HỌC ANH NGỮ BẰNG VIỆT NGỮ
(kỳ 2)
Nguyễn Xuân Quang
Những chữ viết tắt và qui ước:
-Dấu bằng (=) có nghĩa là, liên hệ với, tương đương, gần cận nhau, giống nhau.
-Chữ trong hai gạch nghiêng /…/ là thanh, thinh, âm, âm vị, chỉ phát âm theo tiếng Việt hay tiếng Anh.
-Mẫu tự trong ngoặc đơn của một từ có nghĩa là bỏ đi hay câm ví dụ Anh ngữ cổ brus (breast), vú có b(r)u- = bú, vú (bỏ r hay r câm)…
-Dấu (*) có nghĩa là gốc tái tạo không có trong ngôn ngữ thành văn (written records).
-Tôi chỉ giới hạn vào các nghĩa gốc tương đồng và để qua bên các nghĩa phụ, nghĩa bóng bẩy, nghĩa lóng...
…………………….
.Đơn Âm và Đa Âm
Tiếng Việt hiện kim có khuynh hướng đơn âm, đơn vận vì thế khi chuyển từ ngoại ngữ nói chung và từ Anh ngữ qua Việt ngữ nói riêng, tiếng ngọai ngữ phải chặt bỏ bớt một phần, thường thấy nhất là bỏ bớt đầu hay đuôi. Ví dụ:
– pocket, túi, bọc, có poc- = bọc, Trung Nam gọi túi quần áo pocket là cái bọc.
–vinho, vino (Bồ ngữ), rượu nho, lấy phần đầu vin- chuyển qua Việt ngữ là vang (rượu) (Pháp ngữ vin phát âm là “vanh”), nếu lấy phần sau –nho thành nho: vinho: rượu vang, rượu nho, Hán Việt là bồ đào tửu (bồ đào là trái tròn màu hồng đỏ tức trái nho đỏ): rượu nho. Nước Portugal nổi tiếng về rượu nho đỏ vì thế mới gọi tên là Bồ Đào Nha (Nha là nhà, nhà đi đôi với nước như quốc gia là nước nhà). Portugal có Port, tên một thứ rượu nho nổi tiếng.
–canabis sativa = cần sa (lấy hai âm đầu, chặt bỏ đuôi).
–canarium = cà na, cà ná (quả trám).
……
.Tiếng Láy
Tiếng láy gồm một từ gốc và một từ tố láy hay thành tố láy lặp lại theo âm điệu, vần điệu nhịp nhàng, uyển chuyển với từ gốc. Nói một cách tổng quát, giản dị cho dễ hiểu thì thành tố láy trong tiếng Việt dù dưới dạng nào đi nữa nó đều phát xuất ở từ gốc, từ mẹ mà nó láy sinh ra. Như thế nó mang những di tính của từ gốc, từ mẹ không những âm, vần mà kể cả nghĩa ngữ. Thành tố láy có thể là những từ còn hiện diện ở một ngôn ngữ nào đó của nhân loại nhất là những ngồn ngữ có liên hệ mật thiết với Việt ngữ. Thành tố láy của Việt ngữ có thể là một từ trong ngôn ngữ khác kể cả trong Anh ngữ. Như thế ta có thể dùng từ láy học Anh ngữ (Tiếng Việt Huyền Diệu). Ví dụ:
-bết bát có bết (tồi, xấu) và thành tố láy “bát” chính là bad, bét (chót, tồi, xấu). Bết và bát đều ruột thịt với bad. Bết bát có thành tố láy “bát” chính là bad theo phát âm Việt, trong khi đó, bết = bad theo phát âm Anh. Xin lưu ý điểm này biến âm giữa Việt ngữ và ngoại ngữ có thể theo âm Việt hay âm của tiếng ngoại ngữ đó.
-đan nát có thành tố “nát” là knit, đan.
-đỏ lét, có lét = red (l=r, giống như người Trung Hoa nói r =l như fried rice nói là fried lice).
-liếm láp: ví dụ mẹ mắng con: “cái miệng mày liếm láp cả ngày”. Thành tố láy lap chính là Anh ngữ to lap, liếm.
-lớn lao có thành tố láy lao chính là Anh ngữ loud, lớn, to: loud speaker là máy phóng thanh.
-lao sao (xao), tiếng nói lớn, ồn ào, có lao = loud (lớn) và sao = sound (âm thanh). Lao xao = loud sound. Lào xào là biến âm của lao xao.
-xôn xao (sôn sao), có nhiều tiếng nói, có sôn = son (Pháp ngữ), tiếng, âm thanh và sao = sound. Xôn xao = sôn sao = son-sound. Ta thấy Tiếng Việt thật là Huyền Diệu, sôn sao là có nhiều tiếng nói, có cả tiếng Tây “son” và tiếng Anh “sound”. Hai từ sôn sao cũng cho thấy ngôn ngữ Việt Nam, trên cây ngôn ngữ loài người, có vị trí ở thân cây “sôn sao” rồi chia ra hai cành “son” và “sound” hay ở cành lớn “sôn sao” tẻ ra hai nhánh nhỏ “son” và “sound”. Việt ngữ là thân, là cành lớn, trong khi Pháp, Anh ngữ chỉ là cành hay nhánh nhỏ trên cây ngôn ngữ loài người. Với x câm, xôn xao = ồn ào.
-mù mịt, mờ mịt: thành tố mịt chính là Anh ngữ mist, sa mù. . .
-tắm táp: thành tố láy táp chính là Anh ngữ tap, vòi nước, liên hệ với tub, bồn tắm.
-tối đặc: thành tố láy đặc là dark, có nghĩa là tối.
. . . . .
.Tiếng Ghép Điệp Nghĩa
Trong Việt ngữ tiếng ghép là hai từ khác âm nhưng đồng nghĩa hay có nghĩa cùng một gốc. Tôi thường gọi tổng quát là tiếng ghép điệp nghĩa. Ví dụ:
-cứng đơ, cứng đờ có đơ, đờ liên hệ với Pháp ngữ dur, cứng.
-đổi trác (chác) có trác hay chác là trade, trao đổi, đổi trác. Buôn bán trade khởi đầu bằng sự đổi chác hiện vật.
-dầy đặc có từ dầy có một nghĩa là đặc như thick sauce là sốt đặc.
. . . . . .
.Tiếng Đi Đôi Với Nhau
Trong Việt ngữ tiếng đi đôi với nhau họ hàng ruột thịt với nhau nên thường có nghĩa gần nhau hay như nhau. Ví du:
–bốc khói, có từ “bốc” ruột thịt với khói. Bốc biến âm theo b=m với móc (sương như mưa móc, ơn mưa móc), với smoke là khói. Sương móc ruột thịt với khói nên bốc cũng ruột thịt với khói vì thế mới đi đôi với khói. Ta thấy smoke = (s)mok(e) = móc. Khói thường đi đôi với sương như thấy qua từ đôi coi như điệp nghĩa “khói sương”. Ta cũng thấy rõ sự liên hệ này qua người Huế nói sương là “cởi”:
Đêm khuya cởi xuống dần dần
(ca dao)
theo c = k = kh, cởi = khói. Ở đây ta cũng có thể dùng Anh ngữ smoke, fog để giải thích tại sao ta thường nói “khói” đi đôi với “bốc” (bốc khói). Theo f=b, fog = bốc, theo m=b, smoke, smog ( smoke + fog = smog) = bốc. Rõ ràng bốc có liên hệ nghĩa ngữ với khói sương và biến âm với nhau nên ta thường nói “bốc khói” hay nói một cách khác bốc khói là một từ đôi gần như là điệp nghĩa.
–phát phì, ngoài nghĩa phát triển, nhìn dưới một góc cạnh khác, phát là biến âm của Anh ngữ fat (mỡ, phì, mập). Phát = fat. Phát = fat = phì.
–theo đuôi là từ đi đôi với nhau nên theo = đuôi. Theo chính là Anh Ngữ “tail”, đuôi.
Theo đuôi đẻ ra từ đôi “theo đuổi”, “đeo đuổi” (th=đ).
-tiếng nói, ta thấy nói là phát ra tiếng, nói chính là Anh ngữ noise, tiếng, tiếng động. Noise có noi- = nói. Hai từ đi đôi với nhau “tiếng nói” có nghĩa là tiếng = nói = noise.
. . . . . .
.Nghĩa Ngữ
Hiện tượng biến âm có thể làm nghĩa đã biến đổi, đã lai đi nhưng vẫn còn liên hệ với nghĩa gốc. Những từ càng gần âm tức biến âm càng ruột thịt bao nhiêu thì nghĩa càng gần cận bay nhiêu. Ví dụ cành cùng với cánh một vần thì cành có cùng nghĩa với cánh. Cành cây tương đương với tay người. Hán Việt chi (cành) và tay chân người cũng gọi là chi (tứ chi). Theo tiến hóa cánh chim = tay người (chim tiến hóa thành khỉ, đười rồi mới thành người) như thấy qua từ đôi cánh tay nghĩa là cánh = tay. Như thế cành = cánh = tay = cẳng = chi. Việt ngữ cẳng thường hiểu là chân, thật ra cẳng liên hệ với chánh, chành, chi cũng chỉ cả chân và tay (tức tứ chi) như thấy qua các từ đôi “cẳng chân, cẳng tay” ví dụ như “thượng cẳng tay hạ cẳng chân”. Người Bắc dùng “cẳng tay” không có sai ngữ pháp như có người đã nghĩ. Sự biến âm khác vần thì nghĩa sẽ lai đi nhưng vẫn liên hệ với nhau. Biến âm cùng nhóm âm sẽ ruột thịt hơn (xem Tiếng Việt Huyền Diệu). Ví dụ foot với boot (biến âm f=b với nghĩa đã biến đi nhưng giầy liên hệ ruột thịt với chân).
Như thế nghĩa ngữ có thể chia ra ít nhất là ba loại: nghĩa giống trực tiếp, nghĩa lệch và nghĩa chéo.
1.Nghĩa trực tiếp hay thẳng:
Hai từ Việt và Anh ngữ có nghĩa y chang như nhau. Trường hợp lý tưởng thường thấy nhất là khi có biến âm mẹ con. Ví dụ:
–deuce, đều nhau (như trong tennis, hai bên có cùng số điểm 40 gọi là deuce), có deu- = đều.
–char (đốt cháy thành than, thiêu rụi, nướng than như char-broiled hamburger) = chả (thịt nướng than, nướng lửa).
–pouch = bao (túi, bị).
. . . . . .
2.Nghĩa lệch:
Cùng gốc nhưng hai từ Việt và Anh ngữ có nghĩa lệch, nghĩa đã lái, đã lai đi. Nghĩa càng lệch khi biến âm càng nhiều lần hay càng khác vần. Trường hợp này có thể coi là khi có biến âm chị em, họ hàng thân thích. Ví dụ:
–blue, màu trời = blời, trời.
–lake (hồ) = lạch. Hồ lake và lạch cả hai cùng có gốc la-, na là nước.
–tía (Quảng Đông ngữ, Quảng Đông thuộc địa bàn Bách Việt), cha = tio (Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha), cậu (uncle).
– throne và trôn (Nga ngữ) là ngai, ngôi = trôn (đít, phần để ngồi).
……
3.Nghĩa chéo :
Cùng gốc nhưng hai từ Việt và Anh ngữ có nghĩa chéo nhau, trao đổi nghĩa cho nhau. Trường hợp này có thể coi là khi có biến âm bà con xa. Ví dụ: -Hoán Đổi
–buffalo (trâu) có bu- = bò trong khi đó cow (bò cái) phát âm là /cao/ đọc thêm hơi vào thành chao, châu, trâu. Trâu trong Anh ngữ là bò Việt ngữ trong khi bò trong Anh ngữ lại là trâu trong Việt ngữ.
–cheese (fromage, Pháp ngữ ) = chi (Hán Việt), dầu = Hindu ghee (mỡ lỏng).
–wide, rộng có /wai/ = vài = dài trong khi “long” (dài) có long = lộng = rộng (l=r).
–chole, mật gan. Theo ch= c=g, gốc chol- = cốn (người Hoa phát âm gan là cốn), can (Hán Việt) = gan. Gan và mật có nghĩa chéo nhau, gall =/gan/ = mật trong khi chole (mật) = cốn, can, gan.
. . . . . .
Trong cùng một ngôn ngữ hay trong những ngôn ngữ ruột thịt bà con với nhau cóJaw hiện tượng hoán đổi những từ chỉ vị trí nằm kế cận nhau ví dụ má trong ngôn ngữ này lại là cằm, cầm trong ngôn ngữ khác. Buck nhận thấy rằng “ther is considerable interchange between jaw, cheek and chin notably in a widespread cognate group” (4.208) (có sự hoán đổi đáng kể giữa jaw, cheek và chin trong nhóm các chữ họ hàng có liên hệ rộng lớn). Ta thấy Việt ngữ má hoán đổi với Anh ngữ maxillary (hàm trên), mandibule (hàm dưới), Latin màla, Pháp ngữ mâchoir, hàm, jaw hoán đổi với Pháp ngữ joue, má. Cheek hoán đổi chin, cằm, cầm. Theo h=c, Việt ngữ hàm = càm, cằm vì thế hàm còn gọi là cấm, răng hàm = răng cấm.
……
-Tầm Nguyên
Việt ngữ có thể giúp tìm hiểu nghĩa ngữ một cách rành rọt các từ ngoại ngữ nói chung và Anh ngữ nói riêng. Có nhiều từ Anh ngữ các nhà tầm nguyên ngữ học Tây phương không hiểu tiếng Việt không thể hiểu thấu đáo được căn cội như người Việt. Hãy lấy một vài ba ví dụ:
–boat, thuyền = /bốt/ = bọt. Bọt đi đôi với bèo. Bèo giản lược thành bè. Boat có nghĩa là vật nổi trôi trên mặt nước như bọt, như bèo, như bè. Boat chính là bè. Nguyên thể của boat là cái bè do các thân cây cột lại thả trên mặt nước. Điều này thấy rất rõ qua từ float, bè, bè gỗ, vật nổi trên mặt nước như phao, float-bridge hay floating bridge là cầu nổi. Theo fl=b, float = boat. Theo fl = ph, float = phao. Fleet là đoàn tàu như đội tầu đánh cá, hạm đội (đoàn tầu chiến). Truy tìm tới cội nguồn ta thấy float là do từ gốc cổ ngữ Anh fleotan đẻ ra. Theo fl=b, fleo- = bèo. Việt ngữ có từ đi đôi với nhau bọt bèo cùng gốc nghĩa nổi trôi trên mặt nước. Như thế ta thấy rõ boat biến âm với bọt với bèo nhưng có nghĩa là bè. Rõ ràng nguyên thủy thuyền boat là bè, vật nổi trên mặt nước như bọt, như bèo. Boat chính là Việt ngữ bọt (nghĩa lệch) có cùng nghĩa là vật nổi. Cũng nhờ Việt ngữ mà ta hiểu tới tận nguồn, tận gốc của từ boat. Bọt nước có từ khai thiên lập địa ngay từ khi có mưa, có nước, rồi bèo xuất hiện trên mặt nước, kế đến con người gợi ý từ bèo nổi trôi trên mặt nước mới nghĩ ra làm bè và sau cùng làm thuyền như ngày nay. Cái ý nghĩa nguyên khởi của boat là bọt nước, vật nổi trên mặt nước.
Thân phận “boat people” là thân phận “bọt bèo”, chúng ta phải phấn đấu.
–Anh Ngữ quay (phát âm là /ki/), bến tầu như Circular Quay, nơi đặt chân đầu tiên đến Sydney của người Anh; ruột thịt với key (hòn đảo nhỏ, chỗ thuyền bè neo lại dừng chân) như Key West ở Florida; cay, caya (Caribean ngữ) cũng phát âm là /ki/ có nghĩa như key như Coco cay; quai (Pháp ngữ) là bến tầu, ruột thịt với Việt ngữ ki là cây, ke (que, cọc), kè, cái cọc đóng ở bờ nước nguyên thủy để cột thuyền, sau chỗ có cắm cọc cột thuyền trở thành bến nước, bến thuyền. Sau này đổ đá gọi là kè đá. Theo e=u như me = mụ, ta có kè = cừ. Đóng cừ là đóng kè. Đọc thêm hơi vào ta có cừ = chừ, chử. Hán Việt chử là bờ nước, bến sông, Chử Đồng Tử là cậu bé sống ở ven sông, Chử Xá là làng ở ven sông.
–Pork, thịt heo, pig, con heo, porc (Pháp ngữ) có po- = mo, mỡ, Thái Lan ngữ moo là con heo. Con heo là con mỡ vì thế mới ví là mập như heo, ăn như heo. Heo liên hệ với huile (dầu mỡ). Con hợi (tuổi hợi là tuổi heo) là con hoi, con hui(le) (mỡ bị oxýt có mùi hoi). Con lợn là còn lờn, con nhờn (liên hệ với dầu mỡ). Cổ ngữ Việt hốc là ăn tạp như heo ví dụ không làm thì đừng có hòng mà hốc. Hốc là ăn như con heo, con hog (heo). Anh ngữ boar (heo) liên hệ với Việt ngữ bồ (chất béo, dầu, bơ, bồ là dạng cổ của mồ như bồ hôi = mồ hôi và mỡ), beurre (Pháp ngữ). Con heo kêu “oint oint” là kêu “oil”, “oil”.…..
Hán Việt
Trường hợp Hán Việt liên hệ với Ấn Âu ngữ có ba trường hợp: thứ nhất Việt ngữ liên hệ với Hán ngữ mà từ này đã liên hệ với Phạn ngữ ; thứ hai là cả Hán và Việt ngữ đều liên hệ với Phạn ngữ một cách riêng biệt và thứ ba là Hán liên hệ với Việt ngữ mà Việt ngữ lại liên hệ với Phạn ngữ. Ví dụ:
–car, xa, xe; hiển nhiên car = xa (Hán Việt) = xe (c=x như còm = xọm).
–buy, mua; buy = mại (Hán Việt) = mua (b=m).
–flog, đánh bằng roi, flog = phốc (Hán Việt) có nghĩa là đánh bằng roi, cái gậy (Hán ngữ có bộ phộc, phốc, đánh khẽ) = phát (đánh vào mông) = phạt (ngày xưa phạt bằng cách đánh bằng roi), theo f=ph = b, phạt = bạt (tai). Với f câm, flog = log = thân cây, cây. Flog là đánh bằng log, bằng nọc. Việt ngữ “nọc ra” là đánh bằng nọc, bằng roi.
. . . . . .
. Giống Phái
Pháp ngữ có hiện tượng giống phái như trung tính, giống đực, giống cái rất rõ. Anh ngữ cũng có hiện tượng này nhưng rất lu mờ. Cho tới nay không ai giải thích được tới nguồn cội của hiện tượng này trong các ngôn ngữ thế giới. Sự khám phá ra hiện tượng giống phái trong tiếng Việt nhất là hiện tượng âm dương và chữ nòng nọc của tôi giúp ta hiểu rõ hiện tượng giống phái trong ngôn ngữ loài người. Riêng trường hợp Anh ngữ không có biến âm, biến dạng ngữ, không có mạo từ chỉ rõ giống đực và giống cái, hầu hết các từ là giống đực, chỉ có một số rất ít từ có giống cái. Rất khó mà biết được một từ Anh ngữ có giống cái. Hiện nay phải “học thuộc lòng” những từ giống cái này ví dụ tên nước Mỹ, tên xứ, vùng đất, tàu thuyền . . . Nhưng nếu ta dùng Dịch lý, chữ nòng nọc giải thích thì ta sẽ hiểu rõ tại sao. Tên nước, xứ sở, tàu thuyền. . . có giống cái (xóm làng nguyên thủy là một bờ nước và xóm làng trở thành xứ, vùng, quốc gia, đất nước). Sở dĩ như vậy vì những từ này liên hệ tới nước tức nòng, thái âm. Trường hợp Pháp ngữ có giống đực giống cái là di tích của hiện tượng âm dương trong chữ nòng nọc. Chữ viết nòng nọc, hiện tượng âm dương còn thấy rất rõ trong Việt ngữ trong khi hình thái giống đực giống cái là dạng thu nhỏ lại, giản dị hơn thấy trong các ngôn ngữ khác như Pháp ngữ chẳng hạn. Ta có thể dùng hiện tượng âm dương, chữ nòng nọc trong Việt ngữ để giải thích giống phái trong ngoại ngữ nhất là trong Anh ngữ (Tiếng Việt Huyền Diệu).
(còn tiếp).