QUẦN ĐẢO GALAPAGOS, NƠI THIÊN NHIÊN CÓ QUYỀN CỦA THIÊN NHIÊN (Right of Nature).
(phần 1).
Nguyễn Xuân Quang
Quần đảo Galapagos là một trong bốn hạt (provinces) của Ecuador: hạt đảo Galapagos, hạt Duyên Hải (Coast), hạt núi Andes và hạt Amazonia.
Ecuador là nước nhỏ nhất ở châu Mỹ (diện tích 270.670 cây số vuông và có dân số khoảng 13 triệu người) nằm vắt ngang trên đường xích đạo, một phần ở Bắc và một phần ở Nam bán cầu vì thế mới có tên là Nước Xích Đạo Ecuador.
Ecuador rất đa dạng về thiên nhiên và văn hóa. Ecuador đứng đầu về đa dạng sinh học (biodiversity) với 9.2 giống loại (species) trên một cây số vuông. Nổi trội nhất và biết tới nhiều nhất khắp thế giới là quần đảo Galapagos có một không hai trên trái đất này.
Quần đảo Galapagos có 13 đảo lớn, 6 đảo nhỡ và 40 đảo nhỏ ở cách bờ phía Tây Ecuador 600 miles.
Bản đồ quần đảo Galapagos và lộ trình thăm viếng.
Quần đảo do núi lửa từ lòng biển đội lên, gồm trên hai ngàn miệng búi lửa. Ở một vài đảo non, núi lửa hãy còn hoạt động.
Quần đảo Galapagos là một bảo tàng viện sống về sự tiến hóa. Những thú vật ở đây sống tự do, vô tư, ngây thơ, hồn nhiên và không biết sợ khác hẳn các loài thú ở những nơi khác trên mặt đất này. Cái di thể (gene) không biết sợ (fearless) vốn đã có từ ngàn xưa, giờ vẫn còn tồn tại. Những loài vật ở đây coi con người như một loài thú hiền hòa như chúng. Con người có nhiều kẻ còn mang thú tính thua xa thú vật ở đây. Nơi đây là địa đàng của thú vật. Galapagos là thiên đường hồn nhiên của loài vật. Thú vật sống trong tự nhiên. Những loài thú nhỏ thản nhiên làm mồi cho loài thú lớn theo luật tự nhiên. Không sợ hãi. Sống giờ phút nào “thân tâm thường an lạc” phút đó. Hãy ăn thịt tôi để người sống còn. Nếu không bị ăn thịt, sống còn, tôi sẽ sống hết một cuộc đời an bình tự tại tiếp nối vòng sinh tạo của thiên nhiên, tạo hóa.
Năm 1835, Charles Darwin đi trên con tầu British ship H.M.S. thăm quần đảo này. Những chứng cớ sống ông tìm thấy ở quần đảo núi lửa độc đáo này khiến ông đưa ra luận thuyết về nguồn gốc các loài vật, luận thuyết này đã làm rung chuyển thế giới khoa học.
UNESCO đã tuyên bố Galapagos là Di Sản Thiên Nhiên Thế Giới World Natural Heritage nằm 1978 và sau đó là World Biosphere Reserve vào năm 1985.
Galapagos là nhà của nhiều giống vật bản địa (endemic) không một nơi nào khác có (cần phân biệt bản địa endemic với bản quán native, có nghĩa là các giống sinh sản ở đảo này nhưng là những giống đã có ở những nơi khác và với đem đến introduced là các giống đem từ nơi khác tới).
Trong các giống vật sống ở đây, con vật quí hiếm nhất thế giới là loài rùa bản địa khổng lồ, rùa voi, rùa tượng (elephantopus Geochelone) (voi, tượng là lớn giống như cá voi, xoài tượng). Dân dã gọi rùa voi, rùa tượng này là rùa “Galapagos”. Tên loài rùa này đã được dùng để đặt tên cho quần đảo. Giống rùa khổng lồ này có cái mai (carapace) phía đầu mai dài che cổ, ở giữa có rãnh lõm trông như chiếc yên ngựa của người Anh mà tiếng Tây Ban Nha gọi là ‘galapago’. Thật ra theo biến âm g= c như gài = cài, ta có galapa(go)=carapa(ce), mai, mu. Yên ngựa galapago là một thứ che chở lưng ngựa hàm nghĩa mai, mái, vật che chở (mai rùa, mai cua là vật che chở cho con vật; tóc mai là tóc che mang tai, màng tang, mái nhà là phần che nhà). Ta cũng thấy theo c = x như còm = xọm, car = xa, xe, ta có car (apace) = xác. Xác là phần cứng của thân thể (to xác). Rùa có mai cứng carapace là loài giáp xác. Ốc sò có vỏ cứng thuộc loài giáp xác. Ốc sò tên Tây Ban Nha ngữ là caracol (có car- = xác). Galapagos là đảo Rùa Mai Yên Ngựa.
Rùa voi Galapagos giống có mai trung gian, hơi khum khum cong tròn (ảnh của tác giả).
Trước đây những người đánh cá voi, săn hải cẩu, thương thuyền, tầu hải quân thường ghé quần đảo này bắt rùa. Trên mười ngàn con rùa đã bị giết. Họ bắt rùa đem theo các chuyến hải hành để bảo đảm có thức ăn tươi hầu tránh không bị chứng thiếu sinh tố C (scurvy) vì rùa có thể sống còn tới 18 tháng mà không cần ăn uống gì. Sau đó những người tới cư ngụ tại quần đảo này mang theo gia súc. Chó mèo giết rùa con. Heo đào xới ăn trứng rùa. Dê, lừa tàn phá cây cỏ khiến rùa không còn thức ăn…
Có nhiều giống rùa voi này đã bị tuyệt chủng. Cũng may thời đó chưa có một ông Tầu hay một ông Việt Nam nào biết tới giống rùa này ở đây. Nếu mà biết được thì tất cả các giống rùa ở đây đã bị tuyệt chủng hết rồi. Các ông đã giết rùa lấy mai đem nấu cao qui bản để làm thuốc bổ mu… rùa! (ăn thứ gì bổ thứ đó).
Chúng tôi đến đảo vào tháng sáu bắt đầu mùa khô, mát và cũng là mùa rùa từ trên núi cao xuống vùng đất thấp làm tổ.
Rùa voi, rùa tượng này được chia ra làm ba loại chính dựa theo hình dáng của mai:
Ba loại mai rùa (ảnh của tác giả).
.Rùa voi mai bằng, dẹp như yên ngựa (saddle back) như thấy ở đảo Española.
.Rùa voi mai hình vòm (dome) như thấy ở đảo Pinta.
.Rùa voi mai trung gian (intermediate) hơi khum khum tròn, nằm lưng chừng giữa mai dẹp và mai vòm.
Cả ba loại thật ra có cùng một gốc tổ rùa đến từ lục địa nhưng mai rùa đã biến đổi theo môi sinh.
Khoảng ba triệu năm trước, quần đảo Galapagos thành hình do núi lửa từ lòng Thài Bìng Dương phun lên. Rồi các hạt cây cỏ do chim muông đem tới mọc lên thành cây cỏ. Có cây cỏ chim muông tới ở, các loài thú trôi dạt tới có thực phẩm nên sống còn tại đây. Trong số đó có loài rùa. Tùy theo môi sinh, rùa biến dạng thành một giống có mai có hình dạng khác nhau như thấy qua sự phân loại dựa vào chiếc mai ở trên. Ví dụ trên đào Pinta khô cằn có ít cây cỏ mọc sát mặt đất nên có giống rùa nhỏ con, có cổ thật dài, đầu nhỏ và có mai u tròn vun lên thành hình vòm. Rùa nhỏ con có thể vì thức ăn không dư thừa nhưng cũng có thể vì thích ứng với hoàn cảnh. Rùa nhỏ con, mai nhỏ dễ nhấc người cao lên khỏi mặt đất. Cổ dài nên có thể vươn lên cao. Mai rùa hình vòm cũng giúp rùa nhấc người lên cao được dễ dàng. Mai vòm không dài và cạnh ở phía cổ không sắc giúp cổ rùa không bị cản trở bởi phần trước của mai, do đó rùa có thể vươn cổ lên cao. Vì thiếu cây cỏ mọc sát mặt đất, rùa ở đây cần phải nhấc người lên cao, vươn cổ thật cao để với tới ăn cành lá của những cây cao. Ngược lại ở những đảo có mưa nhiều hơn, cây cỏ mọc xanh tươi như đảo Santa Cruz và phía nam đảo Isabela, rùa rất to con, nặng nề và có mai bằng, dẹp…
Năm 1835 Charles Darwin tới viếng thăm các đảo này và đã nhận ra những giống rùa có mai có hình dạng khác nhau ở những đảo khác nhau mặc dù chúng cùng phát xuất từ mội loại rùa đã tuyệt chủng đến từ đất liền. Sự quan sát này là một phần của Thuyết Tiến Hóa Bởi Sự Chọn Lọc Của Thiên Nhiên (Theory of Evolution by Natural Selection).
Tại đây có một chàng đơn thân độc mã, một mình một ngựa nổi tiếng nhất quần đảo này và cả thế giới, đó là “Lonesome George”, George Cô Đơn. Năm 1972 một nhân viên Công Viên Quốc Gia đi giết dê (do những người tới ở đây mang đến) để bảo vệ cây cỏ cho rùa có thức ăn ở trên đảo Pinta, một hòn đảo nhỏ hẻo lánh ở phía bắc quần đảo Galapagos. Ông đã tìm thấy một chàng rùa và đem về nuôi ở trung tâm khảo cứu. Chàng được đặt tên là “Lonesome George”, George Cô Đơn.
George Cô Đơn.
(lưu ý rùa nhỏ con, đầu nhỏ, cổ rất dài và mai rùa hình mái vòm nhằm mục đích để nhấc người lên cao dễ dàng và mai không làm cản trở cổ khi cổ vươn lên cao nên có thể với lên cao ăn cành lá ở các cây cao).
Geroge Cô Đơn là chàng rùa duy nhất còn sống sót của giống ở đảo Pinta (Geochelone elephantopus abingdoni). Nếu chàng chết đi, giống Pinta này sẽ tuyệt chủng. Theo sách Kỷ Lục Thế Giới Guinness, George Cô Đơn là “sinh vật hiếm quí nhất” trên thế giới.
Câu chuyện về George Cô Đơn lan truyền khắp thế giới. Các sở thú treo giải 10.000 Mỹ kim cho ai tìm thấy một nàmg rùa Pinta để đem gả cho George Cô Đơn. Cho tới nay vẫn chưa tìm thấy một bóng hồng Pinta nào cả.
Người ta đã đem nhiều nàng rùa tơ đến mua vui George nhưng anh chàng này vẫn dửng dưng. Hiện nay chàng đang sống với hai nàng rùa có di truyền tính gần giống mình đem đến từ đảo Wolf Valcano nhưng sau 35 năm mà chàng vẫn không màng tới sắc dục, không truyền giống sinh sản được.
George Cô Đơn nổi tiếng đến độ có cả một công ty bán đồ kỷ vật ở Galapagos lấy tên là Lonesome George và hãng hàng không Aerogal (viết tắt của AeroGalapagos) có chiếc máy bay mang tên George Cô Đơn bằng tiếng Tây Ban Nha Solitario George.
Chiếc máy bay chúng tôi đi mang tên George Cô Đơn bằng tiếng Tây Ban Nha Solitario George, tên viết cả ở phía trên lá cờ Ecuador (ảnh của tác giả).
Ngoài ra Galapagos còn có những loài thú bản địa rất đặc biệt khác hẳn các nơi khác. Xin nói qua một vài giống đặc thù.
-Loài thú có vú sống ở biển
.Hải sư (sea lion).
Những con hải sư hồn nhiên nằm phơi nắng ngủ. Tôi có thể tiến sát lại gần nhưng tôn trọng giấc ngủ của các chú các cô nên chỉ ngồi cách xa một chút. Một chú phía sau lưng thức giấc, nhấc đầu lên nhìn vào ống kính, xin chụp chung một tấm hình kỷ niệm.
Một con hải sư mới sanh (ảnh của tác giả).
Một con hải sư sơ sinh, mới sanh, mẹ xuống biển kiếm ăn, để con nằm một mình mà không sợ con mình bị hãm hại vì từ ngàn xưa tới giờ trong di thể (gene) chưa có ghi nhớ một trường hợp nào đã xẩy ra.
Cũng cần phân biệt giữa hải sư và hải cẩu (seal). Hai đặc tính dễ thấy ngay là hải sư có miếng da che tai trong khi hải cẩu chỉ có lỗ tai, khi đi trên bờ, hải sư dùng chân màng sau trong khi hải cẩu dùng bụng…
Ngoài ra cũng có các loài có vú khác như dolphin, cá voi.
-Chim
Galapagos là nhà của nhiều giống chim:
.Chim boobie
Đây là loài chim nước thuộc họ chim nông, chân có màng như vịt nên có người gọi là vịt biển. Có ba loại boobies: một loại chân xanh (blue footed boobies), một loại chân đỏ và một loại có viền đen quanh mắt và mỏ trông như đeo mặt nạ nên có tên là boobies mặt nạ (masked boobies).
Một đàn boobies chân xanh ở sau lưng.
Một cặp boobies chân xanh đang múa điệu tình vũ (ảnh của tác giả).
Tình vũ gồm hai giai đoạn: vũ điệu pelican và chỉ trời đạp đất (pelican dance and sky pointing). Mỏ chỉ thẳng lên trời hai chân dậm xuống đất nhịp nhàng như thấy ở hình trên.
Khi đẻ trứng làm tổ trên mặt đất, boobies chân xanh đánh dấu bằng một vòng tròn (guano ring) do chính phân của cặp vợ chồng chim. Ngửi phân của mình sẽ biết là nhà mình và trứng của mình. Ca dao Việt Nam có câu “Cứt ai vừa mũi người ấy”.
Tổ chim đánh dầu bằng vòng phân trắng (ảnh của tác giả)
Chim boobies mặt nạ là giống to con nhất trong ba giống boobies.
Một con boobie mặt nạ (ảnh của tác giả).
Đặc tính của loài chim này là “giết con”. Chim cái thường đẻ hai trứng cách nhau năm ngày. Nên khi trứng nở cũng cách nhau năm ngày. Con nở trước chiếm hết mồi mớm nên con nhỏ nở sau yếu đuối thường bị bỏ rơi cho chết. Cha mẹ không muốn tạo dựng nên một đứa con yếu đuối.
.Frigate, chim cướp biển.
Frigate là tên gọi chung các chiến hạm xung kích cỡ nhỏ vì thế loài chim này có người dịch là chim quân hạm (Nguyễn Văn Khôn). Chúng được gọi là “chiến hạm xung kích” vì chúng lao mình trên mặt biển tấn công các loài chim biển khác để đánh cướp mồi. Vì thế chúng cũng được gọi là chim hải tặc (Pirate birds). Chúng quả thật là một loài điểu tặc, một giống chim đạo tặc. Không biết bơi, không biết lặn, chúng chỉ chuyên sống bằng cách ăn cướp những mồi cá mà các loài chim biển khác bắt được nhưng chưa kịp ăn.
Chim có mỏ dài, cánh xoải rộng và đuôi chẻ hai như chim én.
Một con chim hải tặc đang liệng trên trời để rình cướp mồi (ảnh của tác giả).
Con đực có chiếc bìu hơi đỏ trước cổ, khi tán mái, ve mái phình lên rất đẹp.
Một chàng frigate đang phình cái bìu hơi đỏ dưới cổ để ve vãn các nàng. Chú ý ở bên là một chàng “ván đã đóng thuyền rồi”, thấm mệt rồi (“hết xí quách”) nên cái bìu dưới cổ không còn phình to lên nữa (ảnh của tác giả).
. Chim cốc không biết bay (flightless cormorants).
Cốc không biết bay (ảnh chụp từ một poster).
Chim cốc ở đây chỉ cần nhẩy xuống biển là có tôm cá ê hề, chẳng cần phải bay đi đâu xa. Do đó đôi cánh teo nhỏ lại vì không cần dùng tới. Chúng trở thành một giống cốc không biết bay đặc thù của Galapagos mà không một nơi nào trên thế giới có.
Rất tiếc mấy hòn đảo ghé qua, chúng tôi không gặp một con nào, đành phải chụp hình con cốc này từ một tấm poster ở phi trường.
.Hồng hạc
Ở đây cũng là thiên đàng của loài hồng hạc (flamingo).
Hồng hạc đang kiếm ăn ở hồ nước cạn.
Nàng “flamingo” da bánh mật co chân đứng giữa là hướng dẫn viên người Ecuador.
.Chim nông (pelican).
Chim nông mầu nâu ở đây cũng được coi là chim bản địa.
Một giấc ngủ trưa thần tiên mơ về thuở đẻ ra Trứng Vũ Trụ (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).
. Hải Âu sóng ( waved Albatroses)
Đây là loài hải âu lớn nhất, loài chim biển lớn nhất ở quần đảo này. Chúng có thể sống trôi nổi trên sóng biển, nên có thể ở ngoài khơi hàng tháng không cần bay vào bờ.
Hải âu sóng (ảnh của tác giả).
Một cái trứng hải âu sóng bị bỏ rơi (ảnh của tác giả).
Đặc điểm của hải âu sóng là trong đất liền chúng phải đi bộ, không thể lấy trớn bay lên. Phải đi bộ ra vách đá, bờ đảo rồi phóng xuống biển mới lấy đà để bay được. Vì thế thường thấy chúng ở những nơi có vách đảo dựng đứng. Khi ở dưới nước chúng phải vỗ cánh đi trên mặt nước lấy đà rồi mới cất cánh bay lên được, giống như phi cơ cất cánh.
.Chim di (gi) sừng (finches)
Galapagos có 14 loại chim di với những biến dạng theo môi sinh, đặc biệt nhất là cái mỏ, khác với chim di ở những nơi khác.
Chim di đất có mỏ chim két sống bằng thực vật. Mỏ như chim két dùng để cắn vỡ các hạt, đục khoét các thân cây cứng (hình trích trong Galápagos, Preserving Darwin’s Legacy, Tui de Roy).
Charles`Darwin cũng đã dùng các loại chim di này làm bằng chứng cho luận thuyết tiến hóa của mình.
. Diều hâu
Một cặp diều hâu đang đứng nhìn những con vật-người đi trên hai chân rất lạ lùng (ảnh của tác giả).
Lưu ý hai con diều hâu đứng chung tảng đá với con kỳ đà biển. Sống chung hòa bình. Diều hâu cũng ăn kỳ đà biển nhưng chỉ ăn những con còn nhỏ, không ăn con đã lớn nên không giết những con lớn. Cũng dễ hiểu thôi. Ăn con lớn thì còn đâu những con trưởng thành để sinh ra những con nhỏ dùng làm mồi mà sống. Loài người ở nhiều nơi còn thua diều hâu ở đây, khi đánh tôm cá chẳng hạn, bắt ăn cả những con cái đang có trứng hay những con mới nở.
.Mockingbird, chim nhái tiếng nhót.
Mockingbird là một giống chim có biệt tài bắt chước tiếng hót của các loài chim khác rất tài tình (vì thế mới có tên gọi là mockingbird).
Một con chim mocking thân thiện.
(Nó không phải đến để tìm ăn vì chưa hề được người cho ăn. Luật lệ cấm mang thức ăn lên đảo và cho muông thú ăn rất bị nghiêm trị theo luật về Quyền của Thiên Nhiên, Right of Nature ở đây).
Một con chim mocking không sợ người cầm gậy đứng sát cạnh cây gậy. Tổ tiên nó hàng ngàn năm nay chưa bị ai cầm cậy đánh nên không có di thể (gene) sợ gậy, sợ con người cầm gậy. Chúng chỉ biết những con người tới đây dùng gậy để đi trên các bờ đá cho vững.
Chim mockingbirds tại đây ở mỗi đảo cũng khác nhau tùy thuộc vào môi sinh.
.Cò
Cò xám, cò đá, có mầu lông lẫn vào mầu đá núi lửa (ảnh của tác giả).
Ngoài ra ở đây có một loài penguins nhỏ độc đáo, thấy nhiều nhất ở đảo Fernandina và Isabela.
(còn tiếp).























