Bac Si Nguyen Xuan Quang’s Blog

August 20, 2010

SO SÁNH CHỮ NÒNG NỌC TRÊN GỐM CỔ PERU VỚI CNN TRÊN TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG SƠN.

Filed under: CNN Trên Gốm Cổ Peru — Quang Nguyen @ 5:31 am

ĐỐI CHIẾU MỘT VÀI CHỮ NÒNG NỌC

TRÊN GỐM CỔ PERU VỚI TRÊN TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG SƠN.

Nguyễn Xuân Quang

Như đã biết qua những bài viết trước, tôi đặt tên cho đồ gốm Peru Tiền-Columbus là gốm hình-tượng ký (Picto-iconographic Ceramics) với nghĩa là các nền văn hóa này đã dùng đồ gốm thay cho chữ viết (ký tự) ghi lại các hình ảnh muôn mặt của đời sống từ tâm linh cho tới đời sống phàm tục của họ. Họ không có chữ viết (ký tự) đã dùng đồ gốm vẽ, khắc, chạm, nặn các hình tượng thay cho chữ viết. Đây là một tộc duy nhất đã dùng đồ gốm như một chữ viết, như một thứ hình ngữ, hình tự tức một thứ gốm hình ký. Ở một phương diện nào đó gốm Peru Tiền Columbus là một thứ sử gốm. Ta cũng đã thấy họ theo Vũ Trụ giáo, Mặt Trời  giáo như người Đông Sơn. Vũ Trụ giáo của họ còn ghi khắc lại trên gốm cổ Peru. Hiển nhiên là họ phải ghi lại trên gốm những dấu, hình, chữ diễn tả Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo dựa trên nguyên lý lưỡng hợp hanan và hurin thấy trong văn hóa của họ, chúng liên hệ với chữ viết nòng nọc vòng tròn-que là chuyện tất nhiên.

Trên bước đường đi chu du khắp nơi để săn tìm chữ viết nòng nọc vòng tròn-que tôi đã khám phá ra kho tàng chữ viết nòng nọc vòng tròn-que có thể thấy và sờ thấy được trên các hiện vật gốm cổ Peru (có tới từ 80.000 tới 100.000 mẫu gốm) giống như trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn .

Các mẫu gốm cổ Peru nhất là gốm Moche là những hiện vật sờ và thấy được kèm theo có  những ý nghĩa xác thực, rõ ràng của gốm giúp ta giải đọc được chữ viết nòng nọc vòng tròn-que còn “viết” trên gốm đó một cách chính xác. So sánh chữ viết nòng nọc vòng tròn-que trên gốm cổ Peru  với chữ viết nòng nọc vòng tròn-que trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn  sẽ giúp tôi thuyết phục các nhà nghiên cứu trống đồng nòng nọc, âm dương nói riêng và các nền văn hóa cổ thế giới nói chung hãy còn nghi ngờ hay do dự về những gì tôi đã khám phá ra về chữ viết nòng nọc vòng tròn-que trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn từ lâu nay. Nếu có những thắc mắc, xin đọc thêm những bài viết về chữ viết nòng nọc vòng tròn-que trong Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á và trong blog của tôi, ở đây tôi chỉ chú tâm vào sự so sánh bằng hình ảnh, coi như độc giả đã nắm vững ý nghĩa về chữ viết nòng nọc vòng tròn-que.

. Hai mẫu tự căn bản trong chữ viết nòng nọc vòng tròn-que.

Đó là chữ nòng vòng tròn O và chữ nọc que (I) hai chữ này bắt nguồn nguyên thủy từ hình dạng bộ phận nữ nam. Hai chữ này đẻ ra hai từ âm dương yin yang của Trung Hoa. Hai từ yin yang này xuất hiện rất muộn về sau vì nghĩa liên hệ với mặt trời. Từ hai chữ cái này đẻ ra các chữ con cháu khác.

A-Chữ nòng vòng tròn O

Chữ nòng vòng tròn O thấy rất rõ trên gốm cổ Peru qua bộ phận sinh dục nữ:

Chữ gốm nòng vòng tròn O.

Bộ phận sinh dục nữ được diễn tả bằng vòng tròn là chữ nòng O, một trong hai chữ cái căn bản của chữ viết nòng nọc vòng tròn-que.

Như đã biết qua bài Hai Chữ Nòng Nọc Còn Thấy Trườc Mắt Hàng Ngày Hiện Nay, chữ nòng vòng tròn O còn thấy trong các bảng hiệu vệ sinh phái nữ ở Hoa Kỳ và nhiều nơi khác.

Khi vòng tròn sinh dục nữ trở thành chữ nòng O trong chữ viết nòng nọc vòng tròn-que thì chữ cái nòng O mang trọn ý nghĩa vũ trụ tạo sinh từ hư vô cho tới tái sinh.

Vì phạm vi bài viết xin chỉ giới hạn ở Cõi Trên Thượng Thế.

Thoạt đầu là Hư Vô, Vô Cực chính thống trung tính được diễn tả bằng vòng tròn đứt đoạn. Về sau hư vô định hình, tùy ngành, tùy thời Hư Vô có thể là Hư Vô chuyển qua âm trước hay dương trước. Kế tiếp mầm dương xuất hiện, ta có Trứng Vũ Trụ (hay Thái Cực). Tùy theo độ to ngang, độ dầy, độ cường điệu, độ tối hay sáng của vòng tròn vỏ bọc hư không, vỏ Trứng Vũ Trụ, ta biết được hư vô, hư không, không gian, vỏ Trứng Vũ Trụ mang âm dương tính nhiều ít, nghiêng về ngành nòng nước hay nọc lửa.

Vỏ Hư Vô, Không Gian hay vỏ Trứng Vũ Trụ có âm dương tính khác nhau.

Vòng tròn mỏng, mảnh khảnh, sáng, nóng bỏng diễn tả thái dương, lửa (3); vòng tròn mỏng vừa phải, nóng diễn tả thiếu dương, đất dương; vòng tròn khá dầy, ấm diễn tả thiếu âm, gió; vòng tròn rất dầy, đen đặc, lạnh (2) diễn tả thái âm, nước; vòng tròn không dầy không mỏng là vòng tròn nòng nọc, âm dương đề huề (1) (xem chương Ý Nghĩa Dấu, Hình, Biểu Tượng Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á).

Hãy lấy một vài thí dụ trêm gốm.

.Trên mẫu gốm hình con báo Puma. Chữ viết nòng nọc vòng tròn thấy ở bên má báo Puma. Con báo thuộc họ nhà mèo không có sừng biểu tượng cho âm, nữ, ngành nòng, không gian. Ở đây là con báo của ngành dương (âm nam) nên là dương của âm, thiếu âm, nguyên thể của khí gió vì thế

chữ viết nòng O hơi dầy một chút thôi.

Gốm báo Puma của Peru cổ .

.Con mắt của thú biểu mặt trăng thấy trên các mẫu gốm là vòng tròn dầy, đen đậm mang âm tính thái âm, diễn tả hình mặt trăng. Trăng có một khuôn mặt là nước như thấy qua từ đôi trăng nước (trăng liên hệ với thủy triều).

Bình Recuay (Enrico Poli collection) có hình Thú Mặt Trăng (Lunar Animal).

Hãy so sánh với một vài ví dụ lấy trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn:

.Chữ nòng O vỏ không gian, vỏ Trứng Vũ Trụ thiếu âm khí gió.

Trống đồng nòng nọc, âm dương Ngọc Lũ I là trống khí gió thế gian có mặt trời 14 nọc tia sáng (14 = 6 + 8,  số 6 là số Tốn tầng 1 và 14 là tầng 2, Tốn gió tương đồng với khí gió dương Đoài vũ trụ) có vỏ không gian, vỏ Trứng Vũ Trụ là vòng tròn nòng O bao quanh nọc tia sáng có độ dầy vừa phải .


Mặt trời và vòng tròn nòng O vỏ không gian trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I.

.Chữ nòng O vỏ không gian, vỏ Trứng Vũ Trụ thái âm, nước.

Thấy trên trống Làng Vặc.

Trống Làng Vặc

Trống Làng Vặc có vòng tròn bao quanh đầu tia sáng tức vỏ không gian, vỏ Trứng Vũ Trụ rất dầy và đậm nét mang tính thái âm, nước cho biết không gian và mặt trời thái âm nước. Kiểm chứng lại ta thấy rất rõ khoảng không gian giữa các nọc tia sáng là hai giọt nước thể điệu hóa mang tính thái âm; hai vành hai vòng tròn đồng tâm (hai nòng, hai âm, thái âm) có chấm (chấm nọc dương) là thái âm dương, nước dương, nước chuyển động (mưa) tức Chấn. Trống có Mặt Trời Cấn-Chấn 12 nọc tia sáng (12 = 4+8, số 4 là số Cấn, núi hôn phối với Chấn, có một khuôn mặt là nước dương, sấm như Mẹ Tổ Âu Cơ núi hôn phối với Lạc Long Quân sấm, mưa, biển) có 8 hình búa thiên lôi (hiện nay gọi lầm là “hình trâm”), 4 tượng cóc… Rõ ràng đích thực đây là trống thái âm, trống mưa, trống sấm, trống Chấn sấm mưa.

.Chữ nòng O vỏ không gian, vỏ Trứng Vũ Trụ dương, lửa.

Thấy trên Trống Làng Vạc II. Vỏ không gian, vỏ Trứng Vũ Trụ ở trống này rất mỏng, mảnh khảnh, rất sáng cho biết không gian mặt trời Lửa (lửa vũ trụ Càn hay Đất thế gian Li).

Trống Làng Vạc II.

Ta thấy rất rõ trống này là trống Lửa Đất thế gian Li vì có mặt trời 10 nọc tia sáng (số 10= 2+8, số 2 là Khảm tầng 1, số 10 là tầng 2 thế gian) là Khảm thế gian hôn phối với Li; có khoảng không gian gồm 5 nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) /\ mang dương tính chồng lên nhau. Số 5 là số Li; có các vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) hay hình tam giác, hình tháp delta trong có phụ đề 3 dấu chầm nọc xếp theo hình tam giác, delta, hình núi tháp cho biết khuôn mặt lửa Đất dương núi tháp Li mang tính chủ (Anh ngữ pyramid kim tự tháp có gốc pyro- là lửa, Li) và các vành giới hạn đều có dấu chấm nọc mang dương tính lửa. Tất cả các chữ viết nòng nọc vòng tròn-que trên trống này đều thuộc về chữ nọc.

- Chữ Nòng Vòng Tròn O Tí Hon

Trong chữ viết nòng nọc vòng tròn-que, hai chữ nòng O và nọc que còn thấy ở dạng nguyên tạo, nguyên sinh, tạo hóa dùng như hai cái dấu (marks, markers, accent) dưới dạng dấu chấm rỗng tức vòng tròn rỗng tí hon và dấu chấm đặc tức vòng tròn đặc tí hon vì khởi đầu của muôn sinh đều ở dạng các vi thề li ti như nguyên tử.

Nòng vòng tròn rỗng tí hon (chấm rỗng) mang nghĩa nguyên tạo, sinh tạo, tạo sinh, tạo hóa, nguyên sinh của ngành nòng. Dạng này cũng thường dùng làm dấu (mark, marker) chỉ nòng âm tổng quát hay sinh tạo). Nhiều khi vòng tròn rỗng tí hon và vòng tròn thông thường dùng lẫn lộn mang cùng một nghĩa sinh tạo hay không sinh tạo (tùy theo trình độ hiểu biết về chữ viết nòng nọc vòng tròn-que của nghệ sĩ).

Ví dụ mắt con rắn hai đầu hình sóng nước trên một bình gồm cổ Peru có con ngươi được diễn tả bằng một vòng tròn rỗng nhỏ thay vì thường được diễn tả bằng một chấm đặc cho biết con rắn hai đầu thuộc dòng nòng, âm, nước (hai đầu là hai rắn là hai âm, thái âm, nước).

Bình gốm rắn hai đầu.

So sánh với vòng tròn rỗng tí hon trên trống Cổ Loa I.

Một mảnh mặt trống Cổ Loa I.

Chữ hai vòng tròn đồng tâm là hai nòng, thái âm có thêm dấu vòng tròn tí hon cho biết rõ  là thái âm nước. Hình tượng cóc xác thực trống này là trống mưa, sấm. Lưu ý là Cổ Loa là kinh đô cũ của An Dương Vương thuộc ngành mặt trời Nước Lạc Long Quân. Điểm này cho thấy trống đồng nòng nọc, âm dương đào thấy ở vùng nào cũng có thể là một chứng tích sử của vùng đó. Trống đồng nòng nọc, âm dương là trống bản địa của đại tộc Đông Sơn không phải của văn hóa Trung Hoa.

. Hai Nòng Vòng Tròn Thường Riêng Rẽ Hay Đồng Tâm.

Chữ hai vòng tròn riêng rẽ hay đồng tâm là hai nòng, hai âm, thái âm.

Hình hai vòng tròn đồng tâm thấy trên người con báo Puma ở mẫu gốm ở trên cho thấy thêm khuôn mặt thái âm, nước (ứng với Thần) đi cùng với vòng tròn thiếu âm gió trên má con báo (ứng với Nông) cho thấy con báo có một khuôn mặt thuộc ngành nòng Thần Nông (Thần là Nước, Nông là Gió). Con báo thuộc họ nhà mèo không có sừng biểu tượng cho âm, ngành nòng, không gian.

Hai vòng tròn đồng tâm cũng thấy trên người con trăn nước anaconda trên một mẫu gốm.

Bình trăn nước anaconda (metmuseum.org)

Trăn mang tính thần kỳ có bờm có râu, trên người có chữ hai vòng tròn đồng tâm mang ý nghĩa nước, thái âm. Đây là con trăn nước anaconda thần có một khuôn mặt biểu tượng cho ngành âm nước-gió ứng với ngành Thần Nông.

Rắn lông chim Quetzal của Mễ và Kukucan của Maya có một khuôn mặt biểu tượng cho ngành nòng âm nên con mắt cũng là mắt âm có hai vòng tròn đồng tâm.

Các vị âm thần ở âm thế của Peru cổ cũng có con mắt âm hai vòng tròn.

Âm thần có con mắt âm hai vòng tròn đồng tâm, Larco Musem (ảnh của tác giả).

So sánh với con chim nông trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I. Chim có con mắt âm là hai vòng tròn đồng tâm cho biết rõ đây là loài chim nông nước không phải là chim cắt như Goloubev đã viết (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á).

Chim có túi nang dưới mỏ và có con mắt âm hai vòng tròn đồng tâm là chim nông nước trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I.

Ta cũng đã thấy trống mưa sấm Cổ Loa I có hai vòng tròn đồng tâm với dấu nòng vòn tròn tí hon.

Ta thấy rõ hai vòng tròn có khi dính lại thành một hình vòng tròn dầy, đậm, đen cũng mang âm tính như hai vòng tròn.

B-chữ nọc que (I)

Chữ gốm nọc que.

Bình gốm có bộ phận sinh dục nam ở vị trí thẳng đứng diễn tả chữ viết nọc que.

Trống đồng Đông Sơn IV có chim biểu là Cò Lửa có mỏ dài, to, khỏe, trông cương cường giống bộ phận sinh dục nam đang cương cứng. Trong mỏ có viết chữ nọc que mang nghĩa cọc, dương.

Lưu ý cò Lửa này không có bờm.

-Chữ Nọc Chấm O Tí Hon

Chữ nọc vòng tròn đặc tí hon (chấm đặc, chấm nọc) mang nghĩa nguyên tạo, sinh tạo, tạo sinh, tạo hóa, nguyên sinh của ngành nọc. Dạng này cũng thường dùng làm dấu chỉ nọc dương tổng quát hay sinh tạo.

Ví dụ

.Trên gốm cổ Peru: hoa tai chấm-vòng tròn của bình gốm chiến sĩ Lang Hùng.

Gốm thời Virú diễn tả một chiến sĩ tay cầm khiên, Bảo Tàng Viện Larco.

Chấm nổi, đặc, nọc chấm trong hoa tai ở đây là một chữ. Đây là chữ chấm-vòng tròn nòng nọc, âm dương dưới dạng nhất thể Thái Cực/ Lưỡng Nghi (xem dưới). Lưỡng nghi liên tác sinh ra tứ tượng diễn tả bằng bốn lỗ nhỏ trong hoa tai. Tứ tượng cũng thấy qua chuỗi vòng đeo cổ mang hình ảnh một vòng chấm nọc mang dương tính lửa sinh tạo tức Lửa Vũ Trụ, trong khi hình sóng nước là Nước dương, vòng tròn quai cầm là nòng thiếu âm gió có phụ đề thêm bằng các sọc răng lược không gian gió và vòi ấm là bộ phận sinh dục nam  biểu tượng cho Đất Trụ Chống Trời, nghĩa là ta có  tứ tượng (Hình Bóng Lang Hùng Trong Gốm Cổ Peru).

So sánh ta thấy cùng nghĩa với các chấm nọc trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn  như các chấm nọc trong vành biên giới thấy trên trống Làng Vạc II ở trên, cũng như thấy trên người các loài thú, chim ngành mặt trời thái dương.

Hình nai cái có chấm nọc lửa, thái dương, mặt trời.

Hình nai cái trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I  có chấm trên người cho biết là nai thuộc ngành lửa, thái dương mặt trời, ứng với Mẹ Tổ Âu Cơ, người Mường có vật tổ là con nai cái. Lưu ý nai cái ở đây có sừng (thường nai cái không có sừng ngoại trừ loài tuần lọc reindeer) giống như các hình hươu cái biểu tượng cho bà Ngu Cơ của Mường cũng có sừng. Nai cái có sừng phải hiểu theo nghĩa biểu tượng theo truyền thuyết. Điểm này cho thấy rõ những chấm nọc phải hiểu theo dấu của chữ viết nòng nọc vòng tròn-que.

Trên các trống, các vật hình trống ở trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn đều có dấu chấm nọc dương, đực, trống.

Một ngôi nhà nọc và một dàn trống trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I.

Một vật hình trống để ở dưới góc trái  ngôi nhà nọc  (mặt trời, lang, đình) là một chiếc trống. Những chấm nọc xác thực vật này là một chiếc trống. Sự hiện diện của trống trong ngôi nhà và dàn trống ở bên nhà xác thực nhà là nhà nọc, mặt trời mà ngày nay còn thấy ở các ngôi nhà con trai (bachelor’s house), phái nam (men’s house) ở Nam Dương, thường được gọi là nhà trống tamburan haus (Đức ngữ). Trống có một nghĩa là đực, phái nam. Hiển nhiên các “vật” trong dàn trống có những dấu chấm nọc trống (đực) là những trống.

Chữ Hai Nọc Que Riêng Rẽ hay Ghép Lại.

Hai nọc que ghép lại thành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói), chữ V, chữ X…

Trên mẫu gốm “hai người quí tộc” làm tình có bốn người chầu rìa mà tôi đã chứng minh có thể là một cảnh diển tả triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh gồm có hai vị thần nòng nọc, âm dương giao hợp sinh ra bốn vị thần con là Tứ Trụ (ứng với bốn cột) ở Tứ Phương ứng với  Bốn Nguyên sinh Động Lực Chính, với Tứ Tượng.

Bình gốm “hai người quí tộc” làm tình có bốn người hầu chầu rìa.

Trên bốn cột có vòng chữ nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) diễn tả nọc thái dương Lửa. Nọc nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) chỉ thiên hình núi tháp, núi lửa đất, nọc chỉ địa ở đây mầu đỏ chỉ ánh sáng từ cõi trên chiếu xuống, lửa vũ trụ.

Trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn những vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) ở biên trống cho biết trống đó là trống mặt trời thái dương ngành nọc lửa như thấy ở trống Lửa vũ trụ Càn Đông Sơn IV có những con cò lửa ở trên. Những nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói)  cũng dùng làm dấu chỉ nọc, thái dương, lửa, đực, mặt trời… ví dụ như ở mỏ con chim nông ở trên.

Hai nọc chữ V ghép lại thành hình sóng động. Chữ V có nghĩa ngược với nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) /\ , có một nghĩa là vực thẳm, âm thái dương, nước âm thái dương. Ở bình gốm có rắn hai đầu biểu tượng cho âm nước ở trên có vành chữ V mang nghĩa nước dương, chuyển động.

So sánh với các vành chữ V trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn như các vành chữ V ở đế trống mang nghĩa âm, thái âm, cõi âm ngành dương (Chữ Nòng Nọc Trên Trống Đồng).

Vành chữ V ở một chân trống Nam Trung Hoa.

Theo chính thống đế hay chân trống là Hạ Thế, Cõi Nước, Cõi Âm thường không có trang trí. Ở các trống muộn, không chính thống như trống Nam Trung Hoa này mới có trang trí mang nghĩa nước, cõi âm.

C. Chữ Viết Vòng Tròn-Chấm

Chữ vòng tròn-chấm (theo duy âm đọc vòng tròn trước) hay chấm-vòng tròn (theo duy dương nọc chấm đọc trước) là chữ Nòng vòng tròn và Nọc chấm đặc ghép lại. Đây là một từ ‘nòng nọc’ quan trọng vào bậc nhất dưới dạng nguyên tạo, tạo hóa. Hiển nhiên từ này mang trọn tất cả nghĩa nòng nọc. Vì thế ta phải xét nghĩa theo duy âm và duy dương. Phải nhìn dưới lăng kính Vũ Trụ Tạo Sinh toàn diện của cả hai phía nòng nọc, âm dương, tức theo duy âm và duy dương. Tôi đã viết khá chi tiết trong Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á và sẽ có một bài viết riêng về chữ này với nhiều hình ảnh tôi mới thâu thập được ở khắp nơi trên thế giới sau khi đã xuất bản quyển sách trên, ở đây chỉ nhắc lại vài ý nghĩa chính thường thấy:

-Dưới diện nòng nọc, âm dương đề huề: chấm vòng tròn (hay vòng tròn có chầm) mang nghĩa âm dương nhất thể, mặt trời-không gian, vũ trụ, tạo hóa, sinh tạo…

-Dưới diện lưỡng nghi, theo thuần dương là chấm-vòng tròn, mang nghĩa nọc mặt trời mang tính nòng không gian, mang tính sinh tạo, tạo hóa và theo thuần âm là không gian mang tính nọc, không gian dương tức khí gió…

vân vân…

Chấm nọc và vòng tròn nòng được diễn tả bằng hình ảnh gợi tình nhất qua tục ném cầu trong đám cưới của người Mường. Chú rể cầm một quả cầu tròn biểu tượng cho bộ giống  nam ném xuyên qua một cái vòng tròn bịt giấy biểu tượng cho bộ giống phái nữ còn  màng trinh nguyên vẹn.

Bình gốm Người Chiến Sĩ ở trên có hoa tai là chữ viết nòng nọc chấm-vòng tròn.

Rõ hơn trên đùi cũng có hình mặt trời chữ viết nòng nọc chấm-vòng tròn. Mặt trời chấm vòng tròn là mặt trời sinh tạo, tạo hóa, nhất thể (hay lưỡng thể nếu nhìn dưới diện lưỡng nghi, đã phân cực). Chấm là  chữ viết nọc chấm nguyên tạo mang nghĩa mầm dương, mặt trời nguyên tạo và vòng tròn mang nghĩa không gian nguyên tạo. Theo duy dương, đây chính là bọc trứng không gian nguyên tạo sinh ra trăm lang Hùng mang nghĩa «mầm non » mặt trời, mặt trời nguyên tạo, chính là thần mặt trời tạo hóa (sun as creator) của Ai Cập cổ viết theo linh tự là hình vòng tròn có chấm như ở đây. Mặt trời ở đùi có tia sáng cong mang âm tính và có chấm nọc nguyên tạo mang dương tính là tia sáng nòng nọc, âm dương, nhất thể. Tia sáng hình chuyển vận chong chóng mang nghĩa vận hành, sinh tạo năng động. Lưu ý là ánh sáng xoay theo chiều ngược với kim đồng hồ tức theo chiều dương, theo chiều mặt trời. Mặt trời ở đùi là mặt trời tạo hóa sinh động.

So sánh với hình chấm-vòng tròn với nghĩa tạo hóa trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn, ta thấy trên trống Quảng Xương, trên đầu, hay ở phía thái dương (màng tang) những người nhẩy múa đều có chữ chấm vòng tròn.


Trống Quảng xương (Nguyễn Văn Huyên).

Lưu ý có những chữ chấm-vòng tròn có tia sáng. Rõ nhất là hình ở hai bên mái nhà. Vậy đây là Người Mặt Trời tức Kẻ Đỏ Xích Quỉ. Trống có mặt trời 8 nọc tia sáng (số 8 là số Khôn tầng 2 thế gian, 8= 8+0). Vậy mặt trời 8 nọc tia sáng là mặt trời lửa-không gian nước, vũ trụ, nói theo Dịch là Càn Khôn (xin hiểu Càn Khôn theo Việt Dịch là Mặt Trời-Không Gian chứ không phải là Trời-Đất như Dịch Trung Hoa), của cõi Người Mặt Trời thế gian. Khoảng không gian giữa các tia sáng mặt trời có các sọc cũng cho biết không gian ở đây mang tính nòng, âm, Khôn. Haai vành răng lược ở biên trống mang nghĩa không gian thái dương. Trống này có một khuôn mặt tà trống mặt trời-không gian, vũ trụ, càn khôn mang đúng ý nghĩa của chữ chấm-vòng tròn và được viết bằng chữ chấm vòng tròn. Như thế Người Mặt Trời này mang một khuôn mặt của sinh tạo, tạo hóa, vũ trụ. Đây chính là hình bóng các Lang Hùng (các người này trông rất trai tráng vạm vỡ) sinh ra từ bọc trứng toàn con trai, chính là Tổ Hùng mang một khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa, tổ tiên của Người Việt  Mặt Trời thái dương…

Lưu ý  những người trai tráng này ở trần truồng mang nghĩa Cõi Trên, Cõi Trời (người thế gian mới có quần áo) chỉ có trang phục đầu hình phườn gió cho biết rõ đây chính là các Lang Hùng có một khuôn mặt không gian gió ở đất Gió Phong châu. Một điểm nữa là trống này chỉ có một loại nhà nọc mặt trời (mặt trời vẽ rõ ở phía mặt tiền nhà), không có nhà nòng mái vòm ăn khớp với truyền thuyết 100% là bọc trứng chỉ nở ra 100 Lang Hùng (không có các mẹ nàng nên không có nhà nàng mái vòm không gian).

Đây chính là những người Lang Hùng,  hình bóng của Tổ Hùng tổ tiên người Việt.

. . . . .

Và còn nhiều nữa.

Kết Luận

Dĩ nhiên trong kho tàng gốm cổ Peru có tới cả trăm ngàn mẫu gốm ta còn có thể tìm thấy nhiều dấu tích chữ viết nòng nọc vòng tròn-que. Ta có thể dùng gốm cổ Peru để soi sáng, xác thực những hình, chữ viết nòng nọc vòng tròn-que trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn mà chúng ta chưa giải đọc được hay chưa chắc chắn còn nghi ngờ và ngược lại dùng chữ viết nòng nọc vòng tròn-que trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn để giải đọc các mẫu gốm cổ Peru.

Qua vài mẫu so sánh ở đây cho thấy những điều khám phá của tôi về chữ viết nòng nọc vòng tròn-que một lần nữa được kiểm chứng lại bằng các hiện vật cổ và văn hóa của Peru cổ cũng có cốt lõi là Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, Mặt Trời giáo dựa trên nguyên lý lưỡng hợp nòng nọc, âm dương hurin và hanan.

February 12, 2010

HAI CHỮ NÒNG NỌC NGÀY NAY CÒN THẤY TRƯỚC MẮT HÀNG NGÀY

Filed under: Hai Chữ NN Thấy Trước Mắt — Quang Nguyen @ 6:32 am

HAI CHỮ NÒNG NỌC NGÀY NAY

CÒN THẤY TRƯỚC MẮT HÀNG

NGÀY.

Nguyễn Xuân Quang

Hai chữ viết nòng nọc ngày nay chúng ta còn thấy trước mắt hàng ngày là chữ nòng vòng tròn O và nọc tam giác Δ .

Trước hết xin mời đọc giả hãy vào “phòng nghỉ ngơi” (rest room) làm vệ sinh cho thoải mái rồi hãy đọc bài viết này. Nhưng hãy coi chừng, phải nhìn kỹ bảng hiệu kẻo không lại đi nhầm phòng mà mang họa. Phòng vệ sinh ở Hoa Kỳ hay một vài nơi trên thế giới thường có bảng hiệu chỉ rõ:

-Phòng vệ sinh nữ có bảng hiệu là vòng tròn đặc thường thấy nhất là trong có phụ đề thêm một hình người nữ mặc váy:

Cẩn thận hơn để tránh lầm lẫn và dùng cho người biết chữ Anh thì có phụ đề thêm chữ women ở dưới.

-Phòng vệ sinh nam có bảng hiệu là hình tam giác thuận đặc thường thấy nhất là trong có phụ đề một hình người nam, có hay không có phụ đề thêm chữ MEN:

-Phòng vệ sinh dành cho cả hai phái có bảng hiệu là hình tam giác nằm trong vòng tròn:

.thường thấy có phụ đề thêm hình người nữ/nam và chữ Women/Men:

.nhưng có trường hợp chỉ là hình tam giác nằm trong vòng tròn:

Phòng vệ sinh công cộng dành cho cả hai phái nam nữ tại một đường phố ở Hoa Kỳ có bảng hiệu hình tam giác thuận nằm trong vòng tròn. Đây là một nhà “vệ sinh siêu hiện đại”. Bồn cầu tự động rửa sạch, tẩy thuốc sát trùng, sấy khô, xịt hương thơm, rồi tự động gấp lại dấu kín vào trong tường.

Lưu ý khung trắng ở phía trên bảng hiệu tam giác/vòng tròn (nam/nữ) cho biết bên trong còn trống không, chưa có người, khi có người sẽ hiện lên chữ “occupied” (bận, có người).

Trong trường hợp chỉ có hình tam giác nằm trên/trong vòng tròn, không có phụ đề hình hay chữ này nhiều người không hiểu ý nghĩa của bảng hiệu, thấy người khác phái dùng chung rất ngại hay sợ hãi không dám dùng (sau khi đọc bài này sẽ không còn sợ nữa).

Qua các bảng hiệu này ta thấy vòng tròn biểu tượng cho phái nữ và hình tam giác thuận đỉnh chỉ thiên biểu tượng cho phái nam. Đây chính là hai chữ viết nòng nọc từ ngàn xưa còn lưu lại ngày nay: chữ vòng tròn nòng đặc và chữ nọc tam giác thuận đặc có hình nọc mũi mác (răng cưa, răng sói).

-Chữ nòng vòng tròn đặc

Chữ nòng vòng tròn đặc ở đây phát gốc từ chữ Nòng O, một trong hai mẫu tự căn bản của chữ nòng nọc mang trọn ý nghĩa của Vũ Trụ Tạo Sinh của ngành nòng, âm. Vòng tròn biểu tượng chung cho nòng, âm như biểu tượng cho hư không, không gian âm, mặt trời nữ, mặt trăng nữ… Áp dụng riêng cho phái nữ, vòng tròn biểu tượng cho âm, cái, phái nữ, bộ phận sinh dục nữ, Việt ngữ O là cô, mụ (xem Chữ Viết Nòng Nọc).

Tùy theo tính chất năng động trong sinh tạo và ở các tầng sinh tạo khác nhau, bộ phận sinh dục nữ có thể được diễn tả theo nhiều dạng phát gốc từ chữ nòng vòng tròn:

.Chữ nòng một vòng tròn có một khuôn mặt biểu tượng cho lỗ sinh dục nữ thấy qua hình linga-yoni của Ấn giáo có hình trụ nọc linga cắm trên một cái bệ tròn yoni như thấy trưng bầy ở Viện Cổ Chàm Đà Nẵng (xin nhắc lại là yoni nguyên thủy có hình lỗ tròn về sau dương hóa thành yoni có hình vuông) (xem chương Chữ Nòng Nọc Trong Giải Độc Trống Đồng Nòng Nọc Âm Dương Đông Nam Á).

.Chữ nòng hai vòng tròn đồng tâm cũng biểu tượng cho bộ phận sinh dục nữ như thấy qua hình cái cối đá của người Dogong, Somali, châu Phi. Cối biểu tượng cho bộ phận sinh dục nữ diễn tả bằng hai hình vòng tròn đồng tâm.


 

Ngôi làng Dogong, Mali, Africa (Duly, Colin hình 3, tr.40).

Phía trái, âm có tảng đá dùng “nghiền dầu” biểu tượng bộ phận sinh dục nữ [Stone for oil crushing, (female genitalia)] có hình hai vòng tròn đồng tâm. Tảng đá “ép dầu” thật ra là một cái cối. Cối biểu tượng cho bộ phận sinh dục nữ này đối ứng với chiếc bàn thờ của làng hình dương vật [Village altar (male sex organ)] có thể coi như hình chiếc chầy biểu tượng bộ phận sinh dục nam ở phía tay phải, dương. Ngôi làng hình trứng này chuyên chở Vũ Trụ luận.

.Chữ nòng ba vòng tròn đồng tâm cũng biểu tượng cho bộ phận sinh dục nữ như thấy qua hình Thần Nữ Thiên Nhiên Lajjagauri của Ấn Độ có bộ phận sinh dục hình cái hoa có ba vòng tròn đồng tâm.


(Devidutt Pattanaik, Myth = Mithya, Penguin Books India, 2006).

.Vòng tròn đặc dĩ nhiên cũng biểu tượng lỗ sinh dục nữ. Điều này thấy rất rõ qua hình vòng tròn đặc trong có phụ đề bằng dấu Vệ Nữ Venus biểu tượng cho nữ:


.Vòng tròn là thiết diện của hình cầu tròn vì thế quả cầu tròn cũng có thể biểu tượng cho túi sinh dục nữ. Ví dụ hình thần Shiva lưỡng tính phái (ái nam ái nữ), tay phải cầm bộ phận sinh dục nam linga, tay trái cầm quả cầu tròn yoni biểu tượng cho “bầu” tròn sinh dục phái nữ (túi, bao âm đạo, dạ con).


Hình thần Shiva lưỡng tính phái tay phải cầm linga, tay trái cầm túi cầu tròn yoni (ảnh tác giả chụp tại một Viện Bảo Tàng ở Sydney, Úc).

Trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn những cái gọi là “hoa văn” vòng tròn đơn (hay có chấm, có tiếp tuyến), vòng tròn kép đồng tâm, ba vòng tròn đồng tâm là những chữ nòng của chữ viết nòng nọc (xem Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á).

Do đó ở các bảng hiệu phòng vệ sinh, vòng tròn đặc dùng làm biểu tượng cho lỗ bộ phận sinh dục nữ chỉ phái nữ là chuyện tất nhiên.

-Chữ nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) đặc hay hình tam giác thuận.

Hình nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) đặc hay hình tam giác thuận ở đây phát gốc từ chữ Nọc que I. Hai nọc que kết hợp lại thành nọc mũi mác và ba nọc que kết hợp lại thành hình tam giác thuận. Nọc mũi mác, nọc tam giác có cùng một nghĩa như nọc que chỉ khác về tính chất năng động trong sinh tạo vì ở các tầng sinh tạo khác nhau.

Nọc que là một trong hai mẫu tự căn bản của chữ nòng nọc mang trọn ý nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh của ngành nọc dương. Ở tầng thứ nhất lưỡng nghi, phía cực dương, nọc có hình que, ở tầng thứ nhì nọc có hình mũi mác (răng cưa, răng sói) và ở tầng thứ ba Tứ Tượng nọc có hình tam giác thuận biểu tượng cho dương, đực, phái nam, bộ phận sinh dục nam, mặt trời nọc, tia sáng nọc thái dương hay siêu thái dương, Càn, không gian siêu dương, lửa vũ trụ, chữ A, Λ

(do ba hay hai nọc ghép lại) và tên các tổ phụ khởi đầu bằng chữ A mang dương tính thuộc ngành nọc, dương, mặt trời… (xem Chữ Viết Nòng Nọc).

Ở đây chữ viết nọc mũi mác (răng cưa, răng sói) đặc hay hình tam giác thuận có một khuôn mặt biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam nên dùng làm bảng hiệu chỉ phái nam.

Trong The Da Vinci Code, Dan Brown gọi nọc mũi mác (răng cưa, răng sói) là blade (lưỡi sắc nhọn) và cho có nghĩa là hình bộ phận sinh dục nam nguyên sơ (rudimentary phallus).

Xin đưa ra một hai ví dụ tiêu biểu là hình tam giác biểu tượng cho dương, nam, lửa, mặt trời, thái dương, siêu thái dương, Càn.

.Trong phong thủy Trung Hoa, hình tam giác biểu tượng cho Lửa, vòng tròn biểu tượng cho hành kim loại (hàm ý khí, khí gió, không khí, không gian), hình sóng nước biểu tượng cho hành Nước.

(Lillian Too, Smart Feng Shui, Barnes & Noble Books, NY 2001).

Tiện đây cũng xin nhắc lại là ở đây cho thấy theo phong thủy, Dịch Trung Hoa “Circles link to the Metal Element” (vòng tròn liên kết với Hành Kim Loại). Kim loại lại dùng làm biểu tượng cho khí, không khí nên còn gọi là kim khí. Thật là gượng ép khi cho rằng vòng tròn biểu tượng cho kim loại. Đâu phải kim loại nào cũng tròn! Ta thấy rõ theo chữ viết nòng nọc, theo Dịch nòng nọc (Dịch của đại tộc Đông Sơn) rất chính thống và rất nguyên thủy là vòng tròn, chữ nòng vòng tròn O biểu tượng cho hư không, không gian tức khí, không khí vì thế khí, không khí mới có biểu tượng là vòng tròn. Trung Hoa vẫn giữ vòng tròn biểu tượng cho khí cùa Dịch nòng nọc nguyên thủy mà lại đem gán cho kim loại, kim khí!

Hình nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói), tam giác vạch trên đá (petrglyph)như của thổ dân Mỹ châu ở vùng Tây Nam Hoa Kỳ có nghĩa là “ban mai”, “ngày” nghĩa là liên hệ với mặt trời tức dương (Rick Harris, Southwest American Indians ).

.Trên đồ đồng Đông Sơn.

Tia sáng mặt trời trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn có hình nọc mũi mác, mũi tên (răng cưa, răng sói) diễn tả mặt trời thái dương. Đây là mặt trời thái dương không phải là ngôi sao như một số người lầm tưởng. Trống có một nghĩa là đực (gà trống) là biểu tượng của ngành đực, dương, mặt trời. Trống thái mặt trời dương là trống biểu của Hùng Vương (Hùng có một nghĩa là Đực). Dương có một nghĩa là mặt trời, là nhật, là ngày trong khi đó sao chỉ xuất hiện về đêm, sao mang âm tính không thể có mặt trên trống biểu tượng cho ngành trống, ngành đực, mặt trời thái dương.

Tia sáng nọc mũi mác (răng cưa, răng sói) của mặt trời trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I.

Nọc mũi mác này có khi diễn tả bằng hình tam giác đặc mang ý nghĩa nọc thái dương ví dụ tia sáng diễn tả bằng nọc tam giác thấy ở hình mặt trời tại Trung Tâm Tế Lễ của Thổ Dân Tibes, Purto Rico.

Tác giả ngồi trên một tia sáng nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) hình tam giác của một di tích hình mặt trời ở đền thờ Thần Mặt Trời tại Trung Tâm Tế Lễ của Thổ Dân Tibes, gần Poncé, Puerto Rico.

Trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn hình tam giác biểu tượng cho nọc dương, nam, thái dương, lửa vũ trụ Càn như thấy ở trống lửa vũ trụ Càn Đông Sơn IV.

Trống lửa vũ trụ Càn Đông Sơn IV.

 

Trống có mặt trời tám nọc tia sáng mũi mác (răng cưa, răng sói) là trống Càn (Khôn). Hình cò Càn có đầu giống bộ phận sinh dục nam đang cương cứng trong có phụ đề chữ nọc que. Hai vành nọc mũi mác hay hình tam giác mang ý nghĩa thái dương, Càn. ai vành  nọc mũi mác (răng cưa, răng sói) bên trong có phụ đề ba chấm nọc xếp theo hình tam giác, hình núi tháp (chấm nọc có một nghĩa là bụi đất, tức đất khô, dương) có nghĩa là thái dương, lửa, ở tầng Tứ Tượng là tượng lửa, núi lửa, đất thế gian dương ứng với Li (lửa thế gian).

Trên trống Làng Vạc II, h

 

Trống Làng Vạc II.

Kiểm chứng lại ta thấy rất rõ trống này là trống có mặt trời 10 tia sáng hình nọc mũi mác là trống Li/Khảm (số 10 là số Khảm nước thế gian hôn phối với Li, lửa thế gian).Những vành giới hạn có chấm nọc cũng mang dương tính. Các khoảng không gian giữa các tia sáng mặt trời có hình 5 nọc mũi mác chồng lên nhau. Số 5 là số Li, lửa thế gian. Tất cả các chi tiết của trống đều mang dương tính nọc.

Rõ hơn nữa, trên trống Phú Xuyên (còn gọi là trống Stockhom vì hiện để tại đây), các con cò có chữ tam giác ở giữa hai cánh cho thấy cò mang tính lửa (cò lửa vũ trụ Càn hay cò lửa thế gian Li), thái dương.

Cò trên trống Phú Xuyên ở giữa hai cánh có hình nọc tam giác thuận.

 Kiểm chứng thêm ta cũng thấy trống còn có nhiều yếu tố nọc, dương, lửa, thái dương như vành cò có 6 con. Số sáu là số âm thái dương. Trống có hai vành nọc mũi mác (răng cưa, răng sói) ở ngoài biên trong có phụ đề nọc chấm mang nghĩa nọc, dương, lửa, thái dương, ở tầng Tứ Tượng, hình tam giác biểu tượng cho lửa thế gian Li, đất dương núi tháp nhọn (núi lửa hình tháp có thiết diện đứng hình tam giác). Những vành giới hạn có chấm nọc cũng mang dương tính. Các khoảng không gian giữa các tia sáng mặt trời có hình 5 nọc mũi mác chồng lên nhau. Số năm là số Li, lửa thế gian.

Vành chính yếu có bốn con thú có hai sừng đang há miệng sủa là con mang sủa (Cervulus muntjac, barking deer), Mã Lai ngữ gọi là kijang, chính là Việt ngữ Kì Dương. Con thú này là thú biểu của Đất dương Li (núi tháp, núi Kì) của Kì Dương Vương.

Tất cả các chi tiết của trống đều mang dương tính nọc. Con cò chữ nọc mũi  tên (mũi mác,răng cưa, răng sói), tam giác là con cò nọc lửa, mặt trời, thái dương.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, trống này là trống biểu của tộc Đất dương núi nhọn hình tháp, núi Kì theo hệ Kì Dương Vương (xem Thế Giới Loài Vật trong Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á).

Trên thạp đồng Hợp Minh những con chim nước có mỏ hình nọc mũi mác, hình tam giác (có con bay phóng xuống nước, có con từ dưới nước bay lên ở giữa hai chiếc thuyền, có con bay từ dưới lên ở phía trên ở cảnh giã chầy cối và có các con đang đi) là những con chim nước mang dương tính. Đây chính là những con chim Bổ Nông (Bổ với dấu hỏi) (Bổ là búa, buồi, vật nhọn, mang dương tính, nọc I). Chim bổ nông biểu tượng cho dương ( bổI) của nòng âm (nông O), tức thiếu âm (IO) tức Khôn dương khí gió là chim biểu của đại tộc Nông của ngành Thần Nông của Đại Tộc Việt trong khi đó con Bồ nông (Bồ với dấu huyền, bồ là bầu, bao bọc, nòng O) biểu tượng cho âm (bồ O) của âm (nông O) là thái âm (OO) của đại tộc Nước, Thần. Bồ nông là chim biểu của đại tộc Thần của ngành Thần Nông (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc).

 

 

Chim bổ nông có đầu hình nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) hay tam giác bay từ mặt nước lên ở giữa hai chiếc thuyền trên thạp đồng Hợp Minh (Hà Văn Phùng, Di Tích Hợp Minh Yên Bái…, Khảo Cổ Học số 4-1995).

Tam Giác Ngược và Ngôi Sao Sáu Cánh

Vòng tròn biểu tượng cho nòng âm của ngành nòng âm trong khi tam giác ngược (đỉnh chỉ địa) biểu tượng cho âm ngược với tam giác thuận (biểu tượng cho dương) của ngành dương. Vì thế tam giác ngược mang âm tính biểu tượng cho âm thái dương, âm siêu dương. Hình tam giác ngược ai cũng biết cũng có một khuôn mặt biểu tượng cho bộ phận sinh dục nữ. Nổi tiếng nhất là cái hình tam giác ngược “vành ra ba góc da còn méo” tả cái quạt giấy xếp của Hồ Xuân Hương. Các bà có cái quạt Hồ Xuân Hương nên các bà nhất là các mệnh phụ phu nhân hay cầm quạt để khoe cái quạt đặc biệt của mình. Vì thế quạt hình tam giác ngược cũng là biểu tượng của phái nữ ở cả Đông lẫn Tây. Do đó quạt hình tam giác ngược Hồ Xuân Hương cũng được dùng làm bảng hiệu chỉ phòng vệ sinh phái nữ như thấy ở một nhà vệ sinh phái nữ trong lâu đài của dòng họ Serralles, chủ nhân hãng rượu Rum Don Q (Don Quichote) nổi tiếng, bây giờ lâu đài này dùng làm bảo tàng viện (El Museo Castillo Seralles) ở Poncé, Puerto Rico.

Thổ dân Mỹ châu ở vùng Tây Nam Hoa Kỳ có hình khắc trên đá hình tam giác nghịch có nghĩa là “đêm” tức âm ngược với hình tam giác thuận có nghĩa là ngày đã nói ở trên.

Như thế ta phải hiểu là bộ phận sinh dục nữ khi nhìn phía bên ngoài được diễn tả bằng hình tam giác ngược thì thuộc ngành dương, thái dương, siêu dương cùng ngành với tam giác thuận dương, trong khi nòng vòng tròn O biểu tượng cho lỗ bộ phận sinh dục nữ thuộc ngành nòng âm đối ngược với ngành nọc que dương.

Hai tam giác thuận nghịch mang tính dương âm thấy rõ nhất qua hình ngôi sao sáu cánh do hai tam giác thuận và nghịch chồng lên nhau. Tam giác này cũng được gọi là cái “ấn của Solomon” (“Seal of Solomon”) hay “Magen David” được cho là có nguồn gốc tối cổ, theo tôi nguồn gốc có từ chữ viết nòng nọc. Nó đã thấy trong các nền văn hóa cổ đại như ở Lưỡng Hà Mesopotamia và là dấu biểu linh thiêng thấy ở các phế tích từ Maya ở Mexico, Guatemala cho tới Nepal và Tibet. Theo J.E. Cirlot biểu tượng này diễn tả sự hôn phối giữa Lửa, dương và Nước, âm trong linh hồn con người. Trong Ấn giáo và phái mật tông của Phật giáo sự kết hợp giữa hai tam giác này dùng làm biểu tượng cho sự hôn phối tình dục của hai nguyên lý nòng nọc, âm dương của vũ trụ. Ví dụ ngôi sao sáu cánh Ấn giáo:

Ngôi sao sáu cánh của Ấn giáo (hình tác giả chụp tại một ngôi đền ở Ấn Độ).

Hai hình tam giác thuận dương và nghịch âm chồng lên nhau tạo thành ngôi sao 6 cánh, biểu tượng cho giao phối hai cực nòng nọc, âm dương, giữa thần Shiva và nữ thần Shakti. Sự hôn phối nòng nọc, âm dương này tạo ra vũ trụ. Ba đỉnh của tam giác thuận trong ngôi sao biểu tượng cho ba vị thần nam Brahma, Shiva, Vishu

 

và ba đỉnh của tam giác nghịch biểu tượng cho ba vị thần nữ Saravasti, Shakti và Lakshmi.

Ngôi sao David của Do Thái giáo cũng có một nghĩa nòng nọc, âm dương giao phối. Quan niệm giao phối vũ trụ này thấy trong Jewish Kabbbala thần bí, được cho là Zivug ha Kadosh, sự hôn phối thiêng liêng giữa dương và âm của các biểu trưng của thượng đế.

Như thế hình ngôi sao sáu cánh diễn tả sự giao phối giữa nòng nọc, âm dương, càn khôn, trời đất, vũ và trụ.

Qua chữ tam giác ngược là khuôn mặt âm của tam giác thuận của ngành dương này ta rút ra một điểm rất quan trọng để so sánh Việt Dịch Nòng Nọc Đông Sơn và Dịch Trung Hoa.

Chữ nòng vòng tròn biểu tượng cho nòng âm, hào nòng trong Dịch nòng nọc trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn là thuộc cực nòng âm O. Trong khi Trung Hoa đã dùng vạch (hào) que đứt đoạn biểu tượng cho âm, hào âm là khuôn mặt âm của nọc que hào dương, ngành dương. Ta thấy rất rõ âm dương trong Dịch Trung Hoa đều thuộc về cùng một ngành nọc que, dương. Dịch Trung Hoa là dương Dịch trong khi nòng nọc, âm dương của Dịch nòng nọc được diễn tả là hai hào nòng vòng tròn O và nọc que I thuộc về hai ngành, hai cực nòng nọc, âm dương khác nhau, đúng với hình ảnh bộ phận sinh dục nam nữ, đúng với nguyên lý nòng nọc, âm dương của Dịch hơn. Dịch Trung Hoa mang dương tính là Dịch muộn xuất hiện vào thời xã hội đã ngả về phụ quyền cực đoan, nòng nọc, âm dương không còn đề huề nữa. Bảng hiệu vòng tròn đặc ở phòng vệ sinh nữ cũng cho thấy hào âm vạch đứt đoạn trong Dịch Trung Hoa không nguyên thủy.

Tóm lại

hình vòng tròn đặc và hình tam giác thuận đặc ngày nay dùng chỉ nữ, nam mà chúng ta thấy hàng ngày tại phòng vệ sinh là hai hình dấu, chữ viết nòng nọc nguyên thủy phát gốc từ chữ nòng vòng tròn O lấy từ hình ảnh lỗ sinh dục nữ và từ hình ảnh nọc que (I) bộ phận sinh dục nam, đúng như câu thơ của Hồ Xuân Hương: “Cọc nhổ đi rồi lỗ bỏ không”. Chữ viết nòng nọc do tôi khám phá ra gồm hai chữ cái là nòng vòng tròn O và nọc hình que I là chữ nòng nọc nguyên thủy. Chữ viết nòng nọc nếu hiểu theo nghĩa con nòng nọc thì phải hiểu con nòng nọc là con có thân hình tròn Nòng và đuôi hình Nọc que. Chữ khoa đẩu của Trung Hoa, chữ Ấn Độ, chữ Thái, Miên, Mường cổ… có hình con lăng quăng hay hình ngọn lửa (hỏa tự) chỉ là thứ chữ di duệ, con cháu của chữ Nòng Nọc vòng tròn-que nguyên thủy do tôi khám phá ra mà thôi.

April 16, 2009

CHỮ NÒNG NỌC kỳ 5

Filed under: 5. Dấu Hai Nọc Que — Quang Nguyen @ 2:46 pm

                                          CHỮ NÒNG NỌC

                                                                                                                                          (tiếp theo)

                                                                                                                                            (kỳ 5)

                                Ngữ Pháp (Grammar) Của Chữ Viết Nòng Nọc

                                                    Dấu Chữ Viết Nòng Nọc

                                                                                                                                                Nguyễn Xuân Quang

.Dấu nọc que kết hợp

-Dấu hai nọc que riêng rẽ (II)

Hai nọc que riêng rẽ có thể có hai khuôn mặt tùy theo cách sinh tạo. Khuôn mặt thứ nhất là theo phân sinh vô tính phái, một tách ra làm đôi thì một nọc que I phân sinh ra thành hai nọc que II. Lúc này hai nọc que ở dạng vô tính phái nghiêng nhiều về mặt biểu tượng hay yếu tố ví dụ hai nọc que biểu tượng cho cho lửa (hai dùi que dùng làm lửa). Cách thứ hai là do giao sinh hữu tính phái tạm gọi là do « giao tử » (gamete). Giao tử mang tính đực, nọc hữu tính phái IO (có dương có âm, vì đực dương nên để nọc que trước) giao sinh với giao tử cái nòng hữu tính phái OI (có âm có dương, vì cái nên để nòng vòng tròn trước) sinh ra:

Giao tử đực IO X (giao sinh với) giao tử cái OI

Cho ra: IO, II, OO, OI.

Ở đây hai nọc que II ở dạng hữu tính phái nghiêng nhiều về phía sinh tạo.

Cần phải lưu tâm hai khuôn mặt này.

Hai nọc que là hai dương tức thái dương ở dạng sinh trưởng (nhắc lại nọc que ở dạng sinh tạo tầng lưỡng nghi, hình ngữ nọc que chia nòng vòng tròn ra làm hai

clip_image002

biểu tượng cho lưỡng nghi trong khi nọc chấm ở tâm vòng tròn hay vòng tròn có chầm, chấm vòng tròn biểu tượng cho thái cực). Nói theo ngôn ngữ Dịch thì hai dương (II) là thái dương (nghĩa đen là dương lớn, dương già vì thế Anh ngữ dịch thái dương là old yang) [trong khi đó hai nòng vòng tròn OO là thái âm (old yin), âm (O) của dương (I) là OI, thiếu dương (young yang) và dương (I) của âm (O) là IO, thiếu âm (young yin)].

Vì thế khi hai nọc que II riêng rẽ dùng làm dấu thì chúng mang tất cả nghĩa của chữ nọc dương (đực, lửa, mặt trời, bộ phận sinh dục nam…) nhưng thườn ở dạng trưởng thành dương già, thái dương. Trong các nghĩa của hai nọc que , nghĩa thường hay thấy là nghĩa dùng làm biểu tượng cho lửa đất thế gian Li (cách nhớ là hai dùi tạo ra lửa).

Ví dụ

.Ai Cập cổ có vị thần Seth là thần hủy diệt và đối nghịch. Tên Seth có gốc Ai Cập cổ ngữ là Set, có nghĩa là đối nghịch. Seth là em (hay anh) của Osiris và là kẻ đối nghịch với Osirus, giết Osiris để chiếm ngôi. Osiris có một khuôn mặt là Mặt Trời Nước (tương đương với Lạc Long Quân), Seth đối nghịch với Osiris nên Seth có một khuôn mặt là Mặt Trời Lửa. Khuôn mặt Lửa này thấy rõ qua khuôn mặt Thần Chiến Tranh của Seth (lửa là khuôn mặt của thần chiến tranh giống như Mars là thần chiến tranh. Mars cũng có tên là Hỏa Tinh). Ta cũng có thể kiểm chứng qua truyền thuyết Cửu Thần (Ennead) ở vùng Helopolis, trong đó Ra-Atum là thần Tạo Hóa lưỡng tính phái (ứng với Thái Cực sinh ra Lưỡng Nghi) có bốn vị thần con cháu phái nam ứng với Tứ Tượng dương là: Shu, Khí Gió, Geb, Đất, Osiris, Nước vật Seth, Lửa. Với tâm địa xấu (giết anh hay em Osiris), Seth có khuôn mặt Lửa tà ác nên nghiêng nhiều về phía Lửa âm. Seth có thú biểu thế gian là con Setekh (thú bốn chân sống trên mặt đất nên có khuôn mặt chủ là biểu tượng cho đất thế gian).

clip_image004

Con Setekh sống ở sa mạc mang dương tính, lửa có hai tai thẳng đứng, đầu tai vuông góc hình sừng đầu bằng mang tính âm cõi bằng (đất). Hai sừng đầu bằng là hai nọc que, thái dương mang âm tính nghĩa là thái dương của thiếu dương Li, lửa đất dương (âm của dương tức thiếu dương) trong khi hai sừng nhọn như sừng hươu là thái dương mang dương tính và hai tai thỏ đầu tròn là thái dương của dòng thái âm, nước (vì thế mà con thỏ biểu tượng cho mặt trăng). Thú này có mõm nhọn hình mũi mác mang dương tính lửa giống các con thú như cóc, cá sấu, cá… có mõm, miệng nhọn mũi mác trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn (xem dưới). Đuôi hình đinh ba biểu tượng cho lửa vũ trụ Càn (ba nọc nhọn là ba hào dương tức Càn) nhưng Càn ở đây cũng là Càn mang âm tính (đầu là dương, đuôi là âm, Càn ở đuôi là Càn âm, lửa vũ trụ mang âm tính). Như thế con thú này biểu tượng cho nhành Lửa gồm hai khuôn mặt (tộc) Lửa thế gian Li biểu tượng bằng hai tai hai nọc que đầu bằng mang tính chủ (vì tai ở phía đầu) và Lữa vũ trụ Càn biểu tượng bằng chiếc đuôi nọc đinh ba mang tính liệt (vì ở phía đuôi). Hiện nay không ai biết con thú này là con vật gì, thường được cho là giống chó jackal, sơn dương, lừa, ardvaark, okapi… Nhưng theo tôi, với tính mõm nhọn mang dương tính và nọc lửa âm của hai tai ta thấy thích hợp với con cầy thuộc họ nhà cáo (cầy biến âm với cây là nọc dương mang tính lửa), đây là con cầy lửa và cũng thích hợp với con sài (có một nghĩa là cây khô, cây củi) trong loài sài lang thuộc họ cầy cáo, chó sói. Sài là con nọc dòng dương còn con lang là con nang thuộc dòng nòng âm. Sài lang cũng có một nghĩa xấu giống như con Seth biểu tượng cho ác thần Seth (nên nhớ dog cũng có nghĩa là nọc, cọc, cây, đực như dog-fox là con chồn đực). Cần lưu tâm là con thú này trông giống con chó đen Jackal Anubis, thần tẩm liệm nhưng Anubis đuôi luôn luôn cụp xuống vì mang âm tính và mầu đen cũng là mầu âm, liên hệ với cõi âm, cõi chết. Theo một vài truyền thuyết Anubis là con của Seth. Như thế Setekh là sài (lang) cùng loài chó âm Anubis.

Tóm lại con setekh có thể là con cầy, cáo lửa mầu đỏ hay con sài (lang) với khuôn mặt tà ác, ăn khớp với cái nhìn của một vài nhà Ai Cập học cho rằng Setekh là “con chó sa mạc”. Một điểm lý thú là tên Seth do cổ ngữ Ai Cập Set đồng âm với Việt ngữ Sét (sấm sét) cũng là chớp lửa-trong mưa tức lửa âm, ta có thể dùng điểm này làm bùa nhớ (mnemonics).

Tóm lại hai tai của setekh là một thứ dấu hai nọc que. Các nhà Ai Cập học hiện nay không nhìn dưới lăng kính chữ viết nòng nọc hay Dịch nên hiểu cổ sử Ai Cập chưa thấu đáo.

.Trong Hán ngữ, chữ yáng (dương, con dê) trên đầu có dấu hai nọc que diễn tả hai cái sừng mang một nghĩa lửa, thái dương, mặt trời Lửa thế gian (Ai Cập cổ dùng dê làm biểu tượng cho thần mặt trời).

Theo tầm nguyên ngữ, chữ huó (hỏa, lửa) trong giáp cốt văn vẽ hình ngọn lửa có ba đỉnh nhọn trông liên hệ với chữ sơn (núi).

clip_image006

                                                                                                                                                                         

                                                                       Chữ huó (hỏa) trong giáp cốt văn, kim văn, triện  văn…                                      

                                                                                                                  (Wang Hongyuan).

Trong cổ văn và triện văn, chữ hỏa có hình núi tháp nhọn đỉnh là chữ nọc mũi mác có nghĩa là dương, lửa, núi lửa và có hai nọc que nhỏ hai bên đỉnh núi lửa là hai dấu nọc que xác quyết nghĩa là lửa, dùng như một dấu chỉ định, xác thực (determinative). Huó là lửa từ núi lửa, lửa thế gian.

.Trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I, nhóm 7 người nhẩy múa ở bán viên dương có trang phục đầu hình chim có góc cạnh, như trên đã biết, mang dương tính. Đây là nhóm của nhánh dương Càn Li (số 7 là số lẻ mang dương tính). Chú ý ta thấy, ở phần hình cánh chim của trang phục đầu của người thứ 5 sau người dẫn đầudấu hai nọc que. Đây là người duy nhất có dấu hai nọc que còn tất cả những người khác không có. Hai nọc que này diễn tả lửa thế gian thiếu dương.

clip_image009

                                                                                                            Nhóm 7 người nhẩy múa trên trống Ngọc Lũ I.

Xin lưu ý là hai nọc que này để nằm ngang có ý cho biết đây là lửa của Cõi Bằng thế gian tức Li.

Trang phục đầu có phần sau gáy có hình lưỡi rìu ngang chữ nhật. Búa rìu lưỡi ngang giống sừng hươu biểu tượng cho Li núi dương. Rìu búa, bổ là dương, ở đây lưỡi có hình chữ nhật không nhọn là rìu mang tính âm tức âm của dương tức thiếu dương Li. Rõ và chắc chắn nhất là trong lưỡi rìu ngang chữ nhật này có phụ đề dấu “vòng tròn có chấm” có một nghĩa ở đây là Li. Như thế phần trang phục đầu này cho biết người này là tộc Li hôn phối với Khảm. Tay phải cầm phách hình tháp nhọn Li thái dương thế gian. Hình tháp ở đây nhỏ và cân xứng có hai nhánh bằng nhau biểu tượng cho núi tháp lửa Li (tháp pyramide có gốc Hy Lạp pyro-, lửa). Tay trái cầm gậy thẳng Càn nhưng dài nhất, thẳng như hình núi trụ diễn tả gậy Li thế gian Trụ Chống Trời, Núi Trụ Thế Gian. Cần lưu tâm vì Li thuộc đại tộc Li thế gian mang tính chủ nên gậy ở đây dài nhất.

Để kiểm chứng cho chắc trăm phần trăm và để dễ nhớ ta đối chiếu với Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc:

clip_image011

Trong nhóm 7 người nhẩy múa ở bán viên dương trên trống Ngọc Lũ I này, người cuối cùng có trang phục đầu hình quả bầu khác với 12 người còn lại là người biểu tượng cho họ người Không Gian-Mặt Trời, Vũ Trụ. Mười hai người còn lại của hai nhóm có trang phục đầu giống nhau là hình đầu chimcó đường nét thẳng và có góc cạnh mang dương tính tức của ngành dương thái dương. Như thế hai nhóm người cùng một ngành dương (vì đều có trang phục đầu hình chim dương giống nhau). Ngành chia ra hai nhánh, mỗi nhánh chỉ có 6 người biểu tượng. Nhánh dương này gồm có hai đại tộc là dương của dương (thái dương, Càn) và âm của dương (thiếu âm, Li). Trong sáu người còn lại của nhóm dương 7 người nhẩy múa này, hai người dẫn đầu đại diện cho hai đại tộc Li Càn ứng với Lưỡng Nghi còn 4 người theo sau là đại biểu của 4 tộc ứng với Tứ Tượng dương. Vì là nhánh dương nên trên bàn Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc ta đọc theo duy dương, theo chiều ngược với kim đồng hồ, theo chiều mặt trời tức đọc theo thứ tự Bầu Cọc Cá Cua.

Bốn người còn lại, đọc theo chiều dương ngược chiều kim đồng hồ ứng với Bầu Cọc Cá Cua:

+ Bầu: Người thổi khèn thứ 6 sau người dẫn đầu (trước người thứ 7có trang phục đầu bầu nậm) đại diện tộc Càn/Khôn. Khèn bầu ứng với hình chiếc Bầu Lửa (Càn) trên bàn Bầu Cua. Trên người này có hai dấu vòng tròn có chấm. Nếu đọc hai dấu này là hai mặt trời thì người này mang tính thuần dương tức Càn, còn nếu đọc một dấu là mặt trời và một dấu là vũ trụ thì ta cũng có mặt trời vũ trụ hay lửa vũ trụ tức Càn. Nếu đọc thêm hình mặt trời nữa trên quả bầu thì ta có ba mặt trời, tức siêu dương Càn.

+ Cọc (Hươu Cọc, Hươu Sừng): Người thứ 5 sau người dẫn đầu là đại diện tộc Li/Khảm ứng với con Hươu (Li) trên bàn Bầu Cua. Điều này giải thích tại sao trên phần hình cánh của trang phục đầu có dấu hình hai nọc que như đã nói.

+ : Người thứ 4 sau người dẫn đầu là đại diện tộc Chấn/ Cấn ứng với con Cá Chép (Chấn) trên bàn Bầu Cua. Đây là con cá chép mang tính nước dương Chấn có thể hóa thành rồng Long. Chú ý phần sau gáy có hình chữ V có nghĩa đối ngược với chữ nọc mũi mác (răng cưa, răng sói) (Dan Brown trong The Da Vinci Code gọi là chalice) có một nghĩa là Nước dương (Chấn). Trong hình chữ V này có dấu hình vòng tròn có chấm có một nghĩa là mặt trời. Người “Cá Chép” này có một khuôn mặt là mặt trời Nước tương đương với Lạc Long Quân.

+ Cua: Người thứ 3 sau người dẫn đầu là đại diện tộc Đoài/Tốn ứng với con Cua (Đoài vũ trụ) trên bàn Bầu Cua. Chú ý phần sau gáy có hình bờm biểu tượng cho gió. Con Cua này là con cua gió tức con còng gió. Đây là khuôn mặt dòng lửa dương của 50 lang theo mẹ Âu-Cơ lên núi tức dòng Kì Dương Vương. Con cua tương đương với con rùa vì đều có mai tròn biểu tượng cho bầu trời, vòm vũ trụ dương khí gió (xem Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc). Ở đây ta cũng thấy rất rõ nhóm 7 người nhẩy múa ứng với nhánh Lửa Kì Dương Vương.

*Cần lưu tâm, ta thấy 4 tộc ứng với Bầu Cọc Cá Cua, tức đọc theo chiều dương trên bàn Bầu Cua ứng với dòng dương, lửa Kì Dương Vương phía mẹ Thái Dương thần nữ Âu Cơ mặt trời bình minh. Đọc theo chiều âm, chúng ta có Bầu Cua Cá Cọc là đọc theo dòng nước âm Lạc Long Quân (xem Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc).

Tóm lại

Người thứ 5 sau người dẫn đầu là đại diện tộc Li/Khảm thái dương của ngành nọc dương Càn Li. Hai nọc que trên phần hình cánh ở trang phục đầu dùng như một dấu xác thực, chỉ định (determinative) (xem chương Người Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á).

(còn tiếp)

April 13, 2009

THE DA VINCI CODE và CHỮ NN

Filed under: Da Vinci Code-NN — Quang Nguyen @ 7:06 am

 

 

DA VINCI CODE VÀ CHỮ NÒNG NỌC

TRÊN TRỐNG ĐỒNG ÂM DƯƠNG

ĐÔNG SƠN.


                        Nguyễn Xuân Quang

The Da Vinci Code của Dan Brown nói về những mật mã của Leonard da Vinci. Điểm mấu chốt chính yếu của toàn quyển sách là mật mã trên bức tranh The Last Supper (Bữa Ăn Tối Cuối Cùng) của Leonard da Vinci.

      

clip_image002

 

                     The Last Supper (Leonard da Vinci, 1498).

Mục đích của bài viết này là so sánh mật mã mấu chốt trên bức tranh này của Da Vinci với chữ Nòng Nọc khắc trên trống đồng âm dương Đông Sơn mà tôi đã khám phá ra.
Dựa vào những mật mã của Leonard da Vinci đã cố ý mã hóa trong bức tranh, Dan Brown cho rằng người đệ tử ngồi bên Chúa không phải là John mà là một nhân vật nữ. 
Mật mã nào đã cho biết John là một người nữ ? Trước hết về hình dáng, John là người ngồi bên tay phải Chúa  trông nhu mì, yểu điệu thục nữ, rất trẻ, dáng vẻ thành kính, ngoan đạo (pious-looking), khuôn  mặt đoan trang (demure face), có đầu tóc đỏ bay bềnh bồng, hai tay nắm vào nhau trông thanh nhã (delicate) trong khi các người khác đang khoa tay chỉ trỏ lung tung và có ngực phồng lên như gợi ý cho thấy có đôi vú (hint of a bosom). Về ăn mặc, theo Dan Brown, John và Chúa có trang phục ngược nhau theo âm dương. Chúa mặc áo dài (robe) mầu đỏ và áo choàng ngoài mầu xanh da trời. John mặc áo dài mầu xanh da trời và áo choàng ngoài mầu đỏ. Tôi xin giải thích thêm nữa dựa theo Dịch ở đây. Mầu đỏ là mầu mặt trời, lửa, mầu dương, mầu Càn. Chúa mặc áo đỏ là áo dương, thái dương, mặt trời và áo choàng  xanh da trời là áo mầu trời, không gian, màu âm, mầu Khôn. Chúa mặc áo Mặt Trời-không gian hay Càn/khôn mang dương tính thuộc nhánh dương Càn trong khi John mặc ngược lại mang ý nghĩa Không Gian-mặt trời, Không Gian dương hay Khôn/càn mang âm tính thuộc nhánh âm Khôn dòng mặt trời. Hai người gộp lại thành Mặt Trời-Không Gian, thành Trụ và Vũ (của vũ trụ), thành Khôn Càn theo duy dương. John mang tính nòng, Khôn, âm. Ngoài ra John ngồi phía bên tay phải của Chúa tức phía bên trái của bức tranh. Phía trái là phía âm. Nhìn vào một bức tranh giống như nhìn vào một quyển sách mở ra trước mặt, trang bên trái bao giờ cũng có số trang là số chẵn tức số âm là trang âm và trang bên phải bao giờ cũng có số trang là số lẻ tức số dương là trang dương. John ngồi ở phía trái bức tranh nên mang âm tính. Như thế theo Dịch, mầu sắc đồ mặc và vị trí ngồi cho thấy John mang âm tính.
Nhìn kỹ vào bức tranh Chúa và John nối dính liền với nhau ở chỗ hông (hip) và ngả ra hai phía tạo thành một khoảng hở ở giữa hai người. Khoảng hở này hình  \/ (chữ V) mà Dan Brown cho  đây là biểu tượng cho phái nữ, đàn bà gọi là chalice.  Chalice  hay calice, calyx  có nghĩa là cốc, chén. Dan Brown cho chalice còn có thêm nghĩa nữa là tử cung phụ nữ. Biểu tượng này liên hệ với phái nữ và sự mắn sinh. Nhìn theo diện bên ngoài thì hình chữ V giống âm hộ, còn hiểu theo nghĩa chalice là chén là vật đựng thì có nghĩa là bộ phận sinh dục bên trong. Vật đựng như chén, nồi, bình, ve biểu tượng cho âm, nữ, dòng nước (ví dụ như các bình, vật đựng ở dưới gầm đài Tam Thế trên những con thuyền ở trống Ngọc Lũ I và các trống họ hàng) (xem chương Ý Nghĩa Dấu, Hình, Biểu Tượng Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á). Về ngôn ngữ học, V (vê) là Vú như thấy qua từ láy vú vê. Từ láy và thành tố láy có cùng nghĩa như nhau tức là vú = vê = V (Tiếng Việt Huyền Diệu). Chữ V là chữ đầu của Vulva (âm hộ) Vagina (âm đạo), tiếng lóng Việt ngữ gọi vulva, vagina là cái “ví”. Ví là cái túi, bao biến âm với “vi” tức V phát âm theo Anh ngữ, ta thấy rất rõ, theo v=b, vagina có vag- = bag, túi, bao = ví.
Theo Dan Brown, hình chữ \/ chalice này biểu tượng cho nữ, phái nữ ngược với hình tượng nguyên thủy  /\ biểu tượng cho đực, nam, phái nam, đàn ông mang hình bóng của một dương vật sơ khai (“a rudimentary phallus”) được gọi là lưỡi sắc (blade).
Người nữ này là ai? Tên là gì? Nhìn kỹ ta thấy cột sống lưng của Chúa và John  hợp với khoảng hở chữ V giữa hai người tạo thành chữ M. Người nữ này có tên khởi đầu bằng chữ M. Dan Brown cho rằng M là mật mã của từ Matrimonia hay Mary Magdalene. Người nữ này là người tình, người vợ của chúa tên là Mary Magdalene. Lúc Chúa bị đóng đinh trên thánh giá thì Magdalene đang có thai và được người cậu của Chúa bí mật đưa bà trốn qua một vùng ở Pháp (lúc đó có tên là Gaul) để bảo tồn dòng máu của Chúa. Magdalene sống trong một cộng đồng Do Thái, sau đó sinh ra một người con gái đặt tên là Sarah. Đây là dòng máu thế gian, là khuôn mặt thế gian của Chúa. Dòng máu thế gian này được ẩn dụ dưới tên là Holy Grail (Chén hay Cốc Thánh). Grail là chalice. Holy Grail có nghĩa là Chén của Chúa. Từ grail có g(r)ail biến âm với Việt ngữ “gáo”, vật dùng để uống có cán cầm giống như chalice có chân đế dài, cao. Grail có g(r)ail = gail = gal = girl = gái = cái. Như thế Holy Grail còn có một nghĩa là Thánh Nữ.
Vì bị ngăn cấm và bị truy nã bởi giáo hội thời đó, Mary Magdalene ở trong tình trạng phải sống trong bóng tối nên được biết đến qua các bí danh là Chalice, Holy Grail, Rose . Dan Brown dựa vào các nghiên cứu cho biết là hoa hồng mang biểu tượng cho dục tính phái nữ và nụ hồng trông giống cửa mình phái nữ (tr. 275). Nụ hồng mang hình ảnh cái “lá đa” của chúng ta (lá đa hình trái tim bầu phình đầu thon nhọn để đứng giống hình nụ hồng). Nụ hồng và lá đa có cùng một nghĩa ẩn dụ, ẩn ý (metaphor) như nhau. Vì thế Rose có cùng một nghĩa như Chalice. Ngoài ra Chalice dùng đựng rượu thánh trong các buổi lễ, rượu vang đỏ mang hình ảnh máu của Chúa. Chalice đựng máu Chúa là hình ảnh của Mary Magdalene mang giọt máu của Chúa trong người. Về ngôn ngữ ta cũng thấy, Holy Grail dịch từ Hy Lạp ngữ San (Thánh) Graal  sau biến thành Sang (máu) Real (vua, chúa). Như vậy Holy Grail còn có thêm nghĩa là dòng máu Chúa.
Tóm tắt lại Chalice  hình chữ V, về hình dạng V biểu  tượng cho âm hộ,  V hiểu theo vật đựng hình lõm, hình cốc chén calice thì biểu tượng cho bộ phận sinh dục nữ bên trong như âm đạo, dạ con. Chalice đựng rượu vang đỏ theo nghĩa ẩn dụ, ẩn ý là  Holy Grail  là Chén của Chúa, Chén mang dòng máu Chúa, Thánh Nữ ám chỉ Mary Magdalena mang dòng máu của Chúa.

Xin gác qua một bên những khía cạnh về tôn giáo, tiểu thuyết. Ở đây, chủ điểm của bài viết này là so sánh Da Vinci Code (Mật Mã Da Vinci) và Chữ Nòng Nọc trên trống đồng âm dương Đông Sơn. Những nhà nghiên cứu trống đồng hiện nay thường cho những “hoa văn” trên trống đồng là những mật mã nên thường hay nói là giải mã các hoa văn trên trống đồng. Tôi khám phá ra những mật mã này là những chữ Nòng Nọc. Xin nhắc lại chữ Nòng Nọc là một thứ chữ cổ nhất của nhân loại còn ghi khắc lại trên trống đồng âm dương Đông Nam Á. Chữ Nòng Nọc  gồm có hai chữ cái căn bản là chữ Nòng là vòng tròn O (theo biến âm n=v như níu = víu, ta có nòng = vòng) và chữ Nọc có hình que I. Chữ Nòng Nọc là chữ Mẹ đẻ ra các chữ có dạng con lăng quăng, con nòng nọc, khoa đẩu sau này. Tôi dịch chữ Nòng Nọc sang Anh ngữ là Circle-Rod  Writing, để tránh hiểu nhầm xin đừng dịch là “tadpole writing”, thứ chữ viết hình con nòng nọc, lăng quăng, khoa đẩu (Tiếng Việt Huyền Diệu).
Bây giờ ta thử so sánh mật mã chalice \/ này với các chữ nòng nọc trên trống đồng âm dương Đông Sơn xem sao? 
Theo duy dương, cả hai mật mã chalice và blade đều do hai que nọc (I) ghép lại. Hai nọc (II) là hai dương, thuần dương, thái dương, lửa, dòng mặt trời thái dương. 
1. Nọc mũi nhọn /\ (mũi mác, mũi tên, mũi dao, mũi dùi) hay răng sói, răng cưa.
Hình nọc mũi nhọn /\ mà Dan Brown gọi là blade thật ra là nọc mũi nhọn do hai que nọc ghép lại, đây chính là một dạng hình “răng sói”, “răng cưa”. Dan Brown gọi là blade, lưỡi sắc, không được hoàn chỉnh, phải gọi là vật mũi nhọn. Nọc mũi nhọn mới hình dung trọn vẹn được chiếc nọc, chiếc nõ (đi với nường), chiếc cọc nhọn của phái nam (cọc biến âm với cược). “Quân  tử có thương thì đóng cọc”, “Cọc nhổ đi rồi lỗ bỏ không” (Hồ Xuân Hương). Du Tử Lê trong Khúc Thụy Du có câu: “Tình yêu như mũi nhọn, êm ái và ngọt ngào”.
Chữ nọc mũi nhọn này trên trống đồng âm dương thấy dưới hai dạng: dạng chữ  và dạng dấu (marker, accent).
a.    Chữ nọc mũi nhọn (mũi lao, mũi tên, mũi dùi), răng sói, răng cưa.
Dưới hình thức là một chữ thì nọc răng cưa, răng sói này tổng quát mang trọn vẹn ý nghĩa Vũ Trụ thuyết, Dịch lý theo duy dương nghĩa là có đủ các nghĩa ứng với các diện của âm dương, Tứ Tượng. Ở đây tôi chỉ viết giới hạn theo nghĩa bao quát là đực, dương, thái dương, dương vật để so sánh với các nghĩa này của chữ blade của Dan Brown hiểu theo diện bao quát âm dương mà thôi.

Xin lấy một vài ba ví du về chữ nọc mũi mác (blade của Dan Brown) có nghĩa là đực, dương, dương vật, thái dương, mặt trời thái dương:
.chữ nọc mũi nhọn biểu tượng cho đực, lửa, thái dương, mặt trời thái dương.

Ví dụ những thú vật có mõm, mỏ hình nọc mũi nhọn trên trống đồng có nghĩa là những con thú vật đực, lửa, thái dương, mặt trời thái dương.

clip_image002[4]

clip_image002[10]

clip_image001[4]

       Những thú vật có mõm, mỏ hình nọc mũi nhọn trên trống đồng.

Con cá sấu mõm nọc nhọn (>) trên trống đồng Hòa Bình là con cá sấu mõm dao gavial thuộc loài Tomistoma Schlegelii (Tomi- là cắt, -stoma là miệng, miệng sắc nhọn như vật cắt, như dao) thần thoại hóa thành con dao (giao) long. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, con sấu dao này là biểu tượng của tộc Giao Việt dòng Lạc Long Quân.
Con vật lưỡng thê (amphibian) có mõm nhọn (>) mang nhiều dương tính, theo duy dương, là con cóc (con cóc sống trên cạn nên có dương tính hơn ếch sống dưới nước vì nước mang âm tính). Ngược lại, theo duy âm có thể là con ếch. Ếch có mõm nhọn là con ếch ngành nước-lửa, thái dương (xem chương Thế Giới Loài Vật Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á).

.chữ nọc mũi nhọn (>) biểu tượng cho nọc tia sáng mặt trời thái dương.
Hầu hết các mặt trời trên trống đồng âm dương (ngoại trừ ở trống Đào Xá), tất cả các tia sáng mặt trời đều có hình nọc mũi nhọn (mũi lao, răng sói) nghĩa là các trống đồng phần lớn thuộc ngành nọc mặt trời thái dương.

clip_image002[12]

Tia sáng thái dương hình nọc mũi nhọn, mũi lao trên trống đồng.


.nọc mũi nhọn biểu tượng cho lửa thái dương vũ trụ ứng với tượng Càn như thấy trong hình thái Tứ Tượng mà các tác giả hiện nay gọi nhầm là “họa tiết lông công” như thấy ở trên trống Ngọc Lũ I.

clip_image002[14]

Một hình ngữ Tứ Tượng mà hiện nay các nhà nghiên cứu trống đồng gọi nhầm là “họa tiết lông công”.

Hình thái này có 4 chữ nòng nọc ứng với Tứ Tượng.
-Chữ thứ nhất có hình nọc mũi nhọn, răng cưa, răng sói.

clip_image002[16]

        Hình nọc mũi nhọn, răng cưa, răng sói biểu tượng Tượng lửa vũ trụ, thái dương, Càn.

Hai que là hai nọc (II) nói theo thuật ngữ  Dịch là hai hào dương là thuần dương, thái dương, nói theo vũ trụ học là lửa vũ trụ. Vậy hình nọc mũi tên răng sói là nọc lửa vũ trụ thuần dương ứng với Càn. Hình mũi nhọn Càn này giống hệt đầu  mũi nhọn của chiếc đòn càn gánh lúa.  Trong họa tiết gọi là “họa tiết lông công”, nọc mũi mác, mũi đòn càn này biểu tượng thái dương, tượng lửa vũ tru, Càn. 
-Chữ thứ hai ở chính tâm có hình hai giọt nước có đuôi thuôn nhọn mang hình ảnh hai giọt nước mưa rơi từ trời xuống.

clip_image002[18]

        Hình hai giọt nước dương rơi từ trời biểu tượng Tượng nước vũ trụ, nước dương, thái dương, Chấn.

Đây là hai giọt nước mưa mang nghĩa nước không gian, vũ trụ. Trong hai giọt nước có hai chấm như hai con mắt nhỏ (vì thế mà  Parmentier gọi hình này là hình “hai con cá”). Hai chấm là hai “dấu chấm” (“dot markers”, “dot accent”),  ở đây mang nghĩa dương, lửa nguyên tạo. Vậy đây là nước dương, nước-lửa sinh tạo. Hai giọt nước là hình biến dạng của hai chữ nòng OO. Hai nòng là hai hào âm, nói theo thuật ngữ Dịch là thuần âm, thái âm, theo vũ trụ học là nước vũ trụ sinh tạo. Hai nòng có chấm là thái âm ngành nọc, dương ứng với Chấn.

Ở những trống muộn hay không còn chính thống hai giọt nước dương đã thể điệu hóa hay nam hóa  không còn hình thuôn tròn như hai giọt nước nữa mà trở thành hình con sò hai mảnh, hình hạnh nhân, hình tam giác hay hình bộ phận sinh dục nữ v. v……, tất cả vẫn còn hàm nghĩa thái âm ngành dương.

-Chữ thứ ba gồm một nét cong là chữ nọc mang âm tính (chữ nòng nọc cũng  “hiệp” hay “accord” với âm dương như trong Pháp ngữ ngày nay có hiện tượng hiệp với giống phái, nọc thẳng là nọc dương, nọc cong là nọc âm)  và các tua như răng lược cong trông giống rèm, bờm, phướn tua, cánh chim hay nửa lông chim.

clip_image002[20]

        Hình rèm, bờm, phướn tua, cánh chim hay nửa lông chim  biểu tượng Tượng gió dương Đoài vũ trụ.
Rèm, bờm, tua phướn, cánh chim, lông chim biểu tượng cho gió chuyển động, gió dương. Hình tua  này là một dạng âm của hình “răng lược” (âm nên có hình cong trong khi dạng răng lược thẳng mang nhiều dương tính).

Vậy đây là khí vũ trụ, gió không gian, là không khí mang tính dương tức gió dương, theo vũ trụ tạo sinh là thiếu âm (dương của âm vì thế mà nọc có hình cong), tượng khí vũ trụ ứng với Đoài Khí vũ trụ.
-Chữ thứ  tư có hình tháp nhọn giống như kim tự tháp gồm hai hình mũi mác, răng sói (^) hay chữ V ngượclồng vào nhau.

clip_image002[22]

         Hình tháp biểu tượng Tượng đất dương Li.

Hình tháp nhọn biểu tượng cho núi nổng (núi nhọn như cái nống chống trời tức núi trụ, núi Kì), núi lửa, núi dương. Điểm này thấy rõ  bên trong thành tháp có đánh dấu bằng những “dấu chấm” nhỏ mang nghĩa dương, lửa, bụi trần.  Núi nổng, núi lửa ứng với tượng đất dương Li. Ở cõi vũ trụ là thiên thạch (meteorite). Ta cũng thấy từ “pyramid” (tháp) có gốc pyro-, lửa tương ứng với Li. Mọi người thường hiểu Li là lửa (đúng nghĩa phải hiểu là lửa thế gian).  Như thế tháp hàm ý lửa thế gian. Tháp biểu tượng cho núi lửa, núi dương, núi Kì.

Tóm lại “họa tiết lông công” gồm có bốn chữ nòng nọc diễn tả nước, lửa, khí, đất vũ trụ dương, ứng với bốn nguyên sinh động lực lớn tức Tứ Tượng, nói theo Dịch ứng với Càn, Chấn, Đoài, Li. Tôi gọi họa tiết này là họa tiết hay hình thái TỨ TƯỢNG (Tiếng Việt Huyền Diệu). Trong đó nọc nhọn mũi mác biểu tượng cho đực, dương, thuần dương, thái dương, lửa vũ trụ, Càn.
Ta thấy rất rõ vòng tròn ở tâm trống là nòng là nang, là bọc biểu tượng nòng không gian, hư vô, vũ trụ. Mặt trời là dương là đực biểu tượng cho nọc dương. Âm nòng không gian, dương nọc mặt trời giao hòa sinh ra Tứ Tượng được diễn tả bằng họa tiết Tứ Tượng.  Tiếp tục của quá trình vũ trụ tạo sinh là các phần còn lại của mặt trống và tang trống (xem chương Cơ Thể Học Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á). 

.Vành răng sói, răng cưa.

Trên trống đồng âm dương, những nọc răng cưa, răng sói này kết nối lại tạo thành một vành răng cưa, răng sói mang nghĩa đực, dương, thái dương như thấy ở ngoài biên trống Ngọc Lũ I.

b. dấu (^).
Nọc mũi nhọn (>) này còn có một dạng dùng làm dấu (marker, accent). Nọc mũi mác dùng làm dấu thường nhỏ hơn chữ nọc mũi mác. Hệ thống dấu trong chữ nòng nọc cũng giống như hệ thống dấu huyền, hỏi, ngã, nặng trong chữ Việt hiện nay. Dĩ nhiên dấu trong chữ nòng nọc dùng để chỉ tính âm dương theo Vũ Trụ giáo, theo Dịch lý. Dấu nọc nhọn đầu mũi tên, mũi lao (>) này có nghĩa là  đực, dương, thái dương mang tính sinh tạo, sinh động, năng động. Dấu nọc mũi mác mũi nhọn, hình răng sói này thấy viết trên người nhiều thú vật có nghĩa là đực, lửa, mặt trời, thái dương. Ví dụ:

clip_image002[24]

            Dấu nọc mũi nhọn răng sói, răng cưa  trên mỏ hai con chim cho bíết đây là hai con chim dương thuộc dòng nọc, dương, mặt trời thái dương .

clip_image002[26]

Một con hươu có dấu nọc mũi nhọn răng sói, răng cưa  trên mõm ở  trên trống Ngọc Lũ I cho bíết đây là hươu dương dòng nọc, dương, mặt trời thái dương.
Ta thấy rất rõ Dan Brown cho biết Nọc mũi mác là hình tượng nguyên thủy của đực, dương (original icon for male) gọi là blade và là dạng sơ khai của dương vật (“a rudimentary phallus”) ăn khớp trăm phần trăm với chữ  và dấu nọc mũi mác răng cưa, răng sói của chữ nòng nọc viết trên trống đồng âm dương Đông Nam Á.
2. Nọc mũi nhọn chữ V.
Tổng quát, hình nọc mũi nhọn chữ V là hình ngược với hình nọc mũi mác thẳng đứng nên có nghĩa ngược lại với nọc mũi mác răng sói /\. Nếu chỉ  nhìn dưới diện âm dương bao quát và theo thuần âm nữ mà thôi thì nọc chữ V mà Dan Brown gọi là chalice chỉ biểu tượng cho nòng, âm, nữ, dạ con…
Ở những trống đồng muộn, nhất là những trống đồng âm dương của dòng Mặt Trời Nước dòng nòng âm như các trống ở Nam Trung Hoa, trên chân trống (vùng biểu tượng Cõi Dưới, Cõi Âm) thường thấy những  hình nọc chữ V biểu tượng cho âm, Cõi Âm. Nhiều khi những hình này kết nối lại thành vành “hoa văn” hình gợn sóng răng cưa ngược chữ V.

clip_image002[28]

         Hình Nọc răng cưa ngược chữ  V ở chân một trống Nam Trung Hoa.

Nếu nhìn  toàn diện trọn vẹn dưới lăng kính của Vũ Trụ giáo và Dịch lý thì nọc chữ V này mang trọn vẹn ý nghĩa âm dương của Dịch của nhánh âm nòng, Khôn.
Ví dụ trên trống Miếu Môn I, dưới mõm những “con thú lạ” và những con cò bay có chữ nòng nọc hình chữ V. Các nhà nghiên cứu trống đồng hiện nay cho đây là những con thú và chim đang “tha mồi”. Nếu hiểu theo nghĩa bao quát của chữ V (tức hiểu theo chalice của Dan Brown) như trên thì những con thú có hình ngữ chữ V này dưới mõm và mỏ là những con vật mang tính âm lửa, thái dương thuộc nhánh nòng, Khôn dòng mặt trời thái dương (ứng với phía John/Mary Madelene).

 

clip_image002[30]

 Hình thú, chim có hình ngữ chữ V dưới mõm và mỏ trên trống đồng Miếu Môn I.

Bây giờ ta đi xa hơn vào nghĩa của hình ngữ V dựa trên tính âm dương của Dịch. Theo Dịch, âm còn có âm của âm là thái âm, Khôn âm (có một khôn mặt là nguyên thể của nước) và âm còn có dương của âm là thiếu âm, Khôn dương (nguyên thể của gió). Như đã biết nòng O  theo duy âm nữ có một khuôn mặt biểu tượng cho âm, nữ, bộ phận sinh dục nữ, theo Dịch là Khôn. Khôn khi dương hóa mở ra thành chữ U và V. Ta thấy rõ điểm này qua các chữ viết của loài người hiện nay. Ta có U của ngôn ngữ này = V của ngôn ngữ kia  hay ở ngay cả trong cùng một ngôn ngữ, ví dụ Latin hiện kim Vox = Anh ngữ Voice = Latin cổ Uox (âm thanh, tiếng nói) = Việt ngữ U ơ (âm thanh, tiếng nói của trẻ thơ), Ú ớ (âm thanh, tiếng nói không ra lời). Rõ hơn trong chữ Việt, trong Từ Điển Việt Bồ La của Alexandre de Rhodes, có từ  cổ Ùa = từ hiệm kim Và. Và là Ùa thức ăn vào miệng. Rõ hơn nữa ta thấy rõ O = U = V qua từ O (phương ngữ Huế  o là mụ, cô, mệ; mụ có một nghĩa là mẹ như Thiên Mụ = Mẹ Trời) = U (người Bắc gọi mẹ là U) = V= Vê = Vú (Trung Nam gọi mẹ là Vú). Hiển nhiên ta thấy trước mắt cái vú, cái vê của U, của O, của Vú, của mẹ, của phái nữ có hình tròn nòng O. Rõ như ban ngày, V là biến dạng của O. Điểm này soi sáng thắc mắc của nhiều người khi đọc Dan Brown giải thích chalice hình chữ V có nghĩa là “dạ con” của phái nữ. Dạ con hình túi, hình bao làm sao mà giống hình chữ V được? Dan Brown đã lấy nghĩa chalice hình chữ V theo nghĩa nguyên thủy của chalice là vật đựng, bầu đựng, túi, nang đựng có gốc từ chữ U, chữ nòng O. Nòng O có một biểu tượng là lỗ sinh dục nữ, bọc dạ con phái nữ.
Trong chữ nòng nọc U, V là dạng dương hóa của O (U còn một vòng cung tròn ở đáy nên còn mang âm tính nhiều hơn chữ V nhọn đầu). Áp dụng ý nghĩa âm dương của chữ nòng nọc theo Dịch lý ở đây, hình ngữ V dưới mõm của những con “thú lạ” và của những con cò là dạng dương hóa của nòng O. Nói một cách khác hình ngữ V là O dương, nòng dương, Khôn dương tức biểu tượng cho khí gió vũ trụ (Đoài vũ trụ). Hình ngữ chữ V hay “cái mồi” của các tác giả hiện nay chính là cái bao, cái bọc, cái nang hình nòng O biểu tượng hư không, khí gió ở dưới dạng dương hóa, thái dương. Ta thấy rất rõ chữ V dưới mõm và mỏ tạo thành chiếc túi hình tam giác ngược ở đây là cái bọc O dương hóa biểu tượng túi khí gió Khôn dương sinh động. Túi gió chuyển động phát ra âm thanh. Đây chính là hình ngữ túi âm thanh (xem chương Ý Nghĩa Dấu, Hình, Biểu Tượng Trên Trống Đồng). Con thú lạ có túi âm thanh dưới cổ là con thú có đặc tính là hay hú hay tru tức thuộc về loài sói, lang, chó.  Tôi gọi con thú có bọc âm thanh hình chữ V này là  linh thú lang sói. Nó có cốt là con chó sói, con lang, tương đương với từ thiên cẩu ngày nay dùng ở nhiều vùng quê ở Việt Nam. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, ta thấy thiên cẩu sói lang là hình bóng thú biểu thế gian của Hùng Vương có mạng khí gió vũ trụ (Đoài vũ trụ)  vì một trăm Lang Hùng sinh ra từ một cái BỌC, cái NANG (trứng). Lang là dạng dương hóa của Nang (L là dạng dương hóa của N, xem Tiếng Việt Huyền Diệu). Lang có một nghĩa là túi, bọc dương, bầu dương, Khôn dương tức khí gió vũ trụ. Tổ Hùng Vương có cốt là Bọc, Bầu Trứng Vũ Trụ, có mạng Khôn dương (khí gió), là Mặt Trời-Không Gian vũ trụ (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc).  Hùng Vương thứ nhất có hiệu là Lân Lang có một nghĩa là Con Sói Rạng Ngời (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Sói Mặt Trời thái dương rạng ngời Lân Lang là Sói Trời, Thiên Cẩu. Gần đây ở hồ Trúc Bạch vừa tìm thấy một miếu thờ Chó. Ngày nay ở vùng quê Việt Nam nhiều nơi còn múa thiên cẩu trong ngày lễ tết.
Những con cò có túi âm thanh là những con cò có thể “huýt sáo” là những con cò gió, cò lả, cò trắng (mầu trắng là mầu của khí gió trong suốt), cò lang (lang có một nghĩa là trắng, chứng lang da vitiligo là chứng da hóa trắng, mầu lang là mầu sáng, mầu trắng) (xem chương Thế Giới Loài Vật Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á). Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, những con cò Lang (lang có nghĩa là trắng và cũng có một nghĩa nữa là Lang, con trai tức trăm Lang Hùng), cò trắng, Bạch Hạc, Cò Gió là chim biểu của Hùng Vương vì thế Hùng Vương mới đóng đô ở đất Bạch Hạc Cò Trắng, ở Phong Châu tức Châu Gió.
Kiểm chứng lại ta thấy rất rõ trống Miếu Môn I là trống Đoài/Tốn có mặt trời 14 nọc tia sáng (Đoài ở cõi vũ trụ là khí gió dương, Tốn là gió âm) có một khuôn mặt biểu tượng cho Hùng Vương có mạng Đoài khí gió vũ trụ mang dòng máu Tốn gió âm của Mẹ Âu-Cơ, sinh ra từ bọc, bầu không gian, nang Trứng Vũ Trụ.

Tóm lại nhìn dưới diện mật mã, ta thấy mật mã chalice hình chữ V trên bức tranh  The Last Supper của Leonard da Vinci có gốc từ chữ Nòng O. Chữ này có nghĩa ngược với chữ Nọc mũi mác blade do hai nọc (II) ghép lại. Nọc mũi nhọn /\ cũng có gốc từ chữ Nọc que I sinh ra (một nọc I tách ra thành hai nọc, hai nọc ghép lại thành nọc mũi mác, nọc mũi nhọn). Nọc mũi nhọn /\ là dạng sinh động của nọc hình que I. Rõ như “con cua tám cẳng hai càng, một mai hai mắt rõ ràng con cua” là hình biểu tượng cho dương, đàn ông, dương vật là blade /\ và biểu tượng cho âm, phái nữ, âm hộ là chalice \/ của Da Vinci Code có nguồn gốc từ chữ Nòng Nọc. Đây là hai chữ Nòng Nọc thấy trên trống đồng âm dương. Mã số Da Vinci có nguồn gốc từ chữ Nòng Nọc, một thứ chữ tối cổ của loài người còn ghi khắc lại trên trống đồng Đông Sơn (đón xem Giải Đọc Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á của tác giả, đang in).  
Về phương diện mật mã, Da Vinci Code đã củng cố  sự khám phá của tôi về Chữ Nòng Nọc và kiểm chứng lại cách giải đọc của tôi về Chữ Nòng Nọc trên trống đồng âm dương Đông Nam Á và ngược lại chữ Nòng Nọc trên trống đồng âm dương đã kiểm chứng và xác quyết lại ý nghĩa của Da Vinci Code.

Vào một dịp khác, tôi sẽ nói tới các mật mã khác của Da Vinci Code.

Tài Liệu Tham Khảo.

.The Da Vinci Code, Dan Brown, Anchor Books, New York, 2003.
.Nguyễn Xuân Quang:
-Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt (Y Học Thường Thức, 1999).
-Ca Dao Tục Ngữ, Tinh Hoa Dân Việt (Y Học Thường Thức, 2002).
-Tiếng Việt Huyền Diệu (Hừng Việt, 2004).
-Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc (phát hành vào dịp Tết Đinh Hợi).
-Giải Đọc Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á (Hừng Việt 2008)..

April 11, 2009

CHỮ NÒNG NỌC (kỳ 3)

Filed under: 3. Dấu Nòng Vòng Tròn — Quang Nguyen @ 6:08 am

 

                CHỮ NÒNG NỌC

                                             (tiếp theo)

                                                    (kỳ 3)

       Ngữ Pháp (Grammar) Của Chữ Viết

                             Nòng Nọc.

              Dấu Của Chữ Viết Nòng Nọc

                                                                         Nguyễn Xuân Quang

Như đã nói, nguyên thủy người tiền cổ vẽ bộ phận sinh dục cái đực hình nòng vòng tròn, nọc que để phân biệt cái đực, nữ nam. Ngày nay dấu tích dùng bộ phận sinh dục hãy còn mang tính cách “hiện thực” (“nguyên con”) như thời tiền cổ để chỉ cái đực, nòng nọc, âm dương cũng còn thấy ở các tộc còn giữ được dấu tích của nền văn hóa nguyên khai ví dụ các ngôi nhà làng, nhà con trai, nhà lang, nhà đình thì để chiếc nõ của đàn ông hay pho tượng người nam có cái nõ đâm thẳng ra như cái mũi lõ (phải nói là mũi nõ mới đúng nghĩa gốc nòng nọc ! L là dạng nam hóa của N, Tiếng Việt Huyền Diệu). Ngược lại ở ngôi nhà nàng, nhà nường, nhà nòng thì để cái nường hay pho tượng nữ với cái nường rất cường điệu. Vì thế ở những ngôi nhà làng, nhà rông ta phải căn cứ vào các biểu tượng cái đực, nường nõ để phân biệt là nhà nàng hay nhà lang, nhà rông nòng, nữ hay nọc, nam.

Về sau “văn minh” hơn, ta thấy nhiều trường hợp dùng các vật biểu tượng cho cái, đực thay cho bộ phận sinh dục nam nữ ví dụ như nhạc cụ bộ gõ trống [trống có một nghĩa là đực (đực ruột thịt với đục, chisel là vật nọn mang dương tính như gà trống) là nọc, vật nhọn như heo nọc]. Những ngôi nhà thiêng liêng, thờ phượng nào có để trống trong nhà hay bên ngoài cạnh nhà, có trang trí trống là nhà mang dương tính. Nếu là nhà nọc thì là nhà trai tráng, nhà lang, nhà đình, nhà mặt trời. Còn những căn nhà nòng có trống là những căn nhà nòng của phía cha, nội, dương (âm nam). Những ngôi nhà trống thuộc loại nhà trai tráng, nhà lang, nhà đình, nhà mặt trời này còn thấy nhiều ở Nam Dương, Nam Đảo. Ở những nơi này gọi theo tiếng Đức là haus tambaran. Một ngôi nhà trống của người Batak, Nam Dương có để trống có mặt hình mặt trời ở đầu hồi. Đây là ngôi nhà trống mặt trời, nhà lang mặt trời, nhà đình mặt trời.

clip_image002clip_image003

Một ngôi nhà trống của người Batak, Nam Dương có để trống có mặt hình mặt trời ở đầu hồi (Colin Duly, p.93).

Ngược lại những nhà nào để cối trong nhà hay bên ngoài là nhà nòng, nhà nường, nhà nàng, nhà không gian (cối biến âm với cái). Cối nguyên thủy làm từ một khúc thân cây khoét rỗng mang hình ảnh bộ phận sinh dục nữ vì thế cối biểu tượng cho bộ phận sinh dục nữ. Chầy cối biểu tượng cho nõ nường. Cối biểu tượng cho bộ phận sinh dục nữ thấy rõ qua cấu trúc của một ngôi làng Dogon (Mali, châu Phi) dựa theo thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo có hình người lưỡng tính phái nằm trong Trứng Vũ Trụ.

clip_image005

Cấu trúc một ngôi làng Dogon, Mali, Africa hình Trứng Vũ Trụ (Duly, Colin hình 3, tr.40).

Ở phía dương bên phải có ngôi Nhà Hội Phái Nam Men’s Meeting House (tương đương với nhà lang, nhà đình của chúng ta) ở vị trí đầu người. Cũng ở phía dương này, ngôi đền thờ hình dương vật của làng trông giống linga của Ấn giáo, biểu tượng cho bộ giống phái nam (male sex organ ). Ở phía bên trái, âm, có những ngôi nhà phái nữ, dành cho phái nữ khi có kinh nguyệt phải ở riêng (menstrual house) ở vị trí bàn tay của hình người. Cũng phía trái âm này, phía dưới có tảng đá để “nghiền các hạt làm dầu ăn” (oil crushing) biểu tượng bộ phận sinh dục nữ có hình hai vòng tròn đồng tâm (hai vòng tròn đồng tâm là chữ nòng vòng tròn có nghĩa là hai âm, thái âm, cái, mẹ, bộ phận sinh dục nữ…). Tảng đá “nghiền dầu” thật ra là một cái cối. Cái cối bộ phận sinh dục nữ này đi đôi với bàn thờ dương vật có thể coi như hình chiếc chầy biểu tượng bộ phận sinh dục nam.

Trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn những nhà có để trống hay có dàn trống bên cạnh là những ngôi nhà nọc, dương, mặt trời, tiền thân của nhà lang, đình ngày nay. Những nhà nào để cối hay có cảnh giã chầy vào cối ở bên cạnh là nhà nòng, nhà nường, nhà nàng, nhà không gian. Ví dụ như trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I, bên phía bán viên dương của nhóm 7 người nhẩy múa, ở góc trái của một căn nhà nọc (đầu mái có đỉnh nọc nhọn) có hình chiếc trống để nằm ngang sát mặt đất mang ý nghĩa đất thế gian (mặt bằng cõi thế gian) ứng với đất dương thế gian, dương thế gian, lửa thế gian Li và ở góc phải có người đánh trống hình lục giác để cao trên cây trụ diễn tả trống vũ trụ, ứng với dương vũ trụ, lửa vũ trụ Càn (theo Dịch số 6 là số thành, sinh tạo, tạo hóa). Căn nhà này là căn nhà trống của ngành nọc dương Càn Li. Bên cạnh ngôi nhà này có một dàn trống cũng xác định cho biết nhà này là nhà trống.

clip_image007

Nhà trống của ngành nọc Càn Li của nhóm dương 7 người nhẩy múa trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I. (hình trong Nguyễn Văn Huyên).

Ở bên bán viên âm 6 người nhẩy múa, ngôi nhà nọc ở phía góc phải có một chiếc trống cũng để nằm ngang nhưng không sát mặt đất mà nằm “lưng chừng trời” biểu tượng cho khí gió dương Đoài vũ trụ (Đoài thế gian là ao đầm). Trống mặt quay về phía trái mang nghĩa trống (dương) của âm (phía trái là phía âm). Dương (I) của âm (O) là thiếu âm (IO), về vật thể, thiếu âm là nguyên thể của khí gió. Vậy trống này diễn tả khí gió Đoài.

clip_image009

Nhà trống của ngành nọc Chấn Đoài của nhóm âm 6 người nhẩy múa trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I (hình trong Nguyễn Văn Huyên).

Ở góc trái có một vật hình chữ U hoa có góc cạnh, có chấm nọc mang nghĩa dương. U là dạng thái dương của O thái âm (hai nhánh đứng là hai nọc tức thái dương; Việt ngữ O là cô, mụ, nàng, mẹ dòng nòng, U là mẹ dòng lửa thái dương như Âu Cơ là U cơ, thái dương thần nữ của chúng ta). Có thể vật này làm bằng gỗ khoét rỗng. Đây có thể là thiết diện của một cái cối mang dương tính, thái dương hay cái trống mõ (một thứ trống âm) làm bằng thân cây khoét rỗng (slit drum). Đây có thể là một thứ trống cối thái dương, trống âm thái dương. Dù là cối thái dương hay trống cối thái dương thì cũng biểu tượng cho dương của thái âm, khuôn mặt nam của phía nòng âm tức âm nam ứng với Chấn. Bên cạnh ngôi nhà này cũng có một dàn trống cũng xác định cho biết nhà này là nhà trống.

Hai trống trong nhà nọc ở bán viên âm của nhóm âm 6 người nhẩy múa này là hai khuôn mặt dương của ngành nọc âm là Đoài Chấn đối ứng với căn nhà nọc dương Li Càn của bán viên dương của nhóm dương 7 người nhẩy múa.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, nhà trống (lang, mặt trời, đình) Càn Li là của ngành nọc Viêm Đế, Đế Minh (Càn), Kì Dương Vương (Li) và nhà trống Chấn Đoài là của ngành nòng Thần Nông Lạc Long Quân (Chấn), Hùng Vương (Đoài). Đối chiếu với Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc, nhà trống Càn Li là quả Bầu lửa đỏ Đế Minh Càn và con Hươu Cọc Kì Dương Vương Li thuộc ngành nọc con Gà Viêm Đế và nhà trống Chấn Đoài là con Cá Chép Lạc Long Quân Chấn và con Cua Hùng Vương Đoài thuộc ngành nòng con Tôm Thần Nông.

Trên trống Sangeang Malakamau, Nam Dương, một căn nhà nọc có một chiếc trống hay vật hình trống ở trên góc phải dưới cái gác lửng có để các hộp chứa đồ. Đây là căn nhà trống.

                 clip_image012 clip_image014

Căn nhà trống trên trống Sangeang Malakamau (A.J. B. Kempers, pl.4.02. f).

Căn nhà nọc ở bán viên bên kia có một vật hình cối ở góc phải trên.

                                  clip_image017 clip_image019

Căn nhà trống cối hay nhà cối thái dương trên trống Sangeang Malakamau (A.J. B. Kempers, pl.4.02. f).

Ta thấy rất rõ những căn nhà trống hiện nay ở Nam Dương, Đa Đảo là di duệ của các ngôi nhà trống trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn.

Hai ngôi nhà nòng (âm, không gian) mái vòm (cong là nòng, âm) có cảnh giã chầy cối ở cạnh nhà xác quyết hai căn nhà này mang âm tính, của ngành nòng âm. Trong một ngôi nhà nòng ở bán viên dương của nhóm dương 7 người nhẩy múa trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I có một người giơ tay gõ vào một vật tròn trước bụng mà mọi người đều cho rằng đây là một chiếc trống tròn. Căn nhà nòng ở bán viên âm bên kia không có. Căn nhà nòng này mang dương tính nghĩa là của phía nọc, lửa, cha, nội…

clip_image021

Nhà nòng có trống (mang dương tính) của ngành nòng âm của nhóm dương 7 người nhẩy múa trên trống Ngọc Lũ I (hình trong Nguyễn Văn Huyên).

Trong các tôn giáo sau này, mặt trời dùng chỉ dương, mặt trăng chỉ âm như Bồ tát Bodhisattva Avalokieshvara lưỡng tính phái, lúc đầu là một người nam sau trở thành Phật Bà Quán Thế Âm Bồ Tát thấy rất rõ qua tượng Phật Quán Thế Âm nhật nguyệt ở Bảo Sơn (Trung Hoa), tay phải cầm mặt trời dương tay trái cầm mặt trăng âm. Thần Cả Horus của Ai Cập cổ đội lốt thần mặt trời Ra lưỡng tính phái, có mắt phải là mặt trời dương và mắt trái là mặt trăng âm.

. . . . . .

Khi nòng vòng tròn và nọc que trở thành một biểu tượng thì nòng vòng tròn chỉ âm, nữ và nọc chỉ dương, nam ví dụ như người Ainu (Hà Di), thổ dân ở Nhật Bản có trụ bia mộ cho phái nữ phía trên đẽo hình đĩa tròn, còn bia mộ cho phái nam phía trên đẽo hình nọc nhọn.

Trong chữ viết nòng nọc, thì nõ nường vẽ hình nọc que và nòng O nguyên thủy có một ứng dụng dùng làm những dấu (mark, marker, accent) chỉ cái đực nòng nọc, âm dương. Trong phạm vi thu hẹp lại chỉ còn theo nghĩa cái đực thì dấu nòng nọc này tương đương với la, le trong Pháp ngữ.

Khi dùng làm dấu thì nòng vòng tròn và nọc que biến đổi đi thường thấy nhất ở dạng nòng vòng tròn tí hon và dạng chấm nhỏ, que nhỏ, đầu mũi mác.

Dấu có một khuôn mặt của một xác định ký (determinative). Du chữ viết nòng nọc là một ký biểu (logogram) thêm vào chỉ cho biết nghĩa hay phân biệt hai hay nhiều nghĩa có thể có.

1. Dấu Nòng

a. Dấu chấm rỗng hay hình vòng tròn tí hon (◦) (Minuscule blank circle).

Nòng vòng tròn tí hon hay chấm rỗng trong ngữ pháp chữ viết nòng nọc dùng làm dấu chỉ thị nòng, âm.

Ý nghĩa của dấu nòng vòng tròn rỗng tí hon hay chấm rỗng:

Nòng viết dưới dạng vòng tròn tí hon như cái chấm nhỏ rỗng vốn là dạng nguyên tạo, nguyên sinh, tạo hóa, vũ trụ (primitive or cosmic forms) của một nòng vòng tròn thường O. Dưới dạng nguyên tạo, nguyên sinh thì mọi thứ trong vũ trụ này đều là những vi thể nguyên tử, những hạt tròn hết sức nhỏ. Con người là cát bụi rồi lại trở về cát bụi.

Vì thế dấu nòng vòng tròn rỗng tí hon hay chấm rỗng có tất cả ý nghĩa của một chữ nòng vòng tròn thường O chỉ nòng, âm. Dấu nòng vòng tròn tí hon chỉ thị cho biết tất cả ý nghĩa của nòng, âm dưới lăng kính toàn diện, trọn vẹn của Dịch lý, nghĩa là phải lấy nghĩa dưới những diện vô cực (hư không), lưỡng nghi, tứ tượng(thái dương, thiếu dương, thái âm, thiếu âm)… của nòng, âm. Ngoài ra còn có thêm một khuôn mặt mang tính nguyên tạo, nguyên sinh, tạo hóa, vũ trụ.

Xin đưa ra vài ba ví dụ:

-Mặt trời nòng âm hình đĩa tròn của Ai Cập cổ.

Như đã nói, Ai Cập cổ thuộc dòng nòng âm có mặt trời hình đĩa tròn không có nọc tia sáng. Vì thế mặt trời Ai Cập cổ nhiều khi có dấu nòng vòng tròn rỗng tí hon chỉ cho biết đó là mặt trời nòng, âm.

Ví dụ:

. hình ngữ Ai Cập cổ mặt trời hay ánh sáng.

clip_image023

Linh tự mặt trời hay ánh sáng hình vòng tròn dòng âm có dấu nòng hình vòng tròn tí hon ở tâm (Richard H. Wilkinson p.129).

.linh tự Re hay Ra.

clip_image025

Linh tự Re hình nòng vòng tròn có dấu nòng vòng tròn rỗng tí hon.

Thường thường ta thấy linh tự Thần mặt trời Re hay Ra là vòng tròn có chấm đặc (mang khuôn mặt nọc dương), ở đây có dấu nòng vòng tròn rỗng tí hon cho thấy đây là khuôn mặt nòng âm của Re (nên nhớ Re hay Ra là mặt trời Tạo Hóa lưỡng tính phái). Những tộc thuộc ngành nòng âm viết Re với dấu nòng vòng tròn rỗng tí hon này. Ở đây ta cũng thấy rõ dấu nòng vòng tròn rỗng tí hon mang khuôn mặt ý nghĩa tạo hóa, nguyên tạo vì Ra có một khuôn mặt là mặt trời tạo hóa (sun as Creator). Các nhà Ai Cập học ngày nay không biết chữ viết nòng nọc nên không hiểu tại sao khi thì Ra hay Re diễn tả bằng chữ vòng tròn có chấm khi thì là vòng tròn có nòng vòng tròn rỗng tí hon (và có thể Ra là khuôn mặt dương, còn Re là khuôn mặt trời âm vì A mang dương tính như thấy qua tên Adam và E mang âm tính như thấy qua tên bà Eva, xem dưới, phần mẫu tự ABC). Họ không nhìn Ra/Re dưới lăng kính lưỡng hợp, nòng nọc, âm dương và Dịch nên giải thích văn hóa Ai Cập cổ chỉ bằng một con mắt, thường là con mắt phải, dương.

.Tên Đại Đế Ramesses II (Ramesses The Great).

Tên vị này thấy viết dưới nhiều dạng:

clip_image027

                                                                       Hình ngữ Ramesses.

Chữ R khi thì viết theo linh tự Ra vòng tròn có nòng vòng tròn rỗng tí hon khi thì viết dưới dạng con cò Ibis, biểu tượng của Thần Cò Thoth. Khi viết với hình vòng tròn có dấu nòng vòng tròn rỗng tí hon, ta phải hiểu là Ramesses có một khuôn mặt (hay đội lốt) Re tạo hóa, lưỡng tính phái và có thể Ramesses thuộc ngành nòng, âm (vị Pharaohs này là người duy nhất cho tạc tượng vợ cao bằng mình, thường thường các tượng vợ, con đi chung với các Pharaohs không cao quá nửa thấn dưới của các Pharaohs).

.Mặt trời Tạo Hóa của người Uighur: theo James Churchward, mặt trời Tạo Hóa của người Uighur c ũng có hình hai vòng tròn đồng tâm t ương tự (1965, tr. 77)

clip_image029

                                       Mặt trời của người Uighur (James Churchward).

.Hình mặt trời hai vòng tròn đồng tâm này cũng thấy trong các hình vẽ trên đá biểu tượng thần mặt trời hay người mặt trời ở Vitlycke, Thụy Điển (H. R. Ellis Davidson, Scandinavian Mythology, tr. 62-63).

clip_image031

Hình vẽ trên đá biểu tượng thần mặt trời hay người mặt trời ở Vitlycke, Thụy Điển (H. R. Ellis Davidson, Scandinavian Mythology).

-Chiếc mũi cong hình móc câu của Thần Mưa Chac của Maya là một hình ngữ hay chữ hình móc câu có nghĩa là nước chuyển động, nước dương, sóng cuộn, mây, liên hệ với sấm mưa (nước-lửa) (xem chương Dấu, Hình, Vật Biểu Tượng trong Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á). Trên mũi hình móc câu có nghĩa nước chuyển động, mây này có hai hình ngữ ba vòng tròn đồng tâm với vòng tròn ở tâm rất nhỏ có thể coi như là một dấu.

clip_image033

                                                                     Thần Mưa Chac của Maya.

Hai vòng tròn đồng tâm ở ngoài có nghĩa là hai âm, thái âm, nước âm và vòng tròn tí hon ở tâm là dấu, ở đây có nghĩa chính chỉ nước, nước sinh tạo, từ không gian, từ trời, mưa. Chiếc mũi cong hình móc câu chỉ nước chuyển động và hai vòng đồng tâm có nghĩa là nước âm và dấu vòng tròn tí hon chỉ nước không gian mang tính sinh tạo, mưa cho biết vị thần Chac là Thần Mưa một trăm phần trăm. Chiếc mũi chính là tên của vị thần Mưa này. Ngày nay không một nhà Maya học nào biết nghĩa cái mũi này vì không biết chữ viết nòng nọc.

-hình mặt trời, mặt trăng của Tây Tạng:

clip_image035

Mặt trời và mặt trăng (Robert Beer, plate 65).

Mặt trăng âm được biểu tượng bằng hình con thỏ. Tại sao con thỏ được chọn làm biểu tượng cho mặt trăng? Xin thưa con thỏ có hai tai dài, đối ứng với hai cái sừng của con hươu cọc. Hai tai thỏ là hai nọc, là thái dương mang tính âm vì có đầu tròn. Mặt trăng có hình con thỏ là mặt trăng thái dương của ngành nòng âm. Mặt trăng này mang tính dương hay thuộc ngành dương vì con thỏ quay mặt về phía tay phải. Mặt trăng tròn có hình con thỏ mang dương tính này đối nghịch với hình trăng lưỡi liềm có hai đầu nhọn (thái dương) của ngành dương. Đây có thể là ông trăng của ngành âm. Lưu ý, vì mặt trăng âm nên con mắt thỏ có hình tròn và con ngươi là cái dấu hình chấm rỗng hay hình vòng tròn tí hon mang âm tính. Mặt trăng âm cũng vẽ ở bên trái tức phía âm và mây ở dưới mặt trăng cũng là mây âm vì cái đuôi quay về phía trái. Ngược lại mặt trời có hình đĩa tròn hay vòng tròn, không có tia sáng là mặt trời của dòng âm. Mặt trời vốn mang dương tính nên được biểu tượng bằng hình con chim có mỏ nhọn hình mũi lao thái dương. Tuy nhiên vì là mặt trời của dòng âm nên con chim này là con chim mặt trời thái dương có âm tính do đó con mắt có hình thuôn tròn đầu bên trái mang âm tính và cạnh thẳng góc bên phải mang dương tính. Con ngươi là cái dấu chấm rỗng mang âm tính. Ta cũng thấy mặt trời vốn tính dương nên ở bên phải, mây dưới mặt trời cũng là mây dương vì đuôi quay về phía bên phải dương. Rõ ràng đám mây hiệp (accord) theo âm dương của mặt trăng âm, mặt trời dương.

-Trong thần thoại Ấn Độ, nữ thần Lajjagauri được cho là mang khuôn mặt của vị nữ thần thiên nhiên (nature) Prakriti, biểu tượng cho khoái lạc và mắn sinh.

clip_image037

                                                                           (Devdutt Pattanaik)

Ta thấy mặt và bộ phận sinh dục diễn tả bằng đóa hoa giống hoa sen có ba vòng đồng tâm trong khi đầu vú diễn tả bằng hai vòng tròn đồng tâm. So sánh với cái cối bộ phận sinh dục nữ hai vòng tròn đồng tâm ở ngôi làng của người Dogong ở trên ta thấy vòng tròn tí hon trong hai vòng tròn ở hai đóa hoa mặt và bộ phận sinh dục có thể coi là hai dấu nòng vòng tròn túi hon.

Hình hoa bộ phận sinh dục ba vòng tròn đồng tâm này giống hình mặt trời bộ phận sinh dục nữ thấy trong hang Dudumahan, ở đảo Kei, Đông Nam Dương.

clip_image039

Mặt trời bộ phận sinh dục nữ thấy trong hang Dudumahan, ở đảo Kei, Đông Nam Dương (rearranged after Ballard, Madanjeet f. 313 )

-trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn, dấu vòng tròn tí hon này thấy:

.ở trong những khoảng không gian giữa các nọc tia sáng ở trống Mèo Vạc III có những chữ hai vòng tròn đồng tâm với vòng tròn trong là những vòn tròn nhỏ.

clip_image041

Khoảng không gian có hình ngữ hai vòng tròn đồng tâm trên trống Mèo Vạc III

(Phạm Huy Thông chủ biên, hình chỉ lấy một phần).

Nếu coi vòng tròn nhỏ là một dấu thì chữ hai vòng tròn đồng tâm này, theo duy âm có nghĩa là không gian âm (vòng ngoài có thể diễn tả không gian vì chữ này nằm ở khoảng không gian giữa các nọc tia sáng, chữ này dùng để cho biết tên, biết tính nòng nọc, âm dương của khoảng không gian), còn theo duy dương, coi vòng tròn ngoài là mặt trời đỉa tròn dòng âm thì đây là mặt trời nòng âm dòng âm (ta thấy rõ tia sáng mang âm tính có hình thon đầu bút lông khác với tia sáng nọc mũi mác mũi tên mang dương tính như trên trống Ngọc Lũ I).

Nếu coi vòng tròn nhỏ cũng là một chữ thì đây là chữ hai vòng tròn, hai âm, thái âm. Trống này thuộc ngành nòng âm có mặt trời 12 nọc tia sáng âm Chấn/Cấn nhưng nghĩa sinh tạo mang tính trội (dominant) vì có hiện diện của dấu nòng vòng tròn rỗng tí hon sinh tạo và không có tượng cóc (đa số các trống có mặt trời 12 nọc tia sáng có một khuôn mặt sấm mưa có các tượng cóc (xem giải đọc trống này).

. ở tâm của ba vòng tròn đồng tâm trên mặt trống (tympanum) Cổ Loa II. Nếu coi nòng vòng tròn tí hon là dấu thì hai vòng tròn còn lại là hai chữ nòng O, hai âm, thái âm có một nghĩa là nước. Ở đây nuớc với dấu nòng vòng tròn rỗng tí hon mang tính sinh tạo, tạo hóa, trời nên là nước mưa, mưa. Trống này là trống mưa, sấm mưa. Điểm này được xác định, xác quyết bởi sự hiện diện của hình tượng cóc.

clip_image043

Một mảnh mặt trống đồng Cổ Loa II (Phạm Huy Thông chủ biên).

Nếu coi vòng tròn tí hon là một chữ thì ta có chữ ba nòng vòng tròn O, tức siêu nòng âm, Khôn, có một khuôn mặt nước không gian, mưa.

Một điều cần phải nêu ra ở đây là thành Cổ Loa do An Dương Vương thuộc dòng Mặt Trời Nước Lạc Long Quân xây nên có hai vòng thành tức hai OO, thái âm, nước. Dân Cổ Loa thuộc tộc, ngành âm, nước nên đã làm ra trống Cổ Loa II dùng làm trống biểu cho tộc, ngành nước, Khôn âm của họ nên trống biểu của họ có khắc ghi hình ngữ này. Trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn mang sắc thái địa phương, là trống biểu của vùng làm ra trống. trống đồng nòng nọc, âm dương là của Đại Tộc Việt không phải của Trung Hoa (xem Trống Đồng Nòng Nọc Là Của Đại Tộc Việt hay Của Trung Hoa?).

b. Dấu nòng vòng tròn lớn.

Nhiều khi hai vòng tròn đồng tâm to gần bằng nhau, một trong hai vòng tròn cũng có thể coi như là dùng làm dấu nòng O.

Ví dụ như con mắt thường được biểu tượng bằng hình vòng tròn có chấm. Linh tự Ai Cập cổ vòng tròn có chầm có nghĩa là mặt trời Ra và cũng có nghĩa là con mắt (mặt trời là con mắt của vũ trụ, “trời có mắt”). Con mắt hình mặt trời vòng tròn có chấm là con mắt dương (mặt trời là dương).

Trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn, các loài chim thú có con mắt là một nòng vòng tròn có con ngươi là một chấm đặc mang dương tính như cò, hươu chẳng hạn còn các con mắt của các loài chim thú có hai nòng vòng tròn đồng tâm và con ngươi là chấm đặc là con mắt mang tính âm, con mắt âm. Những loài chim thú có mắt âm hai nòng vòng tròn đồng tâm và con ngươi chấm đặc, theo duy âm, có một nghĩa là nước âm. Những loài chim thú này là loài chim thú nước hay sống được dưới nước. Ví dụ như mắt của những con cá sấu trên trống Hòa Bình, mắt của các con chim ở cùng một vành với các con hươu trên trống Ngọc Lũ I. Những con chim nước này, dưới mỏ có túi nang là những con nông (nông biến âm với nang).

clip_image045

Chim nông có con mắt âm trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I.

Gouloubev trước đây cho các con chim này là chim cắt (hornbill) là sai. Chim cắt có mỏ rìu mang dương tính nên có mắt dương chỉ có một vòng tròn có chấm.

Ta thấy rất rõ con mắt của con chim nông nước này là con mắt thông thường một vòng tròn có chấm cộng thêm một vòng tròn lớn bên ngoài thì nòng vòng tròn lớn này coi như là một cái dấu nòng vòng tròn lớn chỉ nòng, âm, nước.

Trường hợp dấu nòng vòng tròn to dùng làm một thứ dấu thì có thể nó mang tính thế gian khác với dấu nòng vòng tròn rỗng tí hon mang tính nguyên sinh, tạo hóa (trống Ngọc Lũ I là trống thế gian vì có cảnh sinh hoạt nhân sinh).

c. Dấu hai vòng tròn

Trong ba vòng tròn đồng tâm, hai vòng tròn bên trong cũng có thể coi như là dùng làm cái dấu nòng O. Ví dụ hình mặt trời âm nguyên sơ vẽ trên đá (petroglyph) có hình bộ phận sinh dục nữ thấy ở hang Dudumahan trên đảo Kei, phía Đông Nam Dương.

clip_image039[1]

Mặt trời âm có hình bộ phận sinh dục ở hang Dudumahan trên đảo Kei, Đông Nam Dương (Madanjeet Singh).

Nếu coi vòng tròn bên ngoài là cái lỗ sinh dục nữ thì hai vòng tròn trong có thể coi như là cái dấu hai nòng vòng tròn, hai âm, thái âm có một nghĩa là cái, nữ. Còn nếu coi cả ba vòng tròn đều là chữ cả, ta có chữ ba vòng tròn mang nghĩa siêu nòng âm, Khôn (xem chữ ba vòng tròn đồng tâm ở dưới).

Trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I, ngôi nhà nòng không gian có mái vòm vũ trụ, vòm trời mang âm tính nói ở trên, hai đầu mái có “bảng hiệu”, “bảng tên” viết bằng chữ ba vòng tròn. Nếu coi hai vòng tròn bên trong là một cái dấu nòng hai vòng tròn mang nghĩa, nòng, âm, thái âm, nước… và vòng ngoài là chữ nòng không gian thì căn nhà này là nhà nòng không gian thái âm ngành nước. Còn nếu coi cả ba vòng tròn là ba chữ nòng vòng tròn OOO thì là siêu nòng âm, Khôn, nòng không gian O, thái âm, nước OO.

.

d. dấu ba vòng tròn

Ba vòng tròn cũng có thể dùng làm dấu chỉ siêu nòng âm, âm thái âm, Khôn, nước không gian, sinh tạo… Ví dụ bộ thủy của Hán ngữ gồm có ba chấm phát gốc từ hình ba giọt nước là một thể biến dạng của chữ ba vòng tròn OOO (viết riêng rẽ), ba âm tức quẻ Khôn có một nghĩa là nước thái âm, nước vũ trụ.

clip_image047

                                                                                Bộ thủy của Hán ngữ

Ở đây cần phân biệt chấm giọt nước vòng tròn mầu đen là mầu âm, mầu nước âm khác với dấu chấm đặc mang dương tính (xem dưới). Các bộ trong Hán ngữ cũng có thể coi như là một thứ dấu (mark, marker hay accent) biến dạng, một loại xác định ký (determinative).

*Xin lưu tâm

.Ở những hình vòng tròn đồng tâm, nếu hình ở trong cùng rất nhỏ, không cân xứng với kích thước (size) của những hình còn lại thì đây thường là cái dấu chấm rỗng. Cần phải phân biệt dấu vòng tròn rỗng tí hon này với nòng vòng tròn rỗng tí hon dùng như một chữ không phải là dấu. Cần phải phân biệt dấu với chữ. Theo nguyên tắc dấu thường nhỏ hơn chữ. Nhiều khi phải dựa vào bài bản mới biết rõ là dấu hay chữ.

.Có những trường hợp coi chấm rỗng là những chấm trắng, có mầu trắng lại diễn tả là dương và ngược lại chấm đặc coi là chấm đen lại diễn tả là âm như thấy trong các hình Hà đồ (River map) và chấm đen cũng có thể là những con số như trong các con số của Maya (từ số 1 đến số 4). Cần phải phân biệt những chấm vòng tròn là dấu, là chữ, là vòng tròn mầu đen trắng, là những con số.

.Dấu nòng vòng tròn (dù là một vòng tròn tí hon, vòng tròn lớn, hai hay ba vòng tròn) phải được đọc và lấy nghĩa đúng theo Dịch lý.

(còn tiếp).

April 9, 2009

CHỮ NÒNG NỌC (tiếp theo)

Filed under: 4. Dấu Nọc Chấm, Que — Quang Nguyen @ 12:52 pm

 

 

           CHỮ NÒNG NỌC (kỳ 4)

Ngữ Pháp (Grammar) Của Chữ Viết Nòng  Nọc

     Dấu Chữ Viết Nòng Nọc (tiếp theo)

                                                                Nguyễn Xuân Quang

 

2. Dấu Nọc

 

Xin nói sơ qua một chút về chữ nọc (xem chi tiết ở phần chữ viết nòng nọc, ở dưới).

Chữ nọc tổng quát có ý nghĩa và chức vụ đối nghịch với chữ nòng vòng tròn qua tấm gương nòng nọc, âm dương của Dịch lý. Chữ nọc thường thấy ở dưới bốn dạng căn bản:

1. Dạng sinh tạo (nguyên sinh, nguyên tạo, tạo sinh, tạo hóa)

Dạng sinh tạo này có hình chấm đặc, tôi gọi là nọc chấm hay chấm nọc mang ý nghĩa sinh tạo của Tạo Hóa, Cõi Trên, Thượng Thế. Dạng này do nòng vòng tròn tí hon hay rỗng sinh tạo dương hóa đẻ ra (nhắc lại hư không, vô cực hình nòng vòng tròn O, vô tính khi cực hóa thành lưỡng tính phái nòng nọc, âm dương, thì biến thành âm trước, biến thành không gian trước (không gian âm có trước mặt trời dương, xã hội loài người theo mẫu hệ trước rồi sau mới thành phụ hệ) rồi sau đó mầm dương, hạt dương (nguyên thể của mặt trời) mới xuất hiện sau. Vòng tròn hư vô vô tính rỗng O, khi âm hóa ở cõi sinh tạo (vẫn giữ nguyên dạng tròn, không mở ra), vỏ dầy lên, vòng tròn càng dầy càng mang âm tính (xem dưới), âm hóa càng ngày càng lớn, cho tới khi cả vòng tròn đặc kín lại thành vòng tròn đặc, chấm đặc, đạt tới mức âm cực đại rồi thì trở thành dương (âm hóa cực độ sẽ biến thành dương, âm cực sinh dương như thấy rõ qua hình đĩa thái cực của Đạo giáo Trung Hoa, đàn bà về già trở thành đàn ông và ngược lại). Vì thế phải phần biệt chấm đen có hai khuôn mặt theo duy âm mang tính âm và theo duy dương mang tính dương.

Nọc chấm sinh tạo, ứng với nguyên tạo, tạo hóa, với Trứng Vũ Trụ, thái cực (đối ứng với nòng vòng tròn tí hon sinh tạo).

 

Xin lưu ý:

 

.Các tộc theo phụ quyền cực đoan về sau, dĩ nhiên cho rằng dương có trước âm. Họ giải thích ngược lại.

.Dạng nòng vòng tròn tí hon rỗng và chấm nọc sinh tạo này có thể coi như dạng vi thể mầm (“vi hạt mầm”) nguyên sinh (như đã nói khởi thủy mọi vật đều ở dưới dạng vi thể như hạt nguyên tử).

Điểm này thấy rõ qua ngôn ngữ Việt. Trứng là dạng vi thể mầm, tế bào mầm, mầm sinh tạo. Người Bắc nói cái trứng, trong khi Trung, Nam nói hột trứng (hột gà, hột vịt, hột vịt lộn). Trứng lưỡng tính mang tính sinh tạo có tròng trắng (âm) và tròng đỏ tương đương với hột, hạt (dương). Khi gọi cái (trứng) là gọi trứng theo duy âm, theo ngành nòng, mẹ, khi gọi hột (trứng) là gọi trứng theo duy dương, theo ngành nọc, cha. Như đã viết trong Tiếng Việt Huyền Diệu, tiếng Việt còn dấu vết cho thấy có hai dòng ngôn ngữ mẹ, cha là dòng mẹ Âu Cơ thấy nhiều ở miền Bắc và dòng cha Lạc Long Quân thấy nhiều ở Trung Nam (dân Trung Nam phần lớn vốn là dân vùng Cổ Loa, Bắc miền Trung, vùng châu Hoan cũ, con dân của Lạc Long Quân di cư vào). Vì thế mà người Bắc hay nói hươu (Mẹ Âu Cơ có biểu tượng là con hươu sao cái), cây đa, buồi... là gọi theo ngành nọc lửa (hươu biến âm với hèo, roi vọt, vật nhọn, đa biến âm với ta, tá là lửa, buồi biến âm với bổ, búa, vật nhọn) trong khi Trung Nam hay nói là nai, cây da, cặc (nai biến âm với nái, ná, nạ là mẹ, da là cái túi, cái nang, cái bao bọc thân người, nang biến âm với nàng, nường, nòng và cặc biến âm với cọc. Cọc cũng là vật nhọn nhưng “ít dương tính” hơn thuộc ngành nòng nước vì không nhọn bằng bổ, búa của ngành nọc lửa (xin đừng hiểu lệch lạc).

 

2. Dạng nọc que

 

Đây là dạng sinh trưởng tức trưởng thành. Một hạt chấm nọc phân sinh thành hai, nối lại ta có một nọc que. Nọc que là một dạng hai chấm nọc kết hợp lại. Nọc que là đời thứ 2, bậc hai trong quá trình Vũ Trụ Tạo Sinh.

Nọc que sinh trưởng ứng với lưỡng nghi (đối ứng với nòng vòng tròn lớn sinh trưởng do nòng vòng tròn tí hon trưởng thành lớn lên mà thành).

3. Dạng nọc hai nọc que kết hợp lại.

 

Hai nọc que ghép lại, kết hợp lại thành dấu, chữ, biểu tượng mang tính sinh động ví dụ như hình mũi mác Λ (mũi tên, răng cưa, răng sói), hình chữ V, chữ T, chữ thập, thước thợ… Đây là dạng sinh động, năng động trong quá trình tạo sinh.

Nọc sinh động do hai que kết hợp lại tương ứng với lưỡng nghi sinh động (đối ứng với nòng sinh động do hai nòng vòng tròn kết hợp lại)

4. Ba nọc que ghép lại, kết hợp lại thành dấu, chữ, biểu tượng mang tính sinh thành ví dụ hình quẻ Càn (III), chữ Y, chữ Z… Đây là dạng sinh thành, giai đoạn tạo thành trong quá trình tạo sinh.

Nọc sinh động do ba que kết hợp lại tương ứng với tứ tượng (đối ứng với nòng sinh động do ba nòng vòng tròn kết hợp lại). Điểm này thấy rõ qua các quẻ diễn tả tứ tượng đều do ba nọc que như quẻ Càn (III), ba nòng vòng tròn như quẻ Khôn (OOO) hay ở dạng ba chữ nòng nọc hỗn hợp như quẻ Li (IOI), vì thế mà Anh ngữ dịch từ quẻtrigram (“tam ký’, ba ký biểu).

Xin lưu tâm

 

Cần phải phân biệt nọc chấm với chấm đen mang âm tính và chấm số nút (chữ số hình nút tròn). 

 

Hiểu rõ về chữ nọc như vậy rồi bây giờ chúng ta đi vào các dấu nọc.

 

a. Dấu nọc chấm

 

-Dấu chấm đặc (dot). 

Dấu hình chấm đặc (.) là dạng nọc nguyên tạo chỉ thị nọc, dương đối ứng với dấu vòng tròn tí hon hay hình chấm rỗng. Tổng quát có ý nghĩa và chức vụ đối nghịch với dấu vòng tròn tí hon hay hình chấm rỗng qua tấm gương nòng nọc, âm dương của Dịch lý. Dấu nọc chấm biểu tượng cho dương, nọc, đực sinh tạo như mặt trời nguyên tạo, sinh tạo, hạt lửa sinh tạo (bụi tàn lửa), hạt nước sinh tạo (mist), hạt bụi đất sinh tạo, hạt gió sinh tạo (tăm hơi) v.v… Đây là dạng, nọc, dương nguyên thể, nguyên tạo, sinh tạo, tạo hóa, Cõi Trên.

 

.Dấu một nọc chấm sinh tạo, tạo hóa.

Ví dụ như trên đã nói Mặt Trời Tạo Hóa (Sun as Creator) Ra của Ai Cập cổ được diễn tả bằng linh tự vòng tròn có chấm. Nếu coi chấm là một dấu nọc chấm thì khi đó linh tự vòng tròn có chấm đọc là vòng tròn nọc sinh tạo = mặt trời nọc đĩa tròn sinh tạo của ngành mặt trời nòng âm. Đây là khuôn mặt dương của thần mặt trời Ra lưỡng tính phái đối ngược với vòng tròn có dấu nòng vòng tròn rỗng tí hon là vòng tròn nòng sinh tạo = mặt trời đĩa tròn nòng sinh tạo. Nếu coi chấm là một chữ nọc sinh tạo tức vòng tròn có chấm hay chấm vòng tròn là hai chữ nòng nọc thì đây là lưỡng tính phái, sinh tạo, tạo hóa, không gian-mặt trời, vũ trụ. Ta phải đọc theo hai chữ (xem dưới).

Ta thấy rất rõ ở đây dấu chấm nọc là dương tạo hóa, nguyên tạo, sinh tạo qua khuôn mặt sinh tạo, Tạo Hóa của thần Ra.

 

.Dấu hai nọc chấm xếp thành hình nọc que chấm

Dấu này diễn tả tính sinh tạo chấm nọc ở dạng trưởng thành nọc que, ví dụ như trên trống Quảng Chính trong các vành mũi mác (răng sói, răng cưa) có dấu hai chấm ở dạng thẳng đứng hình nọc que mang nghĩa nọc thái dương sinh tạo ở dưới dạng trưởng thành.

clip_image002

                                                       Một góc trống Quảng Chính

Trống Quảng Chính có mặt trời 16 nọc tia sáng Khôn tầng 3, Khôn hôn phối với Càn. Trống này có một khuôn mặt Càn ở tầng 3 thế gian nên trong các vành răng sói có hai chấm nọc nguyên tạo xếp thẳng đứng theo hình nọc que. Các vành giới hạn (border bands) cũng có các chấm nọc nguyên tạo mang dương tính, bốn hình chim có mỏ nhọn nọc lửa, không có bờm (cò không có bờm thường thường biểu tượng cho ngành lửa Càn, Li), đuôi có hai nọc mũi mác lồng vào nhau mang nghĩa thái dương lửa Càn (xem dưới).

Trên trống Ngọc Lũ I ở thân người những con thú như con hươu có hai hàng chấm nhỏ mang ý nghĩa hai nọc chấm sinh tạo, đây là hai nọc que dưới dạng chấm cũng mang nghĩa thái dương và chấm nọc cũng biểu tượng cho bụi đất, đất dương nguyên tạo.

Vậy con hươu sừng nàylà hươu mặt trời thái dương có một khuôn mặt tạo hóa. Hai nhóm hươu 10 con, một nhóm có khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa ứng với Cõi Trên tức Càn và một nhóm biểu tượng cho Cõi Giữa, Cõi Đất thế gian, dương trần tức Li, khuôn mặt sau này mang tính chủ (vì hươu là thú bốn chân sống trên mặt đất). Ta cũng thấy rõ hươu có khuôn mặt chủ là thế gian vì trống có cảnh sinh hoạt nhân sinh trên mặt trống.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt thì đây là thú biểu của Hươu Cọc Mặt Trời Thái Dương Lộc Tục Kì Dương Vương, vua tổ thế gian đầu tiên của Đại Tộc Việt có khuôn mặt chủ Li và cũng có một khuôn mặt sinh tạo đội lốt thần mặt trời Viêm Đế họ Khương (Sừng) ở cõi Tạo Hóa (di thể gene Khương, Sừng của Viêm Đế truyền xuống cho con Hươu Sừng Lộc Tục Kì Dương Vương) và đội lốt Đế Minh ở cõi sinh tạo thế gian tức Càn (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á).

 

.Dấu ba nọc chấm xếp thành hình tam giác.

Dấu này mang tính chấm nọc sinh tạo ở cõi thế gian. Ví dụ như trên trống Làng Vạc II, trong các vành răng sói có dấu ba chấm ở dạng hình tam giác, delta, hình tháp mang một nghĩa chủ, trội (dominant) là núi tháp dương ứng với Li.

clip_image004

                                                                      Một góc trống Làng Vạc II

 

Trống Làng Vạc II có mặt trời 10 nọc tia sáng Khảm tầng 2 hôn phối với Li. Trống Làng Vạc II có một khuôn mặt Li nên trong các vành răng sói có ba chấm nọc nguyên tạo xếp theo hình núi tháp. Các vành giới hạn cũng có các chấm nọc nguyên tạo mang dương tính sinh tạo. Trống không có hình chim bay biểu tượng cho cõi trời, cho biết trống này biểu tượng cõi đất thế gian, khoảng không gian giữa các tia sáng mặt trời có 5 nọc mũi mác chồng lên nhau. Chữ nọc mũi mác có một nghĩa là dương, lửa sinh động. Số 5 là số Li, lửa thế gian. Năm nọc mũi mác là lửa sinh động thế gian (núi lửa, đất đương) (xem giải đọc trống này).

 .Dấu nhiều nọc chấm.

-Trên trống đồng, các vành giới hạn (border bands) có các chấm nọc nguyên tạo mang dương tính cho biết trống đó thuộc ngành nọc, dương, lửa thái dương như đã thấy ở hai trống Quảng Chính và trống Làng Vạc II ở trên. Vành chấm nọc này đối ứng với vành giới hạn trống không (blank border bands) có nghĩa là nòng, âm, nước thái âm.

Trong các ngôi nhà và trên thuyền ở trống Ngọc Lũ I có các vật hình trống có “phụ đề” (đánh dấu, bỏ dấu) các dấu nọc chấm cho biết đây là những chiếc trống. Như đã thấy ở trên, trong hình ngôi nhà nọc, nhà trống ở bán viên âm của 6 người nhẩy múa có vật trông như cái cối hình chữ U có góc cạnh mang dương tính, có rất nhiều dấu nọc chấm nên ta nghiêng về phía cho đây là chiếc trống cối. Rõ nhất là ở dàn trống bên nhà, trên các trống này có các nọc chấm xác thực (dùng như một determinative) cho biết đó là trống. Một số tác giả đã hiểu lầm cho các dấu chấm này là những hạt thóc, hạt gạo. 

 Trên trống Thành Vân có hình người thể điệu hóa là người của tộc đất dương Li được diễn tả theo motifs hình “người chim-sừng hươu” có hai sừng có dấu chấm nọc dương được xếp theo hai hình nọc que có nghĩa là lửa thái dương, những chấm nọc cũng biểu tượng cho bụi đất (đất dương), biểu tượng cho Tượng Đất dương.

 

clip_image006

 

Những hình người thuộc tộc đất dương thiếu âm Li thể điệu hóa tối đa trở thành các motifs hình hươu trên trống Thành Vân có hình hai sừng có chấm nọc dương.

 

Kiểm chứng lại ta thấy rất rõ:

. trống này có 10 nọc tia sáng là trống thuộc nhóm thiếu dương Li, Lửa đất dương.

. khoảng không gian giữa các tia sáng mặt trời hình núi tháp vách kép có sọc Li (xem chương Ý Nghĩa Cực Âm Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á ).

.vành chim có 10 chim bay với số 10 là Khảm thế gian hôn phối với Li.

.trên người chim cũng có hình núi tháp, mắt “vòng tròn có chấm” Li, mỏ to nhọn, ngắn không có bờm gió mang dương tính Li.

.tổng cộng có 28 người, số 28 là số Cấn tầng 4. Cấn là non, núi âm, có Li núi dương là đại diện (Li số 5 là số dương của Cấn số 4)…

 

 

b. Dấu Nọc que

Dấu nọc que đơn hay kết hợp lại mang tất cả ý nghĩa của chữ nọc que đơn hay kết hợp lại ở dạng nọc trưởng thành (sinh tạo bậc hai).

.Một nọc que

Ví dụ như

 

.Triều đại đầu tiên thống nhất hai vùng Hạ Rắn Hổ Mang và Thượng Chim Kên Kên của Ai Cập cổ là Narmer tức Triều Đại Thứ Nhất (3100 BC). Có tác giả coi Narmer là vua tổ của Ai Cập cổ. Tên Narmer được diễn tả theo linh tự n’r bằng hình con cá nheo (cá bông lau) hay cá trê (catfish) và m’r bằng hình chiếc đục, chiếc chàng (chisel). M’r, chiếc đục, một vật nhọn biến âm với Việt ngữ mác (một thứ dao lớn nhọn), Mường ngữ vác cũng là một thứ vật nhọn. Nếu coi chiếc đục là một dấu nọc que thì Narmer có nghĩa là con Cá Nheo Đục, Cá Nheo Nọc, Cá Nheo Đực. Cách gọi tên này y hệt cách gọi tên Lộc Tục trong cổ Việt. Lộc là con hươu và Tục biến âm của Đục (nói tục là nói chuyện… đục). Lộc Tục là con Hươu Đục, Hươu Đực, Hươu Cọc. Với nghĩa này Narmer thuộc dòng Cá Nước dương hay thái dương thuộc ngành nòng âm (con cá nheo sống dưới nước mang âm tính và có râu, ngạnh sắc mang dương tính tương ứng với cá chép cũng có râu). Cũng xin nói thêm là các vua Pharaohs đều là những vua mặt trời con cháu của thần mặt trời Horus (tương đương với các vua Hùng Vương lịch sử đều là con cháu của Tổ Hùng Tạo Hóa sinh ra từ bọc trứng). Hùng Vương Tạo Hóa tương đương với Horus. Hùng Vương thế gian hay lịch sử tương đương với Pharaohs. Mặt trời là dương, đực, phái nam vì thế các tượng Pharaohs đều có râu cầm (râu dê). Hoàng hậu Hatchepsut là một “nhiếp chính vương” (co-regent), bà coi mình như một Pharaoh nên ở lăng miếu do bà cho xây cất, các tượng của bà cũng có râu cầm. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, điểm này giải thích tại sao bọc trứng chim của Mẹ Tổ Âu Cơ nở ra toàn con trai, một trăm lang hùng là vì các Hùng Vương thế gian, lịch sử đều là vua mặt trời thuộc dòng thần mặt trời Viêm Đế. Đây là lý do tại sao phải chọn loài cá có râu biểu tượng cho các vua mặt trời dòng nước. Cá chép có thể hóa rồng. Cá chép là cá biểu của Rồng Nước Lạc Long Quân do đó Narmer là vua Cá Nheo thái dương dòng Nước thái dương mang cùng một hình bóng của Cá Chép, Rồng Nước Lạc Long Quân. Ta cũng thấy Narmer có gốc Việt ngữ na- là nước (xem Gốc Chữ Trong Tiếng Việt Hưyền Diệu). N’r, Na-, cá (nheo) ruột thịt với nước như thấy qua từ đôi cá nước (cá = nước). Ta thấy rất rõ Nar- = nác, nước, Lạc (nước dương, thái dương). Ai Cập ngữ nag là làng, nahar là sông. Nguyên khởi làng xóm có gốc từ một bờ nước ven sông suối. Làng xóm là một quốc gia thu nhỏ. Điều này giải thích tại sao chúng ta gọi lãnh thổ, quốc gia Việt Nam là nước Việt Nam. Đại Hàn ngữ Nara là Nation có cùng gốc nar- = nác, nước (Đại Hàn là Đông Di thuộc Lạc bộ trãi liên hệ với chúng ta con cháu Lạc Long Quân, với Lạc viết với bộ trãi). Anh, Pháp ngữ nation, nước, quốc gia cũng có cùng gốc na-, nước. Narmer là Vua Cá Nheo thái dương là vua mặt trời Nước.

Nếu đọc chiếc đục, chiếc chàng là một chữ nọc thì Narmer là Cá Nheo (nước, âm) và chiếc đục (lửa, dương) là vật nhọn, cọc nhọn mang dương tính có một khuôn mặt là chim. Qua từ láy chim chóc ta có chim = chóc. Với h câm chóc là cọc, chim = chóc = cọc. Thái ngữ nok là chim. Nok ruột thịt với Việt ngữ nọc. Narmer là cá-chim, vị vua thống nhất hai vùng Hạ Rắn Hổ Mang nước và Ai Cập Thượng Chim Kên Kên lửa mang cùng hình ảnh của chim lửa-rắn nước, Tiên-Rồng của chúng ta. Narmer tương đương với An Dương Vương thống nhất hai ngành Âu Lạc thuộc ngành mặt trời nước Lạc Long Quân.

.Những kiến trúc ngày nay như các tháp nhọn, nóc nhà, các vòm (dome) có nọc nhọn ở trên, đôi khi cũng dùng như những dấu nọc que chỉ nọc, dương. Ví dụ như các kiến trúc hình vòm của Ấn giáo, Hồi giáo, Thiên Chúa giáo và các kiến trúc Tây Phương tân thời như điện Capitol của Hoa Kỳ có chỏm vòm hình nọc que thì đôi khi cũng là một thứ dấu nọc que cho biết vòm mang dương tính, lúc này kiến trúc vòm nòng dương này thường đi đôi với trụ nọc hình obelisk theo nguyên lý lưỡng hợp như nòng vòm dương điện Capitol đi đôi với trụ nọc đài Tưởng Niệm Washington hình obelisk. Cần phân biệt khi chỏm nhọn coi như là một chữ nọc que thì khi ấy vòm ở dạng nòng nọc, lưỡng tính, nhất thể…

 

.Trên trống đồng nòng nọc, âm dương cũng thấy rất nhiều dấu này. Như trên trống đồng nòng nọc, âm dương Duy Tiên có những con chim cắt đầu có mũ sừng (Mường ngữ chim Khướng biến âm với Hán Việt Khương, sừng, Anh ngữ Hornbill, “mỏ sừng”) đứng trên mặt đất. Chim cắt có mỏ rất lớn nên còn có tên là chim Rìu (mỏ như cái rìu), đây chính là Chim Việt, chim tổ tối cao tối thượng của Đại Tộc Việt, mặt trời thái dương. Chim Cắt, Chim Khướng, Chim Sừng là chim biểu của Thần Mặt Trời Viêm Đế có họ Khương (Sừng) biểu tượng cho nọc, dương, đực, mặt trời vì thế mà trong mỏ của nó có phụ đề dấu (hay chữ) nọc que.

    hornbill 2

Chim Cắt trên trống Duy Tiên.

  

Và như đã thấy trong bài Chim Lạc hay Cò Lang? ở mặt trống Đông Sơn IV trong đầu những con cò có các dấu nọc que xác định những con cò này là con cò nọc, cò Lửa. Để ý ta thấy đầu cò hình bộ sinh dục nam đang cương cứng, không có bờm (cò có bờm thường là cò thuộc ngành nòng gió, nước) mang tính dương, cường dương, mang tính dương (I) thái dương (II) tức Càn (III), Lửa vũ trụ.

 
  clip_image002[4]  

                                                                      Một góc trống Đông Sơn IV 

 

Xin lưu ý là hình nọc trong đầu cò dài nên cũng có thể coi đây là một chữ nọc que dùng như một dấu nọc que.

Hai vành thái dương nọc mũi mác (răng cưa, răng sói) cũng xác định đây là trống Lửa thái dương Càn (xem dưới).

(còn tiếp).

 

 

 

March 26, 2009

CHỮ NÒNG NỌC kỳ 2

Filed under: 2. Ngữ Pháp — Quang Nguyen @ 12:28 am

CHỮ NÒNG NỌC (kỳ 2)

Ngữ Pháp (Grammar) Của Chữ Viết Nòng Nọc

Nguyễn Xuân Quang

Như đã biết biểu tượng có một ý nghĩa riêng đối với một nhóm người, một tộc, một nền văn hóa ở vào một thời điểm nào đó trong dòng lịch sử nhân loại. Biểu tượng có thể có nghĩa thay đổi hay biến dạng khác đi theo các tộc người khác, văn hóa khác theo không gian và thời gian.Dọc theo dòng thời gian từ cổ thời cho tới hiện nay, chữ nòng nọc đã bị biến dạng, biến nghĩa, ngay cả có thể mất nghĩa nguyên thủy. Trong những nền văn hóa khác nhau hay tôn giáo khác nhau, những chữ, dấu, biểu tượng nòng nọc hay di duệ của nó đã được diễn tả, giải nghĩa khác nhau, nhiều khi trái ngược như trăng trời, đen trắng vì tùy theo duy âm hay duy dương. Vì thế, tùy trường hợp, tùy hoàn cảnh, tùy bài bản ta phải chọn một nghĩa theo âm dương cho thích hơp. Cho nên sau bao năm nghiên cứu về chữ viết nòng nọc tôi rút tỉa ra được một số ngữ pháp chính yếu của chữ viết nòng nọc. Ngữ pháp này tôi lấy chữ viết nòng nọc viết trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn làm chuẩn, làm gốc. Ngữ pháp này có thể khác hay ngược hẳn lại trong các nền văn hóa khác. Ví dụ trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn theo dương, duy dương phải đọc theo chiều ngược với kim đồng hồ, theo chiều mặt trời vì trống có khuôn mặt chính là trống (đực, dương, mặt trời) biểu tượng cho ngành mặt trời thái dương tức Đại Tộc Việt trong khi trên gương đồng hay cồng có thể phải đọc ngược lại. Trong văn hóa Đông Sơn phải nghiên cứu theo duy dương tức theo chiều ngược với kim đồng hồ, theo chiều mặt trời (trên trống đồng nòng nọc, âm dương động vật, người chuyển động theo chiều ngược với kim đồng hồ) trong khi trong Ấn giáo và Phật giáo (bị ảnh hưởng của Ấn giáo) phải nghiên cứu theo duy âm tức theo chiều kim đồng [các chuyển động như khi hành lễ đi quanh bàn thờ, bảo tháp phải đi theo chiều kim đồng hồ, hương (nhang) vòng cũng được đốt theo chiều kim đồng hồ vì hai tôn giáo này theo duy âm, nòng, không gian, hư không]. Ngữ pháp chữ viết nòng nọc phải hiểu theo nòng nọc, âm dương, theo Dịch lý. Nên nhớ mỗi tộc, mỗi nền văn hóa có nền tảng, bản thế nòng nọc, âm dương khác nhau và có nhiều loại Dịch mang tính nòng nọc, âm dương khác nhau. Xin đừng vội vã nhẩy vào kết luận cho rằng theo Dịch này hay Dịch kia (ngày nay thường dựa vào Dịch Trung Hoa) mới đúng còn tôi giải đọc theo ngữ pháp của chữ viết nòng nọc trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn là sai. Và phải để tâm là có rất nhiều chữ viết và biểu tượng nòng nọc không chính thống (rỏm hay dốt vì “mù chữ”nòng nọc) viết sai ngữ pháp chữ viết nòng nọc.

Vì chữ viết nòng nọc ruột thịt với hình ảnh nên tôi dùng nhiều hình ảnh do tôi sưu tầm khắp thế giới để minh chứng giúp độc giả nhìn thấy tận mắt và vài khi dùng đi dùng lại để ngay bên cạnh đoạn viết cho đọc giả khỏi phải mất công tra cứu tìm lại. 

Những Qui Tắc Ngữ Pháp Chính Yếu Của Chữ Viết Nòng Nọc.

-Chữ Nòng Nọc Là Chữ Có Biến Thái (an inflective writing).

Tổng quát, chữ nòng nọc là chữ âm dương dựa trên hai chữ cái nòng (O) và nọc (I) nên có biến thái, nói một cách khác có một sự chuẩn hợp hay hiệp (accord) với âm, dương rất qui củ trong ngữ pháp của chữ nòng nọc. Xin lưu ý là giống tính đực cái trong Pháp ngữ ngày nay là dấu tích của tính âm dương của chữ viết nòng nọc đã được giản lược hóa chỉ còn lại tính cái và đực nguyên thủy của biểu tượng nòng nọc. Thật ra như đã nói, tính phái theo âm dương phức tạp hơn nhiều vì phải nhìn dưới lăng kính của Dịch lý, phải nhìn theo góc cạnh vô cực (trung tính), nòng nọc, âm dương (lưỡng nghi), tứ tượng: dương của dương (thái dương), âm của dương (thiếu dương), âm của âm (thái âm), dương của âm (thiếu âm) [trong bài viết kỳ 1, tôi viết lầm thiếu âm thành thiếu dương, xin sửa lại, đa tạ]…

Âm dương tính trong chữ nòng nọc có thể diễn tả bằng nhiều cách:

1. Đường nét nòng nọc, âm dương.

Qui tắc:

Những vòng tròn, đường nét tròn, cong thông thường mang âm tính. Những nọc que, đường nét thẳng, gẫy khúc, có góc cạnh, nhọn đỉnh thông thường mang dương tính.

Nòng vòng tròn là bộ phận sinh dục nữ, cái, âm nên khi chuyển dịch ghép lại với nhau hay mở ra thành những đường cong thì những vòng cong, nét cong, đường cong, hình cong thường mang âm tính. Nọc hình thẳng nên khi chuyển dịch ghép lại thành những hình có góc cạnh thường mang dương tính.

Những ký tự, hình ngữ, dấu, biểu tượng diễn tả bằng nòng vòng tròn hay đường nét tròn, cong, ẻo lả mang âm tính. Ngược lại những ký tự, hình ngữ, dấu, biểu tượng diễn tả bằng hình nọc que hay những đường nét thẳng, góc cạnh, gẫy khúc, nhọn đỉnh mang dương tính. Xin đưa ra vài ba thí dụ:

-Nền văn hóa cổ đại vào bậc nhất của nhân loại mà các chứng tích còn tồn tại gần như toàn vẹn là văn hóa Ai Cập cổ (cổ khoảng 5.000-6.000 năm) còn thấy nhiều dấu tích của chữ viết nòng nọc. Bên kim tự tháp Cheops, các nhà khảo cổ học đã khai quật được một chiếc thuyền có tầm vóc vượt được đại dương hãy còn ở trong tình trạng tuyệt hảo (hiện trưng bầy tại bảo tàng viện ở sát bên kim tự tháp này). Đây là chiếc thuyền mặt trời (solar barque) cổ ít nhất vào khoảng 4.500 năm. Thần mặt trời lưỡng tính phái Tạo Hóa Ra hàng ngày dùng thuyền trời đi qua biển vũ trụ Nun từ Đông sang Tây.

Vì thần Mặt Trời Tạo Hóa Ra có khuôn mặt lưỡng tính, nòng nọc, âm dương nên chiếc thuyển của Ra cũng được diễn tả mang cả hai khuôn mặt âm dương (trong khi các thuyền khác thì không). Thuyền có mũi thuyền dương hình trụ nọc thẳng và đuôi thuyền âm hình trụ cong

clip_image002 clip_image004

Thuyền mặt trời (solar barque) cổ ít nhất vào khoảng 4.500 năm có mũi thuyền dương hình trụ nọc thẳng và đuôi thuyền âm hình trụ cong (Bảo tàng viện kim tự tháp Cheops, Cairo, Egypt, ảnh của tác giả).

Thuyền mặt trời của Ra mang tính nòng nọc, âm dương cũng cùng loại thuyền âm dương thấy trên trống đồng âm dương của đại tộc Đông Sơn như thuyền trên trống Ngọc Lũ I có đầu thuyền hình đầu rắn nước (rắn là âm) và đuôi hình đầu chim bổ nông (chim là dương), giản dị hơn là thuyền ở trống Sông Đà có đầu thuyền hình đầu rắn nước và đuôi thuyền hình đầu chim bổ cắt, cả hai thuyền đều ở dưới dạng lưỡng hợp rắn-chim.

Thần mặt trời Ra đi thuyền nên mặt trời của Ai Cập cổ là mặt trời thuộc ngành nòng, âm, là mặt trời đĩa tròn không có tia sáng, người Ai Cập thuộc dòng mặt trời nòng hư không vũ trụ, có vũ trụ nguyên khởi là Biển Vũ Trụ (Cosmic Ocean). Người Nhật là con cháu Thái Dương Thần Nữ Amaterasu nên cũng có mặt trời hình đĩa tròn không có tia sáng như thấy trên lá cờ Nhật giống như mặt trời Ai Cập cổ. Những tia sáng thẳng hay hình nọc mũi mác, răng cưa, răng sói là tia sáng dương, trong khi tia sáng cong, hình sóng nước, hình xoắn lọn tóc quăn, hình cánh hoa mang âm tính.

-Thời Tân Thạch khởi đầu khoảng từ 9500 Trước Tây Lịch đã thấy có hình ảnh thẳng và cong liên hệ với nam nữ. Khi chôn vợ chồng chung một mả, vợ để ở tư thế nằm cong trong khi chồng ở tư thế nằm thẳng.

clip_image006

Khai quật ngôi một cổ ở Cam Túc, thời Tân Thạch cho thấy hai người nam nữ chôn cùng nhau. Người nữ để nằm cong trong khi người nam nằm thẳng (dẫn lại trong Wang Hongyuan, The Origins of Chinese Characters, Sinolingua Beijing, 2004).

-trong hình người bán nam bán nữ Ardanari Iswara của Ấn giáo, bán thân người nữ tay cầm hoa ở phía tay trái của người này được diễn tả bằng những đường nét cong, thon gọn mang âm tính trong khi thân người nam ở phía tay phải được diễn tả bằng những nét thẳng, thô thiển mang dương tính:

clip_image008

Hình người bán nam bán nữ Ardanari Iswara.

Ardanari, nam-nữ, ái nam ái nữ có ard- phát từ gốc Phạn ngữ ar-, cầy (nguyên thủy dùng nọc nhọn để cầy đất), Phạn ngữ ak, đục, xuyên (bằng vật nhọn), nhọn sắc, qua gốc Hy Lạp ake, nhọn, liên hệ với Anh ngữ adze, axe, rìu, arrow, mũi tên, arbor, cây, arm, cánh tay (tay tương đương với cành cây như Hán Việt chi là tay chân và cũng có nghĩa là cành cây). Ard- liên hệ với Việt ngữ cổ áng (cha). Ard- ruột thịt với nọc, nõ. Nari- liên hệ với Việt ngữ cổ (mẹ), Việt ngữ hiện kim nạ (mẹ), nàng, nường, nòng là phái nữ, bộ phân sinh dục nữ.

Lưu ý là linh tự Ai Cập cổ ankh (hiện nay hiểu là chìa khóa của sự sống “key of life”, hiểu theo chữ viết nòng nọc là nòng nọc, âm dương giao hòa, sinh tạo) để nằm ngang diễn tả bộ phận sinh dục nõ nường của người lưỡng tính phái này: phía nửa người nữ bên thân trái, nường được biểu tượng bằng chữ nòng vòng tròn là phần trên đầu của chữ ankh trong khi phía nửa người nam bên thân phải, được biểu tượng bằng chữ nọc hình chữ T là phần dưới của chữ ankh. Ở đây ta thấy rất rõ nọc que, nòng vòng tròn biểu tượng cho bộ phận sinh dục nõ nường từ thủa sơ nguyên còn hiện diện trong linh tự Ai Cập cổ và trong Ấn giáo.

-trong Thiên Chúa giáo, thượng đế rút chiếc xương sườn của ông Adam tạo ra bà Eva. Tại sao không lấy các xương thẳng ở tay, chân như xương đũa? Bởi vì xương sườn cong mang âm tính.

-trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I trang phục đầu (headdress) của những người trên thuyền có những đường nét cong, hình đầu chim mỏ cong vòng mang âm tính của dòng nước.

 
  clip_image010

Trên trống Ngọc Lũ I, trang phục đầu của những người trên thuyền có những đường nét cong mang âm tính của dòng nước.

Trang phục đầu của những người nhẩy múa trên mặt trống Hoàng Hạ có hình đầu chim với các đường nét con mang âm tính:

clip_image012

Trang phục đầu hình chim của những người nhẩy múa trên mặt trống Hoàng Hạ có những đường cong mang âm tính.

Trống Hoàng Hạ là trống của tộc âm ngành dương thái dương.

Trong khi trang phục đầu của những người nhẩy múa trên mặt trống Ngọc Lũ I có góc cạnh mang dương tính.

clip_image014

Trang phục đầu hình chim của những người nhẩy múa trên mặt trống Ngọc Lũ I có góc cạnh mang dương tính.

Trống Ngọc Lũ I là trống của họ dương ngành dương thái dương.

Tay trái của những người ở nhóm dương 7 người nhẩy múa (số lẻ là số dương) trên trống Ngọc Lũ I cầm gậy thẳng mang dương tính. Tay trái của những người ở nhóm âm 6 người nhẩy múa (số chẵn là số âm) cầm gậy cong mang âm tính.

Thoáng nhìn vào một trống đồng nếu thấy có nhiều “hoa văn” vòng tròn hay cong (như hình xoắn, hình uốn khúc, hình sóng nước) thì ta biết ngay đó là trống mang âm tính thuộc ngành nòng âm ví dụ như trống Cổ Loa II có vành “hoa văn” chủ yếu là vành chữ ba vòng tròn đồng tâm mang tính thái âm, nước không gian, bầu trời (mưa). Bằng chứng là trống này có sự hiện diện của tượng cóc biểu tượng cho mưa, sấm mưa. Ngược lại, những trống đồng nào có nhiều ký tự, hình ngữ, hình vẽ có những nét thẳng, góc cạnh, gẫy khúc, nhọn đỉnh, nhìn vào mặt trống thấy có cảm giác nóng bỏng, sáng sủa mang dương tính ví dụ như trống Làng Vạc II.

Xin lưu tâm

.Cần phải phân biệt hai trường hợp: theo duy âm hay dương hóa, những đường nét cong, tròn do nòng vòng tròn mở ra khi chuyển dịch thì là âm mang tính dương (nòng dương) ví dụ vòng tròn O khi chuyển động mở ra có thể trở thành thiếu âm hay thái âm mang dương tính. Thái âm mang dương tính có hình chữ S nằm hay hình dấu ngã biểu tượng sóng cuộn,nước chuyển động, nước dương. Trong khi theo duy dương hay âm hóa, nọc que bẻ, uốn cong lại thành những đường nét cong, tròn do khi chuyển dịch thì là dương mang tính âm, trở thành thiếu dương hay thái dương mang âm tính ví dụ tia sáng dương hình nọc que khi uốn cong lại thành hình chữ S hay dấu ngã thì là ánh sáng âm của ngành dương. Mặt trời có tia sáng hình sóng nước là mặt trời nước mang âm tính của ngành dương khác với mặt trời dương của ngành âm có tia sáng là những vòng sáng như thấy trên trống Đào Xá.

.Nòng vòng tròn dương hóa cực độ mở ra thành nọc que và nọc que âm hóa cực độ cuộn lại thành nòng vòng tròn.

.Nên nhớ là lúc nào cũng phải nghiên cứu dấu, hình, biểu tượng bằng hai con mắt nòng nọc, âm dương, dưới lăng kính của Dịch lý.

(còn tiếp).

CHỮ NÒNG NỌC

Filed under: 1. Khái Quát — Quang Nguyen @ 12:18 am

CHỮ NÒNG NỌC 1

KHÁI QUÁT VỀ CHỮ NÒNG NỌC

Nguyễn Xuân Quang

Trước hết xin nói ngay để tránh khỏi lầm lẫn hay ngộ nhận là chữ viết nòng nọc (cirle-rod writing) là loại chữ viết do tôi khám phá ra không phải là thứ chữ nòng nọc (tadpole writing) mà hiện nay chúng ta thường nghe nói tới. Chữ viết nòng nọc hiện nay mà Hán ngữ gọi là chữ khoa đẩu tức là loại chữ trông như con nòng nọc hay con lăng quăng bơi trong nước ví dụ như chữ Hán cổ, chữ Phạn, chữ Thái Lan, chữ Campuchia v. v. . . thật ra đây chỉ là những chữ viết di duệ, những chữ viết con cháu của chữ viết nòng nọc (circle-rod writing) thật sự do tôi khám phá ra. Chữ viết nòng nọc là chữ viết nguyên thủy không phải là chữ viết “con nòng nọc” (tadpole) mà là chữ viết nòng nọc phải hiểu theo tiếng Việt là nòng biến âm với vòng (theo n=v như níu = víu), cổ Việt nói nòng vòng, ngày nay chúng ta nói lòng vòng (n là dạng cổ của l hay l là dạng nam hóa của n, Tiếng Việt Huyền Diệu), theo qui luật từ đôi ta có nòng = vòng và nọc có nghĩa là cái que. Chữ viết nòng nọc phải hiểu theo nghĩa nguyên thủy là chữ viết vòng tròn-que. Con nòng nọc phải hiểu là con có thân hình vòng tròn và đuôi hình que. Chữ viết nòng nọc vòng tròn que còn thấy ghi khắc trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn mà các tác giả hiện nay gọi là các “hoa văn” vòng tròn, hai vòng tròn đồng tâm, vòng tròn có chấm, vòng tròn que, vòng tròn tiếp tuyến, răng lược, răng sói…

Chữ nòng vòng tròn và chữ nọc que là chữ cổ nhất của nhân loại có nguồn gốc nguyên khởi có thể do hình vẽ, do biểu tượng theo hình dạng của bộ phận sinh dục cái đực. Nòng là hình vòng tròn phát gốc từ hình dáng của lỗ sinh dục cái và nọc là hình que là hình dáng của bộ phận sinh dục đực (Việt ngữ nõ nường có nõ là nọc, cọc, que như đóng nõ mít và nường biến âm với nòng). Nguồn cội nguyên thủy của hai chữ nòng và nọc manh nha từ lúc con người nguyên thủy mới nhận thức ra giống phái, mới có khái niệm về giống phái, mới phân biệt được giống phái. Họ đã dùng những vạch, những dấu, hình diễn tả bộ phận sinh dục cái đực, hai phần quan trọng nhất trong cơ thể con người đối với người nguyên thủy vì chúng liên hệ với bản năng truyền giống, bản năng sinh tồn vốn đã có từ khi còn là loài vật. Sau đó những vạch những dấu, những hình nguyên sơ mang ý nghĩa của một biểu tượng ví dụ phái nam, đực như người hay thú vẽ hình người hay thú có hình nọc que giữa hai chân, phái nữ, cái vẽ có hình nòng vòng tròn, những thứ gì thuộc về cha, con trai vẽ thêm hình bộ phận sinh dục nam hình que bên cạnh và những gì thuộc về mẹ, con gái vẽ hình bộ phận sinh dục nữ hình cái lỗ vòng tròn bên cạnh (khởi đầu mang ý nghĩa biểu tượng). Theo dòng tiến hóa của con người những vạch, vẽ, dấu hình biểu tượng biến thành hai chữ viết nòng nọc căn bản diễn tả nõ nường, cái đực. Hình vẽ trở thành chữ. Khi con người có một đời sống tâm linh cao hơn hai chữ viết nòng nọc vòng tròn que trở thành hai chữ diễn tả cái đực, nõ nường, nòng nọc, âm dương, trở thành một thứ chữ căn bản của một tôn giáo cổ nhất của con người là Vũ Trụ giáo dựa trên cái đực, nòng nọc, âm dương, lưỡng hợp.

Ví dụ nòng là hình vòng tròn và nọc là hình que là dạng nguyên thủy vì phát gốc từ hình dáng của lỗ sinh dục đàn bà và hình bộ phận sinh dục đàn ông còn thấy rất nhiều qua hình ảnh ở các hình vẽ trên đá (petroglyphs) thời tiền sử và trong tín ngưỡng dựa trên lưỡng hợp nòng nọc, âm dương, thấy rõ nhất là qua hình tượng thờ tự linga-yoni của Ấn giáo có linga hình nõ cắm trên cái bệ yoni hình nòng tròn và thần Shiva có một khuôn mặt lưỡng tính, tay phải cầm linga hình nọc, tay trái cầm túi yoni tròn nòng, Shiva vừa là Thần bảo vệ (Protector) liên hệ với biểu tượng yoni nòng vòng tròn vừa là thần hủy diệt (destroyer) liên hệ với biểu tượng linga hình nõ nọc…

Lúc này nòng nọc có nghĩa tổng quát tương đương với hai từ Hán Việt âm dương (nòng nọc là hai từ nôm, thuần Việt trong khi âm dương là từ Hán Việt). Nòng-vòng tròn biểu tượng cho âm. Nọc-que biểu tượng cho dương. Chữ nòng nọc là chữ âm dương, chữ căn bản của Vũ Trụ giáo, của Dịch nòng nọc.

Xin lưu tâm là tôi dùng nhiều từ nôm nòng nọc hơn là hai từ Hán Việt âm dương vì như đã thấy nòng nọc diễn tả đích thực chữ viết nòng nọc có nguồn cội nguyên thủy dựa trên hình dáng của bộ phận sinh dục cái đực trong khi Hán Việt âm dương là hai từ bác học. Dương là mặt trời, âm là mặt trời bị che mất hay không có mặt trời, trở thành tối tăm như âm u, cõi âm…, âm dương phát gốc dựa vào sự hiện diện của mặt trời là hai từ xuất hiện muộn. Nhưng một điểm quan trọng nữa khiến tôi dùng từ nòng nọc thay cho từ âm dương là chữ viết nòng nọc còn ghi khắc lại trên trống đồng nòng nọc, âm dương. Trên trống đồng âm dương, tất cả các chữ, hình tượng đều ở dạng nòng nọc. Trống đồng là một bộ sách viết bằng chữ nòng nọc, là một quyển tự điển của chữ và hình tượng nòng nọc chuyên chính nhất, viết với một ngữ pháp chính thống, siêu đẳng. Trống đồng nòng nọc là một bộ Dịch nòng nọc bằng hình ảnh duy nhất của nhân loại. Người Đông Sơn nếu không muốn nói là cha đẻ ra chữ viết nòng nọc thì họ cũng là những bậc thầy, những sư phụ siêu việt về chữ nòng nọc, về Dịch nòng nọc. Trên trống đồng nòng nọc chữ và hình tượng nòng nọc còn giữ nguyên thể nòng nọc (vòng tròn que), trong khi Trung Hoa dùng que đứt đoạn và que liền diễn tả hào âm và hào dương. Văn hóa dựa trên âm dương của Trung Hoa là văn hóa muộn so với văn hóa nòng nọc như văn hóa Đông Sơn dựa trên nòng nọc nguyên thủy.

Chữ nòng nọc trở thành một thứ chữ của Vũ Trụ giáo dựa trên Vũ Trụ Tạo Sinh có nền móng là lưỡng hợp, nòng nọc, âm dương. Vì thế các chữ viết di duệ của chữ nòng nọc cũng tự nhận là chữ của thượng đế ví dụ hình ngữ Ai Cập gọi là chữ thiêng liêng, “linh tự” (hieroglyph), chữ Phạn là chữ của trời, Hán ngữ là chữ của thánh hiền…

Chữ nòng nọc gồm hai chữ cái là chữ NÒNG là vòng tròn O và chữ NỌC hình que I. Hai chữ này ghép lại hoặc biến dạng theo ngữ pháp nòng nọc ví dụ như để theo các chiều khác nhau, hoặc có phụ đề, có “các dấu” có thể viết được thành những chữ căn bản. Chữ nòng nọc ngày nay đã bị chôn vùi không còn ai biết nữa. Tuy nhiên dấu vết của chữ nòng nọc (vòng tròn-que) còn thấy trong nhiều chữ viết ngày nay. Tất cả các chữ viết hiện nay kể cả chữ viết theo mẫu tự ABC đều là con cháu di duệ của chữ nòng nọc. Di tích chữ nòng nọc còn thấy rõ nhất trong các loại chữ viết theo hình ngữ (pictograph), tượng hình như linh tự Ai Cập, chữ Hán cổ, chữ Maya, các biểu tượng của người Dogon (Mali, châu Phi) v.v…

Theo Andrew Robinson chủ yếu, theo nguyên tắc cằn bản thì cách chúng ta viết vào đầu thiên niên kỷ thứ 3 sau Tây Lịch không khác gì cách người Ai Cập cổ đã viết (Fundamentally, the way we write at the start of the third millennium AD is not different from the way that the ancient Egyptians wrote) (1). Mà linh tự Ai Cập cổ là di duệ của chữ viết nòng nọc thì cách chúng ta viết ngày nay cũng phải mang các dấu tích của ngữ pháp chữ viết nòng nọc. Ngay cả chữ viết vi tính hiện nay dựa trên 0 và 1 cũng chính là một hình thức tân tiến của chữ viết nòng O và nọc I.

Có nhiều người tò mò muốn biết tôi đọc chữ viết nòng nọc như thế nào? Để giúp độc giả nắm vững vấn đề hơn, xin nói qua cách tôi đọc chữ viết nòng nọc ra sao? Sau đây là một trong những cách tôi giải đọc chữ viết nòng nọc. Muốn đọc một chữ viết nòng nọc, ta phải mò tìm xem những hình giống chữ đó (hoa văn đó) hay tương tự như chữ đó thấy từ cổ chí kim, trong mọi nền văn hóa có mang một ý nghĩa nào? Sau đó ta rút ra lấy một ý nghĩa thích ứng mang tính phổ quát tức ý nghĩa đó thấy giống nhau trong càng nhiều nền văn hóa càng tốt. Chúng ta phải đi tìm những hình giống chữ đó từ thuở con người còn chui hang chưa có chữ viết nhưng đã biết vạch trên mặt đá những hình vẽ (petroglyph), rồi tới thời con người đã có chữ viết nhưng chữ viết cũng hãy còn ở dưới dạng những hình vẽ gọi là hình ngữ (pictogram) như linh tự (hieroglyph) của Ai Cập cổ, giáp cốt văn (viết trên mai rùa và xương thú vật) thấy ở Trung Hoa cổ và cận đại hơn, là chữ viết của Aztec, Maya, tiếp đến là tìm những biểu tượng trong các tôn giáo lớn ngày nay vì phần lớn các tôn giáo này là di duệ, con cháu hay liên hệ với Vũ Trụ giáo dựa trên nguyên lý lưỡng hợp nòng nọc, âm dương, Vũ Trụ giáo là một tôn giáo cổ nhất của nhân loại và cuối cùng là những hình ảnh thấy trong thời hiện đại, thời chúng ta đang sống.

Điểm cần lưu tâm là mọi khía cạnh của cuộc sống vật thể đều có một ý nghĩa biểu tượng và mọi biểu tượng đều có một nền móng vật thể. Biểu tượng là một thứ để diễn tả, làm tiêu biểu cho một cái gì khác qua sự liên tưởng hay đồng dạng. Biểu tượng mang một ý nghĩa riêng cho một nhóm người, một tộc ở vào một thời gian và không gian nào đó trong dòng lịch sử loài người. Ngay cả đối với các chủng tộc cùng nói một ngôn ngữ, sống cùng một thời, ý nghĩa của biểu tượng cũng thay đổi, cũng khác từ nơi này tới chỗ kia (2). Vì thế cùng một biểu tượng có thể có hai ý nghĩa biểu tượng khác nhau ỡ hai nền văn hóa khác nhau và ở hai thời điểm khác nhau ví dụ như biểu tượng cho sinh thực khí đối với người tiền cổ và trong vài tín ngưỡng có thể mang nghĩa sinh tạo, tạo hóa, thiêng liêng, thần linh nhưng đối với con người ngày nay có thể là tục tĩu, dâm dật, man rợ… Không bao giờ nhìn và hiểu biểu tượng ở thời đại khác bằng đầu óc của con người hiện đại, không bao giờ suy bụng ta ra bụng người. Phải hiểu biểu tượng bằng cách sống với đời sống của biểu tượng vào lúc sinh thời của biểu tượng. Biểu tượng nòng nọc, âm dương còn phức tạp hơn vì phải nhìn dưới lăng kính của Dịch lý, phải nhìn theo góc cạnh vô cực, nòng nọc, âm dương (lưỡng nghi), tứ tượng: dương của dương (thái dương), âm của dương (thiếu dương), âm của âm (thái âm), dương của âm (thiếu âm)… nòng nọc, âm dương khi thì mang nghĩa tương hợp, tương đồng khi thì mang nghĩa tương phản, đối nghịch. Điểm này giải thích tại sao trong các truyền thuyết về Vũ Trụ Tạo Sinh, sáng thế dựa trên lưỡng hợp nòng nọc, âm dương có những cặp anh em hay chị em ruột thịt lấy nhau làm vợ chồng. Anh em cùng máu mủ, mẹ cha mang khuôn mặt bản thể tương đồng còn vợ chồng mang khuôn mặt âm dương đối nghịch…

Nguyên tắc lưỡng hợp, nhị nguyên nền móng của Vũ Trụ Tạo Sinh, của Vũ Trụ giáo, của Dịch thấy bàng bạc trong mọi nền văn minh cổ, trong mọi tôn giáo lớn của loài người. Khắp năm châu bốn biển, chỗ nào cũng thấy dấu vết của quan niệm lưỡng hợp nòng nọc, âm dương (âm dương, Dịch.không phải là độc quyền của Trung Hoa). Thổ dân Úc châu có con rắn-đầu qui đầu mang tính lưỡng hợp âm dương. Thổ dân Mỹ châu cũng vậy, người Aztec có biểu tượng lưỡng hợp chim rắn như Rắn-Lông Chim Quetzal Coatl, ngày nay trên lá cờ Mexico còn thấy rõ con ó và con rắn, người Maya cũng có lưỡng hợp chim cúc cu-trăn Kukulcan (Kukul-là chim Cúc Cu và -can là chăn, trăn), người Navajo có hai loại nhà hogan đực và cái… Người Dogon, Mali, châu Phi có nhiều dấu và biểu tượng liên hệ với nòng nọc, âm dương như sự sắp đặt của một ngôi làng của họ thường theo hình Trứng Vũ Trụ, trong đó các ngôi nhà được sắp theo hình người, nhà của phái nam ở bên tay phải (dương) nhà của phái nữ ở phía bên tay trái (âm)… Ai Cập cũng có con rắn có hai khuôn mặt đực cái âm dương, cũng có vị thần Ra lưỡng tính phái, Horus, Thần Cả (Horus, the Elder, Harsiesis) có mắt phải là mặt trời (dương), mắt trái là mặt trăng (âm)… Ở châu Á, Trung Hoa có Chu Dịch, phong thủy dựa trên nòng nọc, âm dương. Ấn Độ có thần Brahma lưỡng tính phái, thần Shiva cũng có một khuôn mặt lưỡng tính phái tay phải cầm linga, tay trái cầm yoni. Phật giáo có Bồ tát Bodhisattva Avalokieshvara lưỡng tính phái, lúc đầu là một người nam sau trở thành Phật Bà Quán Thế Âm Bồ Tát, Phật giáo Tây Tạng có Bodhisattva Samanthabrada ôm một nhân vật nữ ở thế giao hợp ngồi, trên đầu có hình quả bầu mang tính lưỡng hợp, nhất thể. Việt Nam có trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á), có các vua tổ Hùng Vương sinh ra từ bọc Trứng mang hình ảnh Trứng Vũ Trụ, Thái Cực âm dương, chia ra làm hai ngành Lửa-Nước, Đất-Nước, Chim-Rắn, Tiên-Rồng… Ở châu Âu, Thiên Chúa giáo có ông Adam lưỡng tính phái nên thượng đế mới rút chiếc xương sườn cong mang âm tính của ông để tạo ra bà Eva…

……

Vì thế những hình tượng nòng nọc từ dưới dạng nguyên sơ cho tới dạng chữ viết nòng nọc thật sự thấy rải rác trong các nền văn minh cổ và các tôn giáo lớn của nhân loại. Phần lớn những chữ, hình tượng nòng nọc này ngày nay đã biến dạng không còn chính thống và được giải đọc một cách sai lệch, thường giải nghĩa theo một chiều, theo quan niệm, đầu óc của con người ngày nay theo duy dương, sống trong một xã hội phụ quyền cực đoan ngày nay.

Sự khai phá của tôi về chữ nòng nọc nói chung và chữ nòng nọc trên trống đồng âm dương Đông Sơn nói riêng sẽ mở ra một cánh cửa giúp cho các nhà nghiên cứu các nền văn minh cổ và các tôn giáo lớn của nhân loại. Các học giả thế giới hiện nay hiện đang nhìn các nền văn hóa cổ và các tôn giáo lớn hiện nay của nhân loại qua con mắt của một người chột mắt, chỉ nhìn theo một con mắt phải tức theo duy dương của con người sống trong xã hội phụ quyền cực đoan ngày nay. Xin hãy nghiên cứu các nền văn hóa cổ và các tôn giáo lớn hiện nay của nhân loại bằng cả hai con mắt trái và phải, nòng và nọc, âm và dương theo Dịch nòng nọc thì mới thấu triệt toàn vẹn và tránh khỏi trở thành những ông thầy bói sờ voi. Xin hãy dựa vào chữ nòng nọc, phần lớn còn thấy rõ trên trống đồng âm dương Đông Sơn mà giải đọc những hình tượng cổ của các nền văn minh cổ và của các tôn giáo lớn của loài người.

(còn tiếp).

Tài Liệu Tham Khảo

1. Andrew Robinson, The Story of Writing, Thames & Hudson Ltd, 2nd edition, 2007.

2. Gadalla Moustafa, Historical Deception, The Untold Story of Ancient Egypt, Bastet Publishing, Erie, Pa, USA/Cairo, Egypt, 1996.

Theme: Silver is the New Black. Blog at WordPress.com.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.