Bac Si Nguyen Xuan Quang’s Blog

May 11, 2012

THÁM DU NAM CỰC (13).

Filed under: Thám Du Nam Cực (13) — Quang Nguyen @ 6:35 am

 

THÁM DU NAM CỰC

Du ký

(Phần 13).

Nguyễn Xuân Quang

Đảo Voi (Elephant Island).

Tầu đi lộn ngược Ngõ Hẻm Băng Sơn ra Vịnh Hy Vọng hướng tới Đảo Voi. Trên đường đi lại thấy những tác phẩm điêu khắc băng sơn khổng lồ đẹp tuyệt vời.

Đảo voi cách Mũi Horn 885 km và cách đảo Faulkland khoảng 935 km là một địa danh lịch sử và thường dùng làm trạm dừng chân để vượt qua lại hải đảo Drake tới Đảo Faulkland ở bên phía Đại Tây Dương.

Bản đồ vị trí Đảo Voi.

Vì thế Argentina, Chile và Vương Quốc Anh đều đòi hỏi làm chủ quyền Đảo Voi này.

Đảo Voi (nguồn travelbloc.com).

Đảo Voi là một dẫy núi bao phủ bởi tuyết băng nằm ở đầu đông Bắc của Đảo Nam Shetlands ở Biển Nam Cực. Đảo này vốn  được những người Anh săn hải cẩu gọi là Đảo Hải Cẩu Voi (Elephant Seal Island) vào năm 1820 bởi vì họ thấy có nhiều giống này ở đây. Điểm thú vị là về hình dạng, đảo trông cũng giống hình đần con voi đưa thẳng vòi ra phía trước.

Đảo Voi nhìn từ xa (ảnh của tác giả).

Băng Hà chính yếu của đảo là Băng Hà Endurance (tên đặt theo tên chiếc tầu của Shackleton) (ảnh của tác giả).

Ở đây gió thổi bạt ngàn. Gió có thể lên tới 100 dậm (160 km) một giờ.

Tay phải giữ mũ áo vì gió lớn.

Đảo chỉ là một dẫy núi không có gì, chỉ có các giống băng quyên gentoo, chinstrap (Quai Đeo Cầm) và hải cẩu thiên di tới đây vào mùa hè.

Thật sự địa danh này nổi tiếng vì đây là một điểm dấu mốc lịch sử.

Tại đây 28 thủy thủ đoàn của nhà thám hiểm Ernest Shackleton đi trên con tầu Endurance vào năm 1915 đã bị mắc cạn. Tầu của họ bị kẹt và vỡ trong băng nén (pack ice) ở Biển Weddell. Hai mươi tám thủy thủ đoàn trên các thuyền cấp cứu được neo cột vào một tảng băng sơn trôi dạt trên mặt biển trong nhiều ngày. Cuối cùng họ tấp được vào bờ Đảo Voi. Họ sống tại một nơi gọi là Point Wild,  một mũi đất nhọn ở bờ bắc của đảo.

Họ làm lều trú thân bằng cách lật úp chiếc thuyền cấp cứu làm mái che.

Lật úp  thuyền cấp cứu làm mái che lều trú thân (nguồn Jame Caird Society).

Họ săn băng quyên và hải cẩu làm thực phẩm. Dùng mỡ chúng làm dầu nấu ăn và thắp đèn. Nhiều người đã bị “băng đá cắn” (frost bite) và ngã bệnh.

Nhận thức rằng sẽ không có ai biết họ mắc cạn ở nơi này, Shackleton cùng năm thủy thủ dùng một chiếc thuyền cấp cứu dài có 22 bộ đã ra đi tìm người tiếp cứu ở  đảo South Gerogia, nơi mà ông biết có một trạm săn bắt cá voi.

Họ đã vượt 800 dậm qua vùng biển Đảo South Georgia, đổ bộ lên một chỗ hoang vu và đã lội bộ trong băng tuyết gió bão Nam Cực băng ngang qua đảo và cuối cùng, sau hai tuần lễ, họ tiếp cận được với nhóm người săn bắt cá voi ở đảo này.

Nhờ những người này giúp đỡ, Shackleton liên lạc được với nơi họ phát xuất ra đi thám hiểm ở Punta Arenas, Chile.

Sau bốn tháng rưỡi, họ được tiếp cứu bởi chiếc tầu Yelcho, từ Punta Arenas do Luis Pardo điều khiển.

 Shackleton là người cuối cùng trở về.

Ngày nay tại đây có tượng Pilato Pardo chỉ huy con tầu Chile Yelcho tiếp cứu những ngừời này vào ngày 30 -8-1916.

Rời Đảo Voi, tức chúng tôi rời vùng Bán Đảo Nam Cực, kết thúc bốn ngày ở đây.

Đêm nay qua hải đạo Drake nhằm đúng vào đêm giao thừa Tết Nhâm Thìn. Chúng tôi đón một giao thừa trắng Nam Cực.

Đêm ba mươi ở đây không “tối như đêm ba mươi” mà:

Đêm ba mươi trng nõn nà,

Hoa tuyết trắng bay bay lấp lánh như muôn triệu đom đóm:

Muôn đom đóm tuyết ngc ngà bay bay.

Ở đây nửa đêm mà vẫn còn mặtt trời:

Giao tha mà vn còn ngày.

Giao thừa vào lúc hoàng hôn ở Nam Cực (ảnh của tác giả).

Mt trđêm lnh, mt mày tím thâm.

Mặt trời lặn xuống biển băng giá càng lúc mặt trông càng tím thâm

Na trăng vng vc rt rm.

 Trăng Nam Cực lúc giao thừa hình bán nguyệt đứng thẳng như bổ dọc, chia đôi rất cân đều, trông đúng là “vầng trăng ai xẻ làm đôi” . Nửa trăng càng về sáng càng vằng vặc như trăng tròn đêm rằm (ảnh của tác giả).

Ánh quang nam cđầu năđón chào.

Ánh quang Nam Cực gọi là Southern light (aurora australis) sinh ra bởi gió mặt trời (solar winds) tạo ra những ráng muôn mầu rực rỡ, chuyển động, nhẩy múa ngoạn mục, mê hồn.

Đêm tr tch, vng trên cao,

Ngân hà chuyđộng, rì rào sóng lay.

 Ở đây đêm trừ tịch trời đất tĩnh lặng vô cùng, có thể lắng nghe tiếng sóng Ngân Hà rì rào trên cao.

(xem Tết Trắng Nam Cực, Hình Tiêu Biểu Tháng 2-2012).

Đêm nay và cả ngày mai, tầu vượt hải đạo Drake, nổi tíếng thường có bão tố chết người, để tới Đảo Faulkland. Cầu mong ngày mồng một tết khi qua hải đạo Drake được biển lặng gió im, không gặp dông bão, kẻo không sẽ bị “dông” cả năm.

(còn nữa).

April 27, 2012

THÁM DU NAM CỰC (12).

Filed under: Thám Du Nam Cực (12) — Quang Nguyen @ 5:23 am

THÁM DU NAM CỰC

Du ký

(Phần 12).

Nguyễn Xuân Quang

 

Ngày Thứ 4 ở Nam Cực

Theo lộ trình hôm nay sẽ tới và dừng lại ở hai điểm nóng là Vịnh Hy Vọng (Hope Bay) và Đảo Voi (Elephant Island).

Trời trong, gió mạnh, biển động vừa phải, nhiệt độ 3° C (37° F). Mười hai giờ trưa tới tọa độ: vĩ độ 62° 53.9 Nam và kinh độ 056° 51.2 Tây.

Vịnh  Hy Vọng

Từ đảo Cuverville đi về  chỏm mút của bán  đảo Trinity để đến vịnh Hy Vọng Esperanza.

Từ đảo Cuverville đi về chỏm mút bán đảo Trinity để đến vịnh Hy Vọng Esperanza.

Vịnh Hy Vọng (Hope Bay) tiếng Tây Ban Nha là Bahía Esperanza nằm trong vùng Biển Hẹp Nam Cực (Antartic Sound). Thật ra đây là một vũng biển hẹp đào sâu vào bán đảo Nam Cực trông như một đường hẻm, một ngõ hẹp nên thường được gọi là “Con hẻm Băng Sơn” (“Iceberg Alley”). Sở dĩ được gọi tên như thế vì ở đây có vô số những băng sơn khổng lồ đẹp tuyệt vời, thiên hình vạn trạng. Một Ngõ Hẹp Thiên Đường Băng Đá.

Ngõ hẹp Băng Sơn Vịnh Hy Vọng (nguồn: Plankt.oxfordjournals.org).

Thật vậy vùng Biển Hẹp Nam Cực dẫn vào vịnh và trong con Hẻm Vịnh Hy Vọng triển lãm nổi những siêu tác phẩm điêu khắc băng sơn khổng lồ.

(ảnh của tác giả).

(ảnh của tác giả).

(ảnh của tác giả).

 

(ảnh của tác giả).

(ảnh của tác giả).  

(ảnh của tác giả).

Đây là băng hà chủ yếu ở đầu tận cùng của con Hẻm Băng Sơn Vịnh Hope.

(ảnh của tác giả).

Băng hà chủ yếu ở đầu tận cùng của con Hẻm Băng Sơn Vịnh Hope.

  Băng hà, băng sơn vụn (berggy bits) và băng biển (sea ice) đã tan gần hết  (ảnh của tác giả).

Ngoài thiên đường băng sơn ra, ở đây đặc biệt còn có:

.Tộc thể băng quyên Adélie.

Tên Adélie đặt theo tên  bà vợ của một nhà thám hiểm người Pháp. Adélie là loài băng quyên nhỏ nhất, thích sống ở vùng lạnh có đá băng.

(ảnh của tác giả).

Đứng trên băng sơn (ảnh của tác giả).

 Đặc điểm của băng quyên Adélie là có vòng trắng quanh mắt.

Băng quyên Adélie có viền trắng quanh mắt (nguốn: flickr.com).

Đang bơi (ảnh của tác giả).

Đứng trên băng hà (ảnh của tác giả).

Đứng trên đất (ảnh của tác giả)

Chim đứng trên băng đá cả ngày mà không bị “băng giá cắn” (frost bite) chân.  Nhìn băng quyên đứng trên băng đá làm gợi nhớ tới bài học về cơ thể học và sinh lý họ về hệ thống mạch máu li ti trong thận khi tôi làm fellow huấn luyện chuyên khoa về Thận và Cao Máu. Có tác giả đã so sánh hệ mạch máu li ti của thận giống như hệ mạch máu li ti ở chân băng quyên. Sự trao đổi tuyệt kỹ giữa tĩnh mạch và động mạch ở chân băng quyên đã giúp sưởi âm ấm giữ cho nhiệt độ ở chân được bình thường nên tránh cho chân không bị đóng băng. Hệ thống vi mạch ở thận cũng tuyệt vời giúp cho thận lọc máu và giữ cho các chất điện giải trong cơ thể con người được cân bằng.

.Hải cẩu

Ở đây vùng băng đá có loài hải cẩu lông.

(ảnh của tác giả).

Hải cẩu lông (ảnh của tác giả).

.Cá voi

Củng có nhiều cá voi.

.Và chim tuyết snowy sheathbills.

;Chim tuyết snowy sheathbills (ảnh của tác giả).

Năm 1845, người Anh thiết lập Căn Cứ D ở đây, năm 1997 trạm được dời về Uruguay.

Sau này, năm 1952,  Argentina vội vàng thiết lập trạm Esperanza để xí phần chủ quyền bán đảo này vì lúc ấy có nhiều quốc gia ào ạt  muốn chiếm quyền sở hữu các vùng đất phía nam của Vòng Đai Nam Cực.

Có người đã lên án trạm này của Argentina đã làm cho một phần tộc thể băng quyên Adélie phải bỏ đi nơi khác.

Trạm Esperanza còn thấy một phần nhỏ tộc thể băng quyên (ảnh của tác giả).

Chính phủ Argentina với ý đồ đòi quyền sở hữu chủ nơi này, đã cho cả gia đình vợ con nhân viên ra đây ở thường trực. Vì thế biểu hiệu của trạm có khẩu hiệu.  Permanencia, un acto de sacrificio” (“Permanence, an act of sacrifice”, “Thường trực, là một hành vi hy sinh”).

Biểu hiệu của Căn Cứ Espeanza với khẩu hiệu “Permanencia, un acto de sacrificio” (“Permanence, an act of sacrifice”, “Thường trực, là một hành vi hy sinh”).

Đây là một trong hai vùng đất ở Nam Cực có gia đình dân sự ở. Cạnh tranh với Argentina, Chile cũng cho gia đình dân sự ra sống ở Trạm Villa Las Estrellas (Biệt Thự Tinh Tú). Nhưng ở Trạm Esperanza này duy nhất có trẻ con sống.

Các trẻ em ở Trạm Esperanza của Argentina.

Chẳng những thế chính phủ Argentina còn “reo người” ở đây bằng cách cho sinh đẻ tại đây để đòi hỏi rằng những người Argentina sinh ra ở đây là Dân Bản Địa Nam Cực!

Em bé sinh ra đầu tiên ở Nam Cực tên là Emilio Marcos de Palma sinh ngày 7 tháng giêng, 1978.

Sau này có những cặp vợ chồng làm đám cưới tại đây. Đám cưới đầu tiên tại trạm Esperanza là của cô Julia Beatriz Buonamio và trung sĩ nhất Carlos Alberto Sugliano vào tháng 2, 1978. Trong số những người dự đám cưới có hàng vạn chim băng quyên Adélie. Đêm tân hôn cô dâu và chú rể động phòng trong các lều dưới mưa, tuyết, dông gió giữa một thành phố băng quyên (dĩ nhiên lều phải có lò sưởi, nếu không thì chú rể sẽ bị lạnh… sun vòi).

Các tay chạy đua trong The Last Desert 2006 ở Nam Cực đã chạy đoạn đường 100 dậm đầu tiên ở đây.

Tại Vịnh Hy Vọng này cũng là nơi có tiếng súng hận thù đầu tiên, trong lịch sử Nam Cực trước đó chưa  bao giờ có tiếng súng  hận thù giữa con người. Năm 1952,  lực lượng Argentina trên bờ tại trạm đã bắn súng  máy qua đầu tầu thám sát Nam Cực John Bisco của Anh. Như đã nói ở trên, từ năm 1845, người Anh thiết lập Căn Cứ D ở đây, trong khi Argentina chỉ mới “cắm dùi” năm 1952. Mối thù hận về giành chủ quyền giữa Argentina và Anh ở vùng Nam Cực ngày nay hiện vẫn còn thấy ở đảo Faulkland (xem dưới).

Chính quyền Argentina cũng khai thác du lịch tại đây. Căn cứ có cơ sở du lịch, hàng năm có khoảng 1.100 du khách tới.

Rời Vịnh Hy Vọng, tầu hướng tới Đảo Voi (Elephant Island).

(còn nữa).

 

 

Be the first to like this post.

Leave a Comment »

No comments yet.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Leave a Reply

April 20, 2012

THÁM DU NAM CỰC (11).

Filed under: Thám Du Nam Cực (11) — Quang Nguyen @ 5:03 am

 

THÁM DU NAM CỰC

Du ký

(Phần 11).

Nguyễn Xuân Quang

 Ngày Thứ Ba Ở Nam Cực

 

Tối nay ăn tết Nhâm Thìn sớm vài ba ngày vì nhà bếp đã lên lịch kín các bữa ăn đặc biệt cho du khách trong những ngày đầu năm ta. Chỉ có hai vợ chồng chúng tôi là người Việt Nam. Du khách Trung Hoa có một tua khoảng hơn ba chục người họ được cho ngồi ăn riêng ở một góc phòng ăn. Vì Tết ta và Tết Trung Hoa trùng nhau nên tiện thể nhân viên nhà bếp làm tiệc tết Việt Nam  do chúng tôi yêu cầu cho người Trung Hoa ăn ké với chúng tôi luôn (vì họ đã không yêu cầu làm tiệc tết Trung Hoa).  Vì là thiểu số, chúng tôi được mời tới ngồi chung cùng một khu trong phòng ăn với người Hoa để tiện việc hầu ăn vì các du khách khác không ăn tiệc Tết Việt Nam.

Chúng tôi được báo cho biết trước là trong thực đơn ăn Tết do chúng tôi đưa ra nhà bếp không làm được bánh chưng, không có cá hanh Chile kho riềng, không có dưa chua, thịt đông… Còn bánh dầy, chúng tôi tả bằng Anh ngữ là làm bằng cơm nếp giã nhuyễn ra, họ hiểu lầm nên làm một loại bánh gạo cổ truyền Nam Dương (Indonesean rice cake) giống bánh dầy có nhân, tương tự như bánh tu hú nhân đậu xanh Việt Nam nhưng có nhân ngọt có dừa dùng để tráng miệng.

Thực đơn có món chính chủ yếu  là món phở và còn lại, vì ở Nam Cực chùng tôi chọn toàn là các món hải sản trong đó có các đặc sản vùng biển Nam Cực.

Chẳng sao, dù gì cũng phải khen ngợi sự cố gắng của các nhân viên lo ẩm thực của tầu. Những món nào không có thì nhìn những băng sơn ở bên ngoài cửa sổ phòng ăn tưởng tượng ra cũng được (xem Tết Trằng Nam Cực).

Mừng Xuân Nhâm Thìn tại Nam Cực.

Món trọng tâm của tiệc Tết Nam Cực là món phở gà.

Phở  gà Nam Cực (ảnh của tác giả).

Phở Nam Cực do đầu bếp của tầu MS Veendam Hòa Lan nấu nên nước lèo có phảng phất mùi giềng. Vì là tầu của Hòa Lan nên họ mướn đa số nhân viên có gốc Nam Dương, vốn là thuộc địa của Hòa Lan trước kia. Vì thế mà phở gà Nam Cực có mùi giềng thay vì gừng là vậy. Tuy nhiên mùi giềng rất thích hợp với phở Nam Cực. Nó làm gợi nhớ tới giả cầy. Phở Nam Cực có mùi giềng làm liên tưởng tới phở “giả cầy biển” (hải cẩu tiếng thuần Việt là chó biển, cầy biển). Nghĩ như vậy ăn thịt gà trong tô phở cứ tưởng tượng ra là thịt hải cẩu… chưa bao giờ ăn!

Cũng xin nói thêm là tôi vốn có ý đem truyền bá văn hóa Việt qua phở quốc hồn quốc túy của Việt Nam tới khắp nơi trên thế giới. Đi tới đâu tôi cũng tặng cho dân địa phương công thức nấu phở. Lần ghé Đất Xanh Greenland, Bắc Cực tôi cũng tặng cặp vợ chồng người già công thức nấu phở. Hy vọng một ngày nào có một quán phở ở Bắc Cực. Tại đây thịt bò và thịt gà rất hiếm mà thịt hải cẩu họ được phép ăn, bán đầy rẫy ở chợ hàng ngày (xem Đất Xanh, Bến Trắng, Tình Ngời). Trong tương lai, phở ở Bắc Cực chắc chắn sẽ có loại phở hải cẩu.

Cũng cần nói thêm là dân Inuit (Eskimo) ở Bắc Cực được cho phép ăn thịt hải cẩu theo một giới hạn đã định, bởi vì đây là món ăn chính đã giúp dòng giống họ sinh tồn ở Bắc Cực. Ở Bắc Cực khó nuôi các thú vật khác để ăn thịt. Một người Inuit đã phân bua bảo rằng họ phải giết bớt hải cẩu đi để kiểm soát sĩ số hải cầu. Hải cẩu quá nhiều đã ăn hết hải sản mà người Inuit cần săn bắt để sống còn và mưu sinh.

Còn lại là các món hải sản.

 Cua đế vương Nam Cực.

Tôm hùm.

 Trai (chem chép) đen .

 Mực 

Chúng tôi rất thích loại ốc tù và (conch). Nhớ mãi món salad ốc tù và  ăn ở Puerto Rico và món steak  ốc tù và  với bơ tỏi ăn ở  một  đảo  nhỏ ở Cancun, Mexico.  Chúng tôi đặt món ốc tù và nhưng trên tầu không có, nhà bếp thay thế bằng món escargot.

 

 Món Escargot thay thế ốc tù và conch.

như đã nói ở trên, còn các món ăn cổ truyền khác họ không làm được thì có thể thưởng thức bằng tưởng tượng qua hình ảnh các băng sơn như đã viết trong bài thơ Tết Trắng Nam Cực. Chỉ xin nhắc lại hình ảnh

.cái bánh chưng làm bằng nếp bạch tuyết:

Băng sơn bánh chưng vuông  làm bằng nếp trắng bạch tuyết (ảnh của tác giả).

.và thịt đông:

Băng sơn thịt đông (ảnh của tác giả).

vân vân…

Cuối cùng  tráng miệng là món bánh gạo cổ truyền Nam Dương.

Bánh dầy nhân ngọt có dừa kiểu bánh gạo cổ truyền Nam Dương thay cho bánh dầy.

Nhiều người Trung Hoa ăn các món ăn tiệc tết Việt Nam nhưng có một số ăn cả hai thực đơn (ăn thêm thực đơn đã có trong ngày cho tất cả mọi người).

Tết Nam Cực mênh mộng xanh và trắng. Trời chiều hoàng hôn mà vẫn còn xanh. Băng đá trắng bạch tuyết. Băng sơn lững lờ trôi. Đàn cá voi  rong chơi thanh thản. Suốt bữa ăn, chúng tôi chín lần thấy cá voi. Cái kinh nghiệm tìm cá voi là tìm những cột nước cá phun lên cao khỏi mặt biển.

Cá voi phun nước. 

Một lúc sau, cá lặn xuống, thì lưng nhô lên khỏi mặt nước (rõ nhất là loại gù lưng) và cuối cùng khi cá lặn sâu thêm xuống thì phần đuôi sẽ nhô lên khỏi mặt nước. Vì thế mà thường thường ta chỉ chụp được lưng và đuôi.

Lưng cá voi loại gù lưng (ảnh của tác giả) .

Một điều kém thú vị một chút là tiệc Tết hơi ồn ào. Người Trung Hoa có cái phong thái ăn uống ồn ào quá.

Cũng xin nói một chút về kinh nghiệm du lịch. Hiện nay thế giới, nhất là người da trắng rất ghét người Trung Quốc. Mấy chục năm trước đi du lịch, chúng tôi thường bị coi là người Nhật. Vào cửa tiệm nào cũng được khấu đầu chào bằng tiếng Nhật rất cung kính, lịch sự và lễ phép và giá hàng nói rước lên, cao tới tận trời, họ bán theo giá bán cho du khách Nhật. Ngày nay họ lại nhầm lẫn chúng tôi là người Trung Quốc, đi đâu cũng bị nhạo báng, khinh thị… Công bằng mà nói thế giới ghét người Trung Quốc cũng có lý vì ngày nay giới trung lưu Trung Quốc đã đi du lịch khá nhiều. Họ giầu nhưng chưa sang. Họ vẫn giữ cung cách, phong thái của người cộng sản và bắt đầu ta đây tỏ ra là con dân của một nước đã giàu mạnh.

Xin đưa ra một hai ví dụ, một lần ở đảo Galapagos, chúng tôi đứng chờ  một đoàn du khách Trung Hoa để đến lượt vào xem cách ấp trứng nhân tạo của loài rùa khổng lồ ở đây. Nghe người hướng dẫn viên địa phương đang giảng giải, một người Trung Hoa nổi máu thèm ăn mấy món cao lương mỹ vị “rừng rú”, giơ tay phát biểu “Tôi muốn ăn cái trứng đó!” Người hường dẫn của chúng tôi  nhăn mặt nhìn chúng nói “tởm quá”! Ngay cả các đại chủ (tycoon, ở Việt Nam hiện nay dùng từ đại gia, không được chỉnh lắm) Hồng Kông cũng không hơn gì. Họ ngồi ngay ở phòng ăn xoa mạt chược, chiếm ba bốn bàn, trong khi các du khách khác bưng đĩa thức ăn đi tìm chỗ ngồi không có, cuối cùng phải ghé ngồi chung bàn với người khác. Phòng ăn đâu phải  là phòng giải trí… Hy vọng trong tương lai, họ cũng như người Việt Nam được dịp đi du lịch ra nước ngoài nhiều, học được cái văn minh của thế giới.

Buổi tối có party bánh ngọt. Cũng thấy hình ảnh Tết Nhâm Thìn qua hình ảnh chiếc bánh con rồng.

Chiếc bánh con rồng Nam Dương (ảnh của tác giả).

Con rồng này  là con rồng Nam Dương, do đầu bếp làm bánh người Nam Dương làm. Nam Dương có một nhánh Bộc Việt. Con rồng Nam Dương này hoàn toàn khác rồng long Trung Hoa. Rồng này mang hình bóng thuồng luồng,  là con Giao long có cốt là con cá sấu Lạc Việt, mang sắc thái rồng của Lạc Việt con cháu Lạc Long Quân .

Một cái Tết Trắng Nam Cực với tiệc Tết có mang mùi vị , mầu sắc Lạc Việt, Bộc Việt ở  Đa Đảo, Nam Đào.

Một cái Tết nhớ đời. Tôi lại tìm được thi hứng và viết bài thơ Tết Trắng Nam Cực (xem bài này).

(còn nữa).



.

 

April 13, 2012

THÁM DU NAM CỰC (10)

Filed under: Tham Du Nam Cực (10). — Quang Nguyen @ 8:03 pm

 

THÁM DU NAM CỰC

Du ký

(Phần 10).

Nguyễn Xuân Quang

 Ngày Thứ Ba Ở Nam Cực

 Sáng sớm hôm sau, khi đang ăn sáng thì thuyền trưởng Marcos báo cho biết một tin buồn.  Dông gió lớn, mây mù dầy đặc và băng biển đóng cứng trong kênh Lemaire nên tầu không thể đi sâu xuống đảo Booth như lộ trình đã định.  Tầu phải quay đầu trở lại.

 Theo lộ trình định trước tầu đi qua kênh biển Lemaire xuống đảo Booth, điểm cực nam (đường đỏ). Vì gió bão, sa mù, băng biển nén cứng phải đổi lộ trình (đường đen).

 Mọi người đều thất vọng. Đây là lần thứ hai thời tiết Nam Cực đã làm cho tầu phải đổi hướng. Nhưng lần này có ít người lộ vẻ chống đối ra mặt, có lẽ vì cái tin tầu Costa Concordia bị đắm ở bờ tây nước Ý hiện đang vẫn còn báo cáo từng giờ trên đài CNN. Nhìn cảnh tầu đắm này mà thấy… ‘lắc lư con tầu đi’ mặc dầu biển lặng, gió im.

Không biết vụ tầu Costa Concordia có ảnh hưởng gì lên sự quyết định không dám đi sâu xuống phía Nam hôm nay của thuyền trưởng hay không?

 Dù sao thì đây cũng là một chuyện đã được cảnh báo trước khi đi Nam Cực và đã xẩy ra rất thường trong quá khứ. Thời tiết Nam Cực với bão mưa, bão tuyết không lường trước được. Phải chấp nhận. Như đã nói ở trên, hên xui là tùy lòng trời. Phải sống hài hòa với trời đất, vũ trụ.

Lộ trình của tầu hôm nay, đi ngược trở về qua kênh Neumayor ra lại eo biển Gerlache. Nhưng lần này đi sát bên phía đối diện với lần đi xuống. Tầu sẽ ghé đến Vịnh Thiên Đường (Paradise Bay), Vịnh Andvord và đảo Cuverville.

 Hôm nay tầu ghé đến Vịnh Thiên Đường, Vịnh Andvord và đảo Cuverville.

Theo lịch trình, mười hai giờ trưa tới tọa độ vĩ độ 64°7.8’ Nam, kinh độ 062°45.4’ Tây.

Tiên đoán thời tiết hôm nay có được một ngày đẹp trời. Trời quang mây tạnh, gió biển nhẹ, biển êm, nhiệt độ 2 C (36 F).

Đúng là hôm nay tới Vịnh Thiên Đường nên tại đây có được một ngày đẹp tuyệt vời.

VỊNH THIÊN ĐƯỜNG

 Hải Cảng Thiên Đường (Paradise Harbor) cũng thường gọi là Vịnh Thiên Đường. Hải cảng ở bờ Tây của Lục Địa Nam Cực.

  

Nguồn Antartica XXI.

Đây là một trong hai hải cảng mà các tầu tuần dương du lịch thường ghé tới. Hải cảng kia là Neko nằm trong vịnh Andvord.

Cái tên Thiên Đường quả thật không sai. Đây chính là bồng lai tiên cảnh trắng. Những núi tuyết hùng vĩ soi bóng trên vịnh nước trong như mặt gương. Tầu đi vòng quanh vịnh để du khách thưởng ngoạn Thiên Đường Nam Cực.

 Đỉnh Bryde trên đảo Bryde trong Vịnh Thiên Đường (ảnh của tác giả).

Băng hà Petzvol (ảnh của tác giả). 

 Băng hà nhìn gần (ảnh của tác giả).

Tại Vịnh Thiên Đường này có trạm Almirante Brown của Argentina. Tên được đặt theo tên Đề Đốc Guillermo Brown (Tây Ban Nha ngữ Almirante là Admiral, Đề đốc).

 

Trạm Almirante Brown ở dưới chân núi Hoogh (ảnh của tác giả).

Trạm Almirante Brown đã gặp nhiều khó khăn. Năm 1984, một vị bác sĩ làm trưởng trạm ở đây đòi từ chức trở về Argentina nhưng bị từ chối. Khi mùa đông là một đêm tăm tối không mặt trời dài hơn ba tháng đến, ông nổi khùng phóng hỏa đốt cháy rụi cả trạm này.

Trạm được dựng lại một phần nhưng từ đó đóng cửa vào mùa đông, có lẽ vì sợ… cái “huông” của vị bác sĩ này!

Gần đây vào những lúc khó khăn vì tiền bạc, chính phủ Argentina đã phải bỏ hoang trạm này.

Ngày nay trạm dùng như một điểm du lịch, là nơi đổ bộ lên Nam Cực. Như đã nói ở trên, Ushuaia, tỉnh lỵ Cực Nam của Argentina là một trong những nơi có tổ chức các chuyến du ngoạn đổ bộ lên Nam Cực tại trạm này. Vì thời tiết, chúng tôi đã phải bỏ Ushuaia nên mất một cơ hội đổ bộ lên Nam Cực.

Tầu Ushuaia neo trong vịnh Thiên Đường đưa du khách đổ bộ lên trạm Almirante Brown (ảnh của tác giả).

Trong vịnh cũng thấy bênh bồng những băng sơn, bè băng, băng quyên loài gentoo bơi lội bên tầu hay trên các bè băng.

Một chú băng quyên gentoo đang thất tình (ảnh của tác giả).

Hải cẩu loài ăn tôm (thường gọi sai là crab eater).

Một chú hải cẩu ăn tôm ăn no, ngủ vùi phơi nắng ở chốn Thiên Đường Nam Cực (ảnh của tác giả).

 Và cá voi, thường là loại Minke hay gù lưng.

Cá voi Minke ? (ảnh của tác giả).

Ở đây cũng có Căn Cứ Nam Cực González Videla của Chile.

  Vịnh Andvord và Hải Cảng Neko.

Vịnh Andvord nằm giữa Beneden Head và Mũi Duthiers dọc theo bờ tây của Graham Land. Hải cảng Neko nằm trong vịnh này. Tên được đặt theo tên chiếc tầu đánh bắt cá voi Neko của Na Uy. Chiếc tầu này hoạt động trong vùng này từ năm 1911 đến nắm 1924.

Đây là một trong những địa điểm chạy qua của các người tranh tài trong cuộc chạy đua Bốn Sa Mạc (4Deserts).  Cuộc đua Bốn Sa Mạc được chọn những sa mạc có khí hậu khác nhau. Không những chỉ chọn với mục tiêu cho sự thử thách về thể lực của con người mà còn theo cái vẻ đẹp thiên nhiên hoang dại, theo lịch sử và văn hóa của nơi sa mạc được chọn. Trong quá khứ các sa mạc được chọn là: sa mạc duyên hải lạnh nhất Atacama ở Antofagasta của Chile, sa mạc Gobi tại lũng Turban, Tân Cương, Trung Quốc, sa mạc Shahara, phía tây ở Ai Cập, có đích tới là Kim Tự Tháp Giza.

Cuộc đua The Last Desert 2010  chạy theo lộ trình qua các Đảo Aitcho, Đảo Lừa Gạt Deception, đảo Cuverville, Vịnh Thiên Đường và Hải Cảng Neko.

Nguồn The Last Desert, 2010.

Đây là những địa danh thần tiên của Nam Cực mà trong chuyến thám du này chúng tôi cũng ghé qua.

Điểm thu hút nhất của Vịnh Andvord là một khoảng không gian trắng triển lãm những tuyệt tác điêu khắc băng sơn.

 

 Lâu đài Đá Băng (ảnh của tác giả).

Ở đây có thể thấy tất cả các khuôn mặt của một đời băng sơn.

 Những băng sơn mặt bàn hay phản (tabular iceberg) sẵn sàng chào đời (ảnh của tác giả).

Như đã nói ở trên, băng sơn mặt bàn hay phản (tabular iceberg) là băng sơn mới ra đời, vừa mới vỡ ra từ băng hà hay kệ băng (ice shelf) mặt hay còn bằng phẳng, cạnh bên còn thằng đứng.

Đứng trên tầu đôi khi có thể nghe tiếng băng sơn “gầm thét” chào đời (calving). Những tảng băng sơn khổng lồ nặng hàng nghìn tấn tách ra rơi xuống biển nghe như sấm gầm, làm mặt biển nổi sóng cao cả chục thước. Tầu thuyền đi gần những kệ băng, băng hà đang thai nghén băng sơn rất nguy hiểm.

Với năm tháng, băng sơn bàn này bị thiên nhiên điêu khắc thành những dạng có mặt, có cạnh thon tròn khác nhau.

Băng sơn trai trẻ (ảnh của tác giả).

x

Băng sơn trưởng thành (ảnh của tác giả).

Những băng sơn tuổi già (ảnh của tác giả).

Băng sơn xế tàn  (ảnh của tác giả).

 Cuverville Island

Đảo Cuverville là một núi đá đen nằm trong kênh biển Errerra giữa bán đảo Arctowski và phần phía bắc đảo Rongé ngoài khơi bờ tây Graham Land. Điểm nóng của đảo này là vào lúc này mùa hè, ở đây có một tộc thể băng quyên gentoo rất lớn hàng nghìn con.

(ảnh của tác giả).

(ảnh của tác giả).

(ảnh của tác giả).

Hàng ngàn băng quyên gentoo đứng trên bờ đá xem du khách trên tầu đang nheo mắt (ảnh của tác giả).

Tầu không được phép vào quá gần đảo sợ làm dao động băng quyên. Nhiều khi tầu phải tắt máy để khỏi làm phiền phiền giấc ngủ của hải cẩu, để tránh làm mất vui của bầy cá voi đang đùa chơi.

Rất tiếc lần này không mang máy ảnh chuyên nghiệp nên không “dòm” (zoom) chụp gần được mà chỉ đem theo ống nhòm, chỉ có thể thưởng ngoạn một mình nên không ghi lại được hình ảnh “dòm” gần để chia xẻ với độc giả. Lần sau chắc chắn phải mang theo loại ống nhòm mới bán trên thị trường có kèm theo máy ảnh.

Xin đưa ra một tấm hình chúng tôi chụp rõ mặt băng quyên gentoo khi tới đảo Faulkland.

Băng quyên gentoo ở đảo Faulkland (ảnh của tác giả).

Băng quyên gentoo có nét đặc thù là mỏ mầu đỏ cam và có vệt trắng sau mắt.

Tầu rời đảo Cuverville, hướng tới Vịnh Hy Vọng, Hope Bay.

Sáng nay viên quản lý phòng ăn cho chúng tôi biết tối nay chúng tôi ăn tiệc đón xuân Nhâm Thìn, ăn một cái Tết Trắng Nam Cực. Vì nhà bếp đã có nhiều tiệc tùng đã lên lịch rồi nên họ cho chúng tôi ăn tết sớm. Đây là một tiệc Việt Nam ngoại lệ đặc biệt.

(còn nữa).

April 6, 2012

THÁM DU NAM CỰC (9).

Filed under: Thám Du Nam Cực (9) — Quang Nguyen @ 4:07 am

 

THÁM DU NAM CỰC

Du ký

(Phần 9).

Nguyễn Xuân Quang

Ngày Thứ Nhì Ở Nam Cực.

 Trạm Palmer Của Hoa Kỳ

Trạm Palmer của Hoa Kỳ nằm ở Đảo Anvers. Đây là đảo lớn nhất (dài 45 dậm) và ở vùng cực nam của quần đảo Palmer.

Trạm Palmer của Hoa Kỳ ở Nam Cực.

 Trạm Nghiên Cứu Khoa Học Palmer Hoa Kỳ ở chỏm cực nam đảo Anvers trong quần đảo Palmer.

Tên đảo Anvers được nhà hàng hải Hòa Lan Adrien de Gerlach đặt theo tên tỉnh quê quán của ông.

Nhà săn bắt hải cẩu Mỹ Nathaniel Brown Palmer (1799-1877) năm 1820 tới South Shetlands, người đầu tiên thả neo ở vịnh lòng chảo miệng núi lửa (sau này gọi là vịnh Foster) của đảo Lừa Gạt Deception, nhìn thấy đảo Trinity. Năm sau Palmer tự cho rằng mình khám phá ra Nam Cực và gọi đó là Palmer Land.

Thật ra ông chỉ được coi là người Hoa Kỳ đầu tiên thấy Nam Cực.

Chúng tôi không đổ bộ lên trạm mà một số nhân viên của trạm lên tầu để thuyết trình về trạm. Họ dùng thuyền máy cao su gọi là Zodiac để lên tầu.

Nhân viên trạm Palmer của Hoa Kỳ dùng Zodiac để tới tầu (ảnh của tác giả).

Sau buổi tiếp tân, các chuyên viên khoa học của Trạm Palmer nói chuyện về các nghiên cứu khoa học và đời sống của trạm.

 Một số chuyên gia khoa học của Trạm Palmer đang trả lời thắc mắc của du khách (ảnh của tác giả).

Trạm có khu chính là Phòng Khảo Cứu Sinh Học, cầu tầu và bãi đáp trực thăng.

 

Trạm Nghiên Cứu Khoa Học Palmer (ảnh của Peter Rejcek, Antartic Sun editor chụp tháng Giêng, 2010, USAP).

Trạm có thể chứa được tối đa 46 người. Nhưng vè mùa đông chỉ còn lại khoảng 15 tới 20 người. Nên biết là mùa đông ở đây là một đêm dài 3 tháng không có mặt trời. Những người yếu bóng vía dễ bị khủng hoảng tâm thần, điên loạn.

Sự nghiên cứu của trạm được nhiều cơ quan hợp tác như Tổ Chức Khảo Cức Khoa Học Quốc Gia, NASA, Không Quân Hoa Kỳ, Không Lực Phòng Vệ Quốc Gia, Cơ Quan Hành Chánh Hải Dương và Khí Quyển Học Quốc Gia…

 

Nghiên cứu khoa học của trạm do hợp tác của nhiều cơ quan.

Nghiên cứu bao gồm nhiều địa hạt:

.Khảo cứu nhằm khám phá Nam Cực.

.Khảo cứu về vai trò của Nam Cực trong hệ toàn cầu.

.Khảo cứu dùng Nam Cực như một diễn đàn, một sân nền.

Trong đó chính yếu là sinh học biển. Trạm nghiên cứu có những phòng thí nghiệm được trang bị hoàn hảo và có hồ nước mặn nuôi sinh vật biển.

Một con cá đá băng (ice fish) trong bồn nuôi cá ở Trạm Palmer (nguồn gma.org).

Như đã nói ở trên cá đá băng không có hồng huyết cầu, không có máu đỏ vì sống dưới đá băng có nồng dộ dưỡng khí rất cao, oxygen thấm vào người cá, đi tới các cơ quan ngay không cần hồng huyết cầu chuyên chở dưỡng khí.

Về sinh thái, được Tổ Chức Khoa Học Quốc Gia (National Science Foundation) Hoa Kỳ năm1990 dùng làm Địa Điểm Khảo Cứu Sinh Thái Dài Hạn (Long Term Ecological Research, LTER).

Khảo Cứu Sinh Thái Dài Hạn (Long Term Ecological Research, LTER).

Ngoài ra cũng nghiên cứu về Khí Hậu Học, Đại Dương Học, Địa Chất Học Biển, Khí Quyển, tia UV, Động Đất Toàn Cầu, Sấm Chớp ở Tây Bán Cầu, Băng Học (glaciology) và Cổ Sinh Học (Paleontology)….

Riêng về y học, có trạm y tế, thỉnh thoảng bác sĩ cũng có mặt tại đây.

Trạm y tế

Các khảo cứu về sinh thái và động vật biển cũng hướng về nghiên cứu y học nhằm tìm kiếm, khám phá ra các thuốc trị bệnh như hóa chất trong bọt biển trị  sốt rét, chất trong rong đỏ chống siêu vi trùng, hợp chất trong loài thủy sinh tunicate trị ung thư nốt ruồi…

Sinh thái học hóa chất.

Đời sống hoang dã quanh trạm có nhiểu giống hải cẩu (hải cầu báo, lông, voi, ăn tôm), băng quyên (loại Hoàng Gia Royal, King, Gentoo, Rockhopper , Adelie), cá voi (thường thấy là loài Minke, Orca và Gù Lưng), các loài chim biển…

Sau buổi nói chuyện, tối nay có dạ tiệc khoản đãi những người khách ở Palmer Station ghé thăm tầu.

Nhận dịp tiệc tùng này chúng tôi gặp viên quản lý phòng ăn ngỏ lời muốn ăn tết Việt Nam ở Bắc Cực vì hiện đang ở ngưỡng cửa năm con Rồng. Ông ta rất niềm nở đón nhận và nhờ chúng tôi ra thực đơn để chuyển tới đầu bếp. Chỉ có hai vợ chồng chúng tôi là người Việt Nam trong chuyến Thám Du Nam Cực này của tầu.

Người nữ là nhân viên trưởng phòng thí nghiệm sinh học và người nam là chuyên gia quản trị về các chất bài thải. Hơn chín mươi phần trăm chất bài thải mang về California để tiêu hủy.

Lưu ý tuyết bắt đầu rơi khi tầu đi sâu xuống phía Nam.

Giáo sư Nhật thuộc đại học Tokyo du học Hoa Kỳ đi thực tập tại Trạm Palmer một tháng.

Tối nay tầu đi sâu xuống phía nam qua kênh biển Lemaire nằm giữa lục địa Nam Cực và đảo Booth.

Càng đi sâu xuống phía Nam tới gần “rốn” địa cầu tuyết rơi càng nhiều.

Được biết hai bên kênh Lemaire nổi tiếng với những vách núi tuyết dựng đứng trông như một lạch biển fjord băng hà . Cảnh đẹp tuyệt trần. Tuy nhiên kênh Lemaire thường bị băng biển đóng kín vì nằm sâu về phía nam, những tầu tuần du biển không đi qua được chỉ những tầu phá băng mới đi được.

Cầu mong sao lúc này băng biển đã tan rời bớt ra. Nhìn những mảnh băng biển như bèo cái bạch tuyết che kín mặt kênh biển chắc chắn phải là một cảnh làm mê mẩn hồn người.

Tầu đi càng xuống phía nam tuyết rơi càng nhiều, “hạt tuyết” càng to như mưa rào tuyết (snow shower).

Tối nay chúng tôi soạn thực đơn ăn một cái Tết Trắng Nam Cực theo cổ truyền Việt Nam để đưa cho đầu bếp. Thực đơn có cả bánh chưng, bánh dầy, phở, cá hanh Chile kho riềng, thịt đông và các món đồ biển đặc sản của Nam Cực như cua đế vương, tôm hùm, nghêu sò Nam Cực… để tùy ý đầu bếp làm được món nào hay món đó. Dĩ nhiên không thể có những món mà người Trung Hoa dư ăn thèm khát như thịt băng quyên, nhất là món mà họ thèm nhỏ dãi là món ngọc dương hải cẩu bộ thận hoàn… Thế giới hiện nay cho những người coi những món này là cao lương mỹ vị, là vị thuốc là hạng người man rợ.

Nhìn tuyết rơi, đêm nay mọi người đều cầu mong gió yên, biển lặng, băng biển biển lơi để tầu qua được kênh Lemaire đến được đảo Booth. Theo lịch trình chúng tôi đến đảo Booth, điểm cực nam (Southen-most point) tại tọa độ 65° 0.8996’ Nam vào lúc 15 giờ 28 phút ngày mai.

(còn nữa).

March 30, 2012

THÁM DU NAM CỰC (8).

Filed under: Thám Du Nam Cực (8) — Quang Nguyen @ 5:56 am


THÁM DU NAM CỰC

Du ký

(Phần 8).

Nguyễn Xuân Quang

Ngày Thứ Nhì Ở Nam Cực

Hôm nay ngày thứ nhì tầu tuần du để ngoạn cảnh ở bán đảo Nam Cực. Tầu đi vào eo biển Gerlache.

Mười 12 giờ trưa tầu sẽ đến vị trí ở vĩ độ 64°52.7 Nam, kinh độ 63° 44.9 Tây. Tầu sẽ ngừng lại ở những trạm chính, những trạm có phong cảnh tuyệt vời là Đảo Enterprise, tiến vào kênh biển Nuemayer để tới Trạm Nghiên Cứu Palmer Station của Hoa Kỳ.

Lộ trình hôm nay có mũi tên đi xuống, mầu đỏ, tầu đi vào eo biển Gerlache dừng lại tại những trạm chính (đánh dấu bằng hình thoi đứng) là Đảo Enterprise, vào kênh biển Neumayer rồi tới Palmer Station..

Tiên đoán thời tiết: trời nhiều mây, gió nhẹ, biển êm, nhiệt độ 2°C, 36°F (Xin lưu ý đi Nam Cực mỗi sáng đừng quên phải xem tiên đoán thời tiết).

Mặc dầu tiên đoán trời có nhiều mây nhưng bầu trời thay đổi từng giờ, từng phút và thay đổi theo sự di chuyển của con tầu nên giúp thấy được cảnh Nam Cực với đủ cả các khuôn mặt buồn vui của thời tiết. Thôi thì có sao sống vậy, sống với vui buồn của trời đất, sống hài hòa với vũ trụ.

Lúc ăn sáng, mọi người xôn xao bàn tán về tin chiếc tầu tụần du biển Costa Concordia bị đắm ở bờ biển phía tây nuớc  Ý. Tối hôm qua xem đài CNN được biết tin tầu Costa Concordia đụng phải đá sát bờ bị đắm. Vị thuyền trưởng nhẩy tầu để bảo vẽ mạng sống của mình. Tầu Costa Concordia bị nạn ngay vào ngày thứ sáu 13, đúng là ngày trận bão lớn thổi qua hải đạo Drake mà con tầu của chúng tôi đã né tránh được.

Càng đi sâu xuống phía nam, cảnh càng thấy ‘Nam Cực’ hơn của lục địa đông lạnh, vùng đất ở đáy địa cầu.

Eo biển Gerlache sóng lặng, gió êm. Hai bên là những rặng núi tuyết hùng vĩ.

 Kênh biển Gerlache (ảnh của tác giả).

Đó đây đã thấy lác đác những băng sơn vụn trôi lềnh bềnh như những cánh bèo bạch tuyết khổng lồ báo cho biết sắp tới vùng có băng hà hay kệ băng (ice shelf, phần băng nổi trên mặt biển nhưng còn dính vào đất liền). Băng hà, kệ băng vỡ ra thành băng sơn.

Tầu ghé tới đảo Enterprise.

 Đảo Enterprise

 Đảo nằm trong vịnh Wilhelmina, ở ngoài khơi vùng đất Grahamland còn gọi là Đảo Lientur hay Nansen Norte (North).

coastandkayak.com

Đảo Enterprise nằm trong vịnh Wilhelmina ngoài khơi Grahamland (mũi tên dưới bên trái).

Khi tầu tiến vào vịnh Wilhelmina, bao quanh bốn phía cảnh núi tuyết mê mẩn hồn người.

Những núi  tuyết trắng hay chỉ đội mũ tuyết vạn niên.

 (ảnh của tác giả).

(ảnh của tác giả).

  (ảnh của tác giả).

 (ảnh của tác giả).

Băng sơn khổng lồ do thiên nhiên điêu khắc thiên hình vạn trạng, màu sắc thay đổi theo thời tiết, ánh nắng. Cũng xin nhắc lại băng sơn là những khối băng khổng lồ vỡ ra từ băng hà hay kệ băng. Phần nổi trên mặt nước chỉ bằng 1/9 chiều cao của băng sơn (8 phần ở dưới nước) bởi vì tỉ trọng của đá băng nguyên chất là 920kg/m3 trong khi tỉ trọng của nước biển bằng 1025kg/m3.

1/9 băng sơn nhô khỏi mặt nước còn 8/9 phần chìm dưới nước.

Vì thế nhìn phần nhô lên khỏi mắt nước khó mà đoán biết được phần ở dưới nước như thế nào, do đó mới có câu ‘tip of the iceberg’. Những khối băng sơn khổng lồ rất nguy hiểm cho tầu thuyền như vụ tầu Titanic. Băng sơn lớn kỷ lục là khối băng có diện tích 12.000 dậm vuông ở phía tây Đảo Scott trong biển Nam Cực thấy bởi con tầu USS Glacier vào ngày 12 tháng 11, 1956. Khối băng sơn này lớn hơn nước Bỉ. Vì vậy tầu đi Nam, Bắc Cực phải có thêm một hoa tiêu đá băng (ice pilot) đi theo.

Băng sơn hình con sư tử nằm(ảnh của tác giả).

Hình cầu (ảnh của tác giả)

Hình núi nhọn đỉnh (ảnh của tác giả).

Băng sơn hình cây đàn.

Băng hà và những vụn băng sơn.

Băng hà và những vụn băng sơn (ảnh của tác giả).

Đảo được các người đánh cá voi biết tới và dùng nhiều vào thời 1900. Ở đây còn một dấu tích của nghề sằn bắt cá voi mà nhiều du khách thường tới xem là xác con tầu đánh cá voi Guvernoren của Na Uy bị cháy. Tầu cố chạy rồi đâm vào bờ để còn có thể vớt vát lầy được một ít tài vật vào năm 1915. Ngày nay xác tầu là một tổ chim biển khổng lồ.

Về sau vùng này phát triển thành một nơi có dịch vụ thương mại lớn nên chính phủ Anh đổi tên thành Enterprise để tưởng nhớ tới các việc làm đầy mạo hiểm, táo bạo của những người trong thương vụ đánh bắt cá voi ngày xưa (enterprise vốn có nghĩa là việc làm đầy mạo hiểm, táo bạo về sau có thêm nghĩa là những tổ chức, cơ sở thương vụ lớn).

Ở đây cũng thấy một vài bóng dáng của hải cẩu, cá voi, chim biển (loài chim tern được cho là có thể bay qua lại Nam và Bắc Cực).

Tầu rời  Đảo Enterprise hướng về kênh biển Neumayer trong quần đảo Palmer để hướng tới Trạm Palmer của Hoa Kỳ.

Kênh Biển Neumayer Dẫn Đến Trạm Palmer Của Hoa Kỳ.

Kênh biển Neumayer phân chia Đảo Anvers với Đảo Wienke và Đảo Doumer, trong quần đảo Palmer.

Ngõ vào kênh Neumayer. 

Cảnh bên  trong kênh trông như ở một cõi thần tiên trắng.

(ảnh của tác giả).

24 13

(ảnh của tác giả).

Biển trong pha lê phản chiếu như một tầm gương soi. Lưu ý có đàn băng quyên đang bơi.

  

Băng quyên (ảnh của tác giả).

 Băng Quyên đào những “hồ bơi” trên vụn băng sơn có đường lên xuống dễ dàng (ảnh của tác giả). 

 Băng sơn vuông như chiếc bánh chưng nấu bằng nếp bạch tuyết làm sực nhớ tới sắp Tết rồi (ảnh của tác giả).

Loại băng sơn có mặt bằng và các vách bên thẳng đứng này gọi là băng sơn mặt bàn hay phản (tablular iceberg). Đây là loại bằng sơn mới ra đời, mới vỡ ra từ băng hà hay kệ băng. Những băng sơn có mặt không còn bằng phẳng và vách không còn thẳng đứng nữa là những băng sơn đã già, đã bị thiên nhiên diêu khắc tạo thành những hình dạng khác nhau. Gió. mưa, nằng, sóng biển bào mòn, gọt dũa, chà nhẵn… Vì thế nhìn một băng sơn có thể biết tuổi của nó.

Bằng sơn sọc (ảnh của tác giả).

Nhìn băng sơn này tưởng tượng ra món thịt đông ngày Tết.

Băng sơn hình cá mập (ảnh của tác giả).

Băng hà, băng sơn và băng biển (ảnh của tác giả).

Về mùa đông mặt biển đóng băng kín mít gọi là băng biển (sea ice), đến mùa hè băng bắt đầu tan vỡ vụn ra.

Băng quyên đang bơi như đàn cá heo tí hon (ảnh của tác giả).

Mặt nước như một gương soi (ảnh của tác giả).

Hải câu nằm phơi nắng trên bè băng (ảnh của tác giả).

Đây là loài hải cẩu báo (có đốm như con báo) rất hung dữ, tấn công cả người (ảnh của tác giả).

Một du thuyền buồm trên  biển gương (ảnh của tác giả).

Lưu ý bóng cột buồm trên mặt nước thẳng hàng với cột buồm. Đây là loại du thuyền nhỏ có máy và buồm cho thuê bao khoảng ba bốn chục nghìn Mỹ Kim trong một hai tuần. Phải có máu hải hổ táo bạo lắm mới dám đi những loại thuyền này ở Nam Cực.

Du thuyền nhìn gần (ảnh của tác giả).

Cái lợi của du thuyền nhỏ là có thể đi len lỏi vào trong các ngõ ngách băng hà.

Một ngõ hẹp băng hà (ảnh của tác giả).

Tầu đã đi vào vịnh Palmer Station.

(còn tiếp).

 

 

March 23, 2012

THÁM DU NAM CỰC (7).

Filed under: Thám Du Nam Cực (7) — Quang Nguyen @ 7:21 am

THÁM DU NAM CỰC

Du ký

(Phần 7).

Nguyễn Xuân Quang

Ngày Thứ Nhất Ở Nam Cực.

Ban đêm tầu vượt qua hải đạo Drake trong lúc có dạ tiệc thâu đêm để quên đi nỗi lo âu về bão tố.

Rất may đi qua hải đạo nổi tiếng bão tố này được thuận buồm xuôi gió. Bây giờ nhiều người ca tụng sự quyết định đổi hướng tầu đi của thuyền trưởng là sáng suốt.

Như thế là đã tránh được bão tố phong ba. Mọi người thấy nhẹ nhõm.

Ngày hôm nay khởi đầu những ngày tầu đi tuần du ngoạn cảnh trong quần đảo Nam Cực.

Nam Cực đã có trong óc tưởng tượng của con người từ thuở xa xưa trước khi khám phá ra là nó có thật. Triết gia Pythagoras cho rằng trái đất tròn, sau đó Aristotle nối tiếp và phát triển quan điểm này. Nếu trái đất tròn thì theo luật cân bằng ‘giữa hai bán cầu’ thì phải có một vùng đất gọi là ‘terra australis incognita’ (Vùng Đất Phía Nam Chưa Biết) và như thế có một vùng đối nghịch với Bắc Cực (Artos) là Nam Cực (Ant arktos). Vào thế kỷ thứ 2 Sau Tây Lịch, trong bản đồ của các nhà viết niên sử Ai Cập Ptolemy đã vẽ một lục địa tưởng tượng ở phía đông châu Phi. Ngay đến thế kỷ 21, Nam Cực vẫn còn là một vùng được coi là đầy bí ẩn chưa biết rõ và chưa một quốc gia nào là sở chủ nhân ông cả. Nhìều quốc gia đòi chủ quyền nhưng hiện nay Hiệp Ước Nam Cực (Antartic Treaty) đang ngăn cản, bảo vệ lục địa trinh nguyên này.

Năm 1912, khoa học gia Đức Alfred Wegener đề nghị nguồn gốc thế giới vào khoảng 250 triệu năm trước là một siêu-lục địa gọi là Toàn-Lục Địa (Pangea).

Siêu-lục địa này tách ra làm hai: Gondwana ở Ấn-Độ, là nơi Wegener đã tìm thấy những lá hóa thạch để làm nền tảng cho luận thuyết của ông. Phần đất này gồm Gondwanaland và Laurasia. Gondwanaland đặt tên theo địa hạt Gondwana ở Ấn-Độ,  gồm các lục địa phía nam và Ấn-Độ. Laurasia là đất tổ của Âu châu Á châu. Vùng phía đông Nam Cực là phần cốt lõi của Gondwanaland là đất tổ của châu Phi, Nam Mỹ châu, Ấn-Độ   Nam Cực, Úc châu… Khoảng 60 triệu năm trước vùng biển rộng Drake mở ra, tách Nam Cực với Cape Horn.

 Lục địa Nam Cực giống như con cá đuối và bán đảo Nam Cực là cái đuôi của con cá đuối.

Bản đồ bán đảo Nam Cực. 

Đầu thế kỷ 20 các vùng đất của bán đảo này mới được đặt tên. Đầu phía bắc đặt theo tên Sir James RG Graham (tổng tham mưu trưởng hải quân hoàng gia Anh) bởi John Biscoe, nhà thám hiểm đầu tiên đã ghi lại vùng đất này vào năm 1832. Phần phia  nam được đặt theo tên thuyền trưởng Mỹ Nathanial Brown Palmer đã nhìn thấy đảo năm 1820 (trước Biscoe hơn một thập niên).

Bán đảo Nam Cực là vùng đất thiết yếu cho các cơ sở nghiên cứu Nam Cực và là vùng đất sinh sản của nhiều giống đông vật như băng quyên, hải cầu và các sinh vật biển khác.

Thời tiết tiên đoán hôm nay có nhiều mây, gió nhẹ, biển êm, nhiệt độ -1 độ C (31 F) có lúc có tuyết (ở vị trí 64 độ, 30’S – 062 độ 23’ W).

Sáng nay tầu bắt đầu đi vào vùng biển hẹp Nam Cực (Antartic Sound) hướng về đảo Deception, một nơi trú ẩn an toàn nhất để tránh bão tố ở Nam Cực.

Tầu đi vào vùng Biển Hẹp Nam Cực (Antartic Sound).

Trong chương trình thuyết giảng, hôm nay có bài nói chuyện với đề tài Đường Đi Từ Patagonia Xuống Nam Cực của diễn giả Warren Salinger. Ngoài ra cũng có mục viếng thăm nhà bếp của tầu. Nhà bếp lo các bữa ăn 24 giờ trên 24 giờ cho hơn 1200 du khách và 540 thủy thủ đoàn. Mức tiêu thụ hàng tuần: 5.500 lbs thịt, 2.000 lbs gà vịt, 1.200 lbs cá, 1.500 lbs hải sản, 8.000 lbs rau, 13.500 quả trứng… Đồ ăn trên tầu thuộc vào hạng khá, ngày nào cũng có món ăn Á châu, đặc biệt nhất là các loại bánh ngọt làm theo kiểu Hòa Lan rất ngon.

 Chiếc bánh Nam Cực.

Ở Vùng Biển Hẹp này đã thấy đó đây những cánh chim biển, có nghĩa là đất liền không xa lắm.

(ảnh của tác giả).

Trên đường, đi qua một địa danh đặc biệt là Tảng đá Cánh Buồm (Sail Rock).

Tảng đá Cánh Buồm trong sa mù (ảnh của tác giả).

Tầu đến đảo Deception vào lúc 4:45 PM.

Đảo Deception nằm trong nhóm đảo Nam Shetland của bán đảo Nam Cực. Lục địa Nam Cực có hình con cá đuối. Đảo Deception nằm ở phía đầu mút cuối của đuôi cá đuối.

Đảo là một chóp núi lửa sập xuống. Đảo gần như có hình vành khăn, hơn một nửa che phủ bởi băng hà.

Đảo Deception hình vành khăn.

Lòng đảo là một lòng chảo do chóp núi lửa sập xuống (caldera), nước biển ùa vào tạo ra một hải cảng thiên nhiên rộng nhất thế giới, kín gió an toàn nhất Nam Cực, ngày nay gọi là hải cảng Foster. Tên cảng đặt theo tên thuyền trưởng người Anh Henry Foster điều khiển con tầu Chanticleer đã dừng lại đảo này năm 1829 để thăm dò vị trí địa lý và làm những thí nghiệm khoa học.

Tại sao lại gọi tên là đảo Deception, đảo Lừa Gạt,‘Lừa Đảo’?

Sở dĩ được đặt tên như thế là vì các nhà thám hiểm đầu tiên tới đây nhìn thấy đảo là một ngọn núi lửa đang còn nằm ngủ rất ư là nguy hiểm, họ muốn tránh càng xa càng tốt nhưng khi phám phá ra vịnh Foster ở trong lòng đảo là chỗ trú ẩn lý tưởng nhất, an toàn nhất để tránh dông bão và băng sơn thì nhận thấy mình đã bị lừa gạt bởi cái vẻ bề ngoài nguy hiểm của nó.

Tầu tiến đến lối vào Vịnh Foster, đảo Deception. Đảo nhỏ phía sau xa là đảo Livingston (ảnh của tác giả).

Lối vào vịnh Foster là một “ngõ hẹp biển” chỉ rộng có 230m mét (755 ft) gọi là Neptunes Bellows, Tiếng Gào Thét của Thần Biển, Hải Vương Thần. Sở dĩ được đặt tên như vậy vì đây là con đường gió luồng với cuồng phong gào rú kinh hồn nhiều khi rất nguy hiểm. Lối vào này đã biết từ đầu thế kỷ 19 lúc ấy gọi là Hell’s gate (Cổng Địa Ngục) hay Hàm Rồng Dragon’s mouth (đặt theo tên tầu Dragon đã đổ bộ lên đảo năm 1820).

Cửa ngõ Gào Rống Của Thần Biển Neptunes (ảnh của tác giả).

Thêm vào gió luồng đó lại còn một cái bẫy chết người nữa là ngay chính giữa kênh biển lối đi vào này có tảng đá ngầm Ravn Rock chỉ nằm dưới mặt nước có 2.5 m (8.2 ft).

Ngày 30 tháng giêng năm 2007 một tầu tuần dương Na Uy MS Nordkapp bị nạn tại đảo Deception này đã làm cho dầu đổ tràn ra vịnh. Rất may theo luật mới, các tầu đi trong Nam Cực phải dùng loại nhiên liệu ít gây ra ô nhiễm là Diesel nên không gây thiệt hại cho môi trường nhiều.

Nhưng khi đã vượt qua ngõ hẹp chết người này vào tới được trong Vịnh Foster thì đây là chỗ trú ẩn an toàn nhất Nam Cực vì đây là chỗ kín gió, biển rất êm.

Vũng biển núi lửa rất kín gió và rất ấm (ảnh của tác giả).

Ngay lối vào là vũng Dân Đánh Cá Voi (Whaler’s Cove) với những bãi biển đen (do tro than núi lửa). Vào thế kỷ 19 những người đánh cá voi đã khám phá ra hải cảng an toàn này, với khí hậu ấm áp, có biển, hồ, suối nước nóng và có cả cỏ rong dùng làm thực vật nên chọn chỗ này làm căn cứ để chế biến cá voi. Các tầu đánh cá voi thật ra đã là những xưởng chế biến cá voi. Khi săn bắt được cá voi, họ lấy lớp mỡ dầy cách nhiệt dưới da (blubber) ngay trên tầu để làm dầu, còn xác cá voi mới đem về đây. Họ lóc thịt nấu trong các nồi nấu khổng lồ bằng sắt để lầy hết phần mỡ dầu còn lại trong thịt, rồi ném bộ xương đi. Ở đây có một nghĩa trang lộ thiên xương cá voi với những “đống xương vô định” đã cao tận trời. Hiện nay hãy còn đầy những phế vật như các lều, trại, xác các thuyền bè, nhà chứa máy bay và một thân máy bay nhỏ cũng như những nồi nấu thịt cá voi khổng lồ và các bể dùng chứa dầu cá voi…

Bây giờ đảo Lừa Gạt trở thành một điểm du lịch thu hút rất nhiều du khách. Du khách tới đây ngoài viếng thăm các di tích của các cơ sở chế biến dầu cá voi còn có thể đi tắm khỏa thân ở Nam Cực. Vì núi lửa còn hoạt động nên tại đây có rất nhiều hồ nước nóng tương tự như các bồn spa tắm hơi khổng lồ (cả vịnh Foster nằm trên miệng núi lửa là một cái bồn tắm nước nóng lớn nhất thế giới nấu bằng núi lửa ở dưới), nhiều suối nước nóng, bãi biển nước nóng như ở vũng Pendulum. Nước biển có chỗ rất ấm, rất nóng (70 độ C hay 158 độ F) (có chỗ nước nóng tới độ lột da). Không khí gần vùng núi lửa có thể nóng tới 40 độ C hay 104 độ F.

Nếu muốn sau, khi tắm nước nóng xong có thể tắm nước băng giá ngay bên cạnh.

Một điểm thu hút du khách nữa là ở đây có tộc thể (colony) loài băng quyên dưới cổ có hình quai mũ móc dưới cằm gọi là Băng Quyên Dây Quai Đeo Cằm (Chinstrap penguins).

 Băng Quyên Dây Quai Đeo Cằm.

Chim băng quyên bơi và lặn hụp giống như cá heo (dolphin).

Chim băng quyên Dây Quai Đeo Cằm đang bơi gần tầu (ảnh của tác giả).

Băng quyên đứng trên đảo.

(Rất tiếc máy ảnh của tác giả là loại bỏ túi không “dòm” gần được. Tác giả thích dùng máy bỏ túi vì cần mang theo người thường xuyên và cần chụp nhanh để lấy hình làm tài liệu. Đi Nam Cực nên mang theo máy ảnh chuyên nghiệp với ống viễn kính có thể zoom thấy rõ chi tiết được và ‘ba chân’ đứng. Cũng nên biết là theo z=d, zoom chính là Việt ngữ dòm).

Tại Bailey Head ở bờ tây của đảo có một tộc thể loài này lớn nhất thế giới.

Tại Núi Flora cũng là nơi tìm thấy địa khai hóa thạch loài cây cỏ đầu tiên ở Nam Cực.

Đảo Lừa Gạt Deception vẫn còn là một ngọn núi lửa đang hoạt động thỉnh thoảng vẫn phun lửa như năm 1967 và 1969 đã gây thiệt hại nặng cho các trạm nghiên cứu tại đây.

Anh quốc đã coi đảo Deception này là một phần thuộc đảo Faulkland từ năm 1908. Năm 1940 và 1950 Argentina hai lần đổ bộ lên chiếm đảo này của Anh. Sau đó người Anh lấy lại. Năm 1955, Chile khánh thành Trạm Nghiên Cứu Pedro Aguirre Cerda tại Vũng Pendulum. Trạm này có cả đường bay nối với Punta Arenas. Trận động đất năm 1969 thiêu hủy trạm này.

Hiện nay chỉ còn Argentina có trạm Deception Station và Tây Ban Nha có trạm Gabriel de Castilla.

Nhiều quốc gia đang đòi giành chủ quyền lãnh thổ tại đây nhưng hiện giờ đảo được quản trị dưới Hệ Thống Hòa Ước Nam Cực.

 Rời đảo Deception, hướng về đảo Bán Nguyệt (Half Moon island).

 Đảo có hình bán nguyện dài 2 km nằm ở cửa vịnh Mặt Trăng, ở phía đông đảo Livingston.

Đảo Bán Nguyệt.

Đảo có cảnh núi tuyết với băng hà rất ngoạn mục, đẹp đến độ ngẩn ngơ.

Ở đây có căn cứ Cámara Base của Argentina.

Căn cứ Cámara của Argentina (ảnh của tác giả).

Đảo Bán Nguyệt có một tộc băng quyên Dây Quai Đeo Cằm (Chinstrap penguins), hải âu rong biển (kelp gull), cá voi…

(còn nữa).

March 16, 2012

THÁM DU NAM CỰC (6).

Filed under: Thám Du Nam Cực (6) — Quang Nguyen @ 5:27 am

THÁM DU NAM CỰC

Du ký

(Phần 6).

Nguyễn Xuân Quang

  

Về tầu nghỉ ngơi, chờ đi ăn tối. Một ngày vui, nhất là tôi tìm được thêm nhiều chi tiết về thổ dân Patagonia và Nam Cực có liên hệ với Bách Việt cổ. Sẽ có một bài viết riêng, ở đây chỉ xin nói sơ qua.

Dấu chân lịch sử và di truyền học DNA xác thực là người cổ Đông Nam Á trong đó đại tộc chính là người cổ Bách Việt mà di duệ là người Việt Nam hiện nay đã phân tán đi khắp nơi hoặc theo con đường đất đi ngược lên phía bắc qua eo biển Bering, xuống Bắc, Trung Mỹ rồi xuống Nam Mỹ châu hoặc đi theo ngả xuôi nam xuống Đa Đảo, Úc châu qua ngả đường biển tới Trung, Nam Mỹ. Đảo Easter có thể là một trong các trạm để vào Nam Mỹ châu.

Ta đã biết tộc Mapuche ruột thịt với cổ Việt qua bài viết Rìu Việt ở Đa Đảo và Nam Mỹ Châu. Mapuche và các tộc liên hệ là Pehuenche, Tehuelche có mặt ở vùng Patagonia, Đất Lửa và Nam Cực.

Lưu ý

 Pehuenche, Tehuelche, Mapuche cùng một đại tộc –che với -che biến âm với kẻ (ch=k như chết = kết) có nghĩa là người (Kẻ Sặt, Kẻ Trọng, Kẻ Bàng…). như đã biết Mapuche có nghĩa là Người Của Đất. Hiểu theo truyền thuyết Việt chính là Kẻ, Kì người Đất thế gian Xích Quỉ Kì Dương Vương.   

Tehuelche có nghĩa là Kẻ To, Khỏe, Mạnh, Hùng Mạnh, Cường Tráng tức Kẻ Hùng, Kẻ Tráng (Lạc Việt có tộc Tráng, Choang).

Ngoài ra những tộc khác như Yamanas, Onas cũng có mặt ở vùng Patagonia, Đất Lửa và Nam Cực. Sau đây là một vài hình ảnh thổ dân chụp lại trong Bảo Tàng Viện Vùng Magellan

 

và qua bưu ảnh:

Tộc Selknam, Onas, ở vùng Đất Lửa cảnh lễ nhập môn (bưu ảnh tác gỉa mua tại Punta Arenas).

Như đã nói tên Patagonia được đặt theo tộc Mapuches, Tehuelches, Người Tây Ban Nha thấy những dấu chân rất lớn của họ (có thể họ đi trên các tấm da thú làm dép nên dấu chân lại càng to thêm) nên gọi là Patagones liên tưởng tới những người khổng lồ Patagón có đôi chân rất lớn (gốc Tây Ban Nha ngữ Pata-, Pháp ngữ patte, chân) trong các truyện thần thoại.

Ở vùng Patagonia, phần chóp hình nón của Nam Mỹ châu này có một chứng tích còn trông thấy rõ nhất là dấu ấn bàn tay. Hình vẽ bàn tay hay còn gọi là Nghệ Thuật Vẽ Trên Đá (Rock art) này thấy từ thời thượng cổ-thạch ở nhiều nơi như thấy ở các hang động Chauvet, Pháp có niên đại khoảng 31.000 năm. Tuy nhiên hình vẽ bàn tay này thấy rất nhiều trong nên văn hóa Hòa Bình và nó trở thành một một dấu ấn của văn hóa Hòa Bình, của Bách Việt cổ đại.

Dấu ấn bàn tay vẽ theo kiểu dùng bàn tay làm stencil rồi phun màu bằng miệng hay thổi qua ống sậy này còn lưu lại trong một hang động gọi là Hang Bàn Tay (Cuevas de las Manos) ở vùng Patagonia của Argentina do tổ tiên của tộc Tehuelches vẽ khoảng 9.000 năm trước.

Hang Bàn Tay ở Patagonia, Argentina (Bưu ảnh).

Trong hang cũng có hình mặt trời, các loài thú ở Patagonia và cảnh săn bắn. Đây có thể là một cảnh lễ nhập môn (initiation ceremony).

 Hình vẽ bàn tay loại này cũng thấy trong

-Các hang động ở Borneo. Jean-Michel Chazine tìm thấy hơn 1500 hình vẽ âm bản (negative) trong các hang động ở Đông Kalimantan. Ở các di chỉ khảo cổ học hình bàn tay cho biết tuổi có thể lên tới 12.00 năm.

 Trong hang động ở Borneo.

www.bradshawfoundation.com/hand_paintings_rock_art.php

-Ở Hoa Kỳ

.tại Great Kiva ở Mesa Verde của thổ dân Pueblo ở Bắc Mỹ châu có hình bàn tay vẽ trên đầu người mặt trời,

Tại Great Kiva ở Mesa Verde. 

                                    www.bradshawfoundation.com/hand_paintings_rock_art.php

.ở Tam Giang (Three Rivers) có hình mặt trời sinh tạo vòng tròn có chấm trong lòng bàn tay.

Ở Tam Giang (Three Rivers)

                                 www.bradshawfoundation.com/hand_paintings_rock_art.php

-Úc châu.

www.bradshawfoundation.com/hand_paintings_rock_art.php

Như thế ta thấy rất rõ dấu ấn bàn tay thường đi với tín ngưỡng thờ thờ phượng mặt trời, vì thế hình vẽ bàn tay này của tộc Tehuelches mang một ý nghĩa tín ngưỡng (hiện nay cho là mang ý nghĩa lễ nhập môn) liên hệ với thời mặt trời. Hình này thấy ở Bắc Mỹ, Nam Mỹ châu, Đa đảo, Úc châu… Tất cả các vùng này đều là những con đường phân tán trên đất hay trên biển của cổ Bách Việt với nên văn hóa Hòa Bình trong đó tín ngưỡng chính là thờ mặt trời còn thấy rõ mồn một là của Bách Việt qua hình vẽ trên đá ở Sapa, Bắc Việt Nam, trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn,  trên vách núi Hoa Sơn của Lạc Việt Tráng Zhuang… (xem Đạo Mặt Trời của Bách Việt).

Ngoài ra Mapuche và Tehuelches như đã nói ở trên liên hệ với Bách Việt cũng là một yếu tố xác thực thêm.

 Tương tự, thổ dân Nam Cực cũng gồm có hai nhánh:

-Nhánh đi theo đường lục địa từ Patagonia xuống quần đảo Đất Lửa Tierra Fuego thường được gọi chung là các tộc Lửa (Fuegian). Họ đến Nam Cực khoảng 20.000 năm trước.  Trong nhóm này có tộc Tucamba mà một vài nhà nhân chủng học cho rằng họ là con cháu của Mapuche.

-Nhóm thứ hai theo đường biển xuyên Thái Bình Dương gồm như tộc Hukahunga là nhóm gốc Đa Đảo họ tới Nam Cực  khoảng thế kỷ 15 hay 16 (có một nhánh lớn sống ở đảo Rossland). Họ được cho là con cháu của tộc Maori ở Tân Tây Lan, Niue và đảo Cook.

……

Sắp tới giờ tầu rời bến. Theo lịch trình tầu sẽ đến Ushuaia sáng mai. Nghĩ tới Ushuaia mọi người đều hào hứng đợi chờ.

Còn năm phút nữa tầu rời bến, tiếng loa loan báo xin mọi người chý ý, có thông báo khẩn của thuyền trưởng.

Chuyện gì sắp xẩy ra đây?

Thuyền trưởng Marco Carsjens nói rất lấy làm tiếc là phải bỏ cảng Ushuaia vì có bão lớn đi qua trên con đường xuống Nam Cực. Nếu đi tiếp lộ trình đã định thì khi đến Drake passage tầu sẽ ở ngay trong mắt bão. Tầu phải đổi hướng đi để tránh bão. Ông mong du khách thông cảm.

Tầu phải quay lộn trở ra Thái Bình Dương để đi thẳng xuống quần đảo Nam Cực. Phải vượt qua hải đạo Drake trước khi bão ập tới.

Tầu ra Thái Bình Dương trở lại đi thằng xuống Nam Cực vượt qua hải đạo Drake.

Dĩ nhiên mọi người thất vọng. Bữa cơm tối, cả phòng ăn bàn tán xôn xao. Người nói ra, kẻ nói vào.

Chúng tôi đồng ý hoàn toàn với thuyền trưởng mặc dầu rất tiếc là không ghé được đến Ushuaia, tỉnh lỵ cực nam Nam Mỹ châu trên quần đảo Đất Lửa của Argentina. Mặc dù theo lý luận của Chile, Ushuaia chỉ là một tỉnh lỵ nhỏ bé, trên hải đảo nhưng về địa lý đối với nhiều người, Ushuaia vẫn là một cảng cực nam hơn. Cạnh tranh với Punta Arenas, Ushuaia có nhiều “dấu mốc” kỷ niệm mang tên địa sanh “Cực Nam” của trái đất và nhất là Ushuaia lại là một bến, một cầu tầu để đổ bộ lên Nam Cực. Từ đây có thể lấy các chuyến du ngoạn đổ bộ lên Nam Cực chỗ có trạm nghiên cứu Nam Cực của Argentina bằng trực thăng, máy bay nhỏ hay bằng tầu thủy. Chi phí đổ bộ khoảng 3.900 Mỹ kim một người. Những người đã mua vé trước rồi, nếu không có bảo hiểm, có thể không lấy được tiền lại.

Vì thế có nhiều du khách thất vọng tràn trề, có kẻ phẫn nộ ra mặt (có lẽ họ muốn hay đã mua vé du ngoạn đổ bộ lên Nam Cực). Có người chê thuyền trưởng nhát gan. Có người nói thuyền trưởng mới tốt nghiệp gần hai năm nên hãy còn là tay non. Có người tức giận quả quyết rằng ông ta đã truy cập vào internet và thấy rằng thời tiết nắng đẹp ở Ushuaia (hiển nhiên ông này không nghe thuyền trưởng nói rằng có bão ở Drake passage chứ đâu có nói là có bão ở Ushuaia). Có người nói tại sao không ghé vào Ushuaia rồi đợi cho tới khi hết bão. Dĩ nhiên họ không biết rõ các qui luật về hàng hải và nhất là về phương diện tài chính. Tầu phải xin hẹn chỗ đậu trước, phải rời đúng giờ. Chậm trễ là bị phạt phải trả tiền bến gấp bội lần. Hành khách phải trả tiền ở bến, lên bờ (mỗi đầu người phải trả 13.01 Mỹ kim một ngày)…

Đêm nay tầu quay trở ra lại Thái bình Dương.

 Ngày thứ sáu của hành trình.

 Trọn ngày và đêm nay ở biển. Tầu phải vượt ngang qua hải đạo Drake phân chia Mũi Horn với lục địa Nam Cực. Như đã nói hải đạo Drake nổi tiếng nguy hiểm nhất ở Nam Cực vì thời tiết khôn lường, vì gió bão khủng khiếp, vì tuyết băng biển và băng sơn. Nhà thám hiểm tên Drake khi tới vùng Đất Lửa tìm dường xuyên qua hai đại dương đã gặp bão. Thuyền bị trôi dạt tới hải đạo này. Vì thế tên ông được đặt cho hải đạo này. Cái tên Drake gắn liền với gió bão giông tố.

Bây giờ mà gặp bão nữa thì thật là đại họa. Chúng tôi tin là quyết định của thuyền trưởng là đúng. Có một điều làm chúng tôi vẫn lo ngại là tầu phải chậy đua với bão. Thuyền trưởng quyết định bỏ Ushuaia để đi qua hải đạo Drake trước khi bão tới đây một ngày. Như thế tiên đoán về vận tốc của bão phải chính xác. Nếu bão đột nhiên thay đổi vận tốc, thổi nhanh hơn thì bão sẽ bắt kịp tầu. Nếu tầu bị trục trặc máy đi chậm lại hay nằm ụ ở hải đạo Drake thì lãnh đủ cả trận bão quét qua. Lúc đó đầu đang bị nạn thì hậu quả sẽ không lường được. Những người muốn tầu ghé Ushuaia ở lại thêm một ngày nữa để bão đi qua quả thật cũng có lý vì làm như thế an toàn và ăn chắc hơn. Dĩ nhiên, tiền bạc là yếu tố tiên quyết và quyết định.

Vì hôm nay là ngày ở biển nằm ngoài lịch trình nên ban quản lý tầu tổ chức thêm nhiều mục mới trong đó có cả mở party tối nay cho uống coctail miễn phí. Hôm nay sòng bạc cũng mở cửa vì tầu đã ra ngoài hải phận quốc tế. Những hôm trước tầu chậy trong các fjords của Chile nên sòng bạc phải đóng cửa.

Lời bàn tán vẫn tiếp tục.

Không biết có phải những lời đàm tiếu đã tới tai thuyền trưởng hay có một ai đó đã trực tiếp phàn nàn với thuyền trưởng hay không mà vị thuyền trưởng mở cuộc họp mặt với du khách sáng nay để giải thích tại sao ông quyết định phải bỏ bến Ushuaia. Phải chăng ông muốn ngăn ngừa một cuộc “nổi loạn” trên tầu? Để thuyết phục du khách ông cho chiếu hình ảnh diễn tiến của trận bão trong hải đạo Drake.

Diễn trình của trận bão, tầu sẽ nằm ngay trong mắt bão khi đang đi qua hải đạo Drake.

Đúng là nếu đi theo hành trình cũ, tầu sẽ nằm ngay trong mắt bão khi đang đi qua hải đạo Drake.

Lúc đó bão làm biển động, sóng dâng cao tới 8 mét và gió tới 50 knots.

Sóng lớn và gió to mà con tầu Veendam này đã gặp phải trong trận bão năm ngoái.

Sóng 8 mét có thể lên tới khu lầu tổ quạ Crow Nest ở phía mũi tầu. Lầu tổ quạ là chiếc lầu gương để ngồi ngoạn cảnh nhất là khi thời tiết bên ngoài không cho phép (mưa bão, gió to, lạnh giá…). Đây là chỗ lý tưởng cho những người lớn tuổi. Cái tên Tổ Quạ được gọi theo sự tích là ngày xưa những người đi biển thường làm một cái tổ quạ trên đỉnh cột buồm cao nhất. Con quạ khi thấy bờ hay thuyền bè khác nó sẽ kêu báo cho biết.

Thuyền trưởng giải thích cho biết bắt buộc phải né tránh trận bão lớn ở hải đạo Drake vì tầu có thể không kham nổi. Cũng chính con tầu Ms Veendam này năm ngoái đã gặp bão tại đây. Vị thuyền trưởng lúc đó mặc dù đã cố né tránh mắt bão nhưng tầu vẫn bị hư hại nặng nề ở mũi. Tầu trở về đảo Faulkland an toàn nhưng sau đó sửa chữa tốn tới hơn cả chục triệu Mỹ kim.

 

Mũi tầu MS Veendam bị hư hâi nặng sau trận bão năm ngoái đang được sửa chữa.

Kết quả là ông đã được đề cử thay thế vị thuyền trưởng đó để lèo lái con tầu Veendam này.

Ông cũng nói là ông có nghe nhiều người phàn nàn là tại sao lại làm lịch trình Thám Du Nam Cực để khi đi qua hải đạo Drake lại nhằm đúng vào ngày thứ sáu 13.  Ông nói đùa là ông ít tin vào dị đoan như thế nhưng ông tin chắc là có một du khách nào đó đã huýtt sáo miệng nên mới có bão tố. Dân đi biển ngày xưa tin rằng đang đi tầu thuyền mà huýt sáo là gọi bão tố đến.

Sau buổi nói chuyện giải thích của thuyền trưởng, sự phàn nàn không còn nghe xôn xao nữa.

Thuộc cấp của ông cho biết đây là lần đầu tiên họ thấy có một vị thuyền trưởng họp mặt với du khách để giải thích về sự quyết định của mình.

Bây giờ chỉ mong sao con tầu sẽ chiến thắng trong cuộc chậy đua với bão tố.

Có nhiều người với cái miệng tồ tồ lại nhắc tới vụ tầu đắm Titanic vào lúc này. Thật là vô duyên, nghe mà thấy ngứa cả người.

(còn tiếp).

March 9, 2012

THÁM DU NAM CỰC (5).

Filed under: Thám Du Nam Cực (5) — Quang Nguyen @ 6:11 am

  

THÁM DU NAM CỰC

Du ký

(Phần 5).

Nguyễn Xuân Quang

Ngày thứ sáu của hành trình.

Đến cảng Punta Arenas lúc 6:42 AM. Tiên đoán trời có mây, gió vừa phải, nhiệt độ 10 độ C hay 50 độ F.

Chương trình hôm nay là buổi sáng chúng tôi đi thăm một tộc thể (colony) băng quyên (penguin) khi trở về mới xuống thăm phố cảng.

Punta Arenas thuộc Chile còn gọi là Mũi Cát (Sandy Point) là thành phố cực nam của lục địa Nam Mỹ châu có khoảng 150.000 dân (xin nhắc lại eo biển Magellan phân cách lục địa Nam Mỹ châu ở phía bắc với quần đảo Đất Lửa Tierra del Fuego ở phía nam).

Punta Arenas nằm ở  gần khoảng giữa trên bờ bắc của eo biển Magellan.

Punta Arenas ở một vùng hoang vu nhất, xa vắng nhất của thế giới cùng tận nhất. Punta Arenas là thủ đô của Vùng Magallanes và La Antartica của Chile nằm ở khoảng gần giữa trên bờ bắc của eo biển Magellan và là một trong những thành phố cực nam (southernmost cities) của thế giới. Sở dĩ dùng từ NHỮNG thành phố vì Chile và Argentina tranh giành nhau cái nhãn hiệu địa điểm Cực Nam này. Nhìn trên bản đồ ta thấy Ushuaia của Argentina ở sâu hơn về phía nam nên Argentina cho rằng Ushuaia là địa điểm cực nam của trái đất. Tuy nhiên Chile lại lý luận rằng, trước hết muốn được gọi là thành phố thì một nơi nào đó phải có hơn 100.000 người ở, Punta Arenas có trên 150.000 người nên hội đủ điều kiện là một thành phố (city). Trong khi đó, Ushuaia không hội đủ điều kiện này vì dân số dưới 100.000 người chỉ là một tỉnh lỵ (town) mà thôi. Thứ đến Punta Arenas nằm trên bờ mép cuối cùng của lục địa Nam Mỹ châu trong khi Ushuaia nằm trên quần đảo Đất Lửa Tierra del Fuego nên Punta Arena mới đích thực là thành phố cực nam. Để vừa lòng cả hai, chúng ta phải nói Thành Phố Lục Địa Punta Arenas và Tỉnh lỵ Quần Đảo Vùng Đất Lửa Ushuaia cực nam của thế giới. Cái nhãn hiệu cực nam thế giới này nghe nói thì chẳng có gì nhưng thật ra về mặt du lịch hái ra tiền. Ai cũng muốn đặt chân tới điểm cực nam có đông người ở của thế giới. Trong lộ trình, ngày hôm sau chúng tôi cũng ghé đến Ushuaia, trạm dừng chân kế tiếp sau Punta Arenas.

Punta Arenas đã có một thời huy hoàng. Như đã nói trước khi có kênh đào Panama, eo biển Magellan khá an toàn so với hải đạo Drake. Punta Arenas là một hải đạo chính của các thương thuyền. Cảng này là một bến trạm chính để nối kết, tiếp liệu cho những thương thuyền đi qua lại giữa Đại Tây Dương và Thái Bình Dương.  Đây cũng là hải cảng cung cấp len sợi chính cho thế giới của kỹ nghệ nuôi cừu của vùng đồng cỏ Patagonia của Chile.

Ngoài ra thành phố này cũng đã nở rộ trong thời kỳ Đi Tìm Vàng (Gold Rush) ở California.

Cũng nhờ vị trí chiến lược, Punta Arenas là một hải cảng bận rộn nhất thế giới lúc bấy giờ. Thời kỳ vàng son này chấm dứt khi kênh đào Panama mở cửa vào năm 1914, tầu bè không còn đi vòng qua Cape Horn nữa. Tình thế lại trầm trọn hơn khi len sợi của Punta Arenas bị len sợi của Tân Tây Lan và Úc cạnh tranh mãnh liệt.

May mắn thay vào năm 1940 Punta Arenas khám phá ra dầu hỏa và ngành du lịch bùng phát nhờ cái địa danh thành phố lục địa cực nam Nam Mỹ châu. Ngoài ra Punta Arenas còn thu hút du khách vì là của ngõ đi vào vùng Patagonia của Chile. Ở phía bắc cách Punta Arenas 275 dậm trong hạt Última Esperanza có Công Viên Quốc Gia Torres del Paine đã được UNESCO chỉ định là nơi Bảo Tồn Biosphere Thế Giới.  Ở đây có những giống chim thú đặc biệt Vùng Cận Nam Cực như băng quyên, hải cẩu, chim đà điểu nhỏ rhea, lạc đà Nam Mỹ châu guanaco… (dĩ nhiên chúng tôi không có đủ thì giờ đi thăm công viên này).

Ăn sáng xong, chúng tôi lên đường đi du ngoạn xem băng quyên (penguins). Punta Arenas có hai nơi có tộc thể băng quyên rất đông đó là ở đảo Magdalena và Otaway Sound (sound là chỗ biển hẹp nhưng lớn hơn vịnh, rộng hơn fjord). Ở đảo Magdalena có thêm hải cẩu và vài giống chim biển nhưng khá xa, phải đi phà, phải đi trọn ngày nên chúng tôi chọn địa điểm Otaway Sound chỉ mất nửa ngày, còn nửa ngày chúng tôi dành lại đi thăm thành phố. Riêng tôi muốn đi thăm các bảo tàng viện và trung tâm văn hóa để tìm hiểu về các thổ dân địa phương và ở vùng Patagonia, hy vọng tìm được ít nhiều chứng tích của văn hóa Đại Tộc Bách Việt ở Đông Nam Á cổ đại đã theo thổ dân mang tới vùng chóp đuôi của Nam Mỹ châu này.

Trên đường đi , xe chậy qua những cánh đồng cỏ mông mênh với những trang trại phần lớn nuôi cừu.

Một trang trại với hoa vàng mùa hè nở rộ. Lúc này ở bắc bán cầu sắp tới Tết Ta, làm gợi nhớ tới hoa mai vàng (ảnh của tác giả).

Một trang trại nuôi alpaca và guano (ảnh của tác giả).

Thỉnh thoảng gặp một “cao bồi” chăn cừu Nam Mỹ châu gọi là gauchos.  Gauchos thường là một thổ dân, tộc được ưa chuộng nhất là người Mapuche to lớn, cưỡi ngựa giỏi như người Mông Cổ (như đã viết Mapuche có Rìu Việt ruột thịt với Bách Việt, là tộc kiên cường dũng mãnh đã chống lại được thực dân Tây Ban Nha và đế quốc Incas). Gauchos có nghĩa là “kẻ mồ côi”, những người này thường được các trại chủ nuôi để làm kẻ chăn cừu.

“Cao bồi” chăn cừu Nam Mỹ châu Gauchos và hai con chó chăn cừu (ảnh của tác giả).

Kỳ viếng thăm Argentina lần trước chúng tôi đã đi thăm một trang trại và được xem một màn biểu diễn cưỡi ngựa tuyệt vời của các cao bồi gauchos. Ngồi trên lưng ngựa đang phi nước đại mà họ có thể xỏ một cây que to bằng chiếc bút chì vào một chiếc nhẫn treo lơ lửng giữa trời.

Một gauchos đang phi ngựa nước đại mà có thể cắm cây que to như cây bút chì vào một chiếc nhẫn treo lở lửng giữa trời (ảnh của tác giả).

Sau đó gauchos đem tặng chiếc nhẫn cho một người đẹp du khách.

 Dọc đường thỉnh thỏang, ở những chỗ hiểm nghèo cũng thấy những cái “điện” Thiên Chúa giáo tí hon thờ những người chết vì tai nạn xe cộ trông như những cái trang âm hồn thờ cô hồn của người Việt.

Những “điện thờ” Thiên Chúa giáo tí hon thờ người chết ở dọc đường (ảnh của tác giả).

Điểm này cho thấy rõ Thiên Chúa giáo đã hòa đồng với Vũ Trụ giáo của thổ dân.

Gần tới nơi là một vùng  có đầy những đụn đất, núi đất do khai thác mỏ bạc đào xới lên.

Những con cừu đang gậm cỏ bên các đụn đất khai mỏ bạc (ảnh của tác giả).

Chỉ hơn một giờ sau chúng tôi đã tới chỗ biển hẹp Otaway Sound.

Băng quyên ở đây là loài Magellan. Hiển nhiên gọi là Magellan vì loại này sống tại eo biển Magellan này. Đây là loại Cận Nam Cực sống trên đất trong khi các loài khác sống trên băng tuyết như loài Adélie (xem dưới). Loài băng quyên Magellan này chọn vùng đất ở Punta Arenas này làm nơi đào hang ổ để sinh sản nuôi con vì ở đây có những cánh đồng cỏ đất cát ngay bên bờ biển, chúng có thể đào hang ổ đễ dàng vì như đã biết Punta Arenas còn gọi là Mũi Cát Sandy Point.

 Cánh đồng cỏ đất cát ven biển được băng quyên Magellan chọn làm nơi sinh đẻ nuôi con.

Từ chỗ đậu xe ra bờ biển xa cả cây số. Du khách có vấn đề di chuyển phải trang bị kỹ. Cũng may là đường lát ván nên dễ đi. Thỉnh thoảng có những cây cầu trên cạn bắc qua lối đi của băng quyên.

Ở đây đồng không mông quạnh bên bờ biển gió lạnh đến tái tê người. May là chúng tôi đã trang bị kỹ càng.

Loài băng quyên Magellan này có đặc điểm là cái vòng đen quanh cổcó đường viền cong đen ở phía trên ngực, có tiếng kêu như con lừa đực nên còn gọi là jackass.

Băng quyên Magellan có vòng đen ở cổ và đường viền cong đen ở phía trên ngực (ảnh của tác giả).

Loài Magellan này tương tự loài băng quyên châu Phi sống ở Mũi Hảo Vọng Good Hope Cape, mỏm tận cùng của châu Phi mà chúng tôi đã thấy trước đây trong chuyến thăm Nam Phi. Loài này cũng có viền đen trên ngực chỉ khác cổ trắng, dưới cổ không có vòng đen.

Bác sĩ Amy Á Mỹ Nguyễn, thứ nữ của tác giả chụp với băng quyên châu Phi ở Good Hope Cape, Nam Phi.

Sau đây là một vài thông tin thú vị về băng quyên Magellan ở Otaway Sound.

 

Một vài thông tin thú vị về băng quyên ở Otaway Sound. Con số tổng cộng ở đây là 10.844 con (2006-2007)

 Nếu đi một mình thì phải nhớ đến đây vào lúc xế trưa. Băng quyên Magellan đi ra biển kiếm ăn vào sáng sớm và trở về vào lúc xế trưa. Một đợt khác đi từ lúc xế trưa và trở về vào lúc tối. Trung bình ở biển kiếm ăn lâu khoảng chín giờ.

Ra biển đi kiếm ăn (ảnh của tác giả).

Chúng ăn cá, tôm cua.

Vui đùa, nghỉ ngơi, ngồi lê đôi mách trên bờ biển sau khi ăn no ở biển trở về (ảnh của tác giả).

Một cặp nói với nhau “chúng ta trở về ổ ấm mớm con hơn là ngồi lê đôi mách” (ảnh của tác giả).

Chu kỳ sinh sản của băng quyên Magellan: con đực và cái, trở về bản quán, chay tịnh (nhịn ăn), giao tình (courting) và giao phối, đẻ trứng, ấp trứng, nuôi con. Con lớn lên, thay lông, trưởng thành, ra biển lần đầu. Rời quê quán ra biển sống. Tìm bạn đời rồi lại quay trở về bản quán… (ảnh của tác giả).

Con đực lo nhiệm vụ đào hang ổ.

 

 Âu yếm (ảnh của tác giả).

Con con mới nở ở trong ổ chừng 6 tuần.

Chim con còn trong hang ổ chưa thay lông tơ (ảnh của tác giả).

Sau đó mới ra ngoài hang ổ vui sống cùng thế giới bên ngoài.

 

Chim con đã ra khỏi hang ổ, phơi nắng đang chào đón chúng tôi (ảnh của tác giả).

Rồi bắt đầu thay lông tơ.

Đang thay lông tơ, khi thay xong sẽ xuống biển lần đầu (ảnh của tác giả).

Khoảng 60 ngày khi thay lông xong, chim con rời ổ, bố mẹ dẫn ra biển khởi sự thám hiểm biển sâu lần đầu.

Gọi tình (ảnh của tác giả).

Xế trưa trên đường về, chúng tôi ngừng lại xuống thăm thành phố.

Tôi có một cái thói quen là đi tới đâu cũng tìm tới thăm bảo tàng viện và các cơ sở văn hóa địa phương để học hỏi và đi tìm dấu vết của người Cổ Bách Việt và chữ viết nòng nọc vòng tròn-que, một thứ chữ tối cổ của nhân loại mà trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn là một bộ từ điển bằng đồng…

Phải nói là rất may mắn, bà xã tôi cũng thích đến bảo tàng viện. Có khi chúng tôi ở nửa ngày trong bảo tàng viện, chụp cả ngàn tấm ảnh để làm tài liệu học hỏi.

Vì thế đầu tiên, chúng tôi ghé ngay đến Trung Tâm Văn Hóa Braun Menéndez. Đây vốn là một biệt thự nghỉ mùa hè do kiến trúc sư Pháp xây của vợ chồng đại chủ cung cấp dịch vụ hàng hải là Mauricio Braun và Josefina Menéndez đầu thế kỷ 20.

Nhưng quan trọng hơn là bảo tàng viện vùng của địa hạt Magellan (Museo Regional de Magallanes).

Bảo tàng viện trưng bầy những khác biệt về địa lý, chủng tộc trong vùng cũng như đời sống vương giả của các thương nhân thuộc địa lập nghiệp ở đây. Trọng điểm chú trọng về thổ dân, thú vật, chim muông trong vùng.

Bảo tàng viện cho biết một khái niệm tổng quát về Vùng Chân To Patagonia và Đất Lửa Tierra del Fuego. Cũng nên biết là tên Patagonia chỉ vùng phía nam Nam Mỹ châu là vùng đồng cỏ Pampas (pampas có một nghĩa là cỏ lau) của cả Chilevà Argentina. Patagonia có Pata- là patas, Pháp ngữ Patte là chân. Sở dĩ có tên là Vùng Chân To là vì khi những người Âu châu đến vùng này họ thấy những dấu chân rất lớn. Đây là dấu chân của người thổ dân Mapuche vốn có vóc dáng to lớn. Còn vùng quần đảo Đất Lửa Tierra del Fuego là do các nhà thám hiểm đầu tiên khi tới đây, từ trên thuyền họ đã thấy khói bốc lên và nhiều ánh lửa bập bùng. Những thổ dân vùng này lúc đầu không mặc quần áo nên họ đốt lửa suốt ngày đêm, đo đó mới được đặt tên là Vùng Đất Lửa.

Các vùng của thổ dân ở Patagonia và Tierra del Fuego (ảnh của tác giả chụp trong Bảo Tàng Viện).

Ngoài tộc Mapuche liên hệ với Bách Việt cổ như đã nói trong bài Rìu Việt ở Đa Đảo và Nam Mỹ, tôi đã tìm thấy nhiều dấu tích Bách Việt cổ ở vùng Patagonia này (xem dưới).

Xế trưa, đói bụng, chúng tôi đi ăn trước khi  đi chơi phố.

Tiệm ăn Tây Ban Nha La Tasca có nhiều món ăn chuyên biệt địa phương. Dĩ nhiên phải có món thịt cừu Pantagonia là centolla và món thịt bò Patagonia nướng Asado. Hải sản ở Chile cũng nổi tiếng, ngoài món cua đế vương (king crab) Nam Cực, mực nấu với nước mực đen, gỏi cá hồi salmon ceviche, sò hến, cơm chảo paella còn có một món ít nơi nào có là lươn biển conger eel.  Giá cả rất mát ruột là trọn bữa trưa với bánh mì, nước uống, một cốc rượu vang chỉ có 20 Mỹ kim.

Ngày nay Punta Arenas phản ánh một nền văn hóa hỗn hợp giữa những người Anh chủ các trang trại nuôi cừu và các thủy thủy Bồ Đào Nha. Thành phố có nhiều kiểu nhà thuộc địa.

Trọng tâm của thành phố là quảng trường chính Plaza de Munoz Gamero, nơi đây có tượng Magellan.

Tượng Magellan.

Gần Plaza có ngôi nhà thờ cổ,

Ngôi nhà thờ cổ nhất đang “lột da mặt” làm đẹp (ảnh của tác giả).

biệt thự của thống đốc, khách sạn cổ  Cabo de Hornos, biệt thự của José Braun Menéndez và lâu đài của Sara Braun.

Lâu đài của Sara Braun.

Sara Braun vốn gốc người Nga đến vùng Nam Mỹ châu này vào năm 1874 và ba năm sau bà lấy một đại chủ người Bồ Đào Nha là José Nogueira. Ông này có tới một triệu mẫu Anh (hectares) dùng làm trang trại nuôi cừu. Ông cũng là nhà xuất cảng vàng. Quản lý của ông chính là Mauricio Braun, là cậu em vợ Sara Braun của ông. Chẳng may ông sống không bao lâu, Nogueira chết vào năm 48 tuổi vì bệnh lao.

Sara Braun thừa hưởng gia tài sản khổng lồ của chồng và hoàn tất lâu đài này đã được khởi công xây cất lúc chồng bà còn sống.

Cuối cùng dĩ nhiên chúng tôi hoan hỉ đi mua sắm.

Khu bán tặng vật tại Plaza chính của thành phố.

Hàng trăm gian hàng bán đồ tiểu công nghệ, len sợi, da alpaca, đá quí và dĩ nhiên không thể thiếu mọi thứ về băng quyên Magellan…

Còn thì giờ chúng tôi tìm đến một tiệm café internet. Ở đây rẻ không chỗ nào bằng, một giờ dùng internet chỉ có một Mỹ kim.  Đừng quên nhâm nhi ly coctail quốc hồn quốc túy của Chile là Pisco sour pha bằng rượu brandy Pisco với chanh, đường và lòng trắng trứng đánh nổi bọt, cho thêm chút ớt xanh Chile.

Chúng tôi trở về tầu trên chuyến xe chót.

Theo lịch trình, ngày mai tầu đến bến tới là tỉnh cực nam Ushuaia của Argentina trên quần đảo Đất Lửa.

(còn nữa).



.

March 2, 2012

THÁM DU NAM CỰC (4).

Filed under: Thám Du Nam Cực (4) — Quang Nguyen @ 6:21 am

THÁM DU NAM CỰC

Du ký

(Phần 4).

 Nguyễn Xuân Quang

 Ngày thứ năm của hành trình.

Ở biển. Tiên đoán biển lặng, nhiệt độ 9 độ C hay 48 độ F.

Cao điểm nhất của ngày hôm nay là tới điểm nóng băng hà Amalia rất nổi tiếng trong vùng. Một ngày ảm đạm nữa với nhiều mây mù. Hy vọng tới băng hà Amalia trời và lòng du khách bớt ảm đạm hơn.

 

Theo lộ trình, hôm nay đi đến băng hà Amalia.

Đường đi tới băng hà Amalia phải đi qua kênh biển Trinidad, Pitt, Andres, Concepcion.

Núi đội mũ tuyết vạn niên báo cho biết tới vùng băng hà (ảnh của tác giả).

Những tảng băng vụn (bergy bit; bergy là từ nói tắt của iceberg) lênh đênh trên mặt biển báo cho biết sắp tới băng hà.

(ảnh của tác giả).

 Một băng hà trên núi cao (ảnh của tác giả).

Giây phút chờ đợi đã đến, băng hà Amalia hiện ra trong mây mù.

Băng hà Amalia xanh lam đậm (ảnh của tác giả).

Năm phút sau trời ngoành lại:

  Băng hà Amalia (ảnh của tác giả).

Vài ba phút sau trời đã trở mặt.

Băng hà Amalia (ảnh của tác giả).

Băng hà Amalia nhìn gần (ảnh của tác giả).

Băng hà Amelia mầu xanh lơ đậm.

Băng hà Amelia có mầu xanh lơ đậm rất tinh khiết. Nước đá, tuyết có mầu trắng vì không khí trong các tinh thể nước đá phản chiếu tất cả các làn sóng ánh sáng trắng. Trong khi trong băng hà nước đá bị nén chặt lại  hàng ngàn năm, không khí bị nén lại chỉ còn một ít bọt không khí phản chiếu rất ít ánh sáng, giúp ánh nắng đi sâu vào trong băng đá. Các tinh thể đá hấp thu các ánh sáng ở phía đầu mầu đỏ sáu lần nhiều hơn ở phía đầu mầu xanh lơ của quang phổ. Vì thế chỉ còn có ánh sáng xanh lơ phản chiếu lại mắt chúng ta.

Băng hà Amalia ở bờ mép của Kênh Sarmiento thuộc Công Viên Quốc Gia Bemardo O’ Higgins, một trong những  nơi thu hút du khách vào bậc nhất của Chile. Amalia còn gọi là băng hà Skue là một loại băng hà thủy triều (tidewater glacier) có nghĩa là dòng đặc đổ xuống biển, phần nối tiếp của băng hà vẫn còn ở dưới lòng biển chưa tan.

Nó bắt nguồn từ Đồng Băng Nam Patagonia (Southern Patagonian Ice Field). Từ năm 1945 đến 1986, mũi tận cùng của nó đã thụt lùi lại 7 km (do băng tan). Ngày nay với hiện tượng hâm nóng hoàn cầu, mũi băng hà càng thụt lùi nhanh hơn. Băng hà bao quanh một phần ngọn núi lửa Reclus và làm soi mòn sườn phía bắc của núi.

 

Tầu ngừng lại khoảng một tiếng đồng hồ cho du khánh chiêm ngưỡng và chụp hình với cảnh thời tiết thay đổi như thay áo. Đồng thời theo truyền thống Hòa Lan, về mùa đông tháng giá, lúc thời tiết lạnh nhất thường ăn súp đậu xanh gọi là Ertwensoep hay snert. Vì thế tầu MS Veendam này của Hòa Lan cũng đãi ăn súp đậu xanh ngay tại băng hà Amalia này.

Ăn súp đậu xanh tại băng hà Amalia. 

Quả thật ăn chén súp đậu xanh nóng ở chỗ băng tuyết lạnh cóng này cũng thấy ấm bụng, ấm người.

Rời băng hà Amalia chúng tôi hướng về Eo Biển Magellan.

Trời  vẫn vui vẫn buồn lẫn lộn, khi mây mù, khi quang đãng. Dọc đường đi hiếm hoi mới thấy một tầu đánh cá.

Một chiếc tầu đánh cá của Chile. 

Vài giờ sau, chúng tôi đi qua chỗ con tầu đắm mà một nửa con tầu còn nhô lên khỏi mặt nước. Đây là đảo Shoalon (tên dễ nhớ vì Shoalon gần âm với Shallow, cạn).

Đảo Shoalon bây giờ có ngọn hải đăng (ảnh của tác giả).

Con tầu tên là Santa Leona bị đắm vào năm 1964.

Tầu Santa Leona bị đắm năm 1964 (ảnh của tác giả).

Công cuộc điều tra tai nạn này cho biết đây là chuyến đi đầu tiên mà Anh ngữ gọi là “chuyến đi trinh nữ maiden voyage” của con tầu chở hành khách do thủy thủ đoàn Chile điểu khiển. Nguyên nhân gây ra đắm tầu là hai từ Phải và Trái. Thời đó hãy còn dùng lệnh “right” (phải) và “left” (trái) cho người cầm bánh lái để điều khiển con tàu đi qua phải hay trái. Hôm đó, thuyền trưởng và hoa tiêu đang nói chuyện gì đó. Viên thuyền trưởng nói lớn “Alright”. Người cầm lái giật mình bẻ quẹo tay lái qua “right” hết mức “all the right”. Con tầu đâm vào tảng đá ngầm bên phải, tầu đắm và nằm như thế cho tới bây giờ. Rất may không một hành khách nào bị chết nhưng mãi ngày hôm sau mới có tầu đến tiếp cứu.

Vì thế trên lầu cầu tầu và trong phòng lái ngày nay cấm không ai được nói “phải” hay “trái” và thuyền trưởng phải dùng từ starboard (phía phải của tầu) và “port” (trái) để ra lệnh cho người cầm lài.

Lưu ý khi đi tuần du biển, hai phía phải starboard và trái port của tầu rất quan trọng, phải biết và nhớ để định hướng, chọn chỗ ngồi, lên bến… Một cách giúp trí nhớ Star là phía Phải là nhớ câu nói “Phải sống Sao cho Phải”.

Từ đây con tầu đi qua kênh biển Sarmiento và Gray để vào Eo Biển Magellan.

Những núi đá hoa cương báo cho biết sắp đến cửa eo biển.

Trời lại âm u đầy mây mù. Hy vọng những ngày tới nắng ráo.

Ferdinand Magellan (Fernão de Magalhães) là nhà đi biển Bồ đào Nha phục vụ cho vương triều Charles I của Tây Ban Nha là người Âu châu đầu tiên đi qua eo biển này vào năm 1520 trong chuyến hải hành vòng quanh thế giới của ông.

Mũi tên đỏ chỉ con đường Magellan đã đi từ Đại Tây Dương qua Thái Bình Dương năm 1520.

Ông đi qua vào ngày 1 tháng 11 năm 1520 đúng vào ngày Lễ Các Thánh nên ông đặt tên là Eo Biển Các Thánh ( Estrecho de Todos los Santos). Về sau vua Tây Ban Nha đổi là Eo Biển Magellan để vinh danh ông.

Eo biển Magellan chia đôi phần lục địa Nam Mỹ ở phía bắc và quần đảo Vùng Đất Lửa (Tierra del Fuego) ở phía nam.  Bờ phía bắc của eo biển này vì thế là giới hạn tận cùng của lục địa Nam Mỹ châu.

Bản đồ eo biển Magellan vẽ năm 1753 bởi Bellin, Jacques Nicolas.

Con đường thủy này là một hải đạo thiên nhiên rất quan trọng giữa Thái Bình Dương và Đại Tây Dương. Quần đảo Đất Lửa Tierra del Fuego với phần phía đông thuộc Argentina còn phần phía Tây và phía Nam kể cả Cape Horn thuộc về Chile có nhiều kênh biển nhưng không có hải đạo nào thông thương giữa Thái Bình Dương và Đại Tây Dương. Nếu muốn, phải đi qua Cape Horn (mũi tận cùng phía nam của Nam Mỹ châu phân cách với  Nam Cực). dùng hải đạo Drake.

Đây cũng là lối đi rất khó vận hành bởi có gió bão là luồng nước chẩy rất bất ngờ và có chỗ rất hẹp.

Tuy nhiên con đường này vẫn được cho là an toàn hơn so với hải đạo Drake đi qua Cape Horn.  Hải đạo Drake nổi tiếng về bão lốc kinh khủng, thời tiết không thể lường trước được và gặp nhiều băng sơn cũng như biển đóng cứng băng giá. Trước khi kênh đào Panama mở cửa năm 1914, eo biển Magellan là thủy lộ chính của thương thuyền đi từ Thái Bình Dương qua Đại Tây Dương và ngược lại.

Dù gì trong eo biển Magellan tầu thuyền được bảo vệ nhiều với những nơi ẩn náu thiên nhiên. Ở đây có một cảng lớn của Chile là Punta Arenas, đây cũng là nơi bảo trì và tiếp liệu cho tầu bè.

Xế chiều tầu đi vào cửa Eo Biển Magellan.

Cửa Eo Biển Magellan hẹp trong khoảng giữa hai tay.

 Tầu vào cửa Eo Biển Magellan.

Suốt đêm nay tầu đi trong eo biển này. Chúng tôi sẽ cặp bến Punta Arenas sáng sớm mai.

 (còn tiếp).

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Older Posts »

Theme: Silver is the New Black. Blog at WordPress.com.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.