Bac Si Nguyen Xuan Quang’s Blog

July 31, 2009

TỪ ĐIỂN TƯƠNG ĐỒNG ANH-VIỆT, VẦN A (1)

Filed under: Vần A (1) — Quang Nguyen @ 6:21 am

 

 

 

 

TỪ ĐIỂN TƯƠNG ĐỒNG ANH-VIỆT

Nguyễn Xuân Quang

 

Ghi Chú:

.Bộ Từ Điển này vẫn tiếp tục viết thêm.

.Xem phần mở đầu và viết tắt ở những bài trước.

 

A

 

(Phần 1)

 

A biến âm mật thiết với   E, I, O, U. . .
A=E=I=O=U…
Như   mạ, má = mẹ, mệ = mị = mợ = mụ…

-A, a:

Mẫu tự thứ nhất biểu tượng cho nọc, dương, lửa, mặt trời, phái nam, bộ phận sinh dục nam…
Trong mẫu tự ABC của Tây phương hiện nay cũng còn thấy di tích để lại của chữ viết nòng nọc (Tôi có một tác phẩm viết riêng về chữ nòng nọc). A là di duệ của chữ viết nòng nọc. Phân tích theo chữ nòng nọc, A thường thấy hiện nay là do ba nọc que I I I ghép lại. Tổng quát ba nọc có cùng nghĩa  nọc (đực, dương, nam, mặt trời, lửa…)  với nọc chấm, nọc que, nọc hai que nhưng ở tầng sinh tạo vũ trụ khác nhau. Ba nọc que có một khuôn mặt chính là ba hào dương tức Càn (Kien) biểu tượng cho lửa vũ trụ, ánh sáng, mặt trời, siêu dương…

Từ thế kỷ thứ nhất đến thế kỷ thứ 12, chữ A hoa “thôn dã” (Rustic A) viết theo hình “dấu mũ” , mũi tên, mũi mác 

   

 

clip_image002

A “dấu mũ” , mũi tên, mũi mác.

(chữ thứ 6 trong hình Biography of a letter A, từ trái qua phải) gồm có hai nọc (II) ghép lại cũng mang những ý nghĩa giống như chữ A ba nọc chỉ khác ở tầng mang ý nghĩa về sinh tạo.

 

 
 

 

 

 

clip_image002[4]

 

Chữ A dạng dấu mũ, mũi mác, mũi lao cũng đã thấy trong các hình ngữ cổ như thấy qua  từ KHAN, thường được hiểu theo một nghĩa là Nước. Ta thấy rất rõ Khan chính là K’an, tức Khảm, hiểu theo một nghĩa trong Dịch Khan, Khảm là Nước.

 

clip_image001

 

 

Tuy nhiên nhìn dưới lăng kính trọn vẹn của Vũ Trụ Tạo Sinh (Cosmogeny), của chữ nòng nọc thì  KHAN có chữ KH hình vòm biểu tượng Cõi Trên, Cõi Trời,  khí gió thái dương. Chữ nọc dấu mũ, mũi mác, mũi lao (/\) tức A ở giữa biểu tượng  dương, lửa hay núi,  thái dương, mặt trời thái dương (xem nọc mũi mác). Nếu hiểu /\ theo nghĩa lửa thì hình ngữ KHAN có nghĩa là Khung Trời (vòm trời, sky)-Lửa (mặt trời)- Sóng Nước, biểu tượng cho Khí, Lửa, Nước; còn nếu hiểu /\ theo nghĩa  là núi dương nhọn đỉnh, núi tháp nhọn Cõi Giữa, đất  thế gian  thì KHAN có nghĩa là Ba Cõi thế gian:  Cõi (Khung) Trời- Cõi Đất-Cõi Nước theo duy dương, nói rộng ra là Tam Thế, Vũ Trụ. Với nghĩa núi tháp thế gian chữ A cũng được diễn tả bằng hình kim tự tháp như thấy trong tên Barcelona ở trước một ngôi nhà thờ gothic ở Barcelona.

clip_image002[6]

                     Chữ A hình kim tự tháp ở Barcelona (ảnh của tác giả, 5-09).

Chữ A dân dã dấu mũ, mũi mác hay đầu mũi tên (/\)  do hai nọc (hai dương = thái dương) còn thấy nhiều ngày nay như thấy trong đề tựa của quyển sách The D/\ Vinci Code của Dan Brown, tên xe KI/\ của Đại Hàn…
Về tầm nguyên ngữ học, chữ A ở dạng nguyên thủy được tin rằng phát xuất từ hình ngữ đầu bò có hai sừng trong ngôn ngữ Semetic (1850 TTL) như thấy ở chữ thứ nhất trong hình Biography of a letter A ở trên.  Con bò đực có một khuôn mặt biểu tượng cho nọc đực, dương, mặt trời… như  con bò mộng Nandi của thần Shiva trong Ấn giáo và bò là thần mặt trời trong cổ sử Ai Cập. Hai  sừng là hai nọc (II) biểu tượng cho hai dương, lửa, thái dương…
Theo Dan Brown, trong The Da Vinci Code, hình /\ biểu tượng cho đực, nam, phái nam, đàn ông mang hình bóng của một dương vật sơ khai (“a rudimentary phallus”) được gọi là lưỡi sắc (blade). Điều này ăn khớp trăm phần trăm với chữ nọc mũi mác, răng cưa, răng sói ở đây. Hiển nhiên blade có nguồn gốc từ chữ nòng nọc.

Nhiều hình chữ  /\ nối lại tạo ra hình răng cưa, răng sói (nhìn theo đỉnh nhọn phía trên mang nghĩa dương, thái dương của ngành dương) như thấy trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn (xem Chữ Nòng Nọc ).

.A biểu tượng mũi nhọn, vật nhọn, cọc, cây, nọc (đực, dương), thấy rõ qua Phạn ngữ ak, đục, xuyên (bằng vật nhọn), nhọn sắc, qua gốc  gốc Hy Lạp ake, nhọn (xem acacia, adze-, axe, rìu, arrow, mũi tên, arbor, cây, arm, cánh tay tương đương với cành cây, xem những chữ này); lưỡi a (dụng cụ nhọn) của Việt Nam: Rèn một lưỡi A bằng ba lưỡi hái (Tục ngữ)…
.A biểu tượng cho lửa, mặt trời như gốc Phạn ngữ ar, đốt; agni, lửa, arson, đốt lửa gây hỏa hoạn, ace, một (một là mặt trời),  châu Á là châu lửa, phía mặt trời mọc. Những tổ phụ dòng lửa, mặt trời của nhiều tộc trên thế giới có tên khởi đầu bằng mẫu tự A như vua mặt trời Ai Cập là Atum, Atom, các thần dòng thái dương của Maya đều có tên khởi đầu bằng từ Ah như Ah Kinchil, thần mặt trời, Ah Puch, Diêm Vương, Ahmakiq, thần nông nghiệp… Thái dương thần nữ Amaterasu của Nhật cũng khởi đầu bằng chữ A,
người đàn ông đầu tiên trên trái đất của Thiên chúa giáo là Adam, cổ ngữ Việt, áng là cha, ánh là ánh sáng mặt trời, anh thuộc phái nam,  đực (xem ram)…

Trong linh tự Ai Cập, mẫu tự A, a  đọc là Ahau.

 

 
 

clip_image002[8]

 

 

 

Theo các nhà Ai Cập học, Ahau được biểu thị bằng con kên kên (vulture), một loài mãnh cầm biểu thị cho dương tính, lửa, mặt trời. Ta thấy Ahau có A là lửa, mặt trời, thái dương và -hau  liên hệ với Việt ngữ hâu (diều hâu), với Anh ngữ hawk cũng là một loài mãnh cầm biểu thị cho dương tính, lửa, mặt trời. Với h câm, hâu = âu = ó. Như đã biết Ai Cập có vị thần mặt trời Horus có biểu tượng là con chim ưng, ó.  Trung Hoa cho con chim ác vàng (kim ô) biểu tượng cho mặt trời dương và chim ác đen biểu tượng cho mặt trời âm (thường thấy trên các phướn đám ma cổ). Ác  có A ruột thịt với A, Ahau, ace, adze, ax… những thứ có vật nhọn, biểu tượng của nọc, dương, mặt trời. Mẫu tự A cũng được diễn tả bằng cánh tay (arm) liên hệ với Việt ngữ  ãm, ẵm tức là mang bằng cánh tay như ãm, ẵm em, ãm sách vở. A, a là  Ãm., Ẵm. Ẵm, arm có gốc A, ar- có nghĩa là cọc, cây cành cây, liên hệ với vật nhọn, lửa. Tay tương đương với cành cây thấy rõ qua từ  Hán Việt chi là tay và cũng có nghĩa là cành cây (xem arm).
Ta thấy A của Ai Cập có hai âm A chim kên kên và Ă, ẵm diễn tả bằng cánh tay.

Như thế tóm lại chữ A là di duệ của chữ viết nòng nọc do hai nọc que (A dân dã), hai sừng bò hay do ba nọc que ghép lại, theo duy dương  biểu tượng cho nọc,  đực, bộ phận sinh dục nam, cha, lửa vũ trụ, ánh sáng, mặt trời, thái dương, núi dương, Càn…  

Chữ a có thể diễn tả bằng 1. hình A, 2. dấu mũ, mũi mác, mũi tên chỉ thiên /\ tức a dân dã hay 3. hình tháp.

-A, a, (tiền tố Latin)

.a- (1) như trong a-down có nghĩa như of, off (xem chữ này).
.a-(2) như trong a-foot có nghĩa như on, trên, lên (xem chữ này).
.a-(3) như trong a-long có nghĩa như and, và.
.a-(4) như trong a-rise có nghĩa như á-
.a-(5) như trong a-chieve có nghĩa như Pháp ngữ à, Latin ad-, to; xem chữ ad-.
.a-(6) như trong a-vert có nghĩa như Latin a-, ab- xem chữ ab-.
.a-(7) như trong a-mend có nghĩa như e, ex-, ra xem chữ ex-.
.a-(8) như trong a-byss có nghĩa như un- (xem chữ này).
.a-(9) như trong a-do có nghĩa như at (xem chữ này).
.a-(10) như trong a-pace có nghĩa như an (xem chữ này).

-a, an (tiền tố Hy Lạp), không.

.a- = á, là không như á khẩu.
.a- = ỏ (không) như ỏ vào, xem Anh ngữ no.
.a- = ứ (không) như trong bài ca trù Hồng Hồng Tuyết Tuyết của cụ Dương Khuê có cấu “…em ứ, em hứ, em chê ông già”, trẻ em từ chối thường nói “ứ ừ”. Ta cũng thấy an- = un-, không như unable, không thể được, không thể làm được, có a- = u-.

-a, an, một.

a book, một quyển sách, an animal, một con vật, liên hệ với  Pháp ngữ un = một, Ở đây cũng thấy a, A là một, là số 1,  là trời, lửa (xem sol, solo). A liên hệ với Việt ngữ ế, là một mình như ế khách là ngồi không và cũng hàm nghĩa ngồi một mình; an = ên, ơn như mình ên, mình ơn là một mình. Ta cũng thấy an- = Pháp ngữ un, Tây Ban Nha ngữ un(o), một.

-Ab-(tiền tố Latin), thường hiện ra dưới dạng ab-, abs-, a-.

 

1. có nghĩa là from.
ví dụ avert (xoay đi hướng khác, tránh, né), if we avert a disaster, we “turn” it “from” us (a-, from và verto, “turn”).
2. có nghĩa là  away from.
To abuse something is to “use” it in a fashion that is “away from” the normal (abusus, có ab-, “away from” và usus = utor, use, dùng).
3. có nghĩa là down.
An abject person is “downcast” (ab-, down và ject = jectus, liên hệ với jet là “cast”), xem chữ abject.
 

  

1. hạ cấp, hèn hạ, đê tiện, ti tiện, đáng khinh bỉ.
2. nghèo khổ, khổ sổ, cùng đinh, giai cấp hạng dưới (hạ cấp), có tiền tố Latin ab-, down và ject = jectus, liên hệ với jet có nghĩa là cast, bị quăng, bị ném  và cũng có nghĩa là đúc, khuôn đúc, giai cấp (xem cast).  Abject là hạng người “bị quăng xuống” đáy xã hội, tức giai cấp thấp  nên trở thành “hạ cấp”, nghèo khổ, khổ sở.
-theo j=d như jeep = díp, dép, ta có ject, jet = dất (vất).

-abnormal

1. không đúng theo nề thói.
2.bất thường, không bình thường, khác thường, dị thường.
Tiền tố ab-, away from và normal (xem chữ này).

-abolish, bỏ, bãi, bãi bỏ.

có bo- = bỏ = bác, bác bỏ .

 

-abord (Pháp), Anh ngữ boarding.

có  -bo- = bờ (lên), ngày xưa chỉ lên tầu, ngày nay dùng cho cả lên máy bay.

 

 

-abscess, áp-xe (phiên âm Pháp ngữ ), túi mủ, bọc mủ.

Latin abscessus, tiền tố abs- và cessuss, quá khứ phân từ của cedere, đi (xem chữ này), có nghĩa đen là “đi khỏi” (hàm nghĩa thoát dẫn chất mủ ra).

-absinth(e), cây ngải đắng, rượu ngải đắng.

Latin absinthium, tên dân dã là wormwood, xem chữ Vermouth.
absinthism, ghiền, nghiện, trúng độc rượu ngải đắng,
như họa sĩ Van Gogh là một trường hợp điển hình. Ông bị ngộ độc rượu ngải đắng nên bị chứng hoàng thị (nhìn thấy toàn mầu vàng) vì vậy tranh của ông vẽ có nhiều mầu vàng chóe.

-abundance, nhiều, đầy rẫy, phong phú.

 

tiền tố a- và theo b=m, ta có bund- = many =  1.man như không biết cơ man nào mà kể, 2. mắn như mắn đẻ = đẻ nhiều, 3. muôn như muôn vạn, muôn vàn; muôn cũng hàm ý nhiều như muôn điều ước muốn, 4. muồi (nhiều) phương ngữ Huế  nói muồi là nhiều, 5.mứa như thừa mứa (xem many).

 

-abuse

1. lạm dụng.
2. ngược đãi, hành hạ, làm khổ người nào.
3. lạm dụng tình dục.
4. dèm pha, phỉ báng.
5 chửi rủa, mắng nhiếc (lạm dụng bằng lời nói).
6. lợi dụng, lừa dối, lường gạt.
Latin abusus, có ab-, “away from” và usus = utor, use, dùng (xem chữ này). 

-acacia, cây keo, cây xiêm gai.

 

nhựa khô hay gum của cây này dùng là keo vì thế mới gọi là cây keo (xem gum).
Acacia có gốc Aryan-Phạn ngữ AK, đâm, xuyên qua, Hy Lạp ake, nhọn vì  nó có gai nhọn, nên còn gọi là cây xiêm gai. Ta thấy vì cây này có gai nên có chữ A đầu, A có nghĩa là vật nhọn (xem A, a). Ake có -ke = ke (que) = kẻ (cọc nhỏ), đều là những vật nhọn. Ta cũng biết A có nghĩa là nọc, vật nhọn… (xem a) và ta cũng thấy ake = ác, Việt ngữ  ác đi đôi với đanh qua từ đôi đanh ác. Đanh có một nghĩa là một vật nhọn ruột thịt với gốc Aryan-Phạn ngữ ak, Hy Lạp ngữ ake như thế liên hệ với ác. Đanh ác nguyên thủy có thể là dùng vật nhọn hành hạ, tra tấn.
Tóm lại cây acacia được gọi tên theo đặc tính có gai nhọn.

 


-acanthous, có nhiều gai.

có gốc Hy Lạp ake, nhọn và acantha, gai  xem chữ acacia.

acanthus, cây gai.
một loại cây có gai, lá dùng trang trí trong kiến trúc cổ Hy Lạp.

 

-ace, số một, số “dách”, tên lá bài số một (con ách, con ết, con xì, con yêu trong bài tổ tôm) hay mặt số một của con lúc lắc, cú giao banh tennis “ết” địch thủ bó tay không làm gì được, cú đánh một cái, trái cù rơi vào ngay lỗ golf.

 

.ace =  ạc, ạch, áy là một mình, (từ cổ) (Hỳnh Tịnh Paulus Của).
.ace = /ết/ = ên, ơn (một), xem chữ one.
./ết/ = phương ngữ Huế éc, một mình như bừa éc là bừa với một con thú (trâu hoặc bò).
./ết/ = Phạn ngữ eka, một. Eka  đẻ ra  ek = éc = ace và có -ka = cả (có một nghĩa là đứng đầu, số một như con cả, anh cả, vợ cả).
.Việt ngữ con bài ách, ết là phiên âm của ace.  Ace phát âm theo Pháp ngữ ách-xì và theo Anh ngữ ết cùng âm với x (ếch xì) vì thế mới có tên là con xì. Con ace, con ách xì nói theo cách nuốt chữ còn lại là con xì.
.với d câm Hoa ngữ dách (nhất, một) = ách.

-accede

1. nối nghiệp, lên ngôi vị.
2. thừa nhận, bằng lòng, chấp thuận, đồng ý.
Latin accedere đi tới trước, tiền tố ac- = ad-, tới và cedere, đi (xem chữ này).

-accent

1. sự nhấn mạnh (ở một vần).
2. giọng.
3. dấu: acute accent: dấu sắc, grave accent: dấu huyền.
Latin accentum, âm, âm điệu, có tiền tố ac- = ad- và –cent = cantus, bài ca, quá khứ phân từ của canere, hát, xem chữ cant.

-accept, nhận, thâu nhận, chấp nhận, nhận lãnh, thừa nhận, ưng chịu, bằng lòng cho vào, cho vào.

Latin acceptere, nhận, tiền tố ac- = ad-, vào và –ceptere, giữ chứa, cho vào, liên kết với capacious (xem chữ này).
.có cept- = cập (cho vào) như cập bến, truy cập.
.theo c=ch, -cept = chấp (nhận).

-access

1. lối vào, tới gần, tiếp cận.
2. xâm nhập vào, đi vào.
3. cơn như access of fever: cơn sốt.
Latin accessus có tiền tố ac- = ad-, và -cessus, ruột thịt với Latin cedere, đi, tới, xem chữ cede.

-accident

1. việc tình cờ, ngẫu nhiên.
2. tai nạn (chuyện xẩy ra bất ngờ).
Latin accidere, tiền tố ac- = ad-, vào, đến và cident = cadere = Phạn ngữ çad, rơi, buông xuống (xem cadence). Accident hàm ý sự viện xẩy ra như “từ trời” rơi đến.

-acclaim, hoan hô, hoan nghênh, nghênh đón (người nào).

tiền tố ac- và claim có gốc Phạn ngữ kar = kêu, gào  (xem claim).
acclamation, (danh từ).

-accord

1. đồng lòng, đồng tình, đồng ý, bằng lòng, thỏa thuận, tán thành, thừ nhận.
2. hòa ước, hiệp ước.
3. hòa âm, hợp âm, hòa hợp (âm nhạc).
Latin dân dã ac-cordare, bằng lòng, có gốc cor, cordis, tim.
Tiền tố ac- và cord, ruột thịt với cor, cordis, tim xem chữ cordial.

-ache, đau ê ê, ê ẩm, ê răng, ê mình, đau rêm rêm, cũng có tiếng lóng “ê càng”.

ache = ê, Hy Lạp ngữ algos, gốc –algy, đau có al- = ẩm, ê ẩm.

-accomplish

1. làm xong, hoàn tất, thành tựu.
2. giỏi, khéo, hoàn toàn
liên hệ với complete (xem chữ này), có tiền tố ac- (tới) và -com (cùng), -plish  liên kết với Latin plenus, full (xem chữ này).

-accumulate, chất đống lại, chồng chất, tích trữ, tích lũy, dồn lại, dành dụm.

ruột thịt với Latin accumulus có tiền tố ac- là ad-, vào,  cho vào và cumulus có cum- = cụm, chụm, dồn lại thành cụm, thành chụm, thành đống như mây cumulus là mây cụm.
accumulation (danh từ).

-achieve

1.làm xong trước, làm trước, làm trọn, hoàn tất, hoàn thành, thành tựu.
2. thi hành, thực hành.
3. đạt được, đạt tới.
ruột thịt với Latin ad-caput. Tiền tố a-, ad- và -chieve liên hệ với chief (xem chữ này), hàm nghĩa “tới trước, tới đầu tiên”.

-acid, chua, a- xít, acid, chất chua; sắc (sharp).

Latin acididus, nghĩa là đâm, xuyên qua (piercing) có gốc gốc Aryan-Phạn ngữ AK, to pierce, liên hệ với Hy Lạp Hy Lạp ake, nhọn, hàm nghĩa sắc. Vị chua như đâm vào lưỡi.
Acid có -cid = Việt ngữ sít, sống sít như ăn sống ăn sít… sít cũng có nghĩa sống, xanh, nhiều trái khi còn xanh thì chua. Sít liên hệ với acid (chua), với cit- của Pháp ngữ citron (chanh), trái chua…

-acorn, hạt, quả cây sồi, cây dẻ rừng.

có corn là hột, hạt, theo c=h, corn- = hột, xem chữ corn.

-acquire

1. được, thâu, nhận, mua được.
2. mắc phải, nhiễm phải, thụ đắc (bệnh).
tiền tố ad-, to và -quire, tìm kiếm, xem chữ query.
acquisition (danh từ).

-ad- (tiền tố Latin).

có nghĩa là to,  toward, for, liên hệ với Anh ngữ at, ví dụ như adhere (xem chữ này).  

 -Adam, người đàn ông đầu tiên trong vườn địa đàng của Thiên Chúa giáo.

 

Adam ứng với dòng mặt trời, lửa, thần mặt trời Ai cập Atum, Atam, Atom, Hùng Vương A Đuốc (Bình Nguyên Lộc), áng ná (cổ ngữ Việt), cha mẹ.  Adam có A và -dam =  “đâm”, biến âm với ram, cừu đực (xem ram)  trong khi đó Eva, người đàn bà đầu tiên  có E-, Ea biểu tượng cho âm, nước  (xem e) nang, nòng, phái nữ. Eva biến âm với ewe, cừu cái. và Eva có E- biến âm với O, nòng, âm, nữ. Ta cũng thấy Việt ngữ áng là cha liên hệ với adam. Adam có ad- = áng .   Ông Adam và bà Eva, hai con người đầu tiên của nhân loại của Thiên Chúa giáo do ông Ezra khi viết Thánh Kinh tạo ra lấy từ Ai Cập cổ.  Theo d=t, Adam = Atam, Atum, thần Mặt Trời Ai Cập cổ dòng lửa, nọc dương và theo v=u (như và cơm = ùa cơm, Alexandre de Rhodes, từ điển Việt Bồ La), ta có Eva = Eua = Ea, nữ thần Nước của Lưỡng Hà, dòng nước, nòng âm.  Ta thấy rất rõ Eva = Ea (Thần Nước) = O (nòng âm, nước) = Pháp ngữ Eau, nước 
(phát âm là Ô). Ở Las Vegas công ty Cirque du Soleil có show O (lấy âm tứ Pháp ngữ Eau) có chủ thể về nước và show Kà (biến âm với Kàn, Càn, lửa vũ trụ) có chủ thể về lửa.
Nọc Lửa Mặt Trời và Nòng Nước sinh ra muôn loài. Ta cũng thấy rất rõ về di truyền tính Eva và Oa (Nữ) có cùng một di thể Nòng (nước, rắn…) của Mẹ Đời, Mẹ Vũ Trụ. Nữ Oa là người có đuôi rắn thì Eva cũng là người rắn. Con rắn trong vườn địa đàng liên hệ với Eva, nguyên thủy Eva phải mang nghĩa cao đẹp là mẹ sinh tạo ra loài người. Hiểu theo nghĩa cám dỗ, tội lỗi… là đã hiểu theo nghĩa duy dương rất muộn sau này của con người ‘macho”. Cây và con rắn trong vườn Eden phải hiểu theo nguyên gốc, cây là nọc là lửa là Adam, Atam và con rắn là nòng là nước là Eva, Ea.

 

(còn tiếp)

-abject

May 13, 2009

Chữ Viết Tắt và Qui Ước

Filed under: Viết Tắt và Qui Ước — Quang Nguyen @ 4:49 am

 

Những Chữ Viết Tắt và Qui Ước

-Chữ trong hai  gạch nghiêng /…/ thanh, thinh, âm, âm vị chỉ  phát  âm theo tiếng Việt, hay tiếng Anh.
-Dấu bằng (=)  có nghĩa là liên hệ với, tương đương, gần cận nhau, giống nhau.
-Mẫu tự trong ngoặc đơn của một từ có nghĩa là bỏ đi hay câm ví dụ Anh ngữ cổ brus (breast), vú  = b(r)u- =  bú, vú (r câm)…
* = dấu (*) có nghĩa là gốc tái tạo không có trong ngôn ngữ thành văn (written records).
AA: Afro-Asiatic
Adv. = trạng ngữ (từ).
Affix: tiếp tố.
Alliterative: láy phụ âm đầu.
Alt = Altaic
Conj. = conjuction, liên từ
Copula = hệ từ
Drav. = Dravidian (Nam Ấn).
Ev. = Evenki
Fj. = Fijian
Gl. = Goldi, còn gọi la Nanai.
Ma. = Manchu (Mãn Châu).

Finn. = Phần Lan.
IE.=Indo-European (Ấn-Âu) ngữ.
Ital. = Italia.
Interjection = cảm từ như dạ, vâng, ôi chao.
Kart. = Kartvelian.
L. = Latin.
Ml. = Malay (Mã Lai).

Nostr. = Nostratic, “ngôn ngữ của chúng ta”.
Noun, danh từ.
Om. =  omato, tượng thanh.
Pai. = Paiwan.
PAN = Proto-Austronesian.
Participle, phụ từ, mạo từ.
Prefix = tiền tố, tiếp đầu ngữ.
Pron. = pronoun = đại danh từ, đại từ.
Scand. = Scandinavian.
Skt = Phạn ngữ.
Tag. = Tagalog.
Tung. = Tungusic, Đông Quốc (ngày xưa thuộc “rợ” Đông Di).
Tk. = Turkic.
Ural. = Uralic như  Phần Lan.
Verb = động từ, động ngữ .

.Ŝ  giống như sh trong Anh Ngữ  ví dụ ship.

May 12, 2009

TỪ ĐIỂN TƯƠNG ĐỒNG ANH-VIỆT NGỮ

Filed under: Lời Mở Đầu — Quang Nguyen @ 8:37 pm

 

TỪ ĐIỂN TƯƠNG ĐỒNG ANH-VIỆT NGỮ

Nguyễn Xuân Quang

LỜI MỞ ĐẦU

Tôi khám phá ra có sự liên hệ mật thiết giữa Việt ngữ và Phạn ngữ (Tiếng Việt Huyền Diệu). Sự liên hệ này có thể là:

1. liên hệ trực tiếp, ruột thịt, mẹ con giữa Việt ngữ và Phạn ngữ.

2. liên hệ qua trung gian như:

-Việt ngữ liên hệ với Hán ngữ (có tác giả cho là có tới 60 % từ Hán Việt trong Việt ngữ) mà một số Hán ngữ liên hệ với Phạn ngữ nên Việt ngữ liên hệ với Phạn ngữ qua Hán ngữ.

-Việt ngữ liên hệ với Nam Đảo, Mã-Nam Dương ngữ (quá nửa tiếng Java có gốc hay liên hệ với Phạn ngữ) nên Việt ngữ liên hệ với Phạn ngữ qua Nam Đảo, Đa Đảo ngữ.

-Việt ngữ liên hệ với Thái ngữ mà một số lớn Thái ngữ liên hệ với Phạn ngữ (chữ Thái ruột thịt với chữ Phạn ngữ) nên Việt ngữ liên hệ với Phạn ngữ qua nhóm Thái-Tầy ngữ.

-Việt ngữ liên hệ với Champa ngữ (Chiêm, Chàm, Chăm) mà một số Champa ngữ liên hệ với Phạn ngữ (một phần lớn người Champa theo Ấn giáo, chữ Champa trên tấm bia cổ Võ Cạnh ruột thịt với chữ Phạn) nên Việt ngữ liên hệ với Phạn ngữ qua Champa ngữ.

-Việt ngữ liên hệ với Khmer (Campuchia) ngữ mà một số Campuchia ngữ liên hệ với Phạn ngữ (chữ viết Campuchia ruột thịt với chữ Phạn ngữ) nên Việt ngữ liên hệ với Phạn ngữ qua Môn-Khmer mgữ.

vân vân và vân vân…

Ngoài ra cũng liên hệ qua ngả giao lưu văn hóa như Phật giáo đã cung cấp một số không ít những từ Việt gốc Phạn.

Nên nhớ liên hệ phải hiểu theo hai chiều là các ngôn ngữ trên cũng có thể liên hệ với Phạn ngữ qua Việt ngữ.  Tôi cũng đã chứng minh Việt ngữ là một ngôn ngữ tối cổ, hay liên hệ với một ngôn ngữ tối cổ, là nguồn gốc hay  liên hệ với nguồn gốc ngôn ngữ loài người (Tiếng Việt Huyền Diệu). Vì thế ngay chính Phạn ngữ cũng có thể liên hệ với Việt ngữ.

Mặt khác ta cũng đã biết Anh, Pháp, Đức… thuộc đại tộc Ấn-Âu ngữ (Indo-Europian Language) nghĩa là có gốc Ấn (Indo-) ruột thịt với Phạn ngữ. Như vậy ở khía cạnh Phạn ngữ , Việt ngữ và Ấn Âu ngữ nói chung, Anh, Pháp, Đức ngữ. . . nói riêng có liên hệ với nhau qua mẫu số chung Phạn ngữ.

Như thế thu nhỏ lại, có sự liên hệ giữa Việt ngữ và Anh ngữ và sự liên hệ này có thể là ruột thịt máu mủ hay liên hệ do môi trường (tiếp xúc, vay mượn) hay qua trung gian một ngôn ngữ khác liên hệ với Việt ngữ . Tôi xin để qua một bên sự liên hệ này như thế nào (sẽ viết rõ trong tác phẩm Sự Liên Hệ Giữa Việt Ngữ và Ấn-Âu Ngữ) . Ở đây tôi chỉ rút tỉa ra một ứng dụng, một thực dụng rất hữu ích là từ sự liên hệ này ta có thể học tiếng Anh nói riêng và Ấn Âu ngữ nói chung bằng tiếng Việt và ngược lại. Vì Anh ngữ là tiếng được dùng nhiều trên thế giới nên tôi chú trọng nhiều tới việc học Anh ngữ bằng tiếng Việt. Hơn nữa, vì sống ở Hoa Kỳ nên Anh ngữ đối với tôi dễ truy cứu hơn các ngôn ngữ khác của Ấn-Âu ngữ (các người Việt khác sống ở Pháp, Đức, Ý… cũng có thể theo dấu chân tôi dùng tiếng Việt học tiếng Pháp, Đức, Ý… và soạn ra các quyển từ điển tương tự). Học Anh ngữ bằng Việt ngữ giúp những người Việt nhất là giới lớn tuổi giỏi tiếng Việt có thể dùng tiếng Việt học Anh ngữ và các thế hệ trẻ sinh đẻ ở hải ngoại và các người ngoại quốc giỏi Anh ngữ có thể dùng tiếng Anh học tiếng Việt.

Sự liên hệ này trong trường hợp lý tưởng tức liên hệ mẹ con (xem Học Anh Ngữ Bằng Việt Ngữ) chúng ta thấy hai từ giống nhau như đúc, giống y chang về cả từ lẫn ý nhưng trong những trường hợp khác vì ngôn ngữ là một sinh ngữ, nó sinh ra, lớn lên, già đi, mai một đi, đẻ ra những từ khác… nên chúng không còn giống nhau như mẹ con nữa mà chỉ như chị em, anh em, họ hàng thân thích và bà con xa.

Trong những trường hợp này ta phải nhờ tới những hiện tượng biến âm lịch sử, biến nghĩa, gốc chữ, chữ câm, từ ghép, từ đôi, từ láy… Ở đây chỉ xin nếu ra một hai ví dụ. Hiện tượng biến âm lịch sử như b = m = v (trong Việt ngữ b là dạng cổ của m như bồ hôi = mồi hôi, ngày nay nhiều địa phương còn dùng từ bầm, có nghĩa là mẹ, người vú nuôi, chị vú nuôi, theo b=m, ta có bầm = mầm = mama, maman, má…), mẫu tự b vũng là dạng cổ của v như = (ngựa) (Từ Điển Việt Bồ La, Alexandre de Rhode). Mẫu tự h có thể là dạng cổ của k, c như bệnh hen là bệnh kèn (h=k). Người bị bệnh hen thở cò cử như thổi kèn:

Chồng hen lấy vợ cũng hen,

Đêm nằm cò cử như kèn thổi đôi.

(ca dao).

vân vân…

Biến âm dựa vào các qui luật biến âm lịch sử thấy trong Việt ngữ và Ấn-Âu ngữ.

Biến âm có thể theo phát âm của Việt ngữ hay Anh ngữ và biến âm cũng có thể theo mặt chữ.

Về biến nghĩa thì hiện tượng biến âm có thể làm nghĩa đã biến đổi, nghĩa đã lai đi nhưng vẫn còn liên hệ với nghĩa gốc. Những từ càng gần âm tức biến âm càng ruột thịt bao nhiêu thì nghĩa càng gần cận bấy nhiêu. Ví dụ cành cùng với cánh một vần thì cành có cùng nghĩa với cánh. Cành cây tương đương với tay người. Hán Việt chi (cành) và tay chân người cũng gọi là chi (tứ chi). Theo tiến hóa cánh chim = tay người (chim tiến hóa thành khỉ, đười rồi mới thành người) như thấy qua từ đôi cánh tay nghĩa là cánh = tay. Như thế cành = cánh = tay = cẳng = chi. Việt ngữ cẳng thường hiểu là chân, thật ra cẳng liên hệ với chánh, chành, chi cũng chỉ cả chân và tay (tức tứ chi) như thấy qua các từ đôi cẳng chân, cẳng tay ví dụ như “thượng cẳng tay hạ cẳng chân”. Người Bắc dùng cẳng tay không có sai ngữ pháp như có người đã nghĩ. Sự biến âm khác vần thì nghĩa sẽ lai đi nhưng vẫn liên hệ với nhau. Biến âm cùng nhóm âm sẽ ruột thịt hơn (xem Tiếng Việt Huyền Diệu). Ví dụ foot, chân với boot, giầy (biến âm f=b với nghĩa đã biến đi nhưng giầy liên hệ ruột thịt với chân).

Nghĩa ngữ có thể chia ra ít nhất là bốn loại: nghĩa giống trực tiếp, nghĩa lệch, nghĩa chéo và nghĩa hoán đổi vị trí.

 

1. Nghĩa trực tiếp hay thẳng:

 

Hai từ Việt và Anh ngữ có nghĩa y chang như nhau. Trường hợp lý tưởng thường thấy nhất là khi có biến âm mẹ con. Ví dụ:

 

deuce, đều nhau (như trong tennis, hai bên có cùng số điểm 40 gọi là deuce), có deu- = đều.

char (đốt cháy thành than, thiêu rụi, nướng than như char-broiled hamburger) = chả (thịt nướng than, nướng lửa).

pouch = bao (túi, bị).

. . . . . .

2. Nghĩa lệch:

 

Cùng gốc nhưng hai từ Việt và Anh ngữ có nghĩa lệch, nghĩa đã lái, đã lai đi. Nghĩa càng lệch khi biến âm càng nhiều lần hay càng khác vần. Trường hợp này có thể coi là khi có biến âm chị em, họ hàng thân thích. Ví dụ:

blue, màu trời = blời, từ cổ của trời (Việt ngữ blời là danh từ là từ gốc trong khi blue là tính từ do blời đẻ ra).

lake (hồ) = lạch. Hồ lake và lạch cả hai cùng có gốc la-, na là nước.

tía (Quảng Đông ngữ, Quảng Đông thuộc địa bàn Bách Việt), cha = tio (Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha), cậu (uncle).

thronetrôn (Nga ngữ) là ngai, ngôi = Việt ngữ trôn (đít, phần để ngồi, bán trôn nuôi miệng).

……

3. Nghĩa chéo:

Cùng gốc nhưng hai từ Việt và Anh ngữ có nghĩa chéo nhau, trao đổi nghĩa cho nhau. Trường hợp này có thể coi là khi có biến âm bà con. Ví dụ:

buffalo (trâu) có bu- = bò trong khi đó cow (bò cái) phát âm là /cao/ đọc thêm hơi vào thành chao, châu, trâu. Trâu trong Anh ngữ là bò Việt ngữ trong khi bò trong Anh ngữ lại là trâu trong Việt ngữ.

cheese (fromage, Pháp ngữ ) = chi (Hán Việt), dầu = Hindu ghee (mỡ lỏng).

wide, rộng có /wai/ = vài = dài trong khi Anh ngữ long (dài) có long = lộng = rộng (l=r).

chole, mật gan. Theo ch= c=g, gốc chol- = cốn (người Hoa phát âm gan là cốn), can (Hán Việt) = gan (c=g). Gan và mật có nghĩa chéo nhau, gall =/gan/ = mật trong khi chole (mật) = cốn, can, gan.

. . . . . .

4. Hoán Đổi vị trí:

 

Trong cùng một ngôn ngữ hay trong những ngôn ngữ ruột thịt bà con với nhau có hiện tượng hoán đổi vị trí những từ có vị trí nằm kế cận nhau ví dụ trong ngôn ngữ này lại là cằm, cầm trong ngôn ngữ khác. Buck nhận thấy rằng “ther is considerable interchange between ‘jaw’, ‘cheek’ and ‘chin’ notably in a widespread cognate group” (4.208) (có sự hoán đổi đáng kể giữa jaw, cheekchin trong nhóm các chữ họ hàng có liên hệ rộng lớn). Ta thấy Việt ngữ hoán đổi với Anh ngữ maxillary (hàm trên), mandibule (hàm dưới), Latin màla, Pháp ngữ mâchoir, hàm. Jaw hoán đổi với Pháp ngữ joue, má. Theo h=c, Việt ngữ hàm = càm, cằm vì thế hàm còn gọi là cấm, răng hàm = răng cấm. Việt ngữ cấm (răng) = hàm (răng) = machoir = má cho thấy cheek hoán đổi vơi chin, cằm, cầm.

……

 

Vì biến âm dẫn đến biến nghĩa. Biến nghĩa trực tiếp hay thẳng có nghĩa y chang; biến âm lệch, biến âm chéo, biến âm hoán đổi vị trí nghĩa có khác đi nhưng vẫn có cùng một gốc nghĩa mẹ. Vì thế các nhà tầm nguyên ngữ học Tây phương giải nghĩa các từ theo biến âm trong ngôn ngữ Tây phương, trong khi tôi giải nghĩa theo biến âm trong Việt ngữ nên có thể có dị biệt nhưng không hẳn là ai sai ai đúng mà cả hai đều có thể đúng cả nếu hiểu theo các qui luật biến nghĩa, ví dụ như trường hợp từ banquet, tiệc, yến tiệc theo Tây phương là “ăn ngồi băng’, banquet có banq- = Pháp ngữ banc, Anh ngữ bank (ghế)”, trong khi, theo tôi, banquet có ban- là bàn, là ‘ăn ngồi bàn’ tức (ăn) cỗ bàn (xem banquet). Ăn ngồi bàn đàng hoàng và đúng nghĩa yến tiệc hơn là ăn ngồi ghế. Xin đừng quá tin vào sách vở ngoại ngữ mà vội vã cho rằng tôi sai.

Trong Việt ngữ tiếng láy, tiếng ghép, tiếng đi đôi với nhau thường có nghĩa như nhau hay gần như nhau, nhìn chung chung có cùng một gốc nghĩa (Tiếng Việt Huyền Diệu).

…….

Ngoài ra cũng xin lưu tâm thêm vài điểm chính yếu.

.Ngôn ngữ thay đổi theo thời gian nên chúng ta không thể đem áp dụng một cách mù quáng những qui luật ngữ pháp, văn phạm của chữ quốc ngữ hiện nay vào công việc nghiên cứu tiếng cổ Việt. Thời cổ Việt không có chữ quốc ngữ, nên không thể nói người cổ Việt nói n, l, ch, tr, s, ch… hỏi, ngã, sắc, nặng, huyền, không dấu sai ngữ pháp hiện nay hay nói ngọng. Các vần ngày nay như ch, tr, l, n… khác cổ Việt, thứ nhất là do sự biến âm lịch sử tự nhiên theo dòng tiến hóa của ngôn ngữ chung của loài người do biến đổi di truyền (nguyên nhân nội tại) hay ngoại cảnh (nguyên nhân ngoại tại) như hàm, lưỡi của con người thái cổ ăn tươi nuốt sống khác với con người hiện tại ăn đồ chín, đồ xay, đồ nghiền bằng máy, con người thái cổ dầm sương dãi nắng hơi thở, miệng lưỡi, giọng nói hiển nhiên khác với con người hiện tại sống trong môi trường điều hòa không khí… và thứ nhì là do những nguyên nhân nhân tạo. Các nhà ngữ học, ngữ pháp học, các “thầy cô” dậy chữ nghĩa đã sử đổi, hệ thống hóa ngôn ngữ cho tiện dụng và tránh không bị lầm lẫn. Hãy lấy một ví dụ là từ dữa, (theo qui luật ngữ pháp hiện nay phải viết là giữa). Việt ngữ dữa đúng nghĩa hơn giữa. Dữa liên hệ với với đũa (hai cái que), với đôi, với trưa (giữa ngày, theo d=tr), với duo, dual… (xem two noon). Dữa là ở điểm hay khoảng nằm cách đều, cách bằng hai đầu, hai bên. Anh ngữ betweenbetween (là twin, two, hai) là “be two in”, nằm giữa hai. Một thời “be” được coi như một mạo từ cổ (old article) như thấy trong believe, begin, berate… So sánh between và Đức ngữ zwischen ta thấy rất rõ. Ngày nay chúng ta dùng giữa đã mất “gốc” vậy mà các nhà nhiều chữ nghĩa hiện nay cho là viết dữa là sai, nhiều người châm chọc người ở một số vùng đất tổ miền Bắc nói theo âm cổ dữa là nói ngọng. Đây là một ví dụ điển hình cho thấy không thể áp dụng các qui luật ngữ pháp hiện nay một cách mù quáng vào việc nghiên cứu tiếng Việt cổ.

.Tôi chỉ giới hạn vào các nghĩa gốc tương đồng và để qua bên các nghĩa phụ, nghĩa bóng bẩy, nghĩa lóng…

.Ngoài ra quyển Từ Điển Tương Đồng Anh Việt này thật sự ra là một thứ Từ Điển Tương Đồng Ấn-Âu Ngữ-Việt Ngữ thu gọn lại. Vì đi tìm sự tương đồng nên phải truy tìm nguồn gốc nghĩa ngữ nên đây cũng là một thứ Từ Điển Tầm Nguyên Nghĩa Ngữ Anh-Việt.

.Cuối cùng để giúp trí nhớ, những từ có âm gần nhau nhưng gốc có thể không liên hệ với nhau tôi cũng viết vào đây để giúp học viên dễ học (trường hợp này thường được ghi chú hay nói rõ là trùng hợp hay dùng nhóm từ nghi vấn như phải chăng… ).

Nguyễn Xuân Quang

Theme: Silver is the New Black. Blog at WordPress.com.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.