THÁM DU NAM CỰC
Du ký
(Phần 5).
Nguyễn Xuân Quang
Ngày thứ sáu của hành trình.
Đến cảng Punta Arenas lúc 6:42 AM. Tiên đoán trời có mây, gió vừa phải, nhiệt độ 10 độ C hay 50 độ F.

Chương trình hôm nay là buổi sáng chúng tôi đi thăm một tộc thể (colony) băng quyên (penguin) khi trở về mới xuống thăm phố cảng.
Punta Arenas thuộc Chile còn gọi là Mũi Cát (Sandy Point) là thành phố cực nam của lục địa Nam Mỹ châu có khoảng 150.000 dân (xin nhắc lại eo biển Magellan phân cách lục địa Nam Mỹ châu ở phía bắc với quần đảo Đất Lửa Tierra del Fuego ở phía nam).

Punta Arenas nằm ở gần khoảng giữa trên bờ bắc của eo biển Magellan.
Punta Arenas ở một vùng hoang vu nhất, xa vắng nhất của thế giới cùng tận nhất. Punta Arenas là thủ đô của Vùng Magallanes và La Antartica của Chile nằm ở khoảng gần giữa trên bờ bắc của eo biển Magellan và là một trong những thành phố cực nam (southernmost cities) của thế giới. Sở dĩ dùng từ NHỮNG thành phố vì Chile và Argentina tranh giành nhau cái nhãn hiệu địa điểm Cực Nam này. Nhìn trên bản đồ ta thấy Ushuaia của Argentina ở sâu hơn về phía nam nên Argentina cho rằng Ushuaia là địa điểm cực nam của trái đất. Tuy nhiên Chile lại lý luận rằng, trước hết muốn được gọi là thành phố thì một nơi nào đó phải có hơn 100.000 người ở, Punta Arenas có trên 150.000 người nên hội đủ điều kiện là một thành phố (city). Trong khi đó, Ushuaia không hội đủ điều kiện này vì dân số dưới 100.000 người chỉ là một tỉnh lỵ (town) mà thôi. Thứ đến Punta Arenas nằm trên bờ mép cuối cùng của lục địa Nam Mỹ châu trong khi Ushuaia nằm trên quần đảo Đất Lửa Tierra del Fuego nên Punta Arena mới đích thực là thành phố cực nam. Để vừa lòng cả hai, chúng ta phải nói Thành Phố Lục Địa Punta Arenas và Tỉnh lỵ Quần Đảo Vùng Đất Lửa Ushuaia cực nam của thế giới. Cái nhãn hiệu cực nam thế giới này nghe nói thì chẳng có gì nhưng thật ra về mặt du lịch hái ra tiền. Ai cũng muốn đặt chân tới điểm cực nam có đông người ở của thế giới. Trong lộ trình, ngày hôm sau chúng tôi cũng ghé đến Ushuaia, trạm dừng chân kế tiếp sau Punta Arenas.
Punta Arenas đã có một thời huy hoàng. Như đã nói trước khi có kênh đào Panama, eo biển Magellan khá an toàn so với hải đạo Drake. Punta Arenas là một hải đạo chính của các thương thuyền. Cảng này là một bến trạm chính để nối kết, tiếp liệu cho những thương thuyền đi qua lại giữa Đại Tây Dương và Thái Bình Dương. Đây cũng là hải cảng cung cấp len sợi chính cho thế giới của kỹ nghệ nuôi cừu của vùng đồng cỏ Patagonia của Chile.
Ngoài ra thành phố này cũng đã nở rộ trong thời kỳ Đi Tìm Vàng (Gold Rush) ở California.
Cũng nhờ vị trí chiến lược, Punta Arenas là một hải cảng bận rộn nhất thế giới lúc bấy giờ. Thời kỳ vàng son này chấm dứt khi kênh đào Panama mở cửa vào năm 1914, tầu bè không còn đi vòng qua Cape Horn nữa. Tình thế lại trầm trọn hơn khi len sợi của Punta Arenas bị len sợi của Tân Tây Lan và Úc cạnh tranh mãnh liệt.
May mắn thay vào năm 1940 Punta Arenas khám phá ra dầu hỏa và ngành du lịch bùng phát nhờ cái địa danh thành phố lục địa cực nam Nam Mỹ châu. Ngoài ra Punta Arenas còn thu hút du khách vì là của ngõ đi vào vùng Patagonia của Chile. Ở phía bắc cách Punta Arenas 275 dậm trong hạt Última Esperanza có Công Viên Quốc Gia Torres del Paine đã được UNESCO chỉ định là nơi Bảo Tồn Biosphere Thế Giới. Ở đây có những giống chim thú đặc biệt Vùng Cận Nam Cực như băng quyên, hải cẩu, chim đà điểu nhỏ rhea, lạc đà Nam Mỹ châu guanaco… (dĩ nhiên chúng tôi không có đủ thì giờ đi thăm công viên này).
Ăn sáng xong, chúng tôi lên đường đi du ngoạn xem băng quyên (penguins). Punta Arenas có hai nơi có tộc thể băng quyên rất đông đó là ở đảo Magdalena và Otaway Sound (sound là chỗ biển hẹp nhưng lớn hơn vịnh, rộng hơn fjord). Ở đảo Magdalena có thêm hải cẩu và vài giống chim biển nhưng khá xa, phải đi phà, phải đi trọn ngày nên chúng tôi chọn địa điểm Otaway Sound chỉ mất nửa ngày, còn nửa ngày chúng tôi dành lại đi thăm thành phố. Riêng tôi muốn đi thăm các bảo tàng viện và trung tâm văn hóa để tìm hiểu về các thổ dân địa phương và ở vùng Patagonia, hy vọng tìm được ít nhiều chứng tích của văn hóa Đại Tộc Bách Việt ở Đông Nam Á cổ đại đã theo thổ dân mang tới vùng chóp đuôi của Nam Mỹ châu này.
Trên đường đi , xe chậy qua những cánh đồng cỏ mông mênh với những trang trại phần lớn nuôi cừu.

Một trang trại với hoa vàng mùa hè nở rộ. Lúc này ở bắc bán cầu sắp tới Tết Ta, làm gợi nhớ tới hoa mai vàng (ảnh của tác giả).

Một trang trại nuôi alpaca và guano (ảnh của tác giả).
Thỉnh thoảng gặp một “cao bồi” chăn cừu Nam Mỹ châu gọi là gauchos. Gauchos thường là một thổ dân, tộc được ưa chuộng nhất là người Mapuche to lớn, cưỡi ngựa giỏi như người Mông Cổ (như đã viết Mapuche có Rìu Việt ruột thịt với Bách Việt, là tộc kiên cường dũng mãnh đã chống lại được thực dân Tây Ban Nha và đế quốc Incas). Gauchos có nghĩa là “kẻ mồ côi”, những người này thường được các trại chủ nuôi để làm kẻ chăn cừu.

“Cao bồi” chăn cừu Nam Mỹ châu Gauchos và hai con chó chăn cừu (ảnh của tác giả).
Kỳ viếng thăm Argentina lần trước chúng tôi đã đi thăm một trang trại và được xem một màn biểu diễn cưỡi ngựa tuyệt vời của các cao bồi gauchos. Ngồi trên lưng ngựa đang phi nước đại mà họ có thể xỏ một cây que to bằng chiếc bút chì vào một chiếc nhẫn treo lơ lửng giữa trời.

Một gauchos đang phi ngựa nước đại mà có thể cắm cây que to như cây bút chì vào một chiếc nhẫn treo lở lửng giữa trời (ảnh của tác giả).
Sau đó gauchos đem tặng chiếc nhẫn cho một người đẹp du khách.

Dọc đường thỉnh thỏang, ở những chỗ hiểm nghèo cũng thấy những cái “điện” Thiên Chúa giáo tí hon thờ những người chết vì tai nạn xe cộ trông như những cái trang âm hồn thờ cô hồn của người Việt.

Những “điện thờ” Thiên Chúa giáo tí hon thờ người chết ở dọc đường (ảnh của tác giả).
Điểm này cho thấy rõ Thiên Chúa giáo đã hòa đồng với Vũ Trụ giáo của thổ dân.
Gần tới nơi là một vùng có đầy những đụn đất, núi đất do khai thác mỏ bạc đào xới lên.
Những con cừu đang gậm cỏ bên các đụn đất khai mỏ bạc (ảnh của tác giả).
Chỉ hơn một giờ sau chúng tôi đã tới chỗ biển hẹp Otaway Sound.

Băng quyên ở đây là loài Magellan. Hiển nhiên gọi là Magellan vì loại này sống tại eo biển Magellan này. Đây là loại Cận Nam Cực sống trên đất trong khi các loài khác sống trên băng tuyết như loài Adélie (xem dưới). Loài băng quyên Magellan này chọn vùng đất ở Punta Arenas này làm nơi đào hang ổ để sinh sản nuôi con vì ở đây có những cánh đồng cỏ đất cát ngay bên bờ biển, chúng có thể đào hang ổ đễ dàng vì như đã biết Punta Arenas còn gọi là Mũi Cát Sandy Point.
Cánh đồng cỏ đất cát ven biển được băng quyên Magellan chọn làm nơi sinh đẻ nuôi con.
Từ chỗ đậu xe ra bờ biển xa cả cây số. Du khách có vấn đề di chuyển phải trang bị kỹ. Cũng may là đường lát ván nên dễ đi. Thỉnh thoảng có những cây cầu trên cạn bắc qua lối đi của băng quyên.
Ở đây đồng không mông quạnh bên bờ biển gió lạnh đến tái tê người. May là chúng tôi đã trang bị kỹ càng.
Loài băng quyên Magellan này có đặc điểm là cái vòng đen quanh cổ và có đường viền cong đen ở phía trên ngực, có tiếng kêu như con lừa đực nên còn gọi là jackass.

Băng quyên Magellan có vòng đen ở cổ và đường viền cong đen ở phía trên ngực (ảnh của tác giả).
Loài Magellan này tương tự loài băng quyên châu Phi sống ở Mũi Hảo Vọng Good Hope Cape, mỏm tận cùng của châu Phi mà chúng tôi đã thấy trước đây trong chuyến thăm Nam Phi. Loài này cũng có viền đen trên ngực chỉ khác cổ trắng, dưới cổ không có vòng đen.
Bác sĩ Amy Á Mỹ Nguyễn, thứ nữ của tác giả chụp với băng quyên châu Phi ở Good Hope Cape, Nam Phi.
Sau đây là một vài thông tin thú vị về băng quyên Magellan ở Otaway Sound.
Một vài thông tin thú vị về băng quyên ở Otaway Sound. Con số tổng cộng ở đây là 10.844 con (2006-2007)
Nếu đi một mình thì phải nhớ đến đây vào lúc xế trưa. Băng quyên Magellan đi ra biển kiếm ăn vào sáng sớm và trở về vào lúc xế trưa. Một đợt khác đi từ lúc xế trưa và trở về vào lúc tối. Trung bình ở biển kiếm ăn lâu khoảng chín giờ.

Ra biển đi kiếm ăn (ảnh của tác giả).
Chúng ăn cá, tôm cua.
Vui đùa, nghỉ ngơi, ngồi lê đôi mách trên bờ biển sau khi ăn no ở biển trở về (ảnh của tác giả).

Một cặp nói với nhau “chúng ta trở về ổ ấm mớm con hơn là ngồi lê đôi mách” (ảnh của tác giả).
Chu kỳ sinh sản của băng quyên Magellan: con đực và cái, trở về bản quán, chay tịnh (nhịn ăn), giao tình (courting) và giao phối, đẻ trứng, ấp trứng, nuôi con. Con lớn lên, thay lông, trưởng thành, ra biển lần đầu. Rời quê quán ra biển sống. Tìm bạn đời rồi lại quay trở về bản quán… (ảnh của tác giả).
Con đực lo nhiệm vụ đào hang ổ.

Âu yếm (ảnh của tác giả).

Con con mới nở ở trong ổ chừng 6 tuần.

Chim con còn trong hang ổ chưa thay lông tơ (ảnh của tác giả).
Sau đó mới ra ngoài hang ổ vui sống cùng thế giới bên ngoài.
Chim con đã ra khỏi hang ổ, phơi nắng đang chào đón chúng tôi (ảnh của tác giả).
Rồi bắt đầu thay lông tơ.

Đang thay lông tơ, khi thay xong sẽ xuống biển lần đầu (ảnh của tác giả).
Khoảng 60 ngày khi thay lông xong, chim con rời ổ, bố mẹ dẫn ra biển khởi sự thám hiểm biển sâu lần đầu.
Gọi tình (ảnh của tác giả).
Xế trưa trên đường về, chúng tôi ngừng lại xuống thăm thành phố.
Tôi có một cái thói quen là đi tới đâu cũng tìm tới thăm bảo tàng viện và các cơ sở văn hóa địa phương để học hỏi và đi tìm dấu vết của người Cổ Bách Việt và chữ viết nòng nọc vòng tròn-que, một thứ chữ tối cổ của nhân loại mà trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn là một bộ từ điển bằng đồng…
Phải nói là rất may mắn, bà xã tôi cũng thích đến bảo tàng viện. Có khi chúng tôi ở nửa ngày trong bảo tàng viện, chụp cả ngàn tấm ảnh để làm tài liệu học hỏi.
Vì thế đầu tiên, chúng tôi ghé ngay đến Trung Tâm Văn Hóa Braun Menéndez. Đây vốn là một biệt thự nghỉ mùa hè do kiến trúc sư Pháp xây của vợ chồng đại chủ cung cấp dịch vụ hàng hải là Mauricio Braun và Josefina Menéndez đầu thế kỷ 20.
Nhưng quan trọng hơn là bảo tàng viện vùng của địa hạt Magellan (Museo Regional de Magallanes).

Bảo tàng viện trưng bầy những khác biệt về địa lý, chủng tộc trong vùng cũng như đời sống vương giả của các thương nhân thuộc địa lập nghiệp ở đây. Trọng điểm chú trọng về thổ dân, thú vật, chim muông trong vùng.
Bảo tàng viện cho biết một khái niệm tổng quát về Vùng Chân To Patagonia và Đất Lửa Tierra del Fuego. Cũng nên biết là tên Patagonia chỉ vùng phía nam Nam Mỹ châu là vùng đồng cỏ Pampas (pampas có một nghĩa là cỏ lau) của cả Chilevà Argentina. Patagonia có Pata- là patas, Pháp ngữ Patte là chân. Sở dĩ có tên là Vùng Chân To là vì khi những người Âu châu đến vùng này họ thấy những dấu chân rất lớn. Đây là dấu chân của người thổ dân Mapuche vốn có vóc dáng to lớn. Còn vùng quần đảo Đất Lửa Tierra del Fuego là do các nhà thám hiểm đầu tiên khi tới đây, từ trên thuyền họ đã thấy khói bốc lên và nhiều ánh lửa bập bùng. Những thổ dân vùng này lúc đầu không mặc quần áo nên họ đốt lửa suốt ngày đêm, đo đó mới được đặt tên là Vùng Đất Lửa.
Các vùng của thổ dân ở Patagonia và Tierra del Fuego (ảnh của tác giả chụp trong Bảo Tàng Viện).
Ngoài tộc Mapuche liên hệ với Bách Việt cổ như đã nói trong bài Rìu Việt ở Đa Đảo và Nam Mỹ, tôi đã tìm thấy nhiều dấu tích Bách Việt cổ ở vùng Patagonia này (xem dưới).
Xế trưa, đói bụng, chúng tôi đi ăn trước khi đi chơi phố.
Tiệm ăn Tây Ban Nha La Tasca có nhiều món ăn chuyên biệt địa phương. Dĩ nhiên phải có món thịt cừu Pantagonia là centolla và món thịt bò Patagonia nướng Asado. Hải sản ở Chile cũng nổi tiếng, ngoài món cua đế vương (king crab) Nam Cực, mực nấu với nước mực đen, gỏi cá hồi salmon ceviche, sò hến, cơm chảo paella còn có một món ít nơi nào có là lươn biển conger eel. Giá cả rất mát ruột là trọn bữa trưa với bánh mì, nước uống, một cốc rượu vang chỉ có 20 Mỹ kim.
Ngày nay Punta Arenas phản ánh một nền văn hóa hỗn hợp giữa những người Anh chủ các trang trại nuôi cừu và các thủy thủy Bồ Đào Nha. Thành phố có nhiều kiểu nhà thuộc địa.
Trọng tâm của thành phố là quảng trường chính Plaza de Munoz Gamero, nơi đây có tượng Magellan.


Tượng Magellan.
Gần Plaza có ngôi nhà thờ cổ,

Ngôi nhà thờ cổ nhất đang “lột da mặt” làm đẹp (ảnh của tác giả).
biệt thự của thống đốc, khách sạn cổ Cabo de Hornos, biệt thự của José Braun Menéndez và lâu đài của Sara Braun.

Lâu đài của Sara Braun.
Sara Braun vốn gốc người Nga đến vùng Nam Mỹ châu này vào năm 1874 và ba năm sau bà lấy một đại chủ người Bồ Đào Nha là José Nogueira. Ông này có tới một triệu mẫu Anh (hectares) dùng làm trang trại nuôi cừu. Ông cũng là nhà xuất cảng vàng. Quản lý của ông chính là Mauricio Braun, là cậu em vợ Sara Braun của ông. Chẳng may ông sống không bao lâu, Nogueira chết vào năm 48 tuổi vì bệnh lao.
Sara Braun thừa hưởng gia tài sản khổng lồ của chồng và hoàn tất lâu đài này đã được khởi công xây cất lúc chồng bà còn sống.
Cuối cùng dĩ nhiên chúng tôi hoan hỉ đi mua sắm.
Khu bán tặng vật tại Plaza chính của thành phố.
Hàng trăm gian hàng bán đồ tiểu công nghệ, len sợi, da alpaca, đá quí và dĩ nhiên không thể thiếu mọi thứ về băng quyên Magellan…
Còn thì giờ chúng tôi tìm đến một tiệm café internet. Ở đây rẻ không chỗ nào bằng, một giờ dùng internet chỉ có một Mỹ kim. Đừng quên nhâm nhi ly coctail quốc hồn quốc túy của Chile là Pisco sour pha bằng rượu brandy Pisco với chanh, đường và lòng trắng trứng đánh nổi bọt, cho thêm chút ớt xanh Chile.
Chúng tôi trở về tầu trên chuyến xe chót.
Theo lịch trình, ngày mai tầu đến bến tới là tỉnh cực nam Ushuaia của Argentina trên quần đảo Đất Lửa.
(còn nữa).
.