Bac Si Nguyen Xuan Quang’s Blog

July 29, 2011

THỤY ƠI VÀ TÌNH ƠI…

Filed under: Thụy Ơi và Tình Ơi! — Quang Nguyen @ 6:54 am

Thụy Ơi Và Tình Ơi! 

NHỮNG NGƯỜI CON MẮT ỐC NHỒI, CÓ TÀI ĐÁNH VỢ, ĐẬP NỒI ĐẬP NIÊU.

Nguyễn Xuân Quang

Ngồi nghe người ca sĩ hát bài Khúc Thụy Du thơ Du Tử Lê do Anh Bằng phổ nhạc, ‘méo mó’ nghề nghiệp, tôi chăm chú nhìn, người ca sĩ có đôi mắt sáng long lanh nhưng cổ không thấy phồng sưng. Không thấy có bướu cổ.

Không biết người mà nhà thơ Du Tử Lê hỏi rất nhiều Vì Sao trong bài thơ Khúc Thụy Du trả lời như thế nào, nhưng với danh nghĩa là bác sĩ, tôi xin giải đáp theo kiểu… thầy thuốc viết văn.

Những câu hỏi tại sao trên liên hệ đến một chứng bệnh do sự tăng hoạt của tuyến giáp trạng, danh từ y khoa gọi là hyperthyroidism, ở đây, tôi chỉ xin giới hạn vào văn chương thôi.

Tuyến giáp trạng là một tuyến nội tiết trông giống cái giáp, cái mộc, cái khiên, cái thuẫn (đi đôi với mâu) ở cổ tiết ra kích thích tố chính giúp tăng trưởng. Tuyến này khi hoạt động hăng quá tiết ra nhiều dạng chất sơ khởi của kích thích tố giáp trạng, tích lũy lại trong tuyến hay các tế bào tăng sinh, cả hai tạo ra bướu cổ. Người bị tuyến giáp không hoạt động đầy đủ cũng bị bướu cổ. Người bị bướu cổ do tăng hoạt thường đi kèm với chứng mắt lồi ra khỏi tròng, gọi chung là bướu cổ lộ nhãn. Kích thích tố giáp trạng là một loại kích thích tố tăng trưởng nên liên hệ mật thiết với sự biến dưỡng (metabolism). Người thiếu kích thích tố giáp trạng thường lên cân, có thể mất trí nhớ, rụng lông tóc, lúc nào cũng cảm thấy mệt mỏi, bần thần, trở ngại về giấc ngủ. Người thừa kích thích tố giáp trạng do tuyến tăng hoạt, ngược lại, mất cân, ốm nhom, dễ bị kích thích, kích động, nóng nẩy, bứt rứt, bồn chồn, lo âu, rối loạn về giấc ngủ, mắt bị kích thích, đàn ông bị suy dương, liệt dương, đàn bà kinh nguyệt ít, cả hai phái có thể bị hiếm hoi…

Người bị tuyến giáp trạng tăng hoạt còn có các triệu chứng lâm sàng khác mà, như đã nói ở trên, thi sĩ Du Tử Lêđã mô tả rất tài tình qua bài thơ đã được phổ nhạc có tên là Khúc Thụy Du:

Thụy ơi! và Tình ơi!
…..
Vì sao tay anh lạnh?
Vì sao môi anh nóng?
Vì sao thân anh run?
Vì sao chân không vững?
Vì sao? Và Vì sao?

Những câu hỏi Vì Sao ở trên đều có câu trả lời là do triệu chứng của chứng bệnh tăng hoạt tuyến giáp trạng:

-Vì sao tay anh lạnh?

Nhiều người bị tuyến giáp trạng tăng hoạt thường hay bị thiếu máu (anemia) nên tay chân lạnh. Tính tình hay thay đổi cũng có thể làm lạnh tay lạnh cẳng.

-Vì sao môi anh nóng?

Môi nóng, tai nóng là vì sự gia tăng biến dưỡng làm gia tăng nhiệt năng trong người, gia tăng thân nhiệt nên những chỗ da mỏng hay màng nhầy thường nóng. Những người này cũng không chịu được nóng (heat intolerance). Trời ấm đối với người khác thì những người này chịu không được phải xoay trần ra hay bật quạt máy, mở máy lạnh. Ngược lại, lúc trời lạnh trong khi người khác mặc áo lạnh dầy cộm, những người này chỉ phong phanh một cái áo mỏng… Sự tăng hoạt, tăng biến dưỡng làm tim tăng động (hyperdynamic) khiến gây ra chứng tim đập nhanh và cao áp huyết…

-Vì sao thân anh run?

Những người bị tuyến giáp trạng tăng hoạt thường bị chứng rung (tremor) nhất là tay. Bác sĩ khi khám thường bảo bệnh nhân đưa thẳng hai tay ra trước mặt và để lên bàn tay một tờ giấy. Nếu bị rung thì tờ giấy rung thấy rất rõ.

-Vì sao chân không vững?

Tất cả các triệu chứng trên như thiếu máu, rung, mất cân, mất ngủ, mau đói (thiếu lượng đường trong máu), tính tình hay thay đổi… kèm với chứng yếu các bắp thịt cận sát thân thể như ở vai, nhất là ở háng (proximal muscle weakness) có thể làm cho chân không vững.

-Vì sao? Và Vì sao?

Xin trả lời là tại vì bệnh tăng hoạt tuyến giáp trạng.

Ca dao tục ngữ Việt Nam cũng nói tới chứng bệnh này qua câu:

Những người con mắt ốc nhồi,
Có tài đánh vợ, đập nồi đập niêu.

Đây là câu ca dao coi tướng đàn ông, các anh chàng mắt ốc nhồi thường:

Có tài đánh vợ.

Tại sao đàn ông có con mắt ốc nhồi lại có tài đánh vợ? Xin thưa các anh chàng này bị chứng tuyến giáp tăng hoạt. Như đã nói ở trên, người bị chứng này có thể bị bướu cổ. Người bị bướu cổ do tăng hoạt thường đi kèm với chứng mắt rất sáng, lồi ra khỏi tròng mắt như mắt ốc nhồi. Mô mỡ sau tròng con mắt, trong ổ mắt tăng sinh thêm nên đẩy dần con mắt ra phía trước gây ra chứng mắt ốc nhồi. Vì có bướu cổ và mắt ốc nhồi đi kèm nên còn gọi là bệnh bướu cổ lộ nhỡn. Như đã nói ở trên, những người con mắt ốc nhồi do tăng hoạt tuyến giáp hay bị bứt rứt, dễ bị khích động, kích thích, mất ngủ, tim dễ bốc hỏa sinh ra chứng tim đập nhanh (tachycardia), cao áp huyết nên dễ trở thành võ phu nếu gặp phải hạng người không kềm chế được. Do đó “có tài đánh vợ”.

Lý do thứ hai là có tài “đập nồi đập niêu.”

Đập nồi đập niêu.

Tại sao đàn ông bị chứng tăng hoạt tuyến giáp lại hay đập nồi đập niêu? Xin thưa ngoài những lý do vừa kể trên, những người này hay mò nồi mò niêu. Thật vậy vì tăng biến dưỡng nên cần nhiều calorie, nói nôm na là phải ăn nhiều. Tục ngữ cũng có câu “gầy thầy cơm.” Câu này rất đúng với người bị tuyến giáp trạng tăng hoạt. Người bị chứng này ăn rất nhiều mà vẫn ốm nhom vì tăng biến dưỡng nên đốt rất nhiều calorie. Vì đốt nhiều calorie nên làm cho người lúc nào cũng nóng bức, chịu nhiệt không nổi… hay đói bụng nên xuống bếp mò nồi mò niêu. Nếu nồi niêu không có gì thì tiện tay đập luôn và đánh vợ vì vợ là người lo bếp nước, nấu ăn. Những người này nghi vợ không làm tròn bổn phận hay nghi là mình bị vợ bỏ đói! Đây là kinh nghiệm dân gian Việt Nam nhận thấy phái nữ mà lấy những người con mắt ốc nhồi (vì tuyến giáp trạng tăng hoạt) thì không những nuôi ăn đủ mệt, lại còn phải mua sắm nồi niêu thường xuyên, lại còn bị thượng cẳng chân hạ cẳng tay, đánh đập… như cơm bữa.

Nhưng điểm quan trọng nữa là những người có con mắt ốc nhồi vì tuyến giáp trạng tăng hoạt dễ bị liệt dương, yếu kém sinh lý và có thể bị hiếm muộn. Vì yếu kém sinh lý, những anh chàng này là những con “cò quăm” thường hay đánh vợ vì bất lực và vì ghen tương:

Con cò là con cò quăm
Mày hay đánh vợ mày nằm với ai.
Có đánh thì đánh sớm mai,
Đừng đánh chập tối, chẳng ai cho nằm.

Cò quăm là cò cong queo, không phải là loại cò cứng, Anh ngữ gọi là stork (stork biến âm với stiff, cứng). Cổ ngữ quăm biến âm với quắmkhoằm (mũi khoằm) có nghĩa là cong queo như con dao quắm.

Những người đàn bà lấy phải các ông chồng ‘cò quăm’ này thường ấm ức, than thân trách duyên số mình ‘khốn nạn’:

Con nhạn xanh chắp cánh bay chuyền,
Chồng em lẩy bẩy như Cao Biền dậy non.
Sớm có chồng, sao em muộn có con.
Hẩm duyên, xấu số, em còn đứng không.
Khốn nạn thay em ăn ở với chồng!

(xem Chồng Em Lẩy Bẩy Như Cao Biền Dậy Non).

Tóm lại nếu ai “hay hát” hay thấy mấy câu hát:

Vì sao tay anh lạnh?
Vì sao môi anh nóng?
Vì sao thân anh run?
Vì sao chân không vững?

hợp với thể xác và tâm thần mình quá thì xin đi tìm bác sĩ để thử máu tìm câu trả lời cho những câu hỏi “ sao và  sao?”

Nếu dự tính lấy chồng có con mắt ốc nhồi (không phải là bẩm sinh) thì nên khuyên người tình đi khám bác sĩ tìm bệnh và chữa cho hết bệnh để tránh cái “tài đánh vợ, đập nồi đập niêu,” tránh không phải than “Khốn nạn thay, em ăn ở với chồng!” và tránh cảnh không có con, tuyệt tự.

April 8, 2010

TRỐNG ĐỒNG LÀ TRỐNG NÒNG NỌC (1)

(Viết lại vì bị chồng  file)

TRỐNG ĐỒNG ĐẠI TỘC ĐÔNG SƠN LÀ TRỐNG NÒNG NỌC (kỳ 1)

(Bài nói chuyện trong buổi ra mắt sách Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á ngày 13 tháng 7 năm 2008 tại Little Saigon, Orange County, California, Hoa Kỳ).

Nguyễn Xuân Quang

NGỮ VỰNG

Đại tộc Đông Sơn

Trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn chỉ chung tất cả các trống đồng nòng nọc ở Đông Nam Á, tôi thêm hai từ đại tộc vào để phân biệt với cụm từ trống đồng Đông Sơn của các nhà khảo cổ học Việt Nam gọi riêng loại trống Heger I tức trống Nguyễn Xuân Quang VI vì loại này tìm thấy nhiều nhất ở Việt Nam. Cũng có khi tôi dùng các từ trống đồng nòng nọc liên bang Đông Sơn, liên bang Văn Lang hay trống vũ trụ Đông Sơn thay cho trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn.

*

(Bỏ bớt phần cám ơn ở đầu).

Kính thưa quí vị,

Hôm nay, quí vị tới đây chia xẻ với tôi một niềm vui mà tôi cho là một trong những hạnh phúc lớn trong đời tôi, đây là một ước mơ tôi đã ấp ủ gần 30 năm giờ đã thành sự thật, đó là hai tập sách ra mắt quí vị hôm nay viết về trống đồng nòng nọc Đông Nam Á.

Ngày rời quê hương, lưu lạc xứ người, tôi bỗng thấy mình là một kẻ lạc loài, trơ vơ giữa một xã hội xa lạ mà mỗi tộc đều có cái bản sắc riêng của họ và có cái căn cước riêng của họ, riêng mình thú thật tôi thấy mình sống dật giờ, trôi dạt vì chẳng biết cái căn cước đích thực của mình là gì? Việt là gì? nguồn cội Việt là gì? bản sắc Việt là gì? Những cái gọi là văn hóa Việt hiện nay không đủ giúp tôi tìm ra cái căn cước Việt đích thực của mình. Đây là động lực chính khiến tôi đi tìm nguồn gốc Việt, bản sắc Việt và căn cước Việt. Tôi đã đi tìm các tài liệu trong sách vở và viết ra quyển Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt, tôi gọi là Sử Sách. Tôi đã đi tìm các tài liệu trong văn chương truyền khẩu viết ra quyển thứ hai là Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt, tôi gọi là Sử Miệng. Qua hai bộ sử này, chúng ta đã thấy cốt lõi của văn hóa Việt, bản sắc, căn cước đích thực thuần Việt là Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ Giáo, Mặt Trời Giáo, là Dịch Nòng Nọc dựa trên nguyên lý lưỡng hợp nòng nọc, âm dương. Tác phẩm ra mắt hôm nay dựa trên khảo cổ vật trống đồng Đông Sơn là quyển Sử Đồng. Bộ sử đồng Đông Sơn này sẽ bổ túc và khẳng định là cốt lõi của văn hóa Việt, bản sắc, căn cước đích thực thuần Việt đúng như đã nói ở trên. Bộ sử đồng Đông Sơn này chính thống, đáng tin và thuyết phục nhất vì cốt lõi văn hóa Việt từ hơn hai ngàn năm trước đã khắc ghi lại trên đồng vẫn còn tinh ròng, nguyên si không bị những thiên tai và nhân tai làm biến đổi, sai lạc đi.

Kính thưa quí vị,

Trong công cuộc nghiên cứu trống đồng nòng nọc, âm dương Đông Sơn, một giây phút thiêng liêng nọ, trong một đêm thanh vắng kia, ngồi chong đèn trước những tấm hình trống đồng, trong lúc mơ màng, nửa tỉnh nửa mơ, khí thiêng sông núi Việt, hồn Việt, anh linh cổ Việt đã khiến tôi thấy những chiếc trống đồng rung chuyển, tôi bỗng nghe thấy tiếng trống đồng âm vang từ ngàn xưa vọng về. Tiếng trống trầm bổng vang dội trong trời đất. Những tiếng trong, tiếng đục nhịp nhàng mang âm hưởng của hai tiếng “nòng nọc”, “nòng nọc”, “nòng nọc”. Người cổ Việt Đông Sơn đã nói cho tôi câu thần chú để mở ra kho tàng vô giá trống đồng Đông Sơn. Đó là những tiếng “Nòng Nọc”, “Nòng Nọc”, “Nòng Nọc”.

Quí vị có mặt trong buổi ra mắt sách hôm nay, quí vị quả là những người đầy tâm huyết với nền văn hóa trống đồng siêu đẳng, huy hoàng của đại tộc Đông Sơn, với cội nguồn Việt, với văn hóa Việt. Qua tác phẩm này, tôi xin trao lại câu thần chú, cái Chìa Khóa mở kho tàng vô giá trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn cho quí vị và cho cả những quí vị không có mặt hôm nay nhưng cũng có cùng một tấm lòng như thế. Xin hãy phát huy di sản trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn vô giá này cho con cháu chúng ta và khơi sống dậy tiếng trống đồng của đại tộc Đông Sơn cho vang dội khắp năm châu bốn biển trở lại.

Cái mấu chốt là “Trống Đồng đại tộc Đông Sơn là Trống Nòng Nọc”. Cái chìa khóa để mở ra kho tàng trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn là Chữ Viết Nòng Nọc.

Kính thưa quí vị,

Trước hết xin nói qua thuật ngữ “nòng nọc” do tôi đặt ra. Nòng nọc có nghĩa tổng quát tương đương với hai từ Hán Việt âm dương. Tôi dùng từ nòng nọc vì nhìều lý do:

.Trống đồng hở đáy là trống nòng nọc.

.Trên trống đồng nòng nọc, âm dương, những đường nét, hình vẽ thường gọi là “hoa văn” là một thứ chữ viết nòng nọc và các biểu tượng đều được diễn tả theo ngữ pháp (văn phạm) của chữ viết nòng nọc và theo Việt Dịch nòng nọc.

.Nòng nọc là hai từ nôm, thuần Việt trong khi âm dương là từ Hán Việt.

.Nòng nọc là hình nòng vòng tròn và hình nọc que là dạng nguyên thủy vì phát gốc từ hình dáng của bộ phận sinh dục đàn bà và đàn ông như còn thấy qua hình ảnh ở các hình vẽ trên đá thời tiền sử và qua hình tượng thờ tự linga-yoni của Ấn giáo.

Trong khi Hán Việt âm dương là hai từ bác học, dương là mặt trời, âm là mặt trời bị che mất hay không có mặt trời, trở thành tối tăm như âm u, cõi âm… âm dương phát gốc từ mặt trời là hai từ xuất hiện muộn. Văn hóa dựa trên âm dương của Trung Hoa là văn hóa muộn so với văn hóa Đông Sơn dựa trên nòng nọc nguyên thủy.

.Con nòng nọc là con có thân hình vòng tròn và đuôi hình nọc. Chữ viết nòng nọc là một thứ chữ viết cổ nhất của nhân loại chỉ gồm có hai chữ cái là chữ Nòng vòng tròn O chỉ âm (theo biến âm n=v như níu = víu, ta có nòng = vòng) và chữ Nọc hình que chỉ dương.

Kính thưa quí vị,

Chữ viết nòng nọc là cái chìa khóa để mở kho tàng trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. Đọc được chữ viết nòng nọc là giải đọc được trống đồng nòng nọc, âm dương.

Vậy thì hôm nay, trong một khoảng thời gian hạn hẹp này, xin mời quí vị cùng tôi thử đọc một hai chữ viết nòng nọc đơn giản trên trống đồng đại tộc Đông Sơn của đại tộc Việt.

A. Chữ ba vòng tròn

Kính thưa quí vị,

Đây là mảnh của một mặt trống đồng được đào tìm thấy ở huyện Đông Anh, xã Cổ Loa, thuộc vùng ngoại ô Hà Nội và được đặt tên là trống Cổ Loa II (vùng Cổ Loa đào được hai trống I và II).

Trống Cổ Loa II.

Trên mặt mảnh trống này có hình ba vòng tròn đồng tâm mà các nhà khảo cổ học gọi là “hoa văn ba vòng tròn đồng tâm”. Đây chính là một chữ nòng ba vòng tròn trong hệ thống chữ viết nòng nọc. Như thế hình ba vòng tròn trên trống đồng nòng nọc, âm dương Cổ Loa II có nghĩa gốc là nòng âm. Đây là một từ thuần nòng, thuần âm (không có nọc) nên ta chỉ lấy theo nghĩa của ngành nòng hoặc là nòng dương (thiếu âm, khí gió) hay nòng âm (thái âm, nước).

Bây giờ xin mời quí vị cùng tôi giải đọc chữ ba vòng tròn đồng tâm này để xem

có nghĩa là gì. Có hai cách đọc:

-cách thứ nhất: coi vòng tròn nhỏ tí hon ở tâm là một vòng tròn tương đương với hai vòng còn lại tức là “ba vòng tròn đồng tâm”.

-cách thứ hai: coi vòng tròn tí hon ở tâm là một cái dấu (marker, accent) giống như dấu nặng, huyền, hỏi, ngã trong chữ quốc ngữ hiện nay. Dấu này cho biết là nòng, âm hay nòng âm mang tính chủ yếu. Từ nòng này (“hoa văn” này) đích thực chỉ có hai chữ nòng O tức là hai vòng tròn đồng tâm và một cái dấu nòng.

1. Bây giờ xin giải đọc theo ba vòng tròn đồng tâm:

Kính thưa quí vị,

Có nhiều người tò mò muốn biết tôi đọc chữ viết nòng nọc như thế nào? Để giúp quí vị nắm vững vấn đề hơn, xin nói qua cách đọc chữ viết nòng nọc như thế nào? Sau đây là một trong những cách tôi giải đọc chữ viết nòng nọc trên trống đồng âm dương. Muốn đọc một chữ viết nòng nọc trên trống đồng nòng nọc, ta phải mò tìm xem những hình giống chữ đó (hoa văn đó) hay tương tự như chữ đó thấy từ cổ chí kim có mang một ý nghĩa nào? Sau đó ta rút ra lấy một ý nghĩa thích ứng. Chúng ta phải đi tìm những hình giống chữ đó từ thuở con người còn chui hang chưa có chữ viết nhưng đã biết vạch trên mặt đá những hình vẽ (petroglyph), rồi tới thời con người đã có chữ viết nhưng chữ viết cũng hãy còn ở dưới dạng những hình vẽ gọi là hình ngữ (pictogram) như linh tự (hieroglyph) của Ai Cập cổ, giáp cốt văn (viết trên mai rùa và xương thú vật) thấy ở Trung Hoa cổ và cận đại hơn, là chữ viết của Aztec, Maya, tiếp đến là tìm những biểu tượng trong các tôn giáo lớn ngày nay vì phần lớn các tôn giáo này là di duệ, con cháu hay liên hệ với Vũ Trụ giáo dựa trên nguyên lý lưỡng hợp nòng nọc, âm dương, một tôn giáo cổ nhất của nhân loại và cuối cùng là những hình ảnh thấy trong thời hiện đại, thời chúng ta đang sống.

Nào! Chúng ta hãy khởi sự tìm cách đọc chữ ba vòng tròn đồng tâm.

Xin mời quí vị cùng tôi khởi đi từ thời tiền sử. Chúng ta hãy đi tìm trong các hang động, trên mặt đá những hình ba vòng tròn xem chúng mang một ý nghĩa gì? Xin mời tới Mường Hoa, ở thượng du Bắc Việt, ở đây có một hình người có ba vòng tròn ở giữa hai chân.

Hình người có ba vòng tròn giữa hai chân ở Mường Hoa.

Các nhà khảo cổ học Việt Nam hiện nay gọi hình người này là thần. Thần thường chỉ các bậc siêu phàm ở Cõi Trên, liên hệ với tạo hóa, vũ trụ, với không gian, mặt trời. Tại thung lũng Val Camonica thuộc vùng núi Alps của Ý cũng tìm thấy một hình người giữa hai chân có một vòng tròn trong có một chữ thập được cho là người mặt trời hay Thần Mặt Trời.

Người mặt trời hay Thần mặt trời tại thung lũng Val Camonica, Italian Alps (Madanjeet Singh, f.81).

W.T. Olcott trong Myths of the Sun trích dẫn lại rằng giáo sư Worsaal xác nhận vòng tròn có chữ thập bên trong là biểu tượng mặt trời thuộc thời đồ đá muộn (later stone age) của vùng Scandinavia và đây cũng là biểu tượng mặt trời Chaldean. Ta thấy rất rõ là vòng tròn biểu tượng cho mặt trời. Chữ thập bên trong là do hai que nọc (II) để chồng lên nhau. Hai que nọc là hai que dùng làm dùi để tạo ra lửa. Hai que nọc là hai dương, thái dương. Vòng tròn lửa, thái dương là mặt trời. Ngày nay chúng ta dùng hình chữ thập làm dấu cộng cũng có một nghĩa là dương như phản ứng cộng là phản ứng dương (phản ứng trừ là phản ứng âm).

Đối chiếu người mặt trời lửa này với hình vị thần ở Mường Hoa, ta thấy các nhà khảo cổ học Việt Nam rất chí lý khi cho đây là một vị thần. Ba vòng tròn ở giữa hai chân người này mang một ý nghĩa tạo hóa, vũ trụ, mặt trời, không gian. Vị thần Mường Hoa có thể là người không gian hay người mặt trời âm, mặt trời nước hay ít ra cũng liên hệ với vũ trụ. Xin lưu ý là bộ phận sinh dục của vị thần Mường Hoa này không thấy rõ, như thế có thể ít nhất 50% vị thần này là phái nữ thuộc dòng nòng âm. Hình ba vòng tròn ít nhất 50% mang âm tính, mặt trời nòng, không gian. Trong khi đó, mặt trời chữ thập ta biết rõ trăm phần trăm là mặt trời lửa, mặt trời nọc, mặt trời dương vì nó dính vào bộ phận sinh dục nam và tay người này cầm cây lao, một thứ nọc (nhọn).

Ở đây xin bước ra ngoài lề một chút. Ta thấy từ Việt có nghĩa là vật nhọn tức là NỌC : Việt biến âm với vớt là con dao dài, với vót là que (làm cho) nhọn, với viết là vật nhọn để vạch, vẽ và theo Hán Việt, Việt là rìu cũng là một thứ vật nhọn. Trong chữ Việt có bộ qua, một thứ khí giới cán dài họ hàng với cây lao (que nhọn). Qua biến âm với que. Cây lao, cây qua cầm ở tay người mặt trời nọc Val Camonica này mang hình bóng Việt. Nọc, vật nhọn là đực (heo nọc là heo đực), là dương, là mặt trời. Vật nhọn là biểu tượng của mặt trời vì thế mà người mặt trời này cầm cây lao. Như thế ta thấy rất rõ Việt là vật nhọn, Việt là mặt trời. Người Việt là người mặt trời nọc, dương thái dương. Hùng Vương có Hùng có một nghĩa là Đực như thư hùngsống mái (một trận thư hùng là một trận sống mái). Hùng Vương là Vua Đực, Vua Nọc [nên mới có tên là Lang (là chàng, chàng cũng có thêm nghĩa nữa là đục chisel, một vật nhọn) và bọc trứng vũ trụ nở ra toàn con trai], là vua mặt trời Nọc, là vua mặt trời thái dương. Hình ảnh Thần mặt trời Val Camonica này có thể tương đương với “tên” cổ sơ diễn tả bằng hình vẽ trên đá của vua tổ Việt chúng ta thời tiền sử mà sau này các nhà nho “chuyển ngữ” qua chữ thánh hiền thành tên Hùng Vương.

Xin bước trở vào lại con đường đang đi của chúng ta.

Tại một hang động ở đảo Kei, Nam Dương có một hình khắc trên đá diễn tả mặt trời ba vòng tròn đồng tâm nằm trong bộ phận sinh dục nữ.

Hình vạch trên đá tại hang động Dudumahan ở đảo Kei, Nam Dương (Madanjeet, The Sun, Symbol of Power and Life, f. 313).

Các nhà nghiên cứu biết rõ hình ba vòng tròn đồng tâm trong bộ phận sinh dục nữ này là một hình mặt trời vì hình vẽ này vẽ trong các cảnh thờ phượng mặt trời cùng chung với những loại mặt trời khác. Hiển nhiên đây là hình mặt trời nữ. Có người trong chúng ta ngày nay cho đây là một cách diễn tả tục tĩu và không tin đây là mặt trời nữ. Nhưng nếu ta đối chiếu với hình mặt trời chữ thập dính vào bộ phận sinh dục nam ở thung lũng Camonica ở trên thì ta có thể tin đây là mặt trời nữ. Người tiền sử chưa có chữ viết, nên chưa có các qui tắc ngữ pháp về giống đực giống cái, nòng nọc nên khi chỉ một thứ gì thuộc về phía nọc, đực, đàn ông thì chỉ việc vẽ thêm vào đó hình bộ phận đàn ông và để chỉ một thứ gì thuộc về phía nòng, cái, đàn bà thì vẽ thêm vào bộ phận sinh dục đàn bà. Ở đây để chỉ mặt trời đàn bà họ chỉ cần vẽ mặt trời nằm trong bộ phân sinh dục đàn bà. Nhìn thấy bộ giống ai cũng biết ngay là cái đực, nòng nọc, âm dương khỏi phải viết “la, le” để phân biệt giống cái, giống đực thật là rắc rối như các ông Tây Bà Đầm ngày nay. Xuôi dòng thời gian bộ phận sinh dục đàn bà và đàn ông vẽ giản tiện lại thành hình cái lỗ vòng tròn Nòng và cây que Nọc. Thế là hai chữ nòng nọc khai sinh ra đời. Chứng tích là ta còn thấy vòng tròn nhỏ và cây que nọc dùng làm dấu (marker, accent) để chỉ nòng nọc, cái đực, âm dương trên trống đồng nòng nọc, âm dương (xin mời đọc chương Chữ Nòng Nọc Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á trong tác phẩm này).

Tiếp đến, bây giờ chúng ta hãy bước vào thời con người có chữ viết nhưng chữ viết hãy còn là những hình ảnh gọi là hình ngữ. Trong các hình ngữ Ai Cập cổ có linh tự (hieroglyph) Nut có nghĩa là sky (bầu trời) được diễn tả bằng một hình khung trời hình vung úp xuống trên có để ba cái bình tròn.

Hình ngữ Nut (sky).

Ba chiếc bình là ba vật đựng biểu tượng cho nòng, âm, là ba nòng, ba âm. Ba bình tròn này là hình ảnh của ba nòng vòng tròn và là ba bình đựng nước. Tại sao tôi biết rõ đây là ba bình đựng nước? Trước hết xin thưa, ở trên trời chỉ có mây và nước mưa. Thứ đến là người Ai Cập cổ thờ mặt trời nhưng là mặt trời đĩa tròn không có tia sáng hình nọc nhọn bắn ra, nghĩa là mặt trời âm dòng nòng, dòng nước, không gian, Khôn (giống như mặt trời âm hình đĩa tròn trên lá cờ Nhật, con cháu của Thái Dương Thần Nữ Amaterasu). Thật vậy, người Ai Cập cổ quan niệm nguyên thủy vũ trụ là một cái biển gọi là Biển Vũ Trụ Nun, trên đó hàng ngày mặt trời đi từ Đông sang Tây bằng thuyền gọi là thuyền mặt trời (solar barque). Mặt trời Ai Cập cổ thuộc dòng nòng, nước nên đi đò. Trong khi đó người Trung Hoa cổ là dân võ biền, giỏi cưỡi ngựa nên thần mặt trời Trung Hoa là mặt trời nọc, dương, hàng ngày cưỡi xe ngựa đi từ Đông sang Tây. Vì là biển vũ trụ nên bầu vũ trụ là bầu vũ trụ nước, bầu trời là bầu trời nước. Nước mang âm tính. Như thế ba chiếc bình nước là ba âm thuộc dòng nước. Ba vòng tròn trong Ai Cập cổ có một nghĩa là nòng âm nước, không gian, vũ trụ nước tức là ba âm, một khuôn mặt của Khôn âm, nước.

Bây giờ ta bước vào nền văn hóa Trung Hoa có chữ viết cũng là một thứ chữ có nhiều chữ cổ tượng hình, một thứ hình ngữ. Trong Hán tự có bộ thủy có nghĩa là bộ nước.

Bộ thủy

Chữ Hán nào viết với bộ thủy đều có gốc nghĩa là nước hay liên hệ với nước. Ta thấy rõ bộ thủy là thể biến dạng của ba giọt nước hình tròn.

Tiếp đến là trong Dịch nòng nọc, hào âm còn viết dưới dạng là vòng tròn, quẻ Khôn là ba nòng OOO. Khôn dương là khí gió, Khôn âm là nước vũ trụ. Khôn âm là nước vũ trụ thấy rất rõ qua truyền thuyết và cổ sử Việt. Vua tổ của chúng ta ở cõi trời là Đế Minh tức Đế Ánh Sáng mặt trời, là cháu ba đời của Thần mặt trời Viêm Đế. Ánh sáng là lửa vũ trụ là Càn được biểu tượng bằng ba nọc que (III). Linh tự ánh sáng của Ai Cập cổ là hình ngữ vẽ hình mặt trời tròn có ba tia sáng nọc que (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Thần Mặt Trời Viêm Đế là mặt trời Nọc (I) và Đế Minh là cháu ba đời của Thần Mặt Trời Viêm Đế nên ba đời là ba nọc III, tức quẻ Càn, lửa vũ trụ. Đế Minh có vợ là Vụ Tiên. Tiên là người đẹp ở cõi trời. Vụ là con chim le le (tiên ở cõi trời nên được biểu tượng bằng chim) là một loài chim nước, vịt trời (Thương chồng nấu cháo le le…, ca dao). Le có nghĩa là nước, qua từ láy lỏng le, ta có le = lỏng. Ta cũng nói chua le, chua lè, chua lét có nghĩa là chua chẩy ra nước. Nước gì ? Chua chẩy ra nước dãi và xin lỗi quí vị, chua vãi đái ra quần (tại sao chua lại vãi đái ra quần? xin thưa, ăn chua rùng mình khiến hơi trong bụng ép xuống bọng tiểu làm vãi nước ra quần). Le le nói theo âm cổ là ne ne (ngày nay ở Miền Bắc Việt Nam, một vài vùng vẫn nói là con ne ne). Hawaii có chim biểu tượng của tiểu bang (state bird) mình là con ngỗng trời ne ne. Vịt trời le le và ngỗng trời ne ne ruột thịt với nhau. Vịt trời Vụ Tiên Le Le bay ra tới tận vùng trời Hawaii. Như thế Vụ Tiên là Khôn âm (ba nòng OOO) có một khuôn mặt là nước vũ trụ. Chồng lửa vũ trụ Càn hôn phối với vợ nước vũ trụ Khôn. Cũng xin nói thêm một chút nữa ở đây là chỉ có Dịch còn viết bằng chữ viết nòng nọc với hào âm là nòng O thì quẻ Khôn âm mới có hình ba giọt nước OOO âm trong khi Dịch Trung Hoa Khôn được diễn tả bằng ba hào âm bằng hình ba que đứt đoạn. Que đứt đoạn không còn mang hình ảnh giọt nước âm hình tròn nòng và đã mang hình ảnh que nọc đứt đoạn tức đã dương hóa. Dịch Trung Hoa là Dịch dương hóa có vào thời phụ quyền cực đoan tức đã muộn. Xã hội con người khởi thủy từ mẫu quyền Nòng rồi mới chuyển qua phụ quyền Nọc. Dịch với chữ viết nòng nọc trên trống đồng của đại tộc Đông Sơn là Dịch nguyên thủy và cổ sơ hơn.

Cuối cùng là ngày nay có hình ba vòng tròn đồng tâm diễn tả ba vòng tròn lan tỏa (nước, làn sóng âm thanh).

Đây là hình ảnh khi ta lấy một hòn đá ném xuống mặt nước, ta sẽ có những vòng tròn lan tỏa.

Tóm lại ta thấy rất rõ hình ba vòng tròn đồng tâm hay là chữ nòng ba vòng tròn đồng tâm trên trống Cổ Loa II liên hệ với Thần mặt trời dòng nòng âm, không gian ba vòng tròn ở Mường Hoa, với linh tự bầu trời nước Nut của Ai Cập cổ, với bộ thủy nước của Hán ngữ, với quẻ Khôn âm nước vũ trụ của Dịch nòng nọc, với ba vòng tròn lan tỏa có nghĩa gốc là ba vòng tròn lan tỏa trên mặt nước. Trống Cổ Loa II liên hệ với nước, nước vũ trụ, nước từ bầu trời (tức mưa), nòng Khôn.

2. Giải đọc theo hai vòng tròn đồng tâm và dấu âm vòng tròn tí hon:

Bây giờ ta coi vòng tròn tí hon ở tâm chỉ là một cái dấu cho biết âm mang tính chủ, thuộc ngành ngoại, mẹ của phía nòng âm. Ta chỉ đọc theo hai vòng tròn OO. Hai vòng tròn là hai nòng, hai âm tức thái âm, cũng có một nghĩa là nước.

Vắn tắt xin đưa ra một ví dụ điển hình là vị Thần Mưa Chac của Maya. Vị này có một cái mũi hết sức kỳ dị không giống ai, trên mũi có những chữ ba vòng tròn đồng tâm giống hệt như trên trống Cổ Loa II.

Thần Mưa Chac của Maya.

Hàng triệu người dân Maya, các nhà khảo cứu Maya đều công nhận Thần Chac là Thần Mưa của Maya, vậy thì hình ba vòng tròn đồng tâm trên mũi vị Thần Mưa Chac này bắt buộc phải có nghĩa liên hệ với mưa. Ý nghĩa này ăn khớp trăm phần trăm với ý nghĩa chúng ta vừa đọc theo ba vòng tròn đồng tâm. Hình ba vòng tròn đồng tâm trên mũi vị thần này cũng là một chữ nòng trong chữ viết nòng nọc.

Trở lại với hình mặt trời nòng trong bộ phận sinh dục nữ ở đảo Kei, ta cũng có thể đọc theo hai vòng tròn đồng tâm và dấu nòng o. Hai vòng tròn là hai âm, thái âm có một nghĩa theo duy âm là nữ, nước. Dấu tí hon o cho biết âm mang tính chủ thì hiển nhiên hai vòng tròn này mang âm tính chủ có nghĩa là âm, nước và hiển nhiên đi với bộ phận sinh dục nữ thì trăm phần trăm phải mang âm tính chủ.

Như thế đọc theo hai vòng tròn đồng tâm và dấu âm vòng tròn tí hon cũng cho thấy chữ nòng trên trống Cổ Loa II có nghĩa là nước, là mưa. Trống Cổ Loa II liên hệ với nước, nước vũ trụ, nước từ bầu trời (tức mưa), nòng Khôn.

Trống Cổ Loa II là trống mưa, thuộc dòng Nước.

Bây giờ tới giai đoạn kiểm chứng.

Tôi nghiên cứu chữ viết nòng nọc cũng giống như làm một khảo cứu y học, đều phải kiểm chứng qua, kiểm chứng lại, kiểm chứng xuôi, kiểm chứng ngược, kiểm chứng ngửa, kiểm chứng sấp…

Kiểm chứng với truyền thuyết và cổ sử Việt.

Trống này đào được ở vùng Cổ Loa. Theo truyền thuyết Việt, An Dương Vương xây thành Cổ Loa, xây mãi mà không được. Về sau nhờ có Thần Rùa Vàng Kim Qui giúp mới xây được. An Dương Vương có An là Êm Dịu, Dương là mặt trời và Vương là Vua. An Dương Vương là Vua Mặt Trời Êm Dịu tức thuộc về dòng mặt trời mang âm tính, dòng nòng, âm, nước. Con Rùa Vàng là hình bóng của Lạc Long Quân vì thế mà khi giúp An Dương Vương xây thành xong, con Rùa Vàng trở về biển. Lạc Long Quân có một khuôn mặt là Thần Biển nên mới dắt năm mươi con xuống biển và có thủy phủ ở vịnh Hạ Long. An Dương Vương là Vua Mặt Trời Êm Dịu dòng Mặt Trời Nước Lạc Long Quân. Như thế truyền thuyết và cổ sử Việt cũng cho thấy trống Cổ Loa II thuộc ngành nòng Mặt Trời Êm Dịu An Dương Vương, dòng nước, Mặt Trời Nước Lạc Long Quân.

Bây giờ có một vị nào đó cho rằng đây chỉ là truyền thuyết nếu có tin thì cũng chỉ tin chút ít thôi. Nếu vậy, tôi xin mời quí vị về thăm phế tích thành Cổ Loa ở ngoại ô Hà Nội. Phế tích Cổ Loa là một di tích lịch sử có thể nhìn thấy và sờ thấy được.

Thành Cổ Loa (nguồn Wikipedia)

Thành Cổ Loa có hai vòng thành hình tròn bao bọc bên ngoài. Rõ như dưới ánh sáng mặt trời hai vòng tròn là hai nòng, là thái âm, có một khuôn mặt âm là nước. Thành Cổ Loa là của dòng nòng thái âm, nước Mặt Trời Êm Dịu An Dương Vương, là kinh đô của Âu-Lạc. Vòng thành lớn ở ngoài cùng có đường kính là 8 km. Chúng ta không biết người thời An Dương Vương dùng đơn vị chiều dài là gì nhưng số 8 là số Khôn tầng 2, Khôn thế gian (Dịch có 64 quẻ chia ra làm tám chuỗi hay tám tầng, tức mỗi chuỗi, mỗi tầng có 8 quẻ. Các quẻ cách nhau tám quẻ đề cùng tên và theo Dịch có cùng trị số, chỉ khác ở các tầng ứng với các tầng của Vũ Trụ Tạo Sinh. Như thế ta có 0, 8, 16, 24, 32… đều là những què Khôn, đều có trị số như nhau: 0 = 8 = 16 = 24 = 32… S ố 8 = 0, là số không, là hư vô, không gian. Ta cũng thấy rất rõ là 0 = 32 đúng y như thấy trong nhiệt học 0 độ Celcius = 32 độ Farenheit). Vòng thành lớn với đường kính là số 8 cho thấy thành Cổ Loa là thành Khôn tầng 2, thế gian tức liên hệ với Vua nòng Khôn thế gian (tức lịch sử) An Dương Vương.

Ở đây cũng cho thấy trống đồng nòng nọc, âm dương đào được ở Cổ Loa cũng có thể cho biết trống là tộc biểu của dân vùng đó và trống đồng nòng nọc là một chứng tích của truyền thuyết và cổ sử Việt. Điểm này cũng thấy đúng với trống Cổ Loa I là trống cũng đào được ở Cổ Loa, trống có mặt trời 14 nọc tia sáng tức trống Đoài tức Gió dương, Khôn dương. Trống Cổ Loa I có một vành chim bay có 16 con cò bay. Ta thấy rõ số 16 là số Khôn tầng 3. Như thế cả hai trống Cổ Loa I và II đều liên hệ với Nòng Khôn (xem Giải đọc trống Cổ Loa I). Điểm này cũng cho thấy trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn là trống của người bản địa, không phải từ Trung Hoa hay từ một nơi nào khác đến.

Kiểm chứng với Maya:

Ta hãy kiểm chứng thêm một lần nữa cho chắc ăn. Như đã thấy trên mũi vị Thần Mưa Chac của Maya có chữ nòng ba vòng tròn đồng tâm giống in hệt như chữ ở trên trống đồng nòng nọc, âm dương Cổ Loa II. Như thế giữa Maya và tộc An Dương Vương , Âu Lạc có liên hệ với nhau? Câu trả lời là có. Nếu tôi nhớ không lầm, giáo sư Kim Định cho rằng Maya là một thứ Bộc Việt. Bộc biến âm với bọc là bao, túi, nang, nòng. Maya là một tộc thuộc dòng Nòng Khôn giống như An Dương Vương. Nhà văn Bình Nguyên Lộc cho rằng tiếng Maya là tiếng Hùng Vương đợt II. Đúng hơn, phải nói là tiếng Maya là tiếng An Dương Vương, Âu Lạc. Hùng Vương đợt II là thời Hùng Vương suy tàn, có thể đã là thời khởi đầu của An Dương Vương. Tôi, Nguyễn Xuân Quang, trong Tiếng Việt Huyền Diệu, đã chứng minh là Đức Chúa Jesus Nói Tiếng Việt và một học giả nổi tiếng của Guatemala là ông Antonio Batres Jaurequi cũng đã chứng minh là Đức Chúa Jesus nói tiếng Maya. Rõ như hai năm là mười, Maya và Việt liên hệ với nhau. Tiếng Việt và Maya liên hệ với nhau và chẳng cần tìm kiếm ở đâu xa, sự liên hệ này thấy rất rõ qua tên Maya. Theo các nhà Maya học, Maya có nghĩa là “not many” (không có bao nhiêu). Ta thấy Maya = Việt ngữ Mấy (không có bao nhiêu như mấy hơi, mấy sức, sức mấy) và Maya có Ma-, tiếng Maya Ma có nghĩa là Mẹ, chính là Việt ngữ Mạ, . Hiển nhiên Maya là “Not Many”, là Không Có Bao Nhiêu, Không Có Gì, là Zero, là 0, là Không, là Khôn tức Nòng O. Maya thuộc dòng Nòng, Khôn. Nòng Khôn Maya liên hệ với Nòng Khôn Âu Lạc An Dương Vương là chuyện cũng dễ hiểu vì các thổ dân Mỹ châu từ đâu tới Tân Thế Giới? Họ đến từ vùng duyên hải Đông Nam Á, Á châu. Văn hóa Maya có nét đặc thù là hai vòng tròn đồng tâm tức hai nòng, hai âm, thái âm, Khôn âm. Các kiến trúc của Maya đều có hình hai vòng tròn đồng tâm.

Ảnh chụp tại Chichen Itzá gần Cancun, Mexico cho thấy kiến trúc Maya có hai vòng tròn đồng tâm.

Vật tổ chính của Maya là con rắn Kucucan cuộn lại thành vòng tròn mang hình ảnh hai vòng tròn đồng tâm.

Vật tổ Kucucan của Maya.


Trò chơi bóng của Maya dùng thân người hất quả bóng vào cái vòng có hình vật tổ Kucucan.

Từ Kucucan chính là một từ Việt ngữ. Kucu- là chim cúc cu, là chim tu hú, loài chim biết hú biểu tượng cho gió như thấy qua bài đồng dao Bổ Nông là ông Bồ Cắt (Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt). Còn -can đọc thêm hơi vào là Chăn tức con Trăn (người dân một vài nơi ở miền Bắc Việt Nam ngày nay vẫn nói là con Chăn). Kucucan là Trăn-Tu hú gồm hai tộc là tộc Gió Tu H ú (thiếu âm tức Khôn dương) và tộc Nước Trăn (thái âm tức Khôn âm). Rõ như ban ngày Maya thuộc dòng Khôn, Không, “ Not Many” , “Nothing”. Nếu nhìn dưới dạng nhất thể thì Kucucan là con Trăn-Chim Tu H ú, Trăn Gió (trong khi đó Aztec có vật tổ là con Rắn-Lông Chim Quetzal-Coatl). Rắn Nước, Trăn Gió liên hệ với Rồng Nước Lạc Long Quân.

So sánh thành Cổ Loa có hai vòng thành tròn với các kiến trúc Maya có hai vòng tròn ta thấy Maya và Âu Lạc An Dương Vương liên hệ mật thiết với nhau. Và qua sự giống hệt nhau của chữ nòng ba vòng tròn đồng tâm trên trống Cổ Loa II và trên mũi Thần Mưa Chac cho thấy người cổ Loa và người Maya gần cận với nhau. Hiển nhiên, chữ nòng ba vòng tròn đồng tâm trên trống Cổ Loa II phải có một nghĩa là mưa cùng nghĩa với chữ nòng ba vòng tròn đồng tâm ở trên mũi Thần Mưa Chac.

Tóm Lại

”Hoa văn“ ba vòng tròn đồng tâm trên trống Cổ Loa II là một chữ Nòng trong chữ viết nòng nọc, có nghĩa là:
-đọc theo ba vòng tròn OOO: ba âm (siêu âm), nước nguyên tạo, tạo hóa, vũ trụ, quẻ Khôn.
-đọc theo hai vòng tròn OO: hai âm (thái âm), nước, mưa dòng Nòng, âm.
Trống Cổ Loa II là trống Mưa, trống Sấm Mưa thuộc dòng Nòng Khôn âm, mặt trời Nước, đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt thuộc ngành An Dương Vương dòng Lạc Long Quân.

Dường như tôi thấy qua ánh mắt, có vị hãy còn chưa tin hết mình. Tôi xin chứng minh thêm. Quí vị thấy trên mặt trống Cổ Loa II này còn có thêm một tượng con cóc nữa. Con cóc biểu tượng gì? Con cóc gọi mưa, con cóc nghiến răng chuyển động bốn phương trời, con cóc là cậu ông trời, con cóc liên hệ với mưa, sấm mưa.

Nếu quí vị còn chưa tin, xin hãy theo tôi hướng dẫn, chúng ta cùng đọc thêm một chữ nữa. Chữ này có chữ cái nọc que (I), dương. Đó là chữ hình móc câu.

(còn tiếp).

April 13, 2009

CON CÒ LẶN LỘI BỜ AO…

Filed under: Con Cò Lặn Lội... — Quang Nguyen @ 5:46 pm

 

                                                                                                    CON CÒ LẶN LỘI BỜ AO,
                                                                         PHẤT PHƠ HAI GIẢI YẾM ĐÀO GIÓ BAY…

                                                                                                                                                  Nguyễn Xuân Quang

Nói tới đồng ruộng nước, nói tới lũy tre xanh, nói tới con trâu trên luống cầy, không thể nào không thể nói tới một hình bóng quen thuộc, một hình bóng thân thương, một hình bóng thanh lịch, một hình bóng vật tổ  thiêng liêng của  tộc Việt,  đó là  con cò.
Trong các loài chim, con cò có lẽ là loài chim đi vào đời sống của người Việt Nam sâu đậm nhất.  Sâu đậm đến độ  mở miệng ra ví von, mở miệng ra hát là nhắc đến cò. Sâu đậm đến độ trong ca dao Việt Nam có rất nhiều bài nói về con cò, trong dân ca có riêng một điệu hát mang tên là điệu hát Cò lả.

Cái cò bay bổng bay cao,
Bay từ Cửu phủ bay vào Đồng Đăng.
Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa,
Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh.
Ai lên xứ Lạng cùng anh,
Tiếc công bác mẹ sinh thành ra em,
Tay cầm bầu rượu nắm nem,
Mảng vui quên hết lời em dặn dò.
Gánh vàng đi đổ sông Ngô,
Đêm nằm tơ tưởng đi mò sông Thương.

Sâu đậm đến độ có rất nhiều bài ca dao, đồng dao mở đầu bằng hình ảnh con cò, nhiều khi dùng cò như  chỉ là một cách để dẫn nhập, vào đề mà thôi, ví dụ như:

Chiều chiều vịt lội, cò bay,
Ông voi bẻ mía chạy ngay vô rừng,
Vô rừng bứt một sợi mây,
Đem về thắt dóng mẹ mày đi buôn.
Đi buôn dù lỗ, dù lời
Đi ra cho thấy mặt trời, mặt trăng…

hay

 Cái cò là cái cò Kỳ,
Anh cơm nhà dì, uống nước nhà cô…
Đêm nằm thì ngáy o o,
Chưa ra đến chợ đã lo ăn quà.
Hàng bánh, hàng bún bầy ra,
Củ từ, khoai nước cùng là cháo kê.
Ăn rồi cắp đít ra về,
Thấy hàng chả chó lại lê  trôn vào.
-Chả này bà bán làm sao?
Ba đồng một gắp thì nào tôi mua.
Nói dối rằng mua cho chồng,
Về đến quãng đồng ngả nón ra ăn,
Ăn rồi đau quặn, đau quăn.
Đem tiền đi bói ông thầy.
Bói ra quẻ này, những chả cùng nem…
-Thầy bói nói dối đã quen,
Nào tôi ăn chả, ăn nem bao giờ.

Tại sao hình bóng con cò lại đi vào huyết mạch, hơi thở của người Việt Nam?

Xin thưa:

Trước hết cò là biểu tượng của ao đầm Lang Việt

Con cò là hình ảnh, là biểu tượng của ao đầm, đồng ruộng. Một trong những hình ảnh đẹp nhất là hình ảnh con cò  trắng như bông bay liệng la đà trên ruộng lúa mêng mông, bát ngát, trải rộng ra mãi tận chân trời, mà ta gọi là “ruộng thẳng cánh cò bay”:

    Con cò bay lả bay la,
    Bay từ cửa tổ bay ra cánh đồng
    Khắp người trắng nõn như bông,
    Gió xuân lất phất chùm lông trên đầu.

Con cò là loài chim sống ở bờ nước, gần cận nhất, gắn bó  nhất và thân thiết nhất với nhà nông trồng lúa nước. Con cò với dáng đẹp thanh cao, thoát tục.  Cò lạng bay vút lên không trung rồi thả mình trong gió, mỏ dài, cổ  dài, thân thon nhỏ, chân dài,  tất cả duỗi thẳng theo một đường thẳng, liệng la đà trên sóng gió.
Con cò sát cánh với nhà nông trong việc đồng ruộng. Cứ đầu mùa mưa tức đầu mùa xuân ở đất Bắc, cò lại bay về đồng nước báo cho nhà nông biết mùa trồng lúa bắt đầu. Có loài cò “gọi mưa”  giống như cóc ếch, khi cất tiếng kêu gọi mưa là  nhà nông biết trời sắp đổ cơn mưa…Rồi đến cuối thu, mùa lúa chín, mùa gặt hái, cò lại rủ nhau cất cánh bay đi. Ngày ngày nhà nông sáng tinh mơ ra đồng khi bầy vạc đi ăn đêm bay về tổ buông những tiếng kêu trong vắt trên không trung lúc ban mai, giống như tiếng hạc trong truyện Kiều  mà Nguyễn Du đã mô tả: ” trong như tiếng hạc bay qua” và mãi tới chạng vạng tối nhà nông mới trở về nhà khi đàn cò đi ăn ban ngày  gọi nhau bay về tổ, gõ nhịp  mỏ rộn ràng trong cái tĩnh lặng của hoàng hôn. Trên cánh đồng, con cò đi theo sau luống cầy bầu bạn cùng nhà nông trong lúc cầy sâu cuốc bẫm . Con cò  trên bờ ruộng bắt sâu bọ, cào cào, châu chấu, cua cáy… giúp nhà nông một tay trong việc bảo vệ mùa màng. Con cò trên  mình trâu, bắt ruồi bọ, ve vắt, săn sóc cho con trâu, người bạn đồng lao đồng tác với nhà nông. Con cò là hình ảnh của cần cù, siêng năng, chịu khó, chịu khổ, tự  túc, tực cường, chỉ biết trông cậy vào sức mình, chỉ biết tự lực cánh sinh để  lo cho bản thân, cho con cái, cho gia đình, cho dòng tộc, đất nước giống như những người nông dân Việt Nam:

 

Hỏi cò vội vã đi đâu?
Xung quanh mặt nước, một màu bao la.
Cò tôi bay lả bay la,
Bay từ cửa tổ bay ra cánh đồng.
Trời sinh, mẹ đẻ tay không,
Nên tôi bay khắp tây đông kiếm mồi.
Trước là nuôi cái thân tôi,
Sau nuôi đàn trẻ nên đời cò con.
Một mai khôn lớn vuông tròn,
Rủ nhau bay khắp nước non xa gần.
Kiếm mồi tự lập lấy thân,
Vẻ vang hãnh diện cho dân con cò.
Mỗi ngày một lớn một to,
Chớ đừng ỷ lại mà lo cậy người.
Để cho nông, vạc chê cười.
Ấy tôi lấy thế làm vui tuổi già.
Nên tôi bay lả bay la,
Bay từ cửa tổ, bay ra cánh đồng…
   

 

Ngoài ra cò còn loài loài chim sống từng đàn,  sống với gia đình, họ hàng, làng nước như ta thấy qua các câu ca dao dưới đây, dù trời đêm tăm tối,  sắp đổ cơn mưa, có kẻ rình mò bắn giết, cò cũng vẫn về thăm chú bác cô dì:

Con cò đi đón cơn mưa,
Tối tăm mù mịt ai đưa cò về,
Cò về đến gốc cây đề,
Có đứa rình bắn, cò về làm chi?
Cò về thăm bá, thăm dì,
Thăm cô xứ Bắc, thăm dì xứ Đông.

Hàng ngày bên bờ sông rộng, sóng to, cò cần cù lặn lội kiếm ăn:

Cái cò lặn lội bờ sông,
Cổ dài, mỏ cứng, cánh cong, lưng gù,
Bãi xa, sông rộng, sóng to,
Vì lo cái bụng, đi mò cái ăn.

Những lúc mưa to, gió lớn cây quả  cong queo thu hình, con ốc nằm co nghỉ ngơi,
con tôm vui đùa vùng vẫy đánh đáo trong vũng nước bùn thì lại là lúc cò phải dầm mưa đi kiếm  ăn:

Trời mưa quả dưa vẹo vọ,
Con ốc nằm co,
Con tôm đánh đáo,
Con cò kiếm ăn…

vì những lúc mưa to gió lớn cá tôm mới vào bờ kiếm thức ăn từ  mặt đất trôi xuống và vì những lúc này nhờ nước đục, cò thấy cá tôm mà cá tôm lại không thấy cò, cho nên những lúc trời mưa to gió lạnh là lúc cò mới dễ kiếm ăn, như ta thấy qua câu “đục nước béo cò”. Cũng cần biết thêm là cò chỉ là loài chim sống ở bờ nước, không bơi lội dưới nước, nên không có chất dầu nhờn làm  cho lông không bị ướt như loài vịt. “Nước đồ  đầu vịt” không ướt nhưng mưa trút xuống đầu cò, thân cò thì cò bị ướt sũng và trở thành “cò bợ mắc mưa”. Vì thế trong cảnh mưa to gió lớn, người ướt sũng nước mưa mà cò cũng phải đi kiếm ăn chẳng khác gì người nông dân làm ruộng trong mưa gió.
Tóm lại con cò là biểu tượng của ao đầm, đồng ruộng nước, của người nông dân cần mẫn Việt Nam (cũng nên biết ruộng nước có gốc từ ao đầm, ruộng chiêm là ruộng thấp cò nhiều nước có gốc là ruộng chằm tức đầm ao).

Con cò là biểu tượng cho người phụ nữ đồng ruộng Việt Nam

Qua văn học dân gian ta thấy con cò mẹ mang hình bóng của người phụ nữ Việt Nam cao đẹp, tuyệt vời:

Con cò lặn lội bờ ao,
Phất phơ hai giải yếm đào gió bay.

Giống như người đàn bà Việt Nam một đời tần tảo, vất vả ngược xuôi, dù  núi cao, dù sông rộng, dù biển khơi, dù nắng lửa, mưa dầu, dù phong ba, bão tố,  cò vẫn      lặn lội đi kiếm ăn lo cho chồng con. Cụ Tú Xương  cũng đã so sánh vợ mình với hình ảnh con cò:

Thân cò lặn lội, ở ven sông
Nuôi nổi năm con với một chồng.

gặp những lúc đất nước chinh chiến, loạn ly,  người phụ nữ Việt ngoài việc thay chồng nuôi mẹ, nuôi con còn phải thăm nuôi cả chồng đi lính trấn giữ biên cương:

Con cò lặn lội bờ sông,
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non.
Nàng về nuôi cái cùng con,
Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng.
Ở nhà có nhớ anh chăng?
Để anh kể nỗi Cao Bằng mà nghe.

Cũng như những tấm lòng mẹ Việt Nam, cò mẹ hy sinh tất cả đời mình cho con:

Nước non lận đận một mình,
Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay
Ai làm cho bể kia đầy,
Cho ao kia cạn, cho gầy cò con?

dù ngay cả trong đêm tối,  không phải là lúc cò đi kiếm ăn, mà nhiều khi cũng phải liều thân đi tìm mồi cho con nên cò mẹ đã “đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao”:

Con cò mày đi ăn đêm,
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.
Ông ơi ông vớt tôi vào,
Tôi có lòng nào ông hãy sáo măng,
Có sáo thì sáo nước trong,
Đừng sáo nước đục đau lòng cò con.

dù ngay cả lúc biết mình sắp chết trong nồi sáo măng, cò mẹ cũng còn nghĩ đến đàn con thơ dại trong trắng, cò mẹ muốn được chết trong sạch nên cầu xin người “Có sáo thì sáo nước trong”  vì “sáo nước đục đau lòng cò con”.

Ngoài việc nuôi dưỡng, mẹ cò  cũng một đời lo lắng chăm sóc cho con ăn học nên người:

Mặt trời lặn xuống bờ ao,
Có con cò mẹ bay vào bay ra.
Cò con đi học đường xa,
Thẩn thơ chỗ nọ, la cà chỗ kia.
Tối rồi mà chẳng chịu về,
Cơm canh mẹ đợi, còn gì là ngon.

Nhiều khi vì mẹ cò thương con quá mà cò con đâm ra nhõng nhẽo:

Cái cò là cái cò con,
Mẹ nó yêu nó, nó còn làm thơ.

Mẹ là tất cả,  thiếu mẹ là thiếu tất cả. Những khi cò mẹ phải đi làm nghĩa vụ công dân như đắp đàng, vét sông,  cò con thiếu ăn, thiếu sự chăm sóc, thấy bơ vơ,  trở thành tuyệt vọng:

Cái có là cái cò vàng,
Mẹ đi đắp đàng, con ở với ai?
Con ở với bà, bà không có vú,
Con ở với chú, chú là đàn ông.
Thôi con chết quách cho xong.

Tóm lại mẹ cò mang hình ảnh của người phụ nữ Việt Nam xinh đẹp, yểu điệu “phất phơ hai giải yếm đào gió bay” nhưng đảm đang, kiêu hùng. Giữa cuộc đời đầy mưa sa gió táp, khi “lên thác xuống ghềnh”, lúc “bãi xa, sông rộng, sóng to”, khi binh đao khói lửa, hai cái giải yếm đào đó vẫn một đời tận tụy cùng cực lo cho chồng, cho con, cho nhà, cho nước.

Cò là tiếng hát của đồng lúa xanh “thẳng cánh cò bay”:

Cò không phải chỉ là hình ảnh cần cù làm việc, hình ảnh kham khổ của đời sống chân lấm tay bùn, của lòng mẹ bao la mà cò còn là tiếng hát tuyệt vời của đồng xanh Việt Nam. Cò đã đi vào tiếng hát của dân dã Việt Nam, của đồng ruộng Việt Nam  qua cả một thể điệu đặc thù  gọi là điệu hát Cò lả.

Cò có đàn, có bầy, tiếng hát Cò lả là tiếng hát đúm, hát đàn, tiếng hát của tập thể nam nữ, của xóm làng, của đồng ruộng, tiếng hát “linh đình”,  tiếng “hát cho lăn lóc đá, cho rung rinh trời”:

Một đàn cò trắng bay tung,
Bên nam bên nữ ta cùng hát lên.
Hát lên một tiếng linh đình.
Cho lăn lóc đá, cho rung rinh trời.
Hát lên một tiếng linh đình,
Cho loan sánh phượng, cho mình sánh ta.
Cất lên một tiếng la đà,
Đàn ông hát  trước, đàn bà hát sau.

Cò lúc nào cũng được mời đến tham dự, chia xẻ với giọng hát, câu hò:

Một đàn cò trắng bay qua,
Thấy đám hát đúm muốn sa xuống chào.
Cò ơi, cò ở phương nào?
Xuống đây chúng chị hóa trao câu này.
Xuống đây ăn miếng trầu cay,
Ăn trầu nghe hát cả ngày lẫn đêm.

  hay

Con cò trắng toát như bông,
Muốn nghe hát đúm mà không chịu vào.
Nghĩ gì, cò đậu cành cao,
Nghiêng nghiêng, nghé nghé nửa chào, nửa e.
Xuống đây cho ta nhắn nhe,
Đừng đứng trên ấy, gẫy tre của làng.

Cò được khích lệ,  được khuyên đừng ngại làng khen chê, chẳng ai cười lời hát của kẻ quê mùa đồng ruộng:

Con cò là con cò vàng,
Muốn đi hát đúm, sợ làng khen chê.
Ai cười lời kẻ thôn quê,
Mà cò ngần ngại đứng lề đường quan.
Hay cò vui câu xẩm xoan,
Thì cò bay đến, giao hoan cùng người.

Hình ảnh cò, tiếng hát cò lả  gắn liền với tiếng hát giao duyên, tiếng hát nên vợ nên chồng:

Một đàn cò trắng kia ơi,
Có nghe ta hát những lời này không?
Hát câu đẹp cốm, tươi hồng,
Hát câu nên vợ nên chồng cò ơi.

Và cò cũng được mời nghe những lời hát gìn giữ đạo lý gia đình:

Con cò lấp lé bụi tre,
Sao cò lại muốn lăm le vợ người.
Vào đây ta hát đôi lời,
Để cho cò hiểu sự đời ở ăn.
Sự đời cò lấy làm răn,
Để cho cò khỏi băn khoăn sự đời.

Qua những câu ca dao trên, ta thấp thoáng thấy đó là lời của phái nữ, của “chúng chị” mời chào cò, tức là hình bóng của phái nam, tham dự vào đám hát đúm.
Cò mang một biểu tượng cho phái nam, mặt trời, chương trình sẽ trình bầy trong lần tới.

Con cò là biểu tượng của đồng lúa, của người nông dân, của người phụ nữ Việt Nam, dù trong hoàn cảnh nào đi nữa cũng vẫn cất tiếng hát lên, tiếng hát vang vọng đồng xanh, tung lên đến tận trời cao, tiếng hát bay bổng, la đà, tiếng hát mang trên đôi cánh cò “bay lả bay la” tung ra khắp bốn phương trời của đồng xanh sông nước. Dù trong cảnh huống nào của cuộc đời đi nữa, mà vẫn còn cất lên được tiếng hát, thì tiếng hát đó cũng vẫn là tiếng hát hạnh phúc trong cảnh huống đó.
Con cò là biểu tượng cho hùng tính, cho phái nam:

Như ta đã biết qua những điệu hát cò lả, hát đúm, hàt đàn, cò thấp thoáng mang hình bóng phái nam được “chúng chị” phái nữ mời chào rủ hát chung:

Một đàn cò trắng bay qua,
Thấy đám hát đúm muốn sa xuống chào.
Cò ơi, cò ở phương nào?,
Xuống đây chúng chị hóa trao câu này.
Xuống đây ăn miếng trầu cay,
Ăn trầu nghe hát cả ngày lẫn đêm.

Thật vậy, cò là còn biểu tượng cho phái nam, cho hùng tính, cho dục tính phái nam. Từ cò biến âm với “cồ” là đực ví dụ như gà cồ là gà sống. Từ cò  lấp láy với “kè” như ta thấy qua từ lấp láy điệp nghĩa “cò kè”.  Kè là cái cọc, cái nọc đóng ở bờ nước như đóng kè, đổ kè. Kè biến âm với cừ cũng có nghĩa là cái cọc đóng ở bờ nước như đóng cừ.  Cò và kè biến âm với “ke” như ta thấy qua từ láy “cò ke”. Ke là que là nọc. Câu nói “cò kè bớt một thêm hai” ngày nay có nghĩa là trả giá  có nguồn gốc nguyên thủy là ngày xưa con người tính toán, trả giá bằng những cái thẻ, cái que có khắc dấu và người xưa ký giao kèo bằng cách bẻ đôi một cái que, một cái “kèo” rồi mỗi người giữ một mảnh để làm bằng. Theo từ điển Việt-Bồ-La của giáo sĩ Đắc Lộ cổ ngữ Việt “ke” là bộ phận sinh dục đàn ông. Như thế con cò là con cồ, con kè, con cừ, con ke, con que mang ý nghĩa cái giống phái nam. Cò biểu tượng cho bộ phận sinh dục  phái nam thấy rõ qua câu:

Cơm no, cò đói

Câu “cơm no cò đói”  hay “bụng no cò đói” cùng nghĩa với câu:

No cơm ấm cật,
Rậm rật tối ngày.

Cò vì thế cũng dùng chỉ các cơ phận có hình nọc nhọn ví dụ như cò súng.

  .Cò biểu tượng cho dục tính phái nam:

Cò là biểu tượng cho dục tính phái nam nên thường được nói tới trong chuyện lấy vợ, chuyện chăn gối:

Cái cò lặn lội bờ ao,
Hỡi cô yếm đào lấy chú tôi chăng?
Chú tôi hay tửu hay tăm,
Hay nước chè đặc hay nằm ngủ trưa,
Ngày thì ước những ngày mưa,
Đêm thì ước những đêm thừa trống canh.

.Cò biểu tượng cho đực, cho phái nam, cho dòng nọc, dòng cha, dòng Việt, trong khi trai sò biểu tượng cho phái nữ, cho dòng nòng, dòng mẹ, dòng nước, dòng Bộc như ta thấy qua câu:

Con cò mà mổ con trai,
U ơi, u lấy vợ hai cho thầy

Qua câu “U ơi, u lấy vợ hai cho thầy”  ta cũng thấy cò mang biểu tượng cho cường dương, hình ảnh cò cường dương này thường thấy qua việc các ông muốn lấy vợ bé:

 
Cái cò trắng bạch như vôi,
Có ai lấy lẽ chú tôi thì về,
Thím tôi chẳng đánh, chẳng chê,
Thím tôi mổ bụng móc mề, moi gan.

Cò là biểu tượng cho cường dục nên cũng biểu tượng cho sinh con đẻ cái như ta thường thấy ở  Tây phương dùng hình ảnh con cò tha cái tã  bọc đứa trẻ sơ sinh bay đến nhà nào là biểu tượng báo cho biết nhà đó vừa mới sinh con.
Cò là biểu tượng của dục tính phái nam nên ngoài loại cò cường dương thích lấy vợ hai, vợ bé cũng có loại cò suy dương, liệt dương mang hình ảnh của cò bợ, cò mắc mưa, cò rù, cò quăm. Cò biểu tượng cho hùng tính, cường dương ứng với loài cò cứng, cò lạng, cò lả trong thiên nhiên. Người Anh Mỹ gọi là cò cứng là cò “stork”. Theo tầm nguyên ngữ học Tây phương từ stork có gốc từ cổ ngữ Anh ‘stearc’, có nghĩa là cứng, stork liên hệ với  Anh ngữ hiện kim “stiff” là cứng.  Cò cứng, cò lả, cò lạng, cò liệng có cánh rất dài nên có thể bay vút lên rất cao trong không trung  và rồi thả mình trên cánh gió liệng la đà không cần vỗ cánh. Cò lả, cò lạng, cò liệng có hình dáng cứng khi bay CỔ DÀI VÀ CỨNG DUỖI THẲNG HÀNG với thân và đuôi, không bao giờ thấy cổ rụt lại tựa vào vai cánh.
Loại cò thứ hai khi bay cổ rụt lại tựa vào vai cánh, cổ có hình chữ S, đây là loại cò quăm.  Loại cò quăm chỉ bay chứ không biết liệng nghĩa là lúc nào cò cũng phải vỗ cánh, Anh ngữ gọi là cò ‘heron’.  Chỉ cần nhìn cò bay ta có thể nhận biết con cò thuộc loài cò lả, cò lạng, cò cứng  hay cò quăm không biết liệng. Cổ ngữ quăm  biến âm với quắm, khoằm có nghĩa là cong queo. Cò quăm là cò cổ cong queo như ta thấy qua câu:

 

 

     Cây mắm cò quăm, cây xú cò queo,
    Thắt lưng cho chặt mà theo anh về,
    Ăn cơm với cá mòi he,
    Lấy chồng Cẩm Phả đun xe suốt đời.

 

Ở đây cần giải thích câu “Lấy chồng Cẩm Phả đun xe suốt đời”. Hòn Gay, Cẩm Phả là hai mỏ than lớn ở miền Bắc, lấy chồng Cẩm Phả làm phu mỏ than phải đun xe than suốt đời. Củ ấu với cái gai nhọn  cong queo cũng được ví với cò quăm như ta thấy qua câu đố về củ ấu như sau:

    Cò quăm lấy ở dưới đầm,
    Đem về nấu nướng rì rầm cả đêm,
    Cò quăm càng láng càng đen,
    Nấu đi nấu lại chưa mềm cò quăm.

Cò cứng biểu tượng cho hùng tính, cường dương trong khi cò quăm cong queo mang biểu tượng cho suy dương, liệt dương . Mấy ông cò quăm suy dương thường hay giận cá chém thớt nghĩa là thường hay đánh vơ:

   Cái cò là cái cò quăm,
    Mày hay đánh vợ, mày nằm với ai.
    Có đánh thì đánh sớm mai,
    Chớ đánh chập tối, chẳng ai cho nằm.

để ý ta thấy các ông cò quăm hay đánh vợ vào lúc chập tối cho nên mới được dân gian khuyên là “có đánh thì đánh sớm mai, chớ đánh chập tối”.  Tại sao cò quăm lại hay đánh vợ vào lúc  chập tối? Xin thưa là  vì mỗi khi đêm về là đem về nỗi lo âu, buồn rầu cho cò quăm. Cò quăm ghen tương, thấy thiếu tự tin,  thấy  bất lực, thấy lo ngại chuyện chăn gối nên hay gây sự  và đánh vợ vào lúc chập tối  và nhiều khi cố ý làm như vậy để nếu  vợ “chẳng cho nằm” lại càng mừng vì được yên thân.
Chắc có người thắc mắc là tại sao lại có sự tréo cẳng ngỗng là con cò vừa là biểu tượng của nam tính vừa là biểu tượng cho phụ nữ Việt Nam. Xin thưa không có gì là nghịch lý cả. Phụ nữ Việt Nam là con cháu của Thái dương thần nữ Âu Cơ nên đều là dương nữ, đều là những anh thư, liệt nữ cả. Có tác giả đã cho rằng tên Âu Cơ là từ Hán Việt phiên âm từ “U Cò” hay “O Cò”.  U Cò Âu Cơ đẻ ra các nàng cò Việt “Phất phơ hai giải yếm đào gió bay”. Lịch sử Việt cũng cho thấy phụ nữ Việt đầy hùng tính, dương tính, là những anh thư, liệt nữ như hai bà Trưng, bà Triệu…

        Ghé vai gánh vác sơn hà,
        Làm cho rõ mặt đàn bà nước Nam.

Ngày nay phụ nữ Việt cũng không thua kém gì nam nhi, trong gia đình vẫn là những nội tướng…

 

 

Cò là  chim Việt, vật tổ của Lang Việt.

Các chim tổ phía Nọc, Lửa, Mặt Trời, Nọc thái dương của Đại tộc Việt đều là những loài chim mang dương tính có tên có nghĩa là nọc, cọc, que, vọt (nói chung là vật nhọn)…  tức là CHIM VIỆT vì Việt có một nghĩa là vọt (roi, nọc), vớt (con dao cán dài), hiểu theo nghĩa Hán Việt thì Việt là rìu, một thứ vật nhọn sắc (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt), ví dụ ở Cõi Tạo Hóa ta có chim biểu là chim cắt, chim rìu tức Chim Việt tạo hóa; ở Cõi Trời đất dương thế gian là con Gà qué (gà trống); qué là que, nọc (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc), Gà là Chim Việt Cõi Đất dương thế gian vì tuy là loài chim nhưng gà sống nhiều trên mặt đất. Ở Cõi Đất âm bên bờ nước là con Cò. Cò là loài chim lội nước chứ không phải là loài chim nước. Cò biến âm với cồ (đực), cu, với cổ (cây, trụ); cổ người là cây trụ cắm đầu vào thân người, ông Bàn Cổ là ông Trụ Chống Trời (Bàn là phiến đá bằng, bàn thạch, bằng như mặt bàn và Cổ là cây Trụ). Cò là Chim Việt của vùng Đất âm có nước, ao đầm (nên nhớ cò là loài chim lội nước, sống ở bờ nước, vùng đất có nước chứ không phải là loài chim nước, sống dưới nước); chim biểu thật sự của Cõi Nước âm là con Cốc. Con cốc có mỏ mang dương tính nhọn như mũi phi tiêu, có loài dung mỏ đâm cá vì thế dân dã Âu Mỹ còn gọi tên là “darter” (“chim phi tiêu”). Từ Cốc biến âm với cọc… Con cốc mang âm tính nhiều hơn cò vì chân cốc có màng, bơi lội và lặn hụp dưới nước được. Con cốc thường có mầu đen là mầu của nước thái âm. Như thế con Cốc biểu tượng dương của nước thái âm. Cốc là chim biểu của nước-dương của Lạc Long Quân. Cốc là Chim Việt Cõi Nước. Vì thế Cò nhìn chung là chim biểu, chim tổ của những tộc sống ở vùng đất âm có nước như ao đầm (Đoài thế gian), sông ngòi nhưng mang dương tính nhiều nghĩa là dương của âm tức thiếu âm, nguyên thể của khí gió tức Đoài vũ trụ. Nhìn chung Cò là chim biểu Khôn dương, bầu trời, gió của vùng đất âm có nước, ao đầm Đoài thế gian. Cò mang khuôn mặt dương trội cồ, cu nên nghiêng nhiều về phía chim biểu Khôn dương khí gió, mang khuôn mặt tiêu biểu cho Khôn dương, khí gió, Đoài vùng đất âmcó nước (cần phân biệt ao đầm là bọc nước ấm, dương là Đoài thế gian, trong khi bọc khí gió dương là Đoài vũ trụ), chim biểu của Đoài Hùng Vương trong khi cò nước, cò đêm, con vạc là chim biểu của tộc sống vùng sông nước mang âm tính nhiều của dòng Lạc Long Quân của đại tộc cò Hùng Vương tức Hùng Vương ngành Lạc Long Quân. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, vì Tổ Hùng Vương  có một khuôn mặt bầu Vũ Trụ, bầu Trời, Khí Gió nên mới được Thần Sấm Dông Gió Phù Đổng Thiên Vương giúp đánh dẹp giặc Ân. Như thế cò mang khuôn mặt chính biểu tượng cho Khôn dương khí gió phải là chim biểu của Tổ Hùng Vương sinh ra từ bọc Trứng Vũ Trụ (xem Chim Lạc hay Cò Lang). 

 

Tóm lại con cò là chim Việt, chim tổ của Lang Việt. Bằng chứng cho thấy cò là chim tổ của chúng ta nên chúng ta kiêng kỵ không ăn thịt cò, không ăn thịt vật tổ như thấy qua câu ca dao dưới đây:

 

 

Con cò, con vạc con  nông,
Ba con cùng béo, vặt lông con nào,
Vặt lông con cốc cho tao,
Hành răm mắm muối cho vào mà thuôn.

 

Con cò, con vạc, con nông cả ba đều là vật tổ dù cho “ba con cùng béo” nhưng vì là chim tổ nên kiêng kỵ không “vặt lông” làm thịt mà lại vặt lông con chim cốc.
Cò là chim tổ của Lang Việt cho nên trong các loài chim, con cò khi chết, cò là loài chim duy nhất được làm đám ma chôn cất đàng hoàng và  vong linh con cò được thờ phượng:

Con cò chết tối hôm qua,
Có dăm hạt gạo với ba đồng tiền.
Một đồng thuê trống thuê kèn,
Một đồng mua mỡ đốt đèn thờ vong.
Một đồng mua mớ rau rong.
Đem về thái nhỏ thờ vong con cò.

Đám ma cò là một loại đám ma trọng thể, một thứ “quốc táng” có đầy đủ bốn tộc Người Việt mặt trời rạng ngời của liên bang Văn Lang tham dự:

Con cò chết rũ trên cây,
Bổ cu mở lịch xem ngày làm ma,
Cà cuống uống rượu la đà,
Bao nhiêu ếch nhái nhẩy ra chia phần.
Chào mào thì đánh trống quân,
Chim chích cởi trần, vác mõ đi rao…

Cò là chim Việt sống ở bờ nước thuộc họ Việt mặt trời thái dương nên khi chết được chim bổ cu, bổ cắt là chim biểu của họ Việt mặt trời thái dương đứng ra làm chủ lễ chọn ngày lành, giờ tốt, cử đám ma: “bổ cu mở lịch xem ngày làm ma” là vậy. Trong đám ma cò có đủ mặt đại diện của các tộc khác đến tham dự như  cà cuống là con cá cuống là con nọc nước là đại diện của tộc cha nước, mặt trời nọc nước;  ếch nhái là đại diện của tộc mẹ nước, mặt trời nòng nước; chim chích là chim nọc nhọn đại diện tộc núi nọc và  chim chào mào đại diện tộc gió. Cũng cần biết thêm là cái mào lông, cái bờm lông biểu tượng cho gió. Bờm biến âm với buồm liên hệ với gió. Con bướm là con bờm, con buồm, con “gió” , con “bay”. “Thằng Bờm có cái quạt mo”. Cái quạt biểu tượng cho gió cho nên thằng bé có cái quạt gió có tên là thằng Bờm. Con chim chào mào có bờm lông trên đầu nên là chim biểu của người Mặt trời gió Hùng vương. Đám ma cò Lang Việt có đủ  bốn tộc: Mặt trời-Lửa bổ cu ứng với Mặt trời Lửa, Ánh sáng Đế Minh,  Mặt trời núi chim chích  Kinh Dương vương,  Mặt trời Lửa-Nước cà cuống Lạc Long Quân với vợ  Thái dương thần nữ Âu cơ  Ếch nhái và  Mặt trời gió Hùng vương chim chào mào.
Theo duy dương, thời phụ quyền cực đoan phái nữ bị gạt ra ngoài chính trường, Ếch nhái Âu cơ bị loại ra, thay thế bằng chim di tức chim lửa vì thế  mới có một bài hát khác như sau:

Con cò chết rũ trên cây,
Bổ cu mở lịch xem ngày làm ma,
Cà cuống uống rượu la đà,
Chim di ríu rít  nhẩy ra chia phần.
Chào mào thì đánh trống quân,
Chim chích cởi trần, vác mõ đi rao…

Dị bản này cho thấy Bổ cu là chim biểu của toàn họ Việt mặt trời Thái dương ứng với Viêm Đế, cà cuống là biểu tượng của Mặt trời Việt-nước ứng với Lạc Long Quân,  chim di là biểu tượng cho Mặt trời Việt lửa Đế Minh, chào mào là biểu tượng cho Mặt trời Việt-gió Hùng vương và chim chích là biểu tượng của Mặt trời Việt núi Kinh Dương vương và ếch nhái Âu cơ bị loại bỏ ra ngoài.

Vì cò là chim tổ của Lang Việt nên bài ca dao về đám ma cò này cũng được lưu truyền rộng rãi ở miền Trung và miền Nam Việt Nam nhưng bài hát có sửa đổi  đôi chút theo sắc thái địa phương. Ở miền Trung bài ca dao này được hát như sau:

Con cò mắc dò mà chết,
Con quạ mua nếp làm chay,
Con cu đánh trống ba ngày,
Chào mào đội mũ làm thầy đọc văn,
Xóm làng chạy đến lăng xăng,
Mua ba thước vải buộc khăn cho cò.

Ở đây  cần phải giải nghĩa từ “mắc dò”. Từ “dò”  biến âm với “rọ”, “giỏ” là cái bẫy chim. Con cò mắc dò mà chết là con cò mắc vào bẫy chim mà chết. Qua bài hát này ta thấy người đứng làm chủ lễ đám ma cò là con quạ, chim biểu của mặt trời lặn, một khuôn mặt của Lạc Long Quân. Ở đây ta còn thấy cả xóm cả làng để tang cho cò: Xóm làng chạy đến lăng xăng, Mua ba thước vải buộc khăn cho cò.

Vào tới miền Nam bài hát đám ma cò lại được hát như sau:

Con cò mắc dò mà chết,
Con quạ mua nếp làm chay,
Con cu đánh trống ba ngày,
Con ngỗng thức dậy, gọi bầy mâm ra.
Con cộc ăn cá ngâm nga,
Con chim cà cưỡng phải ra ăn mày.

qua bài hát này ta thấy con quạ của ngành mặt trời nước Lạc Long Quân đứng ra “mua nếp làm chay”, chim bổ cu, bổ cắt là chim biểu của tộc Mặt trời lửa Đế Minh “đánh trống ba ngày”, con ngỗng là chim biểu của một tộc Mặt trời gió Hùng vương “gọi bầy mâm ra”, con cộc, con cốc, chim biểu của tộc Mặt trời-nước, một khuôn mặt dòng nước của Lạc Long Quân “ăn cá ngâm nga” và con cà cưỡng tức con sáo đá, chim biểu của tộc Mặt trời núi đá Kinh Dương vương  “phải ra ăn mày”. Dị bản ở miền Nam này lại cho con ngỗng gió  là chim biểu của một tộc Hùng Vương và con chim cộc, chim cốc, chim thằng cộc là một loài chim nước được chọn là chim biểu cho một khuôn mặt nước của tộc mặt trời nước Lạc Long Quân.
Ở miền Nam còn có một dị bản khác nữa như sau:

Con cò mắc dò mà chết,
Con diều xúc nếp làm chay.
Tu hú đánh trống ba ngày.
Bìm bịp nó dậy, nó bày mâm ra.
Con quốc nó kêu u oa,
Mẹ nó đi chợ đường xa chưa về.

qua bài này ở đây ta thấy con diều hâu biểu tượng cho lửa, mặt trời lửa ứng với Đế Minh, hậu thân của Viêm Đế đứng ra “xúc nếp làm chay”, con tú hú là chim biểu của Mặt trời gió Hùng vương “đánh trống ba ngày”, con bìm bịp biểu tượng cho Mặt trời nước Lạc Long Quân  (bìm bịp kêu thì lụt) “bầy mâm ra” và con quốc, là loài chim nước mỏ ngắn thuộc họ nhà gà là chim biểu của Mặt trời Đất âm Non dòng An Dương vương, thuộc dòng Thái dương thần nữ Âu cơ. Theo truyền thuyết thì khi Thục Đế chết vì tiếc thương nước nên hồn đã nhập vào con chim cuốc có tiếng kêu khắc khoải. Chim cuốc Thục Đế là chim biểu của Thục Phán An Dương vương thuộc dòng mẹ Âu cơ cho nên câu cuối của bài hát mới cố ý nhắc tới mẹ chim cuốc: “Mẹ nó đi chợ đường xa chưa về”.
Qua bài hát đám ma cò từ Bắc chí Nam cho thấy các loài vật tổ  của bốn tộc Việt Mặt trời Lửa, Việt Mặt trời Núi, Việt mặt trời Nước và Việt Mặt trời Gió của liên bang Văn Lang, họ Hồng Bàng mặt trời thái dương có đủ mặt đến chăm lo mai táng cho cò. Điều này hiển nhiên cho thấy con cò là  chim biểu của đại tộc Việt. Bằng chứng cụ thể nhất, kiên cố nhất là hình ảnh cò còn ghi khắc lại trên sử  đồng Đông Sơn. Trên nhiều trống đồng, tiêu biểu nhất là trên trống đồng Ngọc Lũ còn ghi khắc hình cò bay vòng quanh mặt trời rạng ngời thái dương. Tác giả Đào Duy Anh theo bước chân của các học giả Pháp Finot và Goloubev (Gô-Lu-Bép) trước đây gọi con chim trên trống đồng Ngọc Lũ là chim Lạc và cho rằng chim Lạc là một loài chim ngỗng trời ở Giang Nam là  vật tổ của Lạc Việt. Theo tôi, con chim trên trống đồng Ngọc Lũ I có mỏ  được khắc rất cường điệu dài bằng cả chiều dài thân người, cổ dài duỗi thẳng, bay ở tư thế liệng, đây chính là cò lả, cò lang, cò trắng, cò Lang Việt chim biểu của Hùng Vương. Đây chính là con Cò Việt bay quanh mặt trời Việt rạng ngời ở tâm trống. Qua cổ sử  hình bóng cò cũng thấy qua tên gọi kinh đô của nước Văn Lang là Bạch Hạc thuộc tỉnh Vĩnh Phú ngày nay, qua địa danh Hạc Trì  có nghĩa là Ao Cò . Cũng cần nói thêm là từ hạc chỉ chung loài cò và loài sếu chứ không hẳn chỉ riêng con sếu hạc. Bạch Hạc phải hiểu là Con Cò Trắng.  Hạc Trì phải hiểu là Ao Cò.
Ao phải đi đôi với  Cò, Ao không đi đôi với Hạc vì con hạc kiếm ăn trên đất cạn.
Tóm lại con cò là chim Việt, chim tổ của Lang Việt của Hùng Vương  có mạng khí vũ trụ.

Sự tranh chấp giữa phụ quyền và mẫu quyền qua hình bóng con cò:

Ta đã thấy cò là chim biểu của họ Việt mặt trời thái dương dòng nọc, dòng cha  và trai, sò, hến là biểu tượng cho mặt trời nòng nước, dòng nòng, dòng mẹ. Khi phụ quyền thoán đoạt mẫu quyền,  thống trị ngành mẹ một cách quá đáng, thì ngành nòng nổi dậy. Sự tranh giành, tranh chấp quyền hành này thấy rõ qua hình bóng cò trong văn học dân gian. Văn học dân gian nhiều khi là một thứ sử miệng, “ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”.
Thật vậy mẫu quyền chống đối lại chế độ phụ quyền cực đoan, thấy rõ qua câu:

    Con cò mày mổ cái tôm,
    Cái tôm quặp lại, lại ôm cái cò.

Tôm là biểu tượng cho dòng mẹ, dòng nước. Cò là biểu tượng dòng cha.  Cái tôm phản ứng  “quặp lại”, mà  “ôm cái cò”. Trai sò cũng là biểu tượng cho dòng mẹ, dòng nước, ta cũng thấy có sự tranh chấp giữa dòng cò cha và dòng trai sò mẹ qua câu:

    Con cò mà mổ cái trai,
    Cái trai cặp lại, lại nhai cái cò.

hoặc qua hình ảnh rắn, lươn là biểu tượng của dòng mẹ, dòng nước. Lươn dòng mẹ cũng chiến đấu chống lại cò dòng cha:

Cái cò là cái cò con,
Mẹ đi xúc tép, để con coi nhà,
Mẹ đi lặn lội đồng xa,
Mẹ xà chân xuống phải mà con lươn.
Ông kia có cái thuyền nan,
Chở vào ao rậm xem lươn bắt cò,
Ông kia chống gậy lò dò,
Đi vào bụi rậm xem cò bắt lươn.
Con cò cắp cổ con lươn,
Con lươn cũng cố quấn quanh cổ cò.
Hai con, cò kéo, lươn co.
Con lươn tụt xuống con cò bay lên.

Và ta cũng thấy trong cùng một đại tộc họ nhà cò vạc đã có những phân hóa, chia rẽ, đã có những sự hãm hại, vu oan giá họa cho nhau, đã có những sự giết hại lẫn nhau như  con cò đã bị con vạc, con nông đổ ngờ là dẫm lúa của nhà nông nên cò đã bị nhà nông chất vấn đích danh trong bài ca dao sau đây:

 Cái cò, cái vạc, cái nông,
Sao mày dẫm lúa nhà ông hỡi cò,
-Không, không, tôi đứng trên bờ,
Mẹ con chúng nó đổ ngờ cho tôi,
Chẳng tin thì ông đi đôi,
Mẹ con nhà nó còn ngồi  đằng kia.

(lưu ý ở đây dùng từ “Cái cò” vì cò ở đây là cò mẹ bằng chứng thấy qua nhóm từ “Mẹ con nhà nó”… ở dưới).

Tóm lại qua hình bóng cò trong văn học dân gian ta đã thấy có sự tranh quyền giữa mẫu hệ và phụ hệ, giữa Hùng Vương ngành lửa Mẹ Kì Dương Vương  với An Dương vương ngành mặt trời nước Cha.

Cò trong tình yêu đôi lứa

Cò là biểu tượng cho dục tính phái nam, Cò lả là tiếng hát của đồng xanh thẳng cánh cò bay, là tiếng hát giao duyên, tiếng hát “đẹp cốm, tươi hồng”, tiếng hát “nên vợ nên chồng” thì hiển nhiên hình bóng cò phải có trong tình yêu đôi lứa.

Hình bóng cò trong  thương nhớ:

Một đàn cò trắng bay quanh,
Cho loan nhớ phượng cho mình nhớ ta.
Mình nhớ ta như cà nhớ muối,
Ta nhớ mình như cuội nhớ trăng.
Mình về mình nhớ ta chăng?

hoặc

Chiều chiều én liệng cò bay,
Khoan khoan nhớ bạn, bạn rày nhớ ai?
Bạn rày nhớ củ nhớ khoai,
Nhớ cam, nhớ quít, nhớ xoài cà lăm.

hay:

Một đàn cò trắng bay quanh,
Để em ôm bóng trăng tà năm canh.
Nước non một gánh chung tình
Nhớ ai, ai có chung tình không ai?

Hình bóng cò trong ướm hỏi, thả tình:

Cái cò bay bổng bay lơ,
Lại đây anh gởi xôi khô cho nàng,
Đem về nàng nấu nàng rang,
nàng ăn có dẻo thời nàng lấy anh.

hình bóng cò trong ỡm ờ:

Con cò lặn lội bờ ao,
Ăn sung sung chát, ăn đào, đào chua.
Ngày ngày ra đứng cổng chùa.
Trông ra Hà Nội xem vua đúc tiền.
Ruộng tư điền không ai cầy cấy,
Liệu cô mình ở vậy được chăng?
Mười hai cửa bể anh cũng đóng đăng,
Cửa nào lắm cá, anh quăng chài vào.

Hình bóng cò trong ve vãn, tán tỉnh:

Cái cò, cáí vạc, cái nông,
Cùng ăn một đồng, nói chuyện giăng ca,
Muối kia đổ ruột con gà,
Mẹ mình chẳng xót bằng ta xót mình.

nói chuyện giăng ca là nói chuyện trai gái huyên thuyên.

Hình bóng cò trong gạ gẫm, phỉnh gạt:

 

 

Đêm khuya nghe vạc cầm canh,
Nghe chuông dóng sáu, nghe anh khuyên nàng
Anh khuyên, nàng đã hồ nghe,
Trách con gà trống te te gáy dồn…

 

Hình bóng cò trong yêu thương:

Con cò trắng tựa như  vôi,
Tình tôi với bậu xứng đôi quá chừng.

Hình bóng cò trong tiếc nuối, có một chàng nuôi một nàng cò con bé bỏng đến khi nàng khôn lớn nàng cất cánh bay đi:

Uổng công xúc tép nuôi cò,
Đến khi cò lớn, cò dò lên cây.

Hình bóng cò trong dang dở:

Con cò bay bổng qua sông,
Hỏi thăm em bậu, có chồng hay chưa?
Có chồng năm ngoái, năm xưa,
Năm nay chồng để, nên chưa có chồng.

Tóm tắt lại cò là biểu tượng của Lang Việt ao đầm, ruộng nước,  là hình ảnh cao đẹp, kiêu hùng của người phụ nữ Việt “phất phơ hai giải yếm đào gió bay”, là tiếng hát của đồng xanh thẳng cánh cò bay, cò là biểu tược cho hùng tính, cho mặt trời rạng ngời,  cò là con chim Việt, con chim Lang ở bờ ao đầm, là vật tổ của Lang Việt của đại tộc Việt. Đây là lý do tại sao hình bóng cò đi vào huyết mạch, vào hơi thở của người Việt ngày nay.

(Trích trong Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt). 

                        NGUYỄN XUÂN QUANG

March 30, 2009

TRÚC XINH…

Filed under: Trúc Xinh Trúc Mọc Đầu Đình — Quang Nguyen @ 8:16 pm

TRÚC XINH TRÚC MỌC ĐẦU ĐÌNH, EM XINH EM ĐỨNG MỘT MÌNH CŨNG XINH.

                                      Nguyễn Xuân Quang

clip_image002

                         Tre quân tử, giống tre thẳng nhất trong loài tre, trong vườn nhà (ảnh của tác giả).

Cây tre là một trong những loài cây phi thường nhất hiện hữu trên mặt quả đất. Cây tre là một món quà vô giá tạo hóa ban cho con người. Cây tre là một loài cây hữu dụng phổ quát nhất mà con người biết đến. Không có cây tre thì không biết số phận của hơn nửa nhân loại sẽ đi về đâu. Ta có thể nói chuyện về cây tre cả ngày không hết chuyện của tre.

Trước hết ta hãy tìm hiểu xem từ TRE có nghĩa là gì? Tại sao gọi là tre? Theo tôi từ tre tiếng cổ Việt là Tle, Kle biến âm với Việt ngữ  hiện kim là “Que”. Cây tre gọi là cây “que” vì thân không có cành nhánh như các loài cây có gỗ khác, cây tre mọc thẳng như cái que. Có một loài tre thân đặc, chắc, mọc thẳng như cây gậy dùng làm khí giới là tre tầm vông. Tre có nghĩa là cái que, cái cọc nên là biểu tượng cho phái nam, đàn ông như thấy qua tục lệ về tang chế của người Việt: khi cha chết thì con trai trưởng phải chống gậy tre, khi mẹ chết thì con trai trưởng lại phải chống gậy vông như thấy qua câu:

          Cha gậy tre, mẹ gậy vông.

Tre là que biểu tượng cho phái nam, trong khi vông biến âm với vang là đỏ, lá vông là lá đỏ cùng nghĩa với lá đa là biểu tượng cho phái nữ. Chữ Phạn gọi tre là “tejana” có chung gốc te-, tre với tên Việt. Người Nhật gọi tre là “take” có -ke biến âm với kẻ (nọc, kèo), kè (cây thân hình cột, nọc cắm ở bờ nước), que. Người Tây phương gọi tre là bamboo. Về nguồn gốc của từ bamboo, các nhà tầm nguyên ngữ học cho rằng tiếng bamboo của người Tây phương lấy từ một từ tượng thanh của tiếng Mã Lai Á gọi theo tiếng tre nổ khi đốt (1). Tiếng Mã Lai có nhiều tiếng cổ Việt, nhà Văn Bình Nguyên Lộc trước đây đã so sánh tiếng Việt và tiếng Mã Lai Á. Marco Polo cũng đã từng ghi lại trong du ký về phương đông là những người đi rừng đêm thường chặt tre để trên đống lửa cho tre nổ bập bùng để xua đuổi các thú dữ đi xa. Tiếng tre nổ trong lửa cháy người Mã Lai gọi là “băm-bu” chính là Việt ngữ “bập bùng”. Như thế từ bamboo hiện nay của Tây phương được cho rằng lấy từ tiếng Mã Lai Á -Nam Dương băm-bu có thể là Việt ngữ “bập bùng”. Tiếng tre nổ bập bùng trong lửa đỏ. Cây bamboo là cây nổ “bập bùng”. Từ bamboo có thể phát gốc từ một chữ cổ Việt “bập bùng”.

Về thực vật học, các học giả hãy còn tranh cãi là phải xếp cây tre vào loại cây nào? Ta phải xếp tre xếp vào loài cỏ tức thảo hay xếp vào loài cây có gỗ tức mộc. Thường thường tre được xếp vào loài cỏ thuộc họ nhà cây lúa vì hoa tre giống hoa lúa, ví dụ điển hình là Hán ngữ gọi cây tre là trúc và viết với bộ thảo nghĩa là xếp tre vào loài cỏ chứ không viết với bộ mộc. Tuy nhiên nhiều người khác cho rằng tre là một loài cây độc đáo vì thân tre có cấu tạo đặc biệt. Tre cũng cứng không thua gì các loại cây cho gỗ như ta thấy qua câu:

          Tre già bà lim.

Tre già cứng và tốt dùng làm nhà, đồ đạc không thua gì gỗ lim. Vì thế tre không phải là một loài cỏ mà cũng chẳng phải là một loài gỗ. Trong bài viết về Trúc trong Niệm Thư, tác giả Minh Đức Hoài Trinh đã trích dẫn một đoạn Hán văn về trúc như sau “Phi thảo, phi mộc, bất cương, bất nhu, tiểu dị không thực, đại đồng tiết mục” có nghĩa là “không phải là cỏ, mà cũng chẳng phải là cây gỗ, không cứng chẳng mềm, điểm khác nhau là có thứ rỗng có thứ đặc ruột và điểm giống nhau là cây tre lớn nào cũng có đốt có mắt” (2). Có rất nhiều loại tre, các nhà thực vật học đếm được vào khoảng 1.250 giống và được phân loại thành 50 họ. Nhưng các giống thường gặp chỉ có khoảng vàl chục giống, theo dân dã Việt Nam thì:

                   Trên rừng có ba mươi sáu thứ tre.

Dựa vào chiều cao, tre thường được chia ra làm bốn nhóm:

Nhóm thứ nhất cây cao và lớn ta thường gọi là tre (bamboo) những loại tre to như tre bầu, tre lồ ồ, loại tre to nhất dùng làm cột nhà gọi là cây bương:

          Bương già nhà vững.

Người Nhật gọi một loại tre lớn nhất là tre Madake (giant Japanese timber bamboo, Phyllostachys bambusoides). Loài tre này tương tự loài tre rất lớn có măng ngon gọi là Mãnh Tông của Trung Hoa. Đời Tam Quốc có một người học trò nghèo tên là Mãnh Tông, được mẹ hy sinh cực khổ nuôi ăn học. Ông rất có hiếu với mẹ. Bà mẹ già thích ăn măng, ông thương mẹ vào rừng tìm nhưng tre chưa mọc măng, ông ngồi dưới gốc tre chờ măng mọc mãi mà không thấy, ông than khóc cầu xin, bỗng nhiên măng mọc từ dưới đất lên. Vì thế loài tre này mới có tên là tre Mạnh Tông, Mãnh Tông.

Nhóm thứ hai cây vừa tầm và thân nhỏ, ta thường gọi là trúc (lesser bamboo). Loại trúc to thường dùng làm cần câu.

Nhóm thứ ba chỉ cao ngang đầu người, thân nhỏ hơn ngón tay. Có những loại cao không quá đầu gối, thân nhỏ hơn cái đũa ví dụ như loại trúc ngọc thường dùng làm cây kiểng lùn bonsai.

Nhóm thứ tư chỉ cao sà sà mặt đất (sasa), được trồng như cỏ che mặt đất. Loại tre sà sà sát mặt đất này che kín hàng triệu ếch-cơ (acres) đất ở đảo Hokkaido, phía bắc Nhật Bản. Tre sà sà có loại lá xanh và trắng rất đẹp, người Nhật thường dùng trang trí các món ăn cá sống sushi.

Thân tre có đốt thường rỗng ruột. Tre đặc ruột gọi là tre đực. Tre càng rỗng ruột thành thân tre càng mỏng. Một loại tre có thành thân mỏng dính gọi là cây nứa. Tại sao lại gọi là nứa? Nứa biến âm với cổ ngữ Việt “nưa” là không ví dụ như “nưa làm” là không làm, không chịu làm, “làm nưa” là không hợp tác, dỗi hờn. Cây nứa là cây tre nưa, cây tre trống không, cây tre rỗng không. Vì cây nứa bộng ruột, vỏ thân rất mỏng nên thường được đập dập ra để đan đồ dùng có nẹp lớn như các phên, sàn nhà, sọt, bồ:

Tre già đan sọt, nứa tốt đan bồ.

không ai dùng nứa làm cột nhà.

Thân tre thẳng, có loại dù trồng ngả nghiêng, dù mưa gió làm nghiêng ngả đi nữa, tre cũng vẫn mọc thẳng trở lại. Loài tre mọc thẳng nhất gọi là tre quân tử gọi theo từ Hán Việt là quân tử trúc (Semiarundinea fastuosa). Tre quân tử cũng giống như người quân tử lúc nào cũng cương trực, ngay thẳng dù bị bọn tiểu nhân uốn cong bẻ quẹo, bôi bẩn, vẫn đứng thẳng giữa trời, ngang ngửa cùng đời. Trúc tre được coi như người quân tử thấy qua điển cố “trúc mai” như qua câu:

Trúc với mai, mai về nhớ trúc,

Trúc trở về, trúc nhớ mai không?

Hay

Ai đi đường đó hỡi ai?

Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm.

Trúc tượng trưng cho người quân tử trượng phu, mai tượng trưng cho người con gái đẹp, tài giỏi, anh thư. Trúc với mai đi đôi với nhau. Thân tre thường tròn hình ống tuy nhiên cũng có loại tre vuông thân có bốn cạnh. Cần phải phân biệt loại tre vuông thiên nhiên do trời sinh ra (Chimonobambusa quadrangularis) và loại tre vuông nhân tạo do con người làm ra. Muốn tạo ra tre vuông nhân tạo chỉ cần để một cái khuôn hình trụ vuông có cỡ vừa bằng khít cỡ cái măng tre vừa mới nhú ra khỏi mặt đất hay bó măng như bó giò thủ hình vuông. Khi măng lớn lên hình dáng lấy theo khuôn nghĩa là ta có loại tre vuông nhân tạo. Với cách này ta có thể tạo ra các loại tre với hình dạng theo ý muốn. Đốt tre thường thẳng hình ống nhưng có nhiều loại tre lạ đốt hình mai rùa đồi mồi gọi là tre đồi mồi (“tortoise-shell” bamboo), có loại tre đốt hình xoắn ốc, có loại tre có bụng phình ra như bụng phệ (Bambusa ventricosa). Người Tây phương gọi tre bụng phệ là tre bụng Phật (Buddha’s belly bamboo). Ở đây có ẩn ý nói là bụng Phật cười Di Lạc. Loại tre bụng phình này loại nhỏ thường dùng làm xe điếu, loại lớn dùng làm gậy, bàn ghế, đồ trang hoàng, đồ mỹ thuật bằng tre. Loại tre bụng Phật Di Lạc này vốn sống ở vùng nắng hạn, chỗ ít mưa, ít nước, tre phải tích trữ nước cho nên nước làm cho bụng phình ra như người bị báng nước. Trồng tre này nếu ta tưới nhiều nước quá, tre không cần giữ nước để dành, tre sẽ không còn phình bụng ra nữa và ống trở thành thẳng như tre thường…. Ống tre có loại dài loại ngắn khác nhau: loài tre có đốt rất dài dùng chẻ lạt, để đan gọi là tre dang (Bambusa textilis):

Ba năm trấn thủ lưu đồn,

Ngày thì canh điếm, tối dồn việc quan,

Chém tre, đẵn gỗ trên ngàn,

Hữu thân, hữu khổ phàn nàn cùng ai,

Miệng ăn măng trúc măng mai,

Những dang cùng nứa biết ai bạn cùng?

Tại sao lại gọi là tre dang? Sở dĩ loại tre này có tên là tre dang vì tổ tiên ta thời thái cổ dùng tre này để làm ra lửa. Dang có nghĩa liên hệ tới lửa, mặt trời ví dụ rang là nấu thức ăn trên lửa như cơm rang, bắp rang, gạo rang và dang là phơi nắng như dang nắng. Dang biến âm với dương là mặt trời. Tre dùng làm lửa có hai cách: cách thứ nhất là lấy hai cái cật dang khô kéo cọ vào nhau để làm lửa như ta thấy qua truyền thuyết Mường Việt cổ: Thần lửa Đá Cắm Cọt lấy lạt cây tre dang vàng kéo cọ vào nhau:

Đá chặt cây nắng làm que chịu lửa,

Cạo cây nứa là mồi,

Lấy lạt dang vàng chùi qua, kéo lại,

Cháy lên ngọn lửa ngòi ngọi,

Ra lửa khói ngăm ngăm…

                              (Đẻ Nước, Đẻ Đất).

Cách thứ hai là chặt hai ống tre dang khô nỏ, một khúc ruột to hơn ống kia một tí, bỏ một nhúm dăm bào tre vào ống lớn rồi lắp ống nhỏ vào làm thành cái ống thụt, một thứ “piston lửa”, dùng một vật gì đóng thật mạnh piston vào ống tre, piston và ống tre cọ sát mạnh vào nhau bật cháy thành lửa.

Thân loại tre thường có màu xanh nhưng có nhiều loại có những màu khác nhau như tre màu đen gọi là mặc trúc, tre vàng, tre màu tím và có cả tre màu hồng ở Hy Mã Lạp Sơn. Tre vàng nhất là loại có sọc xanh (P. bambusoides castilloni) được nhiều người ưa chuộng. Bạch Cư Dị nhà thơ đường cũng yêu thích tre vàng như thấy qua hai câu thơ của ông:

          Yếm lục tải hoàng trúc,

          Hiềm hồng, chủng bạch liên.

Có nghĩa là thi sĩ chán màu xanh nên trồng tre vàng và ghét màu đỏ nên trồng sen trắng. Việt Nam có một loại tre thân có màu vàng xanh như màu nước trà tươi có khi gọi là “tre trà” (teastick bamboo), lá to mà các nhà sưu tầm tre Tây phương rất thích, họ đặt tên là “gậy Bắc Việt” tức là “Can trúc Bắc Việt” (“Tonkin cane”, Arundinaria amabilis). Ngoài ra có nhiều loại còn pha nhiều màu: có loại tre xanh sọc vàng, có loại tre vàng sọc xanh, có tre có đốm, có tre có các vệt loang như màu nước…

Lá tre nhỏ thường bằng ngón tay người lớn. Tuy nhiên có loại nhỏ như lá liễu gọi là tre liễu (Weeping bamboo, Otatea acuminata), có loại lá to bàn tay gọi là trúc bàn tay, lá dùng gói bánh chưng, có loại lá nhỏ bao quanh cả cành tre trông như kết tụ, gọi là tre tụ. Lá tre thường có màu xanh nhưng cũng có những loại lá màu lá mạ, có loại lá có sọc trắng, sọc xanh đậm, có lá viền trắng hay viền vàng…

Rễ tre có hai loại: một là rễ cụm nếu là tre mọc thành từng bụi, hai là rễ chạy (căn hành) nếu là tre mọc thành từng cây riêng biệt. Loại tre cụm mọc thành từng bụi có gốc chung với nhau thường thấy ở vùng nhiệt đới. Tại sao tre ở vùng này phải mọc thành bụi thành cụm? Câu trả lời là vùng nhiệt đới khí hậu nóng và hay có gió bão, tre phải mọc thành cụm để tre già che nắng, gió bão cho măng non và tre già đứng thành cụm để đứng vững với gió bão. Loại tre thứ hai là loại có rễ ngầm chạy dưới đất, từ mỗi mắt của rễ mỗi năm sẽ nẩy mầm mọc lên một cây tre đơn độc. Loại tre này lan rất mạnh bao phủ cả một vùng rộng lớn trông như một cánh rừng thưa rất đẹp mắt. Trồng tre chạy này trước nhà tạo ra một tấm màn tre trông thật siêu thoát và thơ mộng. Nhưng trồng tre này tại nhà phải cầm chân tre cẩn thận, coi chừng loại tre này chạy qua cả nhà hàng xóm. Loại tre cụm nếu trồng sát vào nhau làm hàng rào sẽ tạo ra một thành lũy tre kiên cố bảo vệ nhà cửa xóm làng. Làng mạc ở thôn quê miền Bắc thường có lũy tre xanh bao quanh. Loại tre chạy có rễ ngầm dưới đất đan kết lại thành một mạng lưới rất kiên cố giúp tránh khỏi nạn đất lở, đất chuồi và phòng chống, ngăn cản được sức tàn phá của động đất.

Cũng vì có hai loại tre khác nhau nên cách sinh sản của tre, cách trồng tre cũng có hai cách khác nhau. Nếu là tre cụm, muốn trồng tre ta phải phân bụi tre ra làm nhiều phần nhỏ rồi đem trồng hay chặt thân tre thành nhiều đoạn nhỏ đem trồng. Loại tre chạy, muốn trồng chỉ cần đào rễ ngầm cắt ra thành nhiều đoạn nhỏ rồi đem trồng, mỗi mắt rễ sẽ mọc lên thành một cây tre. Tre mọc xanh tươi vào mùa đông như ta thấy qua câu:

Lá tre trổ lộc, mùa rét xộc đến.

Cũng vì thế tre được gọi là “đông sinh thảo” nghĩa là loài cỏ mọc vào mùa đông. Vì vậy tre mang lại vẻ đẹp xanh tươi về mùa đông cho vùng nhiệt đới. Tre được coi là biểu tượng cho cây cỏ mùa đông như thấy qua câu Mai, Lan, Cúc, Trúc – những thứ hoa, cây cỏ tiêu biểu của bốn mùa: hoa mai mùa xuân, hoa lan mùa hạ, hoa cúc mùa thu và tre mùa đông. Cây tre là người bạn của con người trong mùa đông giá lạnh.Tre mọc măng vào cuối mùa đông vì thế muốn trồng tre, ta phải trồng vào lúc gốc hay rễ tre đang sửa soạn mọc măng non, nghĩa là ta phải trồng vào đầu mùa đông, vào khoảng tháng giêng ta:

Tháng giêng trồng trúc, tháng lục trồng tiêu.

Tháng giêng ta trồng tre và tháng sáu trồng tiêu là lúc tốt nhất. Dù là tre cụm hay tre chạy, bất cứ loại tre nào cũng mọc lên từ chồi non gọi là măng:

          Tre già măng mọc.

Tại sao lại gọi là măng? Măng thường được hiểu theo nghĩa hiện kim là non. Nguyên thủy măng biến âm với “mang” có nghĩa là cái gai nhọn ví dụ thảo mang là cỏ gai. Cái chồi non của cây tre trông như một cái gai nhọn khổng lồ từ trong lòng đất đâm lên vì thế mới có tên là mang là măng. Măng tre hình cái gai nhọn khổng lồ trông như cái răng nanh vĩ đại vì thế người Trung Hoa gọi măng theo cách nói vương giả là răng rồng “long nha”. Cây tre là loài cây mọc nhanh nhất trong các loài cây. Chỉ trong vòng hai tháng măng đã mọc thành cây tre trưởng thành và kể từ đó cho tới hết đời, kích thước của tre không tăng trưởng nữa. Nếu chăm chú ngồi nhìn một cái măng tre, ta có thể thấy măng mọc. Có thứ tre mọc cao 4 bộ (4 feet) một ngày. Một đêm trăng thanh vắng nào đó, ra ngồi giữa vườn tre hay giữa rừng tre, lắng tai, ta sẽ nghe thấy tiếng măng tre từ trong lòng đất bắn lên khỏi mặt đất nổ lụp bụp nghe như tiếng súng ầm ì từ trong lòng đất bắn ra. Cũng vì măng mọc rất nhanh như từ trong lòng đất bắn lên khỏi mặt đất và phát ra âm thanh như tiếng nổ lụp bụp mà người Anh và Mỹ đã gọi mầm măng là “bamboo shoot”, shoot có một nghĩa là bắn.

Tóm lại tre có hai loại sinh sản, nếu là tre cụm thì măng nẩy mầm từ gốc cây mẹ, nếu là tre chạy thì măng mọc ra từ mắt của rễ chạy ngầm dưới đất cách biệt với cây mẹ. Con người có thể trồng tre bụi bằng cách phân bụi tre ra làm nhiều bụi nhỏ, hay chặt ra từng đoạn lựa những khúc có mắt tốt cắm xuống đất, còn loại tre chạy thì chặt rễ chạy ra từng đoạn nhỏ đem trồng. Đó là cách truyền giống thông thường. Nhưng tre còn một cách truyền giống đặc biệt nữa là tre mọc bằng hạt. Có nhiều loại tre cứ khoảng từ sáu bẩy chục năm tới hơn một trăm năm lại trổ hoa một lần. Cây tre ra hoa xong rồi tàn lụi chết đi. Nhiều nơi cả một rừng tre rộng lớn ra hoa rồi chết hết cả. Sự kiện này đã ảnh hưởng rất nhiều đến muông thú sống nhờ vào tre, ví dụ như loài gấu mèo panda của Trung Hoa sống bằng một loại trúc gọi là trúc cây dù (“tán trúc” ), khi loài trúc này ra hoa rồi chết đã khiến cho loài gấu mèo không có thực phẩm để sinh sống. Loài thú này ngày nay trong thiên nhiên chỉ còn vài ngàn con. Khi tre ra hoa phải chờ một thời gian khá lâu tre mới mọc lại từ gốc tre. Phải năm sáu năm lứa tre khác mới mọc từ rễ hay từ hạt tre do hoa rải xuống đất. Tại sao tre lại đổi đời bằng cách ra hoa rồi chết? Đây là một cách bành trướng để sống còn rất khôn ngoan của loài tre. Đây là một chiến thuật tự vệ của tre để tránh bị tuyệt chủng vì bị ăn hết, bị tàn phá hay bị đốn chặt hết. Tre ra hoa kết hạt với con số hạt nhiều hằng hà sa số, tre sẽ tồn tại sống còn. Tại sao có những loại tre cố tình kéo dài thời gian ra hoa có khi trên cả trăm năm? Đây cũng là chiến thuật sống còn của vài loại tre. Tre ra hoa rất hiếm, có khi trên một trăm năm mới ra hoa một lần để các loài phá hoại không có đủ thời gian sống để ăn hạt tre. Khi tre đã phát triển cực độ ở một vùng đất nào đó, đất không còn màu mỡ hay gặp những khó khăn về đất đai, thời tiết, những kẻ phá hoại như côn trùng, thú dữ, con người… tre muốn đi tìm đất mới nên thay đổi cách sinh sản bằng cách ra hoa kết hạt. Hạt tre được gió, muông thú, côn trùng mang đi xa tới những vùng đất mới thuận lợi hơn. Hạt tre nẩy mầm và mọc thành cây tre cách gốc tre mẹ cả chục, cả trăm cây số… Dân dã Việt Nam nhận thấy rằng cứ mỗi khi tre ra hoa là lúc đó bị mất mùa, đói kém hay gặp thiên tai:

Tre già trổ hoa, lúa mùa rồi hỏng.

Tại sao khi tre ra hoa nhà nông bị mất mùa lúa đưa đến nạn đói kém? Xin thưa lý do thứ nhất là tre thường chọn lúc ra hoa vào những năm có khí hậu thích hợp cho hạt tre tung đi khắp bốn phương trời, có nghĩa là vào lúc trời có nắng và gió nhiều. Trong khi đó cây lúa cần mưa, trời nắng nhiều tốt cho hoa tre, cho tre truyền giống nhưng lại làm thiệt hại mùa lúa cần nước. Một nguyên nhân quan trọng nữa là hạt tre là một món cao lương mỹ vị của sâu bọ, côn trùng, muông chim, các loài gậm nhấm như chuột… Chúng ta chưa nghe thấy nói đến món hạt tre dùng món ăn cho người nhưng chắn chắc đây là món cao lương mỹ vị quí hiếm. Sâu bọ, côn trùng, thú vật phải chờ cả đời hay chục đời, trăm đời, ngàn đời mới có được ăn hạt tre một lần… vì thế khi cây tre ra hoa kết hạt, các hạt di thể (gen) chờ ăn, thèm ăn hạt tre này nổi dậy khiến chúng sinh sôi nẩy nở gia tăng bội phần và khi hết hạt tre rồi chúng quay sang phá hoại mùa lúa. Chính vì khi tre ra hoa thì côn trùng, chuột bọ sinh sôi nẩy nở gấp bội nên mỗi khi “tre già trổ hoa, lúa mùa rồi hỏng” là vậy.

Tre cũng có loại ra quả nhưng rất hiếm. Cách đây vài chục năm một loài tre trên Hy Mã Lạp Sơn ra quả đã thu hút được rất nhiều người yêu tre “hành hương” lên xem tre ra quả. Đây là dịp may mắn hiếm hoi mà một đời người ít khi được thấy tre ra quả vì tre loại này phải chờ trên một trăm năm sau tre mới ra quả lần kế tiếp.

Công Dụng Của Tre

Như đã biết cây tre là một trong những loài cây phi thường nhất hiện hữu trên mặt quả đất. Cây tre là một món quà vô giá tạo hóa ban cho con người. Cây tre là một loài cây hữu dụng phổ quát nhất mà con người biết đến. Không có cây tre thì cuộc đời của hơn nửa nhân loại sẽ hoàn toàn đổi khác. Ở những nơi may mắn có tre, từ thái cổ tre đã đóng góp một phần chính vào sự sống còn của con người. Tre đi vào mọi khía cạnh của đời sống con người từ vật chất đến tinh thần. Tre là một loài cây cỏ rất đa dụng. Nếu có thì giờ ngồi xuống ghi những công dụng của cây tre chắc phải mất cả ngày. Có người đã đếm được cả ngàn cách con người xử dụng tre cho đời sống con người. Vì thế chỉ xin nói tới các công dụng chính.

Ở những nơi có tre như Việt Nam, con người lớn lên với tre, sống và chết với tre. Người Việt Nam ăn măng tre khi còn nằm trong bụng mẹ. Ngày xưa, ngay khi lọt lòng mẹ ra, cuống nhau được cắt bằng cật tre, cật nứa thay cho dao kéo. Các cụ ta dùng cật tre đực cắt rốn cho con gái và cật tre cái cắt rốn cho con trai. Ngày nay tại Nhật Bản và Trung Hoa nhiều nơi vẫn còn dùng cật tre để cắt cuống nhau và chỉ làm bằng tơ tre cột cuống rốn. Tại Nhật có một truyền thuyết về một loài tre rất lạ. Theo truyền tuyết khi quận chúa Konosakuya hạ sinh một hoàng tử, bà mụ cũng dùng cật tre cắt rốn. Cái cật tre dùng để cắt rốn cho hoàng tử đem ném ra ngoài vườn, đầu cái cật tre cắm ngược xuống đất, về sau mọc thành một giống tre lạ, đầu lộn ngược xuống đất. Ngày nay gọi là tre “lộn đầu”, còn thấy ở địa hạt Kagoshima bên Nhật. Dân dã cũng tin rằng dùng cật tre cắt rốn, dùng chỉ tre cột cuống nhau thay cho việc dùng dao kéo bằng kim loại để tránh bị phong đòn gánh do dao kéo không được hấp sát trùng kỹ lưỡng gây ra. Người Việt sinh ra nằm trong nôi tre nghe tiếng đưa kẽo kẹt như tiếng tre già đong đưa trong gió, lớn lên nằm trên giường tre, chõng tre, ở trong nhà tre, hò hẹn tình tự với nhau dưới bóng tre xanh và thời cổ con người chết được bó trong cót tre, để trên các dàn tre, trong các chòi nhà mồ bằng tre hay hỏa thiêu bằng lửa tre… Tre đi vào hết mọi khía cạnh đời sống thế gian của con người, của người nghèo lẫn người giầu, từ cái cỏn con như cây tăm xỉa răng tới dùng vào việc xây đền dài, đắp thành đắp lũy, cầu cống. Cây tre từ ngọn tới gốc, tới rễ đều xử dụng được hết:

Tre già anh để làm nan,

Lớn đan nong thúng, nhỏ đan dần sàng,

Gốc thời cắm cột làm giàn,

Ngọn xanh anh để cắm hàng trồng dưa,

Làm ăn bao quản sớm trưa,

Càng cần kiệm lắm, càng thừa dư ăn.

Tre dùng làm đồ gia dụng trong nhà không tài nào kể cho hết được: xin kể sơ qua một vài ví dụ, chúng ta uống trong cốc ống tre, ăn trong bát tre, đũa tre, muỗng tre, nấu cơm trong ống tre gọi là nấu cơm lam, nấu thức ăn trong các nồi hấp đan bằng tre. Chúng ta đội nón nan tre, đi dép tre… Chúng ta dùng tre làm các vật đựng như rổ, rá, thúng mủng, nong nia, dần sàng, sọt giỏ, lồng cũi… Chúng ta di chuyển bằng vật làm bằng tre. Ngày xưa phương tiện di chuyển chính là đường sông nước. Chúng ta dùng tre kết bè, đan thuyền như thấy qua những câu:

Trồng tre chẳng dám ăn măng,

Chờ cho măng lớn kết bè đưa dâu.

Hay

Tháng tư đan thuyền,

Tháng năm, tháng sáu gặt miền lúa chiêm.

Hay

Ông kia có cái thuyền nan,

Chở vào ao rậm xem lươn bắt cò.

Tre dùng làm cầu: có thể là những cái cầu đơn giản bằng vài thân tre cột vào nhau, lắc lẻo:

Ví dù cầu ván đóng đinh,

Cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi.

Tuy nhiên tre cũng được dùng để làm những cây cầu bắc qua sông lớn như cái cầu nổi tiếng bắc qua sông Minh bên Trung Hoa dài hơn 250 mét làm hoàn toàn bằng tre. Nhà nông và dân miền núi dùng tre đựng nước, lấy nước, dẫn thủy đem nước vào ruộng trồng trọt. Tre làm vật dụng săn bắn. Tre làm cung tên. Có loại tre to bằng cái xe điếu rất thẳng dùng làm mũi tên gọi là trúc mũi tên. Tre làm chông, cạm bẫy bắt muông thú và dùng trong chiến tranh. Tre cũng được dùng làm khí giới giết giặc trong truyền thuyết Phù Đổng thiên vương. Ông Dóng đánh giặc đến gẫy cả roi sắt. Ông bèn nhổ những bụi tre ngà quay tít bổ xuống đầu giặc Ân khiến chúng lăn quay ra chết và bị thương:

          Đứa thì sứt mũi sứt tai,

          Đứa thì chết tốt vì gai tre ngà.

Đám tre ngà đó nguyên thủy là rừng tre ở phía đông bắc làng Thất Gian, xã Châu Phong ngày nay. Sau khi ông Dóng nhổ tre giết giặc chỗ đó lõm xuống thành một cái đầm nước, ngày nay vẫn còn và gọi là đầm Thất Gian. Còn tre ông Dóng vất tung khắp nơi ngày nay còn mọc thành từng đám ở giữa đồng cạnh các ao đầm vốn xưa kia là dấu chân ngựa của ông Dóng từ Ngọc Xá, Dũng Quyết, Đức Thành… cho đến Giang Sơn, Đông Cứu, Lãng Ngâm…

Tre đan những đồ dùng đánh cá như đóng đăng bện sáo:

Chẻ tre bện sáo cho dầy,

Bắc ngang sông Mỹ có ngày gặp em.

hay đan nơm, đan lờ:

Tay cầm dao mác,

Tay vác nắm nan,

Lên chùa thanh vắng, tôi đan cái lờ,

Hỡi người ăn mít bỏ xơ,

Ăn cá bỏ lờ có nhớ tôi chăng?

Đó là công dụng của tre dùng trong các công việc hàng ngày. Tre còn dùng trong lãnh vực năng lượng như tre lớn đem chưng cất làm dầu diesel chạy máy. Ông Thomas Edison, người phát minh ra bóng đèn điện, sau nhiều ngày loay hoay đi tìm một thứ kim loại để dùng làm dây phát quang cho bóng đèn, cuối cùng ông đã dùng than tre làm sợi phát quang trong cái bóng đèn điện đầu tiên của mình. Ngày nay các nhà nghiên cứu cũng đang nghĩ tới việc dùng tre để tồn cất năng lượng mặt trời. Xin nhắc lại là tổ tiên ta dùng cây tre dang làm lửa. Ngày xưa tre dùng làm sách để ghi chép. Chẻ tre thành những thanh nhỏ, dùi lỗ, dùng dây cột lại thành sách trên đó dùng dao nhọn khắc chữ. Lịch sử được ghi lại trên sách tre xanh gọi là sử xanh… Về sau tre được dùng làm giấy.

Tre cũng đóng góp rất nhiều cho đời sống tinh thần của con người qua cái vẻ đẹp siêu thoát của nó. Thấy bóng dáng tre là thấy bóng dáng đông phương huyền diệu, thấy bóng dáng tre là thấy bóng dáng Thiền tịnh. Tre cũng không thể thiếu mặt trong nghệ thuật: trong âm nhạc ta có sáo tre. Sáo tre là nhạc khí cổ như loài người. Sáo tre có lẽ là nhạc khí đầu tiên con người biết tới khi nghe gió thổi vi vu trong đám tre sậy. Những chiều tàn, tiếng sáo diều vi vu trong gió đem lại cái êm đềm tĩnh lặng của đồng ruộng bên lũy tre xanh. Ngoài ra còn có phách tre, khèn tre, nhạc cồng tre. Ôi! Tiếng nhạc cồng tre Bách Việt Động Đình Hồ đồng vọng, vang dội Hy Mã Lạp Sơn huyền bí, đồng vọng rừng thiêng Ba Vì, đồng vọng núi đồi huyền hoặc Tây Nguyên, đồng vọng rừng mưa Borneo Nam Dương, Mã Lai… Tại Phi Luật Tân có một cái đàn organ làm bằng tre cổ hơn một thế kỷ rưỡi và ở Tokyo mới đây cũng có một cây đàn organ làm bằng ống tre. Trong hội họa và chữ viết, bút tre đã đóng góp vào những đường nét tuyệt vời của tranh mực nước Đông phương. Tre dùng làm đồ mỹ thuật, điêu khắc, tiểu công nghệ. Tre có mặt trong trà đạo, trong nghệ thuật cắm hoa, trong cây kiểng lùn bonsai. Trong nghệ thuật vườn tược, tre đem lại cái siêu thoát, cái thiền của một khu vườn. Tô Đông Pha, một thi sĩ cổ Trung Hoa đã viết hai câu thơ:

         Cư gia bất khả vô trúc,

          Vô trúc, sử nhân đọa tục.

Có nghĩa là sống trong nhà không thể không có cây tre, không có tre, con người rơi xuống chỗ phàm tục. Cảnh cành trúc gió đưa la đà trong màn sương khói mịt mờ thủy mạc chẳng khác gì như trên tiên cảnh cũng thấy qua mấy câu ca dao sau đây:

Gió đưa cành trúc la đà,

Tiếng chuông Trấn Vũ canh gà Thọ Xương,

Tuyệt mù khói tỏa ngàn sương,

Nhịp chầy Yên Thái, mặt gương Tây Hồ.

Dĩ nhiên trong văn chương những nơi có tre có rất nhiều những áng thi văn tuyệt tác, có rất nhiều truyện dân gian viết về tre, kể ra không xiết. Chúng ta có chuyện cổ tích cây tre trăm đốt. Trung Hoa có sự tích loài tre Mạnh Tông như đã nói ở trên và nhiều truyện dân gian khác nữa. Nhật Bản có truyện Công chúa Sáng Ngời tức Nàng Sáng Kaguyahime. Ngày xửa, ngày xưa có một người nông dân nghèo và không có con, một ngày kia ông ta vào rừng chặt tre về dùng. Khi chẻ ống tre ra, ông thấy có một nàng con gái nhỏ như con búp bê bên trong. Ông nuôi nàng làm con. Khi lớn lên nàng trở thành một giai nhân tuyệt sắc, xinh đẹp tuyệt vời. Không biết bao nhiêu công tử, hiệp sĩ muốn cưới nàng làm vợ nhưng nàng đều đưa ra các đề nghị không ai thực hiện được. Một ngày kia tiếng tăm của nàng vang dội tới kinh đô. Nhà vua sau đó cũng tương tư và muốn lấy nàng làm vợ. Nàng thấy bối rối và buồn bã vì nàng chưa thấy yêu nhà vua. Nàng quyết định không lấy chồng và một đêm trăng rằm, thiên thần xuống rước nàng về quê cũ của nàng là mặt trăng. Nhà vua nghe tin cho quân đến chặn bắt nàng lại nhưng vô ích, nàng đã bay lên mặt trăng. Nàng để lại một lá thư cho nhà vua. Ông vua đọc xong lá thư rồi âm thầm, lặng lẽ đem lá thư lên đỉnh núi cao nhất nước Nhật đốt cháy bức thư để cho khói bay lên tận mặt trăng. Đốt xong bức thư, khói bốc lên. Ngàn đời còn bốc khói mãi mãi ở đỉnh núi. Đó chính là ngọn núi lửa Phú Sĩ của nước Nhật đời đời còn bốc khói như ta thấy ngày nay.

Tre dùng làm thuốc

Trong Đông y tre được dùng làm nhiều vị thuốc. Nào là lá tre có thể chữa được chứng đau tim, đau ruột, táo bón, rễ tre trị được nóng nhiệt. Nước cốt tre gọi là Trúc lịch dùng chữa bị trúng phong, méo miệng… (2) Dĩ nhiên đây chỉ là những vị thuốc dựa vào kinh nghiệm dân gian còn cần phải nghiên cứu kỹ dưới ánh sáng khoa học. Trước đây có một liều thuốc được chế vào thời Trung cổ từ chất gôm nhựa tiết ra từ cây tre gọi là sạn tre có tên là Tabaschir. Thời đó được coi như là một liều thuốc thần kỳ, một thứ linh dược dùng để giải độc do bị đầu độc hay trúng độc gây ra. Dĩ nhiên đây là chuyện khó tin. Nhưng gần đây các nhà nghiên cứu thấy trong nhiều ống tre có chứa chất silica thiên nhiên dưới dạng bột nhuyễn. Sạn nhựa tre tabaschir cũng có chứa nhiều chất silica. Ngày nay y học cũng dùng một loại silica để giải độc. Như thế dùng sạn nhựa tre cũng có thể có tính giải độc được. Điều này cũng giải thích sự kiện cho rằng đổ rượu vào ống tre xanh vài ngày sẽ làm cho rượu ngon và trừ được độc. Cũng cần biết thêm là cây tre rất cần chất silica này, có thể tre dùng nó làm chất trừ độc, nhiều chỗ đất không có silica khiến cây tre chết dần chết mòn. Trong lá tre cũng có chất silica vì thế trồng tre phải giữ lại lá tre già rụng xuống, hãy đem chôn vào dưới gốc tre để cung cấp chất silica cho cây tre.

Tre dùng làm thức ăn

Tre cung cấp cho con người một món ăn ngon và rẻ đó là măng tre. Măng ngon tùy loại tre. Măng có loại đắng và chát. Trong các loài tre có một thứ tre có loại măng ngọt nhất gọi là tre ngọt (bambusa dulcis). Măng được người Việt ưa chuộng là măng le. Ngoài loại măng tre ngọt, măng thường có vị chát nên phải nấu chín khoảng năm phút rồi đổ nước chát đi, sau đò mời làm món ăn. Măng ăn dòn sần sật gần giống như táo tây có vị giống lõi hoa artichoke. Măng phải hái đúng lúc. Hái ngay lúc măng vừa nhú đầu ra khỏi mặt đất. Ta thường nghe câu nói:

          Mượn gió bẻ măng.

để chỉ những kẻ thừa cơ, gian xảo lợi dụng lúc gió to bẻ trộm măng và nói dối là măng bị gẫy vì gió to. Thật ra măng bẻ vào lúc gió to ăn cũng chẳng ngon gì. Kinh nghiệm dân gian cho biết tránh hái măng vào lúc gió to và nắng lớn. Những măng đã nhú ra khỏi mặt đất gió to, nắng lớn sẽ làm mất nước, khô cứng, ăn đắng chát và sơ dai. Cũng vì vậy măng đào xong tránh để chỗ có ánh sáng nhiều và phải nấu ăn càng sớm càng ngon. Măng dùng làm nhiều món ăn, nhất là về mùa đông có thể dùng măng tươi thay cho các loại rau khác. Măng là món ngon đồng ruộng và nhất là vùng núi rừng:

Muốn ăn măng trúc, măng dang,

Măng tre, măng nứa, chè bàng, cơm lam.

Măng là món ăn thường nhật của những người lính trấn giữ biên cương:

Ba năm trấn thủ lưu đồn,

Ngày thì canh điếm, tối dồn việc quan,

Chém tre, đẵn gỗ trên ngàn,

Hữu thân, hữu khổ phàn nàn cùng ai,

Miệng ăn măng trúc măng mai,

Những dang cùng nứa biết ai bạn cùng.

Măng tre mai là măng tre mang, tre mương, tre bương, một giống tre rất lớn. Món măng nổi tiếng là món sáo măng:

Con cò mà đi ăn đêm,

Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao,

Ông ơi, ông vớt tôi vào,

Tôi có lòng nào ông hãy sáo măng.

Có sáo thì sáo nước trong,

Đừng sáo nước đục đau lòng cò con.

Măng nấu cá:

Trên non tốc một tiếng còi,

Thương con nhớ vợ, quan đòi phải đi.

Không đi thì sợ quan đòi,

Ra đi thì nhớ cá mòi nấu măng.

Hay

Măng dang nấu cá ngạnh nguồn,

Đến đây nên phải bán buồn mua vui.

Cá ngạnh nguồn có người cho là cá ăn rất dở (3).

Măng nấu ếch:

Măng non nấu với gà đồng (ếch),

Chơi nhau một trận xem chồng về ai.

Hay

Ếch tôi ở tận hang cùng,

Bên bè rau muống phía trong gốc dừa,

Thằng Măng là con chú Tre,

Nó bắt tôi về, làm tội lột da,

Thằng Hành cho chí thằng Hoa,

Mắm muối cho vào, cay hỡi đắng cay.

  Măng nấu gà:

Măng trúc nấu với gà mai (mái),

Chơi nhau một trận, về ai thì về.

Măng làm nộm trộn mè:

Thương em vì cá trích cá ve,

Vì rau muống luộc, vì mè trộn măng.

Một món rất đặc biệt là măng nấu rươi:

Ăn măng nói rươi, nghiêng trời lở đất.

Măng nấu với rươi ngon tuyệt cú mèo, măng nấu với rươi không còn gì bằng vì thế có nhiều người ăn măng “chay” không có rươi mà cũng khoác lác, khoe khoang “nói rươi” đến độ “nghiêng trời lở đất. Măng nhiều ăn không hết có thể đem muối chua để được lâu hay đem đóng hộp. Măng chua nấu riêu cá rất ngon:

          Măng chua nấu cá ngạnh nguồn,

          Sự đời đắp đổi, khi buồn khi vui.

Măng cũng có thể đem phơi khô. Muốn để được lâu nấu măng bằng nước muối rồi đem phơi hay sấy khô.

Tre và tình yêu đôi lứa

Dĩ nhiên hình bóng của tre cũng không thể vắng bóng trong tình yêu đôi lứa:

– Hình bóng tre trong nhớ mong, tương tư:

Sáng trăng xuông vằng vặc cái đêm hôm rằm,

Nửa đêm về sáng trăng bằng ngọn tre.

Anh trót yêu em, yêu trọn một bề,

Để em thơ thẩn ngồi kề cái bóng ông trăng.

– Hình bóng tre trong chờ đợi:

Gió đập cành tre, gió đánh cành tre,

Chiếc thuyền anh vẫn le te đợi nàng,

Gió đập cành bàng, gió đánh cành bàng,

Dừng chèo anh hát, cô nàng hãy nghe!

– Hình bóng tre trong xum họp:

Hôm nay xum họp trúc mai,

Tình chung một khắc, nghĩa dài trăm năm.

– Hình bóng tre trong thề thốt:

Bóng trăng ngả lộn bóng tre,

Chàng ơi đứng lại mà nghe em thề,

Vườn đào, vườn lựu, vườn lê,

Con ong kia hút nhụy, con bướm kia ra ngoài,

Chàng về nghĩ lại mà coi,

Tâm tình em ở, gương soi nào bằng.

– Hình bóng tre trong dang dở:

Ngày đi trúc chửa mọc măng,

Ngày về trúc đã cao bằng ngọn tre,

Ngày đi lúa chửa chia vè,

Ngày về lúa đã đỏ hoe ngoài đồng.

Ngày đi em chửa có chồng,

Ngày về em đã con bồng con mang.

– Hình bóng tre trong tuyệt vọng:

/Cây trúc xinh, cây trúc mọc bên chùa,

Chị ba không yêu, tôi lấy đạo bùa cùng yêu.

– Và hình bóng tre trong cái đẹp muôn thuở:

Trúc xinh trúc mọc đầu đình,

Em xinh em đứng một mình cũng xinh.

          (trích trong Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt).

—————

Tài Liệu Tham Khảo:

1. R.Austin, D. Levy, K. Ueda, Bamboo, Weather Hill. New York & Tokyo, 1983.

2. Minh Đức Hoài Trinh, Niệm Thư I.

3. Lê Gia, Tục ngữ Ca dao, quyển 1, tr.150.

 

clip_image003

Theme: Silver is the New Black. Blog at WordPress.com.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.