Bac Si Nguyen Xuan Quang’s Blog

April 10, 2009

NGUYỄN MẠNH TRINH PHỎNG VẤN…

Filed under: Nói Chuyện Với Ng M Trinh — Quang Nguyen @ 7:01 pm

 

            NÓI CHUYỆN VỚI TÁC GIẢ

“CA DAO TỤC NGỮ, TINH HOA

DÂN VIỆT”.

                    NGUYỄN MẠNH TRINH

 

Nguyễn Xuân Quang  là một cây bút có nhiều chất khai phá, sáng tạo. Điều thành công của ông là tạo riêng cho mình một bản sắc và nổi bật với sự tìm tòi suy tư từ cuộc sống hàng ngày hay trong kinh điển sách vở. Làm thơ, viết tùy bút, truyện ngắn, truyện dài, tất cả đều là công việc đi tìm cho văn chương có những con đường mới chưa có dấu chân đi qua. Những tác phẩm đã xuất bản chứng minh điều ấy và tạo cho ông một vị thế trong văn giới Việt Nam hải ngoại.

    Thời gian gần đây, ông dành tất cả thời gian của mình vào lãnh vực biên khảo. Ông vừa hoàn tất bộ sách ba cuốn “Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt”, “Ca Dao Tục Ngữ, Tinh Hoa Dân Việt” và “Giải Đọc Trống Đồng Đông Nam Á”. Đó là cả một công trình, tổng hợp của sự tìm kiếm tài liệu cũng như công phu suy ngẫm. Có tài liệu đã khó mà sử dụng sao cho hợp lý và thuyết phục được người đọc lại càng khó hơn. Đề tài thì chuyên biệt, độc giả bình thường sẽ có nhiều câu hỏi để  khai giải những vấn đề phức tạp và cần nhiều luận lý để phân tích. Ở vai trò của độc giả, chúng tôi nêu lên những thắc mắc để tác giả có thể làm rõ ràng hơn luận thuyết của mình. Coi như là một phương cách để người đọc và người viết có thể chia xẻ với nhau. Có thể, trong một giây phút nào đó, độc giả có thể mường tượng được công việc của người biên khảo…
Xin mời độc giả theo dõi cuộc nói chuyện của chúng tôi với tác giả “Ca Dao Tục Ngữ, Tinh Hoa Dân Việt”, Nguyễn Xuân Quang.

1.    Anh vừa hoàn tất một bộ biên khảo ba cuốn kể trên. Thời gian làm việc bao lâu cho công trình ấy?

Đ.

Thưa anh kể từ khi khởi sự  đến khi viết xong khoảng trên hai mươi năm. Có lẽ  nó kéo dài khá lâu một phần là vì tôi hãy còn hành nghề y khoa toàn thời gian.

2.    Tại sao anh lại chọn lãnh vực của người biên khảo? Có điều gì lôi cuốn anh?

Đ.

Thưa anh, như trong bài Thay Lời Tựa cuốn Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt”, tôi đã  viết đây có lẽ là một cái cơ duyên. Mặc dầu khi còn học ở trung học tôi đã không đồng ý với các bài học về cổ sử Việt nhưng  như anh biết tôi khởi sự viết thơ, truyện ngắn, truyện dài. Khi xa rời quê hương, cái nguồn cội Việt,  ngôn ngữ Việt trở thành một trong những lẽ sống.  Có lẽ đây cũng là một động cơ thúc đẩy tôi thấy đi tìm cái cốt lõi của văn hóa  Việt, nhận dạng ra cái khuôn mặt đích thực của người Việt. Tôi có lúc cũng cho rằng đi tìm nguồn cội, bản sắc mình là một điều cần thiết. Nếu những điều khai phá của tôi đúng là sự thật thì chúng sẽ làm thay đổi hẳn những quan niệm về văn hóa cổ sử Việt hiện nay nghĩa là nó  có thể ảnh hưởng lên cả tộc Việt, nhất là các thể hệ sau này và nó cũng thể  hé mở ra một cánh cửa giúp các nhà nghiên cứu về các nền văn hóa cổ của nhân loại.

3.    Viết biên khảo có khác với công việc làm thơ, viết văn?

Đ.

Hiển nhiên là rất khác. Làm thơ viết văn và biên khảo đều cần có sáng tạo, khai phá nhưng làm thơ viết văn mang nhiều cảm quan cá nhân mình còn biên khảo phải sáng tạo, khai phá dựa trên những dữ kiện chính xác không mang nhiều cảm quan cá nhân, không tưởng tượng mông lung, không suy diễn vô căn cứ. Mỗi điều nói ra, viết ra phải dựa trên chứng cớ.  Phải trung thực. Tốn  rất nhiều công lao, tiền bạc và thời giờ. Tôi có thể viết xong một truyện ngắn trong vài ba ngày nhưng đã phải mất vài ba năm mới giải đọc được cái “hoa văn” gọi là “họa tiết lông công” trên trống đồng Ngọc Lũ I.

4.Đi tìm nguồn gốc cổ sử Việt trong tác phẩm của anh có khác với những luận thuyết đã có từ trước?

Đ.

-Tổng quát mà nói rất khác. Đây là những khai phá. Những điều tôi đưa ra  gồm hai phần. Phần thứ nhất khác hẳn với dòng tư tưởng hiện nay nghĩ về cổ sử Việt, văn hóa Việt. Ví dụ những khai phá về trống đồng Đông Sơn khác với các tác giả hiện nay ở trong nước cũng như trên thế giới trăm phần trăm. Phần  thứ hai là những  điều tôi đưa ra đã có nhiều tác giả đã đề cập tới nhưng  nhìn dưới lăng kính khác, chưa tới nơi tới chốn hay hiểu lệch lạc đi. Ví dụ  linh mục Cadière trong bài viết “Tín ngưỡng và Tập tục tôn giáo của người Việt Nam” (Croyances et Pratiques religieuses des Vietnamiens) đã nói tới tục thờ cây cối của người Việt từ thời thái cổ. Giáo sư Nguyễn Đăng Thục trong Lịch Sử Tư Tưởng Việt Nam cũng viết một chương về “Tục Thờ Cây, Đá ở Việt Nam”.  Nhưng cả hai tác giả đã không nhận ra là tục thờ cây cổ thụ của cổ Việt cũng giống y hệt như sự thờ phượng cây cổ thụ  nằm trong vũ trụ giáo thấy trong rất nhiều tôn giáo cổ ở nhiều nơi trên thế giới. Cái cây thờ đó của chúng ta là cây đa. Đây là Cây vũ trụ (Cosmic tree), Cây đời (Tree of Life)  của Vũ trụ giáo như tôi đã viết trong bài “Cây Đa Rụng Lá Sân Đình”.

5.    Phương pháp anh tìm tài liệu như thế nào? Những nguồn gốc cũng như sự đãi lọc, kiểm chứng?
Đ.

-Chủ đích tìm tài liệu để biện minh đề thuyết mình đưa ra.  Tìm tài liệu để viết khảo cứu văn học cũng giống như tôi tìm các tài liệu để viết một bài khảo cứu y khoa, giống như tôi tìm tất cả các dữ kiện để chẩn đoán một thứ bệnh nan giải. Tìm bất cứ ở nơi nào. Nhiều khi cần tới cả hệ thống internet, hệ thống thư viện Hoa Kỳ để tiếp cận với các hệ thống thư viện, tin học thế giới… Có khi rất tốn kém phải trả  tiền công, lệ phí  photocopy, bưu phí… Có nhiều tài liệu không cho phép sao chép phải đích thân đến tận hiện trường… Một điều đáng buồn là các tài liệu trên thế giới rất nhiều  trong khi tài liệu từ Việt Nam  rất hạn hẹp. Nhiều khi viết một vấn đề liên hệ tới cổ sử Việt phải suy luận lòng vòng,  đến khi có tài liệu thì thấy nó nằm chình ình ngay trước mắt chẳng  cần phải giải thích gì cả. Tài liệu giống như nguyên liệu thô cần phải đãi lọc, tinh luyện, kiểm chứng. Nhiều khi tài liệu của người khác dùng như một khối đá sần sùi  trông như một cục đá tầm thường nhưng dùng con mắt quang tuyến X, mình lại thấy được đó là một khối ngọc quí giá. Tôi phải kiểm chứng bằng phương pháp tổng hợp dựa vào sử sách, tài liệu đã thành văn,  sử  liệu, truyền thuyết, huyền thoại, dân tộc học, nhân chủng học, ngữ học,  khảo cổ học vân vân và vân vân. Cũng vì thế  tôi kiểm chứng những khai phá của mình qua ba  tác phẩm bao gồm hết mọi diện vừa kể. Quyển đầu là Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt dựa vào sử sách. Quyển thứ hai là Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt, dựa vào sử miệng, di ngôn của tổ tiên để lại. Quyển thứ ba “Giải Đọc Trống Đồng Đông Nam Á” dựa vào khảo cổ học, đặc biệt là trống đồng, tôi gọi là sử đồng.

6.    Mục đích của anh khi viết bộ  biên khảo này? Có phải là để tìm những cốt lõi của văn hóa Việt Nam?

Đ.

Đúng vậy. Để nhận dạng ra cái  cốt lõi của văn hóa Việt, nhận diện ra khuôn mặt thật của người Việt.
7.    Trong cuốn sách đã xuất bản, anh đã đề cập đến vũ trụ giáo, đạo thờ Mặt trời và Việt Dịch nòng nọc. Vậy anh có thể giải thích rõ hơn về những vấn đề này?

Đ.

Trước hết xin nói sơ qua về vũ trụ giáo và đạo mặt trời. Đại lược thì Vũ trụ tạo sinh (cosmogony) dựa trên nguyên lý lưỡng hợp,  lưỡng thể, nhị nguyên.  Vũ trụ khởi đầu  từ Vĩnh cửu (Eternity), cái Không thể biết (the Unknowable). Bắt đầu là một cái bọc trống không  hư vô, Vô cực (Nothing). Vô cực được coi là một cái bọc, cái túi, cái nang  trống không diễn tả bằng chữ nòng nọc là cái vòng tròn O mang nghĩa số Không. Từ đó  phân cực thành Thái cực (Great Ultimate, The Grand Ridge-pole).  Thái cực coi như là một cái trứng vũ trụ. Lòng trắng là âm là nòng, tròng đỏ là dương là nọc. Rồi Thái cực phân ra thành Lưỡng nghi (Liang I): Nòng,  âm (Feminine or negative principle, Yin) và Nọc, dương (Masculine or positive principle, Yang).
Nòng nọc, âm dương liên tác sinh ra Tứ tượng (Four Hsing, Four Great Primary Forces). Nòng âm tròng trắng của trứng vũ trụ gồm hai phần: phần dưới mang hoàn toàn  âm tính hay thuần âm, nói theo thuật ngữ Dịch là thái âm, nói theo vũ trụ tạo sinh là nước vũ trụ, nói theo truyền thuyết là “phần nặng lắng xuống dưới là nước”.
Phần trên nhẹ, là phần nòng âm có mang dương tính, nói theo Dịch là thiếu âm, nói theo vũ trụ tạo sinh là khí vũ trụ, nói theo truyền thuyết là phần nhẹ bay lên trên là khí. Tương tự nọc dương cũng có hai phần: một phần thuần dương, thái dương, lửa vũ trụ. Một phần dương có âm tính hay thiếu dương, đá vũ trụ. 
Tứ tượng trong vũ trụ tạo sinh gồm Lửa, Nước, Đá, Khí vũ trụ (comic Fire,  cosmic Vapor,  Meteorite, cosmic Gas or ether). Tứ tượng vận hành (in movement, in motion, in action) trở thành Tứ hành (active, dynamic Four Great Primary Forces). Âm Dương, tứ hành vận hành, chuyển hành, liên tác với nhau dưới dạng năng động tạo ra vũ trụ vạn vật, tạo ra Tam thế (Triple world),  tạo ra sự sống (Life), sinh ra con người và vạn vật sống,  thường được biểu tượng bằng hình một cái cây gọi là Cây đời (Tree of Life), Cây vũ trụ (Cosmic tree), Cây Tam thế (Tree of Triple world).  Vòm cây biểu tượng cõi trên, thân cây biểu tượng núi nọc, cổ ngữ Việt gọi là nổng (nổng biến âm với nống là cái nọc dùng để chống, đỡ), biểu tượng núi trụ thế gian, đôi khi gọi là trụ chống trời. Rễ cây là cõi dưới, cõi âm. Thân cây cũng được coi là trục thế giới (axis mundi) thông thương ba cõi. Con người sống và sau khi chết ở trong ba cõi đó  theo một vòng tử sinh hằng cửu, vĩnh cửu. Đại để đó là Vũ trụ luận. Vũ trụ luận có “kinh” là Dịch dựa trên vũ trụ tạo sinh. 
Còn đạo Mặt trời nguyên thủy là một phần  của vũ trụ giáo. Đây là nửa phần dương nọc của vũ trụ giáo đi đôi  với phần kia là phần âm nòng. Thời phụ quyền cực đoan đạo Mặt trời ngự trị trong vũ trụ giáo và thống lĩnh, thay thế vũ trụ giáo.
Việt Dịch nòng nọc là một thứ Dịch riêng của Đại tộc Việt dựa trên nòng âm và nọc dương, được  viết bằng chữ nòng hình vòng tròn (O) và chữ nọc hình que (I). Việt Dịch nòng nọc viết bằng chữ nòng vòng tròn và chữ nọc hình que còn ghi khắc lại trên trồng đồng Đông Sơn mà các nhà khảo cổ học ngày nay gọi là các “hoa văn hình vòng tròn, vòng tròn có chấm, vòng tròn kép đồng tâm, vòng tròn kép đồng tâm có chấm; hình tiếp tuyến, hình răng lược, hình răng sói…”.

8.    Như vậy, vũ trụ giáo, mặt trời giáo, Dịch nòng nọc có liên quan đến cổ sử Việt và văn hóa Việt?

Đ.

Vâng. Rất là sâu đậm. Đây chính là cái cốt lõi của văn hóa cổ Việt. Hãy lấy một vài ví dụ đại lược để làm sáng tỏ:

-Hư không, vũ trụ:

Nhìn dưới lăng kính tôn giáo là Tạo hóa, đấng chí tôn…:

.Truyền thuyết  nguyên khai chung của đại tộc Việt ngày nay còn thấy ở các tộc còn giữ được truyền thống cổ sơ cho rằng con người sinh ra từ một trái bầu (xin mở một dấu ngoặc ở đây, truyền thống hay huyền thoại nguyên khai thấy ở các tộc còn bán khai được coi như còn trinh nguyên, nguyên thủy trong khi truyền thống, huyền thoại viết lại thời cận đại bởi các nhà nho Việt Nam đã bị sửa lại, san định lại cho hợp với “vòng lễ giáo” của đạo giáo Trung Hoa, Phật giáo và tư tưởng thuần lý Tây phương, nhiều khi sai lệch). Bầu có nghĩa là bao bọc mang ý nghĩa túi hư không, vũ trụ.

.Truyền thuyết của Mường có  bọc trứng chim.

.Truyền thuyết hiện nay của Việt Nam là  cái bọc trứng “ở ngoài đồng”  nở ra các vua mặt trời Hùng. 

.Nguồn gốc của đại tộc Việt xuất phát từ Động Đình Hồ.  Hồ là cái bọc nước biểu tượng hư vô mang âm tính, là biển vũ trụ (cosmic ocean) của dòng nòng nước. Đại tộc Việt có gốc là dòng nước, về  phương diện  xã hội, chúng ta theo mẫu hệ.

.Núi Tản Viên của chúng ta có một khuôn mặt  là núi Hòn Trứng biểu tượng cho Trứng Hư vô, Trứng vũ trụ…

.Người Ao Naga (Âu-Giao, Âu-Long) ở  Assam, vùng cực tây địa khối Vân Nam có hèm (taboo) không ăn trứng vì thờ phượng trứng vũ trụ. Họ là Âu- Giao, Âu Long tức Âu Rắn, Âu Rồng thuộc dòng nòng vì thế  vật tổ là nòng trứng vũ trụ nên có hèm kiêng kị không ăn trứng. Chỉ các ông mo khi cầu đảo, cầu mưa mới vào rừng nhặt trứng, hút trứng, ăn xong treo vỏ lên cây để cầu mưa, cầu đảo. Họ cho rằng ăn trứng tổ tức ăn vật tổ vào người để thân xác phàm của họ hòa đồng cùng trứng hư vô vũ trụ, cùng với Tạo hóa nên cầu mưa  mới linh được. Trường hợp này cũng giống như  ông Dóng Phù Đổng thiên vương ăn cà, một thứ quả hình trứng, (Anh ngữ gọi cây cà là egg-plant) biểu tượng trứng hư không,  là ông nuốt cả hư không, cả trứng vũ trụ vào người, do đó  ông trở thành ông khổng lồ, ông thần sấm dông gió, có sức mạnh như dông tố.

.Người Chàm theo mẫu hệ, con cái lấy họ mẹ, khi chết chôn trong chum vò (ở Sa Huỳnh mới đây khám phá ra được hàng ngàn ngôi mộ người chết chôn trong các chum vò). Người chết để ngồi bó gối như một thai nhi ngồi trong dạ con (fetal position). Chum vò biểu tượng nòng hư vô, túi không gian, tử cung của mẹ vũ trụ.
Con người sinh ra từ cái bọc hư vô, cái dạ con hư vô, khi chết đem chôn trong cái vò cái dạ con của mẹ hư vô để trở về với hư vô và được tái sinh.  Tương tự người cổ Việt được mai táng trong những quan tài hình thuyền như thấy ở khu cổ mộ Việt Khê, Hải Phòng hay các tộc Mường,  các tộc ở cao nguyên ngày nay còn chôn người chết trong các thân cây khoét rỗng, một thứ thuyền độc mộc, đều thuộc dòng nòng nước. Quan tài thuyền đưa hồn người  về  nguồn cội là biển vũ trụ, về với Mẹ nước hư vô, Mẹ tạo hóa.
.Vật tổ chim nông đẻ ra trứng vũ trụ (nông biến âm với nang là túi bọc).
Vân vân và vân.

-Thái cực: 

Hư vô, vô cực phân cực thành nòng nọc âm dương nhưng vẫn còn là một. 
.Âm dương cùng sinh ra từ một “mẹ” vô cực thấy rõ qua các  truyền thuyết nguyên khai của đại tộc Việt  cho rằng hai con người nam nữ  đầu tiên đều là anh em ruột thịt lấy nhau đẻ ra loài người. Truyền thuyết Mường, Đá Cần và Nàng Kịt là hai anh em ruột lấy nhau. Truyền thuyết cận đại của Việt Nam kể bà Âu Cơ lấy  Đế Nghi rồi sau lấy Lạc Long Quân cũng cùng một dòng máu (đã sửa lại để tránh loạn luân cho hợp với đạo giáo Trung Hoa).

.Nguồn gốc của đại tộc Việt xuất phát từ Động Đình Hồ.  Động có một nghĩa là hang biểu tượng cho nòng, âm. Đình biến âm với đinh, vật nhọn là kiến trúc hình nọc nhọn hay  nóc có các phần nhọn biểu tượng cho nọc, dương. Động Đình Hồ  hàm nghĩa hồ nòng nọc, âm dương.
-Lưỡng nghi:

Lưỡng nghi là hai cực lưỡng tính nòng nọc, âm dương đã tách rời ra. Nguồn gốc của đại tộc Việt dựa trên lưỡng hợp âm dương, nhị nguyên nền tảng của vũ trụ luận, của Dịch.

.Xã hội con người ứng với vũ trụ giáo  gồm hai  ngành là  nòng âm và nọc dương.  Xã hội  cổ Việt Nam theo vũ trụ giáo còn thấy rất rõ qua “địa khai ngôn ngữ”. Người cổ Việt sống thành từng đàn, từng bầy  mà ngày nay chúng ta gọi là xã hội. Ngôn ngữ Việt Nam  ngày nay còn thấy hai từ địa khai “đàn ông” và “đàn bà”, tức nói theo ngôn ngữ ngày nay là “xã hội ông” và “xã hội bà”  hay xã hội nòng (âm, mẹ, ngoại, mẫu quyền) và xã hội nọc (dương, cha, nội, phụ quyền).

.Truyền thuyết cận đại: bọc trứng nở ra trăm lang. Năm mươi người theo mẹ lên non là ngành nòng và năm mươi người theo cha xuống biển là ngành nọc nước.

.Cổ sử cũng cho thấy tộc Việt có ít  nhất hai ngành Lạc và Âu, đã có thời kết hợp lại thành Âu Lạc.

.Truyền thuyết Sơn Tinh Thủy Tinh mang tính lưỡng thể, nhị nguyên…

.Tế thực bánh dầy bánh chưng thường được hiểu là trời đất mang tính lưỡng thể, nhị nguyên…

.Ông Đùng, bà Đà… mang tính lưỡng thể, nhị nguyên…

.Vật tổ chim nông, chim cắt biểu tượng lưỡng thể nòng nọc.
Vân vân và vân vân.

-Tứ tượng:

.Tục ăn trầu: Miếng trầu của chúng ta  mang trọn nghĩa vũ trụ giáo. Trong đó cau tiếng cổ Việt Mường là nang, cái trứng, cái bọc biểu tượng hư không, khí gió. Lá trầu là “lá đỏ” biểu tượng cho nữ, nước (vì thế trong truyền thuyết người con gái chết biến thành dây trầu mới có tên là Liên, loài hoa mọc dưới nước. Liên là sen, tiếng cổ Việt sen có nghĩa là nước. Con sen là con hầu lo việc nước nôi). Vôi là đá biểu tượng cho đá đất và miếng vỏ chay hình que biểu tượng cho lửa. Chay biến âm với cháy liên hệ với lửa. Với h câm chay là cay, vị nóng bỏng, Anh ngữ  cũng gọi cay là “hot” (nóng cháy). Bốn yếu tố chính của miếng trầu cau-khí gió, trầu-nước, vôi đá đất và chay-lửa ứng với tứ tượng. 

.Cái đình là ngôi nhà thờ phượng của dòng nọc (nam, nội) mang trọn nghĩa vũ trụ giáo (xem bài viết “Qua Đình Ngả Nón Trông Đình, trong Ca Dao Tục Ngữ, Tinh Hoa Dân Việt).

.Truyền thuyết cận đại Việt Nam:  bốn vị vua tổ Hùng Vương gồm Chàng Lửa Đế Minh, Chàng Nổng Kì  Dương Vương, Chàng Nước Lạc Long Quân và Chàng Gió Hùng Lang (thường gọi là Hùng Vương, tôi thường gọi là Hùng Lang dành từ Hùng Vương chỉ chung cả ba vị vua Hùng thế gian của họ Hồng Bàng). 

.Tứ bất tử:  Phù Đổng thiên vương: vị Thần có cốt là sấm dông gió, gió lửa (Phù là gió nổi),  Chử  Đồng Tử   là “Cậu Bé ven sông”  là  khuôn mặt nam của dòng nước; nước dương; Liễu Hạnh công chúa, còn gọi là Địa Mẫu, Mẹ Đất là đất âm và Tản Viên có  một khuôn mặt là  Sơn Tinh, Kỳ Mang (Thú đực có sừng) biểu tượng cho nổng, núi lửa, lửa thế gian.

.Vật tổ chim: chim di biểu tượng lửa, chim sáo sậu hay sáo đá biểu tượng đá đất, sáo đen biểu tượng nước và tu hú biểu tượng gió ứng với tứ tượng.
vân vân và vân vân…

-Cây Vũ trụ, Cây Đời: 

.Theo truyền thuyết Mường Việt người đàn bà đầu tiên của nhân loại là Dạ Dần đẻ ra từ một cây si, thuộc họ nhà cây đa, tức một loại cây thiêng biểu tượng cho Cây Đời, Cây Vũ trụ trong vũ trụ giáo. Người Thái ở Nghệ An cũng có truyền thuyết cây 
đa là Cây Vũ trụ. Người Mường cũng có cây chu đồng,  truyền thuyết cận đại Việt Nam có cây chiên đàn mang hình bóng cây đời, trục vũ trụ.  Gần đây chúng ta còn thờ cây đa.  Cây đa là cây thiêng, cây thờ nên trồng bên đình chùa.

.Núi Tản Viên cũng được nhìn như một cái lọng nên cho là có hình tán, hình lọng, “núi thắt cổ bồng mà có thánh sinh”. Dù, lọng thời phụ quyền cũng được coi là biểu tượng của Cây Đời, Cây Vũ trụ. Điểm này thấy rõ nhất là người Ngaju, một tộc Dayak có cây dù payong biểu tượng cho  Cây Đời, Cây Tam thế.

.Cái bàn thờ hồn lúa (autel à l’âme du riz, J. Cuisinier, Les Mường, tr. 207) của người Mường hiện nay cũng mang hình ảnh Cây Đời, Cây Vũ Trụ. Nóc hình cái nón lá là  vòm trời, cõi trên; sàn hình vuông, cõi giữa, cõi đất; gầm sàn là cõi dưới; thân trụ tròn là trục thế giới.
  Vân vân và vân vân.
-Tam thế: Ba cõi

.Người Mường  cũng có ba cõi thấy qua cái bàn thờ Tam Phủ tức Tam thế, Ba cõi mà J. Cuisinier trong quyển Les Mường đã mô tả  cái ” Bàn thờ ba chân cúng vua Tam phủ , vua ba cõi…” (Le trépied, fig. 72,5, est offert à Bua Tam phủ, le roi des trois mondes…). 

.Bên trong vài cái đình cổ Việt Nam có gác lửng thờ cõi trên, lòng đình là cõi giữa và sàn lõm hình thuyền biểu tượng cõi nước, cõi dưới hoặc đình làm theo kiểu nhà sàn cũng mang biểu tượng tam thế.

.Truyền thuyết cận đại Việt Nam chúng ta cũng có ba vị vua mặt trời họ Hồng Bàng thế gian ứng với ba cõi: Kinh Dương Vương hay Kì Dương Vương  nói theo từ thuần Việt là Chàng Kẻ, Chàng Nổng (Núi nọc). Kì Dương Vương vua Kì (Đất) vua Kẻ (nống, núi nọc), có vật biểu là Lộc Tục, Con Hươu nọc. Hươu là biểu tượng cho dương trần, cõi giữa. Hán ngữ “lộc” có chữ “trần” là “bụi”.  Lạc Long Quân, Chàng Nước là vua Cõi nước, có khuôn mặt cõi dưới, cõi âm là Long Vương, có thủy phủ ở Vịnh Hạ Long và Hùng Lang. Lang là dạng dương của Nang (khí gió) ứng với cõi trên.
.Núi Tản Viên còn có tên là núi Ba Vì ứng với Ba Vị vua Hùng thế gian và rõ nhất là núi Tản Viên  còn gọi là núi Tam Từng biểu tượng Tam thế….
Vân vân và vân vân…

-Trục thế giới, trụ chống trời:

Trụ chống trời thường được hiểu theo hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất là núi trụ thế gian, núi chống trời, núi vũ trụ. Nghĩa thứ hai là bên trong trụ chống trời có trục thế giới (axis mundi) thông thương ba cõi. Chúng ta có những ngọn núi Kình Thiên Trụ (Trụ chống trời), Không Lộ, Thạch Môn ở Sơn Tây.

.Ca Dao cũng nói tới ông trụ trời:

        Nhất, ông đếm cát,
        Nhì, ông tát bể,
        Ba, ông kể sao,           
        Bốn, ông đào sông,
        Năm, ông trồng cây,
        Sáu, ông xây rú,
        Bẩy, ông trụ trời.

.Truyền thuyết cận đại Kinh Dương Vương hay Kì Dương Vương nói nôm na là Chàng Kẻ, Chàng Nổng, Núi Nọc mang hình bóng của núi Trụ chống trời, Núi trụ thế gian, bên trong có trục thế giới thông thương ba cõi vì thế truyền thuyết mới chép rằng ” Kinh Dương Vương có nhiều phép lạ có thể đi lại trên trời và dưới nước được”. Cũng vì “có tài đi dưới thủy phủ” nên Kinh Dương Vương xuống cõi nước lấy Thần Long (Lĩnh Nam chích quái, tr. 21).

.Như đã nói cây chu đồng của Mường,  cây chiên đàn của Việt Nam cũng mang hình ảnh trụ chống trời, trục thế giới. Kinh Dương Vương vì có bản thể Trụ chống trời, trục thế giới nên diệt được Mộc Tinh chiên đàn.
Vân vân và vân vân…

-Dịch lý :

Bốn tổ mẫu và bốn tổ phụ của chúng ta ứng với bát quái của Dịch.  Nếu ta dùng Dịch âm dương đề huề còn thấy trên lá bùa trừ tà dùng trong dân gian Việt Nam thì Chàng Lửa Đế Minh ứng với Càn có vợ là  Nàng Nước, vịt trời Le Le Vụ Tiên, ứng với Khôn; Chàng Nổng Kì Dương Vương ứng với Li có vợ là  Nàng Gió Long Nữ ứng với Khảm; Chàng Nước Lạc Long Quân ứng với Chấn có vợ là  Nàng Non  Âu Cơ ứng với  Cấn (vì vậy nên truyền thuyết mới nói năm mươi Lang theo mẹ lên núi) và Chàng Gió Hùng Lang ứng với Đoài (theo Dịch nòng nọc vũ trụ tạo sinh, ở cõi vũ trụ Đoài là cái bọc lửa, bọc dương là Gió dương, còn theo Dịch Trung Hoa hiểu theo cõi thế gian là bọc dương thế gian tức bọc nước ấm là ao đầm) có vợ là Nàng Lửa ứng với Tốn, gió âm.
-Vũ trụ luận:

.Bài đồng dao “Bồ nông là ông bổ cắt”  như tôi đã viết rất rõ trong hai tác phẩm Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt và Ca Dao Tục Ngữ, Tinh Hoa Dân Việt mang trọn ý nghĩa vũ trụ luận.

.Cái đình mang trọn vẹn ý nghĩa vũ trụ luận.

.Miếng trầu cau cũng mang trọn vẹn ý nghĩa vũ trụ luận.

Vân vân và vân vân….
Còn nói về Đạo mặt trời thì dấu tích thờ phượng mặt trời từ thời thượng cổ  còn thấy qua những hình khắc vẽ trên đá ở Mường Hoa với hình người đầu mặt  trời, hình người có hình mặt trời xoắn ốc mang nghĩa sinh tạo ở giữa hai chân và hình mặt trời riêng rẽ. Những hình khắc trên vách đá ở Hoa Sơn, Quảng Tây, tức địa bàn cũ của Bách Việt cũng diễn tả cảnh thờ phượng mặt trời. Truyền thuyết  cận đại cũng đã xác nhận Đế Minh là cháu ba đời thần mặt trời Viêm Đế. Các vua Hùng của chúng ta là  dòng dõi mặt trời, là các vua mặt trời. Theo truyền thuyết  chúng ta là họ Hòng Bàng là  Họ Đỏ, Họ Tỏ, Họ Mặt trời. Họ Mặt trời Hồng Bàng gồm có hai ngành Nòng Nọc. Ngành Nọc là ngành mặt trời mang nọc tính, dương tính, Hùng tính, chói chang, hừng rạng tức là ngành Hùng Dương (Mặt trời hừng hực, nóng chói chang) mà hiện giờ chúng ta hay nói là Hùng Vương, có vua thái tổ là Kinh Dương Vương. Ngành nòng là ngành mặt trời mang nòng tính, âm tính, dịu êm, An tính  tức là ngành An Dương (Mặt trời dịu êm) có vua thái tổ là An Dương Vương… Chúng ta là Xích Quỉ tức Kẻ Đỏ, Kẻ Tỏ, Kẻ Mặt Trời, Người Mặt trời; chúng ta là Man, Mán, Mường có nghĩa là Người. Người là Ngời, là Tỏ, là Đỏ là mặt trời… Âu Cơ là thái dương thần nữ của chúng ta (KQKTCSHV). Cái nón thúng cổ truyền của phụ nữ Việt là cái nón thúng mặt trời, J. Cuisinier trong Les Mường cũng gọi cái nón này là “le chapeau de soleil”. Mâm sôi gấc là hình ảnh mặt trời hừng rạng. Cái bánh đa cũng là hình ảnh của mặt trời nóng bỏng đang sôi sùng sục. Đây là hai thứ tế thực thờ mặt trời mà ngày nay ít ai biết.  Còn rất nhiều nữa mà tôi đã viết  trong hai tác phẩm đã xuất bản là Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt và Tục Ngữ Ca Dao, Tinh Hoa Dân Việt. Chứng tích hùng hồn nhất, cụ thể nhất, kiên cố nhất  của  sự thờ phượng mặt trời của người cổ Việt còn ghi khắc rõ qua hình mặt trời trên trống đồng mà tôi may mắn đã giải đọc được các chữ nòng nọc viết trên trống đồng, sẽ trình bầy trong tác phẩm Giải Đọc Trống Đồng Đông Nam Á.

9.    Anh có nghĩ đó là một khai phá táo bạo và còn sẽ có nhiều bổ khuyết sau này?

Đ.

Có thể đối với nhiều người đây là một khai phá táo bạo như anh nói.  Đối với tôi vì nắm trọn vấn đề nên chẳng có gì là táo bạo cả. Chính vì đã nghĩ đến  có thể có những người  cho tôi là “táo bạo” hay “không tưởng”…. nên tôi đã phải viết tới ba quyển sách để  thuyết minh.

Như tôi đã nói trong phần Thay Lời Tựa trong quyển Khai Quât Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt sự khai phá nào cũng cần bổ khuyết, sửa sai lại cho hoàn hảo.

10.    Dịch học từ xưa đến nay được coi là có nhiều ẩn tàng sâu sắc chưa khám phá hết. Và nguồn gốc thì hầu như đều cho là có xuất phát từ Trung Hoa. Nhưng anh cho rằng nguồn gốc có liên hệ nhiều đến Việt Nam. Có phải đó là một táo bạo?

Đ.

-Vâng, Dịch kinh là một thứ  kỳ thư trên thế giới. Khổng Tử đã từng nói nếu trời cho ông ta sống thêm vài năm nữa thì ông sẽ hiểu thêm Dịch nhiều hơn nữa. Phần lớn cho Dịch  xuất phát từ Trung Hoa. Sỡ dĩ như vậy vì  các nhà tư tưởng, triết gia Trung Hoa  đã diễn giải ghi chép rộng rãi và đã dùng Dịch vào khoa  bói toán, lý số, phong thủy. Đó là Chu Dịch. Chu vốn là một thứ “rợ” ở phía Tây Trung Hoa vào Trung Nguyên đánh đuổi Thương Ân.  Vua nhà Chu đầu tiên là Chu Văn Vương  tự cho là tác giả  Chu Dịch hay Dịch Văn Vương  tự xưng là thừa “mệnh trời” thay Thang Ân cai trị dân. Nhà Chu đã đem Dịch diễn giải theo bói tóan, lý số, phong thủy vào việc cai trị dân. Thế giới bên ngoài thường  tiếp xúc và chỉ nghĩ tới anh khổng lồ Trung Hoa mà quên rằng một phần lớn dân Trung Hoa  ở hạ lưu sông Dương Tử  có nguồn gốclà đại tộc Việt.  Điều này giống như trường hợp trái khế chẳng hạn, người Anh tới Mã Lai thấy trái khế đầu tiên trong đời họ nên gọi là trái “Malaysian fruit”, sự thật đâu phải là trái khế có nguồn gốc khởi thủy ở Malaysia.
Như đã nói, chúng ta cũng có một loại Dịch riêng mà tôi gọi là  Việt Dịch nòng nọc,  chẳng có  gì là  “táo bạo” cả.  Tôi đã cố gắng thuyết minh trong hai tác Phẩm Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt và Ca Dao Tục Ngữ, Tinh Hoa Dân Việt đã ra đời nhưng  vì một lý do này hay một lý do khác có lẽ  nhiều người còn cho tôi là “táo bạo”. Chắc phải đợi đến quyển Giải Đọc Trống Đồng Đông Nam Á có lẽ mới có thể  chinh phục được hoàn toàn vì Dịch nòng nọc đã được khắc ghi lại trên trống đồng, có thể thấy bằng mắt trần, có thể sờ thấy được. Với sự khám phá của tôi về Dịch nòng nọc trên trống đồng thì nguồn gốc của Dịch cho là của Trung Hoa phải xét lại.

Còn về điểm anh nói tôi cho rằng nguồn gốc Dịch có liên hệ nhiều đến Việt Nam là một điều táo bạo thì xin giải thích:

*Trước hết hãy xét về Dịch Trung Hoa

Trung Hoa có nhiều loại Dịch như Phục Hy, Văn Vương… Dịch Phục Hy cho là cổ nhất. Vậy ta thử  mổ xẻ nguồn gốc Dịch Phục Hy xem sao. Có nhiều nghi vấn về nguồn gốc của Dịch Phục Hy là của Trung Hoa.
-Về nhân vật Phục Hy được cho là tác giả  của Dịch Phục Hy:

.Tôi đã dùng cách giải tự  nghĩa ngữ cho thấy Phục biến âm với Phúc là bụng, xoang, bọc. Hy biến âm với Hí (tiếng kêu). Phục Hy lá cái Bọc Hí tức cái Túi gió. Cũng vì thế ông còn có tên là Bào Hy với Bào là cái bọc, cái túi, Bào Hy là cái Bọc Hí, Túi gió. Qua tên cho thấy ông thuộc dòng Nòng dương tức Nòng Khí gió (nói tổng quát ông thuộc dòng Nòng nhưng vì là đàn ông nên là Nòng dương, trong khi Nữ Oa có đuôi rắn là Nòng âm, nước). Điều này cũng thấy rõ như ban ngày là Phục Hy cũng có cái đuôi rắn mà rắn là biểu tượng cho nước (nòng âm). Khuôn mặt dương của rắn là rồng, một loại linh vật có cốt rắn  biết bay biểu tượng cho khí gió.  Điều này thấy rất rõ  qua Thần khí gió của Aztecs là con Rắn Lông chim (Feathered serpent) Quetzal Coatl . Rắn Lông chim là “Rắn chim”, “Rắn bay” tức là một loại rồng. Cũng chính vì nòng dương là khí gió có biểu tượng là rồng rắn bay mà Phục Hy còn có hiệu là Thanh Tinh Rồng xanh.  Do đó Dịch Phục Hy là Dịch mang tính dòng Nòng, có nguồn gốc từ sông nước. Điểm này ăn khớp trăm phần trăm với sự kiện là Phục Hy dựa vào Hà Đồ ở sông Hà và Lạc Thư ở sông Lạc mà vẽ ra bát quái. Như thế Dịch Phục Hy gốc từ dòng nước cùng gốc với Việt Dịch nòng nọc của Việt Thường viết trên lưng rùa [xin mở một dấu ngoặc ở đây: Việt Thường nếu hiểu là hai danh từ  riêng biệt ghép lại thì Việt là vớt (con dao lớn), rìu  (vật nhọn) biểu tượng cho nọc, dương còn Thường biến âm với Thuồng là loài sống dưới nước, loài linh vật có cốt rắn như thuồng luồng. Việt Thường hàm nghĩa nọc nòng, lửa nước âm dương là hai tộc Nọc Việt, nòng  Việt. Nếu hiểu Việt là tính từ thì Việt Thường thuộc dòng tộc Nòng Việt]. Ta cũng thấy Phục Hy thường được vẽ với hình con rùa nên rất gần cận với con rùa của Dịch Việt Thường. Như thế Dịch Phục Hy và Dịch Việt thường có cùng một nguồn gốc thuộc dòng Nòng nước-khí. 
.Giáo sư Kim Định đã “thử máu văn hóa” cho rằng Phục Hy và Nữ Oa là người Hoàng Việt.
.Nhiều người khác cũng xác nhận là các truyền thuyết Trung Hoa viết từ đời nhà Hán đều vay mượn từ các truyền thuyết của các tộc phía nam sông Dương Tử, địa bàn của Miêu, Man, Việt… trong đó có Bàn Cổ, Nữ Oa, Phục Hy ví dụ thần thoại Mán cũng có Nhiêu Vương và Bàn cổ.
.Chúng ta cũng có truyền thuyết ông Khổng Lồ và Bà Nữ Oa. Ông Khổng Lồ là ông có cốt gió khí như Phục Hy. Thần gió là một ông khổng lồ. Ông này  giống như ông Dóng có cốt sấm dông gió  ăn cà trở thành người khổng lồ. Phục Hy Nữ Oa chính là hình bóng của ông Khổng Lồ và bà Nữ Oa của chúng ta.

.Theo truyền thuyết Nữ Oa là “một thứ ốc có hai ngà”  (Kim Định, Việt Lý Tố Nguyên, tr. 274). Ốc, sò biểu tượng cho phái nữ, nước, nòng hư không âm.  Maya Trung Mỹ, một tộc thờ mặt trời dòng nòng, có nhiều điểm tương đồng với chúng ta. Có tác giả cho rằng Maya là một thứ Bộc Việt. Họ cũng có Dịch như tôi đã trình bày trong Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt. Maya có con số không zero (biểu tượng cho hư không) là con sò có hai cái nanh. Rõ ràng con ốc có hai ngà và con sò có hai nanh là một. Như thế họ cũng có một thứ Nữ Oa suy ra cũng có một thứ Phục Hy và hiển nhiên Dịch của họ cũng liên hệ tới hư không con sò hai nanh tức liên hệ với một thứ Nữ Oa-Phục Hy. Dĩ nhiên Dịch của họ  cũng như con sò hai ngà của Maya  khó có thể  coi là phát xuất từ Trung Hoa. Điều này cho thấy Nữ Oa và dĩ nhiên cả Phục Hy (cả hai sinh ra từ một cái trứng) không  hẳn là có gốc  từ  Trung Hoa.

Như thế  qua những điều vừa kể  ta thấy rõ Phục Hy không phải có gốc từ Trung Hoa, do đó Dịch Phục Hy  không hẳn là của Trung Hoa mà có thể đã phát xuất từ Dịch Việt Thường.

-Âm Dương không phải là độc quyền của người Trung Hoa. Nguyên lý lưỡng hợp, nhị nguyên, âm dương, tứ hành không phải chỉ thấy ở Trung Hoa mà  trong Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt tôi đã chứng minh là còn thấy ở nhiều nơi trên thế giới như ở  Ấn Độ, Lưỡng Hà, Ai Cập và ở các tộc hầu như không liên hệ gì  với Trung Hoa như Maya, Aztecs… Những thạch bài của Aztecs  có khắc âm dương tứ hành đã được định tuổi cách đây cả chục ngàn năm. Maya  một tộc liên hệ gần gũi với Aztecs cũng có Dịch. Người Dayak ở Nam Hải mà giáo sư Kim Định cho họ là một thứ Bộc Việt, cũng có nguyên lý lưỡng hợp âm dương chim bổ cắt-rắn nước, cũng có Cây đời, Cây vũ trụ của vũ trụ giáo (x. KQKTCSHV).   Ngay  cạnh Trung hoa, Tây Tạng cũng có một loại Dịch riêng mà cách xắp xếp các quẻ khác với Dịch của người Trung Hoa.

-Theo Richard Wilhelm trong “The I Ching or Book of Changes”, nhà xuất bản New York, thì  Trung Hoa không phải là xuất xứ của Kinh Dịch vì tên các quẻ trong bát quái không được dùng phổ thông trong ngôn ngữ thông dụng của Trung Hoa. Tôi đã chứng minh tên các quẻ này  là biến âm của Việt ngữ:  Càn (lửa trời) liên hệ với chàn,  chang (nóng, nắng), với cần, cành (que, nọc nhọn , dương). Càn là nọc nhọn thấy rõ  qua cái  cái đòn xóc  của dân dã Việt Nam dùng để gánh lúa có đầu vát nhọn như mũi mác, mũi  lao  gọi là cái đòn càn.  Khôn (hư không, không gian) là không là trống, rỗng hư vô là nòng. Li (Lửa) biến âm với ló, lá, lửa. Khảm biếm âm với khẳm (thuyền chở khẳm, nước mấp mé thành thuyền), cùng gốc với kha (Mường ngữ là “bẫy bắt cá”), ka, cá liên hệ tới nước… Cấn (núi)  biến âm với cần (cây, trụ, nọc). Núi là trụ đất. Chấn (lửa nước, sấm, theo ch=s như chữa = sửa, ta có chấn = sấn, sấm) và Tốn (gió) biến âm với tông, dông.

*Thứ đến chúng ta có một loại Dịch riêng hay không?

  Thật vắn tắt, tôi xin chứng minh là Việt Nam có một loại Dịch riêng  viết bằng chữ nòng nọc:
-Qua sử sách: chúng ta còn tìm thấy những dấu tích của một thứ Việt Dịch nòng nọc đó là Dịch nòng nọc của Việt Thường khắc trên lưng rùa tặng vua Nghiêu.  Sách Thông Chí của Trịnh Tiều đã chép: “Về đời Đạo-đường nhà Nghiêu phương Nam có họ Việt-thường dùng người thông ngôn hai lần đến chầu dâng rùa thần chừng nghìn tuổi, vuông hơn ba thước, lưng có chữ khoa đẩu (nòng nọc) — chép từ khi mở ra trời đất trở về sau. Vua Nghiêu sai sao lấy, gọi là lịch rùa”. Năm đó là năm vua Nghiêu thứ 5, tức 2.361 trước Tây Lịch. Chữ Nòng Nọc viết trên lưng rùa “vuông ba thước”, “chép từ khi mở ra trời đất trở về sau” chính là Việt Dịch Nòng Nọc diễn dịch về vũ trụ tạo sinh.  Lưng rùa hình vuông là ma phương (magic square) có cạnh là ba thước tức có diện tích là 3 x 3 = 9 thước vuông. Chín thước vuông là chín ô vuông, mỗi ô có diện tích là một thước vuông. Đây là chín ô của ma phương trong có 9 con số. Lưng rùa mang một thứ “ma phương Lạc thư”, nền móng của Dịch nòng nọc.  Điểm nữa là  Lão Tử trong Đạo Đức Kinh có nói tới một tộc sống phía nam sông Dương Tử thuộc địa bàn của các Man Di, Việt có học chữ nòng nọc. Nhưng điểm có một độ tin cậy nhiều nhất là các nhà khảo cổ Úc hợp tác với các nhà khảo cổ Trung Hoa đã khai quật được những cột bát giác có vẽ vạch trên tám mặt tại một di chỉ thời tân thạch ở vùng cửa sông Dương Tử. Những trụ bát giác này  có thể là khởi đầu của tư tưởng bát quái trong Dịch kinh (Trần Ngọc Ninh, Tuyết Xưa, Khởi Hành, 2002, tr. 117). Ba dữ kiện này gộp lại có một độ tin cậy khá cao cho thấy rõ Chu Dịch có thể đã là thứ Dịch biến cải từ Dịch nòng nọc của Việt thường đem tặng vua Nghiêu.
-Qua tranh dân gian còn thấy  loại Dịch âm dương đề huề trên lá bùa trừ tà dùng rộng dãi trong dân gian Việt Nam mà tôi đã cho in lại ở phụ bản trang 26 trong quyển Ca Dao Tục Ngữ, Tinh Hoa Dân Việt. Dịch này khác với Dịch Phục Hy và Văn Vương của Trung Hoa.

-Qua truyền thuyết kể chuyện bộ ba thần Táo hai ông một bà là dựa vào quẻ Li IOI (Lửa). Hai hào dương là hai nọc là hai ông táo, hào âm O là nòng là bà Táo có cái rốn “âm” hình nòng vòng tròn. Bột ba thần Táo là quẻ Li viết theo chữ nòng nọc, là theo Dịch nòng nọc.
-Qua sử miệng: câu ca dao

    Ba vuông sánh với bẩy tròn,
    Đời cha vinh hiển, đời con sang giầu.

Bài này tôi đã giả thích rõ trong quyển Ca Dao Tục Ngữ, Tinh Hoa Dân Việt. Bẩy là số  Càn tức nọc đi cặp với “tròn” là vòng tròn, là số không  là nòng là Khôn.  Càn Khôn là nòng nọc là mặt trời vũ trụ-hư không, chứ không nhất thiết là Trời Đất như Chu Dịch giải thích. Thời Dịch xuất hiện, con người còn quan niệm đất vuông chứ không tròn. Câu ca dao này cho thấy nòng còn  là “tròn”  tức là còn giữ dạng nòng nọc nguyên khởi. Điểm này cho thấy Dịch Nòng nọc thấm nhuần sâu đậm trong văn hóa Việt.

-Qua sử đồng:

Trống đồng Đông Sơn là một bộ kinh Dịch bằng đồng viết bằng chữ nòng nọc.
Đáng lẽ phải chờ quyển Giải Đọc Trống Đồng Đông Nam Á ra đời tôi mới bật mí ra những khám phá về cách đọc chữ nòng nọc này mà đối với tôi là một khám phá để đời. Nhưng đối với anh, là một người tôi rất mến và biết ơn, hôm nay xin đọc một vài chữ  nòng nọc trên trống đồng để làm quà tặng anh và độc giả. Anh và các độc giả đọc bài này là nhân chứng cho sự khám này là của tôi vì tôi chưa trình toà (quyển viết về trống đồng chưa đăng ký tại Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ). Hãy  giải đọc  một “hoa văn” rất nổi tiếng mà các nhà nghiên cứu trống đồng hiện nay gọi là “họa tiết lông công”. Họa tiết này thấy trên các loại trống đồng thuộc nhóm trống Ngọc Lũ I. Họa tiết này nằm ở khoảng giữa hai tia sáng của mặt trời (interradial spaces)  trông giống như hình những con mắt (oceli) trên lông đuôi con công vì thế mới gọi là “họa tiết lông công”. Chẳng một tác giả  nghiên cứu về trống đồng nào  từ xưa cho tới nay hiểu “hoạ tiết lông công” mang ý nghĩa gì cả. Hầu hết chỉ cho đây là một thứ trang trí. Không. Đây không phải là trang trí “họa tiết lông công”. Đây chính là một nhóm chữ nòng nọc gồm có bốn chữ. Chữ thứ nhất ở chính tâm có hình hai giọt nước có đuôi thuôn nhọn mang hình ảnh hai giọt nước mưa rơi từ trời xuống. Đây là hai giọt nước  mưa mang nghĩa nước không gian, vũ trụ. Trong hai giọt nước có hai cái chấm như hai con mắt nhỏ (vì thế mà  Parmentier gọi hình này là hình “hai con cá”). Hai cái chấm là hai cái “dấu”,  ở đây mang nghĩa dương, lửa. Vậy đây là nước dương, lửa nước. Hai giọt nước là hình biến dạng của hai chữ nòng OO. Hai nòng là hai hào âm, nói theo thuật ngữ Dịch là thuần âm, thái âm, theo vũ trụ học là nước vũ trụ. Hai nòng có chấm là thái âm ngành nọc, dương ứng với Chấn. Chữ thứ hai là hình dấu mũ (^)  như đầu mũi tên, mũi giáo do hai que nọc ghép lại. Hai que là hai nọc nói theo thuật ngữ  Dịch là hai hào dương là thuần dương, thái dương.  Vậy hình mũi tên là nọc lửa vũ trụ thuần dương ứng với Càn. Hình mũi nhọn Càn này giống hệt đầu  mũi nhọn của cái đòn càn gánh lúa. Hình thứ ba gồm một nét cong là chữ nọc mang âm tính (chữ nòng nọc cũng  “hiệp” hay “accord” với giống phái như trong Pháp ngữ ngày nay)  và các tua như răng lược trông giống cái rèm, cái bờm, cái phướn tua, cánh chim hay nửa lông chim. Rèm, bờm, tua phướn,  cánh chim, lông chim biểu tượng cho gió chuyển động, gió dương.  Cũng có thể giải thích vành cong  là một phần của vòng hư vô, vũ trụ và các  răng lược dưới  vành cong mang nghĩa  hư không, không gian. Vậy đây là gió không gian, là không khí  mang tính dương tức gió dương, theo vũ trụ tạo sinh là Tốn Dương, theo Dịch Trung Hoa là Đoài. Hình thứ  tư có hình tháp nhọn giống như kim tự tháp gồm hai hình (^) tức chữ V  ngượclồng vào nhau. Hình tháp nhọn biểu tượng cho núi nổng (núi nhọn như cái nống chống trời), núi lửa, núi dương. Điểm này thấy rõ  bên trong thành tháp có đánh dấu bằng những chấm nhỏ mang nghĩa dương, lửa, bụi trần.  Núi nổng ứng với Li. Như thế  “họa tiết lông công” gồm có bốn chữ nòng nọc diễn tả nước, lửa, khí, đất vũ trụ dương, ứng với
Bốn nguyên sinh động lực lớn tức tứ tượng. Rõ như dưới ánh mặt trời là vòng tròn ở tâm trống là nòng là nang, là bọc biểu tượng nòng không gian, hư vô, vũ trụ. Mặt trời là dương là đực biểu tượng cho nọc dương. Âm nòng không gian, dương nọc mặt trời giao hòa sinh ra tứ tượng “họa tiết lông công”.  Tiếp tục  của quá trình vũ trụ tạo sinh là các phần còn lại của mặt trống và tang trống, tôi sẽ trình bầy rõ trong quyển Giải Đọc Trống Đồng Đông Nam Á. Rõ như “con cua tám cẳng hai càng một mai hai mắt rõ ràng con cua” là Dịch còn ghi khắc lại trên trống đồng bằng chữ nòng nọc là Dịch nòng nọc.

Ngày nay gần như hầu hết các nhà khảo cứu về trống đồng ở Việt Nam và khắp  nơi trên thế giới đều công nhận là trống đồng Đông Sơn có nguồn gốc tại bản địa nghĩa là chủ nhân ông của trống đồng là của người Cổ Việt. Qua quyển Giải Đọc Trống Đồng Đông Nam Á của tôi thì trống đồng có nguồn gốc nguyên thủy của người cổ Việt không còn gì để tranh cãi nữa. Như thế ta chỉ cần làm một cái tam đoạn luận đơn giản là Dịch nòng nọc khắc ghi trên trống đồng Đông Sơn mà trống đồng là của người cổ Việt vậy thì  người cổ Việt đã  dùng một thứ Dịch nòng nọc. Như thế về nguồn gốc, có thể có  ba trường hợp: một là Dịch nòng nọc viết trên trống đồng là  của chúng ta, hai là ta lấy Dịch nòng nọc từ Trung Hoa mà sửa đổi đi cho phù hợp với văn hóa sông biển của Việt dòng nước và ba là ta và Trung Hoa cùng lấy từ một nguồn gốc cao hơn.
-/Thứ nhất Dịch nòng nọc trên trống đồng là của chúng ta. Như đã nói có nhiều chứng tích cho thấy ta có một thứ Dịch nòng nọc riêng. Cũng cần nói thêm là gần đây có tác giả chứng minh rằng có một vùng đất mà Việt Nam ta ngày nay là một phần của vùng đó gọi là Sunderland trước đây đã có một nền văn minh huy hoàng. James Churchward cho đây là  đất Mẹ “Mu”, nguồn gốc của nền văn minh thế giới (Mu biến âm với Mụ, Mợ, Mạ, Mẹ). Vùng này ngày nay đã chìm xuống đáy biển. Nếu quả đúng như vậy thì  cổ Việt là tác giả của Dịch cũng là điều có thể có và tin được.
-/Thứ hai, chúng ta lấy của Trung Hoa: Ta thấy rất rõ văn hoá Đông Sơn khác biệt với văn hóa Trung Hoa. Nếu ta lấy từ Dịch Trung Hoa tại sao không có những yếu tố khác của văn hóa Trung Hoa diễn dịch theo Dịch Trung Hoa trong phạm vi bói toán lý số trên trống đồng. Như thế  dù ta có lấy từ Dịch Trung Hoa mà biến cải đi cho phù hợp với văn hóa Việt thì loại Dịch đó cũng đã mang sắc thái Việt, đã Việt hóa. Trong trường hợp này cũng coi như Dịch nòng nọc liên hệ mật thiết với chúng ta.
-/Thứ ba ta và Trung Hoa lấy từ một nguồn gốc cao hơn. Có thể. Như đã nói  trong Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt, lưỡng nghi, tứ tượng khắc trên các thạch bài của Mexico có bản đã được định tuổi trên mười ngàn năm. Như thế Dịch có thể đã bắt nguồn từ trên mười ngàn năm. Trong trường hợp này ta không lấy Dịch từ Trung Hoa mà từ một thứ Dịch nào khác, ta cũng có thể coi là ta có một thứ Dịch riêng.
Như vậy trong cả ba trường hợp, ta có thể nói chúng ta đều có một thứ Dịch riêng. Tạm gạt bỏ nguồn gốc Dịch của ai qua một bên, theo tính khiêm nhường và dè dặt của một người khảo cứu thì dù gì Việt Dịch Nòng nọc cũng liên hệ mật thiết với chúng ta. Dù cho nguồn gốc nó  ở đâu đi nữa nhưng điều nó được ghi khắc lại trên vật thờ bằng đồng cũng cho thấy người cổ Việt đã coi vũ trụ luận và Dịch nòng nòng là một thứ thiêng liêng cần thờ phượng,  coi Dịch là vũ trụ quan và nhân sinh quan của mình. Ngoài ra Dịch nòng nọc trên trống đồng còn cho thấy người cổ Việt Đông Sơn là những bậc sư về Dịch lý.
Tóm lại qua những điều vừa nêu ra, nhất là Dịch nòng nọc trên trống đồng thấy được bằng mắt trần, sờ được bằng tay phàm tục, tôi nghĩ  đã đủ  để thuyết phục được những người theo chủ nghĩa đa nghi. Và tôi không nghĩ rằng mình đã táo bạo.
11.    Có thể anh cho một vài khác biệt giữa Dịch học Trung Hoa và Việt Dịch Nòng Nọc?

Đ.

Vắn tắt có những điểm khác biệt như:
-Cần nên ghi nhớ là có rất nhiều loại Dịch tùy theo cách xắp đặt của các quẻ trong bát quái. Mỗi tộc có thể có một loại Dịch riêng thích hợp với tộc đó. Việt Dịch còn trọng âm nên có âm dương nòng nọc đề huề, phái nữ còn được kính trọng. Việt Dịch nòng nọc phát nguồn từ sông nước, từ xã hội mẫu quyền. Trong khi chu Dịch đã nam hóa với hai hào âm dương đều có hình nọc que. Chu Dịch là Dịch của chế độ phụ hệ. Nhà Chu  đặt ra chế độ phụ hệ bắt cả nước và các chư hầu phải theo. Nước nào theo mẫu hệ như các tộc thuộc đại Việt cũ phải từ bỏ hẳn. Dịch nòng nọc âm dương đề huề ngày nay còn thấy trên lá bùa trừ tà của dân dã Việt Nam. Tổng quát trong tám quẻ của bát quái có  bốn quẻ Càn (III), Khôn (OOO), Li (IOI), Khảm (OIO), đọc theo chiều âm tức theo chiều kim đồng hồ hay theo chiều dương, ngược chiều kim đồng hồ, đọc từ trong ra hay từ ngoài vào cũng không thay đổi bản thể. Những quẻ này bất biến trong bất cứ loại Dịch nào. Còn bốn quẻ Chấn (IOO), Đoài (IIO), Cấn (OOI) và Tốn (OII)  thay đổi theo cách đọc, ví dụ Chấn (IOO) đọc ngược là (OOI), Cấn.  Dịch Phục Hy và Văn Vương được cho là của Trung Hoa, trong đó các quẻ Chấn, Đoài, Cấn và Tốn thay hình đổi danh tính khi đọc theo các chiều từ trong ra hay từ ngoài vào.  Trong khi đó Dịch nòng nọc âm dương đề huề là loại Dịch các quẻ Chấn, Đoài, Cấn và Tốn được xắp đặt thế nào để  các cặp tương giao hôn phối âm dương vợ chồng đối diện nhau trong bát quái mà  những cặp này đọc theo chiều dương hay theo chiều âm, từ trong ra ngoài hay từ ngoài vào, cặp âm dương vợ chồng vẫn thế chỉ khác là hai vợ chồng thay đổi vị trí, chỗ đứng bên nhau.  Như đã nói đây là loại Dịch thấy trên lá bùa trừ tà dùng trong dân gian Việt Nam còn thấy ngày nay. Ví dụ trong Dịch âm dương đề huề, hai cặp tương giao hôn phối vợ chồng đọc từ trong ra là  Chấn (IOO)-Cấn (OOI). Nếu ta đọc từ ngoài vào ta có Cấn (OOI)-Chấn (IOO). Chấn Cấn vẫn là vợ chồng chung thủy, vẫn đề huề bên nhau chỉ khác là chồng Chấn khi thì đứng trước, khi thì đứng sau  và ngược lại vợ Cấn cũng vậy. Trong khi đó ở Dịch Phục Hy, đọc từ trong ra ngoài Chấn (IOO) bắt cặp với Tốn (OII). Nếu đọc ngược lại từ ngoài vào trong, ta có  Cấn (OOI) bắt cặp với Đoài (IIO).  Cả  chồng lẫn vợ đều đã thay đổi danh tính đã trở thành một cặp khác. Ở Dịch Văn Vương, đọc từ trong ra ta có Chấn (IOO) bắp cặp với IIO (Đoài). Đọc ngược lại ta có Cấn (OOI) bắt cặp với Tốn (OII).  Dịch Phục Hy và Văn Vương đều thay đổi theo chiều đọc.  Trong khi đó Dịch âm dương nòng nọc đề huề còn thấy trên lá bùa trừ tà phổ biến rất rộng rãi trong dân gian Việt Nam, dù đọc theo chiều nào đi nữa, các cặp hôn phối vợ chồng cũng vẫn chung thủy, đề huề bên nhau, chỉ thay đổi chỗ đứng, chồng trước thì vợ sau, chồng sau thì vợ trước. Dịch âm dương đề huề cho thấy âm, nữ, vợ vẫn còn được coi trọng, sánh vai với dương, chồng. Dĩ nhiên Dịch này phù hợp với tộc Việt dòng nước, nữ, mẹ vẫn còn được tôn thờ ít ra cũng bằng cha. Hãy lấy một ví dụ để làm sáng tỏ vấn đề này. Ta có truyền thuyết năm mươi Lang Hùng theo mẹ lên núi và năm mười người theo cha xuống biển. Lạc Long Quân có một khuôn mặt là  Chàng Nước, tức nước dương, Thần biển Chấn nên năm mươi con theo cha xuống biển. Theo Dịch Phục  Hy Chàng Nước Chấn tương giao hôn phối vợ chồng với Nàng Lửa Tốn Âu Cơ. Như thế  nếu theo Dịch này thì năm mươi con phải “lên trời” vì Âu Cơ là Tốn. Theo Dịch Văn Vương Chàng Nước tương giao hôn phối vợ chồng với Đoài Âu Cơ. Ở đây ta thấy không ổn vì Đoài IIO là một quẻ dương viết khởi đầu bằng que nọc  là một khuôn mặt nam, không hợp với phái nữ. Đối chiếu với Dịch nòng nọc âm dương đề huề  thì Chàng Nước Chấn tương giao vợ chồng với Âu Cơ Cấn, Nàng Non. Rõ như  hai năm là mười là  truyền thuyết năm mươi con lên non theo mẹ Nàng Non Âu Cơ là chiếu theo Dịch âm dương nòng nọc đề huề còn thấy trên lá bùa trừ ta dùng trong dân gian Việt Nam.  Dịch âm dương đề huề khác với Dịch Phục Hy, Chu Dịch của Trung Hoa thấy trong truyền thuyết nói về nguồn cội của chúng ta, thấy trên lá bùa trừ tà dùng trong dân dã và dùng nhiều trên trống đồng (sẽ nói rõ trong quyển Giải Đọc Trống Đồng Đông Nam Á) cho thấy Dịch nòng nọc, âm dương đề huề có thể là một thứ Dịch riêng của tộc Việt.

-Dịch nghiêng về dòng nước.
Chúng ta  là tộc sống về sông biển, làm nông căn bản là ruộng nước nên có một cái rễ lớn thuộc dòng nòng (nước, dòng ngoại, dòng mẹ, mặt trời nước) nên có một thứ Dịch thích hợp với dòng nòng nghĩa là một thứ Dịch trong đó Nòng ngự trị hoặc nòng nọc đề huề hay cùng lắm thì nòng cũng còn được hiện hữu. Trung Hoa  có nguồn gốc du mục, săn bắn,  nhà Chu theo phụ hệ cực đoan, đàn ông làm  chủ  nên  Dịch Trung Hoa là những thứ Dịch duy dương thích hợp với tính “macho” của xã hội của họ.

-Chúng ta  có Tứ hành và Cây Vũ Trụ trong khi người Trung Hoa có  Ngũ hành. Chúng ta theo Vũ trụ luận âm dương sinh ra Tứ tượng. Tứ tượng chuyển hành trở thành Tứ hành. Âm dương Tứ hành sinh tác tạo ra muôn vật được biểu tượng bằng một cái cây gọi là Cây Đời, Cây Vũ Trụ. Người Trung Hoa  coi cây đời là một “hành” gọi là “hành mộc”, gom vào Tứ hành thành Ngũ hành. Vì thế mà quan niệm rằng mọi vật đều do Ngũ hành sinh ra. Cây Đời, Cây Vũ trụ của chúng ta là do Tứ hành sinh ra biểu tượng Vũ trụ, Tam thế, Con Người. . . Ngoài ra người Trung Hoa quan niệm hành Kim tức kim loại (metal) là Khí rất là khó hiểu!.

-Việt Dịch nòng nọc viết bằng chữ nòng nọc: như còn thấy qua sử sách, Dịch rùa Việt Thường, qua truyền thuyết bộ ba Thần Táo; qua sử miệng: câu ca dao “Ba vuông sánh với bẩy tròn”; qua sử đồng Đông Sơn. Viết dưới dạng nòng O và nọc  dương  I, cho thấy Việt Dịch còn giữ được tính chất  nòng nọc, âm dương đề huề, nghĩa là còn dưới dạng nguyên thủy. Việt Dịch nòng nọc khác với các loại Dịch của Trung Hoa viết bằng hào dương hình que và hào âm hình que đứt đọan nghĩa là do dương đẻ ra (giống như đàn bà được tạo từ cái xương sườn của đàn ông).
-Khác với Chu Dịch dùng vào việc bói toán, lý số, phong thủy, Dịch nòng nọc diễn đạt vũ trụ tạo sinh, thấy rõ qua Dịch rùa Việt Thường có ghi “chép từ khi mở ra trời đất trở về sau”, có nghĩa là chép về vũ trụ tạo sinh. Dịch trên trống đồng cũng diễn giải vũ trụ tạo sinh (sẽ thấy rõ trong quyển Giải Đọc Trống Đồng).  Vì thế nghĩa của các quẻ phải hiểu theo nghĩa khác nhau ví dụ quẻ Khôn OOO theo Dịch Trung Hoa thường hiểu là Đất, Càn Khôn là Trời Đất. Theo Dịch diễn tả vũ trụ tạo sinh, Khôn phải hiểu là cái bọc hư không, biển nước. Thời Dịch ra đời, con người còn quan niệm Đất  có hình vuông chứ không có hình tròn. Quẻ IIO gọi theo Dịch Trung Hoa là Đoài thường được hiểu là ao đầm nhưng theo Dịch diễn tả vũ trụ tạo sinh thì  ao đầm chưa có lúc vũ trụ tạo sinh ở cõi trên, ao đầm chỉ có ở cõi thế gian. Ao là cái bọc nước ấm. Đoài IIO có thể tách ra II, lửa và O, nòng, âm cái bọc. Cái bọc lửa ở cõi thế gian là nước ấm ao đầm nhưng ở cõi trời cái bọc lửa là bọc khí dương tức Tốn dương. Vì thế tứ tượng trong vũ trụ tạo sinh gồm bốn yếu tố lửa, nước, đá, khí vũ trụ chứ chưa có đất, ao đầm  ở cõi thế gian.
-Trống đồng là bộ Dịch đồng của người cổ Việt. Dựa vào khảo cổ học cho biết tuổi của trống đồng có từ 500 đến 1000 năm trước công nguyên. Nhà Chu trị vì cũng  vào khoảng đó. Nghĩa là Việt Dịch nòng nọc trên trống đồng cũng  có  cùng lứa tuổi với Chu Dịch. Nhưng Dịch trên trống đồng còn giữ nguyên thể nòng nọc trong khi Chu Dịch đã nam hóa, dương hóa viết bằng hình que và que đứt đoạn. Điều này cho  thấy có hai trường hợp: thứ nhất rõ ràng Chu Dịch lấy từ Dịch nòng nọc của Việt Thường tặng vua Nghiêu vào năm 2.361  TTL nghĩa  trước thời nhà Chu cả ngàn năm (dĩ nhiên con số này khó tin nhưng dù sao nó cũng cho biết là vào đời Nghiêu trước nhà Chu)  rồi nam hóa đi cho hợp với bản tính “macho” của mình vì rợ Chu ở phía Tây liên hệ nhiều với các tộc phía Tây rất háo chiến, rất xâm lược qua các tộc ở Tân Cương như người Aryan ở Bắc Ấn Độ. Nhà Chu  đã  Chu hóa Dịch, nam hóa Dịch đem dùng vào bói toán để cai trị dân. Điểm thứ hai Dịch nòng nọc khắc trên trống đồng thì trước đó phải có mặt lâu hơn, cổ hơn ở những diện “sách vở” khác, nghĩa là cổ hơn Chu Dịch, nghĩa là Dịch nòng nọc viết trên trống đồng bằng chữ nòng nọc có thể là di duệ của Dịch rùa Việt Thường cũng viết bằng chữ nòng nọc đã có trước đó  rất lâu.
-Việt Dịch nòng nọc đã khắc ghi trên trống đồng cách đây hơn hai ngàn năm trăm năm, lúc đó chưa bị người Trung Hoa đô hộ như thế  Dịch nòng nọc không phải là  thứ Dịch “đô hộ”, nếu có bị ảnh hưởng của Trung Hoa thì cũng là thứ ảnh hưởng của giao lưu văn hóa tự nguyện và tự chọn lọc cho thích hợp với văn hóa Việt. Nói một cách khác, đó cũng là một thứ Dịch Việt hóa riêng.
-Dịch nòng nọc phải là thứ thiêng liêng, một thứ quốc bảo, tộc bảo hay  gia bảo  mới đem  ghi khắc trên trống đồng để thờ phượng, một thứ giáo biểu, tộc biểu. Vì có quí giá mới ghi khắc lại lưu truyền đời sau. Như thế có thể người Đông Sơn là tác giả hay là kẻ đã khai sáng ra Dịch hay ít ra cũng là những kẻ uyên thâm về Dịch nên mới ghi khắc vào sử đồng giống như một tác giả ghi chép lại thành tác phẩm. Việt Dịch nòng nọc trên trống đồng là một thứ Dịch viết  hết sức tinh vi không một loại Dịch nào tôi đã đọc qua sánh bì được.

Tóm lại Dịch nòng nọc liên hệ mật thiết với tộc Việt có những điểm chính yếu khác biệt vớí  Dịch Trung Hoa là Dịch nòng nọc còn viết dưới dạng nòng nọc như còn thấy trên trống đồng. Cho đến lúc này tôi chưa thấy một loại Dịch nào khác hiện nay  viết bằng chữ nòng nọc. Dịch nòng nọc có thể là Dịch nguyên thủy diễn giải trọn vẹn vũ trụ tạo sinh, “từ khi mở ra trời đất trở về sau”, trong khi Dịch Trung Hoa kể cả Dịch Phục Hy chủ điểm nghiêng nhiều về đạo lý thế tục, là Dịch thế gian, là Dịch Duy Tục chú trọng nhiều về bói toán, phong thủy… Dịch nòng nọc  còn mang tính âm dương đề huề, trong khi Dịch Trung Hoa theo duy dương. 
Vân vân và vân vân.

12.    Anh có khó khăn nào khi phải đối chiếu nhiều loại cổ ngữ để tìm ra những kết quả chính xác nhất?

Đ.

Nghiên cứu cổ ngữ  rất công phu. Trong công cuộc đi tìm cách giải đọc các chữ nòng nọc, một thứ chữ cổ nhất của nhân loại mà ngày nay không còn ai biết tới, tôi đã phải đọc hết tất cả các loại chữ cổ của nhân loại nhất là các loại chữ cổ  viết bằng hình ngữ, tượng hình như  chữ nêm của Sumerian,  hình ngữ cổ Ai Cập,  cổ ngữ Trung Hoa,  hình ngữ Maya Aztecs, Phạn ngữ, nghiên cứu các biểu tượng, các dấu diễn tả theo chữ nòng nọc … Nhưng may mắn là tôi đã  tìm ra tạm đủ tài liệu để giải đọc được các chữ nòng nọc viết trên trống đồng.

13.    Ca dao tục ngữ có phải là một phương cách để nhân gian truyền khẩu lại vũ trụ quan, nhân sinh quan, cổ sử, truyền thuyết… của dân tộc Việt.

Đ.

Ca dao tục ngữ là phương tiện truyền bá cái tinh hoa của người Việt. Tôi gọi  ca dao tục ngữ là sử miệng, là di ngôn của tổ Việt, là cái túi khôn của dân Việt, trong mọi trạng huống của cuộc  đời người dân quê Việt  Nam cũng có thể dùng một câu ca dao hay tục ngữ để ứng xửng. Ca dao tục ngữ muôn mặt  bao che cả đời sống tinh thần, thể chất và xã hội của người Việt Nam vì thế ca dao cũng là một phương cách để nhân gian truyền miệng lại vũ trụ quan, nhân sinh quan, cổ sử, truyền thuyết, phong tục tập quán…

14.    Thường thường, ca dao tục ngữ có tính chất đơn giản, bình dân trong khi các vấn đề trên có tính chất kinh điển, bác học như vậy, liệu có thể hiện đầy đủ được để làm những mốc phân định để tìm kiếm được chiều dài của cổ sử Việt?

Đ.

Ca dao tục ngữ có tính chất đơn giản  vì thế  những vấn đề có tính cách bác học phải thể hiện dưới dạng mộc mạc, nôm na dễ hiểu. Những câu thơ, câu vè mang nặng tính chất bác học khó hiểu sẽ rơi vào lãng quên, không được dân dã  chấp nhận, lưu truyền nghĩa là không thể thành ca dao tục ngữ. Điểm quan trọng nữa nếu nội dung câu thơ, câu vè không hợp với văn hóa Việt cũng có thể không được đón nhận, nghĩa là không thể thành ca dao tục ngữ Việt. Ca dao không phải chỉ có một mục đích lưu truyền cổ sử Việt vì thế không thể tìm trong ca dao tục ngữ để minh định được cả chiều dài cổ sử Việt. Ca dao tục ngữ chỉ là một yếu tố trong nhiều yếu tố khác để  nghiên cứu cổ sử. Một mình ca dao tục ngữ không đủ để  kết luận một yếu tố cổ sử. Đó lý do ta cần phải có một nghiên cứu tổng hợp của nhiều phương pháp, của nhiều ngành. Đó là lý do tôi phải viết ba loại sử là sử miệng ca dao tục ngữ, sử sách dựa vào tài liệu bác học trong sách vở, kinh điển và sử đồng dựa trên khảo cổ học. “Một cây làm chẳng nên non” nhưng “Ba cây chụm lại thành hòn núi cao”.

15.    Ca dao tục ngữ thường có xuất xứ  mù mờ, không rõ ràng. Điều ấy có làm khó khăn cho anh để đi tìm nguồn gốc dân tộc Việt?

Đ.

Vâng, anh nói rất đúng, ngoại  trừ một vài trường hợp đặc biệt, rất khó có thể  xác định được thời điểm chúng xuất hiện vào lúc nào. Ca dao có thể làm cách đây vài chục năm hay vài trăm năm. Đây là một yếu điểm của ca dao. Tuy nhiên tôi không dùng ca dao tục ngữ để xác định thời điểm xuất phát của cổ sử văn hóa Việt nên không  vướng mắc gì cả. Ngược lại ca dao tục ngữ là tài sản của quần chúng của cả dân tộc Việt vì thế cái gì  được dân Việt chấp nhận mới trở thành ca dao tục ngữ  được, nghĩa là cái gì có trong ca dao tục ngữ  là đã được đa số đồng tình vì có đồng tình mới lưu truyền được từ đời này qua đời khác, trong khi các tài liệu trong sách vở có khi chỉ là ý kiến, quan điểm của từng cá nhân hay từng trường phái chưa hẳn là của toàn dân Việt. Chính vì cái xuất xứ  mù mờ này mà tôi phải dựa vào một loại sử khác có thể cung cấp thời điểm  đáng tin cậy hơn đó là sử đồng dựa trên khảo cổ học đồ đồng Đông sơn. Tôi phải viết quyển thứ ba là “Giải Đọc Trống Đồng Đông Nam Á”. Với các phương pháp khoa học như dựa vào carbon phóng xạ C14,  phân tích thành phần hợp kim đồng, dựa vào biến đổi “hoa văn”,  tuổi của một trống đồng có thể định được một cách đáng tin cậy. Định tuổi được  cổ vật đồng Đông Sơn ta có thể định được tuổi của nền văn hóa Đông Sơn  tức người cổ Việt thời Đông Sơn. Những gì về văn hóa cổ sử Việt có trên trống đồng xác quyết là đã  có từ trước lúc trống đồng làm ra không phải do các nhà nho bị ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa sau này bịa đặt ra hay san định lại. Ví dụ bài đồng dao “Bồ nông là ông bổ cắt…” cho thấy vật tổ  chim tối cao của chúng ta là hai con chim nông và cắt và cho thấy chúng ta theo vũ trụ giáo. Nhưng bài đồng dao này không biết làm vào lúc nào. Có thể là do các nhà nho  thời cận đại làm ra. Tuy nhiên đối chiếu với sử đồng Đông Sơn ta thấy vật tổ nông cắt còn khắc ghi rành rành trên trống đồng (chim nông trên trống Ngọc Lũ, chim cắt trên trống Duy Tiên; vũ trụ giáo cũng ghi khắc lại trên trống đồng như thế bài đồng dao “Bồ nông là ông bổ cắt…” đã được kiểm chứng và xác thực.

16.    Vì truyền khẩu nên chất chính xác rất ít. Một câu nói có thể hiểu bằng nhiều cách khác nhau như câu đồng dao “Bồ nông là ông bổ cắt…” có thể hiểu một cách đớn giản như bọn trẻ con đã đọc, là một vòng tròn kín cứ thế kéo dài liên miên không dứt?

Đ.

Đúng như anh nói, ca dao thường được hiểu theo nghĩa đơn giản, nhiều khi làm ra để làm câu ví, câu hát hay bài đồng dao mang tính trẻ thơ, đùa cợt nhiều khi nghe có vẻ ngây ngô để cho trẻ em hát vui chơi. Tuy nhiên  nhiều khi chúng chuyên chở tư tưởng bác học ví dụ như bài đồng dao:

        Ông giẳng ông giăng,
        Ông rằng búi tóc,
        Ông khóc, ông cười,
        Mười ông một cỗ,
        Đánh nhau vỡ đầu.

Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã nhận ra đây là bài hát  “liên quan đến sự  tổ chức thời gian Lạc-Việt” (Bách Khoa 15-4-1971). “Mười ông một cỗ” với từ “cỗ”` có nghĩa là  tiệc tùng nhưng cỗ cũng có nghĩa là “bộ”, “nhóm” như cỗ bài, cỗ bàn tức bộ bài, bộ bàn ghế.  “Cỗ trăng” là “tuần trăng”. Như thế  câu hát trên có ba cỗ mười ông giăng tức “ba tuần trăng” tương ứng với 30 đêm hay 30 ngày tức là một tháng âm lịch. Mười ông  búi tóc củ hành tức mười ông giăng tròn vào những đêm trung tuần. Mười ông khóc miệng mếu hai mép miệng  xệ xuống cầm thành vành trăng úp ứng với mười giăng thượng tuần. Mười ông cười miệng nguếch lên tận mang tai trông như vành trăng khuyết ngửa ứng với mười trăng hạ tuần… Tôi xin giải thích bổ túc thêm câu cuối “Đánh nhau vỡ đầu”. Ngày xưa  bị đánh vỡ sọ thì chỉ có nước chết. Vì thế đêm ba mươi trăng chết nên không có trăng, “tối như đêm ba mươi”. Ngoài ra những câu  như “Ba vuông sánh với bẩy tròn” như tôi đã viết, nếu không dựa vào Dịch, vào toán học thì không thể hiểu nổi tại sao ba lại đi với vuông và bẩy lại đi với tròn. Điểm cần ghi nhớ là tác giả ca dao tục ngữ phần lớn là giới trí thức có kiến thức bác học. Nhiều khi giới này kín đáo gởi gấm một điều gì để lưu truyền lại cho những đời sau qua những câu ca dao tục ngữ hết sức giản dị đơn sơ  hay qua câu hát  ngô nghê của trẻ em chẳng hạn. Điển hình là trường hợp các câu sấm truyền thường dưới hình thức đơn giản, nôm na nhưng nội dung thật là kỳ bí, cao siêu và dĩ nhiên tác giả phải là những bậc có học thức uyên bác. Cái khó là chúng ta phải moi tìm được, hiểu được cái ẩn ý đó. Trong trường hợp bài đồng dao “Bồ nông là ông bổ cắt…”  câu hỏi được đặt ra là tại sao lại nói tới hai con chim nông và cắt?  Tại sao lại xếp chúng khởi đầu câu hát? Qua những khảo cứu khác tôi đã nhận diện ra chim nông và chim cắt là hai chim tổ tối cao của tộc Việt sống ở bờ nước ao đầm sông ngòi có loài chim nông, khác biệt với người Trung Hoa chim tổ của họ là chim phượng hoàng…. Vật tổ chim nông đã ghi khắc trong sử đồng Đông Sơn trên trống đồng, thạp đồng và có cả các tượng chim nông bằng đồng riêng rẽ… Vật tổ chim cắt  cũng thấy ghi khắc lại trên trống Duy Tiên,  cũng thấy ở nhiều nơi như ở vùng Nam Hải, Đa Đảo liên hệ thế này hay thế nọ với chúng ta. Tại sao bài hát lại gồm có sáu con chim. Con số  sáu theo Dịch là số lão âm, số thành, sinh tạo. Hai con nông và cắt là chim biểu của lưỡng nghi âm dương. Bốn con chim di, sáo sậu, sáo đen, tú hú là chim biểu của tứ tượng lửa, đá, nước và khí. Bài hát xoay tròn không đầu không đuôi giống như một vòng sinh tạo triền miên, vô cùng, vô tận…

17.    Đạo mặt trời và Vũ trụ giáo có triết thuyết và giáo lý tương quan với nhau? Thời phụ quyền đạo Mặt trời thống lĩnh Vũ trụ giáo còn thời mẫu hệ thì sao?

Đ.

Vũ trụ giáo dựa trên âm dương nòng nọc nên có hai chi phái là  nòng không gian và nọc mặt trời. Mặt trời giáo là nhánh nọc, nam, cha, thời phụ hệ mặt trời giáo thống lĩnh vũ trụ giáo đẩy ngành nòng vào bóng tối. Về mặt xã hội,  dòng nòng theo mẫu hệ và dòng nọc theo phụ hệ.  Như đã nói, qua  địa khai ngôn ngữ Việt ta còn thấy qua hai từ “đàn bà” và “đàn ông”. Đàn đây có nghĩa là bầy, nhóm như đàn chim, đàn trâu. Xã hội con người theo vũ trụ giáo chia ra làm hai bầy đàn theo âm dương là “đàn bà” và “đàn ông”. Dĩ nhiên thời mẫu hệ phần âm, ngành âm, ngành nòng, ngành mẹ cai trị và thống lĩnh, lúc này đàn bà là “đàn chị” (thời phụ quyền đàn ông trở thành “đàn anh”). Nhìn vào dòng tiến hóa của xã hội loài người, mẫu hệ có trước rồi sau đó chuyển qua phụ hệ. Thời mẫu hệ, dòng nòng ngự trị nên hư vô trung tính được cho là chuyển qua âm trước,  nên vũ trụ mang tính âm thường gọi là biển vũ trụ (cosmic ocean), mặt trời là mặt trời nữ, thái dương thần nữ. Chúng ta có một gốc nòng rất lớn, khởi thủy theo mẫu hệ nên có truyền thuyết mặt trời và mặt trăng là hai chị em gái giống như truyền thuyết của Bahnar, Mán… Ca dao cũng cho thấy chúng ta có bà giời:

        Ông giăng mà lấy bà giời,
        Mồng năm dẫn cưới mồng mười rước dâu.

Truyền thuyết mặt trời là bà  và mặt giăng là ông này giống truyền thuyết Srê.
Ông giăng tương đương với mặt trời đêm là một khuôn mặt âm của Mặt trời lặn Lạc Long Quân nên bà giời tương ứng với Âu Cơ. Truyền thuyết ở làng Diềm tên chữ Hán là Viêm Xá liên hệ với thần mặt trời Viêm Đế,  làng có ngôi đền thờ Nhật Tảo (mặt trời tinh mơ) thờ vị thành hoàng là bà Nhữ Nương như thế  bà Nhữ Nương là thần mặt trời nhật tảo.  Về sau bà lấy vua Thủy Tề. Lạc Long Quân có một khuôn mặt Long Vương sống dưới thủy phủ ở Vịnh Hạ Long tức là một thứ Thủy Tề. Truyền thuyết này cho thấy rõ Nhữ Nương là hình bóng của Âu Cơ, thái dương thần nữ, mặt trời mọc nhật tảo (mặt trới tinh mơ chưa có tia sáng…) (KQKTCSHV).  Các tộc thuộc dòng nước khởi thủy theo mẫu hệ nên có mặt trời nữ như  truyền thuyết vừa nói,  mặt trời của chúng ta là một khuôn mặt nữ. Truyền thuyết cận đại chúng ta có Âu Cơ là thái dương thần nữ. Thổ dân Nhật Ainu ở hải đảo có thần lửa, thần mặt trời là Mẹ Fuchi có biểu tượng là ngọn núi lửa lớn ở Nhật mà ngày nay người Nhật phiên âm Fuchi thành Fuji, Phú sĩ. Người Nhật ở hải đảo cũng nhận mình là con cháu thái dương thần nữ Amaterasu và nhiều tộc khác ở Nam Hải cũng có nữ thần mặt trời. Mặt trời nữ  là mặt trời êm dịu, được diễn đạt bằng chữ nòng nọc là hình đĩa tròn không có tia sáng. Điểm này ngày nay còn thấy rõ là mặt trời trên lá cờ Nhật Bản có hình đĩa tròn màu đỏ không có tia sáng. Đây là biểu tượng của mặt trời nữ, thái dương thần nữ bởi vì người Nhật là con cháu Thái dương thần nữ Amaterasu. Mặt trời của cổ sử Ai Cập, cũng là thứ mặt trời dòng nòng đĩa tròn không có tia sáng. Điều này thấy rõ là không gian của họ là biển vũ trụ, hàng ngày mặt trời dùng thuyền mặt trời (solar bargue) đi từ đông sang tây. Theo truyền thuyết Ấn Độ ghi trong kinh Vệ Đà (Rg Veda) mặt trời nguyên thủy có hình trứng không có tia sáng gọi là Hiranya-garbha (golden egg of Brahmà) nằm trong biển vũ trụ.  Sau đó tới thời phụ quyền mặt trời vẫn có hình trứng nhưng lại có những tia sáng hình nọc tức dương bắn ra và ở trên không trung (hình mặt trời có tia sáng hình que, nọc nhọn là mặt trời nam, dương).
Trong xã hội mẫu quyền, mẹ cai trị toàn năng. Hãy lấy một ví dụ cỏn con là con rể phải về nhà vợ, phải làm rể. Chúng ta Lạc Việt, Mặt trời nước  có một gốc nòng rất lớn vì thế  mẹ được tôn thờ hơn cha ngày nay còn thấy qua câu ca dao

Một lòng THỜ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Thời Hùng Lang, xã hội Việt đã chuyển qua phụ hệ nhưng dấu tích mẫu hệ vẫn còn, hay vẫn còn  được tôn thờ như  ta thấy qua truyền thuyết là Hương Lang theo cha xuống biển nhưng không thích biển  trở về non theo mẹ, tức Âu Cơ có năm mươi mốt người con, Lạc Long Quân “lép vế” chỉ có bốn mươi chín người con. Truyền thuyết Sơn Tinh Thủy Tinh cũng cho thấy thời Hùng Lang  hãy còn dấu tích của mẫu hệ qua sự kiện là ai lấy được công chúa con vua Hùng thì được nối ngôi vua cha.

Ngày nay dù “đàn bà”  Việt Nam bị  “xuống cấp” nhưng cũng vẫn còn là  người “lãnh đạo” trong nhà.

18.    Việt Dịch nòng nọc với nòng tương tự hào âm và nọc tương tự hào dương của Dịch Trung Hoa? Chữ khoa đẩu đã được dùng để tượng hình như thế nào?

Đ.

Đúng vậy.  Nòng có hình vòng tròn tương tự hào âm và nọc hình que giống hệt hào dương hình que của Dịch Trung Hoa thấy ngày nay. Chữ khoa đẩu là chữ cổ nhất của nhân loại, là thứ chữ phát sinh từ tôn giáo cổ nhất của con người là vũ trụ giáo dựa trên âm dương nòng nọc. Chữ nòng nọc là chữ âm dương, chữ căn bản của vũ trụ giáo, của Dịch nòng nọc. Chữ nòng nọc là chữ của tín ngưỡng. Vì thế các chữ viết di duệ của chữ nòng nọc cũng tự nhận là chữ  của thượng đế ví dụ  hình ngữ Ai Cập gọi là chữ thiêng liêng, “linh tự” (hieroglyph), chữ Phạn là chữ của trời, Hán ngữ là chữ của thánh hiền…   Trong các ngôn ngữ này đều còn dấu vết của chữ nòng nọc. Có lẽ vì nhu cầu tôn giáo, để ghi lại giáo thuyết hay truyền đạo, chữ nòng nọc ra đời. Chữ nòng nọc ngày nay đã bị chôn vùi không còn ai biết nữa. Như đã có dịp nói, trong cổ sử Trung Hoa  cho đến giờ phút này tôi thấy có hai chỗ nói đến chữ nòng nọc của đại tộc Việt là chữ khoa đẩu nòng nọc viết trên lưng rùa gọi là Lịch rùa của Việt Thường và Lão Tử trong Đạo Đức Kinh có nói tới một tộc ở phía nam sông Dương Tử học chữ khoa đẩu. Chữ nòng nọc  gồm hai chữ cái là chữ NÒNG là vòng tròn O và chữ NỌC hình que I. Hai chữ này ghép lại hoặc biến dạng, hoặc để theo các chiều khác nhau, hoặc có phụ đề “các dấu”  có thể viết được thành những chữ căn bản.  Sau nhiều năm tìm tòi, nghiên cứu, tôi may mắn đã đọc được một số chữ nòng nọc  đủ để giải đọc được các chữ nòng nọc viết trên trống đồng. Ở trên, tôi đã đọc bốn chữ nòng nọc trên trống đồng mà các nhà khảo cổ học ngày nay gọi là “họa tiết lông công”. Xin đọc thêm một vài chữ nòng nọc thật đơn giản nữa. Trong Hán ngữ  có chữ “bốc” chỉ cách bói toán theo âm dương. Chữ bốc có một chấm tròn đen là di duệ của  chữ vòng tròn nòng và một nét thẳng chính là chữ nọc. Vậy giải tự chữ “bốc” gồm hai chữ nòng nọc vì thế “bốc” mới có nghĩa là cách bói âm dương nòng nọc.  Bộ “thủy” ba cái chấm hình ba giọt nước của Hán ngữ là di duệ của quẻ Khôn, Nước không gian viết theo chữ nòng nọc là OOO.  Chữ “nhật” là ngày gồm cái khung chữ nhật  và cái nét hình que nằm ngang. Chữ nhật hiện nay là di duệ của chữ nhật hình vòng tròn có nét ngang hay cái chấm. Khung chữ nhật là dạng nam hóa của chữ nòng vòng tròn O và cái gạch ngang (-) là dạng nọc nằm ngang. Chữ nòng vòng tròn có thể là biểu tượng của mặt trời, mặt trăng hay hư không. Cái nọc ngang mang nghĩa đực (heo đực là heo nọc). Đực là dương. Dương cũng có nghĩa là mặt trời. Như thế cái vòng tròn có phụ đề cái nọc cho biết đó là  cái vòng tròn dương tức mặt trời chứ không phải là  vòng âm có nghĩa là mặt trời âm, mặt trăng hay hư vô. Một mặt trời là một ngày, là một nhật.  Hình vòng tròn có  chấm (chấm là nọc giản lược, thu gọn lại) có nghĩa là mặt trời cũng thấy trong hình ngữ Ai Cập có nghĩa là thần mặt trời Ra. Ở đây có thể hiểu là vòng tròn là mặt trời không có tia sáng tức mặt trời nòng và cái chấm là dạng nọc giản lược như thế mặt trời Ra  là mặt trời nòng nọc giống như cái trứng có hai tròng âm dương mang nghĩa sinh tạo, vì thế mà thần mặt trời Ra được coi như là vị thần mặt trời Tạo hóa (sun as Creator), tối cao tối thượng của Ai Cập. Hình ngữ cổ Ai Cập có  hình ngữ “ankh”,  sự sống, đời sống trông giống hình cái chìa khóa nên các học giả Ai Cập học ngày nay gọi là “key of life”. Phần khoen chìa khóa hình giọt nước hay hình trứng là nòng O sinh tạo. Phần cán chìa khóa hình chữ T là nọc dưới dạng sinh động do hai nọc que ghép lại (hai nọc là thái dương, là hai que làm ra lửa). Như thế hình ngữ “ankh” do nòng và nọc sinh động ghép lại. Nòng nọc âm dương  sinh động, năng động sinh ra sự sống, đời sống…  Tương tự, người Mường cũng có cái cây nêu “wa leo” thường cắm ở ruộng lúa, theo Cuisinier là để  cho cây lúa noi gương theo chiều cao và mọc cao chừng nào hay chứng ấy  (“… de donner au riz l’exemple de la hauteur et de l’inviter à monter  aussi haut que possible”, tr. 137). Đây là hiểu theo cách duy tục. Cái wa leo hình cái “đập ruồi” phần trên là tấm phên tre đan hình lục giác (số sáu là số lão âm, số thành, sinh tạo) biến thể của chữ vòng tròn nòng và cái cán hình nọc. Nêu wa leo  thật ra  giống như hình ngữ ankh mang ý nghĩa âm dương, sinh tạo, mắn sinh, phồn thực, sinh sôi nẩy nở, được mùa. Trở lại với cái bàn thờ  ba chân cúng Bua Tam Phủ, vua Tam thế, vua Ba cõi của người Mường mà Cuisinier đã vẽ lại  ở hình số 72-5 (tr. 437). Bàn thờ có hình như cái nón lá để ngửa trên cái giá ba chân.  Mặt  hình  tròn biểu tượng cõi trên, lòng nón lõm xuống  là biểu tượng chỗ đất lõm, vực sâu,  biểu tượng cõi dưới. Ba chân đứng hình tháp nhọn như kim tự tháp là núi tháp biểu tượng cho cõi giữa đất dương trần (“Ba cây chụm lại thành hòn núi cao”). Giải thích theo thiết diện, theo hình vẽ, tức theo chữ nòng nọc, thì vòng tròn nón là nòng O biểu tượng cõi trên hư không, thiết diện lòng nón là chữ V do hai nọc ghép lại là nước dương, vực sâu (ngược với lửa, núi lửa là hình chữ V ngược “^”) biểu tượng cõi dưới. Ba chân chống hình tháp nhọn là núi trụ thế  gian biểu tượng cõi giữa dương trần. Riêng về Việt ngữ, như tôi đã viết,  ta cũng có thể chuyển Việt ngữ qua chữ nòng nọc. Ở đây xin lấy ví dụ tên tám vị tổ phụ và tổ mẫu của chúng ta. Đế Minh là vua Mặt trời ánh sáng nói nôm na là Chàng Lửa vũ trụ. Ta có Chàng là phái nam, nọc, chàng cũng là cái đục, vật nhọn (chisel) mang dương tính. Vậy Chàng = I, Lửa = II, thái dương (hai que làm ra lửa). Chàng Lửa = III, ánh sáng, Càn. Vợ Chàng Lửa là Vụ Tiên là con Le Le, Vịt trời nói nôm na là Nàng Nước: Nàng = O, Nước= OO, thái âm. Nàng Nước Vụ Tiên = OOO, Khôn. Chàng Nổng Kinh Dương Vương có Chàng = I, Nổng là núi Nọc. Thiên thạch là do lửa lỏng vũ trụ II nguội đi một phần (âm hóa đi một phần)  rắn lại mà thành tức OI, thiếu dương. Chàng Nổng = IOI, Li. Vợ Chàng Lửa thế gian là Thần Long hay Long Nữ  là loài rắn biết bay có mạng gió tức Nàng Gió. Nàng = O, gió, hơi là do nước OO dương hóa một phần (nước đun nóng bốc thành hơi) tức IO, thiếu âm. Ta có Nàng Gió = OIO, Khảm.  Theo Dịch nòng nọc đề huề Chàng Nước Lạc Long Quân với Chàng = I, Nước = OO, Chàng Nước = IOO, Chấn có vợ là Nàng Non Âu Cơ. Nàng = O,  Non = OI, Nàng Non = OOI, Cấn. Chàng Gió Hùng Lang (thường gọi là Hùng Vương) có Chàng = I, Gió IO. Chàng Gió = IIO, Đoài. Vợ Hùng Lang là Nàng Lửa có Nàng = O,  Lửa = II. Nàng Lửa = OII, Tốn … vân vân và vân vân.

Tôi sẽ viết một tác phẩm riêng về sự khám phá  ra cách đọc chữ nòng nọc này. Với sự khám phá ra cách đọc chữ nòng nọc của tôi sẽ giúp giải đọc được cổ sử Việt,  trống đồng và các cổ vật khác, giúp đọc lại cổ sử thế giới nhất là các nền cổ sử  có đạo mặt trời, vũ trụ giáo dựa trên nòng nọc âm dương như Ai Cập, Maya, Aztecs… Các nhà Ai Cập học, Maya học… ngày nay còn mò mẫm và đi lạc đường giống như các nhà nghiên cứu trống đồng hiện nay vì  không đọc được chữ nòng nọc. Hãy lấy một ví dụ để soi sáng về vấn đề này.Theo các nhà nghiên cứu Maya ngày nay,  Maya  có nghĩa là ‘not many’: “The name Mayapán, given to Maya New Empire which endured from A.D. 987 to 1697 means the ‘Standard of the Not Many’, from Maya (not many) and pán (standard). It was sometimes called Ichpa meanning ‘within the closure’, an exactly parallel idea on the Nahuaque as Lord of the Ring” (Irene Nicholson, Mexican and Central American Mythology, tr.123) (Tên Mayapán, đặt cho Tân Đế Quốc Maya kéo dài từ 987 đến 1697 sau công nguyên có nghĩa là “Tiêu chuẩn Không nhiều”, do Maya là ‘Không nhiều’ và pán ‘tiêu chuẩn’. Đôi khi cũng được gọi là Ichpa có nghĩa là “trong vòng kín”, chính là ý nghĩa song song với Nahuaque,  “Chúa Vòng”). Câu cắt nghĩa này thật là tối nghĩa và gần như là ngớ ngẩn. Đây là cách giải nghĩa đã đi lệch ra ngoài. Bây giờ ta thử dùng Việt ngữ (như đã nói Maya có nhiều điểm giống dòng nòng ngoại của chúng ta, có tác giả  cho rằng Maya liên hệ với Bộc Việt) và chữ nòng nọc để tìm nghĩa đích thực của tên tộc Maya xem sao. Đối chiếu với Việt ngữ ta thấy “Maya” (không nhiều) quả thật có nghĩa là Mấy (mấy cũng có nghĩa là không nhiều như sức mấy, mấy  hơi, mấy kẻ…). Mấy liên hệ với mỡ, mậu, mụ, mô có nghĩa là không, không có gì. Do đó “Maya” chính là “Mấy”,  “Không”. Pán chính là Việt ngữ  “bản”, buôn, mường chỉ người, chỗ ở, đất nước. Bản về sau cũng có nghĩa là căn bản, đơn vị gốc dùng làm tiêu chuẩn, các nhà nghiên cứu Maya hiện nay đã hiểu theo nghĩa standard  là tiêu chuẩn này. Mayapán là Bản Mấy, Bản Không, Mường Mấy, Mường Không.  Không có nghĩa là hư không, là Khôn, Nòng. Từ Mayapán có nghĩa đi đôi  với Ichpa   có nghĩa là  “within the closure”, là “quây kín”, “Ring”, “Vòng”. “Lord of the Ring”  là “Chúa Vòng”.  Ở đây ta phải hiểu theo chữ nòng nọc, theo vũ trụ giáo. Theo v=n, víu = níu, Vòng = Nòng. Vòng là Nòng, là Khôn tức ngành âm. Rõ như ban ngày là Maya là Mấy, Không mang ý nghĩa Vòng, Nòng, Khôn, Hư Không. Maya là một tộc thuộc ngành Nòng,  Ngoại, Khôn trong vũ trụ tạo sinh. Điều này cũng thấy rất rõ là khuôn mặt mặt trời nổi bật nhất, ngự trị nhất của Maya là mặt trời cõi âm có biểu tượng là con báo. Theo duy dương  Maya là một thứ  Bộc Việt, theo duy âm  là một thứ  Âu Việt  thuộc ngành nòng ở Mỹ châu. 
19.    Vũ trụ luận và Dịch học là những phạm trù những phức tạp thì làm sao có thể chất chứa trong những ngôn ngữ bình dân dân dã?

Đ.

Những ngôn ngữ bình dân, dân dã chính là ngôn ngữ thuần Việt. Việt ngữ phải nói là một thứ ngôn ngữ tuyệt vời. Nó vẫn tồn tại sau cả ngàn năm bị tẩy trừ bởi văn hóa, ngôn ngữ Trung Hoa. Như thế nó cũng thánh thần như tiếng Trung Hoa nên mới địch lại nổi tiếng thánh hiền của Trung Hoa. Các nhà nho trọng chữ “thánh hiền” nên mạt sát tiếng Việt là nôm na mách qué. Thật ra Việt ngữ  thừa khả năng diễn tả vũ trụ luận và Dịch, dĩ nhiên theo vũ trụ quan của tộc Việt. Việt ngữ liên hệ mật thiết với Dịch. Việt ngữ là một thứ ngôn ngữ nhị nguyên  cũng có âm dương. Hãy lấy một ví dụ về hai từ “cái và con”. Cái có  nghĩa trái với đực, âm, mẹ, to (như ngón cái, con cái thường to hơn con đực) thường  đi với các từ mang tính tĩnh (không cử động) như cái nhà, cái hang, cái nồi… Từ con mang tính động,  đi với những từ  hàm nghĩa cử động, chuyển động như  con mắt, con người, con ngươi (co nhỏ,  nở lớn được), con vật, con nước (nước chuyển động được), con trăng (trăng di chuyển, thay đổi hình dạng và liên hệ với con nước)… Tĩnh là âm, động là dương. Một từ có thể đi cả với cái và con được tùy theo  lúc từ đó mang nghĩa tĩnh hay lúc mang nghĩa động. Ví dụ cái thuyền chỉ thuyền tĩnh, không chuyển động, thuyền đậu, còn con thuyền chỉ thuyền động, đang chuyển động trên dòng nước. Ngày nay chúng ta dùng cái và con  loạn xà ngầu. Việt ngữ chỉ dùng có một từ mà diễn dịch được Dịch lý. Tôi đã viết Dịch phát xuất từ  một từ  duy nhất là từ Nang (nang là bọc là hư không, không gian, Trung Hoa gọi là  vô cực), sau đó cực hóa thành Nòng (ngày nay nói là lòng, tròng hàm nghĩa là trứng) tức là trứng  có hai tròng âm dương (Trung Hoa gọi là thái cực). Nòng trứng nòng nọc sau đó tách ra làm hai (Trung Hoa gọi là lưỡng nghi):  nòng  âm là Nàng (Nường) và nọc dương là  Nống (cây gậy chống) hay Nạng (nạng là nọc, cọc, que, gậy như chống nạng).  Nàng nạng (ngày nay nói là nàng-lang)  tương giao sinh ra Bốn nguyên sinh động lực chính (Trung Hoa gọi là tứ tượng): 1. nồng (có nghĩa là nóng như nồng nực, nồng cay) hay nóng (lửa); 2. nổng (núi hình nống, núi nọc dương); 3. nỏng (nước) và 4. nông (là dông, là gió động, gió dương hay không là không khí, gió). Anh thấy đấy,  ta có thể dùng các từ rất nôm na diễn tả được Dịch. Qua  tiếng Việt  Dịch thật chí lí và dễ hiểu. Dịch phát xuất từ trống không theo chúng ta là từ cái Nang, cái túi trống không. Dịch Trung Hoa phải dùng những từ khác nhau để diễn đạt diễn trình của Dịch trong khi tiếng Việt các tiến trình của Dịch chỉ là tiến trình biến âm của MỘT từ NANG. Điểm này cũng cho thấy  cổ Việt có thể  có một thứ dịch riêng là chuyện  chấp nhận được vì nếu chúng ta lấy của người Trung Hoa thì chúng ta đã phải dùng nhiều từ để dịch từng chữ một (mot par mot) của những quá trình tiến hành của Dịch Trung Hoa.

Tiếng Việt thật tuyệt vời, tôi đã  đối chiếu Việt ngữ với tất cả ngôn ngữ của loài người để tìm nghĩa ngữ  và học tiếng loài người và ngược lại dùng tiếng loài người để tìm nghĩa ngữ tiếng Việt. Đặc biệt là đối chiếu Việt ngữ  với  Ấn-Âu ngữ. Học  ngoại ngữ bằng tiếng Việt dễ vô cùng. Tôi đã viết xong bản thảo về quyển Tiếng Việt Kỳ Diệu, Sự Liên Hệ Giữa Việt Ngữ và Ấn Âu Ngữ và có tham vọng viết quyển Nguồn Gốc Ngôn Ngữ Loài Người Qua Tiếng Việt. Tiếng Việt liên hệ mật thiết với những tiếng cổ nhất của loài người. Tôi đã khám phá ra câu nói  cuối cùng của Chúa Jesus khi bị đóng đinh  trên thánh giá không phải là  tiếng Do Thái, tiếng Latin, tiếng Ả Rập… mà là một thứ tiếng cổ của loài người,  giống hệt tiếng Việt, có thể coi câu nói cuối cùng của đấng Christ  là một câu  nói bằng tiếng Việt cổ.  Bài viết này tôi còn giữ lại vì biết  nếu có gởi đi các báo  thì chắc chẳng có báo nào dám đăng vì  e sợ nó “táo bạo” quá. Tôi sẽ đăng trong quyển Tiếng Việt Kỳ Diệu.
20.    Có thể truyền thuyết và cổ sử được nhìn thấy qua ca dao tục ngữ? Những câu ca dao, tục ngữ cũng có thể hiểu  bằng ý nghĩa đơn giản hơn, gần gũi thực tế hơn và ít bác học hơn?

Đ.

Như tôi nói ca dao tục ngữ bao trùm cả đời sống tinh thần, vật chất và xã hội của người Việt vì thế truyền thuyết và cổ sử Việt  không nhiều thì ít cũng có thể nhìn thấy qua ca dao. Ví dụ  câu ca dao nói về nguồn gốc đại tộc Việt:
        Gió Động Đình mẹ ru con ngủ,
        Năm canh trường thức đủ năm canh…

nói về Phù Đổng Thiên vương:
Ông Đổng mà đúc trống đồng

nói về nhân vật  cổ sử mang tính truyền thuyết  như Cao Biền:

        Lò rò như cua bò đất cát,
        Lẩy bẩy như Cao Biền dậy non.

và ngay cả lịch sử đôi khi cũng thấy qua ca dao tục ngữ như

Tháng tám có lệnh vua ra,
Cấm quần không đáy người ta hãi hùng.
Không đi thì chợ chẳng đông,
Đi thì phải lột quần chồng sao đang?
Có quần ra quán bán hàng,
Không quần ra đứng đầu đàng trông quan. 

Câu này nói về sự kiện lịch sử là vào năm Mậu Tí (1828) vua Minh Mạng theo Tây phương cấm phụ nữ miền Bắc mặc váy cổ truyền.

Phần lớn và gần như hầu hết ca dao tục ngữ được hiểu theo nghĩa đơn giản nhưng một số phải hiểu theo nghĩa bác học. Ví dụ như câu:
Ba vuông sánh với bẩy tròn,
Đời cha vinh hiển đời con sang giầu.
hay

Mẹ tròn con vuông
hoặc
Mồng năm mười bốn hăm ba,
Đi chơi cũng lỗ nữa là đi buôn.

Những con số trong những câu này phải hiểu theo ý nghĩa các con số trong Dịch.

21.    Ngôn ngữ thay đổi tùy theo thời gian. Vậy làm sao  ý nghĩa của tục ngữ  và ca dao  trung thực được nếu chúng ta suy diễn bằng ngôn ngữ hiện đại?

Đ.

Ngôn ngữ thay đổi theo thời gian ta phải truy tìm những địa khai ngôn ngữ như đã nói về hai từ “đàn bà”, “đàn ông” là dấu tích cho thấy rõ  hai xã hội mẫu hệ và phụ hệ của cổ Việt. Ngôn ngữ thay đổi theo từng vùng bị ảnh hưởng của mỗi “đàn” người Việt cũng rất hữu ích. Hãy lấy ví dụ  cây đa và cây da. Cây Đời, Cây vũ trụ miền Bắc gọi là cây đa, Trung Nam gọi là cây da. Sự khác biệt này cũng cho ta thấy được hai “đàn” người trong xã hội Việt Nam. Đa có nghĩa là lửa, mặt trời. Các tổ phụ,  dòng dõi mặt trời Mường Việt cổ gọi là đa, đá như Đa Cần, Đá Cần, Đá  Cài, bánh đa là bánh mặt trời, gò đống Đa là gò đống lửa, Mặt trời (trong khi Đống Lã là đống “Nước). Phạn ngữ “dagh” là thắp sáng liên hệ với lửa, mặt trời. Cây đa là cây trời, trụ trời, cây vũ trụ mang dương tính của ngành nọc, thuộc ngành “đàn ông”. Da là cái túi bao bọc thân người. Thái ngữ gọi da là  “nang” (Việt ngữ nang là túi, bọc). Hán Việt bì là da. Bì có một nghĩa là bao bọc ví dụ cân trừ bì là cân trừ bao, trừ bọc. Vũ trụ hư không  là một cái bọc, cái túi, cái trứng vì thế mà chúng ta cũng dùng từ da cho bầu trời ví dụ như màu xanh da trời.  Cây  vũ trụ da là cây “nang”, cây nông là cây bầu hư không, bọc vũ trụ thuộc dòng nòng, ngành “đàn bà”.

Khi gặp những chữ cổ Việt nhiều khi chúng ta phải dựa vào qui luật biến âm lịch sử để truy tìm  nguồn gốc nghĩa ngữ từ kim qua cổ hay từ cổ qua kim ví dụ như từ hen. Hen là từ thuần Việt  tương đương với từ Hán Việt suyễn  chỉ  chứng bệnh gây ra do sự co bóp, tắc nghẹt đường thở khiến bệnh nhân khó thở, lên cơn cò cử. Hen là gì? Theo qui luật biến âm  lịch sử h=c=k như  hủi = cùi, ta có hen = ken = kèn. Bệnh hen là bệnh kèn. Ta có thể kiểm chứng lại bằng qui luật h=kh như hì hì = khì khì, ta có hen = khèn. Vậy bệnh hen  là bệnh kèn, bệnh khèn. Người bị bệnh hen khó thở lên cơn cò cử như thổi kèn, thổi khèn, chứng tích còn thấy rành rành qua câu ca dao:

    Chồng hen lấy vợ cũng hen,
    Đêm nằm cò cử như kèn thổi đôi.
Bệnh hen là bệnh kèn, bệnh khèn.
vân vân và vân vân…

Cũng cần lưu tâm là ngôn ngữ thay đổi theo thời gian nên chúng ta không thể đem áp dụng một cách mù quáng những qui luật ngữ pháp, văn phạm của chữ quốc ngữ hiện nay vào công việc nghiên cứu tiếng cổ Việt. Thời cổ Việt không có chữ quốc ngữ, nên không thể nói người cổ Việt nói n, l, ch, tr, s,ch… hỏi, ngã, sắc, nặng, huyền, không dấu  sai ngữ pháp hay nói ngọng.
Điểm chính là phải tìm được nguồn gốc nghĩa ngữ và chọn một nghĩa của một từ nào đó đem áp dụng cho thích hợp để được trung thực. Nhiều khi tôi dùng cả những ngôn ngữ liên hệ với Việt ngữ để truy tìm nghĩa ngữ ví dụ như trong Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt tôi đã viết một bài giải thích từ Man mà người Trung Hoa gán cho cái nghĩa mọi rợ man di vào. Man liên hệ với Mán, Mường có nghĩa là Người, liên hệ với Anh ngữ “Man”, Người. Người là Ngời là sáng, là Tỏ là Đỏ là Mặt trời. Man là Người Mặt trời.

22.    Có phải dòng tư tưởng chính của dân tộc mai một thành ca dao tục ngữ?

Đ.

Không hoàn toàn là như vậy nhưng những mảnh vụn, những địa khai của dòng tư tưởng của dân tộc có thể  còn thấy trong ca dao tục ngữ. Từ những mảnh vụn, những địa khai này chúng ta cố moi tìm, tái tạo lại để tìm kiếm ra dòng tư tưởng của dân tộc được chừng nào hay chừng ấy. Dĩ nhiên ta  phải kiểm chứng lại bằng các phương pháp tổng hợp khoa học khác.

23.    Văn chương truyền khẩu được lưu truyền trong dân gian theo anh bằng cách nào để tồn tại?

Đ.

-Một câu nói, một câu vè, một bài hát khi được dân gian chấp nhận, tán đồng, đồng tình rồi lưu truyền từ đời này qua đời kia tức ghi vào sử miệng thì chúng trở thành ca dao tục ngữ. Bất cứ ai, anh hay tôi đều có thể làm thơ, làm vè thả vào dân gian bằng cách này hay cách khác, nếu được dân gian chấp nhận và truyền miệng thì những câu thơ, câu vè đó thành ca dao và khi đó nó thuộc về dân gian. Ví dụ mấy câu thơ của một thi sĩ nổi tiếng ở Huế

Chiều chiều ra bến Văn Lâu,
Ai ngồi ai câu, ai sầu ai thảm;
Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông…

giờ đã trở thành ca dao. Vì thế  cái nhân sinh quan cái vũ trụ quan thấy trong ca dao có thể phản ánh phần nào cái dòng tư tưỏng chung của dân tộc Việt.

24.    Phần tra cứu của tác phẩm được đặt ở sau mỗi chương sách. Như vậy mỗi chương sách độc lập với nhau hay có cùng một nội dung nhất quán?

Đ.

Vì ca dao tục bao trùm nhiều mặt của  người Việt như tâm thần, thể xác và xã hội nên nội dung quyển Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt cũng không nhất quán. Các chương Vũ Trụ Luận và Dịch Qua Ca Dao, Truyền Thuyết và Cổ Sử Việt Qua Ca Dao và một số bài trong các chương Biểu Tượng Làng Xã, Đồng Quê Qua Ca Dao, Phong Tục Tập Quán Qua Ca Dao… có cùng một mục đích là thuyết minh về vũ trụ giáo và mặt trời giáo. Riêng chương Y Học Qua Ca Dao có nội dung độc lập.

25.    Anh có thông hiểu về những loại cổ ngữ của người thượng du miền Bắc hay miền cao nguyên không? Và có giúp anh trong việc đi tìm lại nguồn gốc của tổ tiên chúng ta?

Đ.

Ngôn ngữ có thể là một dụng cụ  dùng đi tìm cổ sử, nguồn cội của dân tộc,  tuy nhiên ngôn ngữ không phải là điều quyết định.  Luận thuyết chỉ dựa một mình vào ngôn ngữ không đứng vững. Những loại cổ ngữ của các dân tộc trong địa bàn Bách Việt cũng nhiều khi rất hữu ích nhất là trong việc tìm hiểu các từ cổ sử Việt. Tôi truy tìm được một số nhỏ các tài liệu về ngôn ngữ của các tộc gọi là “thiểu số” (hiện nay gọi là “ít người”). Tôi được cố giáo sư Nguyễn Đình Hoà, giáo sư Trần Ngọc Ninh, bác sĩ Nguyễn Hy vọng cho và cho mượn một số tài liệu về ngôn ngữ Nam Á và những loại ngôn ngữ ít người này. Một thứ ngôn ngữ tôi mong có được nhất là tiếng Mường. Tôi cố lùng tìm một quyển từ điển về chữ Mường nhưng chưa tìm ra. Hiện giờ tôi phải đi nhặt nhạnh từng  từ  một trong các tác phẩm viết về người Mường, ngay cả trong những sách vở của người di dân Mường ở Mỹ, giống như nhặt những hột thóc trong thúng gạo.

26.    Anh có nghĩ thuyết phục được độc giả trong vấn đề này là một điều khó khăn? Bởi có nhiều điều mới lạ và phức tạp?

Đ.

Thưa anh, tổng quát mà nói những khai phá thường cần một thời gian để thuyết phục. Những khai phá của tôi lại làm đảo lộn dòng tư tưởng hiện tại về cổ sử Việt thì lại cần phải thời gian lâu dài hơn, khó khăn hơn. Tuy nhiên tôi vững tin là không chóng thì chầy cũng có kẻ giỏi hơn tôi, sẽ hiểu những điều tôi viết. Có điều tôi rất lấy làm ngạc nhiên là những khai phá của tôi rất là khoa học và không có gì gọi là không tưởng cả mà lại khó thuyết phục được những nhà làm văn hóa Việt. Tôi  minh xác  cái  cốt lõi của văn hóa và cổ sử Việt là vũ trụ giáo và mặt trời giáo, từ  cái cốt lõi này bồi đắp thêm vào các văn hóa khác như của Trung Hoa, Ấn Độ (trong đó Phật giáo có ảnh hưởng sâu đậm), Đa Đảo  và sau này của Tây phương. Nó rõ như dưới ánh sáng mặt trời. Tổ tiên chúng ta theo vũ  trụ giáo  dựa trên âm dương nòng nọc, có căn bản  triết thuyết  là Dịch nòng nọc. Tổ tiên chúng ta thờ bái mặt trời, theo đạo mặt trời, nằm trong vũ trụ giáo, cũng chỉ là một chuyện đương nhiên, rất thường tình chẳng có gì là hoang tưởng cả. Hãy nhìn chung quanh chúng ta, các vua chúa Trung Hoa cũng nhận là “Thiên tử”, Con trời; Nhật Bản nhận mình là con cháu Thái dương thần nữ Amaterasu, vua Nhật Bản tự nhận mình là thiên hoàng;  các vương tộc Ấn Độ tự nhận mình thuộc dòng mặt trời Surya Vansha; vua chúa Lưỡng Hà nhận là con cháu thần mặt trời Shamash;  các Pharaohs Ai Cập nhận mình là  con cháu thần mặt trời Ra; Hy Lạp nhận mình là dòng dõi mặt trời Helios hay Apollo; Aztecs nhận mình là Người Mặt trời, Incas nhận mình là dòng thần mặt trời Inti… Đạo thờ mặt trời rất phổ quát (universal) thấy khắp nơi trên thế giới. Sự tôn sùng mặt trời như một đấng toàn năng bắt nguồn ngay từ khi con người còn ăn lông ở lỗ, còn chui hang. Khi đêm về, mặt trời lặn không còn thấy nữa, bóng tối bao trùm,  lạnh giá, thú dữ cùng những kinh hoàng khác hiện ra… Rồi bình minh trở lại, mặt trời như một thần linh,  một cứu tinh, mặt trời là lẽ sống hiện ra… Cái  buồn sợ lúc chui hang thời thượng cổ khi bóng đêm buông xuống đã in ấn vào các di thể (gene) nên còn truyền lại tới con người bây giờ. Ngày nay chiều chiều  khi hoàng hôn xuống con người cũng vẫn còn cảm thấy có một cái buồn man mác. Cách đây bốn mươi năm tôi đã làm một bài thơ với tựa đề “Cho Em”, trong đó có mấy  câu thơ nói đến cái  buồn của người tiền sử lúc chui hang này như sau:

        Anh cho em,
        Chiều vàng tiền sử,
        Con người buồn khi tắt nắng vào hang.
         Bàn chân dại dưới trời nguyên tử,
        Thái dương sầu vì những nốt tàn nhang.
                (Thần Tượng, thơ, 1963).
(nốt tàn nhang là những black holes).
Chung quanh chúng ta  mọi dân tộc đều nhận mình là dòng dõi mặt trời, thờ phượng mặt trời thì chúng ta là con cháu Hùng vương, Vua mặt trời và chúng ta thờ phượng mặt trời thì có điều gì là nghịch lý đâu? Đó là sự thật rất hiển nhiên. Còn Việt Dịch nòng nọc ư?  Trống đồng là bộ kinh Dịch bằng đồng mà chưa có một quyển sách Dịch nào từ xưa tới nay tôi đã đọc sánh bằng.
-Anh có dự định phổ biến tác phẩm này dưới dạng Anh ngữ và Pháp ngữ không?

Đ.

Tôi rất mong được phổ biến những khám phá này dưới dạng Anh, Pháp ngữ, nhất là quyển “Giải Đọc Trống Đồng Đông Nam Á”  vì quyển sau này có tầm vóc quốc tế.  Hiện nay tôi đã  tự chuyển được vài ba chương của quyển viết về Trống đồng qua Anh ngữ  dưới đề tựa là “Deciphering of the South-East Asian Bronze Drums” (Tôi dùng từ “Giải Đọc” tức “deciphering” chứ không dùng từ “Giải Mã”,  “decoding” vì trên trống đồng Đông Sơn các “hoa văn” chính là các chữ nòng nọc chỉ cần đọc như đọc các loại chữ khác,  đó không phải là  những mật mã dùng trong gián diệp, tình báo, quân sự nên đâu cần đến giải mã). Các khám phá của tôi không phải chỉ giúp khai phá cổ sử, văn hóa Việt mà còn giúp cho các nhà khảo cứu các nền văn hóa cổ của nhân loại nhất là những tộc thờ mặt trời, vũ trụ giáo như chúng ta, hiện đang còn đi lạc đường. Hãy lấy một ví dụ để soi sáng điểm này. Người Aztecs thuộc dòng mặt trời nước. Truyền thuyết tạo sinh vũ trụ của Aztecs gồm có 5 mặt trời. Mặt trời nguyên tạo là Mặt trời nước (Water-sun).  Aztecs có nghĩa là “Heron people” (Người Cò).  Chúng ta là Lạc Việt với Lạc có nghĩa là Mặt trời lặn (lạc dương), mặt trời dòng nước và Lạc là con Cò. Người Aztecs tự nhận mình là “People of The Sun”, chúng ta là Man, Mán, Mường là Người, là Ngời, là Tỏ là Đỏ là Mặt Trời. Chúng ta là Xích Quỉ, Kẻ Đỏ, cũng là Người Mặt trời. Aztecs là một thứ “Lạc Việt” ở Mỹ châu. Họ cũng có vị “cha già”, “bố già” là một người râu tóc bạc phơ, mặc quần áo trắng tinh, hình bóng của “bố già” Lạc Long Quân Mặt trời nước của chúng ta. Lạc Long Quân khi chia tay dặn con cháu là khi cần sẽ trở về giúp các con vì thế dân Việt khi gặp khó khăn thường kêu cứu “bố ở đâu sao không về cứu chúng con”. Người Aztecs cũng tin vào truyền thuyết là bố già râu tóc bạc phơ của họ có ngày sẽ trở về cứu giúp họ.  Chính vì hình  bóng thần tổ râu tóc bạc phơ này mà cả đế quốc Aztecs đã bị  sụp đổ vào tay Hernandez Cortez, một tay viễn chinh người da trắng Tây Ban Nha râu tóc dài… (KQKTCSHV, tr. 219)… 

Tôi đang cần tìm một số dịch giả giúp tay để cho việc chuyển ngữ này  hoàn tất nhanh chóng.

27.    Anh có điều gì muốn nói thêm với độc giả?

Đ.

Chỉ xin tóm lược lại là  cái cốt lõi của văn hóa Việt là vũ trụ giáo mặt trời giáo. Từ cái cốt lõi này bồi đắp, khoác lên các lớp vỏ, lớp áo ngoài của những nền văn hóa mà chúng ta tiếp cận như Đạo giáo Trung Hoa, Phật giáo, Ấn giáo, Đa Đảo và văn hóa Tây phương. Muốn hiểu thông suốt văn hóa Việt phải dựa vào vũ trụ giáo vào Dịch để tìm  hiểu. Không nhìn dưới lăng kính Dịch học thì không bao giờ hiểu thấu triệt được văn hóa Việt, kể cả văn hóa Đông Sơn. Cần lưu tâm là có nhiều loại Dịch, chúng ta có một loại Dịch riêng biệt  mang sắc thái Việt vì thế không thể dùng Dịch Trung Hoa mà giải thích văn hoá Việt một cách máy móc. Dĩ nhiên có một số truyền thuyết và những nét văn hóa muộn bị ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa do các nho sĩ diễn đạt theo Dịch Trung Hoa. Khi nghiên cứu cổ sử, văn hóa Việt ta phải đối chiếu với tất cả các loại Dịch kể cả Dịch Trung Hoa để tìm ra một giải đáp thích đáng. Những nét văn hóa, truyền thuyết dựa vào Dịch Trung Hoa là những bồi đắp, những lớp áo  muộn sau này của Đạo giáo Trung Hoa phủ lên trên cái cốt lõi Việt dựa trên Việt Dịch nòng nọc. Hãy lấy một ví dụ để soi sáng điểm này. Theo truyền thuyết trăm Lang Hùng sinh ra từ bọc trứng “ném ra ngoài đồng”, năm mươi Lang theo cha xuống biển, năm mươi người lên non theo mẹ. Như đã nói, theo Dịch nòng nọc âm dương đề huề liên hệ mật thiết với chúng ta thì Lạc Long Quân có một khuôn mặt Chấn Thần biển nên đem con xuống biển lấy Âu Cơ theo Dịch này là Cấn, Non nên đem con lên non. Có truyền thuyết  nói bọc trứng là “bọc trứng chim”. Theo Dịch Phục Hy Chấn tương giao hôn phối với Tốn, gió âm. Chim có một khuôn mặt biểu tượng cho gió, Âu Cơ theo Dịch này có mạng gió nên đẻ ra bọc trứng chim. Đó là nhìn về phía mẹ. Nếu nhìn theo con, thì Hùng Lang có mạng Đoài  theo Dịch nòng nọc  vũ trụ tạo sinh ở cõi trời là bọc khí  dương như thế Hùng Vương sinh ra từ bọc trứng chim cũng chấp nhận được. Còn ở cõi thế gian thì Đoài theo bất cứ loại Dịch nào cũng có nghĩa là ao đầm. Đây là lý do có truyền thuyết nói là đem quăng bọc trứng ra ngoài đồng. Ruộng đồng nước có nguồn gốc từ  ao đầm  sinh ra (ruộng chiêm là ruộng chằm, ruộng sâu, gốc từ ao đầm). Nếu coi Hùng Lang  là các vị vương thế gian thì Hùng Lang có bản thể là ao đầm. Hùng Lang mạng ao đầm nên sinh ra ngoài ruộng nước, nơi chôn nhau cắt rốn là ao đầm, ruộng nước. Bọc trứng ở ruộng nước  có thể là bọc trứng ếch như tôi đã viết trong Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt. Bọc trứng ếch có một trăm, một nghìn cái trứng là chuyện tự nhiên. Hùng Lang thế gian có mạng ao đầm nên kinh đô sau này của Hùng Lang là Việt Trì, cái Ao Việt. Đây là một ví dụ cho thấy một truyền thuyết  viết đi viết lại theo dòng lịch sử có thể  có những chi tiết ứng với nhiều thứ Dịch. Dĩ nhiên yếu tố “xuống biển, lên non”  theo Dịch nòng nọc âm dương đề huề vẫn là điều cốt lõi.
Xin đọc và cho ý kiến vì đây là một vấn đề trọng đại cho tộc Việt. Một dân tộc không biết rõ cái cốt lõi, cái  bản sắc, bản thể mình là một dân tộc trôi dạt dật dờ trong dòng văn hóa thế giới. Có thể có nhiều chi tiết tôi viết lệch lạc vì Dịch không phải là dễ quán triệt,  Khổng Tử  là bậc thánh mà còn nhận là mình chưa thấu hiểu hết Dịch lý, huống chi tôi chỉ là người đọc Dịch một cách tài tử, vì thế  nếu tôi có lầm lẫn đôi điều khi diễn giải Dịch thì cũng là chuyện thường tình. Cũng có thể  tôi đã dựa vào các tham khảo không chính xác, có thể tôi vấp vào những lỗi lầm kỹ thuật… Nếu thấy sai sót tôi sẽ  hoan hỉ chấp nhận và sửa chữa lại trong kỳ  tái bản tới. Vốn là một thầy thuốc lúc nào tôi cũng học hỏi và sửa sai. Một thầy thuốc mà không  học hỏi, sửa sai suốt đời thì giết người không gớm tay. Nếu thấy bị hiểu nhầm hay người góp ý kiến không đúng, tôi có cơ hội nói lại để làm sáng tỏ  vấn đề. Xin hãy góp ý kiến  với một tác giả khi họ còn sống để  có đối thoại. Tôi sẵn sàng đối thoại với các ý kiến xây dựng và xin từ chối trả lời những ý kiến có tính các bài bác, bôi bẩn một các hạ cấp.

Theme: Silver is the New Black. Blog at WordPress.com.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.