Bac Si Nguyen Xuan Quang’s Blog

April 16, 2009

HỌC ANH NGỮ BẰNG VIỆT NGỮ

Filed under: 3. Những Từ Về Ăn — Quang Nguyen @ 6:23 am

  HỌC ANH NGỮ BẰNG VIỆT NGỮ


                        (tiếp theo)

 
                               (Kỳ 3)                
                                                       

                                              Nguyễn Xuân Quang

 Những chữ viết tắt và qui ước:

-Dấu bằng (=)  có nghĩa là, liên hệ với, tương đương, gần cận nhau, giống nhau.
-Chữ trong  hai  gạch nghiêng  /…/ là thanh, thinh, âm, âm vị, chỉ  phát  âm theo tiếng Việt hay tiếng Anh.
-Mẫu tự trong ngoặc đơn của một từ có nghĩa là bỏ đi hay câm ví dụ Anh ngữ cổ brus (breast), vú  có b(r)u- =  bú, vú (bỏ r hay r câm)…
-Dấu (*) có nghĩa là gốc tái tạo không có trong ngôn ngữ thành văn (written records).
-Tôi chỉ giới hạn vào các nghĩa gốc tương đồng và để qua bên các nghĩa phụ, nghĩa bóng bẩy, nghĩa lóng. . .
…………………….
 

Trước khi bước vào phần từ vựng, xin nhắc lại một vài điểm mấu chốt:


-Biếm âm dựa vào các qui luật biến âm lịch sử thấy trong Việt ngữ  và Ấn-Âu ngữ.
-Biến âm dẫn đến biến nghĩa. Thường có ba trường hợp: biến nghĩa trực tiếp hay thẳng có nghĩa y chang; biến âm lệch và biến âm chéo, nghĩa có khác đi nhưng nói cho cùng vẫn có cùng một nhóm nghĩa mẹ. Vì thế các nhà tầm nguyên ngữ học Tây phương giải nghĩa các từ theo biến âm trong ngôn ngữ Tây phương, trong khi tôi giải nghĩa theo biến âm trong Việt ngữ nên có thể có dị biệt nhưng không hẳn là ai sai ai đúng mà cả hai đều có thể đúng cả nếu hiểu theo biến nghĩa ví dụ như trường hợp từ banquet, theo Tây phương là “ăn ngồi băng (ghế)”, trong khi, theo tôi, banquet là  ăn ngồi bàn tức (ăn) cỗ bàn (xem banquet). Xin đừng quá tin vào sách vở ngoại ngữ mà vội vã cho rằng tôi sai.
-Biến âm có thể theo  phát âm của Việt ngữ hay Anh ngữ và biến âm có thể theo mặt chữ.
-Trong Việt ngữ tiếng láy, tiếng ghép, tiếng đi đôi với nhau thường có nghĩa như nhau hay gần như nhau, nhìn chung chung có cùng một gốc nghĩa.

*
Bây giờ chúng ta hãy đi vào phần học từ vựng Anh ngữ bằng Việt ngữ. Khởi đầu chúng ta hãy học những từ liên hệ với ăn vì có thực mới vực được đạo và theo người Trung Hoa dĩ thực vi tiên và trong tứ khoái ăn là đệ nhất khoái.

Để tiện việc tra cứu, tôi viết theo Anh-Việt và xếp theo thứ tự ABC.

                    A

A biến âm mật thiết với   E, I, O, U. . .
A=E=I=O=U…
Như   mạ, má = mẹ, mệ = mị = mợ = mụ…

-aliment, đồ ăn, thực phẩm, nuôi ăn, nuôi dưỡng, cấp dưỡng.

 
có al- = ăn, liên hệ với gốc Phạn ngữ ad-, ăn (xem eat).

                   B

     B biến âm mật thiết với M, P, Ph, V. . .
    .B=M=P=Ph=V

-banquet, cỗ, cỗ bàn, tiệc, tiệc tùng.

 
Các nhà tầm nguyên ngữ học Tây phương cho là có gốc từ Latin bancus, bench (băng, ghế dài), Pháp ngữ banquette (ghế dài nhỏ), banc (ghế dài lớn).  Ngày nay chúng ta có từ kéo ghế là đi ăn tiệm. Khi du lịch tới Chiang Mai, Giềng Mới, phía bắc Thái Lan, dự đêm văn hóa của tộc  Lana Thái,  chúng tôi được mời ăn cỗ khantoke kiểu đặc thù Lana Thái. Lana Thái một sắc tộc thiểu số Thái  có Lana là “lúa nà” (Việt ngữ nà là ruộng nước), “lúa nước”, tộc trồng Lúa Nước (Rice field country), liên hệ với Lạc Việt Ruộng Nước chúng ta (xem Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Từ khantoke là ăn  cỗ, ăn tiệc với khanto, ăn (có khan- = can = cắn),  khan- ruột thịt với khảo là gạo (cơm). Như vậy ăn cỗ khantoke là ăn ngồi ghế hay ăn cơm trên ghế. Cơm tổng quát có nghĩa là ăn (xem chữ comestible). Còn –ke = kê = ghế = chair (xem chữ này). Nếu hiểu như thế thì banquet có gốc banc- (ghế) là ngồi ghế ăn. Hiểu như vậy là hiểu theo nghĩa lệch. Thật ra, theo Việt ngữ,  banquet phải hiểu theo nghĩa thẳng là ban- = bàn. Việt ngữ có từ đôi cỗ bàn với cỗ = bàn. Ăn cỗ là ngồi bàn ăn một cách thịnh soạn.  Ăn ngồi bàn là ăn cỗ, ăn tiệc. Khi du lịch tới Nam Dương, chúng tôi cũng đi ăn cỗ, ăn tiệc kiểu đặc thù Nam Dương. Nam Dương ngữ  có từ ăn cỗ, ăn tiệc mà người Hòa Lan (mẫu quốc thuộc địa của một vài vùng ở Indonesia) dịch ra là rijstafel có rijs = gạo, tafel = bàn. “Bàn cơm” hay “ăn cơm trên bàn” là bàn cỗ, cỗ bàn, bàn tiệc.  “Bàn cơm” rijstafel có đến trên sáu chục món ăn. Ăn cỗ bàn kiểu khantoke và rijstafel cũng chỉ là một hình thức của cỗ bàn kiểu Việt Nam. Bàn và ghế dù là nghĩa lệch hay nghĩa thẳng cũng ruột thịt với nhau. Bàn và ghế đi đôi với nhau thành một bộ bàn ghế (bàn phải có ghế và ghế phải có bàn mới đủ bộ). Cả hai nguyên thủy cùng có một gốc chung là một miếng gỗ. Bàn và ghế nguyên thủy chỉ là một tấm gỗ kê cao lên (xem table). Theo c=g, cỗ = gỗ. Gỗ biến âm với giỗ vì thế ăn giỗ và ăn cỗ nhiều khi dùng trùng nhau. Ta cũng thấy ngày xưa chỉ khi nào có lễ lạc, giỗ tết mới làm cỗ, mới ăn cỗ, ăn bàn, ngồi ghế, còn thường ngày ăn đất, ngồi dưới đất ăn.
Tóm lại banquet = cỗ bàn, ăn cỗ, ăn tiệc, tiệc tùng.

                        C

   C biến âm mật thiết với  CH, G, H, K, Q, QU, S. . .
   C=CH=G=H=K=Q=QU= S…

1. c=g, corner, góc có cor- = góc.
2. c=h: cut, cắt, hớt = hớt (cắt tóc = hớt tóc).
3.  c=q: Pháp ngữ  biscuit, bánh bích-quy (biscuit có bis- là hai lần, -cuit là nấu chín. Bánh nướng chín hai lần) có –cuit = quy (c=q).
4. c=s: corn = sừng, sỏ.

-carrot, cà-rốt (phiên âm),  một thứ củ dùng làm rau có màu vàng nghệ-cam.

 
có gốc cà-, vàng nghệ (xem curry).

-comestible, ăn được, comestibles, đồ ăn (danh từ số nhiều).

có com- liên hệ với Việt ngữ cơm. Com- = cơm. Cơm gao là món ăn chính  của chúng ta nên cơm  dùng với nghĩa ăn như ta thường nghe mời bác ở lại dùng cơm với gia đình chúng tôi, nhiều khi khách ở lại ăn cơm mà chỉ toàn là những thứ cao lương mỹ vị không có một hột cơm nào cả. Lana Thái có từ ăn cỗ khantoke, có khan- là cắn (ăn) và cũng có nghĩa là khảo (gạo, cơm). Nam Dương ngữ  có từ ăn cỗ, ăn tiệc mà người Hòa Lan (mẫu quốc thuộc địa của một vài vùng ở Indonesia) dịch ra là rijstafel có rijs = gạo, tafel = bàn. Bàn cơm là bàn cỗ, cỗ bàn, bàn tiệc (xem banquet).  Điều này cho thấy chúng ta, Lana Thái và người Nam Dương coi cơm gạo là thức ăn chính, là bữa ăn quan trọng. Cơm cũng có nghĩa là ăn, thức ăn. Người Ý có mì pasta là món ăn chính nên ăn, bữa ăn cũng gọi là pasta (meal). Ngoài ra cơm còn dùng chỉ phần mềm, phần ăn được của trái cây như cơm dừa, cơm nhãn (cơm nhãn lồng rất dầy).  Với nghĩa tổng quát như thế, cơm ruột thịt với comestible = comida (Tây Ban Nha ngữ), ăn, bữa ăn.
Tóm lại cơm là thức ăn, đồ ăn, thực phẩm chính, đối với người Việt là gạo nấu chín và là phần mềm ăn được của trái cây. Cơm liên hệ với với comestible, Tây Ban Nha ngữ comida.

-curry, cà-ri, gia vị vàng mầu nghệ.

 
Tamil ngữ kari, bột gia vị mầu vàng nghệ. Món cà-ri nấu với gia vị có bột nghệ mầu vàng. Phạn Ngữ  hâridra, stained with turmeric (bôi mầu nghệ), yellow (vàng). Theo h=c, hâri- = cari, cà-ri. Hari cũng có một nghĩa là trời. Trời đây là trời vàng của dòng nước dương, mặt trời lặn. Mầu vàng là mầu đỏ âm, lửa của dòng âm, nước. Hari là Trời vàng, hoàng thiên,  như thấy qua các vị vua của dòng này là thiên hoàng (Nhật Bản là con cháu Thái dương Thần Nữ Amaterasu, thuộc dòng âm, nước), vua mặc áo hoàng bào, ở hoàng cung… Theo h=c=k, hari, cà-ri có cà = kê (theo biến âm kiểu cà kê). Kê (millet) là thứ hạt màu vàng như thấy qua điển tích “giấc mộng kê vàng”.  Áo cà-sa của tu sĩ  Phật giáo là áo có mầu vàng nghệ cà-ri. Ta cũng thấy, theo c=s  cà = sa. Như  thế sa cũng có màu vàng nghệ như  thấy qua từ saffron (xem chữ này).  Carrot, cà-rốt (phiên âm), thứ củ dùng làm rau có màu vàng nghệ cũng có gốc cà, vàng nghệ.  Canary, chim hoàng yến, được cho là có gốc ở đảo Hoàng Yến ở Địa Trung Hải (thật ra tên đảo này được đặt theo tên giống chim này), có gốc ca- = cà (mầu vàng nghệ).
Theo  k=ngh như kịt = nghịt (đen), kẹt = nghẹt, kều = nghều (cao) ta có kê = nghệ, Do đó cà (ri) = kê = nghệ có mầu vàng. Việt ngữ  có từ đôi vàng khè. Theo k=kh, như kẽ = khe, ta có kê = khè. Vàng khè là vàng kê, vàng nghệ. Ỡ đây ta cũng thấy con kẻ, con kì (hươu) là con thú chủ (host) của con nghê (kì và lân). Qua biến âm kiểu khề khà ta có khè biến âm với kha. Giấc Nam Kha (giấc mộng kê vàng)
            Giấc Nam Kha khéo bất bình,   
            Bừng con mắt dậy thấy mình tay không.
với Kha biến âm với khè (theo biến âm kiểu khề khà), với kê.
Cũng nên biết thêm là chúng ta có từ cà-ri nị. Nị là từ giản lược của Phạn ngữ agni, lửa. Nị là lửa, nóng tức cay. Các tu sĩ Phật giáo đầu trọc thường đội mũ ni, thứ mũ che tai (mũ ni che tai) cho ấm (người thường có tóc che tai nên tóc giữ cho tai ấm). Ni cũng là giản lược của agni, lửa. Ta cũng có từ nỉ chỉ loại vải mặc hay làm mũ đội cho ấm. Nỉ là vải ấm. Nị, ni, nỉ ruột thịt với agni, lửa có nghĩa nóng, cay, ấm. Cà ri nị là cà-ri cay.

                    D

D biến âm mật thiết với  Đ, T, L, N . . .
D= Đ =T= L=N…

-dairy, sữa, nãi (Hán Việt), ngầu nãi, sữa bò.

 
theo d=n, dai- = nãi.

 
-diet, kiêng ăn, ăn kiêng, tiết thực, tiết chế.

 
theo d=t, diet = tiết (tiết thực, tiết chế).

                   E

E biến âm mật thiết với A,  I, O, U. . .
E=A=I=O=U…
Như mẹ, mệ = mạ, má =  mị =  mợ = mụ…

-eat (ate, eaten), ăn.

.eat = ăn có gốc từ Phạn ngữ ad-, ăn, thay d=n, ad- = ăn = en = eng (phương ngữ Bình Định), Latin edere, ăn có ed- (biến âm của ad-) = en, eng, ăn.
.eat =  ad- = ách, ắc (no  ách bụng, no anh ách);  Việt ngữ  ăn no ngắc,  với ng câm ngắc = ắc = ad- = ăn.

-edible, ăn được.

 
có ed- = en, eng (phương ngữ Bình Định) = ăn và hậu tố –ible, có thể. Edible ruột thịt với Latin edere, ăn có ed- (biến âm của Phạn ngữ ad-, ăn) = en, eng = ăn (xem eat).

-edibles (số nhiều), đồ ăn, thực liệu.

 
xem chữ edible.

                        F

F biến âm mật thiết vời B, M, P, Ph, V…
F=B=M=P, Ph=V. . .

-food, thức ăn.

 
.theo f=b, foo- = bú (bú là cách ăn sơ khởi của con người khi còn là trẻ sơ sinh),
Phạn Ngữ bhukti (bhuj+ti), eating, food có bhu- = bú và bhukti mang âm hưởng của bú ti là bú vú (xem teat).
.theo f=m, /fút/ = mút (mút vú), là động tác bú. Theo b=m=f, bhuj- = bú = mút = food. Mút (vú) là động tác ăn nguyên khởi của con người.
.theo f=v, foo- = vú (cơ quan cung cấp thức ăn đầu tiên cho con người và loài có vú).

                        G

G biến âm mật thiết vời C, H = K, Q. . .
G=C=H=K=Q . . .

-ginger, gừng.

.gốc Phạn ngữ çriđgavera, gừng, theo nghĩa đen có nghĩa là hình sừng”, có çriđga, sừng và vera, vóc, dáng, thân (çringa có çing- = sừng và vera =, vẻ, dáng vẻ, vóc). Ginger có ging- = gừng. Theo g=c=s, gừng = sừng. Củ gừng có những nhánh trông như sừng. Gừng và ginger ruột thịt với Phạn ngữ çriđga.

 
-ginger (tính từ),  đỏ hoe (tóc) như ginger-hired, ginger-head.

 
Ơ đây màu tóc đỏ hoe là lấy theo nghĩa của loại gừng vàng (khương hoàng) tức nghệ (xem saffron).

 
-gravy, nước sốt béo.

 
tiếng cổ là greavey, tính từ của greave, mỡ bò, mỡ, chất béo, ruột thịt với grease (xem chữ này).

 
-grease, mỡ, dầu mỡ, chất béo.

 
.theo g=c=ch, /gri/ = chi (Hán Việt), dầu. 
.theo g=c=ch, /gri/= cheese (fromage, Pháp ngữ ).
.với r câm, /gri/ = gi = Hindu ghee (mỡ lỏng).
.Việt ngữ lì, có một nghĩa là trơn như trơn lì , trơn như thoa mỡ như thấy qua câu ví lì lì như đì hàng thịt, theo r=l, có -rease = /ri/ = li, lì.

-gum


1. nhựa cây khô, gum, gôm (phiên âm).
là chất xơ hòa tan, chất bán cellulose, hút nước tạo ra một dung dịch chất nhờn, nhớt dính như keo có chứa mucin và oxalic acids. Latin gummi, Hy Lạp ngữ komi có nghĩa là cắt, chặt. Theo g=c, gum  có gu- =  cù, cù cưa, cò, cò cưa (cò cưa kéo xẻ ông thợ nào khỏe. . ., cứa (cắt). Đây là gọi theo cách cứa, cắt vỏ cây để lấy gum giống như cạo mủ cao su.
2. chất keo, cồn dán
có thứ gum tan trong nước thành dung dịch dính dùng làm keo, cồn dán. Theo g=c, gum = cồn, theo g=c=k, gum = keo. Gum lấy nhiều ở cây acacia vì thế cây này mới có tên là cây keo (cây xiêm gai). Bệnh giang mai kinh niên nổi những cục, khi vỡ  chẩy ra chất nước như chất keo gọi là gomma có gom- = gum.
3. đậu bắp, người Angola, châu Phi gọi đậu bắp okra, loại đậu  có hình trái bắp non và có rất nhiều chất nhớt, chất nhờn là gumbo. Món gumbo nấu bằng đậu bắp nhơn nhớt, sền sệt như chất keo gum. Sau đó gumbo du nhập vào Hoa Kỳ chỉ chung những món ăn nhơn nhớt, sền sệt, dính môi dính mép, dù không nấu bằng đậu bắp gumbo như tôm gumbo, thịt gà gumbo, xúp, ra-gu gumbo…  Người ta cũng dùng gum để làm sốt cho sền sệt. Việt Nam cũng có những loại rau có nhiều nhớt như rau đay, rau mồng tơi. Đây cũng là những thứ gumbo. Trong kỹ nghệ thực phẩm, dinh dưỡng, dược phẩm người ta dùng nhiều gum lấy ra từ một giống đậu chùm (cluster bean) gọi theo Phạn ngữ  là guar (Cyamopsis tetragonoloba). Chất gum này hòa tan được, lên men trong ruột sẽ cung cấp những acid béo chuỗi ngắn để tạo năng lượng cho tế bào ruột, giúp tăng sản và tăng hấp thu chất muối sodium và nước. Điều này giải thích tại sao dân dã Việt Nam cho rằng ăn canh rau đay, mồng tơi cho “mát ruột”. Chất gum đậu chùm guar cũng được dùng trong kỹ nghệ làm cà rem và làm keo dán tem thư. Vì thế liếm tem coi như là ăn đậu gum, ăn rau đay, ăn mồng tơi… rất bổ và mát ruột.
4. kẹo cao su
cũng được gọi là gum, chewing gum. Người Aztec lấy nhựa gum cây sapota tức sa-bô-chê (Pháp ngữ sapotier, Anh ngữ sapodilla, naseberry, tên thảo mộc là Manilkara Zapota, Achras sapota) để nhai cho sạch và đỡ buồn mồm. Gum sapota có vị ngọt và mùi mật mía. Người Aztec gọi sapota là cây chicl. Gum  chicl là những miếng mầu hồng, hơi đỏ hay nâu gọi là chicle. Mủ cây sapota lúc mới chẩy ra trắng như mủ cao su (latex) có chứa chất cao-su và gutta-percha. Lúc đầu chicle được dùng thay cao su và được nhập cảng vào Mỹ năm 1890 để làm kẹo cao su. Vì thế kẹo cao su lúc đầu có tên là chichlet chewing gum. Từ năm 1940 gum chicle của cây sapota được thay thế bằng cao su non tổng hợp để làm chewing gum.
-gumbo, đậu bắp, món ăn nhớt, sền sệt.
xem chữ gum.

                   H

H biến âm mật thiết vời C, G, K, Q. . .
C=G=K=Q. . .
H thường thấy rất nhiều ở dạng câm.

-hot, nóng, sốt, cay, tươi sắc (màu nóng), nứng, động cỡn, dâm đãng, nóng bỏng, dậy tình.

 
1. nóng:  hot = hốt (nóng hốt cả người), theo h=ng (hào = ngao), hot = ngốt (nóng ngốt cả người). Phạn Ngữ  hotra (hu+tra), lửa, mặt trời, dâng lửa thờ.
2. sốt: theo h=s, hot = sốt. Sốt là lên độ, nóng sốt (fever), là nóng như cơm nóng, canh sốt, sốt ruột = nóng ruột. Theo s=ch, sốt = chaud Pháp ngữ, nóng.
3. động cỡn: theo h=c, hot = cỡn (động cỡn).
4. cay: Việt ngữ cay liên hệ với Latin calidus, Ý ngữ caldo, Tây Ban Nha ngữ caliente, Phan ngữ katu có nghĩa là hot. Với h câm, hot = ớt (trái cay). Trái ớt là một trái cay, nóng. Trái ớt là trái hốt, trái “hot”.

                    I

I biến âm mật thiết với A,  E, O, U. . .
I=A=E=O=U…
Như  mị = mạ, má = mẹ, mệ = mợ = mụ…

-inn, quán ăn có chỗ ở, phạn điếm.


có in- = ăn (xem eat).

                    J

J biến âm mật thiết với CH, C (H câm), KH, K (h câm), D, Gi, Đ (T, TH), G…
J= CH, C=KH, K=D, Gi=Đ (= T= TH) = G…

.Việt ngữ không có j.

1. j=ch: j tương đương với ch như Java = Chà Và, những người Hồi giáo gốc Java ở miền Nam; ngày nay gọi tắt là người Chà như người Chà Châu Giang. Ta cũng thấy qua Bồ Đào Nha ngữ phiên âm Hoa ngữ chwan (thuyền), theo ch=j, chwan = junk.

2.J=d như Jeep = dép, díp (xe), jean = din (quần).
3.J=gi, trong chữ quốc ngữ cổ j=gi như jà = già; jó = gió; jờ = giờ… (Alexandre de Rhodes).
4. J=d=nh như Japan gọi tắt là Jap = Dặt, phát âm Quảng Đông của Nhật và pan = bản. Japan là “Dặt pủn”,  Nhật Bản.
5.j=đ  như jack = đặc (đặc có một nghĩa là đực như tre đặc = tre đực)  đực.
6. j=g: giữa Pháp và Anh ngữ j=g như jardin = garden, vườn.
. . . . . .

-Java, cà phê.

Java là tên một đảo ở Nam Dương, ngày nay Java có nghĩa là cà phê vì Java có thứ cà phê nổi tiếng (Java bean).  Tôi có làm mấy câu thơ trên đồi Italia, San Francisco vào một chiều mưa:

San Francico mù sa,
Mưa trên phố Italia,
Nhạt nhòa.
Có đôi mắt em trong cốc Java.

theo j= ch Java = Chà-và. Người miền Nam gọi người Java là Chà Và. Người Chà Và ở miền Nam bây giờ gọi tắt là người Chà như  người Chà Châu Giang là những người Hồi giáo gốc Java.   
-jerk, jerky, phơi khô (khô bò, khô cá, khô nai như beef jerky: khô bò).
.theo j=ch = c=s, có je- = se (khô), se sắt (khô hanh), như trời se sắt, quần áo phơi đã se:

            Đông chết se, hè chết lụt

Cây lúa về mùa đông ít nước dễ bị chết vì khô và mùa hè nhiều mưa dễ bị chết vì lụt.
Việt ngữ se = sec (Pháp ngữ), secco (Latin), seco (Ý ngữ) (Tây Ban Nha ngữ), siccus (Latin)  çuska (Phạn ngữ), khô. Từ láy se sắt có se = sắt, khô. Ainu ngữ (thổ dân ở Nhật Bản) sat, khô. 
.theo j=ch=x, jer- = xero-(gốc chữ Hy Lạp), khô, ví dụ xeroderma, da khô. Ta thấy:
.jer- = xer- = sấy (làm khô). Theo biến âm kiểu se sẩy, ta có xer- = xấy, sấy, như cơm sấy, sấy cau.
-xer- = sẩy  như rôm sẩy là chứng mẩn thường thấy ở trẻ em do da bị khô nóng, Anh Mỹ gọi là “heat rash” ( suda mina).
.xer- = sao (rang khô) như sao thuốc bắc, liên hệ với  PIE *sau-s / *su-s, khô.
Xem gốc chữ  xero-.


                    K

K biến âm mật thiết với C, CH, H, Q, QU. . .

K=C=CH =Q=QU…

-ketchup, sốt cà chua (ở Mỹ), nước sốt để chấm.

 
còn nói là catchup, catsup.
catchup có ca- =  gốc Phạn -ka, aka, Tây Ban Nha ngữ aqua ( nước) = cá và chup = chấp (nước như nhũ chấp), chấm. Catchup = nước chấm, nước cá dùng để chấm. Còn catsup có sup = sấp (liên hệ với nước như sấp nước = nhúng nước, làm cho ướt) = sốt (nước chấm) = súp (thức ăn lỏng). Catchup, catsup, ketchup = Việt ngữ nước chấm = nước cá, nước mắm (Thái Lan ngữ nam pla, nước cá = nước mắm), sốt cá. Người Anh thu nhập từ này khi tiếp xúc với người Mã Lai, họ lấy từ kechup của Mã Lai cũng chỉ một thứ nước chấm có nước cá. Người Anh thêm chữ t vào thành từ ketchup và có thứ ketchup chỉ làm bằng cà chua, nấm, gia vị cay. Người Úc gọi catsup là sốt cà chua tomato sauce (không gọi là ketchup).

                   L

L biến âm mật thiết với D, Đ, N, NH, NG, R. . .
L=D=Đ=NH=R.

-lacto- (gốc chữ), sữa.


như  lactose, đường trong sữa.
Latin lac, sữa cho ra gốc lact-, lacto-. Theo l=d=n, lac- = đác (cổ ngữ Việt), nước = nác (nước). Sữa là thứ nước dinh dưỡng đầu tiên con người uống.  Pháp ngữ lait, sữa: /le/ = le, nước,  chim le le là loài chim nước. Từ láy lỏng le có le = lỏng. Tây Ban Nha ngữ leche, sữa. Từ láy bốn lỏng le lỏng lét có thành tố le là lait (Pháp ngữ) và lét là leche. 

                       M

M biến âm mật thiết với B, F, P, PH, V. . .
M=B=F=P=PH=V. . .

-meat, thịt.

 
meat = miếng.
cần phân biệt với flesh chỉ phần xác thịt, thể xác (xem flesh). Meat là thịt chỉ phần mềm che chở, bao bọc quanh phần cứng là xương nhưng nhiều khi thịt dùng làm thực phẩm được gọi theo sự cắt, xẻ, làm thịt và ngay cả chỉ việc giết để cúng tế.
–thịt với nghĩa cắt xẻ ra từng miếng như Latin carò, Ý, Tây Ban Nha, Rumania carne, Pháp ngữ chair, charnu (thịt) cũng hàm nghĩa xả, xẻ, chặt. Theo c=ch=x, có car-, char- = xả, xẻ, chặt. Ta thấy meat = miếng. Miếng hàm nghĩa thịt xẻ, cắt ta từng miếng, từng mảnh. Đây là cổ ngữ Việt chỉ thịt. Ta còn thấy trong những câu nói “một miếng giữa làng hơn một sàng xó bếp”, “có tiếng mà không có miếng”… Miếng gì mà quan trọng như thế? Hiểu theo nghĩa ở đây, hiển nhiên là miếng thịt. Thật vậy, trong Ấn Âu ngữ thịt cũng có nghĩa là miếng, là phần thịt theo nghĩa xả, xẻ, chặt ra từng mảnh từng miếng. Gothic mimz, mammò (meat); Lettic miesa, Nga ngữ mjaso, Phạn ngữ mànsa-, màs-… gốc IE *memmo-, *mes- (thịt) đều có hàm ý là miếng. Ái Nhĩ Lan ngữ mìr ‘portion, morsel’ (miếng, phần, mẩu). Pháp ngữ viande (thịt) có vian(de) = mian = miếng (v=m).
Từ  miếng Việt ngữ rõ nhất vừa có nghĩa là mảnh, phần vừa có nghĩa là thịt. Thời xa xưa con người còn sống thành bộ lạc, bắt được một con thú đem về xẻ ra từng miếng chia nhau ăn.  Ngày nay ở vùng quê Việt Nam còn tục xẻ thịt, “đánh đụng” rồi chia phần chia miếng do đó mới có câu một miếng giữa làng hơn một sàng xó bếp.
Miếng chính là thịt và liên hệ với Anh ngữ meat và với gốc IE *memmo-, *mes- (thịt).
Theo m=v=d, meat = miếng = diết, dịt = thịt.
–thịt với nghĩa là giết để cúng tế như  làm thịt, ăn thịt con gà con heo là giết con gà con heo. Từ đôi giết thịt có giết = thịt, nó bị làm thịt rồi = nó bị giết rồi. Theo th=d=gi ta có thịt = dịt = diệt = giịt = giết. Tại sao chúng ta gọi thịt là giết? Từ thịt Việt ngữ còn mang chứng tích của sự tế lễ bằng cách giết sinh vật. Chúng ta thuộc chủng Hồng Bàng thờ Mặt Trời nguyên thủy tế người, tế máu như thấy ở người Aztec, Maya, họ moi trái tim tế mặt trời. Chúng ta giết người tế mặt trời  còn thấy trong bài Sở Từ của Tống Ngọc đã tả bọn Đông Di và Nam Man giết người để tế thần. Chứng tích ngày nay còn thấy là chúng ta ăn máu tái tiết canh, thích ăn thịt tái, thịt thui… những hình thức tế lễ sinh vật còn thấy.
Từ thịt cùng vần với thết. Thết là đãi ăn. Thết đãi bao giờ cũng có thịt. Với h câm thết = tết. Ngày giỗ tết là ngày giết thịt, hy sinh súc vật để tế thần. Thết và tết có từ tế. Pháp ngữ tuer (giết) có gốc từ Latin tùtàre, tùtàrì “make safe (tùlus), protect, protect oneself against…” Tại sao giết để được che chở? Từ tuer chính là tế, là thịt Việt ngữ . Hy sinh là tự hiến thân mình hay giết người, giết sinh vật, thịt sinh vật cúng dâng tế thánh thần để được phù hộ, che chở… Hán Việt tế cũng có nghĩa là cứu giúp như tế bần, cứu tế, y tế. Vậy Pháp ngữ tuer chính là giết, tế, thịt. Latin tùtàre nghe gần cận với thịt thà. OE tiber/tifer là tế lễ có ti- = tế, ti gần cận với thi (xác), thịt. Anh ngữ sacrifice (giết, hy sinh), có sac(rifice) liên hệ với Hán Việt sát, giết. Sát, sacer nguyên thủy là một sự việc thiêng liêng, ngày nay người Tây phương chỉ còn hiểu sacrifice do sacer với nghĩa thiêng liêng mà không còn biết sacer là sát, là giết, là thịt, là tế, là tết (dĩ nhiên cũng hàm nghĩa thiêng liêng)…
Cổ ngữ Anh tiber, tifer(ì?), Gothic tibr là dạng song hành với Cổ ngữ Nordic tafn, Armenian ngữ taun ‘feast, festival’, Latin daps ‘sacrificial feast, feast’, Hy Lạp dapto ‘devour, rend’ (ăn tươi nuốt sống, ăn ngấu nghiến, cấu xé) (Walde-P 1.764, Falk-Torp 1240). Ta thấy rõ tib-, tif là lễ tết, tế sinh vật liên hệ với thịt…
-milk, sữa.
milk = mật (sữa là thứ nước ngọt như mật, đường), milk gần cận với miel, mật ong (Pháp ngữ), Việt ngữ  mía, mật (đường non). Việt ngữ sữa liên hệ với sugar, suca (Tây Ban Nha), đường.

                   N

N biến âm mật thiết với Đ, D, L, T. . .
N=Đ=D=L= T. . .


-na (gốc chữ)

na- chỉ âm, phái nữ. Na- là  ná, mẹ (áng ná là cha mẹ), nạ (mẹ) như “có nạ là mạ thiên hạ”, nạ (người  đàn bà đã có con như nạ dòng), nái (cái, đã có con như heo nái, nái xề), nang (túi, bọc có một nghĩa bộ phận sinh dục nữ), nàng, nương, nường (phụ nữ trẻ, phái nữ).
Hán Việt nữ, nhũ (vú), nãi (sữa)… Anh ngữ có nanna, nun, nurse (xem những chữ này). … chỉ những người hay thuộc phái nữ. Phạn ngữ  naná, mẹ, nagnâ, a girl before menstruation, nâri, a woman…. Pháp ngữ naissance (đẻ) có nai- = nái, ná, nạ (mẹ)…

-nourish, nourishment,  nuôi, nuôi ăn, cấp dưỡng, đồ ăn.

có  gốc na-, mẹ. Có nou- = nuôi (xem nurse).

 
-nutrition, dinh dưỡng, nuôi dưỡng.

có gốc na-, mẹ. Có nu- = nuôi (xem nurse, nourish).

                    O

     Biến âm mật thiết với  U, V,  A, E, I…
    O=U=V=A=E=I . . .

-omelet, bánh bột tráng mỏng, thường hơn, chỉ trứng tráng.

 
do Pháp ngữ omelette, aumelette có gốc cổ amelette, alemette, alemelle có nghĩa là “phiến mỏng”, sau rút gọn lại thành lemelle, Latin lamina. Omelet có –mel- = mỏng, manh, mảnh.
Omelet là trứng tráng (từ tráng đã hàm nghĩa mỏng).

                   P

P  biến âm mật thiết với B, M, Ph, V…
B=M= Ph=V…

-punch, nước ngũ vị gốc ở Ấn Độ.


punch có gốc từ Phạn Ngữ  pancha, năm. Panch đẻ ra gốc penta, năm, như Pentagone, Lầu Năm Góc, Ngũ Giác Đài. Theo p=b, pancha có pan- =  bàn (tay) = bám, víu, bụm, vụm, bốc, vốc… liên hệ với bàn tay, năm ngón. Việt ngữ năm là nắm (bàn tay lại), mười là mở (bàn tay ra). Ngày xưa dùng bàn tay diễn tả các con số như ngón tay digitus  cho ra digital, số. Five biến âm với fist, nắm tay. Fiv- = bíu = víu (f=b=v) có nghĩa là nắm lấy (xem chữ five). Punch, pancha có pan- = bàn (tay) = nắm (tay) = năm.  Điều này giải thích tại sao punch còn có nghĩa là cú đấm. Người Anh du nhập món nước uống ngũ vị này vào khoảng năm 1600 từ Ấn Độ gồm có rượu, nước, chanh, đường và gia vị. Punch đựng trong những thùng lớn gọi là pancheon. Người Hawaii có thứ nước uống punch có gốc từ pancha, pha bằng năm thứ nước trái cây. Punch có nghĩa là thứ nước ngũ quả mà cũng có nghĩa là ngon như bị knock out vì một cú punch. Nước punch là biểu tượng của nước uống của Hawaii vì vậy họ có cầu trường mang tên là Punch Bowl có hai nghĩa vừa là Cầu Trường Punch vừa là Bát Nước Ngũ Quả. Ngày nay nước punch biến thể có nhiều loại, có rượu hay không có rượu, không còn giới hạn số lượng là năm thứ nữa.

                         R

R biến âm mật thiết với L, D, T, N. . .
R=L=D=T=N . . .
Người Trung Hoa nói R thành L (nói fried rice thành fried lice).

-rice, lúa, cơm, gạo.

 
Pháp ngữ cổ ris, hiện kim riz, Ý ngữ riso, Latin oryza là rice.
.theo r=l,  /ri/ = li, ló (cổ ngữ Việt của lúa), lúa và /rai/ = lai, lúa; Phạn ngữ kalama, a kind of rice, có kal- = khảo, bánh làm bằng bột gạo nếp, Thái ngữ khảo là gạo. Kal- = cơm. Theo k=c=g, kal- = gạo.

                     S

S biến âm mật thiết với, C, CH, G, K, S, X, SH. . .
S=C=CH=G=K=S=X= SH . . .

-saffron, nghệ, khương hoàng, nhụy hoa mầu nghệ dùng làm gia vị.

theo c=s, có sa- = cà. Cà có nghĩa là mầu vàng nghệ như  cà- ri, bột gia vị có màu vàng nghệ, áo cà-sa của tu sĩ Phật giáo là áo có màu vàng nghệ, canary là chim hoàng yến. Theo s= c=k, ca- = kê, hạt có màu vàng nghệ (xem curry). Sa có mầu vàng đỏ thấy qua từ safflower, hoa mầu vàng đỏ (xem chữ này). Saffron là nghệ, một loại gừng có màu vàng đỏ. Hán Việt  khương hoàng là nghệ, theo k=s=g = khương = sừng = gừng (Mường ngữ gọi chim bồ cắt hornbill, trên đầu có mũ sừng, là chim khướng tức chim sừng; khướng = khương = sừng). Củ gừng có hình cái sừng. Theo g=s, gừng = sừng (xem ginger).  Khương hoàng là gừng vàng. Saffron của Tây phương  lấy từ nhụy của loài hoa crocus sativus. Ả Rập ngữ karkam, saffron có ka- = cà.

 
-safranine, chất nghệ (xem saffron).


                    T

T biến âm mật thiết với Đ, D, TH, TR, N. . .
T=Đ=D=N=TH= TR. . .

-tea, trà, chà, chè, nước uống nấu bằng thực vật.

 
có te- = te, tè, té (nước, liên hệ với nước). Anh ngữ "tea", Ý, Tây Ban Nha, Hung Gia Lợi, Thụy Điển ngữ "te", Pháp ngữ "thé" là trà liên hệ với Việt ngữ te, té, tè.
Te có nghĩa là nước như thấy qua câu hát dân chài vùng Thanh Nghệ Tĩnh:

     Tháng năm te chạy hết ngàn,
    Cá trà cũng lắm khơi đàng vào ra.

    Te chạy là nước chạy. Cá trà còn có tên là cá chim.

Te cũng có nghĩa là đi tè:

     Học thì đã dốt lại lười,
    Ăn thì không được hơn người không nghe,
    Chửa tối thì đã ngủ nhè,
    Mười đêm thì chín đêm te ra quần.

Té liên hệ với nước như thấy qua các từ "té nước lên người nhau", "té đái ra quần".
.Việt ngữ chà, chè, trà  ruột thịt với  cá, Phạn ngữ  -ka, aka, Tây Ban Nha ngữ aqua (nước), cũng hàm nghĩa nước, liên hệ với nước như chà cá, chỗ nuôi cá ngoài sông làm bằng cách  quây đám bèo trên mặt nước với bốn thân tre, ngày ngày thả thức ăn nuôi cá. Sau khi ăn xong, cá lại tự do bơi ra sống ngoài sông. Đến mùa cá đã lớn, thả thức ăn xuống rồi quây lưới bắt cá. Phạn ngữ dâcha, thuyền chài có –cha liên hệ với chà, nước. Việt ngữ chài cũng có gốc chà. Có em trẻ Việt Nam sinh ở hải ngọai  thắc mắc và thương hại lũ cá hỏi rằng sao người fishman Việt Nam  lại độc ác  đi hành hung “đánh cá”, bắt cá ăn, trước đó còn hành hạ đánh đập cá. Câu trả lời là từ đánh cá ruột thịt với Phạn ngữ dâcha, fishman, boatman. 
Có một loại trà có pha gia vị, hương vị Ấn-Độ gọi là chai. Chai liên hệ với chài, chà.

                        V

      U biến âm mật thiết với V, O, OO, A, E, I = K, Q. . .
       U=V=O=OO=A=E= I . . .

-vermicelli, bún.

 
chỉ chung các thức ăn làm bằng bột  có hình con sâu, con giun, con rắn. Cũng gọi là rice noodle, mì gạo. V
ermicelli (Ý ngữ)  có nghĩa là con sâu nhỏ, có gốc vermi- sâu, bọ, chí rận, rệp, giun, sán, chỉ chung sâu bọ, côn trùng, Pháp ngữ ver, sâu, ver à soie, sâu tằm.
.ver- = ve, ve vắt. 
.ver- = vặn, vẹo cùng nghĩa với uốn éo, (xem dưới).
.theo v=u, ver- = ue, oe, (với ng câm, ngo ngoe = o oe), Thái Lan ngữ ngoo, rắn, = éo (uốn éo) chỉ hình dáng sâu, giun, sán, rắn.
Trong nhiều ngôn ngữ cổ Ấn-Âu worm cũng có nghĩa là rắn vì con sâu là những con rắn tí hon, bằng chứng là sâu có gốc sa- cùng âm với sà, xà (rắn). Theo biến âm kiểu sâu sa, ta có sâu = sa = sà, xà. Worm có wor- = uor- = uốn (éo). Sâu và rắn là con uốn éo. Pháp ngữ ver, con sâu có ve- = éo, ver- = uốn, xem chữ vermin, xem chữ worm.
.Việt ngữ bún, có tác giả cho rằng bún có gốc từ Hán Việt phẳn, phấn là bột. Theo tôi, bún mặc dù làm bằng bột nhưng có hình dáng như con sâu, con giun, con rắn nên bún phải hàm nghĩa như vậy. Các loại khác như bánh cuốn cũng làm bằng bột nhưng không gọi là bún. Bánh cuốn gọi theo hình dạng cuốn lại nên bún cũng phải gọi theo hình dạng giống con sâu. Theo b=v= u, bún = vún = ún = uốn, ruột thịt với worm (sâu, rắn). Sâu và rắn là con uốn éo. Miền Nam có một loại
bún gọi là lạc xá du nhập từ Mã-Nam Dương. Lạc xá là Ba Tư ngữ laksa, bún. Laksa có lak = lạc liên hệ với rắn nước.  Bún lạc xá laksa có hình giống con rắn nước. Có một loài cá trông giống rắn gọi là cá lạc, cá lác. Lạc liên hệ với naga, rắn  nước, rồng trong Ấn giáo.

                                                                     (còn tiếp).

Theme: Silver is the New Black. Blog at WordPress.com.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.