việt kê biến âm với ké là gà liên hệ với Việt ngữ ké, qué gà.

Từ gà hiện kim là biến âm của cổ ngữ Việt cà (g=c, gài = cài):

Ai về nhắn nhủ mi ra,

Để mi lại kể con cà con kê.

(ca dao).

Cà là kê.

-Ghè

đánh bằng que, gậy ví dụ ghè cho một trận. Theo gh=k như ghế = kê (vật để ngồi như như cây đòn kê), ta có ghè = kè, kẻ, que.

-Ghẹ:

ghẹ liên hệ với  kẻ, ke que, nọc: gà mái ghẹ là gà mái đến thời chịu nọc, chịu đực. Con ghẹ là con cua xanh có hai gai nhọn như hai cây que nhọn ở hai bên mai.

-Qué:

Như trên đã biết qué là gà que, gà cọc, gà cock. Theo k=c=qu, ta có ké = qué. Qua từ ghép điệp nghĩa gà qué ta có gà = qué.

-Què:

người phải chống que, chống gậy, chống nạng mà đi.

-Quẻ:

cây que thăm.

-Vẽ:

theo qu = v như quấn = vấn, ta có que, quẻ = vẽ, khởi thủy dùng cây que vạch thành ký hiệu thành hình sau gọi là vẽ. Vẽ có gốc que.

-Cò

Cò biến âm với kè như thấy qua từ đôi cò kè. Con cò là con kè, con kẻ, con ke, con  cọc, c… Cò biến âm với cồ, cu… Con cò là con kẻ, con ke, con cồ. Con cò có mỏ dài, nhọn biểu tượng cho dương tính nên gọi tên theo chiếc mỏ và theo nghĩa biểu tượng.

-heron, cò.

Kẻ biến âm với heron, cò. Trung cổ Anh ngữ hern, được các nhà tầm nguyên nghĩa ngữ Tây Phương cho là có lẽ phát gốc từ tiếng gại mỏ kêu “kẹc kẹc” của loài cò, dựa theo biến âm h=k,  her- = ker- = kẹc, kẹc nên cò được gọi là heron. Giải thích này nghe không được thuyết phục lắm. Bây giờ ta lại phải nhờ tới Việt ngữ để giải thích cho thỏa đáng. Như đã nói con cò biểu tượng cho đực, dương tính, hùng tính tức biến âm với kẻ, ke. Theo h=c,  her- = ke, có một nghĩa chỉ bộ phận sinh dục nam, her- = ke, kè, que, cò, cồ, cu, cọc, c…c; her- = kẹc, c…c. Cò biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam. Her- =  hạc, con cò như Bạch Hạc là Cò Trắng, Hạc Trì là Ao Cò (cò đi với ao đầm) và chỉ một loài chim cùng họ nhà cò nhưng sống trên cạn là con hạc crane.

.theo h=k, her- =  ker-, (h=k) = kẻ, kè, kì (cọc), ta có từ đôi cò kì, cò kè cho thấy rõ cò = kì = kè= ker- = her-, heron.

Như thế ta thấy rõ các nhà tầm nguyên ngữ học Tây phương giải thích heron cũng phát gốc từ ker- nhưng cho là được gọi tên theo tiếng gại mỏ kêu “kẹc” “kẹc” là cách giải thích theo duy tục.

-cigogne (Pháp ngữ), cò

Có ci- = kì, là cây, cọc, là ke.

-Hero, người hùng, anh hùng.

Hùng có một nghĩa là đực như thư hùng cái đực. Đực là dương là mặt trời. Hùng Vương là Vua Mặt Trời, các Lang là các chàng (con trai và cũng có một nghĩa là đục chisel) là đục, là đọc là nọc, là cọc, là đực là dương, là mặt trời. Hero có cùng gốc her- với heron có nghĩa là kẻ, ke, cọc, cò, cồ (đực). rõ như ban ngày Anh ngữ hero = Hán Việt hùng.

Như thế hero, người hùng có nghĩa là kẻ, là sĩ có gốc là nọc, cọc, c…c .

-Kì:

Kì biến âm với Kẻ, có nghĩa là núi cọc, núi nhọn đỉnh mang dương tính (núi lửa),  núi có hình trụ, núi Trụ Thế Gian, Núi Trụ Chống Trời, chúng ta có núi Kình Thiên Trụ ở Sơn Tây. Cổ ngữ Việt gọi núi này là nổng (gò nổng) biến âm với nống, que chống đỡ. Trong văn thư cổ có nói tới núi Kì liên hệ với Đại Tộc Việt. Núi Kì  này mang hình bóng  núi Trụ Thế Gian, Núi Trụ Chống Trời, Kình Thiên Trụ.

Ai Cập cổ có vị thần đất Keb có dương vật cương cứng chống bầu trời nữ thần Nut mang hình ảnh núi Trụ Chống Trời Kẻ (xem dưới).

-

là con thú đực, con Hươu đực.

Kì biến âm với kèo. Kì là con thú có kèo, có cọc tức có sừng nghĩa là con hươu. Theo qui luật biến âm k=h (kết = hết), kèo = hèo (roi, cọc nhỏ), hiêu, hươu, hưu, Mường ngữ hèo là húc (bằng sừng). Ta đã thấy rõ hươu hiêu, hiu, heo ruột thịt với hèo là cái nọc cái roi. Con hươu là con hèo, con kèo. Kì, Kẻ với nghĩa là nọc, hươu liên hệ với gốc Hy-lạp kera- là sừng (keratin, chất sừng, keratitis, sưng màng sừng tức giác mạc mắt); với Pháp ngữ cerf, Latin cervus… hươu, với Nam Ấn ngữ (Dravidian): Kui kruhu, krusu ‘barking deer’; Kuwi kluhu, kruhu, kurhu ‘antelope’; Malayalam kùran ‘hog-deer’ (Burrow-Emeneau 1984:161, no 1785)… Vậy Việt ngữ Kẻ có nghĩa con Nọc, con sừng, con hươu. Kì chuyển hóa với ki, cây (í = ấy, cái í = cái ấy): cây, cọc là biểu tượng cho đực. Kỳ cũng còn có nghĩa là đâm nhánh, chia nhánh như tam kỳ lộ, đường chia ba nhánh (Huỳnh Tịnh Paulus Của, Đại Nam Quốc Âm Tự Vị). Con vật kì có ‘cọc nhọn’ và ‘chia nhánh’ hiển nhiên là con hươu.

Kì Lân có Kì là que, nọc tức con đực. Kì có cốt (host) là con Cọc tức con hươu sủa sừng hai mấu nhọn munjac (mang gạc) (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc); Lân biến âm từ “nang”, cái bọc, cái túi chỉ con cái (Nguyễn Xuân Quang, KQKTCSHV, 1999). Kì Dương Vương vua tổ của chúng ta có Kì là con hươu đực, vì vậy mới có nhũ danh là Lộc Tục, Hươu Đực (KQKTCSHV, 1999). Kì chính là linh vật có cốt (host) là con hươu sủa (barking deer) hay mang gạc (muntjac) có sừng hai mấu nhọn. Việt ngữ gọi con kì gọi là con nghê. Theo biến âm ngh=k như nghẹt = kẹt, ta có nghê = kê, kẻ.  con nái, con nai (KQKTCSHV). Linh vật kì và lân có cốt là hươu và nai.

Ngoài ra ta cũng thấy:

-Si.

Sĩ biến âm với Si, tên một loài cây ruột thịt với cây đa dùng làm biểu tượng cho Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống). Theo  truyền thuyết và cổ sử Mường Việt, Mẹ Tổ Dạ Dần sinh ra từ cây Si.

Từ Si có nghĩa gốc là Ki, Cây. Vì là Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) cũng là thủy tổ của các loài thực vật nên mới có tên có nghĩa tổng thể là Cây.

-Sỉ, xỉ

Sỉ, xỉ biến âm với Sĩ. Sỉ, xỉ là răng, răng nanh như lòi xỉ. Răng là vật nhọn. Theo đ=n, răng nanh = răng đanh (đinh), vật nhọn.

-Shiva

Sĩ biến âm với Shi, Shiva.

Thần Shiva có biểu tượng là Linga (xem dưới).

……..

Tóm lại

Như thế rõ như hai năm là mười Kẻ có gốc chữ  (roots) với Ke, bộ phận sinh dục nam, có nguồn cội nguyên thủy sâu xa nhất là chữ Nọc que (I) trong chữ viết nòng nọc vòng tròn-que với nghĩa nọc que, dương (cây, si, nọc, cọc, ke, kẻ, kì, bộ phận sinh dục nam, dương, mặt trời…). Như đã biết chữ nọc que và chữ nòng vòng tròn O khởi thủy lấy từ hình dáng bộ phận sinh dục nam nữ vì thế mà Kẻ = Ke =  Kì (cọc nhọn), Si (cây) = Sĩ = bộ phận sinh dục nam.

Như vậy Sĩ = Kẻ nên Sĩ có tất cả nghĩa của Kẻ có nguồn gốc nguyên thủy là ke, bộ phận sinh dục nam.

. . . . . .

Bây giờ ta hãy kiểm chứng lại trong văn hóa thế giới.

1.Chữ cổ Đông Á châu

Chứng tích còn thấy rõ là theo James Churchward trong ngôn ngữ Đông Á cổ mà ông gọi là Maya-Naga ngữ, một thứ ngôn ngữ tiền Phạn (Proto-Sanskrit) có từ keh có nghĩa là con hươu và cũng là con người đầu tiên của nhân gian (Children of Mu).

Hươu Keh, con Người Đầu Tiên trên quả đất (James Churchward).

Hươu Keh ruột thịt với Việt ngữ Hươu Kì, với Kẻ (người) chính là Kì (Dương Vương), vua tổ Xích Quỉ và cũng là người đầu tiên của nhân loại  có cốt là con Cọc (nọc, que, ke, kẻ), tức hươu sừng nên có nhũ danh là Lộc Tục (Hươu Đục, Hươu Đực, hươu nọc, hươu sừng). Xin nhắc lại Quỉ trong Xích Quỉ biến âm với kì, ki, kẻ chính là Pháp ngữ Qui, kẻ, người. Xích Quỉ là Kẻ Đỏ, Người Mặt Trời.

2. Ai Cập cổ

Ai Cập cổ có vị Thần Đất là Keb (Geb) có Ke- ruột thịt với Việt ngữ Ke, bộ phận sinh dục nam, với Kẻ, với Kì. Vị thần Keb này có bộ phận sinh dục hình Trụ Chống Trời (kì, kẻ) nâng, chống nữ thần Bầu Trời Nut. Rõ như ban ngày núi  Trụ Chống Trời, Trụ Thế Gian, Kình Thiên Trụ là núi Kì, núi Kẻ, núi Ke có hình bộ phận sinh dục nam.

Thần Đất Keb và thần nữ Bầu Trời Nut.

Theo truyền thuyết ở Hà Tĩnh có núi Nam Giới có nghĩa là núi có hình bộ giống nam giới, là núi Ke, núi Kẻ, Nùi Kì, núi Trụ Chống Trời (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

3. Trong Ấn giáo

Shiva  là một vị thần chính trong Ấn giáo. Theo sh= s=k, shiva = si (cây) = sĩ = ki, kì có một nghĩa là bộ phận sinh dục nam. Vì thế biểu tượng chính của Shiva là linga, bộ phận sinh dục nam. Ngoài ra Shiva còn có một nghĩa là «Pillar of Fire», Trụ Lửa tức cọc mang dương tính, có một khuôn mặt Núi Trụ Thế Gian, Trục Thế Giới ngành dương. Shiva có biểu tượng thế gian là con bò nandi (con thú bốn chân có sừng tương đương với hươu cọc, hươu sừng). Shiva có một khuôn mặt của thần Đất Keb, của Kì Dương Vương.

4. Trong chữ giáp cốt văn.

Chữ viết trên mai rùa, xương, cho thấy nguồn gốc của từ sĩ cũng giống như từ kẻ có nghĩa là cọc, cược, bộ phận sinh dục nam.

Chữ sĩ vẽ hình bộ phận sinh dục nam hay phát nguyên từ hình vẽ một thứ khí giới cổ (Wang Hongyuan,The Origins of Chinese Characters, Sinolingua, Beijing, 2004).

Theo hình trên, sĩ vẽ hình bộ phận sinh dục nam hay phát nguyên từ hình vẽ một thứ khí giới cổ. Bộ phận sinh dục nam được biểu tượng bằng cọc, nọc vật nhọn, giống như khí giới cổ đơn giản cũng chỉ là một vật nhọn.

Sĩ chỉ bộ phận sinh dục đực cũng thấy rõ qua từ , Hán Việt mẫu chỉ con thú đực có chữ sĩ như mẫu ngưu là con bò đực. Mẫu cũng còn có nghĩa là cây chốt cửa, nọc then cài cửa, như thế con vật đực có nghĩa là con thú có nọc, cọc. Mẫu biến âm với mâu, vật nhọn, khí giới nhọn như xà mâu, mâu thuẫn, với Việt ngữ mấu (ngạnh sắc), bấu (bằng móng nhọn sắc).

Ở hình trên cũng xin lưu ý ở phần tham khảo (for reference) của chữ mũ (đực, nọc, cọc) có vẽ hình con hươu sừng ở dưới bụng có phụ đề hình cây cọc cắm trên mặt đất có ý cho biết là con hươu cọc, hươu nọc, đực. Điểm này cho thấy hươu sừng biểu tượng cho thú đực, nọc, cọc.  Hán Việt lộc = Việt ngữ nọc. Con lộc là con nọc, con cọc, con log (khúc cây). Vì thế con hươu là con cọc như thấy trên hình, tên cổ Việt con hươu sừng là con Cọc do đó trò chơi Bầu Cua có con hươu sừng, con Cọc nên phải gọi là Bầu Cua Cá Cọc thay vì gọi sai là Bầu Cua Cá Cọp (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc).

Cũng xin lưu ý chữ  tương tự như chữ thổ là đất, tại sao? là vì thổ, đất thế gian liên hệ với Trụ Chống Trời được biểu tượng bằng Núi Trụ Thế Gian (núi Kì), trong ngũ hành của Trung Hoa khi diễn tả theo hình vuông thì hành Thổ ở giữa tâm hình vuông, tức là hành trục, cột trụ. Trong giáp cốt văn Thổ  được diễn tả bằng một trụ đá mang hình ảnh  núi trụ thế gian, núi Kì, trụ chống trời, hình ảnh ông Bàn Cổ (Bàn là phiến đá bằng như bàn thạch là đế giữ trụ cho vững và Cổ là cột trụ (cổ là cột trụ cắm đầu vào thân mình). Ông Bàn Cổ là ông Trụ Chống Trời biểu tượng cho cõi đất thế gian.

Trong giáp cốt văn Thổ (tũ) được diễn tả bằng một trụ đá.

Thổ liên hệ với cột trụ, cọc như chữ sĩ nên giống chữ sĩ chỉ khác nét ngang ở đáy. Thổ là đất là cõi bằng vì thế nét ngang ở dưới biểu tượng cho mặt đất bằng nên phải cường điệu dài hơn nét ngang ở đáy chữ sĩ (nét này ở chữ sĩ chỉ thành bụng chỗ cái cọc đâm ra).

5. Trong văn hóa La Hy.

Ở trên ta đã thấy qua từ hero, người hùng có her- = kẻ = sĩ. Điểm này thấy rất rõ qua những lăng mộ, đài tưởng niệm anh hùng liệt sĩ của văn hóa La-Hy cổ thường xây theo hình  cậy cọc, cây nõ, trụ thạch bia obelik hay hình dương vật ví dụ như ở khu nghĩa trang tại Thành Phố Thiêng Liêng Phrygia (Hierapolis of Phrygia), ở Thổ Nhĩ Kỳ mộ tưởng niệm anh hùng liệt sĩ có hình dương vật.

Mộ tưởng niệm các anh hùng có hình trụ tròn dương vật trên có «phụ đề» tảng đá hình qui đầu, ở Thành Phố Thiêng Liêng Phrygia (Hierapolis of Phrygia), khu nghĩa trang, tại Thổ Nhĩ Kỳ (ảnh của tác giả).

6. Qua văn hóa cổ vùng Andes.

-Ngôn ngữ

Trong ngôn ngữ của thổ dân Mỹ châu ở vùng núi Andes (trong đó có ngôn ngữ Quechua) những từ chỉ tổ tiên “ancestor”, giống  nòi “lineage ” và dương vật “penis” liên hệ với nhau về ngôn ngữ và về ẩn ý (Salomon 1991:20; Zuidema 1977:256). Ta thấy họ giống hệt chúng ta. Trong Việt ngữ từ giống (nòi) chỉ dòng tộc, tổ tiên có nghĩa liên hệ với bộ phận sinh dục nam. Theo gi = d = ch, ta có giống = chống (que chống) = chông (vật nhọn) ruột thịt với bộ phận sinh dục nam. Ta có tổ tiên là (Tổ) Hùng có một nghĩa là Đực, bộ phận sinh dục nam, thuộc giống nòi Việt (có một nghĩa là Rìu, một vật nhọn, ruột thịt với bộ phận sinh dục nam), Tổ tiên thế gian đầu tiên của chúng ta là Kì Dương Vương có Kì có gốc là bộ phận sinh dục nam, con cháu Thần Mặt Trời Viêm Đế. Họ là con cháu thần mặt trời Inti. Như thế Hùng Việt  phải có nghĩa là Đực, có gốc từ chữ nọc que trong chữ viết nòng nọc vòng tròn-que  liên hệ với bộ phận sinh dục nam . Bắt buộc. Bắt buộc. Và bắt buộc.

Xin Lưu Ý

Đây là một điểm rất quan trọng cho thấy các tộc cổ Peru và Inca liên hệ với cổ Việt nên ngôn ngữ vùng Andes nói chung, ngôn ngữ Quechua nói riêng liên hệ ruột thịt với ngôn ngữ Việt. Sự liên hệ này là một chứng sử bằng vàng để ta biết, ta hiểu một cách xác thực, xác quyết giống (nòi), tổ tiên Hùng, Việt của chúng ta cũng liên hệ với bộ phận sinh dục nam giống như họ.

-Đồ gốm

Đồ gốm Tiền-Columbus Peru là một thứ hình-tượng gốm dùng như một thứ chữ viết (ký tự) ký ghi lại mọi khía cạnh của đời sống người Peru cổ, là một thứ sử gốm.  Có một chiếc bình hình một chiến sĩ (warrior) cho thấy «từ gốm» chiến sĩ của Peru cổ giống như Hán Việt liên hệ với dương vật.

Bình gốm thời Virú diễn tả một chiến sĩ tay cầm khiên, Bảo Tàng Viện Larco.

Bình gốm chiến sĩ, binh sĩ (tay cầm khiên) thuộc ngành dương mặt trời có mặt trời sinh tạo quay tròn trong Vũ Trụ giáo ở bên đùi.

Bình người chiến sĩ có «đuôi» là dương vật (Chồng người đi ngược về xuôi, Chồng tôi ngồi bếp lòi đuôi ra ngoài, ca dao). Đuôi cũng là vòi ấm mà vòi cũng có nghĩa là bộ giống phái nam («cậu ấm sứt vòi»). Vòi cương cứng như cần câu rô (như thấy qua câu đố chiếc ấm và bốn cái tách uống trà: Bốn cô trong động bước ra, Đồ phô trắng hếu như hoa bông cần, Ông Đồ tẩn ngẩn tần ngần, Bòi (vòi) ông cẩng tếu như cần câu rô). Chiếc vòi bộ giống cường điệu nói cho biết đây là một Kẻ, một Sĩ (có cây khiên cầm ở tay xác thực là chiến Sĩ). Quả đúng trăm phần trăm (chiến) Sĩ ruột thịt với Ki, Kì, Ke (bộ phận sinh dục nam) giống hệt như Việt ngữ lính ruột thịt với Ấn ngữ linga, bộ phận sinh dục nam. Có lẽ warrior chiến Sĩ này là một người hùng  được thờ phượng thuộc ngành đực, dương, mặt trời (xác thực bằng hình mặt trời sinh tạo ở bên đùi), về sau trong Inca là dòng thần mặt trời Inti.

Như thế Sĩ thuộc phía bên võ gậy gộc, binh đao, can qua cũng có gốc từ chữ nọc bộ phận sinh dục. Chiến sĩ, khanh tướng là một khuôn mặt của Kẻ Sĩ thấy rõ trong bài thơ Kẻ Sĩ của Nguyễn Công Trứ:

Trong lăng miếu, ra tài lương đống,
Ngoài biên thùy rạch mũi can tương.
Làm sao cho bách thế lưu phương,
Trước là sĩ sau là khanh tướng.

-Tượng đá

Trong văn hóa Recuay tiền Inca, như trên đã biết ngôn ngữ vùng này các từ chỉ tổ tiên, chiến sĩ, người hùng liên hệ với từ chỉ dương vật nên các tượng đá tạc tổ tiên, chiến sĩ (warriors), người hùng có hình dương vật.

Tác giả chụp với tượng đá tạc tổ tiên hay chiến sĩ thường thấy ở các đền đài của nền văn hóa Recuay của Peru cổ, tại khu vườn của Viện Bảo Tàng Larco, Lima, Peru.

Hiển nhiên độc giả hiểu tại sao tác giả cười… toe toét!

Kết Luận

Hán Việt Sĩ ngày nay có nghĩa chỉ những người giữ vai trò cột trụ của xã hội như Nguyễn Công Trứ đã viết trong bài Kẻ Sĩ về cả hai phía văn cũng như võ, nam cũng như nữ. Sĩ chính là Việt ngữ Kẻ, ta có từ đôi Kẻ Sĩ, theo qui lật từ đôi của Nguyễn Xuân Quang ta có Kẻ = Sĩ (một lần nữa ở đây cho thấy qui luật này đúng trăm phần trăm). Kẻ là Ke (bộ phận sinh dục nam). Sĩ là Si (cây) là Kì (trụ, cột, cọc), là Kèo (cọc), là cọc, là c…c. Kẻ, Sĩ có nguồn cội, gốc gác xa thăm thẳm từ bộ giống của phái nam,  từ chữ nọc que trong chữ viết nòng nọc vòng tròn-que, một thứ viết cổ nhất của nhân loại. Ở đây ta đã thấy qua những bằng chứng hiện vật sờ và thấy được cho biết Kẻ, Sĩ có  gốc là dương vật.

Vì thế ta có thể dùng Việt ngữ Kẻ, Ke có gốc từ bộ giống phái nam truy tìm nguồn gốc nghĩa ngữ của ngôn ngữ loài người như ngôn ngữ cổ Đông Á (Tiền Phạn, theo James Churchward) Keh, con hươu Kẻ và cũng là người đầu tiên,  ngôn ngữ Á-Phi Keb, Thần Đất Ai Cập cổ,  Phạn ngữ Shiva của Ấn giáo,  Hán cổ Shì trong giáp cốt văn, Ấn Âu ngữ Hero trong trong văn hóa La-Hy, ngôn ngữ Thổ Dân Mỹ châu Quechua vùng Andes, Nam Mỹ qua bình gốm hình-tượng ký Peru cổ chiến sĩ, tượng đá Recuay cổ Peru…

Qua từ Kẻ có gốc nọc, đực, hùng, mặt trời và ngôn ngữ Quechua cho thấy Hùng Vương trăm phần trăm là Vua Mặt Trời và người Việt trăm phần trăm là người Mặt Trời.

Ta thấy rõ Kì Dương Vương có cốt là con Hươu Cọc, Hươu Đực Lộc Tục có một khuôn mặt là con người đầu tiên và là con hươu Keh của Đông Á cổ, núi Trụ Thế Gian, Trục Thế Giới  Kì, Thần Đất Trụ Chống Trời Keb của Ai Cập cổ, Thần Núi Trụ Thế Gian, Trục Thế Giới Shiva của Ấn giáo sinh ra từ Núi Trụ Thế Gian Kailash ở Himalaya, là một vị vua mặt trời đứng đầu của họ mặt trời thế gian Hồng Bàng của dòng Hùng Vương thuộc ngành thần mặt trời Viêm Đế, vua tổ của Người Mặt Trời  Xích Quỉ.

January 22, 2010

HỌC CHỮ HÁN BẰNG TIẾNG VIỆT

Filed under: Bố Mỹ, Học Chữ Hán Bằng Việt Ngữ — Quang Nguyen @ 5:18 am

Tiếng Việt Huyền Diệu

HỌC TIẾNG VÀ CHỮ TRUNG HOA BẰNG TIẾNG VIỆT

Nguyễn Xuân Quang

Ta có thể học ngôn ngữ thế giới bằng tiếng Việt (Tiếng Việt Huyền Diệu), dĩ nhiên trong đó có tiếng Trung Hoa. Học tiếng Trung Hoa bằng tiếng Việt lại càng dễ dàng hơn, bởi vì một điều dễ hiểu là tiếng Việt và Trung Hoa liên hệ mật thiết, khắng khít với nhau. Thật vắn tắt ở đây, một trong những cách làm giầu thêm, phát triển, bành trướng thêm tiếng Việt là du nhập thêm tiếng ngoại ngữ khi tiếp cận với ngôn ngữ đó qua hiện tượng từ láy, tiếng đôi hay trực tiếp lấy tiếng ngôn ngữ đó, lấy nguyên con theo phát âm gốc hay có biến đổi, Việt hóa đi (như trường hợp chữ Hán Việt chẳng hạn).

Ai cũng biết từ Hán Việt nhan nhản trong tiếng Việt, có tác giả đã cho rằng có tới hơn 60% từ Hán Việt trong Việt ngữ. Hán Việt là từ lấy từ Hán ngữ nhưng đã Việt hóa theo những qui luật ngôn ngữ học có qui củ. Người Trung Hoa không hiểu từ Hán Việt dù là gốc của Hán Việt là Hán ngữ. Các nhà trí thức, khoa bảng Việt Nam đã Việt hóa Hán ngữ để giữ độc lập, giữ chủ quyền Việt đối với Trung Hoa. Ngày nay những từ Hán Việt dùng ở Việt Nam không còn theo những qui luật Việt hóa độc lập như xưa nữa mà dùng lung tung, hổ lốn, loạn xà ngầu, mạnh ai người ấy chế ra đem dùng. Hoặc vì ngu dốt, vì lười biếng, vì rơi vào chính sách đồng hóa của Trung Hoa, giới trí thức Việt Nam, báo chí truyền thông Việt Nam tự mình chế ra những từ Hán Việt đem vào ngôn ngữ Việt (một số giới báo chí, truyền thông Việt Nam ở hải ngoại mù quáng bắt chước lấy theo).

Áp dụng các qui luật ngôn ngữ học của tổ tiên ta ngày xưa ta có thể học tiếng Trung Hoa qua tiếng Việt bằng:

a. Từ đôi

Từ đôi là hai từ thường là danh từ khác âm đi đôi với nhau hay bắt cặp với nhau theo âm dương.

Có hai trường hợp:

.theo âm dương tương thuận có nghĩa như nhau hay có cùng một gốc nghĩa, tôi gọi là từ đôi điệp nghĩa ví dụ như gà qué: con gà là con qué, ta có gà = qué.

.hoặc theo âm dương đối nghịch có nghĩa đối nghịch nhau theo âm dương, tôi gọi là từ đôi nghịch nghĩa, ví dụ trăng trời.

Qui luật âm dương về từ đôi trong Việt ngữ của Nguyễn Xuân Quang:

Hai từ đôi theo âm dương tương thuận có nghĩa như nhau hay có cùng một gốc nghĩa, tôi gọi là từ đôi điệp nghĩa hoặc theo âm dương đối nghịch có nghĩa đối nghịch nhau, tôi gọi là từ đi đôi nghịch nghĩa.

Ta có thể dùng từ đôi, từ cặp đôi để học tiếng Trung Hoa ví dụ

./ Từ đôi gồm một từ Việt và một từ Hán phát âm theo piyin:

-đen xì

Theo qui luật từ đôi hay đi cặp đôi ta có đen = xì.

Xì là tiếng pinyin (phiên âm, giọng Quan Thoại) của Hán ngữ tịchlà tối, đêm bao hàm nghĩa đen (tối đen, đêm đen).

-mảnh dẻ

Mảnh là mỏng như mỏng manh. mỏng mảnh, mảnh khảnh. Theo qui luật từ đôi ta có mảnh = mỏng = dẻ. Từ dẻ chính là tiếng pinyin dié của gốc cổ Hán ngữ điệp có nghĩa là mỏng được diễn tả bằng cách vẽ hình cây có lá.

Dié là mỏng (cổ ngữ).

(Wang Hongyuan, The Origins of Chinese Characters, Sinolingua Beijing, 1993)

  

Dié, mỏng dạng chữ cổ như thấy trong hình vẽ hình cây có lá. Dẻ, dié biến âm với yè, điệp, lá. Ta thường ví mỏng như lá, áo lá là áo lót mỏng, mỏng như tờ giấy.

Cũng xin nói thêm là tiếng Việt rất đa dạng, từ mỏng của Việt ngữ biến âm với nhiều ngôn ngữ. Ta có từ đôi mỏng dính với dính chính là Anh ngữ thin (theo d=th, dính = thin), từl áy mỏng manh với manh chính là Pháp ngữ mince (mỏng) và mỏng tang, mỏng tanh với tang, tanh là Phạn ngữ tan, mỏng.

-xì hơi

Ta có xì = hơi.

Theo x=q= qu như xoăn xoắn = quăn, quắn, xì = qì. là pinyin của Hán Việt khí. Theo q=c=k = kh, = khí (khí mây, hơi…).

Tóm lại xì hơi có = pinyin = Hán Việt khí = hơi.

-xì mũi

Ta cũng có mũi liên hệ với khí, không khí, hơi nên có từ xì mũi, xỉ mũi: hỉ mũi (theo h= s = x như hói = sói, ta có xì, xỉ = hỉ)

nên xì ruột thịt với mũi, Hán Việt tị, tì 鼻, theo x=b, như xẹp = bẹp, xì, xí = bí (pinyin là mũi). Tị biến âm với xì thấy rõ qua từ Tỵ (chi thứ sáu trong 12 địa chi) có pinyin cũng là xì. Xì liên hệ với mũi thấy rõ qua tên con tê giác pinyin là xì. Con tê giác là con thú có sừng ở mũi (tê biến âm với tị, mũi) và xì biến âm với zì (tự) vẽ hình cái mũi.

Chữ Zì (tự) vẽ hình cái mũi.

-cũ xì

tích, xưa, trước, tích nhật ngày xưa.

Piyin là xì, cũ xìcũ xưa.

Xì cùng âm với xì là tịch, đêm giống như tích biến âm với tịch nên tích cũng có một nghĩa là đêm như nhất tích một đêm.

./ Từ đôi gồm một từ Việt và một từ Hán Việt:

-kẻ sĩ

Ta có kẻ = sĩ.

Việt ngữ kẻ = kẻ (cây thẳng dùng làm thước để gạch: thước kẻ), kẻ = kè (nọc đóng ở bờ nước) = ke (bộ phận sinh dục nam) = kì , ki (cây) = que (nọc, cọc)…

Tóm lại kẻ có gốc cây, nọc, cọc, c…c . Kẻ chỉ người nam, người cột trụ, người miền núi,người tộc hươu, tộc Kì Dương Vương,  chỉ núi kì, núi cột trụ thế gian. Hán Việt sĩ chỉ phái nam có học thức, học giả giữ vai cột trụ, rường cột, lương đống:

Trong lăng miếu ra tài lương đống,

Ngoài biên thùy rạch mũi can tương.

(Nguyễn Công Trứ, Kẻ Sĩ). 

là những người quan trọng nhất trong xã hội ngày xưa :

Tước hữu ngũ sĩ cư kỳ liệt,

Dân hữu tứ sĩ vi chi tiên. (1)

Có giang sơn thì sĩ đã có tên,

Từ Chu Hán, vốn sĩ này là quí…

(Nguyễn Công Trứ, Kẻ Sĩ). 

(1) Tước có năm bậc thì sĩ cũng dự vào; dân có bốn nghề thì sĩ đứng đầu tiên: sĩ, nông, công thương.

Và sĩ cũng rất quan trọng trong xã hội ngày nay như bác sĩ, văn sĩ, nghệ sĩ, binh sĩ (binh lính cũng được gọi là sĩ vì ngày xưa chỉ phái có sĩ, có cọc mới phải đi lính (lính ngày xưa phải có linga) và binh lính liên hệ với cọc nhọn, khí giới (Ngoài biên thùy rạch mũi can tương).

Nguồn gốc của từ sĩ cũng giống như từ kẻ có nghĩa là cọc, cược, bộ phận sinh dục nam.

 

 

  

 Chữ sĩ vẽ hình bộ phận sinh dục nam hay phát nguyên từ hình vẽ một thứ khí giới cổ.

 

Theo hình trên, sĩ vẽ hình bộ phận sinh dục nam hay phát nguyên từ hình vẽ một thứ khí giới cổ. Bộ phận sinh dục nam được biểu tượng bằng cọc, nọc vật nhọn (ví dụ penis có pen-, cây viết, nguyên thủy cây viết là một vật nhọn), giống như khí giới cổ đơn giản cũng chỉ là một vật nhọn.

Sĩ chỉ bộ phận sinh dục đực cũng thấy rõ qua từ , Hán Việt mẫu chỉ con thú đực có chữ sĩ như mẫu ngưu là con bò đực. Mẫu cũng còn có nghĩa là cây chốt cửa, nọc then cài cửa, như thế con vật đực có nghĩa là con thú có nọc, cọc. Mẫu biến âm với mâu, vật nhọn, khí giới nhọn như xà mâu, mâu thuẫn, với Việt ngữ mấu (ngạnh sắc), bấu (bằng móng nhọn sắc).

Ở hình trên cũng xin lưu ý ở phần tham khảo (for reference) của chữ mũ (đực, nọc, cọc) có vẽ hình con hươu sừng ở dưới bụng có phụ đề hình cây cọc cắm trên mặt đất có ý cho biết là con hươu cọc, hươu nọc, đực. Điểm này cho thấy hươu sừng biểu tượng cho thú đực, nọc, cọc. Con hươu, con hưu, con hiêu là con hèo (roi, nọc). Theo h=k như hết = kết, ta có hèo = kèo (cọc nhỏ), ta có từ đôi kì kèo nên kèo = kì ( ki, cây). Con hươu = con hèo = con kèo = con kì. Kì Dương Vương có một nghĩa là Vua Hươu Đực có nhũ danh là Lộc Tục (Hươu Đục, Hươu Đực). Hán Việt lộc = Việt ngữ nọc. Con lộc là con nọc, con cọc, con log (khúc cây). Vì thế con hươu là con cọc như thấy trên hình, tên cổ Việt con hươu sừng là con Cọc do đó trò chơi Bầu Cua có con hươu sừng, con Cọc nên phải gọi là Bầu Cua Cá Cọc thay vì gọi sai là Bầu Cua Cá Cọp (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc).

Cũng xin lưu ý chữ sĩ 士 tương tự như chữ thổ 土 đất, tại sao? là vì thổ, đất thế gian liên hệ với trụ chống trời được biểu tượng bằng Núi Trụ Thế Gian (núi Kì), trong ngũ hành của Trung Hoa khi diễn tả theo hình vuông thì hành Thổ ở giữa tâm hình vuông, tức là hành trục, cột trụ. Trong giáp cốt văn Thổ  được diễn tả bằng một trụ đá mang hình ảnh  núi trụ thế gian, núi Kì, trụ chống trời, hình ảnh ông Bàn Cổ (Bàn là phiến đá bằng như bàn thạch là đế giữ trụ cho vững và Cổ là cột trụ (cổ là cột trụ cắm đầu vào thân mình). Ông Bàn Cổ là ông Trụ Chống Trời biểu tượng cho cõi đất thế gian.

  

Trong giáp cốt văn Thổ (tũ) được diễn tả bằng một trụ đá.

 

 Thổ liên hệ với cột trụ, cọc như chữ sĩ nên giống chữ sĩ chỉ khác nét ngang ở đáy. Thổ là đất là cõi bằng vì thế nét ngang ở dưới biểu tượng cho mặt đất bắng nên phải cường điệu dài hơn nét ngang ở đáy chữ sĩ (nét này ở chữ sĩ chỉ thành bụng chỗ cái cọc đâm ra). 

(sẽ có một bài viết riêng về từ sĩ).

-ngạt thở

ngạt hiểu theo Việt ngữ là không thở được, ngạt thở liên hệ với chết (hết thở), chết ngạt. Ngạt đi với chết như thấy trong chữ “TỬ” , chết  nửa chữ bên trái có bộ ngạt : tan biến, tiêu tan, mất tiêu liên hệ với chết. Ngạt thở với ngạt hiểu theo Hán Việt là mất tiêu, hết thở.

 

./Từ đôi hoàn toàn là Hán Việt:

 

-bạch nhật:

sáng rõ, trời sáng rõ ví dụ như “Dậy đi, trời đã bạch nhật ra rồi đấy

ta có bạch = nhật,

Hán ngữ bạchcó chữ nhật.

-thế lực

Ta có thế = lực, Chữ Thế (quyền, sức, hình dạng, như trận thế, Thế lực, uy Thế) có Bộ LỰC

Muốn có thế phải có lực đẩy lên.

-tập hợp

Chữ hợp có phần trên là chữ TẬP cổ có hình cái lệnh. Gõ lệnh để tập hợp mọi người lại một điểm (chữ khẩu là dạng dương hóa của vòng tròn chỉ chỗ quây quần lại).

…….

b. Từ láy

Xin nhắc lại

Tiếng láy gồm một từ gốc và một từ tố lặp lại theo âm điệu, vần điệu nhịp nhàng, uyển chuyển với từ gốc thường cùng một vần, một mẫu tự (như b đi với b ví dụ bầu bì). Tôi gọi từ tố láy với từ gốc là thành tố láy (TTL), ví dụ liếm láp thì láp là TTL của liếm.

Qui luật về thành tố láy trong tiếng láy của Việt ngữ của Nguyễn Xuân Quang:

Thành tố láy trong tiếng láy của Việt ngữ thường có nghĩa gần nhau hay như nhau, thường là một từ ở trong Việt ngữ hay ở trong một ngôn ngữ khác, nhất là những ngôn ngữ ruột thịt, họ hàng với tiếng Việt.

 

Ta có thể học Hán ngữ qua từ láy

-Bầu bì

Ta có bầu = bì. Bầu là bao, bọc, túi. Hán Việt bì là da như bì phu. Da là cái túi, bao bọc thân người. Bì cũng có nghĩa là bao bọc thấy qua từ phong bì.

Bì biến âm với bị, bí. Cái bị là cái túi có quai (ông ba bị), người Trung gọi túi áo quần là cái bị. Bí cũng có nghĩa là bầu, bao, túi. Quả bí cùng họ nhà bầu tuy rằng khác giống: “Bầu ơi thương lấy bí cùng, Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”. Pinyin bì Hán Việt bí là bộ phận sinh dục nữ, âm đạo, l…

 

Bộ phận sinh dục nữ, âm đạo là cái túi. cái bao. Anh ngữ vagina, âm đạo, theo v=b, vagina có vag- = bag, túi bao. Cũng theo b=v, bí = ví (Việt ngữ ví là túi bao, tiếng lóng chỉ bộ phận sinh dục nữ).

-cà kê

Ta có cà = kê.

Mường ngữ cà là gà, theo biến âm c=g như cài = gài, ta có cà = gà. Hán Việt kê là gà. Kê viết với bộ chuy chim đuôi ngắn. Gà thuộc loài chim nhưng sống nhiều trên mặt đất, biểu tượng cho mặt trời thế gian, trên bàn Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc, con gà đội lốt thần mặt trời Viêm Đế ở cõi tạo hóa là mặt trời cõi thế gian. Qua Việt ngữ ta sẽ hiểu và nhớ từ kê hơn. Kê biến âm với kẻ (cọc, nọc), kè (nọc ở bờ nước), ke (bộ phận sinh dục nam, Alexandre de Rhodes, từ điển Việt Bồ La), que (nọc), qué, ké (gà như trói thúc ké là trói ghịt cánh gà)… Ta có từ đôi gà qué, con gà là con que, con qué, con kê biểu tượng cho nọc, dương, mặt trời. Anh ngữ cock là con cọc cũng có nghĩa chỉ bộ phận sinh dục nam. Do đó có từ Hán Việt kê gian là đồng tính luyến ái nam.

-khúc khuỷu

Hán ngữ khúc, Pinyin: qǔ, cong, không thẳng.
Việt ngữ khuỷu cũng có nghĩa là cong, gẫy như khuỷu tay. heo luật từ láy ta có khúc = khuỷu.

……… 

c. Lấy trực tiếp nguyên cách phát âm pinyin

Thu nhập từ Hán lấy nguyên cả cách phát âm pinyin, xin đưa ra một ví dụ điển hình là

-gié lúa

Gié chính là hé, pinyin của chữ hòa (hình gié lúa trên cây MỘC ). Theo g=h như gặt = hái, gié = hé.

 

-tính tình tang, tang tính tình

điệu hát tình tang, tính tình chính là piyin tĩng, tìng của 聽 thính, nghe, nghe bằng tai [Giản thể: ], còn Việt ngữ tang là tai, gốc champa ngữ tang là tai như màng tang, bên tai. Tình tang nghĩa đen là “tai nghe”.

-xịn

như hàng xịn, đồ xịn.

Xịn chính là pinyin của Hán ngữ mà Hán Việt là tân có nghĩa là mới như tân thời, tân tiến, hàm nghĩa “hiện đại” mới và đẹp. Đố xịn là đồ mới và đẹp, “gái xịn” là gái (còn) tân, còn mới (và đẹp).

…….

d. Theo cách diễn giải bằng Việt ngữ

-Xuân 

Tên một mùa trong bốn mùa.

 

Chữ Xuân cổ diễn tả cây, cỏ non mọc dưới ánh sáng mặt trời.

Trong giáp cốt văn , kim văn, cổ văn, triện văn, xuân diễn tả câycỏ non  

cỏ non có chữ tún (đồn) là mầm cây tức non và cũng có nghĩa là khai hoang làm ruộng, trồng cây như đồn điền liên hệ với cây cỏ (và tún cũng dùng lấy âm cho chùn, xuân),

Cỏ non mọc dưới ánh mặt trời:

 

Lưu tâm mặt trời nguyên thủy là chữ viết nòng nọc vòng tròn nòng có chấm nọc dương sau dương hóa thành hình chữ nhật ngày nay.

Xuân về cỏ non mọc xanh tươi dưới nắng mặt trời được diễn tả trong nhạc, thơ Việt Nam:

Xuân lại về trên bãi cỏ non.

(Phạm Duy, Hoa Xuân).

Hay

Cỏ non xanh tận chân trời

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

(Nguyễn Du, Kiều).

- Ngũ

Là năm, giống hình người ngồi bắc một chân lên chân kia, hai tay để ngang trên đầu:

Bắc chân chữ ngũ, đánh củ khoai lang,

Hỡi cô nhà hàng, rót anh chén nước.

(ca dao)

-Tử

Tử là con, là chữ liễu chỉ phái nữ có nét ngang:

Phận liễu sao đành nẩy nét ngang

(Hồ Xuân Hương).

-Tá

Tá là giúp.

Người phụ giúp, thường được cho là cánh tay trái của một người nào đó. Tá có chữ nhân người và chữ tả 左 là phía tay trái.

Việt ngữ có tứ giúp công và trong chữ tá, tả có chữ công.

……….

Ngoài ra còn có thể dùng các phương ngữ ở miền nam Trung Hoa thuộc địa bàn cũ của Bách Việt như Quảng Đông, Hẹ, Triều Châu, Choang… để học tiếng Trung Hoa. Xin đề cập tới vào dịp khác.

Tóm lại

Ta có thể học tiếng Trung Hoa bằng tiếng Việt. Khi học chữ Hán, chữ Nho hãy cố liên hệ với tiếng Việt để dễ hiểu nghĩa và dễ nhớ.

Older Posts »

Theme: Silver is the New Black. Blog at WordPress.com.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.