Kangaroo Ký
(tiếp theo).
Kỳ 4
Nguyễn Xuân Quang
Tìm được một chỗ vắng người ở một góc chái nhà Hát Nghêu, có bóng mát và gió biển lồng lộng. Tôi ngả lưng nằm xuống nhìn trời cao xanh ngắt, không một vệt mây. Có tiếng đàn vĩ cầm chơi vơi của một chàng nghệ sĩ lang bạt kỳ hồ nào đó. Những cánh buồm nhà hát căng gió, chiếc thuyền Opera như đang lướt sóng.
Những tiếng xôn xao của đám người trần tục khiến tôi mở mắt thức dậy. Một giấc ngủ chơi vơi bay bổng, bềnh bồng, phiêu bạt trên con thuyền buồm Opera lướt sóng gió. Con thuyền đã đưa tôi phiêu du vào một cõi bao la. Một giấc ngủ thần tiên.
Tôi thả bộ vào trong ngôi nhà. Nhà Hát Nghêu do kiến trúc sư Đan Mạch Jorn Utzon vẽ kiểu khởi sự từ năm 1950 nhưng không khả thi được vì vượt khả năng kỹ thuật thời đó và không đủ ngân sách nên đến năm 1966 Jorn Utzon từ chức. Mãi về sau mới hoàn tất bởi những người kế tiếp vào năm 1973. Nữ hoàng Elizabeth II khánh thành vào ngày 20 tháng 10 năm 1973. Phòng Utzon, đại sảnh tiếp tân biến cải từ mô hình chính gốc của Utzon mới thực sự khánh thành vài tháng trước đây (9-16-2004). Nhà hát Nghêu trông như một con thuyền buồm lướt sóng. Mái cánh buồm hình vỏ sò dát bằng cả triệu miếng ngói. Nhà Hát Nghêu Opera hình chiếc thuyền buồm này đã gợi ý cho tôi chọn đề tài Ý Nghĩa Những Con Thuyền Trên Trống Đồng Đông Sơn để nói chuyện trong Đại Hội kỳ này.
Nhìn tấm poster quảng cáo đêm nhạc Opera tổ chức tại đây ngay vào đêm giao thừa Tây, tôi nghĩ, nếu đi nghe nhạc và xem đốt pháo bông ngay tại đây thì thật là lý tưởng, một kỉ niệm hi hữu, khó quên trong đời. Khi lại quày bán vé thì được biết vé đã bán sạch gần nửa năm nay rồi. Tuy nhiên người bán vé vẫn lấy tên tôi để vào danh sách chờ, hy vọng vào phút chót có những người đã mua vé nhưng không tham dự được. Tôi ca bài con cá với con cừu tơ Úc, nói rằng mình đến từ Mỹ châu muốn được dự một đêm pháo bông New Year tuyệt vời ở Sydney để nhớ đời xứ sở của cô nàng. Nàng hứa để tên tôi vào hạng ưu tiên.
Sau một ngày nóng bức, mặt trời còn cao lơ lửng trên ngấn nước ở chân trời nhưng trông có vẻ như đang nôn nóng muốn nhẩy xuống mặt biển tắm.
Rời nhà Hát Nghêu , thả bộ mon theo con Đường Văn Nhân Sydney Writers Walk. Con đường chay từ Trạm Hành Khách Quốc Tế ở phía Tây Circular Quay xuống bến Phà và Ga Xe Lửa chạy tới phía sân trước nhá Hát Nghêu Opera. Con đường có dát những tấm biển đồng thau khắc tên các nhà văn thơ Úc và các cây bút quốc tế đã từng sống hay đã viếng thăm Úc. Tấm bảng đồng khắc ghi tóm tắt cuộc đời, tác phẩm, trích dẫn một đoạn ngắn văn thơ kèm theo một đôi lời vinh danh tác giả. Có lúc tôi có cảm giác như đang đi trên con đường Walk of Fame ở Holywood, có lúc tôi lại có cảm giác là đang đi trên con đường nghĩa trang với những tấm bia dát trên mặt lối đi và có khi lại có cảm tưởng đang đi trên một con-đường-thư-viện với những trang sách văn học Úc đang mở ra. Không cầm lòng được. Không thể nào không cúi xuống đọc.
Germaine Greer:
“Úc châu là nơi sinh đẻ của tôi nhưng tôi không thể coi đó là sở hữu của riêng mình cũng như coi đó là nơi sinh quán bởi vì tôi không có quyền sống ở đó cho tới khi nào có được một hòa ước với dân bản địa. Tôi vẫn là một kẻ không nhà trên thế giới”.
(Journal of the Plaque Year, 1988)
Robert Hughes:
“Liệu người Úc có làm khác đi không nếu lịch sử của họ không phải khởi dựng từ chốn lao tù của không gian vô tận và tôi chắc là họ sẽ làm như vậy. Họ phải nhớ nhiều về chính lịch sử của họ”.
(The Fatal Shore, 1987).
Kath Walker sau lấy theo tên bộ lạc của mình là Oodgeroo Noonuccal:
“Mẹ có thể kể cho con nghe những chuyện tan nát cõi lòng, những chuyện mù quáng đầy hận thù.
Mẹ có thể kể cho con nghe những tội ác làm xấu hổ loài người.
Và những sai trái tàn bạo và những quỉ quyệt chết người
Và những hãm hiếp, giết người, con trai của mẹ ơi,
Nhưng mẹ chỉ kể cho con nghe về những dũng cảm và tinh khôi
Khi đời sống của người da đen và da trắng bện vào nhau,
Và con người kết hợp với nhau, trong tình huynh đệ.
Đó là những điều mẹ muốn kể cho con nghe, con trai của mẹ.
(Son of Mine, 1984).
A.D. Banjo’ Paterson:
“Được làm một kẻ thất nghiệp thật là vĩ đại,
Và nằm dài ở tại Domain, rồi ngủ khì,
Và thức dậy vào mỗi ngày thứ nhì,
Và rồi lại ngủ khì trở lại”.
(It’s Grand, 1902).
Văn hào Ý Umberto Eco:
“Nước Úc không phải chỉ là một đối cực, tách rời xa mọi thứ mà đôi khi xa cách với cả chính mình”.
(L’Espresso, 1982).
May Gibbs:
“Con người mạnh như gió, mềm dịu như dòng sông, nóng bỏng như mặt trời. Con người thì thào như chim, độc ác như rắn. Con người có nhiều lớp da, lột xác nhiều lần. Khi tất cả các lớp da đã lột hết, con người trông giống như một con ếch tái xanh”.
(Tales of Snugglepot & Cuddlepie, 1939).
Văn hào Mỹ Jack London:
“Tôi thà là tro than hơn là cát bụi, một tàn lửa rực cháy trong lửa hồng hơn là một hạt bụi câm nín trong tàn ruị khô cằn. Mục đích chính của con người là sống chứ không phải là hiện hữu. Tôi không phung phí ngày tháng đời mình để kéo dài chúng ra. Tôi sẽ tận dụng thời gian của mình”.
Văn hào Mỹ Mark Twain (Samuel Langhorne Clemens) đã từng viếng thăm Úc, sau khi đến Dunedin đã viết:
“The People here are Scots. They stopped here on their way to heaven, thinking they had arrived” (Cư dân ở đây là người Scot. Trên đường đi tới thiên đường, họ dừng lại đây, tưỡng rằng họ đã tới nơi”).
. . . . . .
Mặt trời đã lặn xuống biển. Ánh đèn lấp lánh sáng cuối con Đường Văn Nhân Sydney. Hy vọng một ngày nào đó, một nhà văn Úc gốc Việt hay một nhà văn Việt ở khắp nơi trên thế giới đã sống hay viếng thăm Úc châu có tên ở con đường này.
Hai chân đã muốn dừng nghỉ. Đĩa trai đen Úc châu nấu bia và gia vị xả chanh bản địa ăn buổi trưa thật nhẹ. Bụng đã báo giờ ăn.
Tôi đi tìm một quán ăn mang hương sắc bản địa.
Buổi sáng hôm sau tôi có hẹn với anh Phan Văn ở đài SBS để thâu bài phỏng vấn nói về tác phẩm Tiếng Việt Huyền Diệu của tôi dự định ra mắt ở đây sau ngày đại hội.
Mặc dù kế cận ngày đại hội, rất bận rộn, bác sĩ Vũ Ngọc Tấn, người bạn cùng khóa, cũng đưa hộ tôi tới đài SBS. Lâu lắm mới có dịp gặp lại Luật sư Lưu Tường Quang, chị Ngọc Hân và các nhân viên khác trong ban Việt ngữ của đài SBS. Tôi đã từng quen biết anh Phan Văn từ khi anh còn làm cho đài BBC, lúc đó tôi phụ trách mục giải đáp y học cho đài BBC. Làm việc với nhau nhiều qua điện thoại nhưng chưng hề gặp mặt.
Phỏng vấn tại đài SBS.
Bác sĩ Tấn lúc trở lại đón, tôi hãy còn trong phòng thâu, vì bận không chờ được, bác sĩ Tấn phải về. Tôi bị “mắc cạn”, Luật sư Lưu Tường Quang đã có lòng tốt ngồi hàn huyên với tôi cả buổi cho tới khi anh Cung Đình Thanh tới đón tôi. Thật là hiếm có một người có địa vị cao và rất bận rộn như anh Lưu Tường Quang mà đã bỏ cả buổi ra tiếp tôi.
. . . . . .
Khi trở về khách sạn, tôi nhận được message cho biết có người bỏ vé vì bận không tham dự được buổi hát Opera đêm giao thừa Tây tại nhà hát Opera nên họ dành cho chúng tôi hai vé hạng nhì. Quả thật cô nàng cừu tơ Aussie đã có cảm tình với tôi, nàng đã để tên tôi vào hàng đầu trong danh sách chờ mua vé. Có lẽ một phần là nhờ lúc đi mua vé tôi đi một mình. Điều này cũng thấy tự an ủi được phần nào, mình chưa đến nỗi tệ. Nếu bị vợ quăng ra ngoài đường, ngoài chợ chắc cũng còn có kẻ muốn nhặt (dĩ nhiên bà xã tôi cũng chẳng dại gì mà làm chuyện đó). Thế là chúng tôi sẽ được xem pháo bông New Year ngay tại nhà hát Opera.
Sau khi ghé qua nhà hát Opera lấy vé, tôi dùng water taxi đến Convention Center sớm để ghi danh.
Đã có nhiều người viết về Đại Hội rồi, tôi không lặp lại làm gì cho phiền độc giả chỉ xin nói qua vài ba điểm bên lề đại hội. Nhìn chung đại hội kỳ này được tổ chức rất chu đáo đúng tầm mức quốc tế. Riêng cá nhân tôi, tôi có được một sự thoải mái tối đa qua những sự tiếp đón niềm nở và đầy thân tình bên cạnh tình anh em, huynh đệ của đại gia đình y khoa.
Một trong những người tới sớm nhất chiều nay là nha sĩ Lâm Xuân Thời đến từ Norway. Qua vài ba câu chuyện, tôi biết mình có thêm được một người bạn mới từ Bắc Âu. Anh Liêu Vĩnh Bình hôm nay đeo collar có lẽ đã bị thiên hạ “văn cổ” hơi nhiều.
Buổi lễ khai mạc diễn ra rất trang nghiêm và đầy ý nghĩa. Đặc biệt là những màn văn hóa cổ truyền Việt Nam và thổ dân Úc châu. Không thấy những màn hài và bi kịch diễn ra như ở những buổi lễ khai mạc tại những đại hội khác. Bài diễn văn chủ yếu “Ai Đem Quán Trọ Mà Ngăn Nẻo Về ?” của Luật sư Lưu Tường Quang đầy ý nghĩa Về Nguồn. Tiếng Anh nói bằng giọng kangaroo của các bác sĩ trẻ Úc châu nhất là của bác sĩ Katherine Liêu, ái nữ của anh Bình thật dễ thương.
Giải Văn Học kỳ này đã thấy chuyển hướng và đã để ý tới khía cạnh khảo cứu.
Buổi tối dự Cocktail Party trên du thuyền kiểu catamaran Lady Rose sang trọng. Du ngoạn trên vịnh Sydney ban đêm thật thơ mộng. Trời đêm lành lạnh làm gia tăng thêm vị nồng ấm của rượu Úc. Tôi vốn hay ngại đi lấy thức ăn giữa một đám đông (thường được vợ lo cho) may mắn ngồi bên nha sĩ Lâm Xuân Thời. Anh ăn chay. Bọn tôi chia sẻ miếng sandwitch. Tôi ăn phần thịt ở giữa còn anh ăn phần vỏ bánh mì kẹp hai bên. Còn những món ăn mặn khác được tiếp tế anh đưa hết cả cho tôi. Kết quả là tôi ăn nhiều hơn anh Thời vì thế tới tối khuya bụng đã no không thể đi ăn cháo đêm do anh Bình mời.
Ngày hôm sau là ngày 29 tháng 12, buổi chiều tôi có bài nói chuyện về Ý Nghĩa Những Hình Thuyền Trên Trồng Đồng Đông Nam Á. Tôi yên chí vì chắc chắn, ít nhất tôi cũng có được một thính giả là bà xã tôi. Hôm nay nhà tôi rời đoàn du lịch từ vùng biển san hô Great Barrier Reef để trở về tham dư buổi nói chuyện của tôi. Không đến nỗi mình nói chuyện với đầu gối của mình. Như đã nói, những cánh buồm của nhà Hát Nghêu Opera đã gợi ý cho tôi chọn đề tài. Dĩ nhiên những điều tôi trình bầy về những con thuyền đều là những khai phá về trống đồng khác hẳn với những quan niệm của các học giả nghiên cứu trống đồng từ trườc tới nay. Tôi biết, tôi cũng như những kẻ khai phá khác chỉ một mình một ngựa đi trong cái hạnh phúc cô đơn riêng của mình. Từ trước tới nay, có tác giả cho rằng những con thuyền trên trống đồng Đông Nam Á là những thuyền tang, thuyền thủy táng, thuyền tế Hà Bá với cảnh hy sinh các trinh nữ son trẻ. Các tác giả Việt Nam trước đây cho những con thuyền trên trống Ngọc Lũ I và các trống họ hàng là những con chiến thuyền với “lính thủy đánh bộ” với cảnh “liên hoan chiến thắng” qua cảnh bắt giữ, hành quyết tù binh… Xin thật vắn tắt nói lại ở đây, là cái mấu chốt, cái chìa khóa để hiểu ý nghĩa những con thuyền trên trống đồng mà tôi tìm ra được sau bao năm nghiên cứu là những người nhỏ bé trần truồng ngồi bệt trên sàn thuyền trông như những trẻ thơ đang bị những người cầm đòng canh giữ.
Một chiếc thuyền trên trống Ngọc Lũ I.
Đây là những người mà các tác giả hiện nay cho là những tù binh hay những trinh nữ son trẻ dùng làm tế vật cho Hà Bá. Không. Không. Không. Đây không phải là những con người sống. Đây không phải là tù binh. Đây không phải là các trinh nữ dùng làm tế vật. Đây là những linh hồn người chết. Trong chữ viết và hình ngữ Nòng Nọc, tư thế ngồi là âm, là chết và ngược lại đứng là dương. Hình ngữ một người ngồi ở tư thế thai nhi (fetal position) khắc trên đá (petroglyph) của người Thổ dân Mỹ châu vùng Tây Nam Hoa Kỳ (Southwest) có nghĩa là chết hay mai táng (Richard Harris). Nhiều tộc thổ dân châu Mỹ chôn người chết ở tư thế ngồi bó gối kiểu này. Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á, để có sự hòa hợp âm dương, phần lớn những người đánh trống đều ngồi nghĩa là ở tư thế âm cho hòa hợp với nghĩa đực, dương mang tính trội của trống (Việt ngữ trống có một nghĩa là đực), ngược lại cối là cái, âm, ngược lại những người giã chầy vào cối đều đứng, ở tư thế dương. Người cổ Đông Nam Á trong đó có người cổ Việt Đông Sơn quan niệm rằng linh hồn con người là một trẻ thơ, sinh ra trẻ thơ và trong trắng, hồn nhiên như một đứa trẻ, linh hồn trần truồng không quần áo, không trang sức. Chỉ có thân xác con người mới che đậy, mới trang điểm, mới tô son trát phấn. Với năm tháng thân xác con người già đi nhưng hồn người mãi mãi vẫn là trẻ thơ. Khi chết những linh hồn trẻ thơ này vẫn thế và được về miền vĩnh cửu hay tái sinh. Xin trích dẫn nguyên văn một đoạn nói về đức tin linh hồn là trẻ thơ này của người cổ Việt-Mường trong cuốn Les Mường của J. Cuisinier (Jeanne Cuisinier, Les Mường, Géographie humaine et Sociologie, Paris, Institut d’Ethnologie, 1946, p.463-64):
"À côté du cercueil, on installe l’autel du mort devant lequel seront presentées les offandes et recitées les prières jusqu’à la fin du deuil; parfois (nous l’avon observé dans le Mường Vang et à Ngọc Mỹ) on suspendre entre les deux un étrange objet appelé "jouet à huit angles" tlai kon bát yák parce qu’il doit de deux carrés superposés auxquels pendent des écheveaux de soie multicolores, de petits cubes et de petits calices en calocot blanc ou en papier d’oré. On le met entre l’autel et le cercueil pour que l’âme du mort s’amuse avec ce jouet, parce que les âmes, disent les Mường, même dans le corps de vieillards, sont toujours pareilles à de jeunes enfants. Devant la croyance en une perpétuelle enfance de lâme, on ne peut s’empêcher d’évoquer les Dayak chez lesquels, au cours de leurs grandes fêtes funéraires, "les prêtresses portent dans les plis de leurs vêtements, comme des petits enfants, les âmes des donateurs de la fêtes (R. Hertz, Contribution à une étude sur la présentation collective de la mort, p.102)". (Bên cạnh quan tài, người ta dựng bàn thờ người chết, trước đó dâng cúng lễ vật và cầu nguyện cho tới mãn tang lễ, đôi khi (chúng tôi nhận thấy ở Mường Vang và Ngọc Mỹ) người ta treo giữa quan tài và bàn thờ một vật lạ gọi là "đồ chơi tám góc" tlai kon bát giác bởi vì gồm có hai hình vuông chồng xéo lên nhau trên đó có treo các sợi tơ đa sắc và các khối lập phương và hình chén nhỏ bằng calocot trắng hay giấy vàng. Người ta để đồ chơi này giữa bàn thờ và quan tài để cho linh hồn người chết vui chơi bởi vì người Mường cho rằng linh hồn người chết ngay cả trong các thân xác người già, vẫn luôn luôn giống như những trẻ thơ. Trước đức tin là linh hồn trẻ thơ mãi mãi, ta không thể không nói tới ở người Dayak, trong suốt các tang lễ lớn, những nữ pháp sư, nữ tế mang các linh hồn người chết chủ lễ trong các túi gấp nếp ở quần áo của họ như địu (mang) các trẻ con" (R.Hetz). J. Cuisinier cũng dẫn thêm cho rằng các người Fidji cũng quan niệm linh hồn người chết "chỉ là những đứa trẻ" (et on songe aussi à la conception de l’âme chez les Fidjiens qui se servent de grands éventails pour protéger l’âme du mort qu’ils enterrent, afin de la protéger, dit Frazer "because as one explained to a missionary his soul "is only a little child" (D’une lettre du Rev. Lorimer Fison, citée par Frazer in Taboo and the perils of the soul, p.30). Người Semang Pygmies, một trong nhóm người cổ đại nhất ở quần đảo Mã Lai cho rằng người chết trở thành trẻ con trở lại, do đó sửa soạn cho một đời khác trên thế gian (among one of the most archeic peoples of the Malay Peninsula, the Semang Pygmies beleive that the dead become infants again, thus preparing themselves for another life on earth) (M.Eliade, Shamanism, p.280- 281).
Những người nhỏ bé trẻ thơ trần truồng đang ngồi trên sàn thuyền chính là những linh hồn và cũng chính vì có sự hiện diện của những linh hồn này mà thuyền mới được gọi là thuyền linh hồn là vậy. Tuy nhiên đây không phải là những thuyền linh hồn thông thường hiểu theo nghĩa là những thuyền tang hay thuyền thủy táng mà những linh hồn này đang bị canh giữ, phán xét.
Tất cả thuyền trên trống Ngọc Lũ I đều có cảnh một hay hai linh hồn ngồi dưới sàn thuyền đang được phán xét. Linh hồn được một người gác linh hồn đứng phía sau tay cầm vũ khí dí vào đầu canh giữ. Đứng phía trước linh hồn, một người phán xét linh hồn một tay để lên đầu linh hồn, một tay gõ vào trống Cây Vũ Trụ, Cây Đời để khơi động vòng tử sinh trong quá trình định giá linh hồn. Linh hồn được định giá xem là thiện hay ác. Những linh hồn ác bị tống xuống âm ty và những linh hồn thiện, tốt được cho đi qua cây Cầu Thử Thách (“bridge of challenge”) hay Cầu Gian Nguy (“dangerous bridge”) nằm ngay phía sau cảnh phán xét linh hồn. Cầu có hình một đài cao biểu tượng Tam Thế. Người đứng trên đài cầu cao Tam Thế tay cầm lao và khiên là người gác cổng cõi trên, gác cổng trời hay thiên đường. Cầu Thử Thách là cây cầu mà linh hồn người chết phải đi qua để chịu sự thử thách cuối cùng trước khi đi về được cõi hằng cửu, cõi trời (thiên đường). Những linh hồn ác hay tội lỗi không thể nào vượt qua được cây cầu này và rơi xuống vực thẳm của Cõi Âm.
Ở trống Hoàng Hạ, trên thuyền số một, có một linh hồn sau khi đã làm xong thủ tục phán xét và được cho là một linh hồn thiện, tốt, đang đi vào cổng Trục Thế Giới để vượt qua thử thách cuối cùng là đi qua Cầu Thử Thách hình Tam Thế để lên Cõi Trời.
Một linh hồn đang đi vào Trục Thế Giới để vượt qua cây Cầu Thử Thách trên một con thuyền ở trống Hoàng Hạ.
Những thuyền trên trống Ngọc Lũ I và các trống họ hàng là những thuyền phán xét linh hồn trong Vũ Trụ giáo.
Hiểu được ý nghĩa những con thuyền trên trống đồng là hiểu được một phần cái vũ trụ quan, nhân sinh quan của người Đông Sơn sống bên bờ nước sông biển ruột thịt với Lạc Việt Mặt Trời Nước.
Ta cũng thấy rất rõ chủ nhân ông của trống đồng là những người quan niệm linh hồn là một trẻ thơ trong trắng, hồn nhiên, trẻ mãi không già, không chết theo với thân xác. Linh hồn thiện sẽ sống vĩnh cửu hay tái sinh. Họ có cùng một vũ trụ quan, một nhân sinh quan với người Mường, người Cổ Việt. Người Đông Sơn là người Cổ Việt-Mường hay ít ra cả hai có chung cùng một nền văn hóa là Vũ Trụ Tạo sinh, có cùng một tín ngưỡng là Vũ Trụ giáo.
Buổi tối là Đêm Hội Ngộ tại nhà hàng ăn Marigold ở đừơng George Street. Một buổi hội ngộ hiếm có từ trước tới nay đầy thân tình, thân ái, đầy tình đồng khóa, đồng môn và đầy tình huynh đệ trong đại gia đình y khoa. Văn nghệ văn gừng hào hứng bộc xuất từ tận đáy lòng. Thức ăn ngon, hợp khẩu. Đặc biệt, phải nói tới món “cua bùn” của Úc đắt hơn vàng, gần trăm đô la một kí lô.
Tối hôm sau 30/12/ 2004 là Đêm Gala. Vì vướng mắc trong Ca Đoàn Áo Trắng phải chờ trình diễn nên tôi không được thưởng thức những màn trình diễn đặc sắc của đoàn văn nghệ chủ nhà. Lần này tham dự Ca Đòan Ao Trắng, tôi có một bất đồng với ca đoàn trưởng về bài hợp xướng Hương Xưa chọn cho chủ đề Về Nguồn của Đại Hội kỳ này. Bài hát Hương Xưa của Cung Tiến mặc dầu với cái tên Hương Xưa nghe có vẻ hợp với Về Nguồn nhưng trong bài hát có những câu hát như “Đường thi”, “Cô Tô”, “nàng Quỳnh Như”… nhuốm đầy mầu sắc văn hóa Trung Hoa. Nhưng ca đoàn trưởng cho rằng nguồn cội của người Việt Nam phát xuất từ Trung Hoa và tất cả ca đoàn viên khác đều “xướng ca theo”. Theo trò chơi dân chủ, tôi cũng phải chấp thuận với một điều kiện là hát thì hát nhưng không nên nói là “để chọn theo chủ đề Về Nguồn của Đại Hội kỳ này, Ca Đoàn Áo Trắng xin trình diễn hợp xướng Hương Xưa của Cung Tiến”. Khi ra sân khấu trình diễn, buồn thay, ca đoàn trưởng đã không giữ lời hứa và vẫn mào đầu bằng câu nói như trên.
Đại Hội bế mạc trong hân hoan, hoàn mỹ. Đại Hội thành công rực rỡ.
Ngày hôm sau, buổi trưa là buổi ra mắt sách. Đây là lần đầu tiên một Đại Hội của Y giới có tham dự vào việc đỡ đầu ra mắt sách cho các tác giả trong giới bác sĩ. Kỳ này có bốn tác giả, ngoài tôi ra với tác phẩm Tiếng Việt Huyền Diệu còn có thêm bác sĩ Võ Văn Tùng với tác phẩm Vòng Tay Định Mệnh, bác sĩ Hà Thúc Như Hỷ với tác phẩm Thiên Hùng Ca Dân Tộc Việt và bác sĩ Lê Phương Thúy với tác phẩm Hành Trang Vào Đời. Buổi ra mắt sách tại nhà Hàng Quốc Tế ở Canley Heights được bảo trợ bởi Trung Tâm Văn Bút Hải Ngoại tại Úc châu, Đại Hội Quốc Tế Y Nha Dược Sĩ Việt Nam Tự Do kỳ 5 tại Sydney, Lưỡng Nguyệt San Y Học và Đời Sống, Tuần Báo Văn Nghệ, Tập San Tư Tưởng… Nhà hàng Quốc Tế đã có nhã ý cho mượn cơ sở. Ngoài ra còn có các bàn tay phụ giúp của các chị trong Hội Ái Hữu Trưng Vương NSW do chị Vũ Thị Phượng làm hội trưởng và phu nhân của anh Phan Văn là nhà thơ Lệ Hoàng. Cảm động nhất là anh Phan Văn đã cho chạy lại một bài giải đáp Y Học của tôi cho một thính giả của đài BBC trước đây. Nghe lại giọng mình và câu trả lời của mình mới thấy thán phục. . . mình. Bình thường tôi vốn có tính coi khinh mình.
Sau khi ra mắt sách xong, chúng vội vã trở về khách sạn để sửa soạn đị dự New Year Gala Concert của Australial Opera tại Opera House. Cao điểm của ngày cuối năm hôm nay là buổi đốt pháo bông nửa đêm ngay tại hải cảng Sydney.
Khu Hải Cảng, Khu Circular Quay, khu nhà Hát Nghêu đen nghẹt, nêm cứng, chen vai thích cánh người và người. Một rừng người. Một biển người. Những tham dự viên buổi hòa nhạc tối nay được dành một lối đi riêng để vào nhà hát Opera.
Đúng giờ, mở màn là bài Strike Up the Band Overture của George Gershwin do Australian Opera và Ballet Orchestra trình diễn do nhạc trưởng Richard Hickox điều khiển. Nếu so sánh với Opera của Ý và Hoa Kỳ thì Opera của Úc mới chỉ ở hàng đầu nhưng chưa tới mức thượng thừa. Dĩ nhiên không có giọng opera nào sánh bằng các giọng tenors của Ý như Pavarotti, Domingo, Carreras…
Đêm New Year’s Eve Gala Concert tại Opera House.
Interval nghỉ giải lao ngay đúng lúc pháo bông khởi sự vào lúc 9 P.M. Đây mới là đợt “khai hỏa” để mở màn cho một đêm hoa đăng của Sydney. Người Úc tự hào cho rằng đây là đêm pháo bông lớn nhất, đêm huy hoàng nhất, đêm rạng ngời nhất trên thế giới để đón mừng Năm Mới.
Dĩ nhiên nhà Hát Nghêu là một địa điểm tuyệt vời và lịch lãm nhất để chiêm ngưỡng bầu trời đêm Sydney nở rộ ngàn hoa ánh sáng.
Buổi trình tấu nhạc chấm dứt trước nửa đêm với màn “Au fond du temple saint” trích trong The Pearlfishers của Geoeges Bizet do Jaewoo Kim và Michael Lewis trình diễn, chấm dứt sớm để sửa soạn cho show pháo bông chính thức đón mừng Năm Mới vào lúc nửa đêm.
Hàng ngàn ngàn cái bóng bóng, hàng triệu cánh bươm bướm giấy từ trần nhà đổ xuống đánh dấu chấm hết buổi hòa nhạc với câu hợp xướng:
Oui, c’est elle… C’est la déesse,
En ce jour qui vient nous unir
Et fidelée à ma promesse
Comme un frère je veux te chérir!
C’est elle!… C’est la déesse,
Qui vient en ce jour nous unir!
Oui, partageons le même sort!
Soyons unis jusqu’à la mort!
Mọi người với ly champagne cầm trong tay chờ đón giây phút giao thừa sắp đến, chờ đón bầu trời Sydney nở rộ hoa đăng. Dàn nhạc giao hưởng bắt đầu trổi dậy những khúc nhạc chào mừng năm mới.
Giao thừa đã điểm. Cả bầu trời cảng Sydney rực sáng. Ngàn vạn đóa hóa ánh sáng rạng ngời rở bung ra trên bầu trời Sydney. Cả dòng thác ánh sáng chẩy từ Cầu Harbour xuống mặt nước.
Dưới bầu trời rực rỡ ánh ánh và mầu sắc chan hoà của cảng Sydney, đoàn rước thuyền Harbour of Light parade lung linh ánh sáng, bềnh bồng trôi trên mặt nước.
Tất cả mọi người cùng nâng ly champage chúc tụng giây phút trời đất giao hòa. Giây phút chia xẻ yêu thương cùng nhau. Tình Người. Hai vợ chồng tôi thấy mình gần cận với nhau hơn bao giờ cả.
Pháo bông chấm dứt. Người đàn bà đứng sát bên tôi còn nuối tiếc “năm nay ít pháo bông quá”. Năm nay chương trình đốt pháo bông cắt giảm, tiết kiệm bớt để giúp những người bị Tsunami mới xẩy ra ở Thái Bình Dương.
Dạ vũ bắt đầu. Tôi vốn ít thích nhẩy. Tôi thường nói đùa là mình dùng tay viết nhiều nên không có “chân tài” vì thế nhẩy nhót rất vụng về. Nhẩy nhiều chỉ sợ có dăm ba chữ trong đầu chúng rơi rớt mất. Nhưn g đêm nay không cầm… chân được. Phải nhẩy với trời đất, sóng nước và con người Sydney.
Dạ vũ tàn. Chúng tôi rời nhà hát Opera đã quá một giờ sáng. Người bên ngoài bến cảng và các khu phố vẫn còn chen chân, vui như Tết… Tây. Tiệc vui Năm Mới hãy còn. Một bãi chiến trường ăn chơi . Chai. Lọ. Lon. Giấy. Hộp. Rác. Rác rưởi. Rác rến. Thức ăn thừa. Những đống nôn mửa…
Những người say sưa lảo đảo, ngả nghiêng. Nằm, ngồi la liệt. Có những người bất tỉnh nhân sự được bạn bè khiêng chạy long nhong như “cưỡi ngựa bồ đề” hay lôi xềnh xệch trên mặt đường. Không thấy bóng dáng Paramedics ở đâu cả. Ở Hoa Kỳ cứu giúp các người lâm nạn kiểu này thì vỡ nợ. Điều này cho thấy ở đây hành nnghề y khoa còn nhiều thong thả, thoải mái. Về rác rến thì Úc châu hơn Hoa Kỳ xa. Tôi thường vào Las Vegas dự New Year. Đêm New Year’s Eve ở Las Vegas cũng tưng bừng, cũng rượu chè say sưa be bét nhưng ở Mỹ cứ cách khoảng chừng 15 hay 20 thước lại có một cái thùng rác. Cứ cách trăm thước lại có một nhóm cảnh sát, cấp cứu viên đóng chốt, chưa kể cảnh sát cưỡi ngựa và cưỡi xe đạp đi tuần tiễu. Xe cứu thương và chữa lửa chờ sẵn ở các ngã tư chính.
Chúng tôi đi trong dòng người chung cái vui đầu năm
với đám đông. Bộ áo lớn dự dạ hội của tôi thấy lạc lõng giữa đám đông tuổi trẻ. Giới trẻ Úc vui nhộn, ồn ào và hoang dại hơn những nơi khác. Con gái kangaroo có cặp dò trường túc, cao, to, đẹp, giống như cặp dò kangaroo. Say rượu gái Úc cũng ôm… “túi” nhẩy quẩng, nhẩy tưng tưng như kangaroo.
Bất ngờ. Thật Bất ngờ. Một nàng cừu tơ Aussie ào tới ôm choàng lấy tôi và tặng tôi một nụ hôn nồng cháy và chúc “Happy New Year”. Cảm thông với trời đất, với lòng người đẹp, tôi cũng mở rộng lòng ôm nàng chặt trong vòng tay đáp lại “Happy New Year”. Một nụ hôn chính thức ngay trước mắt bà xã tôi, không phải là một cái hôn lén lút, một nụ hôn có “trình toà”, có mặt luật sư chứng thục hẳn hoi. Mùi son, mùi rượu của chiếc hôn bay đi nhưng còn phảng phất lại mãi mùi cừu tơ Aussie.
Sớm mai này chúng tôi lại theo nhóm du lịch lên đường đi Tân Tây Lan.
Sáng sớm tắm rửa lên đường, tôi để chừa lại một bên má, giữ lại nụ hôn đầu năm của Sydney.
Xin chấm dứt Kangaroo ký ở đây. Một chuyến đi Úc châu nhớ đời.
(hết).