May 23, 2011
HỌC ANH NGỮ BẮNG VIỆT NGỮ: NHỮNG TỪ CHỈ LOÀI VẬT (3 và hết).
May 13, 2011
HỌC ANH NGỮ BẰNG VIỆT NGỮ: NHỮNG TỪ CHỈ LOÀI VẬT (2).
HỌC ANH NGỮ BẰNG VIỆT NGỮ
NHỮNG TỪ CHỈ LOÀI VẬT.
H
I
J
K
K biến âm mật thiết với C, CH, H, Q, QU. . .
L
May 6, 2011
HỌC ANH NGỮ BẰNG VIỆT NGỮ: NHỮNG TỪ CHỈ MUÔNG THÚ (1).
HỌC ANH NGỮ BẰNG VIỆT NGỮ
(tiếp theo)
NHỮNG TỪ CHỈ LOÀI VẬT.
(Phần 1)
Nguyễn Xuân Quang
A
B
C
D
E
F
G
July 17, 2009
HỌC ANH NGỮ BẰNG TIẾNG VIỆT QUA TỪ GHÉP.
HỌC ANH NGỮ BẰNG TIẾNG VIỆT VÀ NGƯỢC LẠI.
HỌC ANH NGỮ BẰNG TIẾNG VIỆT
QUA TỪ GHÉP.
Nguyễn Xuân Quang.
Ghi Chú:
-Dấu bằng (=) có nghĩa là liên hệ với, tương đương, gần cận nhau, giống nhau.
-Chữ trong hai gạch nghiêng / / là thanh, thinh, âm, âm vị, chỉ phát âm theo tiếng Việt hay ngoại ngữ.
-Mẫu tự trong ngoặc đơn của một từ có nghĩa là bỏ đi hay câm, ví dụ Anh ngữ cổ brus (breast), vú có b(r)u- = bú, vú (bỏ r hay r câm)….
-Dấu (*) có nghĩa là gốc tái tạo không có trong ngôn ngữ thành văn (written records).
-Tôi chỉ giới hạn vào các nghĩa gốc tương đồng và để qua bên các nghĩa phụ, nghĩa bóng bẩy, nghĩa lóng.
-Tôi dùng từ liên hệ hiểu theo nghĩa tổng quát. Còn liên hệ như thế nào không nằm trong phạm vi bài viết này (sẽ nói rõ trong tác phẩm Sự Liên Hệ Giữa Việt Ngữ và Ấn Âu Ngữ.) Chỉ xin hiểu một cách tổng quát dù là liên hệ qua môi sinh như tiếp xúc, vay mượn, qua trung gian một ngôn ngữ khác hay di truyền (DNA), ruột thịt, máu mủ thì nói chung vẫn là liên hệ. Có sự liên hệ giữa Việt ngữ và Anh ngữ thì sự liên hệ đó cũng đủ giúp ta học Anh ngữ bằng Việt ngữ một cách dễ dàng và ngược lại.
Ở đây chỉ xin rút tỉa ra một ứng dụng, một thực dụng rất hữu ích từ sự liên hệ này là ta có thể học một cách tường tận, dễ hiểu và dễ nhớ tiếng Anh nói riêng và Ấn Âu ngữ nói chung bằng tiếng Việt và ngược lại. Học Anh ngữ bằng Việt ngữ giúp những người Việt nhất là giới lớn tuổi giỏi tiếng Việt có thể dùng tiếng Việt học Anh ngữ và các thế hệ trẻ sinh đẻ ở hải ngoại và các người ngoại quốc giỏi Anh ngữ có thể dùng tiếng Anh học tiếng Việt.
-TTG = Thành Tố Ghép.
...…
Từ ghép trong ngôn ngữ Việt là những từ gồm một cụm từ do hai từ trở lên ghép lại, kết hợp lại (nên cũng gọi là từ kết hợp). Từ ghép hay kết hợp có ba từ trở lên như dài lòng thòng, trong leo lẻo, đen thui thủi… Trong trường hợp chỉ có hai từ ghép lại với nhau thôi ta có thể gọi là từ kép hay từ đôi như bạc phai, mỏng dính, tối om… Tôi gọi chung là từ ghép vì ghép có nghĩa là hai (theo gh=k), ghép = kép (hai) và ghép cũng có nghĩa rộng ra chỉ nhiều thứ ghép lại với nhau.
Những từ phụ trong một từ ghép đều có thể coi là những thành tố ghép (TTG, tạo ra từ ghép). Những thành tố ghép này có âm khác với từ chính mà nó ghép với (có thể coi như là từ mẹ). TTG vì thế khác với thành tố láy. Như đã biết thành tố láy có âm là âm láy (âm lai đi) của từ mẹ. Tôi chỉ gọi là từ ghép khi những từ kết hợp lại hoàn toàn khác âm với nhau mà thôi.
Xin lưu tâm:
Từ láy và từ ghép dễ lầm lộn với nhau bởi vì có phần chồng lên nhau (overlapping) của hai loại tiếng này ví dụ phố phường. Ta thấy phố và phường vừa láy âm có thể coi như là hai từ láy vừa là hai từ riêng rẽ vì đứng riêng ra vẫn là hai từ phố và phường có nghĩa riêng rẽ trọn vẹn. Ở đây phố và phường cùng âm, cùng vần ph nên coi như là từ láy. Về nghĩa, thành tố ghép cũng khác. Nghĩa của thành tố ghép theo tính chất âm dương trong tiếng Việt. Có hai trường hợp. Trường hợp thứ nhất, theo âm dương tương hòa, thành tố ghép có nghĩa giống như hay gần giống như từ chính (giống như thành tố láy). Đây là trường hợp từ ghép điệp nghĩa. Ví dụ gà qué: con gà là con qué, ta có gà = qué; ăn hút: hút cũng có một nghĩa là ăn như ăn thuốc = hút thuốc; đớp hít: hít cũng có một nghĩa là đớp, là ăn như hít thuốc = hút thuốc = ăn thuốc. Trường hợp thứ hai, theo âm dương đối nghịch, thành tố ghép có nghĩa khác hay ngược với từ chính. Đây là trường hợp từ ghép nghịch nghĩa. Ví dụ nõ nường, trăng trời, đen trắng, đứng ngồi (không yên)… [đứng là dương, ngồi là âm, điểm này thấy rõ trên trống đồng những người đánh trống (trống có một nghĩa là đực tức dương như gà trống) thường ở vị thế ngồi (âm) và những người giã chầy (dương) vào cối (âm) thường đứng (dương) để cho âm dương hôn phối với nhau mang nghĩa sinh tạo…
Một trong những công dụng của từ ghép hay kết hợp là tạo ra thêm từ mới trong Việt ngữ. Sự cấu tạo thêm từ mới này có thể là lấy từ các gốc, các từ có sẵn của Việt ngữ hay lấy từ các ngôn ngữ khác. Từ mới được cho kết hợp với từ cũ đã dùng quen và biết rõ nghĩa rồi, từ mới dần dần không còn “xa lạ’, ‘khó hiểu’ và được từ cũ đi kèm bên ‘dìu dắt’ đi vào dòng ngôn ngữ Việt không một chút bỡ ngỡ. Trong trường hợp vay mượn từ ngôn ngữ khác, từ mới được từ Việt đi kèm bên dần đà được Việt hóa trở thành tiếng Việt. Từ láy và từ ghép cho thấy Việt ngữ là một ngôn ngữ đa dạng và liên hệ với nhiều ngôn ngữ. Hãy lấy một ví dụ Việt ngữ mỏng. Ta có từ láy mỏng manh với thành tố láy manh chính là Pháp ngữ mince (mỏng). Từ ghép mỏng dính có thành tố ghép dính chính là Anh ngữ thin. Theo qui luật Grimm, d=th, Đức ngữ das, die, der = Anh ngữ the, ta có dính = dín = Anh ngữ thin; từ ghép mỏng tang, mỏng tanh có thành tố ghép tang, tanh chính là Aryan Phạn ngữ tan, mỏng. Ta đã thấy từ láy mỏng manh có thành tố láy manh chính là Pháp ngữ mince. Manh biến âm với mảnh có nghĩa là mỏng, gầy như mỏng mảnh, mảnh mai và có nghĩa là gầy như mảnh khảnh giống như Anh ngữ thin có nghĩa là mỏng và cũng có nghĩa là gầy. Manh, mảnh liên hệ với Latin macer, mảnh, mảnh khảnh, mỏng. Từ ghép mảnh dẻ có thành tố ghép dẻ chính là Quan thoại ngữ (Bắc Kinh) diè có nghĩa là mỏng…
Từ ghép nhìn chung cũng hữu ích như từ láy. Ta có thể dùng từ ghép kết hợp trong công cuộc truy tìm nghĩa, nguồn gốc nghĩa của cổ ngữ Việt và ngôn ngữ loài người.
QUI LUẬT VỀ TỪ GHÉP
Từ ghép là những từ kết hợp với nhau theo âm dương. Có hai trường hợp:
.theo âm dương tương thuận có nghĩa như nhau hay có cùng một gốc nghĩa, tôi gọi là từ ghép điệp nghĩa.
.hoặc theo âm dương đối nghịch có nghĩa đối nghịch nhau theo âm dương, tôi gọi là từ ghép nghịch nghĩa.
Qui luật về từ ghép trong Việt ngữ của nguyễn Xuân Quang:
Từ ghép trong ngôn ngữ Việt là những từ gồm một cụm từ do hai từ trở lên ghép lại, kết hợp lại. Trong trường hợp chỉ có hai từ ghép lại với nhau thôi ta có thể gọi là từ kép hay từ đôi. Từ ghép có nghĩa theo âm dương. Theo âm dương tương thuận, từ ghép có nghĩa như nhau hay có cùng một gốc nghĩa, tôi gọi là từ ghép điệp nghĩa. Theo âm dương tương phản, từ ghép đối nghịch có nghĩa đối ngược nhau, tôi gọi là từ ghép nghịch nghĩa.
Trong Tiếng Việt Huyền Diệu, tôi đã so sánh TTG với cả ngôn ngữ loài người. Ở đây trong phạm vi bài học Anh Ngữ Bằng Tiếng Việt và Ngược Lại, tôi giới hạn vào TTG của từ ghép điệp nghĩa của Việt ngữ thấy trong Ấn Âu ngữ. Dùng từ ghép của Việt ngữ để học Anh ngữ và ngược lại. Vì phạm vi bài viết, mỗi vần chỉ xin đưa ra vài ba từ.
A
.Ánh sáng
TTG sáng chính là Anh ngữ shine, sáng, chiếu sáng. Shine = /sai/ = sao (sao có nghĩa là sáng, xem chữ star) = sáng. Shine ruột thịt với Phạn ngữ chand, to shine, theo ch=s, chand = sáng.
.Ao đầm
TTG đầm có gốc đa-, nước (đác là nước, sông Đà là sông Nước, Đà Lạt, Đà Nẵng… là vùng sát sông hồ nước) ruột thịt với Anh ngữ dam, đập nước, damp, ướt, ẩm ướt, ẩm thấp.
.Ẩm ướt
TTG ướt chính là Anh ngữ wet, ướt. Theo w=u (Mường ngữ wễ = uế, ô uế), ta có wet = ướt.
B
.Bạc phai
TTG phai chính là Anh ngữ fad, lạt, lợt, phai.
.theo f=ph (fỏng = phỏng), fade = phai.
.theo f=b, fad- = bạc (mầu). Ta thấy rất rõ bạc phếch có bạc = phếch = fade. Phạn ngữ mlai, to fade có -lai = lạt (nhạt, nhạt phai), lợt (nhợt, nhợt nhạt).
.Bén sắc
TTG sắc chính là Anh ngữ sharp, sắc, bén, có sar- (h câm) = sắc.
.Biện bạch
Biện là lý luận như biện luận và bạch là nói, thưa như bạch thầy. TTG bạch chính là Anh ngữ speak, có một nghĩa là nói, lời nói, diễn thuyết. Theo p=b, ta có (s)peak =/pích/ = bích = bạch. Bạch, speak ruột thịt với Phạn Ngữ vach, speaking (nói vanh vách). Ta thấy rất rõ Phạn ngữ vach = bạch (v=b).
C
.Cắt xén
TTG xén chính là Anh ngữ shear, xén (như xén lông cừu, xén hàng rào cây), sắn (cắt) (như sắn ra làm đôi tức là cắt xén ra làm hai). Theo s=c=k, shear = kéo, Hy Lạp ngữ keiro, shear liên hệ với cắt, xén, kéo. Theo s=k, shear liên hệ với gốc tái tạo Ấn-Âu ngữ (Indo-European, IE) *ker-, Anh ngữ cut, Việt ngữ cắt, xẻ, sén.
.Chạm khắc
TTG khắc chính là Anh ngữ carve, khắc, chạm, đục.
.theo c=kh, carv- = khắc.
.theo c=ch, carv- = chạm.
.carve có car- = cắt.
ruột thịt với Phạn ngữ kshad, to carve, ta có kshad = khắc.
.Chợ búa
TTG búa có nghĩa là chợ nhỏ, biến âm với buôn, bản, phố, phường, mường chính là Anh ngữ burg, chỗ ở, thị xã, thị trấn, thành phố như Saint Peterburg, Strassburg, Pháp ngữ bourg như Luxembourg, Scandinavian ngữ bir, bur, chỗ ở, thành phố, Iceland ngữ byr, thành phố, ruột thịt với gốc Phạn ngữ pur-, -pura, chỗ ở, miền, thành phố như Singapura hay Singapore (Thành phố Sư Tử), Manipur. TTG búa chính là Phạn ngữ pur-.
.Cống rãnh
TTG rãnh chính là Anh ngữ drain, rãnh. Với d câm, (d)rain = rãnh hay với r câm, d(r)ain = dãnh.
D
.Dài lòng thòng
Đây là một từ ghép có ba từ. TTG lòng thòng = dài. Thòng là tiếng láy của của lòng (theo biến âm l=th) cũng có nghĩa là dài như thấy qua từ đôi dài thòng. TTG lòng có một nghĩa là dài như lòng thòng, lòng vòng. Lòng với nghĩa là ruột cũng có một nghĩa là dài thấy rõ qua Hán Việt trường là ruột như dạ trường, tiểu trường (ruột non), đại trường (ruột già) và trường cũng có nghĩa là dài như trường giang. TTG lòng biến âm với long cũng có một nghĩa là dài như đi long rong là đi rong đi dài. TTG lòng và biến âm long chính là Anh ngữ long, có một nghĩa là dài, ruột thịt với gốc Ấn Âu ngữ *dloon-gho, dài.
.Dù ô
TTG ô ruột thịt với Anh ngữ awning, Pháp ngữ auvent, vật che nắng, che mưa, có aw-, au- = ô (dù che nắng mưa).
.Dốt đặc
dốt là ngu, tối, tối dạ. TTG đặc chính là Anh ngữ dark, tối.
Đ
.Đâm thọc
TTG thọc biến âm với thọt, thục, thúc, thụt, đục chính là Anh ngữ thrust, thúc, thọc vào, đâm bằng vật nhọn, động tác làm tình của phái nam. Ta có th(r)ust = thục, thúc, thọc. Theo th=đ, thrust = đục, đụ (đụ là do đục cắt bỏ c, Tiếng Việt Huyền Diệu). Việt ngữ thậm thụt có một hàm ý là làm tình như con đó với thằng ấy thậm thụt với nhau (thậm biến âm với đâm, thậm thụt biến âm với đâm thọc).
.Đần đụt
TTG đụt chính là Anh ngữ dud, dở, kém, ngu như I’am a dud at history (tôi là đứa ngu về sử ký), dud chính là Việt ngữ đụt (các cụ ta mắng thằng đụt, sao mày đụt thế), câu Anh ngữ vừa nói nếu hiểu theo nôm na là “tôi là một đứa đụt về sử ký”.
.Đỏ lét
TTG lét chính là Anh ngữ red, đỏ (r=l).
.Đổi trác (chác)
TTG trác hay chác chính là Anh ngữ trade, trao đổi, đổi trác. Buôn bán trade khởi đầu bằng sự đổi chác hiện vật.
G
.Gà qué
TTG qué phải có cùng gốc nghĩa với gà. Từ đôi gà qué với gà= qué. Qué biến âm với que là nọc, cọc, chỉ dương tính, bộ phận sinh dục nam. Con qué là con que, con ke. Ke chỉ bộ phận sinh dục nam (Alexandre de Rhode, Từ Điển Việt-Bồ-La). Con qué, con que, con nọc là con gà đực, gà trống.
Việt ngữ trống là chống (que nâng đỡ), chông (cọc nhọn), trống là đực, nọc (heo nọc là heo đực). Que, chống, chông, nọc (heo nọc), cọc (Quân tử có thương thì đóng cọc, Xin đừng mân mó nhựa ra tay, hay Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không, Hồ Xuân Hương) nói chung là vật nhọn biểu tượng cho bộ phận sinh dục phái nam. Gà trống biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam. Anh ngữ con cock, Pháp ngữ coq, gà trống là con cọc, con cặc. Từ cock, coq chính là Việt ngữ cọc, cặc vì thế cock còn có nghĩa là bộ phận sinh dục nam. Việt ngữ gà là con cà, con kê (chuyện cà kê), Hán Việt kê là gà. Kê biến âm với ke, kè, kẻ, que, qué. Cổ ngữ Việt ké cũng có nghĩa là gà như trói thúc ké là trói ghịt cánh gà. Ta thấy rõ ke = ké = que = qué. Gà trống còn gọi là gà sống mà trống là nọc, là que thì sống cũng phải có nghĩa là nọc, que. Thật vật ta có từ ghép xương sống còn gọi là cột sống (vertebral column). Theo qui luật về từ ghép, cột sống có sống = cột. Cột là cây, là nọc, là que, là qué.
Tóm lại qué là con que, con cọc, con cock, con coq, con ke, con ké, con kê, con cột, con sống, con trống. Gà trống, gà qué biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam.
.Gan dạ
TTG dạ chính là tiền tố Hy Lạp ngữ gastro-, dạ dầy, bao tử,
gastro- có gốc Phạn ngữ gar-, dạ, túi bọc, ví dụ gastro-, dạ dầy, Phạn ngữ garbha, the womb, dạ con. Gốc Phạn ngữ gar- = jar- = dạ (xem jar-). Dạ dầy là chiếc túi đựng thức ăn. Nên biết dầy ở đây không phải là dầy mỏng. Dạ dầy không phải là chiếc túi dầy, túi mỏng. Dầy nói trại của từ đẫy là chiếc túi, bọc bằng vải. Dạ dầy là dạ đẫy, chỗ ruột giống như một chiếc túi, chiếc đẫy chứa thức ăn. Ta có một loài chim có chiếc bìu rất lớn gọi là chim già đẩy, thật ra tên nó là chim dạ đẫy tức chim có chiếc túi bìu như cái đẫy. Gốc Hy Lạp gastro- (dạ dầy) liên hệ với gar- jar: dạ con, túi đựng con cho thấy rõ như hai năm là mười là dạ dầy là chiếc túi đựng thức ăn, là dạ đẫy. Anh ngữ maw chỉ một chiếc túi đựng thức ăn trong dạ dầy nhiều túi của loài nhai lại. Maw liên hệ với Việt ngữ mo là cái bọc, cái bao như mo nang là cái bọc hoa cau (Mường ngữ nang là cau).
.Gặt hái
TTG hái chính là Anh ngữ harvest, hái, gặt, gặt hái, thu hoạch. Harvest có
.har- = hái, hoạch (thu).
.theo h=g (hồi = gồi), har- = gặt.
H
.Hôi tanh
TTG tanh chính là Anh ngữ stink, hôi tanh, hôi thối. Từ stink có thể lấy theo âm (s)tink và âm s(t)ink.
a. lấy theo âm –tink: -tink = tanh, tanh tưởi, hôi tanh.
b. lấy theo âm s(t)inh = sink = xình (thối), xác chết xình
thối, xình lầy (xình là bùn hôi thối).
.Hầu bao, hồ bao
TTG bao chính là Anh ngữ pouch, bao, bào, bọc, túi. Theo p=b, pouch = /pao/= bao (túi, bị), bào, liên hệ với Anh ngữ pocket, Pháp ngữ poche, bọc, bao, túi, bị (người Trung gọi túi áo là bị). Ta có poc- = bọc.
.Hèn mọn
Hèn mọn là hèn hạ và nhỏ mọn, nhỏ nhen. TTG mọn chính là Anh ngữ mono-, một, mỗi, mọn. Mọn là ít, nhỏ; nhỏ mọn, ruột thịt với mean, nhỏ mọn, hèn hạ, đê tiện và với small, nhỏ, bé, vụn vặt, nhỏ mọn, với Đan Mạch smaa, Thụy Điển smà là small.
I
.Im lìm.
TTG lìm liên hệ với Anh ngữ sleep, ngủ, có –lee- liên hệ với li, hàm nghĩa ngủ như ngủ li bì tức ngủ say, với Phạn ngữ ni là ngủ, ni = li (bì), ni = nghỉ (nghỉ có một nghĩa là nằm, ngủ). Tiếng miền bắc miền Trung lú là ngủ:
Gió mùa thu mẹ ru con lú.
(ca dao).
Từ lú (biến âm với li, ni), ngủ cũng có nghĩa là mê (đánh thuốc mê là đánh thuốc ngủ), mê man liên hệ với ngủ say như lú lẫn, cho ăn cháo lú. (S)leep = lịm, mê, mê man liên hệ với ngủ như nó lịm người đi. TTG lìm biến âm với lịm, li, li bì, ni, lú. Ngủ liên hệ với chết như an giấc ngàn thu và chết, ngủ hàm nghĩa lặng, yên, im như yên nghỉ ngàn đời. Ta cũng thấy với l câm, lìm = im.
.Ỉu thiu
như bánh mì để lâu bị ỉu thiu. TTG thiu chính là Anh ngữ stale, thiu. Stale có -tale = thiu.
K
.Kêu gào
TTG gào ruột thịt với Anh ngữ howl, hú, hét, gào, thét. Theo h=g, howl =/hao/ = gào. Theo g=s=sh, gào = Anh ngữ shout (/sao/), la lớn, hò hét, kêu gào.
.Ký lục
TTG lục (Hán Việt) là biên chép, ghi vào sổ như ký lục, mục lục, mạn lục, tạp lục. Lục chính là Anh ngữ log. Ngày xưa ghi lại sự việc bằng cách khắc trên cây cọc, cây nêu, thân cây, tấm ván, tấm bảng (xem Học Anh Ngữ Bằng Các Từ Vi Tính).
.Khám xét
với nghĩa là khám, TTG xét chính là Anh ngữ check, xét, soát (lục soát, kiểm soát), sát (thị sát), theo ch=x (chef = xếp), check = xét. Check, xét liên hệ với Phạn ngữ chaksk, to see và với caksus, eye.
L
.Lạnh cóng
TTG cóng ruột thịt với Anh ngữ cold, lạnh.
.Lăn lộn
TTG lộn chính là Anh ngữ roll, lăn, lộn (r=l).
.Lăn lóc
TTG lóc chính là Anh ngữ rock, lắc, lay, ruột thịt với roll như thấy qua cụm từ rock and roll và qua từ láy lăn lóc, ta có lăn = lóc = roll = rock. Ngoài ra rock còn có nghĩa là đá, cũng đi đôi với lăn lóc như thấy qua câu ca dao:
Gió đưa hòn đá lăn cù,
Con chị có thiếu thì bù con em.
và qua tên ban nhạc The Rolling Stone.
.Lừa phỉnh
TTG phỉnh chính là Anh ngữ feign:
1.phỉnh, phỉnh gạt, phỉnh phờ, giả bộ, giả vở, giả đò, làm bộ, to feign death, giả vờ chết.
2. phịa ra, bịa ra, bày chuyện, đặt chuyện.
3. giả mạo, ngụy tạo (văn kiện).
.feign = phỉnh, phờ, phỉnh phờ (theo ph=v như phành ra = vành ra, ta có phờ = vờ).
.theo f=b, feign = bịa.
.theo f=ph, feign = phịa (ra).
M
.Mập phì
TTG phì ruột thịt với Anh ngữ fat, mỡ, mập, phì.
-theo f=ph: theo mặt chữ hay theo âm Việt, fat = phát. Hai từ phát phì nếu coi là hai từ đi riêng rẽ thì phát là động từ có nghĩa là trở thành, trở nên như phát tướng, còn coi như là hai từ láy hay hai từ ghép thì ta có phát = phì. Trong trường hợp sau này ta có phát = phì = Anh ngữ fat. Ta thấy:
-fat = phì (phì lũ, béo phì, mập phì, phát phì).
-fat = pháp, phốp (phốp pháp).
-fat = phệ (béo phệ), bụng phệ. Theo ph=x, phệ = xệ, mập trông thấy xệ ra, xã xệ là ông xã mập. Xã xệ và lý toét là ông xã mập và ông lý ốm.
-theo f=m, fat = mập, từ láy mập mạp có thành tố láy mạp = fat. Fat = mẫm (béo mẫm), mụ mẫm, bụ bẫm.
.Muông thú
Muông có một nghĩa chỉ thú vật, Mường ngữ mong, thú vật. Theo qui luật Grimm th=d (=z), TTG thú = dú =/du/ = zoo, sở thú.
.Mường bản
TTG bản, buôn biến âm với búa (chợ), phủ, phố, phường, chính là Anh ngữ burg (xem từ ghép chợ búa ở trên).
N
.Nóng hốt
TTG hốt chính là Anh ngữ hot, nóng.
.Ngọt sắc
TGG sắc cũng có nghĩa là ngọt, sắc chính là Anh ngữ sugar, Pháp ngữ sucre, Tây Ban Nha ngữ suca, đường.
.Ngọt sớt
TTG sớt chính là Anh ngữ sweet, ngọt.
.Nhẩy phốc, nhẩy phóc
TTG phốc, phóc chính là Anh ngữ frog, ếch. Con ếch có một nghĩa là con nhẩy (xem Con Cóc Là Cậu Ông Trời).
.Nhẩy tót
TTG tót chính là Anh ngữ toad, con cóc. Con cóc có một nghĩa là con nhẩy.
O
.Ốm yếu
TTG yếu chính là Anh ngữ ill, ốm, yếu, đau yếu, ill = yếu (đau yếu).
P
.Pháp luật
Pháp là phép, phép tắc, lề lối, luật lệ ruột thịt với luật như pháp đình, pháp lệ, pháp lý. TTG luật chính là Anh ngữ law, luật, lệ, lề, lối, ruột thịt với Pháp ngữ loi. Các nhà tầm nguyên ngữ học Tây phương cho rằng law liên hệ với lie, “nằm”, “laid down”, “đặt nằm xuống” hàm nghĩa “đã vạch định ra” hay “cố định”. Các tác giả này hiểu law liên hệ với lie, nằm vì cho rằng law ruột thịt với Phạn ngữ ni có nghĩa là nằm, ngủ. Việt ngữ nghỉ, nằm, ngủ cũng phát gốc từ Phạn ngữ ni. Phạn ngữ ni = nghỉ (nằm nghỉ cũng hàm nghĩa ngủ). Tuy nhiên, Phạn ngữ ni còn có thêm một nghĩa nữa (có thể là hai từ ni đồng âm dị nghĩa) là ni tấc, mực thước, kích thước như lấy ni may quần áo. Ta thấy rõ law = luật, lệ, lề (lối), Pháp ngữ loi = lối. Law loi = lề lối. Anh ngữ law, Pháp ngữ loi, Việt ngữ luật, lệ, lề (lối), nề nếp phát gốc từ Phạn ngữ ni, có thể hiểu theo Việt ngữ là ni tấc, mực thước, nề nếp, lề lối haỳ hiểu theo Tây phương ni là lie, nằm, đúng hơn có lẽ phải hiểu theo laidown với nghĩa là nền tảng, nền móng. Ta thấy Phạn ngữ ni với nghĩa ni tấc biến âm với nề (giấy rách phải giữ lấy nề), nề nếp, nền nếp, lề lối, lệ (lệ làng), Hán Việt lý (pháp lý) có vẻ hữu lý hơn là ni với nghĩa là “nằm”, nghỉ. Một lần nữa cho thấy ta có thể học Anh ngữ bằng Việt ngữ một cách tường tận hơn.
.Phí tổn
phí chính là Anh ngữ fee, phí, lệ phí, phí tổn, tốn phí, học phí, tiền công, tiền thưởng và tổn chính là Anh ngữ toll, tiền lệ phí, mãi lộ, Anh ngữ có từ toll free, miễn lệ phí, miễn lộ phí.
.Phố tỉnh
TTG tỉnh ruột thịt với Anh ngữ town, thành phố, thành thị, tỉnh, thành tỉnh, tỉnh lỵ. Theo biến âm kiểu tỉnh táo, ta có tỉnh = táo = town (/tao/). Phạn Ngữ sthâna+ka, town có –thâna- = thành (tỉnh).
Q
.Quan sát
TTG sát ruột thịt với Anh ngữ see, sát, xét, xem xét, nhìn, thấy, trông, ngó, chộ (phương ngữ Huế), thăm, nom, gặp, viếng (người nào); sát, xét, xem = see, ruột thịt với Phạn ngữ chaksk, to see, với shas, caksus, mắt.
.Què cụt
TTG cụt có nghĩa liên hệ với què như cụt chân hàm nghĩa què chân. Cụt có một nghĩa là ngắn như áo cụt, quần cụt biến âm với cộc (áo cộc, quần cộc). TTG cụt liên hệ với Anh ngữ short, Old Norse, Icelandic skorta, Old High German scurz, Latin curtus, Pháp ngữ court, Phạn ngữ krdhuh, cộc, cụt, ngắn. Short phiên âm thành soóc, soọc (quần soóc, soọc). Theo s=sh=c, short = soọc = cộc. Pháp ngữ court, Latin curtus = cụt. Đức ngữ (s)cur- = cụt.
Với nghĩa cụt là ngắn, từ ghép què cụt cho biết người què chân có một chân ngắn. Ngoài ra cụt còn liên hệ với cắt như thấy qua từ ghép cắt cụt (theo qui luật từ ghép, ta có cụt = cắt). Với nghĩa cắt này, cụt chính là Anh ngữ cut, cắt và què cụt có nghĩa là người có một chân bị cắt (cụt).
.Quê mùa.
Quê chỉ chỗ ở vùng cao đồi núi. Quê biến âm với quẻ, que, kẻ có nghĩa gốc là cây, cọc, con cọc (hươu) có một biểu tượng cho núi (Núi Trụ Chống Trời, Núi Trụ Thế Gian). Kẻ là chỗ ở và cũng chỉ người ở vùng cao, vùng núi hay thuộc tộc Hươu (Kì Dương Vương) như Kẻ Sặt (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc). Theo qui luật từ ghép đồng nghĩa, TTG mùa phải có cùng nghĩa với quê: quê = mùa. TTG mùa ruột thịt với gốc pur-, chỗ ở, phố, chợ, mường, bản buôn, búa (chợ) như Singapura hay Singapour là Thành phố Sư Tử. Quê mùa chỉ thôn dã, dân dã, mộc mạc. Ta thấy rất rõ mộc mạc ruột thịt với cây, ki, kì, kẻ, que và dĩ nhiên liên hệ với quê, quê mùa.
R
.Ràng buộc
TTG buộc chính là Anh ngữ bound, bind, buộc, bó, ruột thịt với Phạn ngữ pac, to bind, bound, theo p=b, pac = buộc.
.Rậm rật, rậm rựt
No cơm ấm cật, rậm rật tối ngày.
(tục ngữ)
có rậm = Phạn Ngữ ram, làm tình (xem chữ này) biến âm với Việt ngữ đâm (đâm, đục, thục, thúc, thrust chỉ động tác làm tình), với Hán Việt dâm. TTG rật biến âm với rựt chính là Anh ngữ rut (thời kỳ động cỡn, nứng của cừu, hươu, dê đực). Rật, rựt biến âm với dật. Từ ghép rậm rật biến âm với dâm dật.
.Rực rỡ
TTG rỡ chính là Anh ngữ red, đỏ, đỏ hoe (tóc), cực tả (chính trị). Mầu đỏ gọi theo mầu mặt trời, đỏ là tỏ (sáng, mặt trời).
Red liên hệ với rực, rỡ, rạng, rạng-rỡ (liên hệ với mầu mặt trời), Nam Đảo ngữ *rara, ‘red’, Pháp ngữ rouge, đỏ có ro- = rỡ, rou- = rực (đỏ rực), rỡ (rực rỡ); russe, hung đỏ có rus- = rực. Phạn ngữ ruc, shine (rực sáng), ranj, đỏ (ranj = rạng), rohita, đỏ, liên hệ với rohit, mặt trời, có ro- = rỡ. Gốc tái tạo IndoEuropean (IE) *reudh-, đỏ.
S
.San xẻ
TTG xẻ chính là Anh ngữ share, /xe/, san xẻ, chia xẻ, chia, phân chia, phần chia, cổ phần. Theo âm /se/ = sẻ, xẻ, chia xẻ. Theo mặt chữ share = san như san ra làm hai, san sẻ.
Ngôn ngữ người Việt hải ngoại ở những vùng nói tiếng Anh có từ “se phòng” cùng nghĩa với “sẻ phòng”, “san phòng”, chia phòng.
.Sáng láng, sáng lạn
TTG láng, lạn chính là Anh ngữ light, ánh sáng, sự soi sáng, chiếu sáng, lửa (xem lighter)… Theo biến âm kiểu lai láng, ta có /lai/ = light = láng. Light, lai, láng, lạn, lửa liên hệ với Latin lux, ánh sáng, Phạn ngữ ruck, to shine, chiếu sáng, gốc Phạn ngữ ruk, luk, chiếu sáng. Gốc Phạn ngữ luk = lửa. Phạn ngữ ruck, gốc ruk = rực (rực sáng, rực rỡ, rực lửa).
.Sưng phồng
TTG phồng chính là Anh ngữ puff có một nghĩa là phồng, phùng, phình, thổi phồng (quảng cáo láo, tin láo), theo p= ph, puff = phồng.
T
.Thăm viếng
TTG viếng ruột thịt với gốc Anh ngữ vid-, vis- (tiền tố Latin), viếng, xem, nhìn ví dụ như video, vis-à-vis, visit, view, vân vân. Video có tiền tố vid-, viếng, xem.
.vid-, vis- = viếng (xem).
.theo v=m, vid-, vis = mắt.
.view, nhìn, xem, mục, viếng, cảnh, liên hệ với Pháp ngữ vue, voir, Latin videre, Tây Nha ngữ ver, gốc Phạn ngữ wid, to see, observe, to know (thấy là biết), IE *weid, see. Ta có view = viếng = vọng (Hán Việt), lầu vọng nguyệt là lầu nhìn, ngắm trăng.
.Thề thốt
TTG thốt chính là Anh ngữ talk, nói như thốt ra lời.
.Thù hận
TTG hận chính là Pháp ngữ haine, Anh ngữ hate.
U
.Úa héo
TTG héo chính là Anh ngữ wilt, héo tàn. Theo w=h, (Mường ngữ wễ lan = huệ lan), wil- = héo. Theo w=u (Mường ngữ wể = uế, ô uế), wil- = úa.
.Uốn cong
TTG cong chính là Anh ngữ curve, cong, đường cong, quẹo.
.curve có curv- = cong, cong cớn, ruột thịt với Phạn ngữ krunch, to curve có k(r)unc- = cong, với gốc tái tạo PIE *ker-/*k’or-/*k’r, to twist, vặn, to turn, bẻ quẹo, to bend, uốn cong…
.Ướt sũng
TTG sũng chính là Anh ngữ soak, sũng nước, thấm, nhúng, ngâm, đẫm nước, sấp (nước, nhúng nước như bánh tráng sấp nước).
V
.Vang động
TTG động ghép với vang (tiếng) liên hệ với tiếng, âm thanh. TTG động chính là Anh ngữ tone, Pháp ngữ ton, tiếng, âm, âm điệu, thanh, thanh điệu, thinh. Theo t=đ, tone = ton = động = đổng, đông đổng (nói), Phù Đổng là ông tạo ra tiếng động và nổi dông nổi gió tức ông Sấm Dông (Ca Dao Tục Ngữ, Tinh Hoa Dân Việt).
.Vá mạng
TTG mạng chính là Anh ngữ mend, mạng, ruột thịt với gốc Phạn ngữ wa, wad, wadh, wi, to bind, plait, weave. Phạn ngữ wa = vá và wi = víu (nhíu), ta có từ đôi vá víu. Mạng và vá họ hàng với nhau.
.Vùi dập
Có nghĩa đen là vùi lấp (theo d=l, dập = lấp), chôn, thường dùng với nghĩa bóng chỉ sự phá hoại đời phụ nữ như vùi dập đời hoa. Với nghĩa sau này, TTG dập có nghĩa là giao hợp. Theo d=l, dập = lắp, giao hợp (Alexandre de Rhodes, từ điển Việt Bồ La), theo d=t, dập = Anh ngữ tup (cho thú đực nhẩy cái như cừu đực nhẩy cái chẳng hạn). TTG dập chính là Anh ngữ tup (tupped, tupping).
X
.Xa lìa
TTG lìa chính là Anh ngữ leave, rời bỏ, lìa bỏ, phân ly, ly khai. Ta có leave = /li/ = ly (Hán Việt) như ly hương (rời bỏ quê hương), ly cách, chia ly, ly khai.
.lea- = lìa, lìa bỏ, lìa xa.
.lea- = lơi (bỏ lơi), theo l=r, lea- = lơi = rời.
.Xanh mét
TTG mét biến âm của vert có nghĩa là cây xanh trong rừng, mầu ve, mầu xanh ve, ruột thịt với verdancy, mầu xanh của cây cỏ. Mầu ve phiên âm Pháp ngữ vert, Tây Ban Nha ngữ verde, Latin viridis, màu xanh lá cây, liên hệ với cổ ngữ Anh wise, mầm, cọng cây. Theo v=m, vert-, verd- = mét (xanh) như xanh mét, tái mét, men mét (hơi xanh). Theo v=b, verd-, vert = biếc (xanh) như mắt biếc.
.Xoay vần
TTG vần chính là Anh ngữ vert, có nghĩa là:
1. vần (vần là xoay như vần tảng đá, vần xoay, chuyển vần), vặn, xoay, quay, xoay, trở hướng, đổi, chuyển hướng, nhìn qua.
2. người bỏ đạo, trở đạo (bỏ đạo này qua đạo khác).
Latin versus, vặn, quay, trở, đường đi, hàng lối. Versus quá khứ phân từ của vertere, vặn, quay, trở, liên hệ với gốc Phạn ngữ wart, war, to turn. Ta thấy rất rõ Phạn ngữ war- = vần
.vert có ver- = vần (xoay), vẹo, vặn (qua).
.theo v=qu, ver- = quẹo (qua).
.theo v=qu=c=s=x, ver- = xoay.
Y
.Yêu quái
quái có một nghĩa là quỉ quái, quỉ quyệt. Với nghĩa này, TTG quái liên hệ với Anh ngữ weird, kỳ quái, quái dị. Theo w=qu (Mường ngữ wál = quá, nhọc wál = nhọc quá), ta có wei- = quái.
July 3, 2009
HỌC ANH NGỮ BẰNG TỪ LÁY TRONG VIỆT NGỮ.
HỌC ANH NGỮ BẰNG TIẾNG VIỆT VÀ NGƯỢC LẠI.
HỌC ANH NGỮ BẰNG TỪ LÁY TRONG
VIỆT NGỮ.
(phần 2 và hết).
Nguyễn Xuân Quang
N
.Nói năng
Nói chung là nói.
TTL năng = nói.
Theo qui luật L là dạng nam hóa hay dạng dương của N (Tiếng Việt Huyền Diệu), ta có năng = lăng = cổ ngữ Việt lãn là lưỡi như lãn heo là lưỡi heo (G. Hue) = Pháp ngữ langue, lưỡi, tiếng nói, ngôn ngữ = Anh ngữ language, tiếng nói, ngôn ngữ. Ngôn ngữ liên hệ với lưỡi nên Anh ngữ language còn gọi là tongue, lưỡi.
Tóm lại TTL năng = nói = lăng = lãn (lưỡi) = langue = language.
.Nằng nặc.
Nói dai, đòi cho bằng được, eo xèo, cằn nhằn, cãi nhau.
TTL nặc = nằng.
Nằng biến âm với năng với nghĩa là nói như trên đã thấy qua từ nói năng.
TTL nặc = Mường ngữ nặc nặc, nằng nặc = Anh ngữ nag, nagging, eo xèo, rầy rà, cự nự, cằn nhằn, cãi nhau.
Tóm lại TTL nặc = nằng = năng (nói) = Anh ngữ nag.
.Nhỏ nhít
Nhỏ, bé, con.
TTL nhít = nhỏ. Nhít là nhỏ như viết chữ lít nhít.
.TTL nhít = nhí (kép nhí, đào nhí) = Hán Việt nhi, trẻ con.
Theo nh=l như nhanh = lanh, nhít = lít = Anh ngữ little, nhỏ, bé, con con.
Tóm lại TTL nhít = nhỏ = lít = Anh ngữ little.
O
.Óc ách
tiếng nước kêu.
TTL ách = óc.
![]()
Óc biến âm với ốc, loài sống dưới nước, cũng có nghĩa là nước như ốc đảo (oasis) có nghĩa là “đảo nước” trong sa mạc. Oasis có oa-, liên hệ với oa là con ốc và cũng có nghĩa là nước. Bà Nữ Oa có đuôi rắn thuộc dòng Nước và theo truyền thuyết bà có một khuôn mặt là con sò có hai cái ngà tức loài ốc, bào ngư thái dương (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Đối chiếu với chữ nòng nọc, từ Oa có O và A. O có gốc từ chữ nòng O trong chữ viết nòng nọc. Dưới dạng thái âm O có một nghĩa là nước như thấy rõ qua show O ở khách sạn Bellagio ở Las Vegas là một show về Nước, O là phiên âm của Pháp ngữ Eau, nước. Oa có A và A có một dạng là nọc mũi mác (chữ A dạng là A dân dã “rustic capitals”) có gốc từ chữ nọc mũi mác /\, có nghĩa là nọc, dương, mặt trời, lửa trời mà Dan Brown trong The Da Vinci Code gọi là blade và cho là “a rufimentary phallus”
(dương vật nguyên sơ). Tóm lại A có nghĩa là nọc, đực, dương, bộ phân sinh dục nam, thái dương, mặt trời (xem bài viết The Da Vinci Code và Chữ Nòng Nọc Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á trên khoahoc.net). Hai cái ngà của bà Nữ Oa là hai cái nọc tương đương với chữ A dạng rustic capitals = nọc mũi mác, răng cưa, blade, theo Dịch ta lấy nghĩa thái dương. Bà là O Nước Thái Dương A nên tên là OA. O là Mụ là Mẹ. Nữ Oa là O, Mẹ Nước Thái Dương. Vị thần Mặt Trời Nước Osiris của Ai Cập cổ tương đương với Mặt Trời Nước Lạc Long Quân, Osiris có Os- = ốc = nước (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).
TTL ách, có nghĩa là nước = ếch, con vật sống dưới nước = Phạn ngữ ak-, aka, nước = gốc aqua-, nước như Tây Ban Nha ngữ aqua, nước, Anh ngữ aquatic, thuộc về nước.
Tóm lại ách = óc = ốc = Phạn ngữ ak-, aka = gốc aqua-, nước = Anh ngữ aquatic, thuộc về nước.
.Óng ả
Sáng, lóng lánh.
Óng biến âm với ánh như thấy qua từ ghép óng ánh nghĩa là óng = ánh. Ánh là sáng, là ánh mặt trời, lửa trời.
Theo duy dương ở đây, ả cũng có nghĩa như óng, ánh, ta thấy ả = á có nghĩa là ánh sáng, mặt trời, lửa như châu Á là châu lửa, châu ánh sáng, châu phía mặt trời mọc. Ả liên hệ với A,
(chữ A dạng rustic capitals) như trên đã biết có nghĩa là nọc, dương, mặt trời, lửa trời, ánh sáng. Hầu hết các tia sáng của mặt trời trên trống đồng âm dương Đông Sơn đều có hình nọc mũi mác /\ này.
Tóm lại TTL ả = óng = mẫu tự (A) = nọc mũi mác /\ = ánh (sáng).
.Om om
Như đã thấy om om biến âm với âm âm (theo Dịch lý những gì tối tăm mang âm tính), với um um (xem dưới).
PH
.Phành phạch
tiếng gió hay tiếng quạt (quạt là tạo ra gió) liên hệ với phần phật (gió).
TTL phạch = phành.
.theo ph = f= b=v (như phành = banh = vành), phành = fan, quạt = Mường ngữ phán (phướn), một dạng cổ của cờ dùng trong các lễ hội, tang ma = Anh ngữ banner (phướn, phán). Ta thấy rất rõ cờ phướn, cờ phán, banner ruột thịt với quạt fan, liên hệ với gió. Tất cả liên hệ với Phạn Ngữ vát, to fan (quạt), vâta, gió. Bà Hồ Xuân Hương trong bài thơ Vịnh Cái Quạt có hai câu:
Phành ra ba góc da còn méo,
Xếp lại đôi bên thịt vẫn thừa.
Bà quả thật là một thiên tài đã dùng từ phành thật là tuyệt vời vì ngoài nghĩa vành ra, banh ra còn hàm nghĩa phành phạch liên hệ với quạt, với fan.
TTL phạch = Anh ngữ flag (cờ). Ta cũng thấy phất, phật trong phất phới, phất phơ, phần phật = flag.
Tương tự phần phật có phần = fan và phật = flag cũng liên hệ với gió.
Tóm lại TTL phạch = phành = fan = flag = phán (phướn) = banner = Phạn ngữ vát (to fan), liên hệ với gió, Phạn ngữ vâta, gió.
.Phì phà phì phèo
thở ra khói, thả ra khói như phì phà điếu thuốc.
TTL phà = phì.
Ta có phì là thở, thổi ra khói phun ra như thở phì phì, phun phì phì và phà cũng có nghĩa tương tự như phà khói thuốc, phà hơi độc… nói chung là các nguyên âm đều biến âm với nhau được: phì phà, phì phào, phì phè, phì phèo, phì phò, phì phù, phù phù đều cùng gốc nghĩa liên hệ với thở, thổi, phun ra hơi…
Cũng nên biết Anh ngữ respiration, thở, hô hấp, tiếng cổ là spirit, Latin spirare, thở đẻ ra từ respiration có tiền tố re-, và theo p=ph, pir- = phì (phì phà, phì phèo), phì phì (thở).
TTL phà = Anh ngữ fart, đánh hơi, đánh rắm, Trung Nam nói là địt = Phạn ngữ pard (to fart), Hy Lạp ngữ là perdo, Old High German là ferzan. Việt ngữ có từ phá thối nếu hiểu theo nghĩa thô tục thì gần cận với từ phà thối (Tiếng Việt Huyền Diệu). Ở đây ta có thể dùng Việt ngữ phà ra hơi, đánh hơi để hiểu ngọn ngành Anh ngữ to fart là phà ra hơi.
Việt ngữ phổi, Hán Việt phế (phổi, phế là cơ quan hô hấp) cũng liên hệ với phì phì, phì phà, phì phèo…
Tóm lại TTL phà = phì = phổi, phế = Anh ngữ respiration = Anh ngữ fart = Phạn ngữ pard (to fart) = Hy Lạp ngữ perdo = Old High German ferzan.
.Phù phù
từ láy này có TTL láy giống như từ mẹ thuộc loại phân sinh một tách ra làm hai.
Phù liên hệ với thở, gió dông như thở phù phù, Phù Đổng thiên vương là ông thánh sấm dông gió, cửa Thần Phù là nơi có sóng to gió lớn. Phù ngoài nghĩa trên có thêm nghĩa liên hệ với phồng, sưng như sưng phù, phù thũng.
Ta có phù = Anh ngữ puff với các nghĩa chính:
.hơi thở, thở, hơi thổi ra, có puff = phù (thở phù phù), phì phà, phì phèo liên hệ với thở, với phổi (xem pulmonary).
Anh ngữ pulmonary, Pháp ngữ poumon, phổi, phế , theo p=ph, có pu-, pou- (phát âm là pu-, phu-) = phù, phồng (thở phập phồng) = phà, phì, phèo… liên hệ tới hơi, thở. Phổi là cơn quan thở phù phù… Việt ngữ phèo thường hiểu là lòng như phèo heo nhưng thật ra theo qui tắc của từ láy ở đây ta thấy qua từ láy phèo phổi ta có phèo = phổi.
.phồng, phùng, phình, puff = phồng.
.thổi phồng (quảng cáo láo, loan tin láo), puff = phồng (thổi).
Theo ph= fl, TTL phù liên hệ với Anh ngữ flue, ống khói, ống thông hơi, ống dẫn hơi và với flute, ống sáo, ông tiêu (ống dùng để thổi vào tạo ra tiếng).
Tóm lại TLL phù = từ mẹ phù = phèo = phổi = Hán Việt phế = Anh ngữ pulmonary = Pháp ngữ poumon = Anh ngữ puff, liên hệ với Anh ngữ flue, flute.
.Phèn phẹt
chẹt bẹt, dẹp bè bè (thường nói về mặt).
TTL phẹt = phèn.
Phèn phẹt có gốc nghĩa là phẳng, bằng, mỏng, phèn biến âm với phên (tấm mỏng) như cái phên tre, với phiến (miếng mỏng) như phiến đá, với phẳng, phản (tấm gỗ để nằm). Theo ph=b (phỏng = bỏng), phèn phẹt = bèn bẹt (bằng). Bèn biến âm với bàn, bản, bằng. Bẹt biến âm với bẹp.
TTL phẹt = Anh ngữ flat, phẳng, bằng.
.flat = phẳng.
.theo fl=b, có flat =/flét/ = bẹt, bẹp, theo phát âm tiếng Việt flat = /flát/ = bằng.
.flat có -lat = /-lét/ = lét (mỏng) = lép, dẹp lép và theo phát âm tiếng Việt -lat = /lát/ = lát (miếng mỏng).
.theo l=d, có -lat = /lét/ = dẹt, dẹp và theo phát âm tiếng Việt , -lat- = /lát/ = dát (làm mỏng) như dát mỏng.
Tóm lại TTL phẹt = phèn = Anh ngữ flat = phẳng = bằng, bẹt, bẹp, lát, lét (mỏng), lép (dẹp), dẹp.
Q
.Quàng quáng
nhanh như quàng lên kẻo trễ = nhanh lên kẻo trễ, quàng tay lên nào = nhanh tay lên nào, làm nhanh cho xong như làm quáng làm quàng cho xong, làm quếnh quáng, làm qua loa (làm sơ sài lấy nhanh cho xong).
TTL quáng = quàng = Anh ngữ quick.
.từ láy quàng quạc, nhanh có quàng = quạc = quick.
.quick = quít, qua từ ghép cuống quit, ta có cuống = quít = quick.
.theo qu =k như quốn = kuốn, quick = kịp, kíp như cần kíp, liên hệ với Hán Việt cấp (khẩn cấp, cấp tốc, cấp cứu).
Tóm lại TTL quáng = quàng = quít = kíp = Anh ngữ quick.
.Quảng quát
Biến âm với khoảng khoát, thông thoáng, thoáng khí, rộng rãi và có nhiều không khí, gió
Theo qu=v (quấn = vấn), quảng (khoảng) = Anh ngữ vast, khoảng khoát, rộng lớn, mênh mông. TTL quát biến âm với quạt. Theo qu=v, quát = quạt = Phạn ngữ vâta, gió. Ta cũng thấy Phạn ngữ vát, quạt = Anh ngữ van (quạt lớn để quạt sẩy lúa) = fan (quạt) = vane, chong chóng quay theo chiều gió để định hướng gió = vent, lỗ thông hơi cho thông thoáng = Pháp ngữ vent = gió.
Tóm lại, TTL quát = quạt = quảng = Anh ngữ vast = Phạn ngữ vát, quạt, vâta, gió. Quảng quát, khoảng khoát liên với gió, không
khí.
.Quay quồng
ngày nay viết là quay cuồng, là chuyển động vòng tròn rất nhanh làm cho có cảm giác chóng mặt.
Theo q=c=g, quồng = cuồng = guồng. Guồng là một thứ bánh xe quay tròn như guồng nước, guồng chỉ, guồng máy. Quay guồng = quay cuồng.
Theo qu=c=g=vv, TTL quồng, cuồng, guồng liên hệ với các vật có bánh xe quay hay xoay tròn như Anh ngữ wheel (bánh xe, xoay, xoay tròn, quay tròn), whirl (xoáy, xoay, quay tròn), whorl (xoáy ốc, hoa tay hình xoáy ốc), tất cả liên hệ với gốc chung hwarb hàm nghĩa quay tròn. Theo h=w=qu (bà hóa = Mường ngữ wá = quả phụ), hwarb = quay = cuồng = guồng.
Tóm lại TTL quồng = cuồng = quay = (liên hệ với) Anh ngữ whirl, whorl, wheel.
R
.Rậm rật, Rậm rựt
Rậm rật, rậm rựt là trạng thái động tình.
No cơm ấm cật, rậm rật tối ngày.
(tục ngữ)
TTL rật, rựt = rậm.
1. Rậm rật, rậm rựt biến âm với dâm dật.
.rậm = Phạn Ngữ ram có một nghĩa là làm tình và nằm. Nằm cũng có nghĩa là làm tình như ăn nằm.
Anh ngữ ram ruột thịt với Phạn ngữ ram. Anh ngữ ram có những nghĩa sau này:
1.cừu đực chưa thiến, cừu nọc, đôi khi cũng chỉ dê núi đực. Thật ra nhìn chung chung, ram chỉ chung loài thú có sừng mang dương tính biểu tượng cho nọc, đực.
2.mũi nhọn (của tầu); chầy, vồ. Mũi nhọn, chầy… đều có nghĩa liên hệ tới đực, nọc.
3.đóng cọc. Có một nghĩa làm tình như Quân tử có thương thì đóng cọc, Hồ Xuân Hương.
4. đâm vào (to ram a car, đâm vào một chiếc xe). Đâm vào, thọc thụt = thrust là động tác làm tình.
Tất cả những nghĩa của Anh ngữ ram như cừu, dê đực, nọc, vật nhọn, đóng cọc, đâm, đục, thọc, thụt (thrust)… đều hàm nghĩa nọc, cọc, bộ phận sinh dục đực, làm tình. Theo r=d = đ như rứa = Mường ngữ dửa = đó, ta có ram = dâm = đâm.
Con cừu nọc, con dê nọc núi, con ram biểu tượng cho dương, nọc, cho đâm, cho dâm. Con cừu, dê nọc có khả năng dập, phủ, nhẩy cái cả một đàn cừu cái mỗi ngày. Con dê đứng ở hàng thứ 35 trong trò chơi thai đề nên có máu dâm, máu ram, máu dê gọi là máu 35. Các cung phi ngày xưa có nàng một đời chưa được thấy mặt vua một lần nên phải dùng lá dâu để dụ xe dê của vua:
Xe dê nọ rắc lá dâu mới vào.
(Ôn Như Hầu, Cung Oán Ngâm Khúc)
Tại sao chúng ta gọi là con dê? Theo biến âm kiểu dầm dề, suy ra dê biến âm với dâm, đâm. Rõ ràng con dê nọc là con đâm, (con dâm) con ram. Con dê có tên Hán Việt là con dương. Dương là đực, là nọc (heo nọc = heo đực), là mặt trời. Trong nhiều nền văn hóa, dê đực dùng làm biểu tượng cho mặt trời như Ai cập chẳng hạn. Từ goat cũng có nghĩa như ram. Theo g=c, goat = /gốt/ =
cột, cọc. Cột, cọc là nọc, là đực, là dương, là dê, biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam. Cũng nên biết con goat thường được dùng làm vật tế thần cột vào Cột Tế Thần, Cây Trụ Tế, mang hình bóng của Trục Vũ Trụ để cúng dâng lên Ba Cõi Tam Thế, có lẽ vì vậy mà tên nó mới dính dáng tới Cột [Thân trống đồng âm dương Đông Sơn là Trục Vũ Trụ nên trên đó thường thấy nhiều hình bò mộng, tương đương với goat, dưới một diện, các con vật này cũng có thể là những con vật tế thần, hy sinh, (xem chương Thế Giới Loài Vật Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á trong Giải Đọc Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á, đang in)]. Về sau goat (cột) có thêm nghĩa là scapegoat với scape có một nghĩa là thân cột, cột. Con dê cột vào Cột Tế Thần dùng làm vật tế thần, chịu tất cả tội lỗi cho người khác, được giáo sĩ thả ra sau khi làm lễ hay giết tế thần. Về sau có nghĩa bóng chỉ người chịu tất cả tội lỗi cho người khác và chỉ người, vật hy sinh.
Tại sao chúng ta gọi con ram là con cừu, con trừu? Cừu biến âm với cừ là cây cọc cắm ở bờ nước (ăn khớp với nghĩa đóng cọc của ram), cừ là kè (cọc đóng ở bờ nước) biến âm với kẻ (cọc nhỏ như thước kẻ), với gốc Hy Lạp ngữ kera-, sừng (như keratoma, cắt màng sừng mắt). Con cừu là còn cừ, con kè, con “đóng cọc”, con kera-, con sừng, con cọc, con chọc, con đâm, con ram. Tương tự con trừu biến âm với trừ, trự, trử, chử, trụ. Hán Việt Chử biến âm của cừ, cọc đóng ở bờ nước. Nhân vật Chử Đồng Tử là Cậu Bé Sống Bên Bờ Nước. Cậu bé Chử ruột thịt với cừ, cừu, trừu (cậu bé boy có “bòi”, có cọc, Pháp ngữ garçon có gar- = gạc, sừng, cọc nhọn, theo g=c, gạc = cặc) sống bên bờ nước = cọc cắm bên bờ nước = cừ, cừu, Chử, trừu. Con trừu là con trụ, con cột, con cọc, con chọc, con đâm, con ram.
Ở đây một lần nữa cho thấy Việt ngữ giúp tìm hiểu nguyên nghĩa ngữ của Anh ngữ đến nơi đến chốn.
2. rật, rựt, dật = Anh ngữ rut (thời kỳ động cỡn, động đực, nứng của con thú đực như cừu, dê, hươu đực).
Tóm lại TTL rật, rựt = Anh ngữ rut = Việt ngữ rậm = dâm = Anh ngữ ram, con thú đực = Phạn ngữ ram, làm tình.
.Rực rỡ
TTL rỡ = rực.
rực, rỡ, rạng, rạng-rỡ liên hệ với red, đỏ. Qua từ ghép đỏ rực, ta có rực = đỏ và rực sáng, ta có rực = sáng, tỏ. Rực liên hệ với mầu đỏ, mầu tỏ, tỏ rạng của mặt trời, với Nam Đảo ngữ *rara, ‘red’, Pháp ngữ rouge, đỏ có ro- = rỡ (rực rỡ), rou- = rực (đỏ rực), với russe, hung đỏ có rus- = rực, với Phạn ngữ ruc, shine (chiếu sáng, rực sáng), ranj, đỏ, rạng, rohita, đỏ, liên hệ với rohit, mặt trời, có ro- = rỡ. Gốc tái tạo Indo-European (IE) *reudh-, đỏ.
Tóm lại TTL rỡ = rực = Phạn ngữ ruc, shine (chiếu sáng, rực sáng) = rohita, đỏ = rohit, mặt trời = gốc tái tạo Ấn Âu ngữ Indo-European (IE) *reudh-, đỏ.
.Rầm rầm
Tiếng động lớn và liên tục.
TTL láy rầm = từ gốc rầm.
Rầm = Anh ngữ rumble, tiếng động rầm rầm, ầm ầm như tiếng sấm, tiếng động đất, tiếng xe chậy, tiếng sôi ruột.
rumble có rum- = rầm, với r câm, rầm = ầm, rầm rầm = ầmrầm.
Tóm lại TTL rầm = từ mẹ rầm = Anh ngữ rumble.
S
.Sối sả
Nước trút xuống như mưa sối sả.
TTL sả = sối.
Từ sối là đổ nước như sối nước, theo s=g (hàng sáo = hàng gạo), sối = gội.
TTL sả liên hệ với gốc chữ sa- ruột thịt với Phạn ngữ sara-, saras, nước. Sả liên hệ với nước như sả nước, sối sả, chim sả… Chim sả là chim “sống vì nước” là chim bói cá, thằng chài, phí thúy “nào lên rừng đào mỏ, nào xuống biển mò châu, nào hố bẫy hươu nai, nào lưới dò chim sả” (Nguyễn Trãi, Bình Ngô Đại Cáo). Theo s=ch=tr. Sả = trả. Chim sả là chim trả:
Con chim tra trả, ai vay mà trả,
Bụi gai sưng, ai vả mà sưng.
Đấy người dưng, đây cũng người dưng,
Cớ chi nước mắt cứ rưng rưng nhỏ hoài.
(Hò Miền Nam).
Cỏ sả (lemon grass) có nghĩa là cỏ nước vì dùng để đun nước làm trà, tắm gội và dùng làm gia vị nấu ăn. Lúa sạ là lúa nước, lúa mọc ngoi lên theo mực nước dâng cao hàng ngày…
Anh ngữ sea, biển liên hệ với sả, Phạn ngữ sara.
Tóm lại TTL sả = sối = Anh ngữ sea = Phạn ngữ sara-, saras, liên hệ với nước.
.Sài sể
mắng mỏ thường đi kèm với hình phạt.
TTL sể = sài.
Từ sài có nghĩa là dùng, làm biến âm với sai (sai bảo, sai khiến) cũng có nghĩa là làm, làm việc nặng để hành hạ như khổ sai (làm việc cực khổ, việc nặng), kẻ hầu hạ sai bảo. Như thế TTL sể = sài = làm, làm việc nặng, sai bảo.
TTL sể = sài = gốc chữ Anh ngữ -ser-, serv-, đẻ ra các từ serve, service, servant… có nghĩa là làm, sự, vụ, sự việc, dịch vụ, hầu hạ, phục dịch, ở đợ = Phạn ngữ sev, to serve, hầu hạ, phục dịch, ở (to inhabit) hàm nghĩa ở đợ = Phạn ngữ sevâ, service, dịch vụ, phục dịch = Phạn ngữ sevin, serving, dwelling (ở), liên hệ với gốc Phạn ngữ sar, to protect, bảo vệ, to keep, gìn giữ, to preserve, tồn giữ, make safe, giữ an toàn, chăm sóc.
.ser- = sể, xể, từ kép sài sể, xài xể có nghĩa là mắng chửi nhưng gốc là mắng chửi kèm theo hình phạt bắt làm việc cực khổ.
.serv- = sâu, xâu, Hán Việt sưu như đi làm xâu, Hán Việt sưu là công việc dân phải làm để phục dịch cho nhà nước như trốn xâu lậu thuế, sưu dịch, sưu cao thuế nặng.
.ser- = seo, sá (anh seo, anh sá). Seo, sá còn gọi là mõ. Mõ là người hầu hạ, phục dịch làng xóm, thường đi rao tin: “mõ này cả tiếng lại dài hơi”, theo m=b, mõ = bõ, người hẩu lớn tuổi như bõ già.
.ser- = sai có nghĩa là bắt làm như sai bảo, sai làm, khổ sai; người sai bảo tức người làm, đứa ở, đầy tớ, nô lệ.
.ser-= sài (dùng làm việc).
.ser- = sãi, người làm, tôi tớ. Người làm công, làm mướn, phục dịch cũng gọi là sãi như thấy qua câu:
Thứ nhất là quản voi già,
Thứ nhì trầu miếng (bán lẻ), thứ ba sãi đò.
(ca dao.)
Sãi đò là người phu chèo đò, làm công chèo đò. Sãi biến âm với sai (sai bảo, sai làm), sài (dùng làm việc). Tôi của chúa (chỉ các giáo sĩ, tu sĩ, bà phước v.v…), những người phục dịch, tôi tớ của Phật cũng gọi là sãi như sãi chùa là người làm công (quả) ở chùa: Con vua thì lại làm vua, Con sãi ở chùa lại quét lá đa (ca dao). Trong Thiên Chúa giáo, sãi là bầy tôi của Chúa. Trong Thánh mẫu Thiên Chúa, trung quyển của Girolamo Maiorica, trang 38 (chữ Nôm thế kỷ 17) có câu “Các thánh tổ tông kính duệ vị la sãi. . . dỗ mệnh” tương ứng với “các thánh tổ tông kính dái (vái) vì là thầy dậy dỗ mình”. Ta thấy sãi Chúa dịch là thầy (tức thầy tu). Thái Lan ngữ chai là servant. Theo ch=s, chai = sãi, sai (bảo).
.theo s=ch, sev-, serv- = cheo. Việt ngữ cheo là tiền phạt cho làng, nếu không có tiền thì phải làm xâu cho làng cũng có thể có nguồn gốc ở đây. Tương tự từ sêu như sêu tết là đem quà cáp biếu nhà vợ, nguyên thủy có thể là vào dịp lễ tết người rể tương lai phải đến nhà vợ hầu hạ, phục dịch làm xâu. Sau đó dùng quà biếu thay cho phục dịch, làm xâu gọi là sêu. Từ đôi biếu sén có biếu = sén với sén biến âm với sev-, serv. Biếu sén có nghĩa là biếu quà và phục dịch.
.ser- = săn, sóc, săn sóc = chăn sóc = chăm sóc, liên hệ với gốc Phạn ngữ sar, to protect, gìn giữ, chăm sóc, có sar = săn, sóc.
.ser- = sửa (chữa), xem chữ service.
Tóm lại TTL sể = sài = gốc Anh ngữ -ser-, serv- (serve, service, servant) = Phạn ngữ sev, to serve, hầu hạ, phục dịch, sai bảo.
.Súc sắc
hột súc sắc (tào cáo) (dice) là hột lúc lắc.
TTL sắc = súc.
TTL sắc = Anh ngữ shake, lúc lắc, lắc lư, lay động, lung lay, rung, rung rinh, run, bắt tay (thường lắc tay nhau).
Từ súc = shook, dạng quá khứ của shake.
.shook= súc = sóc, xóc (lắc) như xe xóc, xóc dĩa, xóc bài. Theo biến âm kiểu xốc xếch ta có sóc, xóc = shake.
.shook, shake = xốc xếch như quần áo xốc xếch (nghĩa lệch): hàm nghĩa tụt lên tụt xuống cùng gốc nghĩa với lúc lắc, súc sắc, xóc lên xóc xuống (làm cho xốc xếch).
Tóm lại TTL sắc = súc = Anh ngữ shake = shook.
T
.Tắm táp
Nói chung là tắm.
TTL táp = tắm.
TTL táp chính là Anh ngữ tap, vòi nước, liên hệ với tub, bồn tắm. Tắm cần dùng tới vòi nước tap hay bồn tub.
Tóm lại TTL táp = tắm = Anh ngữ tap = Anh ngữ tub.
.Tối tăm
Rất tối, tối đặc.
TTL tăm = tối.
.theo t=đ, TTL tăm = đêm. Đêm có nghĩa là tối, đêm tối, tối đêm.
.tăm = Phạn Ngữ támas-, darkness có tam- = tăm.
.TTL tăm = gốc tái tạo Tiền-Ấn Âu ngữ PIE *tem/*tam/*tm, dark, darkness (Bombard, A.R. p.207, No 51).
Tóm lại TTL tăm = tối = đêm = Phạn Ngữ támas-, darkness = gốc tái tạo Tiền-Ấn Âu ngữ PIE *tem/*tam/*tm, dark, darkness.
.Thật thà
là ngay thẳng, thẳng thắn.
TTL thà = thật.
.TTL thà liên hệ với gốc tái tạo Ấn Âu ngữ IE *sta, stand, đứng, theo t=th, có -tand = thẳng, thắn (thẳng thắn).
.TTL thà ruột thịt với Phạn ngữ sthá, đứng, gốc Phạn ngữ sta, đứng, stak, stag, đứng vững chắc, Phạn ngữ sthâ-, sthal, to stand có –thâ = thà, -thal = thẳng, thắn.
Ta thấy rất rõ đứng thẳng là ngay thẳng, thẳng thắn, thành thật vì thế mà loài tre đứng thẳng nhất (fastuola bambusa) gọi là quân tử trúc (tre quân tử). Loài tre này dù mưa gió làm ngả nghiêng vẫn mọc ngay thẳng trở lại giống như người quân tử bị những kẻ tiểu nhân làm hại vẫn sống một đời chính trực.
Tóm lại TTL thà = thật = gốc tái tạo Ấn Âu ngữ IE *sta, stand = Phạn ngữ sthá, đứng, đứng thẳng, thẳng thắn.
U
.Uốn éo
uốn khúc cong queo.
TTL éo = uốn.
Từ uốn là cong liên hệ với Anh ngữ worm, sâu, giun, trùn. Theo w=u, worm có wor- = uor- = uốn (éo), thấy rõ nhất qua từ Latin uermis, a worm, có uer- = uốn, éo. Pháp ngữ vers, con sâu, có ver- = éo, uốn. Trong nhiều ngôn ngữ cổ Ấn-Âu worm cũng có nghĩa là rắn vì con sâu không có chân là những con rắn tí hon, bằng chứng là sâu có gốc sa- cùng âm với sà, xà, rắn. Sâu và rắn là con uốn éo.
Cũng nên biết là từ Lạc trong tên Lạc Long Quân viết với bộ trãi với trãi có nghĩa là con sâu không có chân nên Lạc Long Quân có bản thể là loài rắn nước vì thế Rồng Lạc Long Quân là Rồng Rắn, Rồng Nước. Kiểm chứng lại ta cũng thấy theo tr=d, trãi = dải, con dải có một nghĩa là con rắn nước. Xin các nhà làm văn hóa Việt Nam ghi tâm nhớ điều này (ví dụ nếu quí vị có làm hình rồng để ở chiếc cổng vòm ở Little Saigon thì xin để Rồng Rắn, Rồng Nước Lạc Long Quân xin đừng để rồng Trung Hoa). Những con rồng đời Lý, Trần, Lê có thân uốn éo như rắn mới thật sự là rồng Lạc Long Quân.
TTL éo biến âm với eo cũng có nghĩa là cong như trái bầu bí bị eo là bị cong queo.
TTL éo, eo liên hệ với Anh ngữ ell, đơn vị đo chiều dài, phần lớn là đo vải. Ell là chiều dài của cung tay (bow của elbow) từ đầu cùi chỏ đến đầu ngón tay chỏ. Ell ruột thịt với el- của elbow, khuỷu tay, cùi chỏ, cùi tay. Trong Ấn-Âu ngữ elbow thường mang ý nghĩa eo, queo, quẹo, cong. Trong Việt ngữ cũng vậy. Từ khuỷu có nghĩa là cong, quẹo như khúc khuỷu. Khuỷu liên hệ với khoẻo, khoèo, khoeo, kheo có nghĩa là cong queo, quẹo, quèo (kh=qu), eo, ẹo, éo, uốn éo (kh, qu câm). Khuỷu ta là eo tay. Cổ ngữ Việt khoeo, kheo cũng có nghĩa là đầu gối (tương đương với khuỷu tay) như thấy qua câu tục ngữ “cầy chạm vó, bừa mó kheo”. Cái cầy phải mắc vừa chạm vó chân, còn bừa thì vừa chạm kheo (đầu gối) thì trâu bò mới di chuyển dễ dàng khi đi cầy bừa. Khúc, khủyu, ruột thịt với Phạn ngữ kurpata (u có dấu mũ ^), elbow. Rõ ràng kurpa- = khúc = khuỷu = cong, cung.
Ta có TTL eo (eo tay) = el- = gốc tái tạo Ấn Âu ngữ IE *el-, *ele-, eo, cong.
Chữ “eo-lờ” L liên hệ với Việt ngữ eo mang hình ảnh của khuỷu tay elbow để thẳng góc. Những chỗ nối ống dẫn chất lỏng, chất khí có hình chữ L cũng gọi là elbow.
Tóm lại TTL éo = eo = uốn = Anh ngữ ell = el(bow) = gốc tái tạo Ấn Âu ngữ IE *el-, *ele-, eo, cong.
.Ướt át
nói chung trạng thái ướt.
TTL át = ướt.
Từ ướt = Anh ngữ wet, ướt. Theo w=u, wet = uet = ướt.
TTL át chính là Phạn ngữ addrà, ướt phát xuất từ gốc Phạn ngữ ak-, aka, nước = gốc aqua-, nước.
Tóm lại TTL át = ướt = Anh ngữ wet, ướt = gốc aqua-, nước = Phạn ngữ addrà, ướt = gốc Phạn ngữ ak-, aka, nước.
.Um um
Như đã thấy um um = âm âm = êm êm = im im = om om.
Um là tối như tối um, um biến âm rõ nhất với om như tối om. Um có gốc u, có một nghĩa là tối, bị che tối như u tối, u u minh minh. Om có gốc nòng O trong chữ nòng nọc có một nghĩa là âm (như trời âm âm là trời có mây che, âm u), đen tối (nước thái âm có mầu đen). O = ô (vật che cho mát, cho rợp), ô cũng có nghĩa là tối đen như ngựa ô là ngựa đen. Ô, dù là vật che cho có bóng mát.
TTL um = từ mẹ um.
um, om (tối um, tối om) = Pháp ngữ ombre, bóng tối, bóng mát, bóng dâm = Anh ngữ umbel, umbella, chùm hoa hình tán, hình ô, dù = umbra, umbrage, bóng, bóng mát, che bóng = umbrella, ô, dù. Tất cả có um- = um = om = âm = ô (dù).
Tóm lại TTL um = từ mẹ um = om = u (tối) = o, ô = Pháp ngữ ombre = Anh ngữ umbra, umbrage = umbrella. Tất cả có nghĩa là tối, bóng tối, bóng mát, che sáng, che nắng.
V
.Vanh vách
nói lưu loát, thuộc làu.
TTL vách = vanh.
Theo v=b, từ vanh biến âm với ban như ban lệnh, vua ban rằng, với bàn như bàn luận với biện như biện hộ, hùng biện; theo b=ph, ban = phán. Ban, bàn, biện, phán là những hình thức nói. Vanh = Phạn Ngữ varh, bark, nói.
TTL vách = vạch, vạch ra (nói toạc ra) = Phạn ngữ vach, to speak, vâch, speaking, vachas, speech, gốc Aryan-Phạn ngữ wak, to speak.
Theo v=b, vách = bạch như biện bạch, bạch thầy. Theo v=m (man, màn = vạn), vách = mách (nói lại,) mách lẻo, mách bảo (chỉ báo).
TTL vách = Anh ngữ vocal, thuộc về phát âm, tiếng nói, thanh, âm = Anh ngữ voice, tiếng nói. Theo biến âm kiểu róc rách, ta có voc(al) = vách.
Tóm lại TTL vách = bạch = mách = vanh = ban, bàn, biện = phán = gốc Anh ngữ vocal = voice = Phạn Ngữ varh, bark, nói = Phạn ngữ vach, to speak, vâch, speaking, vachas, speech = gốc Aryan-Phạn ngữ wak, to speak.
.Vòng vèo
quanh co, uốn khúc.
TTL vèo = vòng.
Từ vòng có một nghĩa là cong như cong vòng như thế vèo cũng phải có nghĩa là cong. Nếu ta thay v=o, ta có vèo = oèo = oeo = eo. Eo là cong. Theo v=qu như vấn = quấn, ta có vèo = quèo, queo quẹo. Queo, quẹo là cong như cong queo.
Như thế TTL vèo = eo = éo = uốn. Ta trở lại trường hợp uốn éo ở trên, nghĩa là ta có vèo = eo = éo = Anh ngữ ell, el- = gốc tái tạo Ấn Âu ngữ IE *el-, *ele-, eo, cong.
Tóm lại ta có TTL vèo = eo = el- = gốc tái tạo Ấn Âu ngữ IE *el-, *ele-, eo, cong.
.Vù vù
vù vù tiếng kêu liên hệ với bay (của côn trùng, phi cơ) biến âm với vo vo. Với v câm, vù vù = ù ù, vo vo = o o.
TTL vù = từ mẹ vù.
Theo v=b, vù, vo = Anh ngữ buzz, tiếng kêu liên hệ với bay (của côn trùng).
Tóm lại vù = vù = Anh ngữ buzz.
X
.Xồ xề
Xồ xề hay sồ sề là người béo xệ, không còn thon gọn trông xồ xề như lợn nái sề.
TTL xề = xồ.
Từ xồ, sồ = Anh ngữ sow, heo cái, lợn sề, có so- = sồ, sồ sề = Cổ ngữ Anh sù = Latin sùs, lợn sề = Phạn ngữ su-kara, a hog.
TTL sề = Việt ngữ sề là lợn nái: Ba bà đi bán lợn sề.
Heo, lợn là con thú có nhiều mỡ vì thế ta thường nói mập như heo, Việt ngữ lợn biến âm với lờn, nhờn liên hệ với mỡ dầu, từ hợi biến âm Việt ngữ hoi (mùi mỡ bị oxýt hóa), với Pháp ngữ huile, dầu; Thái Lan ngữ moo, heo, moo chính là Việt ngữ mỡ. Các con vật như heo, lợn cũng như người khi mập, béo phì, mỡ thường đọng lại ở bụng, ở các cơ quan nội tạng (gọi là mỡ chài vì trông giống mạng lưới), ở mông, vú. Heo sề cũng như các phụ nữ đã sanh con khi lớn tuổi dễ bị béo phì và mỡ đọng ở bụng, mông nên các bà thường phải đi hút mỡ bụng, mỡ mông là vậy. Con lợn sề khi có mỡ dồn ở bụng làm bụng sa xuống sát mặt đất nên mới có từ xề, xệ như trông xệ quá, xã xệ, xồ xề, sồ sề chỉ những người mập người đầy những mỡ.
Ở đây là một ví dụ cho thấy rõ có sự dùng lẫn lộn giữa x và s giữa xồ xề và sồ sề. Có nhiều nơi nói và viết là sồ sề, có nhiều nơi viết là xồ xề. Nếu ta chọn cách viết sồ sề thì đây là cách viết lấy theo gốc sề là con heo nái sề hợp với các từ lợn sề trong Ấn Âu ngữ, nghĩa là sồ cùng vần với con sề, con sow, con sù, sus. Cách này giúp cho sự khảo cứu dễ dàng vì biến âm vẫn giữ theo vần s có nghĩa là biến âm mẹ con, ruột thịt. Nếu ta lý luận cho rằng sồ sề trong Việt ngữ có thể đã biến âm với con lợn sề và với Ấn Âu ngữ rồi và sồ sề bây giờ đã dùng làm một tính từ (adjective) xề, xệ như trông bề xề quá, xã xệ nên ta có thể viết theo biến âm x của s, cách này đã có biến âm từ gốc s qua x. Dĩ nhiên trong gian dân vùng nào nói theo cách nào cũng được, còn trong khoa bảng thì tùy thuộc theo giới thẩm quyền quyết định chọn một qui ước và học trò sẽ phải viết theo khi đi thi lấy bằng cấp để tiến thân. Còn trong nghiên cứu tiếng Việt cổ ta có thể dùng cả hai cách chẳng phải theo ông thầy nào cả.
Tóm lại TTL sề, xề = sồ, xồ = Việt ngữ sề = Anh ngữ sow = cổ ngữ Anh sù = Latin sùs = Phạn ngữ su-kara.
.Xôn xao
nhiều tiếng động.
Xôn xao ngoài ngõ thiếu gì yến oanh.
(Nguyễn Du, Kiều).
TTL xao = xôn.
từ xôn chính là Pháp ngữ son, tiếng, âm thanh, liên hệ với sonorific, sonority, sonorous (xem những chữ này). TTL xao chính là Anh ngữ sound, tiếng động, tiếng, âm. Xôn xao = sôn sao = son-sound. Ta thấy Tiếng Việt (thật là) Huyền Diệu, sôn sao là có nhiều tiếng, có cả tiếng chim yến, chim oanh, có cả tiếng Tây son và tiếng Anh sound. Hai từ sôn sao cũng cho thấy ngôn ngữ Việt Nam ở trên cây ngôn ngữ loài người có vị trí ở cành lớn trong nhóm Ấn Âu ngữ, cành Việt ngữ sôn sao chia ra hai nhánh nhỏ son (Pháp ngữ) và sound (Anh ngữ) hay sôn sao nằm ở thân cây, gốc cây. Việt ngữ là thân, là cành lớn, trong khi Pháp, Anh ngữ chỉ là cành hay nhánh nhỏ trên cây ngôn ngữ loài người. Với x, s câm, xôn xao, sôn sao = ồn ào.
Tóm lại TTL xao = x ôn = sao = sôn = Anh ngữ sound = Pháp ngữ son.
.Xốp xộp
cũng có thể viết sốp sộp, xốp sộp, không chắc, không cứng, mềm, ốp. Với x, s câm, xốp = ốp, sộp = ộp, xốp sộp = ốp ộp. Cua xốp sộp = cua ốp ộp.
TTL xộp = xốp.
xộp = xốp = sộp = sốp = Anh ngữ soft, mềm.
Tóm lại TTL xộp = xốp = sộp = sốp = Anh ngữ soft.
Kết luận
Qua các từ láy trong Việt ngữ, ta có thể học Anh ngữ nói riêng và nói chung, học các ngôn ngữ khác của ngôn ngữ loài người, nhất là các ngôn ngữ có liên hệ mật thiết với Việt ngữ và ngược lại.
June 26, 2009
HỌC ANH NGỮ BẰNG TỪ LÁY VIỆT NGỮ (1)
HỌC ANH NGỮ BẰNG TIẾNG VIỆT
VÀ NGƯỢC LẠI.
HỌC ANH NGỮ BẰNG TỪ LÁY TRONG
VIỆT NGỮ.
(phần 1).
Nguyễn Xuân Quang
Chi Chú:
-Dấu bằng (=) có nghĩa là liên hệ với, tương đương, gần cận nhau, giống nhau.
-Chữ trong hai gạch nghiêng // là thanh, thinh, âm, âm vị, chỉ phát âm theo tiếng Việt hay ngoại ngữ.
-Mẫu tự trong ngoặc đơn của một từ có nghĩa là bỏ đi hay câm ví dụ Anh ngữ cổ brus (breast), vú có b(r)u- = bú, vú (bỏ r hay r câm)….
-Dấu (*) có nghĩa là gốc tái tạo không có trong ngôn ngữ thành văn (written records).
-Tôi dùng từ liên hệ hiểu theo nghĩa tổng quát. Còn liên hệ như thế nào không nằm trong phạm vi bài viết này (sẽ nói rõ trong tác phẩm Sự Liên Hệ Giữa Việt Ngữ và Ấn Âu Ngữ.) Chỉ xin hiểu một cách tổng quát dù là liên hệ qua môi sinh như tiếp xúc, vay mượn, qua trung gian một ngôn ngữ khác hay di truyền (DNA) như ruột thị, máu mủ thì nói chung vẫn là liên hệ. Có sự liên hệ giữa Việt ngữ và Anh ngữ thì sự liên hệ đó cũng đủ giúp ta học Anh ngữ bằng Việt ngữ một cách dễ dàng và ngược lại.
Ở đây chỉ xin rút tỉa ra một ứng dụng, một thực dụng rất hữu ích từ sự liên hệ này là ta có thể học một cách tường tận, dễ hiểu và dễ nhớ tiếng Anh nói riêng và Ấn Âu ngữ nói chung bằng tiếng Việt và ngược lại. Học Anh ngữ bằng Việt ngữ giúp những người Việt nhất là giới lớn tuổi giỏi tiếng Việt có thể dùng tiếng Việt học Anh ngữ và các thế hệ trẻ sinh đẻ ở hải ngoại và các người ngoại quốc giỏi Anh ngữ có thể dùng tiếng Anh học tiếng Việt.
*
* *
TỪ LÁY TRONG VIỆT NGỮ
Từ láy gồm một từ gốc và một từ tố lặp lại theo âm điệu, vần điệu nhịp nhàng, uyển chuyển với từ gốc. Tôi gọi từ tố láy với từ gốc là thành tố láy (TTL), ví dụ liếm láp thì láp là TTL của liếm. Đa số các nhà ngữ học Việt Nam cho rằng ngoài một số nhỏ TTL có nghĩa còn hầu hết TTL vô nghĩa như bết bát, liếm láp, tắm táp… thì TTL bát, láp, táp không có nghĩa. Tôi khám phá ra rằng các TTL hầu như đều có nghĩa. Chúng ta cho là vô nghĩa vì chúng ta không biết nghĩa đó thôi. Nói một cách tổng quát, giản dị cho dễ hiểu thì TTL trong tiếng Việt dù ở dưới dạng nào đi nữa nó đều phát xuất ở từ gốc, từ mẹ mà nó ‘láy’ sinh ra. Như thế nó mang những di tính của từ gốc, từ mẹ không những âm, vần mà kể cả nghĩa ngữ. Nghĩa của TTL có thể còn giữ nguyên nghĩa ngữ của từ mẹ (rõ nhất là dạng láy giữ nguyên dạng như ào ào) hay vì đã láy, đã “lái”, đã “lai” đi thì nghĩa cũng sẽ lai đi, đã thay đổi theo luật biến nghĩa… Nói gọn lại, từ láy trong tiếng Việt láy cả âm đọc lẫn ý nghĩa. Những TTL này
-có thể là những từ cổ Việt đã biến thể đi, đã mai một đi hay đã bị chôn vùi ở đâu đó nên chúng ta không biết nghĩa, ví dụ từ láy kiêng khem có TTL khem là tiếng biến âm của từ cổ Việt hèm có nghĩa là kiêng, taboo. Theo biến âm kh = h như khì khì = hì hì, ta có khem = hèm.
-có thể chúng là những từ còn hiện diện ở một ngôn ngữ nào đó của nhân loại nhất là những ngồn ngữ có liên hệ với Việt ngữ. Sự liên hệ này có thể ruột thịt hay vay mượn, tiếp xúc. TTL của Việt ngữ là một từ trong ngôn ngữ khác. Ví dụ bụi bậm, TTL bậm cũng có nghĩa là bụi, bậm chính là Phạn ngữ pâmsu (m có dấu ngã), pâmçu (m có dấu ngã), bụi. Rõ ràng pâm- = bậm.
. . . . . .
(xem thêm chương Từ Láy Trong Tiếng Việt trong Tiếng Việt Huyền Diệu).
Qui luật về thành tố láy của từ láy trong Việt ngữ của Nguyễn Xuân Quang:
Thành tố láy của từ láy trong Việt ngữ thường đều có nghĩa. Nghĩa có thể còn giữ nguyên nghĩa của từ gốc, từ mẹ mà nó láy hay đã láy đi, lai đi, lái đi. Thành tố láy thường là một từ thấy trong Việt ngữ (đôi khi là một từ cổ Việt mà ngày nay ta còn nhận ra và biết nghĩa hay là một từ còn bị chôn vùi ở đâu đó) hay là một từ thấy trong một ngôn ngữ khác, nhất là ở những ngôn ngữ càng ruột thịt, họ hàng với tiếng Việt. Từ láy thuần túy hay mẹ con có thành tố láy cùng vần, cùng chữ với từ mẹ mà nó láy với (ví dụ từ mẹ khởi đầu là một nguyên âm thì thành tố láy cũng phải khởi đầu là một nguyên âm và từ mẹ khởi đầu là một phụ âm (như chữ b chẳng hạn) thì thành tố láy cũng phải khởi đầu là một phụ âm cùng vần (với chữ b như bết bát).
HỌC ANH NGỮ BẰNG TỪ LÁY TRONG VIỆT NGỮ.
Trong Tiếng Việt Huyền Diệu, tôi đã so sánh thành tố láy của từ láy trong Việt ngữ với tất cả ngôn ngữ loài người. Ở đây trong phạm vi bài Học Anh Ngữ Bằng Tiếng Việt và Ngược Lại, tôi giới hạn vào những thành tố láy của từ láy trong Việt ngữ thấy trong Anh ngữ và trong một vài ngôn ngữ thuộc nhóm Ấn-Âu ngữ. Ta có thể dùng thành tố láy của Việt ngữ để học Anh ngữ và ngược lại. Vì phạm vi bài viết, mỗi vần chỉ xin đưa ra vài ba từ làm ví dụ.
A
.Á à
Có một nghĩa theo duy âm là không, không được. Dạng này thấy nhiều trong ngôn ngữ trẻ em (baby talk) còn dùng nhiều nguyên âm và gần như tất các trẻ em của loài người đều nói. Ví dụ như con ăn cơm không? -á à.
TTL à = á.
TTL à = Việt ngữ ỏ (không) = Mường ngữ ó (không). = Hán Việt á (không) = tiền tố Hy Lạp ngữ a, an có một nghĩa là không như aphasia, á khẩu.
Tóm lại TTL à = Việt ngữ ỏ (không) = Mường ngữ ó (không). =Hán Việt á (không) = tiền tố Hy Lạp ngữ a, có một nghĩa là không.
.Âm âm
Âm âm là tối mờ mờ, trời nhiều mây. Từ láy này có TTL láy giống như từ mẹ thuộc loại phân sinh một tách ra làm hai.
TTL âm = từ mẹ âm.
Ta đã thấy tất cả các nguyên âm trong Việt ngữ đều có thể biến âm với nhau a = e = i = o = u với nghĩa có thể lai láy đi ít nhiều như mạ = mẹ = mị (Mị Nương = Mẹ Nàng) = mợ (có nơi gọi cha mẹ là cậu mợ) = mụ (có một nghĩa là mẹ như bà Mụ là Mẹ đỡ đầu của trẻ em) (Tiếng Việt Huyền Diệu). Tất cả nguyên âm (a, ă, â, e, ê, i, o, ô, u, ư) đều có gốc từ chữ nòng nọc (O và I). Ở đây có nghĩa mang âm tính. Tất cả các từ láy ở đây đều mang âm tính. Nên nhớ các mẫu tự trong Việt ngữ phải hiểu theo Dịch, ít nhất phải nhìn theo hai diện âm dương (Tiếng Việt Huyền Diệu). Ở đây ta có các biến âm sau: âm âm = êm êm = im im = om om = um um. Ta có âm âm cùng nghĩa với um um (xem dưới).
B
.Bảnh bao
Sang, đẹp, trưng diện.
Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao.
(Nguyễn Du, Kiều).
TTL bao = bảnh.
Bảnh là đẹp như bảnh chọe, ăn mặc trông rất bảnh. Theo qui luật thành tố láy ta có bảnh = bao. Ta thấy bảnh = bao = Anh ngữ beau (số nhiều beaus, beaux), người ăn mặc bảnh bao, sang trọng = beaut, beauty, đẹp, vẻ đẹp = beauteous, beautiful, đẹp = Pháp ngữ beau, belle, đẹp, bảnh, bảnh bao.
.beau- = bê (tiếng Huế là đẹp) = bao, bảnh bao, “bô” (phiên âm) như “bô” trai.
.theo b=m, beau = miều (mỹ miều), mỹ, mỵ, mầu. Mầu là sắc cũng hàm nghĩa đẹp như trông rất mầu là trông rất đẹp. Từ đôi mầu mè có mầu = beau, beautiful và mè = belle (Pháp ngữ, giống cái) = bella (Ý ngữ). Mẽ như trông có mẽ lắm, chỉ được cái mẽ, như nói mẽ cũng có thể liên hệ ở đây.
Anh ngữ beau, beautiful = Việt ngữ bảnh, bao, bảnh bao, “bô”, bê (phương ngữ Huế), mỹ, miều, mầu…
Tóm lại TTL bao = Việt ngữ phiên âm bô = bê (tiếng Huế là đẹp) = bao, bảnh bao = Anh ngữ beau, beautiful = Pháp ngữ beau, belle.
.Bận bịu
Có nhiều việc phải làm, không rảnh tay cũng cùng gốc nghĩa với bấn bíu, bấn bít, bấn búi (Hoàng Văn Hành, Từ Điển Từ Láy Tiếng Việt).
TTL bíu = bận.
Theo b=m, từ bận biến âm với mần có nghĩa là làm như mần ăn = làm ăn, mần tình= làm tình.
Đồn rằng Hà Nội vui thay,
Rủ nhau bớt bận mấy ngày đi chơi.
Vui thì vui thật là vui,
Nhưng mà cũng chẳng bằng nơi quê nhà.
(ca dao).
Bớt bận là bớt làm, bớt việc.
Ta cũng thấy rất rõ bận có nghĩa là làm qua từ Anh ngữ occupied có một nghĩa là bận như đường dây điện thoại đang bị occupied (bận) ruột thịt với occupation, việc làm, nghề nghiệp. Mần là làm bằng tay. Mần = gốc chữ man-, manu- (như manipulation, manual, manuscript) liên hệ với cổ ngữ Anh mund, Latin manus, Pháp ngữ main, Tây Ban Nha ngữ manos, Ấn Âu ngữ IE man-, bàn tay. Hiển nhiên nguyên thủy con người làm bằng đôi tay vì thế khi bận bịu thì nói là làm việc không rời tay và khi không bận bịu thì nói là được rảnh tay.
Theo biến âm kiểu cút kít, bus (xe) = buýt = bít, ta có TTL bít, bíu, bịu = Anh ngữ busy, bận (bận việc, nhiều việc, nhiều họat động, đông đúc, nhiều xe cộ).
Busy ruột thịt với business. Business có nghĩa là busy-ness, bận bịu, bận làm một chuyện gì. Ngày nay dùng với nghĩa rộng ra là 1. việc, công việc, việc làm, 2. buôn bán, kinh doanh, 3. nghề, nghề nghiệp.
Tóm lại TTL bịu, bíu, bít = bận = Anh ngữ busy, business.
.Bết bát
tồi tệ.
TTL bát = bết.
Bết là tồi, xấu như học bết quá như bết bát, bê bết, bê bối. Bết biến âm với bét (chót, hạng bét).
.Bết, bét chính là Anh ngữ bad phát âm là /bét/. Nếu phát âm theo tiếng Việt bad = /bát/ = bát (bết).
Tóm lại TTL bát = Việt ngữ bết, bét = Anh ngữ bad phát âm theo Anh ngữ /bét/ = Việt ngữ bét và theo Việt ngữ /bát/ = Việt ngữ bát.
Anh ngữ bad = bét, bết, bê (bối), bết bát.
C
.Cong cớn
Thường nói về phụ nữ chỉ sự chua ngoa diễn tả bằng cách cong môi, vênh mặt lên, cái mặt trông như cái mảnh sành cong.
TTL cớn = cong.
cớn = Anh ngữ curve, cong, đường cong, quẹo.
.curve có curv- = cớn, cong, cong cớn, theo c=qu (cuốn = quộn), cur- = queo, quẹo = Phạn ngữ krunch, to curve có k(r)unc- = cong.
.TTL cớn liên hệ với gốc tái tạo Tiền-Ấn Âu ngữ PIE *ker-/*k’or-/*k’r, to twist, vặn, to turn, bẻ quẹo, to bend, uốn cong…
Tóm lại TTL cớn = cong = Anh ngữ curve = Phạn ngữ krunch, to curve = gốc tái tạo PIE *ker-/*k’or-/*k’r, to twist, vặn, to turn, bẻ quẹo, to bend, uốn cong…
.Cứng cáp
TTL cáp = cứng.
TTL cáp = Anh ngữ cap, với các nghĩa:
1. đầu.
2. đỉnh, chóp.
3. chốc, trốt (phương ngữ Huế), đứng đầu, trước tiên, cả, lớn nhất.
4. mũ.
TTL cáp = Latin caput, đầu Tây Ban Nha ngữ cabeza, đầu = Pháp ngữ chapeau, mũ.
TTL cáp = Anh ngữ cap = Hán Việt cấp (đầu) như thủ cấp.
Từ đôi cứng cáp với cáp = Anh ngữ cap = cứng. Từ đi đôi cứng đầu cũng cho thấy cứng = đầu. Như thế cứng cáp có cứng = cáp = cap = đầu. Theo c=s, cứng = sừng. Ta cũng có từ đôi sừng sỏ với sỏ (đầu sỏ) = sừng (xem skull). Tóm lại cáp = cứng = sừng = sỏ = đầu. Cáp có nghĩa là cứng liên hệ với sừng, sỏ, đầu với Anh Ngữ cap.
TTL cáp liên hệ với Phạn ngữ kapâla, skull. Kapâla có kap- = cáp = Anh ngữ cap.
Tóm lại TTL cáp = cứng = Việt ngữ cáp = Hán Việt cấp = Anh ngữ cap, đầu, sỏ, mũ = Phạn ngữ kapâla, skull có một nghĩa là sừng, cứng.
.Cứng cát
giống như cứng cáp.
TTL cát = cứng.
Cát là một thứ sỏi đá mịn cũng có nghĩa cứng (cứng như đá). Ta thấy rất rõ cát = Anh ngữ sand = Pháp ngữ sable. Anh ngữ sand có san- = sạn (sỏi sạn), sable có sab- = sạn, Anh ngữ calculus, sạn, sỏi có cal- = sạn; callose, callous, callosity, callus, chai cứng (ở da), chai đá (lòng), chỗ xương gẫy đóng thành cục vôi cứng như đá), có cal- = sạn (sỏi). Cát, sạn, sỏi, chai đá ruột thịt với Phạn ngữ çaila, stony (như đá), mountainous (như núi, thuộc về núi) có çai- = chai. Qua từ ghép chai đá, chai sạn ta có chai = đá = sạn.
Tóm lại TTL cát = cứng = chai = sạn = sỏi = Anh ngữ sand, Pháp ngữ sable = Anh ngữ callose, callous, callosity, callus = Phạn ngữ çaila, stony.
.Cứng cỏi.
TTL cỏi = cứng.
Theo biến âm c=s như cắt = sắt, cỏi = sỏi. Sỏi là một thứ sạn, đá cũng có nghĩa là cứng.
.Pháp ngữ caillou, sạn sỏi, Phạn ngữ çaila, stony (như đá), Anh ngữ callus chai cứng, calculus, sạn, có có cai-, çai- , cal- = chai = cỏi = sỏi = sạn.
Tóm lại TTL cỏi = cứng = sỏi = sạn = Pháp ngữ caillou = Anh ngữ callus, calculus = Phạn ngữ çaila, stony.
D
.Dốt dát
dốt, ngu, tối, tối dạ.
TTL dát = dốt.
dát = dark, tối. Việt ngữ cũng có từ ghép dốt đặc với đặc = dốt. Ta thấy rõ đặc = dark, tối, đen như trời đêm đen đặc.
Dốt có nghĩa là tối (thằng ấy tối lắm), tối dạ, u tối, u mê (u có nghĩa là tối, u tối), ngu. Theo d=n, ta có dốt = dát = nát, dốt nát. Dốt = nát = Ý ngữ notte = Tây Ban Nha ngữ noche = Nga ngữ nock, tối, đêm. Nát = Việt ngữ nắc. Nắc là đêm như thấy qua tên con nắc nẻ là con bướm đêm. Loài bướm này có tiếng kêu như một tràng cười rộ vì thế mới có câu ví “cười như nắc nẻ”. Nắc chính là Đức ngữ nac(ht), Phạn Ngữ – nak-, tối, đêm. Nắc liên hệ với Hán Việt nặc, bí mật hàm nghĩa kín, tối như thư nặc danh. Nát = Đức ngữ nacht, Phạn ngữ nak-, naktam, đêm, tối. Đêm có một nghĩa là tối như tối nay = đêm nay.
Tóm lại TTL dát = dốt = nát = nắc = Đức ngữ nacht = Phạn ngữ nak- = Ý ngữ notte =Tây Ban Nha ngữ noche = Nga ngữ nock, tối, đêm…
.Dại dột
ngu dại và dốt, khờ khạo, tối dạ.
TTL dột = dốt = dại, dại dột. Dại là dốt như cũng thấy qua ngu dại = ngu dốt. Theo d=n= dại = Anh ngữ night = /nai/, tối đêm. Rõ ràng dại là dột là dốt là Tây Ban Nha ngữ noche (tối) là night.
Ta thấy rất rõ dốt nát với nát biến âm với nacht; dốt đặc với đặc biến âm với dark; dại dột với dốt, dột biến âm với noche và dại với night…
Tóm lại TTL dột = dại = tối (dạ) = Anh ngữ night = Tây Ban Nha ngữ noche = Đức ngữ nacht, tối, đêm, có một nghĩa chung là tối.
.Dài dòng
Dài lòng vòng.
TTL dòng = dài.
Dòng
= Việt ngữ dong là dài như đi dong dài.
= dông là dài như nói dông dài, đòn dông là đòn dài trên nóc nhà.
= gốc Hy Lạp ngữ dolicho-, dài như dolichocolon, ruột già dài lòng thòng.
= gốc tái tạo Ấn Âu ngữ *dloon-gho, dài.
Theo biến âm d=l như dần dần = lần lần,
dòng = Việt ngữ long (có một nghĩa là dài) như đi long rong là đi rong, đi dài.
= Anh ngữ long, dài = Đức ngữ lang, dài = Việt ngữ lang, cũng hàm nghĩa dài như đi lang thang là đi long rong, rông dài.
= lòng có một nghĩa là dài như lòng thòng, lòng vòng. Lòng cũng có nghĩa là ruột. Lòng ruột cũng có nghĩa là dài thấy rõ qua Hán Việt trường là ruột như đại trường (tràng) là ruột già và trường cũng có nghĩa là dài như trường giang.
Tóm lại TTL dòng = Việt ngữ dong, dông (dài) = Việt ngữ long, lòng (dài) = Việt ngữ lang (thang), (dài) = gốc Hy Lạp ngữ dolicho-, dài = gốc tái tạo Ấn Âu ngữ *dloon-gho, dài = Anh ngữ long (dài) = Đức ngữ lang (dài)…
Đ
.Đàn đúm
túm tụm lại với nhau.
TTL đúm = đàn.
TTL đúm = đám, theo d=t, TTL đúm = túm, tụm tụm = Anh ngữ troop, Pháp ngữ troupe, đàn, đoàn, đám, tốp. Anh ngữ t(r)oop = Pháp ngữ t(r)oupe = tốp, túm, đám, đàn.
.
Tóm lại TTL đúm biến âm với đám với túm như túm tụm = Anh ngữ troop, Pháp ngữ troupe, tốp, đàn, đoàn, đám, túm tụm.
.Đen đủi.
đen và xấu, bẩn.
TTL đủi = đen = tối.
Theo biến âm đ=t=th, đậm = tăm = thẫm đủi = túi, tối = thui. Đen thủi đen thui = đen đủi = đen túi = đen tối. Theo biến âm t=n (túm = núm), đủi = túi = Pháp ngữ nuit (đêm) (có nui- = túi = tối = thủi = đủi). Từ ghép đen nháy với TTL nháy = láy như đen nháy = đen láy, với h câm, nháy = náy = /nai/ = night, tối, đêm hàm nghĩa đen và đen đặc với TTL đặc = đen. Đặc có một nghĩa là đen như tối đặc = tối đen, đặc chính là Anh ngữ dark, tối, đen.
Tóm lại TTL đủi = túi, tối = thui, thủi = Pháp ngữ nuit, Anh ngữ nigh, có một nghĩa chung là đen, tối.
.Đứng đắn
Ngay thẳng, đàng hoàng.
TTL đắn = đứng.
.theo t=đ, đắn = Anh ngữ stand, đứng; theo t=đ (thẳng tuột = thẳng đuột), stand có -tand = đắn, đứng đắn.
.stand có -tand = tênh, tễnh (đứng) như tênh tênh là đứa trẻ mới tập đứng, mới biết đứng, người lớn thường buông tay ra để đứa bé đứng một mình rồi nói tênh tênh nào; tập tễnh là mới tập biết đứng, biết đi một hai bước, đứa bé mới tập tễnh.
Tóm lại TTL đắn = đứng = Anh ngữ stand, đứng = tênh tênh, tễnh.
E
.Èo uột.
là yếu ốm.
TTL uột = èo. Theo kiểu biến âm như eo = Hán Việt yêu (chỗ eo ếch, tiểu yêu đại huyệt), ta có èo = yếu. Ta thấy ngay èo = yếu = Anh ngữ ill (yếu, ốm). Ta thấy uột biến âm với èo, yếu hay ốm. Theo u=v=w, èo = uột = weak, yếu giống như kiểu eo = yêu = waist, chỗ eo ếch.
Tóm lại TTL uột = èo = ill = yếu = weak.
.Ê ẩm
là đau nhức, đau rêm rêm.
TTL ẩm = ê.
Ê, ê ê có nghĩa là đau nhức như ê răng, ê mình, ta cũng có tiếng lóng “ê càng”.
Ta có ê = Anh ngữ ache, đau, nhức.
TTL ẩm = Hy Lạp ngữ algos, gốc -algia, đau, như neuralgia, đau dây thần kinh, các chữ này có al- = ẩm (đau).
Tóm lại TTL ẩm = ê = Anh ngữ ache = Hy Lạp ngữ algos, gốc-algia.
.Êm ả.
Yên tĩnh, không xáo động.
TTL ả = êm.
ả biến âm với á như trên đã biết có một nghĩa là không như á khẩu (không nói được) = ỏ là không, vắng như ỏ vào, (xem chữ no) = Mường ngữ ó (không) = tiền tố Hy Lạp ngữ a-, không như aphasia, á khẩu. Không là vắng là yên là êm (xem chữ êm ắng).
Tóm lại TTL ả = êm = Việt ngữ ỏ (không) = Mường ngữ ó (không) = Hán Việt á (không) = tiền tố Hy Lạp ngữ a-, không.
.Êm ắng.
như im ắng , vắng lặng.
TTL ắng = êm. Ắng có nghĩa là vắng, lặng như chợ ắng người = chợ vắng, với v câm, vắng = ắng. Vắng hàm nghĩa lặng như vắng lặng, êm lặng, yên lặng. TTL ắng = Anh ngữ absence, vắng. Absent liên hệ với Latin absent có tiền tố a- là không, ab-, away, vắng, rời đi và -sens, being (là), absent có một nghĩa vắng.
Vắng có một nghĩa là lặng, là êm.
Tóm lại TTL ắng = êm = vắng = tiền tố Hy Lạp ngữ a- là không, ab-, away, ắng, vắng = Anh ngữ absence, vắng, có một nghĩa là lặng, là êm.
.Êm êm
Như đã thấy êm êm biến âm với âm âm (theo Dịch lý những gì mang âm tính thường mang tính êm), với um um (xem dưới).
G
.Gắm ghé
Ngấp nghé, để mắt tới.
Làng cung kiếm rắp ranh bắn sẻ,
Khách công hầu gắm ghé mong sao.
(Nguyễn Gia Thiều, Cung Oán Ngâm Khúc bản của Tôn Thất Lương).
Gắm ghé biến âm với ngắm nghé như thấy qua bản của Nguyễn Can Mộng:
Làng cung kiếm rắp ranh bắn sẻ,
Khách công hầu ngắm nghé mong sao.
TTL ghé = gắm.
TTL gắm = Anh ngữ gaze, nhìn chăm chăm, đăm đăm.
.theo phát âm trong Anh ngữ gaze = ghé như ghé mắt qua, gắm ghé.
.theo phát âm trong Việt ngữ gaz = gắm, gắm nhìn.
.theo g=ng (như gẫm = ngẫm), gaz = ngắm, ngắm nghé.
.theo g=ngh (như gịt = nghịt, nghẹt mũi), gaz = nghé (ngắm nghé).
.theo g=nh (như gậm = nhấm), gaz = nhắm, nhắm nhé.
Tóm lại TTL gắm = ghé = Anh ngữ gaze.
.Gây gỗ, Gây gổ
gây gỗ có khi nói và viết là gây gổ là cãi nhau, cãi cọ, cãi vã. Tôi chọn TTL gỗ.
TTL gỗ = gây.
Từ gây biến âm với gậy, cây và TTL gỗ (wood) là cây và nếu nói gổ thì gổ biến âm với gỗ cũng có gốc cây. Gây = gỗ = gổ = gậy, cây. Gây gỗ có thể là một hình thức xung đột cãi nhau dùng tới gậy gộc, một thứ khí giới sơ khai.
Gây gỗ = Anh ngữ quarrel, gây gỗ, cãi nhau vã, cãi cọ, công kích. Anh ngữ quarrel cũng có nghĩa là một thứ tên, nỏ (khí giới), một thứ chạm, đục (vật nhọn). Ta thấy rất rõ quarrel có một nghĩa khá thích hợp với gốc chữ là công kích (tấn công bằng kích, một thứ khí giới nhọn). Quarrel có gốc Latin queri, kêu ca, khiếu nại. Queri có que- = Việt ngữ que (gậy gộc). Quarrel có qua- = Hán Việt qua, khí giới như cây que nhọn = Việt ngữ que (gậy gộc).
.theo c=qu (cuốn= quộn), quarrel có qua- = ca (kêu ca) = cãi.
.theo q=c=g [cuốn = quộn = guồng (chỉ)], có qua- = gây, gây gỗ.
.theo q=v [quấn = vấn (khăn)], qua- = vã, cãi vã.
.theo qu=c =k, qua- = que = kè = cọ (cây kè = cây cọ là loài cây thân không có cành nhánh thẳng tuột như cây cột) = cãi cọ.
.theo qu=c=k, quarrel = Phạn ngữ kali, quarrel có ka(l)i = qua, que = cãi (cãi cọ, cãi nhau).
Ta thấy rất rõ gây gỗ và quarrel là dạng bất hòa trong xã hội sơ khai, tiền sử có liên hệ đến gậy gộc. Ở đây ta thấy TTL gỗ gần cận với cây, gậy hơn gổ. Đó là lý do tôi thích chọn gỗ thay vì gổ.
Tóm lại TTL gỗ, gổ, = gây = Anh ngữ quarrel.
.Gầy guộc
Gầy guộc là gầy như cây que. Việt ngữ gầy thường ví với một chiếc cây mảnh khảnh như gầy như que củi, gầy như cây sậy, gầy như cây tăm… một nhân vật Kim Dung người rất gầy có tên là Khô Lâu Trúc, người gầy trông như một chiếc đầu lâu khô cắm trên một cây tre.
TTL guộc = gầy.
Ta thấy rất rõ Việt ngữ gầy biến âm với gậy, cây như thế TTL guộc cũng phải liên hệ với cây, gỗ. Guộc biến âm với guốc.
Guốc làm bằng gỗ. Theo biến âm g=v=w như bà góa = bà vá và Mường ngữ w=v như wá = vả (quả), ta có guốc = Anh ngữ wood. Guốc nguyên thủy là một khúc gỗ dùng để đi. Theo g=c (gài = cài), guộc = cuộc = cược (đánh cuộc = đánh cược) = cọc (cây). Rõ ràng guộc, guốc liên hệ với cọc, với cây, với gỗ.
Tóm lại TTL guộc = guốc = gỗ = gầy = Anh ngữ wood. Rõ ràng gầy guộc là gầy như khúc cây, khúc gỗ.
H
.Hô hào
Kêu gọi, kêu lớn tiếng.
TTL hào = hô.
TTL hào = Anh ngữ howl = /hao/, tru, la hét, rít (gió) = Campuchia ngữ hao là gọi. Howl có ho- = hú = hò (hò là hét lớn như hò đò) = hô (hô khẩu hiệu, hô hoán). Theo h=g (hồi = gồi), howl = gào. Pháp ngữ hurler có hu- = hú.
Tóm lại TTL hào = hô = hò = hú = Campuchia ngữ hao = Anh ngữ howl = Pháp ngữ hurler.
.Hát hỏng
hát với xướng (có ý xấu).
TTL hỏng = hát.
Theo h=s, hói = sói, hỏng = Anh ngữ song (bài hát).
Tóm lại TTL hỏng = hát = Anh ngữ song.
.Héo hắt
Héo khô. Héo có một nghĩa là khô. Theo h= w như Mường ngữ wá = vả (quả), héo = Anh ngữ wilt, héo úa.
TTL hắt = héo.
Theo h=s như hói = sói, ta có héo = séo = sao (làm cho khô như sao thuốc bắc) = se.
TTL hắt = Anh ngữ hot, nóng, liên hệ với khô, nỏ. Theo h=s, hắt = sắt. Như thế héo hắt =se sắt. Từ láy se sắt là héo khô, ta có se = sắt (khô) ví dụ người hay mặt nó sắt lại, hay khô sắt lại. Sắt liên hệ với Ainu ngữ (thổ dân ở Nhật Bản) sat, khô. Từ se là khô như quần áo phơi đã se,
Đông chết se, hè chết lụt.
(tục ngữ)
Cây lúa về mùa đông ít nước dễ bị chết vì khô và mùa hè nhiều mưa dễ bị chết vì lụt. Như thế hắt = sắt = se (khô).
Se = sắt = gốc Hy Lạp ngữ xero-, se, sấy (khô), ví dụ xeroderma, da khô = Pháp ngữ sec = Ý ngữ secco = Tây Ban Nha ngữ seco = Latin siccus = Phạn ngữ çuska, khô.
Tóm lại TTL hắt = héo = Anh ngữ hot = sắt = se = gốc Hy Lạp ngữ xero- = Pháp ngữ sec = Ý ngữ secco = Tây Ban Nha ngữ seco = Latin siccus = Phạn ngữ çuska, khô.
.Hôn hít
Nói chung là hôn.
TTL hít = hôn.
TTL hít có một nghĩa là hôn. Hít là dạng nguyên thủy của hôn. Loài vật thường hít nhau. Di thể (gene) hít thấy ở loài vật truyền qua con người. Ngày nay ta còn thấy mẹ hôn con bằng cách hít con. Một vài tộc thổ dân Mỹ châu ngày nay còn giữ tục hôn nhau bằng cách chạm hai mũi vào nhau. Bước vào xã hội văn minh, hít trở thành hôn: hôn má, hôn môi, “nút lưỡi” (French kiss). Theo h = k, như hết = kết, ta có hít = kiss. Theo biến âm kiểu cút kít, kiss = Phạn ngữ kus, to embrace, hôn.
Tóm lại, TTL hít = hôn = Anh ngữ kiss = Phạn ngữ kus, hít, hôn, hôn hít.
I
.Im lìm
Im lặng như ngủ yên.
TTL lìm = im.
TTL lìm = Anh ngữ sleep, ngủ, lịm, ngủ. Thep m=b=p, (s)leep = lìm, lịm. Sleep có -lee- = li, hàm nghĩa ngủ say như ngủ li bì = Phạn ngữ ni là ngủ, ni = li, li bì = Tiếng Bình Trị Thiên lú là ngủ:
Gió mùa thu mẹ ru con lú.
(cadao)
Từ lú cũng có nghĩa là mê, mê mẩn cũng có một nghĩa là ngủ mê man như đánh thuốc mê là làm cho ngủ, lú liên hệ với ngủ như lú lẫn, cho ăn cháo lú. Leep = lìm, lịm, mê, mê mẩn liên hệ với ngủ như nó lịm người đi.
Tóm lại TTL lìm = lịm = im = sleep. Im lìm là im lặng như ngủ lịm, ngủ yên. Yên biến âm với im như yên lặng = im lặng.
.Ít xịt
Ít quá.
TTL xịt = ít. Ít có nghĩa là:
1. không nhiều.
Như một ít = một xí, một xị, một tí. Theo biến âm kiểu chi chít ta có xí, xị = xít, xịt. Với x câm như xôn xao = ồn ào, ta có xít = xịt = ít. Theo x=l như biến âm kiểu lao xao, lào xào, ta có xít = Anh ngữ little, ít, nhỏ, bé.
2. một.
như thấy qua từ ghép một ít, ta có một = ít. Với nghĩa là một này, ít
= Anh ngữ each (mỗi, một) == Nhật ngữ ichi là một.
= Phạn ngữ eka, ek-, một = Việt ngữ ạc, ạch, áy là một mình, (từ cổ) (Hỳnh Tịnh Paulus Của) = phương ngữ Huế éc, một mình như bừa éc là bừa với một con thú (trâu hoặc bò).
= Anh ngữ ace, số một, số “dách”, tên lá bài số một (con ách, con ết, con xì) hay cú giao banh tennis “ết” địch thủ bó tay không làm gì được, khi đánh golf, cú quất (drive) ace là chỉ đánh một cái mà trái cù rơi ngay vào lỗ.
3. nhỏ, bé, con con.
như con ít là con nhỏ, trẻ con. Con ít đọc nối qua là con nít (xem Hiện Tượng Đọc Nối Trong Việt Ngữ). Theo biến âm x=c=k ta có xịt, xít = kid, trẻ con, con nít.
Tóm lại TTL xịt = xí = ít = Anh ngữ each, Phạn ngữ ek-, eka = Anh ngữ ace = Việt ngữ nít = Anh ngữ little.
.Im Im
Như đã thấy im im biến âm với âm âm (theo Dịch lý những gì im, tĩnh, bất động mang âm tính), với um um (xem dưới).
K
.Kèn cựa
chén ép, cạnh tranh với ý xấu, làm hại nhau.
TTL cựa = kèn.
Cựa là vật nhọn sắc như sừng ví dụ như cựa gà. Con gà sống có cựa nhọn sắc nên gọi là gà qué. Qué biến âm với que, vật nhọn, với kẻ, cây, cọc như thước kẻ, với gốc Hy Lạp ngữ kera- sừng như keratitis, sưng màng sừng (mắt). Gà qué có cựa, có kẻ, có kera-, sừng, nói chung là có vật nhọn mang dương tính. Cựa liên hệ với vật nhọn, sừng. Còn kèn, theo k=c=h (kết = hết), kèn = còi = Anh ngữ horn, còi, kèn làm bằng sừng thú vật. Như thế nguồn gốc sâu thẳm của kèn cựa là dùng hai vật nhọn, một thứ khí giới, để cạnh tranh, chèn ép làm hại nhau.
Tóm lại cựa = kèn = Anh ngữ horn (kèn, còi, sừng), có gốc nghĩa là vật nhọn, dùng vật nhọn (khí giới) chèn ép nhau.
.Kềnh càng
lớn, to không gọn gàng, cồng kềnh.
TTL càng = kềnh.
Kềnh có một nghĩa là to, lớn, đứng đầu như con chấy kềnh, càng cũng có nghĩa là lớn như con kiến kềnh, kiến càng [thường hiểu là có càng (pincers) vì con kiến càng là con kiến lớn, to thường có càng]. Kềnh biến âm với kễnh có nghĩa là lớn, con cọp là con thú đứng đầu các loài thú, là chúa tể sơn lâm có tên là ông kễnh. Kềnh biến âm với Hán Việt kình, lớn, to, chúa tể như kình ngư, cá kình là loài cá to, lớn nhất, chúa tể loài cá, như cá voi, cá ông. Kềnh, kễnh, kình = Anh ngữ king, vua, chúa tể = Đức ngữ kaiser, vua. Kaiser có kai- = Việt ngữ cai, cái, có một nghĩa là lớn, đứng đầu như cai thợ, thợ cái.
Theo g=c, Anh ngữ grand, lớn, vĩ đại, có g(r)and = càng (kềnh).
Tóm lại TTL càng = kềnh = kễnh = kình = Anh ngữ king = Đức ngữ kaiser = Việt ngữ cai, cái = Anh ngữ grand.
.Kêu ca
kêu nài, kêu than.
TTL ca = kêu.
Việt ngữ kêu
= Anh ngữ call, gọi, kêu, gào.
= Phần Lan ngữ kerj, kêu, gào.
= gốc tái tạo Ngôn Ngữ của Chúng Ta (Nostratics) *kerj, shout, kêu, la, hò, hét.
= Phạn ngữ hve, to call, theo h=c, hve = kêu. Ta cũng thấy hve = hát = ca. Hát ca là một thứ kêu xin, kêu ca như ta thường nói ca bài con cá nó sống vì nước.
.theo c=g (cài = gài), call = gào, gọi.
.theo c=h (cùi = hủi), cal- = hào (hô hào), Campuchia ngữ hao là call, = hò (gọi lớn như hò đò sang sông) = hú (gọi) như hú hồn = hô là gọi, nói to như hô khẩu hiệu, hô hoán = Phạn ngữ hù, call, hù = Việt ngữ hú (gọi), hò (hò đò).
Ca có một nghĩa là hát. Có những bài hát diễn tả sự kêu nài, kêu than, là những lời cầu xin, van xin tức kêu ca. Theo qui luật TTL ở đây ca có nghĩa gốc là kêu, kêu xin. Với nghĩa này ca = Anh ngữ call.
Tóm lại TTL ca = kêu = Anh ngữ call = Phạn ngữ hve, to call = gốc tái tạo Ngôn Ngữ của Chúng Ta (Nostratics) *kerj, shout, kêu, gào.
L
.Liếm láp
có nghĩa là ăn luôn miệng. Ví dụ mẹ mắng con: “cái miệng mày liếm láp cả ngày”.
TTL láp = liếm.
TTL láp chính là Anh ngữ to lap, liếm.
Tóm lại TTL láp = liếm = Anh ngữ lap.
.Lớn lao
to lớn.
TTL lao = lớn.
Lao chính là Anh ngữ loud (/lao/), lớn, to: loud speaker là máy phóng thanh, loud mouth = to mồm. Lao xao, lào xào chỉ tiếng động lớn, ồn ào. Ta có lao xao, lào xào = loud sound.
Tóm lại TTL xao = lao = Anh ngữ loud = sound, lao xao, lào xào = loud sound.
.Lỏng lẻo
lỏng và lơi ra, không chặt.
TTL lẻo = lỏng.
lỏng = Anh ngữ loose.
loose có nghĩa là:
1.lỏng, lơi, không chặt, nới ra.
.loose = Mường ngữ lãng, nới ra, cởi bớt ra.
.loose = /lu/ = lơi, lẻo, theo l=n, lơi = nới (nới ra cho lỏng, cho rộng).
2. loose = lỏng, lỏng le (lỏng như nước, Việt ngữ le là nước như chim le le là loài chim nước), loose stool là đi cầu lỏng.
Tóm lại TTL lẻo = lỏng = Anh ngữ loose.
M
.Mờ mịt, Mù mịt
quá mờ không thấy rõ.
TTL mịt = mờ, mù.
Mờ, mù chính là Anh ngữ mist, mù, sa mù.
Như nai nhẩy quẩng trong mù,
Nhìn lên thì đã mùa thu qua rồi.
(Tàn Thu, Nguyễn Xuân Quang)
Tóm lại TTL mịt = mờ = mù = Anh ngữ mist.
.Mặn mà
Mặn mà liên hệ với muối, mắm, với biển.
TTL mà = mặn.
mà = mặn, liên hệ với Phạn Ngữ pâkya (pâka+ya), một loại muối, có pâ- = mà, với Anh ngữ marinade, tẩm, ngâm muối mắm, gia vị. Mà = Tây Ban Nha ngữ mar, biển = Pháp ngữ mer, biển = Anh ngữ marina (liên hệ với biển), marine (thuộc về biển, thủy quân lục chiến) = gốc tái tạo Ấn Âu ngữ IE * mori, biển, bể.
Tóm lại TTL mà = mặn = Tây Ban Nha ngữ mar, Pháp ngữ mer là biển = Anh ngữ marinade, tẩm, ngâm muối mắm, gia vị, marina, marine, thuộc về biển = Phạn Ngữ pâkya (pâka+ya), một loại muối = gốc tái tạo Ấn Âu ngữ IE * mori, biển, bể.
.Mân mê
Sờ nắn một cách kỹ lưỡng, lâu dài để tìm cảm giác ví dụ như mân mê cây bút.
TTL mê = mân.
Theo biến âm kiểu mê man, ta có mê = mân.
Việt ngữ mân ruột thịt với mần, như trên đã biết mần là làm bằng tay như đi mần = đi làm, mần răng = làm răng. Mần = gốc chữ man-, manu- (manual) liên hệ với cổ ngữ Anh mund, Latin manus, Pháp ngữ main, Tây Ban Nha ngữ manos, Ấn Âu ngữ IE man-, bàn tay.
Ta cũng thấy rất rõ mê là biến âm của mân nên mê liên hệ với các ngôn ngữ trên, TTL mê liên hệ với Anh ngữ meticulous có nghĩa gốc là tẩn mẩn, meticulous có me- = mê = mần = mân có gốc tay. Việt ngữ tẩn có gốc tay như tao tẩn cho mày một trận bây giờ = tao đánh (bằng tay) cho mày một trận bây giờ, tẩn biến âm với Quảng Đông ngữ tả, đánh và mẩn hiển nhiên biến âm với mân, mần có gốc tay. Mẩn hiển nhiên là mần thấy rất rõ qua các từ láy tẩn mẩn, tần mần.
TTL mê liên hệ với métier (Anh ngữ gốc Pháp ngữ) có nghĩa gốc là nghề nghiệp, việc làm, chuyên môn. Métier có mé- = mê = mần = mân có gốc tay.
Tóm lại TTL mê = mân = Việt ngữ mần (làm bằng tay) = Anh ngữ meticulous, tẩn mẩn, Anh-Pháp ngữ métier, có nghĩa gốc là nghề nghiệp, việc làm = gốc chữ man-, manu- = Latin manus, Tây Ban Nha ngữ manos, Pháp ngữ main = cổ ngữ Anh mund = Ấn Âu ngữ IE man-, bàn tay, có nghĩa là sờ nắn một cách kỹ lưỡng, lâu dài để tìm cảm giác
(còn tiếp).
June 19, 2009
Học Anh Ngữ Bằng Việt Ngữ (4)
HỌC ANH NGỮ BẰNG VIỆT NGỮ (4)
NHỮNG TỪ VỀ THÂN NGƯỜI
Nguyễn Xuân Quang
Những từ về thân người được cho là những từ căn bản (basic words) hay cân bằng bền (stable words) dùng đề so sánh hai ngôn ngữ (ở đây là Việt và Anh) để tìm sự liên hệ ruột thịt với nhau. Sau đây là một số nhỏ các từ về thân người.
Những chữ viết tắt và qui ước:
-Dấu bằng (=) có nghĩa là, liên hệ với, tương đương, gần cận nhau, giống nhau.
-Chữ trong hai gạch nghiêng /…/ là thanh, thinh, âm, âm vị, chỉ phát âm theo tiếng Việt hay tiếng Anh.
-Mẫu tự trong ngoặc đơn của một từ có nghĩa là bỏ đi hay câm ví dụ Anh ngữ cổ brus (breast), vú có b(r)u- = bú, vú (bỏ r hay r câm)…
-Dấu (*) có nghĩa là gốc tái tạo không có trong ngôn ngữ thành văn (written records).
-Tôi chỉ giới hạn vào các nghĩa gốc tương đồng và để qua bên các nghĩa phụ, nghĩa bóng bẩy, nghĩa lóng. . .
A
A biến âm mật thiết với E, I, O, U. . .
A=E=I=O=U…
Như mạ, má = mẹ, mệ = mị = mợ = mụ…
-arm, cánh tay, cẳng tay.
Theo Buck, trong Ấn-Âu ngữ, nhiều từ chỉ arm thuộc về một nhóm di truyền phát xuất từ ý niệm về joint và áp dụng cho cả hai arm và shoulder. Trong một vài ngôn ngữ, những từ chỉ hand nới rộng ra cả arm (4.31). Điểm này giống hệt trong Việt ngữ. Từ tay có thể hiểu là bàn tay và cánh tay. Bàn ruột thịt với bằng. Bàn tay chỉ phần bằng của tay. Bàn gần âm với palm, lòng bàn tay. Palm có pal- = bàn (xem hand và palm). Còn từ cánh cùng với cành một vần, cánh có cùng gốc nghĩa với cành. Cành cây tương đương với tay người. Hán Việt chi (cành) và tay chân người cũng gọi là chi (tứ chi). Theo tiến hóa cánh chim = tay người (chim tiến hóa thành khỉ, đười rồi mới thành người) như thấy qua từ đôi cánh tay nghĩa là cánh = tay. Như thế cành = cánh = tay = cẳng = chi. Ta thấy rất rõ qua từ limb, tay chân mà cũng có nghĩa là chi, cành, nhánh cây. Việt ngữ cẳng thường hiểu là chân, thật ra cẳng liên hệ với chánh, chành, chi cũng chỉ cả chân và tay (tức tứ chi) như thấy qua các từ đôi “cẳng chân, cẳng tay” ví dụ như “thượng cẳng tay, hạ cẳng chân”. Dùng “cẳng tay” không có sai ngữ pháp như có người đã nghĩ.
.arm = ãm, ãm, ẵm, ôm (dùng tay mang, ôm vật gì), dùng arm để ãm, ẵm, ôm. Arm, ãm, ẵm ruột thịt với gốc Phạn ngữ am, lấy đi, mang đi, ẵm đi. Ví dụ như ãm, ẵm em, nó ẵm (ãm) cái đó đi mất rồi. Cánh tay có chức vụ là ôm, ãm, ẵm vật gì. Cổ ngữ Anh bóg, bog(as) Anglo-Saxon bóg, bóh, có nghĩa gốc là cánh tay (arm) ruột thịt với Việt ngữ bồng; Pháp ngữ bras, Ý ngữ braccio, Hy Lạp ngữ brachio-, Phạn ngữ bahus, cánh tay có ba- = bả (vai) (nghĩa hoán vị) = bá (vai) có một nghĩa là ôm như bá vai, bá cổ = ôm vai, ôm cổ. Bóg, bahus có bo-, ba- = bồng, bế.
.arm có ar- = gốc Phạn ngữ ar, cầy, có cùng gốc với arbor, cây, cây cối. Điều này giải thích cho thấy rõ thêm là cánh tay tương đương với cành cây, Hán Việt chi là tay chân và cũng có nghĩa là cành cây. Anh ngữ bough, nhánh, cành cái, lớn (cây) chính là bóg, cánh tay (xem chữ hand).
B
B biến âm mật thiết với M, P, Ph, V. . .
.B=M=P=Ph=V…
-body, thân, thân thể, mình, vóc (ăn vóc học hay), thể (water body)…
Theo Buck, những từ chỉ body có thể dùng trong Tân Anh ngữ như là body, dead body, corpse. Một vài từ nguyên thủy chỉ phần chính thân thể “trunk” để phân biệt với tay chân và phản ánh quan niệm, ý nghĩ như “swelling, curved, bulging shape”… vài từ chỉ flesh (4.11). Điểm này cũng thấy trong Việt ngữ.
1. body với ý nghĩa thân thể.
có bod- = vóc, Phạn Ngữ vapus, vera là body. Phạn ngữ vera là vóc, vẻ như vóc người, như vẻ người thon gọn “mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười Nguyễn Du, Kiều. Body liên hệ với Pháp ngữ corp, Latin corpus, Phạn ngữ karp (thân). Ta thấy rõ cor-, kar- = xác.
2. body là thân mình và với ý nghĩa “swelling, bulging shape”.
theo b=m, body = móc, theo biến âm kiểu móc máy ta có móc = mẩy. Từ đôi mình mẩy có mình = mẩy. Vậy body = móc = mẩy = mình. Mẩy là mình như thấy qua câu tục ngữ đầu chấy mẩy rận (đầu đầy chấy, mình đầy rận). Ta thấy rõ mẩy là mình, thân và mẩy cũng có nghĩa là “swelling, bulging shape” như hạt lúa, hạt thóc rất mẩy. Theo m=ph, mình = phình (swelling). Đại Hàn ngữ mom, body.
3. body là thân mình và với ý nghĩa vỏ che, lớp bao.
Việt ngữ có từ to xác, lột xác (rắn), xác như vờ. Con vờ là loài phù dung chỉ sống một thời gian ngắn ngủi lúc tinh sương. Khi mặt trời mọc, con vờ biến mất chỉ còn vỏ xác trên mặt sông vì thế mới có câu xác như vờ. Phạn ngữ çarira, covering có çar- = xác.
Hy Lạp ngữ kalupto, cover có kal- = xác.
4. body là thân mình và với ý nghĩa xác chết, thây, thi (tử).
Anh ngữ cadaver, carcass, corpse, Phạn ngữ çava- có cad-, car-, çav-, cor- = xác
5. body là thân mình và với ý nghĩa xác, thịt, xác thịt (flesh).
Latin carò, Ý, Tây Ban Nha, Lỗ Ma Ni ngữ carne, Pháp ngữ chair (thịt) charnu (xác thịt) và charcuterie, người bán thịt lợn, thịt nguội. Ngoài nghĩa thịt để ăn có nghĩa là cắt, chặt (xem meat) ở đây, theo c= ch=x, caar-, char- = xác. Thịt ở đây có nghĩa là xác. Từ đôi xác thịt có xác = thịt.
-breast, vú, ngực phụ nữ.
brus là dạng cổ của breast có bu- = bú, bụ (phương ngữ Huế) = vú.
theo Buck, trong Ấn-Âu ngữ , nhiều từ chỉ breast chỉ phần trước ngực phụ nữ và vú. Nghĩa chính của breast là swelling, u, phồng, sưng, curved shape, hình cong tròn (4.40). Điểm này giống hệt Việt ngữ. Những từ chỉ teat hay nipple (đầu vú, núm vú) thường dùng trong tiếng dân dã chỉ vú (4.41). Từ udder chỉ vú loài vật thường phân biệt với vú phụ nữ nhưng vài khi cũng dùng chồng lên nhau (4.42).
1. vú có nghĩa là chỗ u lên, phồng lên.
Vú là chỗ u, chỗ phồng lên ở ngực phái nữ. Anh ngữ brus, breast có nghĩa gốc là “swelling” (sưng, phồng). Brus = b(r)u- = bu, bú, bù, bụ = vú. Với v câm vú = ú, u. Ú có nghĩa là phồng to như mập ú, mập ù, mập ú ù. U là sưng, phồng như u đầu, u nhọt, u bướu. Việt ngữ u cũng có nghĩa là mẹ (người Bắc gọi mẹ là u), vú cũng có nghĩa là mẹ (người Trung Nam gọi mẹ là vú). U (vú, mẹ) còn gọi là bu, bú, bụ, bù cũng có nghĩa là vú, mẹ (Bắc gọi u, mẹ là bu, người Huế gọi vú là cái bụ; từ bụ như bụ bẫm, bụ sữa có nghĩa liên hệ với vú. Bụ là bú nhiều sữa trông ú, ù, tròn trịa).
Việt ngữ u, nguyên nghĩa là chỗ u, phồng lên ở ngực phái nữ, rồi có nghĩa là cái bú, là vú, là mẹ và là một địa khai của nguồn gốc ngôn ngữ loài người (xem thêm Tiếng Việt Huyền Diệu).
C
C biến âm mật thiết với CH, G, H, K, Q, QU, S. . .
C=CH=G=H=K=Q=QU= S…
1. c=g, corner, góc có cor- = góc.
2. c=h: cut, cắt, hớt = hớt (cắt tóc = hớt tóc).
3. c=q: Pháp ngữ biscuit, bánh bích-quy (biscuit có bis- là hai lần, -cuit là nấu chín. Bánh nướng chín hai lần) có -cuit = quy (c=q).
4. c=s: corn = sừng, sỏ.
-cap
1. đầu.
2. đỉnh, chóp.
3. chốc, trốt (phương ngữ Huế), đứng đầu, trước tiên, cả, lớn nhất.
Latin caput, đầu Tây Ban Nha ngữ cabeza, đầu, Pháp ngữ chapeau, mũ, có:
.cap = cấp (đầu) như thủ cấp.
.cap = cáp (cứng). Ta có từ đôi cứng cáp với cáp = cứng. Ta cũng có từ đi đôi với nhau cứng đầu nghĩa là cứng = đầu = cáp = cap. Theo c=s, cứng = sừng. Ta thấy rõ sừng = cứng qua gốc Hy Lạp kera- = sừng cũng có nghĩa là cứng như ceramic (đồ sành) có cera- là cứng. Đồ sành là đồ cứng như đá, như sỏi (vì vậy mà dân dã Việt Nam mới có câu ví lồn sành, da đa, đít mảnh cong, rõ ràng sành đi đôi với đá, cứng như đá) nên ta mới có từ đôi sành sỏi nghĩa là sành = sỏi. Gốc Ky Lap cir-, cirrho-, cứng liên hệ với ker-, kera- cũng có nghĩa là cứng, chai cứng như hepatic cirrhosis, chai gai, cứng gan.
Ta cũng có từ đôi sừng sỏ với sỏ (đầu sỏ) = sừng (xem skull). Tóm lại cáp = cứng = sừng = sỏ = đầu.
Cáp liên hệ với đầu với Anh Ngữ cap.
.cap = cả (lớn, đầu tiên) như vợ cả, con cả, chị, anh cả.
.cap = cái, đầu có nghĩa là lớn, đứng đầu, trên cao, cap = cái, cai. Cái có một nghĩa là đầu như “đầu lâu hoa cái nhà mày”, thợ cái là thợ đứng đầu, cai thợ là thợ đứng đầu (xem head); chữ cái là chữ to ứng với caps., capitals, capitula, chữ cái có cap là lớn, to. Ainu ngữ sapa, đầu, theo s=c, sapa = cap, cấp, cái và sa- = sỏ. Phạn ngữ kapâla, skull có kap-.
.theo c=ch, cap = chóp, trên đỉnh, trên đầu cùng chóp bu, chóp núi.
.cap = chốc, đầu: Mặc áo tới vai, không ai mặc quá chốc.
.đầu có nghĩa là đầu tiên, trước tiên, theo c=ch, cap = chóp, chốc. Chốc là đầu và cũng có nghĩa là trên, trước tiên, đầu tiên, đứng đầu, hàng đầu ví dụ ăn trên ngồi chốc là ăn trên ngồi đầu, ngồi trước tiên.
.cap = cup, cốc uống nước = cốc. Cốc là vật dùng uống nước. Thời thượng cổ con người thường dùng sọ làm vật đựng nước, uống nước. Phật giáo Tây Tạng La-Ma dùng những cốc bằng sọ người dâng vật cúng lễ. Ta có thể kiểm chứng lại, trong ngôn ngữ Middle High German có “koft”, ‘drinking cup’, tuy nhiên vài khi cũng có nghĩa là cái sọ, đầu (hence sometime ‘skull, head’) (REW 8682).
-cap, mũ, vật chụp lên trên như mũ nón.
1. mũ, nón, mão.
2. chóp, mào của chim (Việt ngữ mào biến âm với mão là mũ).
3. vật giống hình mũ, chóp như đầu nấm.
4. nắp, bao miệng chai lọ.
.theo c=ch, cap = chap = chụp. Pháp ngữ chapeau, mũ có chap- = chụp (mũ), với h câm, chap- = cap.
.cap = chỏm, phần đỉnh cao, đầu cao của núi, cây như chỏm núi, chỏm cây.
.cap = chùm, phần đầu cây: chòm cây. Chòm biến âm với chỏm.
.cap = chùm, trùm là phủ, che kín đầu như chùm, trùm khăn, mền. Trùm là đứng đầu như ông trùm xóm đạo, tên trùm tướng cướp.
.cap = chũm, phần chóp trái cau gọi là chũm cau:
Vú em nhu nhú chũm cau,
Để anh bóp thử có đau không nào?
(ca dao)
-cheek, má
.theo ch=k, cheek có chee-= kế, kề (bên) . Việt ngữ má biến âm với mé. Má là mé bên của mặt. Phạn ngữ vâ, on the one side, trên một mé, một bên, rõ như ban ngày vâ = má, mé. Malar, thuộc về má có ma- = má, mé (xem malar).
.Mặt khác cheek liên hệ với chin, cằm, cầm. Buck nhận thấy rằng “ther is considerable interchange between jaw, cheek and chin notably in a widespread cognate group” (4.208) (có sự hoán đổi đáng kể giữa jaw, cheek và chin, đáng kể là trong nhóm các chữ họ hàng có liện hệ rộng lớn). Ta cũng thấy Việt ngữ má liên hệ với Anh ngữ maxillary, mandibule, Latin màla, Pháp ngữ mâchoir, hàm. Cheek cũng liên hệ với jaw, hàm (ch=j). Jaw ruột thịt với Pháp ngữ joue, má. Theo h=c, Việt ngữ hàm = càm, cằm, cầm, cấm vì thế hàm còn gọi là cấm, răng hàm = răng cấm.
D
D biến âm mật thiết với Đ, T, L, N . . .
D= Đ =T= L=N…
-dent- (tiền tố), dăng (răng).
ví dụ như denture, dentifrice, dentine (xem những chữ này).
-dant- = dăng, răng. Theo d=t, dont- = tooth (xem chữ này).
.theo d=th, dant, dăng = Mường ngữ thăng (răng).
.theo d=t, dant, dăng = tẫng (mất vài cái răng) = tăm (que xỉa răng)
.dant = đanh, đinh (vật nhọn).
.theo d=n, dant = nanh (như răng nanh).
-dental, thuộc về răng.
răng, dăng liên hệ với với ăn. Với d câm, dăng = ăn, phương ngữ Huế đẫn là đớp, ăn tạp. IE * dont-, *dnt là quá khứ phân từ của động từ *ed, eat (ăn). Liên hệ với Latin dens, Pháp ngữ dent , Old Indic dant-, Phạn ngữ dant, dăng, răng.
E
E biến âm mật thiết với A, I, O, U. . .
E=A=I=O=U…
Như mẹ, mệ = mạ, má = mị = mợ = mụ…
-elbow, khuỷu tay, cùi chỏ, cùi tay.
trong Ấn-Âu ngữ elbow thường mang ý nghĩa cong, quẹo. Trong Việt ngữ cũng vậy. Từ khuỷu có nghĩa là cong, quẹo như khúc khuỷu. Khuỷu liên hệ với khoẻo, khoèo, khoeo, kheo có nghĩa là cong queo, quẹo, quèo (kh=qu), eo, ẹo, éo, uốn éo (kh, qu câm). Khuỷu ta là eo tay. Cổ ngữ Việt khoeo, kheo cũng có nghĩa là đầu gối (tương đương với khuỷu tay) như thấy qua câu tục ngữ “cầy chạm vó, bừa mó kheo”. Cái cầy phải mắc vừa chạm vó chân, còn bừa thì vừa chạm kheo (đầu gối) thì trâu bò mới di chuyển dễ dàng khi đi cầy bừa. Khúc, khủyu, ruột thịt với Phạn ngữ kurpata (u có dấu mũ ^), elbow. Rõ ràng kurpa- = khúc = khuỷu = cong, cung.
Elbow có bow, cung (tay) và el = ell, đơn vị đo chiều dài, phần lớn là đo vải. Ell là chiều dài của cung tay bow từ đầu cùi chỏ đến đầu ngón tay chỏ.
Ta có el- = eo tay = IE *el-, *ele-, cong. Từ cùi tay, cùi chỏ dùng nhiều ở miền Trung Nam, có cùi = Pháp ngữ coude, Tây Ban Nha ngữ codo, khủy tay.
Chữ “eo-lờ” L liên hệ với Việt ngữ eo mang hình ảnh của khủyu tay elbow để thẳng góc. Những chỗ nối ống dẫn chất lỏng, khí có hình chữ L cũng gọi là elbow.
F
F biến âm mật thiết vời B, M, P, Ph, V…
F=B=M=P, Ph=V…
-face, mặt.
liên hệ với Phạn ngữ muka, mặt.
.theo f=m, face = mặt. Mặt là vật sáng như mặt trăng, mặt trời, mặt người cũng vậy: mặt sáng như gương tầu. Việt ngữ mặt biến âm với mắt, có một nghĩa là sáng như sáng mắt ra, người có mắt là người sáng, là người nhìn thấy sự vật, người không có mắt, không sáng là người tối, người mù. Pháp ngữ visage, mặt ruột thịt với vision, nhìn, thấy.
.theo m=b, mặt = bật, như bật đèn, bật lửa, bật quẹt, bật sáng lên, liên hệ với gốc Phạn ngữ bhà, sáng, làm cho sáng lên. bhà-; theo f=m=b, face = mặt = bật = bhà-.Việt ngữ mặt liên hệ với Anh ngữ mask, mặt nạ.
G
G biến âm mật thiết vời C, H = K, Q…
G=C=H=K=Q …
-gall, mật (cơ quan động vật), bear gall, mật gấu, gall bladder, túi mật.
gall = gan (nghĩa hoán đổi). Gan và mật có nghĩa hoán đổi, chéo nhau, gall (gan) = mật trong khi chole (mật) = gan. Theo ch=c=g, chole- = con, cốn (người Hoa phát âm can là cốn) = Hán Việt can = gan, xem chữ chole.
-gall, mối cay đắng, người Tây phương tin mật là nơi sinh ra cay đắng như mật đắng, trong khi Trung Hoa cho đảm, đởm (mật) là gan dạ như can đảm, đảm lược.
H
H biến âm mật thiết vời C, G, K, Q. . .
C=G=K=Q. . .
H thường thấy rất nhiều ở dạng câm.
-hand, tay, chi (Hán Việt chi là tay chân như tứ chi, cành).
theo Buck, trong Ấn-Âu ngữ , nhiều từ chỉ hand thuộc về một nhóm có nghĩa gốc là seize (bắt, giữ), take (cầm, lấy), collect (thu lượm, thu thập) hay với nghĩa tương tự. Một số có nghĩa gốc chỉ hand, một phần của cánh tay, bàn tay hay nắm tay, bao gồm cả cánh tay arm (4.31). Điểm này giống hệt Việt ngữ. Ngoài ra tay chân người tương đương với cành cây, cánh chim, đuôi thú vật, vi cá, vòi tua động vật và thực vật.
1. với nghĩa là cầm, nắm, lấy…và những nghĩa tương tự:
.Việt ngữ tay liên hệ với táy như táy mót (mót nhặt), táy máy, tháy máy (Mường ngữ tháy là tay), thẩy (ném), thả (buông tay ra), thuổng (ăn cắp), thộp (cổ), tóm, túm. Tay, bàn tay liên hệ với take, tap (gõ), tear (xé), với proto-Nostratic *tary (y nhỏ, cao) to grasp, to embrace.
.từ handle (tay cầm, chuôi, cán) có hand, theo h=c, han- = cán, cầm, cần. Phạn Ngữ harana, the hand, taking (cầm, lấy…) có hara- = hand.
2. với nghĩa một phần của tay hay cánh tay.
.tay liên hệ với cổ ngữ Anh tà, Anh ngữ hiện kim toe (ngón chân), (nghĩa lệch, tay chân đều là chi cả).
.cổ ngữ Anh mund, Latin manus, Pháp ngữ main, Tây Ban Nha ngữ manos là tay, liên hệ với mân, mân mê, mân mó, mần mò, mần (làm), mó, mò, mò mẫm, mơn trớn . . .
3. với nghĩa là chi. Chi có nghĩa là tay chân và cành nhánh.
a. chi là chân tay:
.theo h=c=ch, hand = cẳng, chân, chi. Phạn ngữ janghâ (reduplicated han+a), the leg có jan- = han- = jambe (Pháp ngữ), cẳng, chân, háng và han- cũng là hand. Ta thấy hand = cẳng vì thế ta có tay = cẳng, nên ta mới nói cẳng tay, cẳng chân. Từ cẳng tương đương với từ chi. Dân dã Việt Nam nói cẳng tay, thượng cẳng tay hạ cẳng chân không có sai như có người đã nghĩ. Từ đôi cẳng tay có cẳng = tay (cẳng và tay đều là chi cả).
.gốc Hy Lạp cheir-, chiro-, tay như chiropractice (chữa trị bằng tay, dùng thủ thuật, tiếng lóng gọi là thầy mần với mần là làm bằng tay) = chi (Hán Việt).
b. chi là cành, nhánh cây. Tay người tương đương với cành nhánh của loài thực vật.
theo h=c, hand = cần, can (gậy), cành, chành, chánh (cây). Con người được biểu tượng bằng chiếc cây. Con người nguyên thủy do Cây Đời hay Cây Vũ Trụ sinh ra. Theo truyền thuyết Mường Việt, người đàn bà đầu tiên hay Mẹ Đời của loài người là Dạ Dần sinh ra từ cây si thuộc họ cây đa, tức Cây Đời, Cây Vũ Trụ. Mẹ Đời (thời phụ hệ là Cha Đời) có hình cây: đầu là Cõi Trên (Mường Then), hai tay là cành cây Cõi Giữa (Mường Bưa), hai chân là Cõi Dưới (Mường Khú) và thân là Trục Thế Giới nối liền ba cõi (Ca Dao Tục Ngữ, Tinh Hoa Dân Việt). Điều này giải thích tại sao tay lại tương đương với cành, chi.
4. với nghĩa là cánh.
cánh của loài chim tương đương với tay người; theo h=c, hand = cánh liên hệ với Phạn ngữ garut, gal, cánh; theo g=c, garu-, gal = cánh. Tay liên hệ với cánh vì thế ta mới có từ ghép điệp nghĩa cánh tay với cánh = tay. Ta cũng thấy gốc Hy Lạp pteros, -ptera = cánh như coleoptere, cánh màng bao (sâu bo) có –ter = tay.
5. với nghĩa là vi, vây cá.
vi, vây cá là phần còn sót lại của tay chân loài cá trong sự tiến hóa. Ta thấy fins (vi, vây cá) ruột thịt với finger, với Việt ngữ vin, vịn, víu. Ngày nay còn nhiều loại cá dùng vi bụng để “đi” như cá trê, cá lóc, cá rô. Cá trê còn gọi là “walking fish” (“cá đi bộ”), (xem chữ fin).
6. với nghĩa là đuôi.
đuôi của một vài loài động vật tương đương với tay người. Chúng dùng đuôi như tay để nắm, giữ.
tail = tay (xem tail).
7. với nghĩa là vòi, tua (tentacle).
vòi, tua của động vật và thực vật tương đương với tay, chân (chi) ví dụ vòi tua của con bạch tuộc octopus được gọi là -pus, có nghĩa là chân. Từ bạch tuộc là dạng nói sai đi của từ bát túc (tám chân). Con bạch tuộc là con bát túc có tám chân (xem octopus). Tentacle liên hệ với tenable, Pháp ngữ tenir, nắm giữ, liên hệ với Việt ngữ tay.
-handle (tay cầm, chuôi, cán).
có han- = cán.
I
I biến âm mật thiết với A, E, O, U. . .
I=A=E=O=U…
Như mị = mạ, má = mẹ, mệ = mợ = mụ…
-intestine, ruột, lòng, ở trong, nội bộ.
Trong Ấn-Âu ngữ, những từ chỉ intestine mang ý nghĩa:
–inside (trong): intestine, entero-, entrail ruột thịt với intero-, enter-, entre-(Pháp ngữ). Điều này cũng thấy trong Việt ngữ. Từ ruột, lòng cũng có nghĩa là ở trong và long có nghĩa là dạ, đôi khi cũng có một nghĩa là tim như lòng mẹ = tim mẹ (vì tim cũng có một nghĩa là ở trong, ở giữa như tâm điểm, trung tâm).
–string, rope, cord, winding band; theo r=d=n,Việt ngữ ruột = duột = nuột, nuộc, nạt (dây cột), lạt (dây tre) = nịt (dây thắt lưng); Anh ngữ tripe, tripes, ruột lòng thú vật, theo t=d=đ có /trai/ = dải (dây), đai. Anh ngữ bowel, ruột có bow = bó, buộc, dây bao. Pháp ngữ boudin, dồi = bó, buộc, dây bao.
–dài, Việt ngữ lòng còn có nghĩa là dài, dài quanh co (cái ống xoắn của nồi cất gọi là ruột gà) như lòng thòng, lòng vòng, Hán Việt trường là ruột như đại trường (ruột già), tiểu trường (ruột non) và trường cũng có nghĩa là dài như trường giang. Việt ngữ lòng = Anh ngữ long, dài (xem chữ này). Đức ngữ wurst, dồi, xúc xích có gốc từ OHG werdan, quanh co liên hệ với winding, uốn khúc (Buck trang 367). Theo w=uu và u = o, wurst có wur- = uốn, uốn khúc liên hệ với Việt ngữ khúc (ruột). Kim Trọng ngồi nghe Kiều đánh đàn:
Khi tựa gối, khi cúi đầu,
Khi vò chín khúc, khi chau đôi mày.
(Nguyễn Du, Kiều).
Chín khúc ở đây theo Đông Y là chín khúc ruột. Vò chín khúc là chín khúc ruột bị vò nát, vo tròn bóp lại. Ruột vo tròn lại làm quặn đau khiến cho Kim Trọng “khi tựa gối” nghĩa là chàng ta ép bụng vào đầu gối cho bớt đau, “khi cúi đầu”, Kim Trọng cúi đầu thấp xuống, thu người nhỏ lại cho bớt đau và “khi cau đôi mày”, rõ ràng là vì đau quá nên phải nhăn mặt cau mày. Hiển nhiên Kim Trọng có những triệu chứng “nát lòng”, “nát dạ”, “nẫu lòng”, “não lòng”, tức rầu thúi ruột, tức đau bao tử. Tiếng đàn của Kiều là tiếng đàn đoạn trường, đứt ruột (Ca Dao Tục Ngữ, Tinh Hoa Dân Việt).
Wurst = Việt ngữ vặn, vẹo. Theo w=u, wurst = uuon = uốn (khúc). Theo v=d, wurst = duột, ruột.
.Anh ngữ gut, Phạn ngữ guda-, ruột, theo g=d=r, gut, gud- = ruột (dân miền Rạch Giá còn phát âm g=r như con cá rô rẫy trong rổ rau răm = con cá gô gẫy trong gổ gau găm). Ruột liên hệ với IE *reu-to-, intestine.
J
J biến âm mật thiết với CH, C (H câm), KH, K (h câm), D, Gi, Đ (T, TH), G…
J= CH, C=KH, K=D, Gi=Đ (= T= TH) = G…
.Việt ngữ không có j.
1. j=ch: j tương đương với ch như Java = Chà Và, những người Hồi giáo gốc Java ở miền Nam; ngày nay gọi tắt là người Chà như người Chà Châu Giang. Ta cũng thấy qua Bồ Đào Nha ngữ junk phiên âm Hoa ngữ chwan (thuyền), theo ch=j, chwan = junk.
2.J=d như Jeep = dép, díp (xe), jean = din (quần).
3.J=gi, trong chữ quốc ngữ cổ j=gi như jà = già; jó = gió; jờ = giờ… (Alexandre de Rhodes).
4. J=d=nh như Japan gọi tắt là Jap = Dặt, phát âm Quảng Đông của Nhật và pan = bản. Japan là “Dặt pủn”, Nhật Bản.
5.j=đ như jack = đặc (đặc có một nghĩa là đực như tre đặc = tre đực) đực.
6. j=g: giữa Pháp và Anh ngữ j=g như jardin = garden, vườn.
. . . . . .
-jaw, hàm.
.theo j=ch, jaw = chàm, với h câm chàm = cấm. Răng cấm là răng hàm, theo c=h, cấm = hàm. Phạn ngữ jambha (jabh+a), jaw, có jam- = hàm.
.Hàm cũng liên hệ với nhai như “tay làm hàm nhai”, maxillar (hàm trên) liên hệ với Latin macerare, to chew. Ta thấy jaw = chew = chệu, chạo, chệu chạo (nhai chệu chạo).
.theo j=d= g, jaw = gặm, gậm.
.hàm cũng hoán đổi cho cằm, cầm, má. Trong các ngôn ngữ họ hàng có hiện tượng hoán đổi các từ chỉ các phần kề cận nhau (xem cheek). Theo h=c, hàm = cằm, cầm. Trong khi đó jaw hoán đổi với Pháp ngữ joue, má, maxillar (hàm trên) hoán đổi với Việt ngữ má (xem chữ này). Theo j=ch, jaw = cheek, má = chin, cằm cầm. Phạn ngữ hanu, hàm, theo h=c, han- = cằm, cầm.
K
K biến âm mật thiết với C, CH, H, Q, QU. . .
K=C=CH =Q=QU…
-knee, đầu gối, khuỷu (chân), kheo, khoeo.
Khoeo, kheo là tiếng cổ, tục ngữ có câu:
Cầy chạm vó bừa mó khoeo.
Cầy phải để vừa chạm vó chân, còn bừa vừa chạm đầu gối của con thú thì nó mới di chuyển được dễ dàng trong lúc cầy bừa. Việt ngữ gối có nghĩa là chỗ gập lại, gấp lại, theo biến âm kiểu hấp hối và h=g, ta có gấp = gối. Theo g=c=kh, ta có gấp = khấp = khớp (chỗ gấp, gập lại, chỡ nối). Ta cũng có biến âm khấp khúc và khúc khủyu nghĩa là khấp = khúc = khuỷu = kheo, khoeo.
.theo k=g, knee = genu (Latin), genou (Pháp ngữ) và theo g=j (garden = jardin), genu = Phạn ngữ jânu, đầu gối.
.có kee- = kheo, khoeo. Theo biến âm kiểu kì kèo, ta có kee = keo, kheo, khoeo. Rõ hơn cổ ngữ Anh cneo (knee) có ceo = keo, kheo, khoeo. Gothic kniu = khuỷu.
.có -nee = nối (joint). Theo n=g như nút = gút, ta có nối = gối.
Cũng cần phân biệt đầu gối (knee) với gối đầu, cái gối (pillow). Như đã nói ở trên đầu gối có nghĩa là chỗ gập lại, gấp lại, là khấp, khớp (chỗ gấp, gập lại, chỡ nối). Gối = gấp = khấp = khớp (joint) trong khi gối (pillow) biến âm với hồi (đầu). Theo g=h, gối = hồi (đầu).
.theo k=qu, có kee- = quì (xem kneel).
-kneel, quì.
.ruột thịt với knee. Theo k=c=qu, có kee = quì. Việt ngữ quị (quị gối xuống, ngã quị là ngã chống đầu gối xuống đất), có tác giả dịch stroke là đột quị tức ngã quị xuống một cách đột ngột, nếu hiểu theo nguyên nghĩa ngữ thì không chính xác vì không phải ai bị stroke cũng ngã quị chống đầu gối xuống đất!
.theo k=kh, Gothic kniu (đầu gối) có kiu = khịu, khuỵu (chân xuống).
L
L biến âm mật thiết với D, Đ, N, NH, NG, R. . .
L=D=Đ=NH=R.
-langue (Pháp ngữ), lưỡi
cổ ngữ Việt lãn là lưỡi: lãn heo là lưỡi heo (G. Hue), Radé lah, lưỡi. Mường ngữ lai là lưỡi, phương ngữ Huế lại là lưỡi. Việt ngữ mối lái có nguồn gốc là môi lưỡi. Rõ ràng lái trong mối lái = lai, lại. Mối lái là biến âm của môi lưỡi. Việt ngữ lắt léo cũng liên hệ tới lưỡi, lãn, langue:
Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo.
Hy Lạp ngữ glotta, Ý ngữ language, Tây Ban Nha ngữ . lengua; Ý ngữ lingua… Nostr. k’alha (2 a with 2 dots) đều liên hệ với lưỡi.
-language
.ngôn ngữ, cũng nói là tongue, ngôn ngữ, lưỡi ruột thịt với Pháp ngữ langue, lưỡi, ngôn ngữ, có lan- = lãn, lưỡi (xem langue).
.tiếng nói (của một dân tộc) như Vietnamese language (tiếng Việt), từ láy nói năng có nói = năng = lăng = langue. L là dạng nam hóa của N (Tiếng Việt Huyền Diệu).
.lời, lời nói như bad language (lời nói thô tục, xấu xa); lời liên hệ với lưỡi, lãn, language.
.những từ như liếm, lấp liếm, líu (lưỡi), líu lo (trẻ con nói líu lo), lịu (nói nhịu), lém, lém lỉnh (miệng lưỡi), liến (thoắng), lẻo (mép, mồm), lắt léo, léo nhéo vân vân, cũng liên hệ với lưỡi, lãn, langue, language.
-lap, liếm.
lap = láp, liếm láp. Láp là thành tố láy của liếm cũng có nghĩa là liếm.
Từ đôi lấp liếm có lấp = liếm = Anh ngữ lap.
-lip, môi.
trong Ấn-Âu ngữ có hiện tượng hoán đổi vị trí của những phần, nhất là ở thân thể hay có hiện tượng nghĩa lệch trong một ngôn ngữ hoặc giữa các ngôn ngữ với nhau. Ví dụ Phạn ngữ ostha-(s, t có chấm dưới), môi, hoán đổi vị trí với Latin os là miệng; Pháp ngữ bouche, Tây Ban Nha ngữ boca, miệng hoán đổi với Latin bucca (má phình, má phính). Việt ngữ cũng vậy, môi hoán đổi với mouth, muzzle, mug của Anh ngữ. Ngoài ra:
1. lip = lấp (che) = liếp (vật che).
Môi là phần che (miệng, bộ phận sinh dục nữ). Môi biến âm với mai, vật che (như mai rùa, mai cua), mái (nóc nhà che mưa nắng, mái tóc che đầu), mài (vẩy che như mài ốc che miệng ốc), mày (lông che mắt), mui (mái che thuyền, xe như mui thuyền, mui xe…), mi ( mi = mày, chúng mi = chúng mày), lông mi che mắt giống như lông mày. Anh ngữ “lip” (môi) biến âm với lid (nắp che, đậy). Lip chính là Việt ngữ liếp (vật che).
Hy Lạp ngữ cheilos, lip có che- = che. Việt ngữ chề, trề (môi) liên hệ với cheilos.
2. lip = lép, lép nhép (cái môi miệng lép nhép cả ngày). Theo l=nh, lép = nhép, nhếch (môi). Hát nhép là hát nhép môi theo bài hát đã thâu sẵn rồi phát ra. Hát nhép = lip sing. Rõ ràng lip = lép = nhép. Từ đôi lép bép có nghĩa đen là môi mép Theo b=m, bép = mép).
3. lip = mép = miệng (hoán đổi vị trí), từ đôi môi mép có môi = mép ví dụ mép vải là cả bờ vải chứ không phải chỉ một góc đầu bờ vải, khâu hai mép vải vào nhau là khâu hai môi vải vào nhau và môi miệng có môi = miệng ví dụ như bẻo mép với mép ở đây có nghĩa là miệng. Từ đôi lép bép có lép = bép. Theo l=b=m, ta có lip = lép = bép = mép = miệng.
M
M biến âm mật thiết với B, F, P, PH, V…
M=B=F=P=PH=V…
-malar, thuộc về má.
có ma- = má. Việt ngữ má biến âm với mé. Má là mé bên mặt. Ngôn ngữ Lettic mala, edge, mé. Latin màla, maxilla, hàm. Anh ngữ cheek liên hệ với chin, cầm, cằm (xem cheek).
.hàm ruột thịt với nhai, ăn. Theo h =c=g = hàm = cấm (răng) = gậm, gặm.
có mandible có mand- = màng. Mường ngữ màng là nhai:
Em có dạ lòng thương,
Thì em lấy trầu mà màng.
(Hoàng Anh Nhân, Tuyển Tập Thơ Mường, t. II, tr.227).
màng là nhai ruột thịt với mandible, hàm. Tục ngữ có câu “Tay làm hàm nhai”. Màng, nhai liên hệ với Pháp ngữ manger, ăn. Tục ngữ cũng có câu “Ăn có nhai, nói có nghĩ”.
.xương hàm dưới hoán đổi cho malar (xương gò má) và Việt ngữ má. Trong các ngôn ngữ họ hàng có hiện tượng hoán đổi các từ chỉ các phần kề cận nhau (xem cheek). Ta có ma- = ma(lar) = má. Răng hàm là răng ở phía bên má.
N
N biến âm mật thiết với Đ, D, L, T…
N=Đ=D=L= T…
-nose, mũi, khứu giác, đầu nhọn như mũi thuyền, chỗ nhô ra như mũi Cà Mau…
trong Ấn-Âu ngữ nose là cơ quan để ngửi, thở và cũng có nghĩa là phần nhô ra, đâm ra, mỏm, phía trước như mũi thuyền, đằng mũi (đi với đằng lái), mũi Cà Mau, nhọn, vật có mũi nhọn.
1. mũi là cơ quan để ngửi.
.theo n= ng, nose liên hệ với ngửi, ngạt (nghẹt, tắc mũi), ngát, ngạt ngào (hương thơm). Rõ hơn, Phạn Ngữ nas, nâsa, mũi có na- = ná liên hệ với ngát, ngạt ngào, ngạt. Việt ngữ mũi ruột thịt với mùi (hương).
2. mũi là cơ quan để thở.
.nose liên hệ với ngạt, nghẹt (không thở được như ngạt thở, nghẹt thở, ngạt nghẹt mũi)
liên hệ với Phạn ngữ nâha, obstruction, với nas, nâsa, mũi. Việt ngữ ná thở là mệt thở không được, muốn hết thở có ná liên hệ với ngạt thở, với nâha, obstruction.
3. phần nhô ra, đâm ra, mỏm (như mũi đất, mỏm đất), phía trước. Ta có nose = nhô (với h câm nhô = nose), Việt ngữ né là mũi đất như mũi Né ở Phan Thiết, nguyên thủy dân chúng nói đi ra ngoài né (mũi đất) sau né thành tên Mũi Né. Né ruột thịt với Pháp ngữ nez, Phạn ngữ nas…
4. nhọn, vật có mũi nhọn.
nose có no- = nõ, cọc nhọn. Nose chỉ chỗ nhô ra như cái cọc nhọn. Tiếng cổ Việt nõ chỉ bộ phận sinh dục nam như “nõ nường” (nọc nòng). Nõ là cái cọc, cái nọc như đóng cọc mít cho mau chín gọi là đóng nõ mít. Nõ nam hóa thành lõ. Trong từ Điển Việt Bồ La của Alexandre de Rhodes có từ “lô, “con lô: cơ quan sinh dục của đàn ông” và từ “lõ”: làm dương vật cương lên như khi con vật giao cấu. Blỏ cùng một nghĩa” . Hiển nhiên lõ, lô là biến âm của nõ. Lõ trong tiếng Việt hiện nay chỉ vật gì đâm ra như cái cọc nhọn ví dụ mũi lõ, cặc lõ hay lõ cặc. Đúng ra phải nói “mũi nõ” là cái mũi đâm ra trông như cái nõ, cái cọc nhọn và từ cặc cũng vậy. Còn từ “lõ” vô nghĩa (L là dạng nam hóa của N).
.nose liên hệ với nỏ, ná vật bắn mũi nhọn (tên). Ta thấy rõ nose, mũi, narine, lỗ mũi , nasal, thuộc về mũi; Phạn Ngữ nas, nâsa, mũi có na- = ná, nỏ (xem naze, nez).
.nose liên hệ với Việt ngữ náp (cái lao), lù náp (Hỳnh Tịnh Paulus Của).
.nose, nez (Pháp ngữ) liên hệ với nể, lể là dùng vật có mũi nhọn để khêu như lể ốc hay chích máu như lể giác.
P
P biến âm mật thiết với B, M, Ph, V…
B=M= Ph=V…
-palm, bàn tay; gan, lòng bàn tay.
phần bằng của bàn tay. Ý nghĩa bằng có trước nghĩa lá palm giống bàn tay.
.theo p=b, pal- = bằng = bàn (tay), Phạn ngữ pâni, tay.
.theo p=b= v, palm = bụm = vụm = vốc (đầy một lòng bàn tay)
.Việt ngữ phần lõm bàn tay cò gọi là lòng bàn tay hay gan bàn tay. Từ gan bàn tay có gốc từ Phạn ngữ gal-, hand, bàn tay. Việt ngữ gang tay (chiều dài bàn tay) cũng có gốc từ Phạn ngữ gal-.
R
R biến âm mật thiết với L, D, T, N. . .
R=L=D=T=N . . .
Người Trung Hoa nói R thành L (nói fried rice thành fried lice).
-rib, sườn, xương sườn, lườn.
.theo r=l, rib = lườn.
.xương sừơn hàm nghĩa dàn cột chống đỡ, rib = rường (cột), ràng, dàng, dàn, Nga ngữ kost, Balan ngữ kosc, sườn, có kos- = cột.
.khung sườn nhà, tầu giống như cái lồng. Rib với nghĩa này hoán đổi vị trí cho chest, hòm, tủ, hộp, lồng ngực (xem chữ này). Rib = lường = lồng.
.theo Buck, rib có một nghĩa là “cover with a roof” (4.162), ta thấy rib = roof = rợp, lợp. Theo r=l, rib = liếp, vật che.
.cạnh, bên cạnh, sườn hàm nghĩa hai bên cạnh lồng ngực, Ta có từ đôi cạnh sườn với cạnh = sườn, Pháp ngữ côte, sườn, có một nghĩa gần cận với côté, cạnh, cạnh sườn.
.gân (lá), vân (lông chim), vạch, vết rạch, lằn (vỏ hầu, vỏ hến), luống (cầy, bừa);
rib = rạch = dạch = vạch. Theo r=l, rib = lằn, luống.
S
S biến âm mật thiết với, C, CH, G, K, S, X, SH…
S=C=CH=G=K=S=X= SH…
-shank, shanks
.cẳng, chân, xương ống chân; theo s=c, shan- = chân, cẳng.
.thân (cây, cột), tay chèo, cán dao; shan- = cành, cán.
Ở đây ta cũng thấy cẳng chân ruột thịt với cành cây như thấy qua Hán Việt chi vì thế shank vừa có nghĩa là chân, cẳng, thân cây (ruột thịt với cành cây, nghĩa lệch), cái dầm chèo đò thường làm bằng gỗ, bằng cành cây và coi như là nối dài của hai tay. Cán dao là chỗ tay cầm, Anh ngữ là handle có hand-, ta có thể nói là “tay dao”. Cán dao cũng thường làm bằng cây. Như đã biết tay cũng gọi là cẳng như thượng cẳng tay, hạ cẳng chân, cũng gọi là chi (xem arm). Do đó shank là cẳng, chân, thân (cây, cột), tay chèo, cán dao là vậy.
-shoulder, vai, bá vai, bả vai; phần hai bên như ở hai bên đường, phần bằng như của đồi núi, phần nâng đỡ.
theo Buck, trong Ấn-Âu ngữ, một vài từ vai có gốc là shoulder blade (xương bả vai), hàm nghĩa bằng, rộng ngang hay nối kết (4.30). Điều này cũng đúng trong Việt ngữ. Vai cũng có nghĩa là rộng, bề ngang như từ vai ngang, vai năm tấc rộng, thân mười thước cao (Kiều, Nguiyễn Du). Theo v=m, vai = mai. Cái mai là cái thuổng có mặt bằng giống như blade. Xương vai là xương mai. Mường ngữ gọi vai là mai. Thời tiền sử, con người dùng xương bả vai dẹp để xúc, đào, sau này chế ra cái mai đào đất dựa theo xương vai. Mai biến âm với moi (đào, bới).
Ta thấy rất rõ shoulder = suổng (thuổng), một thứ mai đào đất. Shoulder ruột thịt với shove, xô, đẩy có sho- = sô, xô; với shovel, xẻng, vật để xúc, động từ shove, xúc, với h câm, shov- = súc, xúc.
-shoulder (động từ)
.xổ đẩy bằng vai, sho- = xô.
.khuân, mang vật gì bằng vai, theo sh=kh, shoul- = khuân.
.vác, mang vật gì trên vai. Việt ngữ vác chính là Mường ngữ vác có nghĩa là vai. Vác liên hệ với PIE *wed [h} (h nhỏ và cao), với Proto-Nostratic *wad- (to carry, to bring).
.Việt ngữ gánh, tức mang vật gì bằng cái đòn trên vai, ruột thịt với Phạn ngữ skanda, shoulder. Rõ ràng theo s=k=g, sand-, kand- = gánh.
T
T biến âm mật thiết với Đ, D, TH, TR, N…
T=Đ=D=N=TH= TR…
-temple, màng tang, bên tai, thái dương.
có temp- = tầm, hoa tai. Ta thường nghe câu hát:
Đêm qua tát nước đầu đình,
Để quên cái áo trên cành hoa sen.
Em có bắt được thì cho anh xin,
Hay là em để làm tin trong nhà.
. . . . . .
Giúp em đôi chiếu em nằm,
Đôi chăn em đắp, đôi TẦM em đeo.
Giúp em quan tám tiền cheo,
Quan năm tiền cưới, lại đèo buồng cau.
Hay
Gái khôn con đã đến thì,
Để mẹ sắm sửa cho đi lấy chồng.
Mẹ sắm cho con cái yếm nhất phẩm hồng,
Dép cong, nón trẫm với dây thao điều,
Đôi TẦM vàng rực con đeo…
Có người viết là đôi TẰM và giải thích bông tai giống như con tằm là sai. Tôi không thấy có đôi bông tai nào giống như con sâu tằm cả. Có người viết là TRẦM hay giải thích TẦM là trầm, các ca sĩ cũng hát là “đôi trầm” đều sai cả. Trầm là thứ gỗ quí dân dã Việt Nam ít biết đến, chỉ dùng trong tín ngưỡng và làm vật dụng như quạt trầm dành cho giới vương giả mà thôi. Bông tai không bao giờ làm bằng gỗ trầm cả. TẦM, TẰM chính gốc là do Phạn ngữ “uttamsa” (m có dấu ngã ỏ trên) có nghĩa là “ear-ring” (hoa tai). Giải tự từ uttamsa có ut- là trên, “ut” đẻ ra Anh ngữ “up”, Gothic và Anglosaxon ut, Old High German uz (u có dấu mũ) có nghĩa là trên. Phạn ngữ tams (to adorn) trang sức, trang điểm, trang trí. Dĩ nhiên hoa tai là một thứ trang sức. Tams cũng có nghĩa là “to shake”, rung. Đồ trang sức “rung”, “đu đưa” là hình ảnh của hoa tai. Vì thế đôi bông tai còn gọi là đôi tòng teng. Kiểm điểm lại ta cũng thấy Việt ngữ có từ đôi “tiếng tăm” hay “tăm tiếng” nghĩa là ta có tiếng = tăm. Ta thấy rất rõ “tiếng” là âm thanh đi với “tai” vì thế “tăm” trong Việt ngữ hàm nghĩa tai. Tăm và tai đều có cùng gốc “ta” cùng với từ “tang”. Tang cũng hàm nghĩa là tai, gần tai, ở hai bên giống như hai tai ở hai bên ví dụ như màng tang, tang trống. Ta cũng thấy tầm hay tằm đi đôi với “tang” qua từ đôi “tầm tang” có nghĩa là con tằm đi đôi với cây dâu như thế rõ như ban ngày tầm hay tằm là hoa tai đi đôi khắng khít với tang là tai. Bằng chứng hùng hồn nhất là Chàm ngữ “tang” có nghĩa là tai. Trung Nam nói màng tang là bị ảnh hưởng Chàm, trong khi miền Bắc nói theo Hán Việt gọi là thái dương. So sánh bất phương trình:
tăm tiếng > < tai tiếng
Ta có ngay
tăm = tai.
Như thế đôi tằm hay tầm có nghĩa là đôi hoa tai liên hệ với Phạn ngữ uttamsa, hoa tai một trăm phần trăm. Mã ngữ tempeleng (e đầu tiên có dấu ă): “a box on the ear”, hoa tai hình hộp, có tem- phát gốc từ Phạn ngữ tams, trang sức ở tai. Pháp ngữ tempe, Anh ngữ temple, temporal (màng tang, thái dương) có tem- gần cận với gốc Mã ngữ tem-. Đây cũng là một ví dụ cho thấy Việt ngữ, Mã ngữ, Anh Pháp ngữ (Ấn-Âu ngữ) có thể đã cùng lấy từ gốc Phạn chứ khó có thể nói từ tầm, tằm (hoa tai) của Việt Nam lấy từ Mã ngữ hay Ấn-Âu ngữ (Tiếng Việt Huyền Diệu).
-toe, ngón chân, chân tường, đầu mũi giầy.
.phần đầu chót của bàn chân cũng gọi là ngón chân giống như trường hợp ở bàn tay gọi là ngón tay. Ngón biến âm với ngọn, phần chót, phần đỉnh của cây, của tay chân. Nên nhớ là tay chân ruột thịt với cành, cây như thấy qua từ Hán Việt chi là tay chân và cũng có nghĩa là cành (xem arm). Cành, cây thì có phần ngọn gọi là chỏm, đỉnh, đầu tận, đầu chót, đầu tót (cao). Ngón chân, ngón tay là phần ngọn của bàn tay, bàn chân. Vì vậy ta phải nói kèm theo từ chân hay t ay với từ ngón để phân biệt. Điểm này cũng thấy rõ qua Ý ngữ dito del piede (toe), Tây Ban Nha ngữ dedo del pie (toe).
Buck cũng nhận xét thấy cổ ngữ Anh ta, Anh ngữ hiện kim toe thường cũng diễn tả finger” (4.38). Điều này dễ hiểu vì toe chỉ có nghĩa là ngón, ngọn nên chỉ cả ngón tay finger.
Ta thấy rõ toe ruột thịt với top (phần cao nhất, tận cùng nhất như ngọn, chỏm, đỉnh, đầu, phần đầu, đứng đầu), tip (đầu, mút, đỉnh, chót) (xem những chữ này), toe = Việt ngữ tót (tót vót, cao tót vót), tột (tột đỉnh), tận (tận cùng). Cổ ngữ Anh tà (toe), Đan Mạch ngữ taa, Thụy Điển ngữ tả = Việt ngữ tận (cùng, chót).
.Việt ngữ tò tò là đi, đến mà không được chấp thuận như thằng bé tò tò đi theo mẹ; anh ta tò tò vác mặt đến dù không được mời. Rất rõ, toe liên hệ với tò tò. Hiển nhiên tò tò (hàm nghĩa đi) liên hệ với toe giống như mần mò liên hệ với finger (xem chữ này).
U
U biến âm mật thiết với V, O, OO, A, E, I = K, Q…
U = V= O = OO = A =E = I…
-uterus, dạ con, tử cung.
có u- = u (mẹ); -uterus, Việt ngữ dạ biến âm với da lá cái túi cái bao, dạ con là cái túi đựng con, dạ dầy là túi đựng đồ ăn. Mường ngữ dạ là người đàn bà có con, mẹ. Theo d=n, dạ = nạ, ná là mẹ: có nạ là mạ thiên hạ tức có mẹ là mẹ thiên hạ. Trong khi từ womb, dạ con, tử cung (cung, chỗ ở của con) có wom- = vòm, chỗ có hình vòm, hình cung tròn như cung vua cùng nghĩa với từ cung của tử cung.
V
U biến âm mật thiết với V, O, OO, A, E, I = K, Q. . .
V=U=O=OO=A=E= I…
.Latin cổ U = V hiện kim, Latin vox, Anh ngữ voice = Việt ngữ u, ơ, vowel, nguyên âm = u, ơ.
.wagon = va-gông.
.Pháp ngữ vagabond = ma-cà-bông (phiên âm), dân lang bang, lang thang.
-vulva, lồn, mu lồn, cửa mình, âm hộ, âm môn.
.vu- = ví (bao, túi), và vul- = vọc, bọc, bóp. Ví là từ lóng chỉ bộ phận sinh dục nữ.
.theo v= m, vu- = mu, Latin pudenda, pudendum, vulva có pu- = mu, Phạn ngữ buli, vulva có bu- = mu.
-theo v=b, vul- = bẹn có một nghĩa chỉ bộ phận sinh dục nữ (Từ Điển Việt Bồ La, Alexandre de Rhode), vul- = bọc, vulv- = bọng, bộng, bụng liên hệ với bộ phận sinh dục nữ (nghĩa lệch). Phạn ngữ buli, vulva có bul- = bọc, bọc, bộng, bụng. Ta thấy rất rõ Latin vulva có nghĩa là womb, dạ, bụng, bọc chứa con (xem chữ này).
-theo y=d, Phạn ngữ yoni, vulva có yon- = dôn = lồn. Ở Thái Bình có một lo ài sò có tên là con don. Sò, hến, nghêu có một nghĩa chỉ lồn ví dụ như con lồn tiên. Con don là con yoni, \con lồn.
Ta cũng thấy Tây Ban Nha ngữ dona, Ý ngữ donna, Bồ Đào Nha ngữ dona, lady (đàn bà) có don- = lồn. Đàn bà là phái có yoni, có lồn. Điểm này in hệt như trong Việt ngữ, nàng có nường (hiểu theo nghĩa bộ phận sinh dục nữ như trong nõ nường).
W
W biến âm mật thiết vời V, D, U, Q, QU, K, C, H…
W = V = D (người Nam dùng D thay V) =U= Q= QU=K=C= H…
w=h như hoa! = whoa! (xem chữ hoa), Hán Việt wa, wah = hoa, hòa như nhà băng San Wa = Tam Hòa, chợ Man Wah = Văn Hoa…
-waist
1. chỗ thắt lưng, ngang lưng, ngang hông, chỗ eo, eo ếch, yêu, kích (Hán Việt).
2. chỗ eo lại của vĩ cầm.
3. phần giữa sân tầu.
4. áo chẽn thân người của đàn bà.
được cho là liên hệ với wax, mọc, tăng trưởng (wax and wane), Trung cổ Anh ngữ wast, có nghĩa là “tăng trưởng”, “mọc” chỉ phần thân thể, nơi kích thước và sức mạnh phát triển (the part of the body where size and strength are developed), Trung cổ Anh ngữ wacst, sức mạnh. Nếu chấp nhận như thế thì theo w=vv = b=m, có wai-, wac- = mạnh, mọc. Theo biến âm với Việt ngữ ta thấy:
.theo w=v=d=y, wai- = yêu (Hán Việt) có nghĩa là eo như bát chiết yêu là bát thắt eo, với y câm, yêu = eo.
.theo w=h=k. wais- = kích, chỗ eo thân người, thân áo như hẹp kích, rộng kích. Ta thấy kích cũng đi đôi với kích tấc, kích thước tức size, đúng như Trung cổ Anh ngữ wast, có nghĩa là “tăng trưởng”, “mọc”, chỉ phần thân thể, nơi kích thước và sức mạnh phát triển, tức là cái kích (cái eo). Tại sao chỗ eo thân người lại liên hệ tới sự tăng trưởng và sức mạnh. Về y học chỗ eo thân người là nơi có hai quả thận và nang thượng thận. Tuyến nang thượng thận tiết ra kích thích tố giúp liên hệ với kích thích tố tăng trưởng giúp cho thân thể tăng trưởng vàkích thích tố giúp cho con người có sức mạnh. Ta cũng thấy kidney = cật, liên hệ với kích (eo, hông), xem chữ kidney.
June 5, 2009
NHỮNG TỪ VI TÍNH
HỌC ANH NGỮ BẰNG VIỆT NGỮ: NHỮNG TỪ VI TÍNH
NHỮNG TỪ VI TÍNH
Nguyễn Xuân Quang
Những chữ viết tắt và qui ước:
-Dấu bằng (=) có nghĩa là, liên hệ với, tương đương, gần cận nhau, giống nhau.
-Chữ trong hai gạch nghiêng /…/ là thanh, thinh, âm, âm vị, chỉ phát âm theo tiếng Việt hay tiếng Anh.
-Mẫu tự trong ngoặc đơn của một từ có nghĩa là bỏ đi hay câm ví dụ Anh ngữ cổ brus (breast), vú có b(r)u- = bú, vú (bỏ r hay r câm)…
-Dấu (*) có nghĩa là gốc tái tạo không có trong ngôn ngữ thành văn (written records).
-Tôi chỉ giới hạn vào các nghĩa gốc tương đồng và để qua bên các nghĩa phụ, nghĩa bóng bẩy, nghĩa lóng. . .
Tôi khám phá ra có sự liên hệ mật thiết giữa Việt ngữ và Phạn ngữ (xem (Tiếng Việt Huyền Diệu và Lời Mở Đầu trong Từ Điển Tương Đồng Anh-Việt Ngữ). Ta cũng đã biết Anh, Pháp, Đức… thuộc đại tộc Ấn-Âu ngữ (Indo-Europian Language) nghĩa là có gốc Ấn (Indo-) tức Phạn ngữ. Như vậy Việt ngữ và Ấn Âu ngữ nói chung, Anh, Pháp, Đức ngữ. . . nói riêng có liên hệ với nhau. Sự liên hệ này có thể là ruột thịt máu mủ hay liên hệ do môi trường (tiếp xúc, vay mượn). Tôi xin để qua một bên sự liên hệ này như thế nào (sẽ viết rõ trong tác phẩm Sự Liên Hệ Giữa Việt Ngữ và Ấn= Âu Ngữ) . Ở đây chỉ xin rút tỉa ra một ứng dụng, một thực dụng rất hữu ích từ sự liên hệ này là ta có thể học một cách tường tận, dễ hiểu và dễ nhớ tiếng Anh nói riêng và Ấn Âu ngữ nói chung bằng tiếng Việt và ngược lại.
Học Anh ngữ bằng Việt ngữ giúp những người Việt nhất là giới lớn tuổi giỏi tiếng Việt có thể dùng tiếng Việt học Anh ngữ và các thế hệ trẻ sinh đẻ ở hải ngoại và các người ngọai quốc giỏi Anh ngữ có thể dùng tiếng Anh học tiếng Việt.
Trong bài này chỉ xin nói về một số từ vi tính (điện toán). Để tiện việc tra cứu, tôi viết theo Anh-Việt và xếp theo thứ tự ABC.
B
-blog, mạng ký lục, báo mạng, nhật ký mạng, nhật trình mạng.
từ blog do hai từ web log lồng vào nhau (b của web + log). Log là ghi chép, biên chép sự việc xẩy ra, ghi vào sổ sự việc xẩy ra hàng ngày như trình ký, nhật ký (hải trình của tầu thủy, phi trình của phi cơ, của bác sĩ, y tá, cảnh sát trực gác hàng ngay. . . cùng nghĩa với log-book, log-board). Ngày xưa ghi lại sự việc bằng cách khắc trên cái cọc, cái nêu, thân cây, tấm ván, tấm bảng (xem log).
Log = lục (Hán Việt), biên chép, ghi vào sổ như ký lục, mục lục, mạn lục, tạp lục.
Từ blog do hai từ web log lồng vào nhau có nghĩa là mạng ký lục, báo mạng, nhật ký mạng, nhật trình mạng, xem web và log (2).
-browse
1. đảo mắt qua, liếc qua, lược qua, lướt mắt qua, lật từng trang xem.
2. ( Vi Tính), dạo qua, đảo qua, tìm lướt qua, lật xem qua.
.theo r= d=đ, có (b)–row- = /rao/ = rảo (qua), dạo (qua), đảo (qua).
.theo r=l=d, /rao/ = lao, lướt, lật (qua) = dạo, đảo qua
C
-cable
1. dây “cáp”, dây to cứng, dây thừng to.
2. dây chão, dây thuyền, dây neo.
3. giây thép, điện tín.
liên hệ với Latin caplum, strong rope, dây cứng mạnh, ruột thịt với capere, giữ, nắm, Phạn ngữ kap, to hold, to contain.
.cab-, cap- = cáp (dây) (phiên âm).
.theo c=ch, cab-, cap- = chão.
.cab- = cạp (cột giữ cho chắc lại nhất là ở các viền mép) như cạp quần, cạp rổ, cạp rá, chiếu cạp (vải) điều.
-chat
1. chuyện vãn, chuyện tầm phào, chuyện phiếm.
2. danh từ dùng trong vi tính ngày nay ngụ ý nói chuyện gẫu với nhau qua mạng điện tử.
.theo âm /chét/ = Việt ngữ chét như nói chét chét, nói chí chét (nói nhiều, nói không đâu vào đâu).
.theo mặt chữ hay âm Việt, chat = chát (nói với nhau chí chát, đốp chát) = choét (cái miệng nói choen choét) = chóe (nói chuyện chí chóe).
Từ đôi chit-chat, nói nhiều, lắm mồm, nói nhảm nhí, chuyện nhảm, chuyện ngồi lê đôi mách, có chit liên hệ với trẻ con (chuyện); chit- chat = chí chát, chí chóe (xem chit-chat).
.theo ch = qu = v, chat = vặt, vãnh, vãn (nói chuyện không đâu vào đâu).
D
-delete, lắt bỏ, cắt bỏ đi.
tiền tố de- có một nghĩa là rời ra và lete = lắt (cắt).
-document
1. tài liệu, giấy tờ, văn thư.
2. chứng cớ, bằng chứng.
Latin documentum, bằng chứng, có gốc docere, dậy học, ruột thịt với gốc Phạn ngữ dak, dik, to teach (theo d=t, dik = teach).
.Phạn ngữ dak = dậy.
.có do- = dỗ (dậy dỗ).
E
-edit
1. sửa soạn, sửa chữa, hoàn chỉnh một bản thảo, một tài liệu, một bài vở, một bài bản, một phim bản, một video… để hoàn tất.
2. xuất bản.
liên hệ với Latin editus, quá khứ phân từ của động từ edere, cho ra, phát hành, xuất bản, có tiền tố e- = ex, ra và -dere, liên hệ với dare, to give, ruột thịt với gốc Phạn ngữ da, to give. Ta có da = dâng, đưa (cho), theo d=t, da = tặng.
F
-file
1. hồ sơ, tập giấy tờ, văn thư.
2. (động từ) đặt, để, sắp, xếp (giấy tờ), đệ trình, đệ đơn.
3. (Vi Tính), hồ sơ, bài bản, bài vở.
theo f=b, /fai/ = bài, như bài vở, an bài (Hán Việt) là sắp đặt như định mệnh đã an bài = bầy (đặt, để, xếp đặt).
-format
1. cỡ, khổ (giấy).
2. (Vi Tính) giống như chữ formation.
-formation
1. tạo thành, cấu thành, sinh ra, thành hình, hình thành.
2. tổ chức, xắp đặt.
3. vật cấu thành, cấu tạo.
4. dàn binh, bố trận, đội hình.
5. (Địa lý) hệ thống.
có gốc form, hình dạng, vóc, dáng, hình thể. Theo f=b=v, có for- = vóc (vóc dáng):
Ăn vóc học hay.
G
-graphics (Vi Tính), họa hình.
những cơ sở, bộ phận cung cấp những xuất phẩm vi tính dưới dạng trình bầy, hình vẽ và họa hình.
graph, -graphic (gốc Hy Lạp), thuộc về viết hay vẽ (vạch, vẽ, gạch là hình thức nguyên thủy của viết), ghi, ký. Latin graphicus thuộc về vẽ, Hy Lạp ngữ graphein, viết, liên kết với grave (xem chữ này).
.có gaph = gạch (vạch).
.có graph = grave (xem chữ này).
.theo g=c, có gaph- = carve, khắc, chạm, cắt, viết trên đá phải dùng đục khắc vào đá.
graph giống như chữ gram, xem chữ program.
H
-help, giúp, giúp đỡ, cứu hộ, hỗ trợ.
liên hệ với Phạn ngữ kalpa, có khả năng bảo vệ, che chở.
.help = hộ (giúp), cứu hộ, làm hộ = hỗ ( giúp), hỗ trợ, hỗ tương.
.theo h=c, help = cứu (giúp).
.ayuda (Tây Ban Nha ngữ), giúp có yu- = dúp, giúp.
I
-insert, cho vào, cài vào.
liên hệ với Latin insertus, quá khứ phân từ của động từ inserere, put in, có tiền tố in-, vào và serere, joint, put, ruột thịt với gốc Phạn ngữ swar, sar, cột, buộc, siết chặt lại.
.có -sert = se (bện vào nhau như se chỉ) = siết (lại).
.-sert- = /sợt/ = sọt (chọc, thọc), sỏ, xỏ (cho vào), sen (chen vào).
.theo s=c=k, -sert = kết (buộc vào, gắn vào, cài vào như kết hoa, kết nút áo)
và ser- = ker- = ke, que , nguyên thủy con người cài, gài, cột bằng một cái then cài bằng khúc cây hay cái que, cài áo bằng cái que, cái gai.
.theo c=ch= tr, Phạn ngữ sar = cha, tra (cho vào).
K
-key
1. chìa khóa.
2. chốt (sắt), nêm, mộng gỗ; đóng chốt sắt, đóng nêm cho chặt, đóng ráp mộng.
3. có nghĩa bóng là mấu chốt, bí quyết (của một chuyện gì).
4. lời ghi chú (bản đồ).
5. phím, phiếm đàn, nút, phím gõ (đánh máy, vi tính).
phím đàn (dương cầm), nút, phím gõ bàn máy chữ, máy vi tính nguyên thủy có hình cái que gõ giống như chìa khóa.
.key = kì, kè, kẻ, que (xem ker-).
.key = ki = cây.
.key = cài.
.theo k=c=ch, key = chi (Hán Việt) cành, nhánh = chìa.
Nguyên thủy nêm, mộng, chốt, chìa khóa chỉ là một cái que, một cái cây để cài, họ hàng với lock, khóa cũng chỉ là một cái log, khúc cây, cái then cài. Theo k=c, key = cây, cài. Theo k=qu, key = que. Theo k=c=ch, /ki/ = chi, chìa (khóa), chốt (cài). Việt ngữ chìa là cái que, cái cây, thấy rõ qua từ chả chìa là chả nướng que, thịt xiên qua cái que rồi nướng; Anh ngữ skewer, que xiên để nướng có –ke- là kè, kẻ, que, có –kew- = kèo (cọc nhỏ). Chìa vôi là cái que quệt vôi.
-keyboard, bản, bàn đánh, gõ (keys).
L
-log (1), khúc gỗ, thân cây.
phần thân cây đã chặt bỏ hết cành lá: backlog, khúc cây lớn phía sau lò sưởi.
.log = Việt ngữ lóc, ta có từ đôi lăn lóc, một điều lý thú là ta có câu ví ngủ lăn lóc, ngủ lăn, ngủ lóc tương đương với Anh ngữ to sleep as a log. Như thế ở đây ngủ lóc với từ lóc hàm nghĩa log.
.log = lộc, thường hiểu theo nghĩa lệch là lá non như đâm chồi nẩy lộc, hái lộc đầu xuân (mùa xuân cây thường ra lá non, ra lộc và lộc cũng có nghĩa là lộc may mắn vì thế mới hái lộc để có lộc. Lộc là may mắn chính là lucky, xem chữ này). Tuy nhiên lộc cũng còn có nghĩa là thân cây trơ trụi lá như cái log, đến mùa xuân lại đâm chồi nẩy lộc như thấy qua bài ca dao:
Bồng bồng cái lộc ra hoa,
Một đàn vợ lính chẩy ra thăm chồng…
Từ lộc ở đây phải hiểu là thân cây trơ trụi lá tức log. Cây mới ra hoa. Có những loài cây mùa đông rụng hết lá chỉ còn thân cây lộc, log và đến mùa xuân lại ra hoa rồi mới ra lá như hoa đào, hoa mơ, hoa mận. Vì thế cái lộc ra hoa chỉ các loại cây này ra hoa báo mùa xuân đến. Còn hiểu lộc là lá non, là hiểu theo nghĩa lệch và bị ảnh hưởng của lộc là lucky của Trung Hoa. Hiển nhiên lá non làm sao mà ra hoa được. Ta cũng thấy theo l=n, lộc = nọc, Hán Việt lộc là hươu nọc. Lộc ruột thịt với Việt ngữ nọc (khúc cây), với log. Con hươu nọc, hươu sừng gọi theo cây cọc nhọn trên đầu là cặp sừng. Con hươu nọc là con lộc (con nọc, con cọc hiểu theo nghĩa cây trơ trụi cành lá của Việt ngữ), con lộc (Hán Việt) con log. Hươu là con Cọc (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc).
. log =lốc = nốc, nốt; ngày nay nốc hiểu là thuyền nhỏ:
Ăn thì cúi chốc, kéo nốc thì than.
(Tục ngữ).
Ăn thì cắm đầu xuống ăn, còn kéo thuyền thì than.
Nguyên khởi nốc là thuyền độc mộc khoét từ một thân cây, một khúc cây “log” (dug-out). Nốc gốc từ log. Nốc cũng chỉ bộ phận sinh dục nữ (xem ship). Theo n=l, nốc = lốc, lốc cũng chỉ bộ phận sinh dục nữ như thấy qua câu ca dao:
Cô lô cô lốc,
Một nghìn ghính ốc đổ vào lồn cô.
Thật ra phải viết là “cô lô cô nốc” mới đúng. Từ hiện kim “lốc” cũng có thể coi là dạng nam hóa của nốc (giống như lõ của nõ) vô nghĩa (Tiếng Việt Huyền Diệu).
-log (2), trụ bằng thân cây cắm dọc theo đường tầu dùng như những cái phao để đo vận tốc của tầu thuyền.
-log (3), ghi chép, biên chép sự việc xẩy ra, trình ký, nhật ký, ghi vào sổ sự việc xẩy ra hàng ngày (hải trình của tầu thủy, phi trình của phi cơ, của bác sĩ, y tá, cảnh sát trực gác hàng ngày. . . cùng nghĩa với log-book, log-board).
-log (4), (Vi Tính)
1. hồ sơ viết, ghi lại những thư từ, thư tín gởi đi hay nhận: email log.
2. hồ sơ theo dõi sự móc nối của mạng vụ (network).
3. blog do hai từ web log lồng vào nhau (b của web + log) có nghĩa là mạng ký lục, báo mạng, nhật ký mạng, nhật trình mạng (xem blog).
Ngày xưa ghi lại sự việc bằng cách khắc trên cái cọc, cái nêu, thân cây, tấm ván, tấm bảng (xem log). Log = lục (Hán Việt), biên chép, ghi vào sổ như ký lục, mục lục, mạn lục, tạp lục.
-log, log on, log out (Vi Tính), vào, mở log, ra, đóng log, xem chữ log (4).
M
-Memory
1. nhớ, trí nhớ, mơ tưởng, màng (nhớ), mơ màng, ký ức, kỷ niệm.
2. (Vi Tính), phần, bộ phận, khả năng nhớ (lưu trữ dữ kiện) của máy vi tính.
liên hệ với gốc Phạn ngữ smar, to remember, record. Có mem-, -mar = Việt ngữ màng (nhớ, lưu ý tới) như không màng tới (không nhớ tới, không nghĩ tới), mơ màng (mơ nhớ tới) từ đôi mơ màng cho thấy mơ = màng, có nghĩa là mơ cũng có một nghĩa là nhớ, so sánh mơ màng với mơ tưởng ta có màng = tưởng = nhớ; ta cũng thấy mơ tưởng = tưởng nhớ. Memory có me- = mê = mơ = màng.
N
-Net
1. lưới, na, la (Hán Việt) , te.
các tác giả Tây phương cho net liên hệ với Thụy Điển ngữ nat, Gothic nati, liên kết với Phạn ngữ nada, sông. Nhưng đúng hơn, theo tôi phải là liên hệ với gốc Việt ngữ na- là nước. Điều này đúng nếu nhìn theo góc cạnh các dụng cụ đánh cá đều liên hệ với sông nước (như cái nôm, cái nơm liên hệ với Việt ngữ nậm là vật đựng nước, rượu, Tầy ngữ nầm, nậm là nước, Thái Lan ngữ nam là nước như nam pla lá “nước cá” tức nước mắm). Mặt khác, nhìn theo góc cạnh làm ra lưới tức là bện lưới, đan lưới thì net liên hệ với gốc Phạn ngữ sna, na, bện vào nhau, cột vào nhau bằng dây, chỉ, tức đan nát: na = nát (đan).
2. (Vi Tính), lưới (sự liên kết giữa một số những phần truyền thông dữ kiện).
lưới là mạng, một thứ đan, dệt, Latin tela, mạng lưới, đồ đan dệt (xem subtile), nessa, lưới cá.
.theo biến âm kiểu nết na, ta có net = Latin na(ssa) = Việt ngữ na (lưới). Quả na, Thái Lan ngữ noina là thứ quả tròn, vỏ có hình mạng lưới, Trung Nam gọi là trái mạng cầu (quả cầu tròn có vỏ hình mạng lưới), ngày nay nói sai đi thành mãng cầu hay măng cầu. Quả lựu đạn vỏ có hình mạng lưới, tiếng lóng gọi là trái na. Ở đây nếu nhìn theo góc cạnh sông nước, na liên hệ với gốc Việt ngữ na- là nước như nà, ruộng nước, nác là nước, lã là nước ngọt… (xem gốc chữ này). Còn nhìn theo góc cạnh đan dệt, như trên đã thấy na liên hệ với gốc Phạn ngữ sna, na, bện vào nhau, cột vào nhau bằng dây, chỉ, tức đan nát.
.theo n=l, net = na = la (Hán Việt), lưới như thiên la địa võng (lưới trời võng đất), từ bao la chỉ vũ trụ, quãng không như cái bao, cái bọc như cái la, cái lưới bao trùm . Từ đôi điệp nghĩa bao la có bao = la. La có nghĩa là túi, bao, bọc cũng thấy qua bài đồng dao hát “Thì la, thì lẩy, Con gái bẩy nghề…” với thì la có nghĩa là bộ phận sinh dục nữ (Tiếng Việt Huyền Diệu) giống như Anh ngữ vagina, âm đạo có vag- = bag, túi. bao (v=b). Áp dụng qui luật L là dạng nam hóa hay dạng muộn của N (Tiếng Việt Huyền Diệu), ta cũng thấy Việt ngữ na = Hán Việt la. Latin tela có -la = lưới.
.net = nát (đan), từ đôi đan nát có đan = nát = net. Lưới là vật đan mà thành.
.theo n=d, net = dệt.
.phương ngữ Thanh Nghệ Tĩnh te là lưới cá nhỏ:
Mặc ai lưới, mặc ai te,
Thì ta cũng vẫn dăng bè nghênh ngang.
(ca dao).
Ta thấy rõ te liên hệ với te, tè là nước với Latin tela.
O
-on-line, trên tuyến, lên tuyến.
từ chỉ dụng cụ, máy móc và người liên lạc trực tiếp với đơn vị điều hành trung ương của máy vi tính.
.on
là trên, trên có một nghĩa là trên cao, liên hệ với trời. Phương ngữ Bình Trị Thiên côi (trên) liên hệ với chời, trời ( với h câm, chời = cời, côi), với cao.
on = ơn (ân). Ơn là trời.Từ đôi ơn trên có ơn = trên. Ơn trên = ơn trời, tạ ơn là tạ trời. Ai Cập có thành phố Mặt Trời On sau này chuyển qua Hy Lạp ngữ là Heliopolis. Akhadian ngữ (Lường Hà) on là vòng tròn (vòng tròn biểu tượng hư không, mặt trời); Sơ Đăng on, Mạ unh, Xì Tiêng onh là lửa liên hệ với trời. On liên hệ với ên (một như một mình ên) one, một. Một có một nghĩa là trời, trời là số một (xem one).
.line
1. sợi nhỏ, dây (câu cá, thép, điện thoại, buộc thuyền, nẩy mực để vạch đường thẳng).
2. số nhiều, lines: dây cương ngựa.
3. đường, tuyến, đường xích đạo, lộ trình, hành trình, đường đi, đường hàng hải, hỏa xa, tuyến hệ…
4. lối, hàng, to stand in a line, xếp hàng.
5. dòng họ, huyết thống.
liên hệ với Latin linea, lineus có nghĩa gốc là dải, dây làm bằng sợi cây gai, Hy Lạp ngữ tainia, băng, dây cột.
.có line = /lai/ = lải, lãi; hàm nghĩa dây, dải. Con lải, con lãi là con sán sơ mít (toenia) có hình như cái dải dây nên tiếng Anh ngữ dân dã gọi là tapeworm, xem chữ toenia, tapeworm. Việt ngữ sán, sên ruột thịt với Anh ngữ chain, dây chuyền, dây xích. Con sán có những đốt trông giống mắt xích nên cả con sán trông giống dây xích
.theo l=d=đ, /lai/ = dải = đai = dây. Theo t=d, Hy Lạp ngữ tainia, có tai- = dải = dây. Ta cũng thấy tai- = Anh ngữ tie phát âm là /tai/ = đai, dây, dây đeo cổ hay cà vạt.
P
-program
còn viết là programme.
1. chương trình.
2. (Vi Tính), thảo chương, thảo trình.
Latin và Hy Lạp ngữ programma có nghĩa nguyên thủy là niêm yết, yết báo bằng chữ viết cho quần chúng biết, có pro-, trước, làm, soạn trước, và gốc chữ -gram giống như chữ graph, graphic (gốc Hy Lạp), thuộc về viết hay vẽ (vạch, vẽ, gạch là hình thức nguyên thủy của viết), ghi, ký. Latin graphicus thuộc về vẽ, Hy Lạp ngữ graphein, viết.
.theo g=c=ch, có gaph, gram = gam = chạm (khắc), liên kết với grave, khắc, chạm, liên hệ với Phạn ngữ skarp, skar, cắt. Phạn ngữ -kar = cắt, khắc, chạm.
.-graph, gram = gạch (vạch) = ghi = ký như cardiogram, tâm điện ký.
Q
-queue
1. nối đuôi, sắp hàng.
2. tóc đuôi sam.
3. queu (Pháp ngữ), đuôi, vĩ (Hán Việt), đuôi, gậy đánh bi-da (Anh ngữ cue) .
4. (Vi Tính) nối đuôi, sắp hàng (chỉ một nhóm dữ kiện sắp nối đuôi nhau chờ máy vi tính hoạt động).
queue có que- = que (que đánh bi-da). Theo q=c =ch, queue = cue = chuôi = đuôi. Đuôi cũng hàm nghĩa que, cành, nhánh. Đuôi vài loài vật dùng để nắm giữ như loài khỉ dùng đuôi để nắm cành cây tương đương với tay chân. Đuôi là một thứ tay, chân. Điều này thấy rõ qua từ Hán Việt chi là cành mà cũng có nghĩa là tay chân (tứ chi). Vì thế queue có một nghĩa là que như que đánh bi-da gọi là cue. Que là cọc, là c…c nên đuôi cũng có nghĩa là c…c:
Chồng người đi nguợc về xuôi.
Chồng tôi ngồi bếp lòi đuôi ra ngoài.
Queue phát âm “kju:” cũng gần âm cu.
Xem thêm chữ tail.
R
-record
1. có gốc nghĩa là recall, ghi tâm, ghi nhớ, hồi tưởng.
Latin recordare, recordari, to recall, to mind. Record có tiền tố re-, lại và –cord, ruột thịt với Latin cor, cordis, tim (xem cordial) có nghĩa đen là “ghi lại trong tim, ghi tâm”.
2. vô sổ, ghi vào sổ, ghi chép, sổ, sổ sách, nguyên bản (án), (hàm nghĩa để ghi nhớ).
3. đài, bia vật kỷ niệm (để ghi nhớ).
4. hồ sơ, lý lịch, tài liệu (hàm nghĩa để ghi nhớ).
5. kỷ lục (hàm nghĩa ghi nhớ ghi lại những điều đáng nhớ nhất).
6. ghi âm (đĩa, băng nhạc) (hàm nghĩa để ghi nhớ).
7. records (số nhiều), Văn khố.
8. (Vi Tính), tập hợp những dữ liệu liên hệ thành từng nhóm, đơn vị.
Record có -cord liên hệ với core, ruột, lõi, cồi (mụn), cốt (nòng), tim (phần giữa).
Trung cổ Anh ngữ core, heart (of fruit) liên hệ với Latin cor, cordis Pháp ngữ coeur và Hy Lạp ngữ cardia, tim.
cor-= cồi, cốt. Theo c=h như cùi =hủi, cốt, cột = hột = heart, tim = hạt. Cardia, cardio- có card- = hạt.
Record là ghi tâm, ghi nhớ.
S
-save
1. dành dụm, tiết kiệm.
2. cất giữ.
3. (Vi Tính) cất giữ, lưu trữ.
ruột thịt với gốc Phạn ngữ sar, sal, to keep, to preserve, make safe.
.có sav-, sar = sẻn (dè sẻn) = sỉn ( bủn sỉn, tiết kiệm quá mức).
.theo s=c, sav- = cất.
-select
1. lựa, chọn, lọc ra, tuyển lựa.
2. hạng chọn lọc, hạng nhất.
Latin ligere, chọn ra, select có tiền tố se-, apart, tách ra và -lect = lig- = lặt (nhặt) = lựa = lọc (ra) = lừa(ra) như lừa sạn ra khỏi gạo.
T
-taskbar, thanh tạo tác, thanh tác vụ, thanh làm việc.
.task có nghĩa là:
1. việc làm, công việc (hàm nghĩa khó khăn, hệ trọng).
2. phần vụ, phận sự, tác vụ.
task liên hệ với Latin dân dã tasca, taxa có nghĩa là tax (thuế vụ), ngày xưa trả thuế bằng cách đi làm việc công cộng như đắp đường, đào kênh…, đi làm sưu, làm siêu nếu không phải đóng tiền cheo (theo s=c=ch, sưu, siêu = cheo) vì thế có từ sưu thuế, sưu cao thuế nặng. Ta thấy rõ task = tác có nghĩa là việc làm như tác vụ, công tác, tạo tác.
.bar, thanh, que, vật, bản dài hình thanh, hình que thẳng.
.bar = bản.
.theo b=v bar = var = ván (bản mỏng).
.theo b=v=qu, bar = qua (gậy nhọn, binh khí), que.
.bar = báng (đánh, đâm bằng thanh nhọn), trâu báng = trâu húc bằng sừng.
.theo b=p=ph, bar = phang, phạng (đánh bằng thanh cây).
U
-universal
1. qui về một mối, tất cả, toàn thể, toàn bộ, bao quát, phổ quát, phổ thông, phổ biến.
2. thuộc về thế giới: universal language, thế giới ngữ.
Latin universalis, thuộc về tất cả, toàn bộ, có uni- = unus, một và -versus quá khứ phân từ của vertere, to turn, xem chữ vert. Universal hàm nghĩa “trở thành một khối, một mối”. Xem chữ universe.
-universal language (Vi Tính), ngôn ngữ phổ quát.
một nhóm ngôn ngữ thảo chương chung cho nhiều loại máy vi tính như COBOL, FORTRAN, BASIC, cùng nghĩa với từ common language.
-universe, vũ trụ, vạn vật, thế giới, thế gian.
hàm nghĩa “trở thành một”, “qui về một”. Tại sao?
Như đãbiết đại lược thì Vũ trụ tạo sinh (cosmogeny) dựa trên nguyên lý lưỡng hợp, lưỡng thể, nhị nguyên. Vũ trụ khởi đầu từ Vĩnh cửu (Eternity), cái Không thể biết (the Unknowable). Bắt đầu là một cái bọc trống không còn ở trạng thái hỗn mang (chaos) gọi là hư vô, Vô cực (Nothing). Vô cực được coi là một cái bọc, cái túi, cái nang trống không diễn tả bằng chữ nòng nọc là cái vòng tròn O mang nghĩa số Không. Từ đó phân cực thành Thái cực (Great Ultimate, The Grand Ridge-pole). Thái cực coi như là một cái Trứng Vũ Trụ (Cosmic Egg). Lòng trắng là âm là nòng, tròng đỏ là dương là nọc. Rồi Thái cực phân ra thành Lưỡng nghi (Liang I): Nòng, âm (Feminine or negative principle, Yin) và Nọc, dương (Masculine or positive principle, Yang). Nòng nọc, âm dương liên tác sinh ra Tứ tượng (Four Hsing, Four Great Primary Forces) gồm Lửa, Nước, Đá, Khí vũ trụ (comic Fire, cosmic Vapor, Meteorite, cosmic Gas or ether). Tứ tượng vận hành (in movement, in motion, in action) trở thành Tứ hành (active, dynamic Four Great Primary Forces). Âm Dương, tứ hành vận hành, chuyển hành, liên tác với nhau dưới dạng năng động tạo ra vũ trụ vạn vật, tạo ra Tam thế (Triple world), tạo ra sự sống (Life), sinh ra con người và vạn vật sống, thường được biểu tượng bằng hình một cái cây gọi là Cây đời (Tree of Life), Cây vũ trụ (Cosmic tree), Cây Tam thế (Tree of Triple world) (xem cosmos).
Theo Đông phương Vũ Trụ (universe) là lúc còn ở trạng thái nhất thể (Uni-) tức Trứng Vũ Trụ, Thái Cực hay lưỡng nghi nòng nọc nhìn dưới dạng tổng thể, nất thể. Vũ biến âm với võ, vỏ (bao, túi) ứng với nòng không gian và Trụ là nọc mặt trời. Vũ trụ là không gian-mặt trời.
Tây phương, một xã hội theo duy dương, phụ quyền cực đoan, có thể quan niệm vũ trụ thế giới là qui về Một” tức là về cực dương (một là mặt trời, dương, cha, phụ hệ).
V
-view, nhìn, xem, mục, viếng, cảnh.
viên hệ với Pháp ngữ vue, voir, Latin videre, Tây Nha ngữ ver, nhìn, gốc Phạn ngữ wid, to see, observe, to know, IE *weid, see.
.view = viếng (xem, nhìn) như thăm viếng. View người chết là viếng người chết (xem, nhìn mặt người chết lần cuối).
.view = vọng (Hán Việt), lầu vọng nguyệt là lầu nhìn, ngắm trăng.
.theo v=m view = mục (Hán Việt), nhìn.
.theo v=b, view, wid = biết (thấy là biết).
W
-web
1.vải, đồ dệt.
2. mạng, spiders web, mạng nhện.
3. màng, chân màng của loài du cầm như vịt. Chân màng là chân mạng như vá lại.
4. (Vi Tính) mạng: www, w3, world wide web, mạng toàn cầu.
ruột thịt với gốc Phạn ngữ wa,wad, wadh,wi, to bind, cột, plait, bện, weave, dệt.
.web = vải, theo w=d, web = dệt.
.wa, we- = vá. Mạng và vá họ hàng với nhau.
.theo w=m, web = mạng.
.theo w=d, web = dệt = dện (nhện), con dện dệt web, dệt mạng lưới (xem spider).
.theo w=d, web = dẹp, dép. Chân có màng là loài chân dẹp, như đi dép!
.theo w=m, wadh, web- = màng.
.theo w=v, web = võng, vợt (làm bằng lưới).
April 16, 2009
HỌC ANH NGỮ BẰNG VIỆT NGỮ
HỌC ANH NGỮ BẰNG VIỆT NGỮ
(tiếp theo)
(Kỳ 3)
Nguyễn Xuân Quang
Những chữ viết tắt và qui ước:
-Dấu bằng (=) có nghĩa là, liên hệ với, tương đương, gần cận nhau, giống nhau.
-Chữ trong hai gạch nghiêng /…/ là thanh, thinh, âm, âm vị, chỉ phát âm theo tiếng Việt hay tiếng Anh.
-Mẫu tự trong ngoặc đơn của một từ có nghĩa là bỏ đi hay câm ví dụ Anh ngữ cổ brus (breast), vú có b(r)u- = bú, vú (bỏ r hay r câm)…
-Dấu (*) có nghĩa là gốc tái tạo không có trong ngôn ngữ thành văn (written records).
-Tôi chỉ giới hạn vào các nghĩa gốc tương đồng và để qua bên các nghĩa phụ, nghĩa bóng bẩy, nghĩa lóng. . .
…………………….
Trước khi bước vào phần từ vựng, xin nhắc lại một vài điểm mấu chốt:
-Biếm âm dựa vào các qui luật biến âm lịch sử thấy trong Việt ngữ và Ấn-Âu ngữ.
-Biến âm dẫn đến biến nghĩa. Thường có ba trường hợp: biến nghĩa trực tiếp hay thẳng có nghĩa y chang; biến âm lệch và biến âm chéo, nghĩa có khác đi nhưng nói cho cùng vẫn có cùng một nhóm nghĩa mẹ. Vì thế các nhà tầm nguyên ngữ học Tây phương giải nghĩa các từ theo biến âm trong ngôn ngữ Tây phương, trong khi tôi giải nghĩa theo biến âm trong Việt ngữ nên có thể có dị biệt nhưng không hẳn là ai sai ai đúng mà cả hai đều có thể đúng cả nếu hiểu theo biến nghĩa ví dụ như trường hợp từ banquet, theo Tây phương là “ăn ngồi băng (ghế)”, trong khi, theo tôi, banquet là ăn ngồi bàn tức (ăn) cỗ bàn (xem banquet). Xin đừng quá tin vào sách vở ngoại ngữ mà vội vã cho rằng tôi sai.
-Biến âm có thể theo phát âm của Việt ngữ hay Anh ngữ và biến âm có thể theo mặt chữ.
-Trong Việt ngữ tiếng láy, tiếng ghép, tiếng đi đôi với nhau thường có nghĩa như nhau hay gần như nhau, nhìn chung chung có cùng một gốc nghĩa.
*
Bây giờ chúng ta hãy đi vào phần học từ vựng Anh ngữ bằng Việt ngữ. Khởi đầu chúng ta hãy học những từ liên hệ với ăn vì có thực mới vực được đạo và theo người Trung Hoa dĩ thực vi tiên và trong tứ khoái ăn là đệ nhất khoái.
Để tiện việc tra cứu, tôi viết theo Anh-Việt và xếp theo thứ tự ABC.
A
A biến âm mật thiết với E, I, O, U. . .
A=E=I=O=U…
Như mạ, má = mẹ, mệ = mị = mợ = mụ…
-aliment, đồ ăn, thực phẩm, nuôi ăn, nuôi dưỡng, cấp dưỡng.
có al- = ăn, liên hệ với gốc Phạn ngữ ad-, ăn (xem eat).
B
B biến âm mật thiết với M, P, Ph, V. . .
.B=M=P=Ph=V…
-banquet, cỗ, cỗ bàn, tiệc, tiệc tùng.
Các nhà tầm nguyên ngữ học Tây phương cho là có gốc từ Latin bancus, bench (băng, ghế dài), Pháp ngữ banquette (ghế dài nhỏ), banc (ghế dài lớn). Ngày nay chúng ta có từ kéo ghế là đi ăn tiệm. Khi du lịch tới Chiang Mai, Giềng Mới, phía bắc Thái Lan, dự đêm văn hóa của tộc Lana Thái, chúng tôi được mời ăn cỗ khantoke kiểu đặc thù Lana Thái. Lana Thái một sắc tộc thiểu số Thái có Lana là “lúa nà” (Việt ngữ nà là ruộng nước), “lúa nước”, tộc trồng Lúa Nước (Rice field country), liên hệ với Lạc Việt Ruộng Nước chúng ta (xem Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Từ khantoke là ăn cỗ, ăn tiệc với khanto, ăn (có khan- = can = cắn), khan- ruột thịt với khảo là gạo (cơm). Như vậy ăn cỗ khantoke là ăn ngồi ghế hay ăn cơm trên ghế. Cơm tổng quát có nghĩa là ăn (xem chữ comestible). Còn –ke = kê = ghế = chair (xem chữ này). Nếu hiểu như thế thì banquet có gốc banc- (ghế) là ngồi ghế ăn. Hiểu như vậy là hiểu theo nghĩa lệch. Thật ra, theo Việt ngữ, banquet phải hiểu theo nghĩa thẳng là ban- = bàn. Việt ngữ có từ đôi cỗ bàn với cỗ = bàn. Ăn cỗ là ngồi bàn ăn một cách thịnh soạn. Ăn ngồi bàn là ăn cỗ, ăn tiệc. Khi du lịch tới Nam Dương, chúng tôi cũng đi ăn cỗ, ăn tiệc kiểu đặc thù Nam Dương. Nam Dương ngữ có từ ăn cỗ, ăn tiệc mà người Hòa Lan (mẫu quốc thuộc địa của một vài vùng ở Indonesia) dịch ra là rijstafel có rijs = gạo, tafel = bàn. “Bàn cơm” hay “ăn cơm trên bàn” là bàn cỗ, cỗ bàn, bàn tiệc. “Bàn cơm” rijstafel có đến trên sáu chục món ăn. Ăn cỗ bàn kiểu khantoke và rijstafel cũng chỉ là một hình thức của cỗ bàn kiểu Việt Nam. Bàn và ghế dù là nghĩa lệch hay nghĩa thẳng cũng ruột thịt với nhau. Bàn và ghế đi đôi với nhau thành một bộ bàn ghế (bàn phải có ghế và ghế phải có bàn mới đủ bộ). Cả hai nguyên thủy cùng có một gốc chung là một miếng gỗ. Bàn và ghế nguyên thủy chỉ là một tấm gỗ kê cao lên (xem table). Theo c=g, cỗ = gỗ. Gỗ biến âm với giỗ vì thế ăn giỗ và ăn cỗ nhiều khi dùng trùng nhau. Ta cũng thấy ngày xưa chỉ khi nào có lễ lạc, giỗ tết mới làm cỗ, mới ăn cỗ, ăn bàn, ngồi ghế, còn thường ngày ăn đất, ngồi dưới đất ăn.
Tóm lại banquet = cỗ bàn, ăn cỗ, ăn tiệc, tiệc tùng.
C
C biến âm mật thiết với CH, G, H, K, Q, QU, S. . .
C=CH=G=H=K=Q=QU= S…
1. c=g, corner, góc có cor- = góc.
2. c=h: cut, cắt, hớt = hớt (cắt tóc = hớt tóc).
3. c=q: Pháp ngữ biscuit, bánh bích-quy (biscuit có bis- là hai lần, -cuit là nấu chín. Bánh nướng chín hai lần) có –cuit = quy (c=q).
4. c=s: corn = sừng, sỏ.
-carrot, cà-rốt (phiên âm), một thứ củ dùng làm rau có màu vàng nghệ-cam.
có gốc cà-, vàng nghệ (xem curry).
-comestible, ăn được, comestibles, đồ ăn (danh từ số nhiều).
có com- liên hệ với Việt ngữ cơm. Com- = cơm. Cơm gao là món ăn chính của chúng ta nên cơm dùng với nghĩa ăn như ta thường nghe mời bác ở lại dùng cơm với gia đình chúng tôi, nhiều khi khách ở lại ăn cơm mà chỉ toàn là những thứ cao lương mỹ vị không có một hột cơm nào cả. Lana Thái có từ ăn cỗ khantoke, có khan- là cắn (ăn) và cũng có nghĩa là khảo (gạo, cơm). Nam Dương ngữ có từ ăn cỗ, ăn tiệc mà người Hòa Lan (mẫu quốc thuộc địa của một vài vùng ở Indonesia) dịch ra là rijstafel có rijs = gạo, tafel = bàn. Bàn cơm là bàn cỗ, cỗ bàn, bàn tiệc (xem banquet). Điều này cho thấy chúng ta, Lana Thái và người Nam Dương coi cơm gạo là thức ăn chính, là bữa ăn quan trọng. Cơm cũng có nghĩa là ăn, thức ăn. Người Ý có mì pasta là món ăn chính nên ăn, bữa ăn cũng gọi là pasta (meal). Ngoài ra cơm còn dùng chỉ phần mềm, phần ăn được của trái cây như cơm dừa, cơm nhãn (cơm nhãn lồng rất dầy). Với nghĩa tổng quát như thế, cơm ruột thịt với comestible = comida (Tây Ban Nha ngữ), ăn, bữa ăn.
Tóm lại cơm là thức ăn, đồ ăn, thực phẩm chính, đối với người Việt là gạo nấu chín và là phần mềm ăn được của trái cây. Cơm liên hệ với với comestible, Tây Ban Nha ngữ comida.
-curry, cà-ri, gia vị vàng mầu nghệ.
Tamil ngữ kari, bột gia vị mầu vàng nghệ. Món cà-ri nấu với gia vị có bột nghệ mầu vàng. Phạn Ngữ hâridra, stained with turmeric (bôi mầu nghệ), yellow (vàng). Theo h=c, hâri- = cari, cà-ri. Hari cũng có một nghĩa là trời. Trời đây là trời vàng của dòng nước dương, mặt trời lặn. Mầu vàng là mầu đỏ âm, lửa của dòng âm, nước. Hari là Trời vàng, hoàng thiên, như thấy qua các vị vua của dòng này là thiên hoàng (Nhật Bản là con cháu Thái dương Thần Nữ Amaterasu, thuộc dòng âm, nước), vua mặc áo hoàng bào, ở hoàng cung… Theo h=c=k, hari, cà-ri có cà = kê (theo biến âm kiểu cà kê). Kê (millet) là thứ hạt màu vàng như thấy qua điển tích “giấc mộng kê vàng”. Áo cà-sa của tu sĩ Phật giáo là áo có mầu vàng nghệ cà-ri. Ta cũng thấy, theo c=s cà = sa. Như thế sa cũng có màu vàng nghệ như thấy qua từ saffron (xem chữ này). Carrot, cà-rốt (phiên âm), thứ củ dùng làm rau có màu vàng nghệ cũng có gốc cà, vàng nghệ. Canary, chim hoàng yến, được cho là có gốc ở đảo Hoàng Yến ở Địa Trung Hải (thật ra tên đảo này được đặt theo tên giống chim này), có gốc ca- = cà (mầu vàng nghệ).
Theo k=ngh như kịt = nghịt (đen), kẹt = nghẹt, kều = nghều (cao) ta có kê = nghệ, Do đó cà (ri) = kê = nghệ có mầu vàng. Việt ngữ có từ đôi vàng khè. Theo k=kh, như kẽ = khe, ta có kê = khè. Vàng khè là vàng kê, vàng nghệ. Ỡ đây ta cũng thấy con kẻ, con kì (hươu) là con thú chủ (host) của con nghê (kì và lân). Qua biến âm kiểu khề khà ta có khè biến âm với kha. Giấc Nam Kha (giấc mộng kê vàng)
Giấc Nam Kha khéo bất bình,
Bừng con mắt dậy thấy mình tay không. với Kha biến âm với khè (theo biến âm kiểu khề khà), với kê.
Cũng nên biết thêm là chúng ta có từ cà-ri nị. Nị là từ giản lược của Phạn ngữ agni, lửa. Nị là lửa, nóng tức cay. Các tu sĩ Phật giáo đầu trọc thường đội mũ ni, thứ mũ che tai (mũ ni che tai) cho ấm (người thường có tóc che tai nên tóc giữ cho tai ấm). Ni cũng là giản lược của agni, lửa. Ta cũng có từ nỉ chỉ loại vải mặc hay làm mũ đội cho ấm. Nỉ là vải ấm. Nị, ni, nỉ ruột thịt với agni, lửa có nghĩa nóng, cay, ấm. Cà ri nị là cà-ri cay.
D
D biến âm mật thiết với Đ, T, L, N . . .
D= Đ =T= L=N…
-dairy, sữa, nãi (Hán Việt), ngầu nãi, sữa bò.
theo d=n, dai- = nãi.
-diet, kiêng ăn, ăn kiêng, tiết thực, tiết chế.
theo d=t, diet = tiết (tiết thực, tiết chế).
E
E biến âm mật thiết với A, I, O, U. . .
E=A=I=O=U…
Như mẹ, mệ = mạ, má = mị = mợ = mụ…
-eat (ate, eaten), ăn.
.eat = ăn có gốc từ Phạn ngữ ad-, ăn, thay d=n, ad- = ăn = en = eng (phương ngữ Bình Định), Latin edere, ăn có ed- (biến âm của ad-) = en, eng, ăn. -edible, ăn được. -edibles (số nhiều), đồ ăn, thực liệu.
.eat = ad- = ách, ắc (no ách bụng, no anh ách); Việt ngữ ăn no ngắc, với ng câm ngắc = ắc = ad- = ăn.
có ed- = en, eng (phương ngữ Bình Định) = ăn và hậu tố –ible, có thể. Edible ruột thịt với Latin edere, ăn có ed- (biến âm của Phạn ngữ ad-, ăn) = en, eng = ăn (xem eat).
xem chữ edible.
F
F biến âm mật thiết vời B, M, P, Ph, V…
F=B=M=P, Ph=V. . .
-food, thức ăn.
.theo f=b, foo- = bú (bú là cách ăn sơ khởi của con người khi còn là trẻ sơ sinh),
Phạn Ngữ bhukti (bhuj+ti), eating, food có bhu- = bú và bhukti mang âm hưởng của bú ti là bú vú (xem teat).
.theo f=m, /fút/ = mút (mút vú), là động tác bú. Theo b=m=f, bhuj- = bú = mút = food. Mút (vú) là động tác ăn nguyên khởi của con người.
.theo f=v, foo- = vú (cơ quan cung cấp thức ăn đầu tiên cho con người và loài có vú).
G
G biến âm mật thiết vời C, H = K, Q. . .
G=C=H=K=Q . . .
-ginger, gừng.
.gốc Phạn ngữ çriđgavera, gừng, theo nghĩa đen có nghĩa là hình sừng”, có çriđga, sừng và vera, vóc, dáng, thân (çringa có çing- = sừng và vera =, vẻ, dáng vẻ, vóc). Ginger có ging- = gừng. Theo g=c=s, gừng = sừng. Củ gừng có những nhánh trông như sừng. Gừng và ginger ruột thịt với Phạn ngữ çriđga. -gum
-ginger (tính từ), đỏ hoe (tóc) như ginger-hired, ginger-head.
Ơ đây màu tóc đỏ hoe là lấy theo nghĩa của loại gừng vàng (khương hoàng) tức nghệ (xem saffron).
-gravy, nước sốt béo.
tiếng cổ là greavey, tính từ của greave, mỡ bò, mỡ, chất béo, ruột thịt với grease (xem chữ này).
-grease, mỡ, dầu mỡ, chất béo.
.theo g=c=ch, /gri/ = chi (Hán Việt), dầu.
.theo g=c=ch, /gri/= cheese (fromage, Pháp ngữ ).
.với r câm, /gri/ = gi = Hindu ghee (mỡ lỏng).
.Việt ngữ lì, có một nghĩa là trơn như trơn lì , trơn như thoa mỡ như thấy qua câu ví lì lì như đì hàng thịt, theo r=l, có -rease = /ri/ = li, lì.
1. nhựa cây khô, gum, gôm (phiên âm).
là chất xơ hòa tan, chất bán cellulose, hút nước tạo ra một dung dịch chất nhờn, nhớt dính như keo có chứa mucin và oxalic acids. Latin gummi, Hy Lạp ngữ komi có nghĩa là cắt, chặt. Theo g=c, gum có gu- = cù, cù cưa, cò, cò cưa (cò cưa kéo xẻ ông thợ nào khỏe. . ., cứa (cắt). Đây là gọi theo cách cứa, cắt vỏ cây để lấy gum giống như cạo mủ cao su.
2. chất keo, cồn dán
có thứ gum tan trong nước thành dung dịch dính dùng làm keo, cồn dán. Theo g=c, gum = cồn, theo g=c=k, gum = keo. Gum lấy nhiều ở cây acacia vì thế cây này mới có tên là cây keo (cây xiêm gai). Bệnh giang mai kinh niên nổi những cục, khi vỡ chẩy ra chất nước như chất keo gọi là gomma có gom- = gum.
3. đậu bắp, người Angola, châu Phi gọi đậu bắp okra, loại đậu có hình trái bắp non và có rất nhiều chất nhớt, chất nhờn là gumbo. Món gumbo nấu bằng đậu bắp nhơn nhớt, sền sệt như chất keo gum. Sau đó gumbo du nhập vào Hoa Kỳ chỉ chung những món ăn nhơn nhớt, sền sệt, dính môi dính mép, dù không nấu bằng đậu bắp gumbo như tôm gumbo, thịt gà gumbo, xúp, ra-gu gumbo… Người ta cũng dùng gum để làm sốt cho sền sệt. Việt Nam cũng có những loại rau có nhiều nhớt như rau đay, rau mồng tơi. Đây cũng là những thứ gumbo. Trong kỹ nghệ thực phẩm, dinh dưỡng, dược phẩm người ta dùng nhiều gum lấy ra từ một giống đậu chùm (cluster bean) gọi theo Phạn ngữ là guar (Cyamopsis tetragonoloba). Chất gum này hòa tan được, lên men trong ruột sẽ cung cấp những acid béo chuỗi ngắn để tạo năng lượng cho tế bào ruột, giúp tăng sản và tăng hấp thu chất muối sodium và nước. Điều này giải thích tại sao dân dã Việt Nam cho rằng ăn canh rau đay, mồng tơi cho “mát ruột”. Chất gum đậu chùm guar cũng được dùng trong kỹ nghệ làm cà rem và làm keo dán tem thư. Vì thế liếm tem coi như là ăn đậu gum, ăn rau đay, ăn mồng tơi… rất bổ và mát ruột.
4. kẹo cao su
cũng được gọi là gum, chewing gum. Người Aztec lấy nhựa gum cây sapota tức sa-bô-chê (Pháp ngữ sapotier, Anh ngữ sapodilla, naseberry, tên thảo mộc là Manilkara Zapota, Achras sapota) để nhai cho sạch và đỡ buồn mồm. Gum sapota có vị ngọt và mùi mật mía. Người Aztec gọi sapota là cây chicl. Gum chicl là những miếng mầu hồng, hơi đỏ hay nâu gọi là chicle. Mủ cây sapota lúc mới chẩy ra trắng như mủ cao su (latex) có chứa chất cao-su và gutta-percha. Lúc đầu chicle được dùng thay cao su và được nhập cảng vào Mỹ năm 1890 để làm kẹo cao su. Vì thế kẹo cao su lúc đầu có tên là chichlet chewing gum. Từ năm 1940 gum chicle của cây sapota được thay thế bằng cao su non tổng hợp để làm chewing gum.
-gumbo, đậu bắp, món ăn nhớt, sền sệt.
xem chữ gum.
H
H biến âm mật thiết vời C, G, K, Q. . .
C=G=K=Q. . .
H thường thấy rất nhiều ở dạng câm.
-hot, nóng, sốt, cay, tươi sắc (màu nóng), nứng, động cỡn, dâm đãng, nóng bỏng, dậy tình.
1. nóng: hot = hốt (nóng hốt cả người), theo h=ng (hào = ngao), hot = ngốt (nóng ngốt cả người). Phạn Ngữ hotra (hu+tra), lửa, mặt trời, dâng lửa thờ.
2. sốt: theo h=s, hot = sốt. Sốt là lên độ, nóng sốt (fever), là nóng như cơm nóng, canh sốt, sốt ruột = nóng ruột. Theo s=ch, sốt = chaud Pháp ngữ, nóng.
3. động cỡn: theo h=c, hot = cỡn (động cỡn).
4. cay: Việt ngữ cay liên hệ với Latin calidus, Ý ngữ caldo, Tây Ban Nha ngữ caliente, Phan ngữ katu có nghĩa là hot. Với h câm, hot = ớt (trái cay). Trái ớt là một trái cay, nóng. Trái ớt là trái hốt, trái “hot”.
I
I biến âm mật thiết với A, E, O, U. . .
I=A=E=O=U…
Như mị = mạ, má = mẹ, mệ = mợ = mụ…
-inn, quán ăn có chỗ ở, phạn điếm.
có in- = ăn (xem eat).
J
J biến âm mật thiết với CH, C (H câm), KH, K (h câm), D, Gi, Đ (T, TH), G…
J= CH, C=KH, K=D, Gi=Đ (= T= TH) = G…
.Việt ngữ không có j.
1. j=ch: j tương đương với ch như Java = Chà Và, những người Hồi giáo gốc Java ở miền Nam; ngày nay gọi tắt là người Chà như người Chà Châu Giang. Ta cũng thấy qua Bồ Đào Nha ngữ phiên âm Hoa ngữ chwan (thuyền), theo ch=j, chwan = junk.
2.J=d như Jeep = dép, díp (xe), jean = din (quần).
3.J=gi, trong chữ quốc ngữ cổ j=gi như jà = già; jó = gió; jờ = giờ… (Alexandre de Rhodes).
4. J=d=nh như Japan gọi tắt là Jap = Dặt, phát âm Quảng Đông của Nhật và pan = bản. Japan là “Dặt pủn”, Nhật Bản.
5.j=đ như jack = đặc (đặc có một nghĩa là đực như tre đặc = tre đực) đực.
6. j=g: giữa Pháp và Anh ngữ j=g như jardin = garden, vườn.
. . . . . .
-Java, cà phê.
Java là tên một đảo ở Nam Dương, ngày nay Java có nghĩa là cà phê vì Java có thứ cà phê nổi tiếng (Java bean). Tôi có làm mấy câu thơ trên đồi Italia, San Francisco vào một chiều mưa:
San Francico mù sa,
Mưa trên phố Italia,
Nhạt nhòa.
Có đôi mắt em trong cốc Java.
theo j= ch Java = Chà-và. Người miền Nam gọi người Java là Chà Và. Người Chà Và ở miền Nam bây giờ gọi tắt là người Chà như người Chà Châu Giang là những người Hồi giáo gốc Java.
-jerk, jerky, phơi khô (khô bò, khô cá, khô nai như beef jerky: khô bò).
.theo j=ch = c=s, có je- = se (khô), se sắt (khô hanh), như trời se sắt, quần áo phơi đã se:
Đông chết se, hè chết lụt
Cây lúa về mùa đông ít nước dễ bị chết vì khô và mùa hè nhiều mưa dễ bị chết vì lụt.
Việt ngữ se = sec (Pháp ngữ), secco (Latin), seco (Ý ngữ) (Tây Ban Nha ngữ), siccus (Latin) çuska (Phạn ngữ), khô. Từ láy se sắt có se = sắt, khô. Ainu ngữ (thổ dân ở Nhật Bản) sat, khô.
.theo j=ch=x, jer- = xero-(gốc chữ Hy Lạp), khô, ví dụ xeroderma, da khô. Ta thấy:
.jer- = xer- = sấy (làm khô). Theo biến âm kiểu se sẩy, ta có xer- = xấy, sấy, như cơm sấy, sấy cau.
-xer- = sẩy như rôm sẩy là chứng mẩn thường thấy ở trẻ em do da bị khô nóng, Anh Mỹ gọi là “heat rash” ( suda mina).
.xer- = sao (rang khô) như sao thuốc bắc, liên hệ với PIE *sau-s / *su-s, khô.
Xem gốc chữ xero-.
K
K biến âm mật thiết với C, CH, H, Q, QU. . .
K=C=CH =Q=QU…
-ketchup, sốt cà chua (ở Mỹ), nước sốt để chấm.
còn nói là catchup, catsup.
catchup có ca- = gốc Phạn -ka, aka, Tây Ban Nha ngữ aqua ( nước) = cá và chup = chấp (nước như nhũ chấp), chấm. Catchup = nước chấm, nước cá dùng để chấm. Còn catsup có sup = sấp (liên hệ với nước như sấp nước = nhúng nước, làm cho ướt) = sốt (nước chấm) = súp (thức ăn lỏng). Catchup, catsup, ketchup = Việt ngữ nước chấm = nước cá, nước mắm (Thái Lan ngữ nam pla, nước cá = nước mắm), sốt cá. Người Anh thu nhập từ này khi tiếp xúc với người Mã Lai, họ lấy từ kechup của Mã Lai cũng chỉ một thứ nước chấm có nước cá. Người Anh thêm chữ t vào thành từ ketchup và có thứ ketchup chỉ làm bằng cà chua, nấm, gia vị cay. Người Úc gọi catsup là sốt cà chua tomato sauce (không gọi là ketchup).
L
L biến âm mật thiết với D, Đ, N, NH, NG, R. . .
L=D=Đ=NH=R.
-lacto- (gốc chữ), sữa.
như lactose, đường trong sữa.
Latin lac, sữa cho ra gốc lact-, lacto-. Theo l=d=n, lac- = đác (cổ ngữ Việt), nước = nác (nước). Sữa là thứ nước dinh dưỡng đầu tiên con người uống. Pháp ngữ lait, sữa: /le/ = le, nước, chim le le là loài chim nước. Từ láy lỏng le có le = lỏng. Tây Ban Nha ngữ leche, sữa. Từ láy bốn lỏng le lỏng lét có thành tố le là lait (Pháp ngữ) và lét là leche.
M
M biến âm mật thiết với B, F, P, PH, V. . .
M=B=F=P=PH=V. . .
-meat, thịt.
meat = miếng.
cần phân biệt với flesh chỉ phần xác thịt, thể xác (xem flesh). Meat là thịt chỉ phần mềm che chở, bao bọc quanh phần cứng là xương nhưng nhiều khi thịt dùng làm thực phẩm được gọi theo sự cắt, xẻ, làm thịt và ngay cả chỉ việc giết để cúng tế.
–thịt với nghĩa cắt xẻ ra từng miếng như Latin carò, Ý, Tây Ban Nha, Rumania carne, Pháp ngữ chair, charnu (thịt) cũng hàm nghĩa xả, xẻ, chặt. Theo c=ch=x, có car-, char- = xả, xẻ, chặt. Ta thấy meat = miếng. Miếng hàm nghĩa thịt xẻ, cắt ta từng miếng, từng mảnh. Đây là cổ ngữ Việt chỉ thịt. Ta còn thấy trong những câu nói “một miếng giữa làng hơn một sàng xó bếp”, “có tiếng mà không có miếng”… Miếng gì mà quan trọng như thế? Hiểu theo nghĩa ở đây, hiển nhiên là miếng thịt. Thật vậy, trong Ấn Âu ngữ thịt cũng có nghĩa là miếng, là phần thịt theo nghĩa xả, xẻ, chặt ra từng mảnh từng miếng. Gothic mimz, mammò (meat); Lettic miesa, Nga ngữ mjaso, Phạn ngữ mànsa-, màs-… gốc IE *memmo-, *mes- (thịt) đều có hàm ý là miếng. Ái Nhĩ Lan ngữ mìr ‘portion, morsel’ (miếng, phần, mẩu). Pháp ngữ viande (thịt) có vian(de) = mian = miếng (v=m).
Từ miếng Việt ngữ rõ nhất vừa có nghĩa là mảnh, phần vừa có nghĩa là thịt. Thời xa xưa con người còn sống thành bộ lạc, bắt được một con thú đem về xẻ ra từng miếng chia nhau ăn. Ngày nay ở vùng quê Việt Nam còn tục xẻ thịt, “đánh đụng” rồi chia phần chia miếng do đó mới có câu một miếng giữa làng hơn một sàng xó bếp.
Miếng chính là thịt và liên hệ với Anh ngữ meat và với gốc IE *memmo-, *mes- (thịt).
Theo m=v=d, meat = miếng = diết, dịt = thịt.
–thịt với nghĩa là giết để cúng tế như làm thịt, ăn thịt con gà con heo là giết con gà con heo. Từ đôi giết thịt có giết = thịt, nó bị làm thịt rồi = nó bị giết rồi. Theo th=d=gi ta có thịt = dịt = diệt = giịt = giết. Tại sao chúng ta gọi thịt là giết? Từ thịt Việt ngữ còn mang chứng tích của sự tế lễ bằng cách giết sinh vật. Chúng ta thuộc chủng Hồng Bàng thờ Mặt Trời nguyên thủy tế người, tế máu như thấy ở người Aztec, Maya, họ moi trái tim tế mặt trời. Chúng ta giết người tế mặt trời còn thấy trong bài Sở Từ của Tống Ngọc đã tả bọn Đông Di và Nam Man giết người để tế thần. Chứng tích ngày nay còn thấy là chúng ta ăn máu tái tiết canh, thích ăn thịt tái, thịt thui… những hình thức tế lễ sinh vật còn thấy.
Từ thịt cùng vần với thết. Thết là đãi ăn. Thết đãi bao giờ cũng có thịt. Với h câm thết = tết. Ngày giỗ tết là ngày giết thịt, hy sinh súc vật để tế thần. Thết và tết có từ tế. Pháp ngữ tuer (giết) có gốc từ Latin tùtàre, tùtàrì “make safe (tùlus), protect, protect oneself against…” Tại sao giết để được che chở? Từ tuer chính là tế, là thịt Việt ngữ . Hy sinh là tự hiến thân mình hay giết người, giết sinh vật, thịt sinh vật cúng dâng tế thánh thần để được phù hộ, che chở… Hán Việt tế cũng có nghĩa là cứu giúp như tế bần, cứu tế, y tế. Vậy Pháp ngữ tuer chính là giết, tế, thịt. Latin tùtàre nghe gần cận với thịt thà. OE tiber/tifer là tế lễ có ti- = tế, ti gần cận với thi (xác), thịt. Anh ngữ sacrifice (giết, hy sinh), có sac(rifice) liên hệ với Hán Việt sát, giết. Sát, sacer nguyên thủy là một sự việc thiêng liêng, ngày nay người Tây phương chỉ còn hiểu sacrifice do sacer với nghĩa thiêng liêng mà không còn biết sacer là sát, là giết, là thịt, là tế, là tết (dĩ nhiên cũng hàm nghĩa thiêng liêng)…
Cổ ngữ Anh tiber, tifer(ì?), Gothic tibr là dạng song hành với Cổ ngữ Nordic tafn, Armenian ngữ taun ‘feast, festival’, Latin daps ‘sacrificial feast, feast’, Hy Lạp dapto ‘devour, rend’ (ăn tươi nuốt sống, ăn ngấu nghiến, cấu xé) (Walde-P 1.764, Falk-Torp 1240). Ta thấy rõ tib-, tif là lễ tết, tế sinh vật liên hệ với thịt…
-milk, sữa.
milk = mật (sữa là thứ nước ngọt như mật, đường), milk gần cận với miel, mật ong (Pháp ngữ), Việt ngữ mía, mật (đường non). Việt ngữ sữa liên hệ với sugar, suca (Tây Ban Nha), đường.
N
N biến âm mật thiết với Đ, D, L, T. . .
N=Đ=D=L= T. . .
-na (gốc chữ) na- chỉ âm, phái nữ. Na- là ná, mẹ (áng ná là cha mẹ), nạ (mẹ) như “có nạ là mạ thiên hạ”, nạ (người đàn bà đã có con như nạ dòng), nái (cái, đã có con như heo nái, nái xề), nang (túi, bọc có một nghĩa bộ phận sinh dục nữ), nàng, nương, nường (phụ nữ trẻ, phái nữ). -nourish, nourishment, nuôi, nuôi ăn, cấp dưỡng, đồ ăn. có gốc na-, mẹ. Có nou- = nuôi (xem nurse). có gốc na-, mẹ. Có nu- = nuôi (xem nurse, nourish).
Hán Việt nữ, nhũ (vú), nãi (sữa)… Anh ngữ có nanna, nun, nurse (xem những chữ này). … chỉ những người hay thuộc phái nữ. Phạn ngữ naná, mẹ, nagnâ, a girl before menstruation, nâri, a woman…. Pháp ngữ naissance (đẻ) có nai- = nái, ná, nạ (mẹ)…
-nutrition, dinh dưỡng, nuôi dưỡng.
O
Biến âm mật thiết với U, V, A, E, I…
O=U=V=A=E=I . . .
-omelet, bánh bột tráng mỏng, thường hơn, chỉ trứng tráng.
do Pháp ngữ omelette, aumelette có gốc cổ amelette, alemette, alemelle có nghĩa là “phiến mỏng”, sau rút gọn lại thành lemelle, Latin lamina. Omelet có –mel- = mỏng, manh, mảnh.
Omelet là trứng tráng (từ tráng đã hàm nghĩa mỏng).
P
P biến âm mật thiết với B, M, Ph, V…
B=M= Ph=V…
-punch, nước ngũ vị gốc ở Ấn Độ.
punch có gốc từ Phạn Ngữ pancha, năm. Panch đẻ ra gốc penta, năm, như Pentagone, Lầu Năm Góc, Ngũ Giác Đài. Theo p=b, pancha có pan- = bàn (tay) = bám, víu, bụm, vụm, bốc, vốc… liên hệ với bàn tay, năm ngón. Việt ngữ năm là nắm (bàn tay lại), mười là mở (bàn tay ra). Ngày xưa dùng bàn tay diễn tả các con số như ngón tay digitus cho ra digital, số. Five biến âm với fist, nắm tay. Fiv- = bíu = víu (f=b=v) có nghĩa là nắm lấy (xem chữ five). Punch, pancha có pan- = bàn (tay) = nắm (tay) = năm. Điều này giải thích tại sao punch còn có nghĩa là cú đấm. Người Anh du nhập món nước uống ngũ vị này vào khoảng năm 1600 từ Ấn Độ gồm có rượu, nước, chanh, đường và gia vị. Punch đựng trong những thùng lớn gọi là pancheon. Người Hawaii có thứ nước uống punch có gốc từ pancha, pha bằng năm thứ nước trái cây. Punch có nghĩa là thứ nước ngũ quả mà cũng có nghĩa là ngon như bị knock out vì một cú punch. Nước punch là biểu tượng của nước uống của Hawaii vì vậy họ có cầu trường mang tên là Punch Bowl có hai nghĩa vừa là Cầu Trường Punch vừa là Bát Nước Ngũ Quả. Ngày nay nước punch biến thể có nhiều loại, có rượu hay không có rượu, không còn giới hạn số lượng là năm thứ nữa.
R
R biến âm mật thiết với L, D, T, N. . .
R=L=D=T=N . . .
Người Trung Hoa nói R thành L (nói fried rice thành fried lice).
-rice, lúa, cơm, gạo.
Pháp ngữ cổ ris, hiện kim riz, Ý ngữ riso, Latin oryza là rice.
.theo r=l, /ri/ = li, ló (cổ ngữ Việt của lúa), lúa và /rai/ = lai, lúa; Phạn ngữ kalama, a kind of rice, có kal- = khảo, bánh làm bằng bột gạo nếp, Thái ngữ khảo là gạo. Kal- = cơm. Theo k=c=g, kal- = gạo.
S
S biến âm mật thiết với, C, CH, G, K, S, X, SH. . .
S=C=CH=G=K=S=X= SH . . .
-saffron, nghệ, khương hoàng, nhụy hoa mầu nghệ dùng làm gia vị.
theo c=s, có sa- = cà. Cà có nghĩa là mầu vàng nghệ như cà- ri, bột gia vị có màu vàng nghệ, áo cà-sa của tu sĩ Phật giáo là áo có màu vàng nghệ, canary là chim hoàng yến. Theo s= c=k, ca- = kê, hạt có màu vàng nghệ (xem curry). Sa có mầu vàng đỏ thấy qua từ safflower, hoa mầu vàng đỏ (xem chữ này). Saffron là nghệ, một loại gừng có màu vàng đỏ. Hán Việt khương hoàng là nghệ, theo k=s=g = khương = sừng = gừng (Mường ngữ gọi chim bồ cắt hornbill, trên đầu có mũ sừng, là chim khướng tức chim sừng; khướng = khương = sừng). Củ gừng có hình cái sừng. Theo g=s, gừng = sừng (xem ginger). Khương hoàng là gừng vàng. Saffron của Tây phương lấy từ nhụy của loài hoa crocus sativus. Ả Rập ngữ karkam, saffron có ka- = cà.
-safranine, chất nghệ (xem saffron).
T
T biến âm mật thiết với Đ, D, TH, TR, N. . .
T=Đ=D=N=TH= TR. . .
-tea, trà, chà, chè, nước uống nấu bằng thực vật.
có te- = te, tè, té (nước, liên hệ với nước). Anh ngữ "tea", Ý, Tây Ban Nha, Hung Gia Lợi, Thụy Điển ngữ "te", Pháp ngữ "thé" là trà liên hệ với Việt ngữ te, té, tè.
Te có nghĩa là nước như thấy qua câu hát dân chài vùng Thanh Nghệ Tĩnh:
Tháng năm te chạy hết ngàn,
Cá trà cũng lắm khơi đàng vào ra.
Te chạy là nước chạy. Cá trà còn có tên là cá chim.
Te cũng có nghĩa là đi tè:
Học thì đã dốt lại lười,
Ăn thì không được hơn người không nghe,
Chửa tối thì đã ngủ nhè,
Mười đêm thì chín đêm te ra quần.
Té liên hệ với nước như thấy qua các từ "té nước lên người nhau", "té đái ra quần".
.Việt ngữ chà, chè, trà ruột thịt với cá, Phạn ngữ -ka, aka, Tây Ban Nha ngữ aqua (nước), cũng hàm nghĩa nước, liên hệ với nước như chà cá, chỗ nuôi cá ngoài sông làm bằng cách quây đám bèo trên mặt nước với bốn thân tre, ngày ngày thả thức ăn nuôi cá. Sau khi ăn xong, cá lại tự do bơi ra sống ngoài sông. Đến mùa cá đã lớn, thả thức ăn xuống rồi quây lưới bắt cá. Phạn ngữ dâcha, thuyền chài có –cha liên hệ với chà, nước. Việt ngữ chài cũng có gốc chà. Có em trẻ Việt Nam sinh ở hải ngọai thắc mắc và thương hại lũ cá hỏi rằng sao người fishman Việt Nam lại độc ác đi hành hung “đánh cá”, bắt cá ăn, trước đó còn hành hạ đánh đập cá. Câu trả lời là từ đánh cá ruột thịt với Phạn ngữ dâcha, fishman, boatman.
Có một loại trà có pha gia vị, hương vị Ấn-Độ gọi là chai. Chai liên hệ với chài, chà.
V
U biến âm mật thiết với V, O, OO, A, E, I = K, Q. . .
U=V=O=OO=A=E= I . . .
-vermicelli, bún.
chỉ chung các thức ăn làm bằng bột có hình con sâu, con giun, con rắn. Cũng gọi là rice noodle, mì gạo. Vermicelli (Ý ngữ) có nghĩa là con sâu nhỏ, có gốc vermi- sâu, bọ, chí rận, rệp, giun, sán, chỉ chung sâu bọ, côn trùng, Pháp ngữ ver, sâu, ver à soie, sâu tằm.
.ver- = ve, ve vắt.
.ver- = vặn, vẹo cùng nghĩa với uốn éo, (xem dưới).
.theo v=u, ver- = ue, oe, (với ng câm, ngo ngoe = o oe), Thái Lan ngữ ngoo, rắn, = éo (uốn éo) chỉ hình dáng sâu, giun, sán, rắn.
Trong nhiều ngôn ngữ cổ Ấn-Âu worm cũng có nghĩa là rắn vì con sâu là những con rắn tí hon, bằng chứng là sâu có gốc sa- cùng âm với sà, xà (rắn). Theo biến âm kiểu sâu sa, ta có sâu = sa = sà, xà. Worm có wor- = uor- = uốn (éo). Sâu và rắn là con uốn éo. Pháp ngữ ver, con sâu có ve- = éo, ver- = uốn, xem chữ vermin, xem chữ worm.
.Việt ngữ bún, có tác giả cho rằng bún có gốc từ Hán Việt phẳn, phấn là bột. Theo tôi, bún mặc dù làm bằng bột nhưng có hình dáng như con sâu, con giun, con rắn nên bún phải hàm nghĩa như vậy. Các loại khác như bánh cuốn cũng làm bằng bột nhưng không gọi là bún. Bánh cuốn gọi theo hình dạng cuốn lại nên bún cũng phải gọi theo hình dạng giống con sâu. Theo b=v= u, bún = vún = ún = uốn, ruột thịt với worm (sâu, rắn). Sâu và rắn là con uốn éo. Miền Nam có một loại bún gọi là lạc xá du nhập từ Mã-Nam Dương. Lạc xá là Ba Tư ngữ laksa, bún. Laksa có lak = lạc liên hệ với rắn nước. Bún lạc xá laksa có hình giống con rắn nước. Có một loài cá trông giống rắn gọi là cá lạc, cá lác. Lạc liên hệ với naga, rắn nước, rồng trong Ấn giáo.
(còn tiếp).
April 15, 2009
HỌC ANH NGỮ BẰNG VIỆT NGỮ, KỲ 2
HỌC ANH NGỮ BẰNG VIỆT NGỮ
(kỳ 2)
Nguyễn Xuân Quang
Những chữ viết tắt và qui ước:
-Dấu bằng (=) có nghĩa là, liên hệ với, tương đương, gần cận nhau, giống nhau.
-Chữ trong hai gạch nghiêng /…/ là thanh, thinh, âm, âm vị, chỉ phát âm theo tiếng Việt hay tiếng Anh.
-Mẫu tự trong ngoặc đơn của một từ có nghĩa là bỏ đi hay câm ví dụ Anh ngữ cổ brus (breast), vú có b(r)u- = bú, vú (bỏ r hay r câm)…
-Dấu (*) có nghĩa là gốc tái tạo không có trong ngôn ngữ thành văn (written records).
-Tôi chỉ giới hạn vào các nghĩa gốc tương đồng và để qua bên các nghĩa phụ, nghĩa bóng bẩy, nghĩa lóng...
…………………….
.Đơn Âm và Đa Âm
Tiếng Việt hiện kim có khuynh hướng đơn âm, đơn vận vì thế khi chuyển từ ngoại ngữ nói chung và từ Anh ngữ qua Việt ngữ nói riêng, tiếng ngọai ngữ phải chặt bỏ bớt một phần, thường thấy nhất là bỏ bớt đầu hay đuôi. Ví dụ:
– pocket, túi, bọc, có poc- = bọc, Trung Nam gọi túi quần áo pocket là cái bọc.
–vinho, vino (Bồ ngữ), rượu nho, lấy phần đầu vin- chuyển qua Việt ngữ là vang (rượu) (Pháp ngữ vin phát âm là “vanh”), nếu lấy phần sau –nho thành nho: vinho: rượu vang, rượu nho, Hán Việt là bồ đào tửu (bồ đào là trái tròn màu hồng đỏ tức trái nho đỏ): rượu nho. Nước Portugal nổi tiếng về rượu nho đỏ vì thế mới gọi tên là Bồ Đào Nha (Nha là nhà, nhà đi đôi với nước như quốc gia là nước nhà). Portugal có Port, tên một thứ rượu nho nổi tiếng.
–canabis sativa = cần sa (lấy hai âm đầu, chặt bỏ đuôi).
–canarium = cà na, cà ná (quả trám).
……
.Tiếng Láy
Tiếng láy gồm một từ gốc và một từ tố láy hay thành tố láy lặp lại theo âm điệu, vần điệu nhịp nhàng, uyển chuyển với từ gốc. Nói một cách tổng quát, giản dị cho dễ hiểu thì thành tố láy trong tiếng Việt dù dưới dạng nào đi nữa nó đều phát xuất ở từ gốc, từ mẹ mà nó láy sinh ra. Như thế nó mang những di tính của từ gốc, từ mẹ không những âm, vần mà kể cả nghĩa ngữ. Thành tố láy có thể là những từ còn hiện diện ở một ngôn ngữ nào đó của nhân loại nhất là những ngồn ngữ có liên hệ mật thiết với Việt ngữ. Thành tố láy của Việt ngữ có thể là một từ trong ngôn ngữ khác kể cả trong Anh ngữ. Như thế ta có thể dùng từ láy học Anh ngữ (Tiếng Việt Huyền Diệu). Ví dụ:
-bết bát có bết (tồi, xấu) và thành tố láy “bát” chính là bad, bét (chót, tồi, xấu). Bết và bát đều ruột thịt với bad. Bết bát có thành tố láy “bát” chính là bad theo phát âm Việt, trong khi đó, bết = bad theo phát âm Anh. Xin lưu ý điểm này biến âm giữa Việt ngữ và ngoại ngữ có thể theo âm Việt hay âm của tiếng ngoại ngữ đó.
-đan nát có thành tố “nát” là knit, đan.
-đỏ lét, có lét = red (l=r, giống như người Trung Hoa nói r =l như fried rice nói là fried lice).
-liếm láp: ví dụ mẹ mắng con: “cái miệng mày liếm láp cả ngày”. Thành tố láy lap chính là Anh ngữ to lap, liếm.
-lớn lao có thành tố láy lao chính là Anh ngữ loud, lớn, to: loud speaker là máy phóng thanh.
-lao sao (xao), tiếng nói lớn, ồn ào, có lao = loud (lớn) và sao = sound (âm thanh). Lao xao = loud sound. Lào xào là biến âm của lao xao.
-xôn xao (sôn sao), có nhiều tiếng nói, có sôn = son (Pháp ngữ), tiếng, âm thanh và sao = sound. Xôn xao = sôn sao = son-sound. Ta thấy Tiếng Việt thật là Huyền Diệu, sôn sao là có nhiều tiếng nói, có cả tiếng Tây “son” và tiếng Anh “sound”. Hai từ sôn sao cũng cho thấy ngôn ngữ Việt Nam, trên cây ngôn ngữ loài người, có vị trí ở thân cây “sôn sao” rồi chia ra hai cành “son” và “sound” hay ở cành lớn “sôn sao” tẻ ra hai nhánh nhỏ “son” và “sound”. Việt ngữ là thân, là cành lớn, trong khi Pháp, Anh ngữ chỉ là cành hay nhánh nhỏ trên cây ngôn ngữ loài người. Với x câm, xôn xao = ồn ào.
-mù mịt, mờ mịt: thành tố mịt chính là Anh ngữ mist, sa mù. . .
-tắm táp: thành tố láy táp chính là Anh ngữ tap, vòi nước, liên hệ với tub, bồn tắm.
-tối đặc: thành tố láy đặc là dark, có nghĩa là tối.
. . . . .
.Tiếng Ghép Điệp Nghĩa
Trong Việt ngữ tiếng ghép là hai từ khác âm nhưng đồng nghĩa hay có nghĩa cùng một gốc. Tôi thường gọi tổng quát là tiếng ghép điệp nghĩa. Ví dụ:
-cứng đơ, cứng đờ có đơ, đờ liên hệ với Pháp ngữ dur, cứng.
-đổi trác (chác) có trác hay chác là trade, trao đổi, đổi trác. Buôn bán trade khởi đầu bằng sự đổi chác hiện vật.
-dầy đặc có từ dầy có một nghĩa là đặc như thick sauce là sốt đặc.
. . . . . .
.Tiếng Đi Đôi Với Nhau
Trong Việt ngữ tiếng đi đôi với nhau họ hàng ruột thịt với nhau nên thường có nghĩa gần nhau hay như nhau. Ví du:
–bốc khói, có từ “bốc” ruột thịt với khói. Bốc biến âm theo b=m với móc (sương như mưa móc, ơn mưa móc), với smoke là khói. Sương móc ruột thịt với khói nên bốc cũng ruột thịt với khói vì thế mới đi đôi với khói. Ta thấy smoke = (s)mok(e) = móc. Khói thường đi đôi với sương như thấy qua từ đôi coi như điệp nghĩa “khói sương”. Ta cũng thấy rõ sự liên hệ này qua người Huế nói sương là “cởi”:
Đêm khuya cởi xuống dần dần
(ca dao)
theo c = k = kh, cởi = khói. Ở đây ta cũng có thể dùng Anh ngữ smoke, fog để giải thích tại sao ta thường nói “khói” đi đôi với “bốc” (bốc khói). Theo f=b, fog = bốc, theo m=b, smoke, smog ( smoke + fog = smog) = bốc. Rõ ràng bốc có liên hệ nghĩa ngữ với khói sương và biến âm với nhau nên ta thường nói “bốc khói” hay nói một cách khác bốc khói là một từ đôi gần như là điệp nghĩa.
–phát phì, ngoài nghĩa phát triển, nhìn dưới một góc cạnh khác, phát là biến âm của Anh ngữ fat (mỡ, phì, mập). Phát = fat. Phát = fat = phì.
–theo đuôi là từ đi đôi với nhau nên theo = đuôi. Theo chính là Anh Ngữ “tail”, đuôi.
Theo đuôi đẻ ra từ đôi “theo đuổi”, “đeo đuổi” (th=đ).
-tiếng nói, ta thấy nói là phát ra tiếng, nói chính là Anh ngữ noise, tiếng, tiếng động. Noise có noi- = nói. Hai từ đi đôi với nhau “tiếng nói” có nghĩa là tiếng = nói = noise.
. . . . . .
.Nghĩa Ngữ
Hiện tượng biến âm có thể làm nghĩa đã biến đổi, đã lai đi nhưng vẫn còn liên hệ với nghĩa gốc. Những từ càng gần âm tức biến âm càng ruột thịt bao nhiêu thì nghĩa càng gần cận bay nhiêu. Ví dụ cành cùng với cánh một vần thì cành có cùng nghĩa với cánh. Cành cây tương đương với tay người. Hán Việt chi (cành) và tay chân người cũng gọi là chi (tứ chi). Theo tiến hóa cánh chim = tay người (chim tiến hóa thành khỉ, đười rồi mới thành người) như thấy qua từ đôi cánh tay nghĩa là cánh = tay. Như thế cành = cánh = tay = cẳng = chi. Việt ngữ cẳng thường hiểu là chân, thật ra cẳng liên hệ với chánh, chành, chi cũng chỉ cả chân và tay (tức tứ chi) như thấy qua các từ đôi “cẳng chân, cẳng tay” ví dụ như “thượng cẳng tay hạ cẳng chân”. Người Bắc dùng “cẳng tay” không có sai ngữ pháp như có người đã nghĩ. Sự biến âm khác vần thì nghĩa sẽ lai đi nhưng vẫn liên hệ với nhau. Biến âm cùng nhóm âm sẽ ruột thịt hơn (xem Tiếng Việt Huyền Diệu). Ví dụ foot với boot (biến âm f=b với nghĩa đã biến đi nhưng giầy liên hệ ruột thịt với chân).
Như thế nghĩa ngữ có thể chia ra ít nhất là ba loại: nghĩa giống trực tiếp, nghĩa lệch và nghĩa chéo.
1.Nghĩa trực tiếp hay thẳng:
Hai từ Việt và Anh ngữ có nghĩa y chang như nhau. Trường hợp lý tưởng thường thấy nhất là khi có biến âm mẹ con. Ví dụ:
–deuce, đều nhau (như trong tennis, hai bên có cùng số điểm 40 gọi là deuce), có deu- = đều.
–char (đốt cháy thành than, thiêu rụi, nướng than như char-broiled hamburger) = chả (thịt nướng than, nướng lửa).
–pouch = bao (túi, bị).
. . . . . .
2.Nghĩa lệch:
Cùng gốc nhưng hai từ Việt và Anh ngữ có nghĩa lệch, nghĩa đã lái, đã lai đi. Nghĩa càng lệch khi biến âm càng nhiều lần hay càng khác vần. Trường hợp này có thể coi là khi có biến âm chị em, họ hàng thân thích. Ví dụ:
–blue, màu trời = blời, trời.
–lake (hồ) = lạch. Hồ lake và lạch cả hai cùng có gốc la-, na là nước.
–tía (Quảng Đông ngữ, Quảng Đông thuộc địa bàn Bách Việt), cha = tio (Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha), cậu (uncle).
– throne và trôn (Nga ngữ) là ngai, ngôi = trôn (đít, phần để ngồi).
……
3.Nghĩa chéo :
Cùng gốc nhưng hai từ Việt và Anh ngữ có nghĩa chéo nhau, trao đổi nghĩa cho nhau. Trường hợp này có thể coi là khi có biến âm bà con xa. Ví dụ: -Hoán Đổi
–buffalo (trâu) có bu- = bò trong khi đó cow (bò cái) phát âm là /cao/ đọc thêm hơi vào thành chao, châu, trâu. Trâu trong Anh ngữ là bò Việt ngữ trong khi bò trong Anh ngữ lại là trâu trong Việt ngữ.
–cheese (fromage, Pháp ngữ ) = chi (Hán Việt), dầu = Hindu ghee (mỡ lỏng).
–wide, rộng có /wai/ = vài = dài trong khi “long” (dài) có long = lộng = rộng (l=r).
–chole, mật gan. Theo ch= c=g, gốc chol- = cốn (người Hoa phát âm gan là cốn), can (Hán Việt) = gan. Gan và mật có nghĩa chéo nhau, gall =/gan/ = mật trong khi chole (mật) = cốn, can, gan.
. . . . . .
Trong cùng một ngôn ngữ hay trong những ngôn ngữ ruột thịt bà con với nhau cóJaw hiện tượng hoán đổi những từ chỉ vị trí nằm kế cận nhau ví dụ má trong ngôn ngữ này lại là cằm, cầm trong ngôn ngữ khác. Buck nhận thấy rằng “ther is considerable interchange between jaw, cheek and chin notably in a widespread cognate group” (4.208) (có sự hoán đổi đáng kể giữa jaw, cheek và chin trong nhóm các chữ họ hàng có liên hệ rộng lớn). Ta thấy Việt ngữ má hoán đổi với Anh ngữ maxillary (hàm trên), mandibule (hàm dưới), Latin màla, Pháp ngữ mâchoir, hàm, jaw hoán đổi với Pháp ngữ joue, má. Cheek hoán đổi chin, cằm, cầm. Theo h=c, Việt ngữ hàm = càm, cằm vì thế hàm còn gọi là cấm, răng hàm = răng cấm.
……
-Tầm Nguyên
Việt ngữ có thể giúp tìm hiểu nghĩa ngữ một cách rành rọt các từ ngoại ngữ nói chung và Anh ngữ nói riêng. Có nhiều từ Anh ngữ các nhà tầm nguyên ngữ học Tây phương không hiểu tiếng Việt không thể hiểu thấu đáo được căn cội như người Việt. Hãy lấy một vài ba ví dụ:
–boat, thuyền = /bốt/ = bọt. Bọt đi đôi với bèo. Bèo giản lược thành bè. Boat có nghĩa là vật nổi trôi trên mặt nước như bọt, như bèo, như bè. Boat chính là bè. Nguyên thể của boat là cái bè do các thân cây cột lại thả trên mặt nước. Điều này thấy rất rõ qua từ float, bè, bè gỗ, vật nổi trên mặt nước như phao, float-bridge hay floating bridge là cầu nổi. Theo fl=b, float = boat. Theo fl = ph, float = phao. Fleet là đoàn tàu như đội tầu đánh cá, hạm đội (đoàn tầu chiến). Truy tìm tới cội nguồn ta thấy float là do từ gốc cổ ngữ Anh fleotan đẻ ra. Theo fl=b, fleo- = bèo. Việt ngữ có từ đi đôi với nhau bọt bèo cùng gốc nghĩa nổi trôi trên mặt nước. Như thế ta thấy rõ boat biến âm với bọt với bèo nhưng có nghĩa là bè. Rõ ràng nguyên thủy thuyền boat là bè, vật nổi trên mặt nước như bọt, như bèo. Boat chính là Việt ngữ bọt (nghĩa lệch) có cùng nghĩa là vật nổi. Cũng nhờ Việt ngữ mà ta hiểu tới tận nguồn, tận gốc của từ boat. Bọt nước có từ khai thiên lập địa ngay từ khi có mưa, có nước, rồi bèo xuất hiện trên mặt nước, kế đến con người gợi ý từ bèo nổi trôi trên mặt nước mới nghĩ ra làm bè và sau cùng làm thuyền như ngày nay. Cái ý nghĩa nguyên khởi của boat là bọt nước, vật nổi trên mặt nước.
Thân phận “boat people” là thân phận “bọt bèo”, chúng ta phải phấn đấu.
–Anh Ngữ quay (phát âm là /ki/), bến tầu như Circular Quay, nơi đặt chân đầu tiên đến Sydney của người Anh; ruột thịt với key (hòn đảo nhỏ, chỗ thuyền bè neo lại dừng chân) như Key West ở Florida; cay, caya (Caribean ngữ) cũng phát âm là /ki/ có nghĩa như key như Coco cay; quai (Pháp ngữ) là bến tầu, ruột thịt với Việt ngữ ki là cây, ke (que, cọc), kè, cái cọc đóng ở bờ nước nguyên thủy để cột thuyền, sau chỗ có cắm cọc cột thuyền trở thành bến nước, bến thuyền. Sau này đổ đá gọi là kè đá. Theo e=u như me = mụ, ta có kè = cừ. Đóng cừ là đóng kè. Đọc thêm hơi vào ta có cừ = chừ, chử. Hán Việt chử là bờ nước, bến sông, Chử Đồng Tử là cậu bé sống ở ven sông, Chử Xá là làng ở ven sông.
–Pork, thịt heo, pig, con heo, porc (Pháp ngữ) có po- = mo, mỡ, Thái Lan ngữ moo là con heo. Con heo là con mỡ vì thế mới ví là mập như heo, ăn như heo. Heo liên hệ với huile (dầu mỡ). Con hợi (tuổi hợi là tuổi heo) là con hoi, con hui(le) (mỡ bị oxýt có mùi hoi). Con lợn là còn lờn, con nhờn (liên hệ với dầu mỡ). Cổ ngữ Việt hốc là ăn tạp như heo ví dụ không làm thì đừng có hòng mà hốc. Hốc là ăn như con heo, con hog (heo). Anh ngữ boar (heo) liên hệ với Việt ngữ bồ (chất béo, dầu, bơ, bồ là dạng cổ của mồ như bồ hôi = mồ hôi và mỡ), beurre (Pháp ngữ). Con heo kêu “oint oint” là kêu “oil”, “oil”.…..
Hán Việt
Trường hợp Hán Việt liên hệ với Ấn Âu ngữ có ba trường hợp: thứ nhất Việt ngữ liên hệ với Hán ngữ mà từ này đã liên hệ với Phạn ngữ ; thứ hai là cả Hán và Việt ngữ đều liên hệ với Phạn ngữ một cách riêng biệt và thứ ba là Hán liên hệ với Việt ngữ mà Việt ngữ lại liên hệ với Phạn ngữ. Ví dụ:
–car, xa, xe; hiển nhiên car = xa (Hán Việt) = xe (c=x như còm = xọm).
–buy, mua; buy = mại (Hán Việt) = mua (b=m).
–flog, đánh bằng roi, flog = phốc (Hán Việt) có nghĩa là đánh bằng roi, cái gậy (Hán ngữ có bộ phộc, phốc, đánh khẽ) = phát (đánh vào mông) = phạt (ngày xưa phạt bằng cách đánh bằng roi), theo f=ph = b, phạt = bạt (tai). Với f câm, flog = log = thân cây, cây. Flog là đánh bằng log, bằng nọc. Việt ngữ “nọc ra” là đánh bằng nọc, bằng roi.
. . . . . .
. Giống Phái
Pháp ngữ có hiện tượng giống phái như trung tính, giống đực, giống cái rất rõ. Anh ngữ cũng có hiện tượng này nhưng rất lu mờ. Cho tới nay không ai giải thích được tới nguồn cội của hiện tượng này trong các ngôn ngữ thế giới. Sự khám phá ra hiện tượng giống phái trong tiếng Việt nhất là hiện tượng âm dương và chữ nòng nọc của tôi giúp ta hiểu rõ hiện tượng giống phái trong ngôn ngữ loài người. Riêng trường hợp Anh ngữ không có biến âm, biến dạng ngữ, không có mạo từ chỉ rõ giống đực và giống cái, hầu hết các từ là giống đực, chỉ có một số rất ít từ có giống cái. Rất khó mà biết được một từ Anh ngữ có giống cái. Hiện nay phải “học thuộc lòng” những từ giống cái này ví dụ tên nước Mỹ, tên xứ, vùng đất, tàu thuyền . . . Nhưng nếu ta dùng Dịch lý, chữ nòng nọc giải thích thì ta sẽ hiểu rõ tại sao. Tên nước, xứ sở, tàu thuyền. . . có giống cái (xóm làng nguyên thủy là một bờ nước và xóm làng trở thành xứ, vùng, quốc gia, đất nước). Sở dĩ như vậy vì những từ này liên hệ tới nước tức nòng, thái âm. Trường hợp Pháp ngữ có giống đực giống cái là di tích của hiện tượng âm dương trong chữ nòng nọc. Chữ viết nòng nọc, hiện tượng âm dương còn thấy rất rõ trong Việt ngữ trong khi hình thái giống đực giống cái là dạng thu nhỏ lại, giản dị hơn thấy trong các ngôn ngữ khác như Pháp ngữ chẳng hạn. Ta có thể dùng hiện tượng âm dương, chữ nòng nọc trong Việt ngữ để giải thích giống phái trong ngoại ngữ nhất là trong Anh ngữ (Tiếng Việt Huyền Diệu).
(còn tiếp).
