THÁM DU NAM CỰC (15).

THÁM DU NAM CỰC

Du ký

(Phần 15).

Nguyễn Xuân Quang

Ngày hôm sau ở biển với các chương trình bao kín 24/24 giờ.

Tôi ôn tập lại Window Vista 7.

Đặc biệt hôm nay, thuyền trưởng sau những ngày căng thẳng phải lèo lái con tầu qua vùng Nam Cực, ông trổ tài nấu ăn làm bánh pizza đãi những người tham dự.

Vị thuyền trưởng đang làm pizza (ảnh của tác giả).

Ông thú nhận là trong những ngày đi trong vùng Nam Cực ông đã mất ăn mất ngủ nhiều vì phải vận dụng đầu óc tối đa.

Trong khi làm, ông trả lời những thắc mắc của các tham dự viên.

Học và hỏi  (hình trên màn truyền hình trực tiếp).

Ông né tránh rất tài tình khi được hỏi về con tầu Costa Concordia vừa bị đắm và về cách ứng xử của vịên thuyền trưởng của con tầu đó. 

Puerto Madryn, Patagonia, Argentina.

Sau một ngày một đêm ở biển, chúng tôi đến Puerto Madryn vào lúc 8:56 AM. Thời tiết loan báo có gió nhẹ, nhiệt độ 20 độ C (68 độ F).

Bản đồ Puerto Madryn.

Hải cảng Madryn thuộc tỉnh Chubut ở vùng Patagonia, Argentina, nằm trong Vịnh Mới Golfo Nuevo kín gió rất an toàn, là cửa ngõ tới Bán Đảo Valdés, nơi cư trú của đời sống hoang dã rất nổi tiếng và đã được chấp nhận là một Địa Điểm Di Sản Thế Giới UNESCO.

Cảng Madryn là cảng đánh cá lớn thứ nhì của Argentina và là nơi có nhà máy nhôm đầu tiên của Argentina.  Cảng được thiết lập bởi các di dân Welsh vào năm 1886 và được đặt tên theo Sir Love Parry, Baron of Madryn ở Wales.

Hải  cảng Madryn nhìn từ tầu (ảnh của tác giả).

Bãi tắm ngay bến tầu (ảnh của tác giả).

Đường dọc theo bãi biển bên phố cảng (ảnh của tác giả).

Ngoài ra cảng này cũng có những bãi biển khác rất đẹp thu hút portenos, dân thủ đổ Buenos Aires, về đây tắm biển, tĩnh dưỡng.

Du khách tới đây vì đời sống hoang dã rất đặc biệt như đã nói ở trên. Bán Đảo Valdés là nơi sinh đẻ của nhiều loại động vật biển như cá voi (loài right và orcas), hải sư (sea lions) và rất nhiều loài chim biển. Đặc biệt là loài hải cẩu voi (sea elephant seal) họ hàng với hải sư. Cả hai đều có vành tai. Nên nhớ là hải cẩu thường không có vành tai.

Ngoài ra ở đây cũng có băng quyên nhiều nhất là loài Magellan.  Như đã nói ở trên, Madryn là một tên của xứ  Wales do các di dân Welsh đặt, vì thế tới đây được biết thêm là tên penguin được cho là có gốc từ tiếng Welsh là pen ywyn có nghĩa là “đầu trắng”.

Đã đi xem tộc băng quyên gentoo và Vua ở đảo Falkland rồi, còn cá voi thì cũng đã từng xem ở California và Aslaska nên chúng tôi quyết lấy chuyến du ngoạn đi xem hải sư ở Mũi Bắc (Punta Norte).

Trên đường đi thỉnh thoảng thấy một vài con llama ở ngoài bãi hoang.

Một đàn llama (ảnh của tác giả) .

Llama nhìn gần (ảnh của tác giả).

Chúmg tôi ghé tới đài quan sát ở eo biển Istmo Carlos Ameghino và thăm Bảo Tàng Viện địa phương.

Bảo tàng viện trừng bầy về khảo cổ học, nhân chủng học, lịch sử và sinh thực động vật học trong vùng.

Khảo cổ học và nhân chủng học cho thấy tộc thổ dân Tehuelche đã sống ở đây hàng ngàn năm trước. Như đã nói ở trên  tộc Tehuelche họ hàng với Mapuche có liên hệ với cổ Việt (theo Vũ Trụ giáo, thờ Cây Vũ Trụ, có bà đồng giữ vai trò chủ chốt trong tín ngững và có trống da có hình mặt trời với các trang trí diễn tả Vũ Trụ giáo giống như trên mặt trống đồng (xem Rìu Việt ở Nam Mỹ châu).

Một người Tehuelche (ảnh của tác giả chụp lại ảnh ở  Bảo Tàng Viện).

Đá cột lưới đánh cá của người Tehuelche ngày xưa (ảnh của tác giả).

Một cái môi (cái vá) bằng vỏ ốc để múc thức ăn lỏng của người Tehuelche cổ (ảnh của tác giả).

Ở bán đảo này cũng có một tượng người Tehuelche để tưởng nhớ tộc người này, họ được coi như là tổ tiên ờ đây.

Hàm lược nước của  một loài cá voi không có răng. Cá voi hút nước có thức ăn vào miệng rồi đẩy nước ra khỏi miệng qua hàm  lược nước này và giữ thức ăn lại (ảnh của tác giả).

Gần trưa chúng tôi tới Punta Norte, mũi đất ở cực bắc của bán đảo Valdés.

Hình ảnh đầu tiên làm chúng tôi sửng sốt là ngay tại bãi đậu xe chúng tôi thấy rất nhiều con tê tê luẩn quẩn bên chân người.

Con tê tê (ảnh của tác giả).

 ”Trên trời có vẩy tê tê,

Có anh bẩy vợ chẳng chê vợ nào…

(ca dao)

Gần  đấy đầy những hang tê tê.

Cũng nên biết là tê tê là loài có mang trong người vi trùng Hansen ( cùi, hủi).

Đi ra phía bờ biển, tất cả mọi người đều sững sờ, trước mắt hàng ngàn hải sư đang nằm nghỉ ngơi phơi nắng.

(ảnh của tác giả).

Được gọi tên là hải sư (sư tử biển) vì con đực có bờm như sư tử đực.

Một con hải sư đực có bờm sư tử (ảnh của tác giả).

Mỗi con đực có một bầy con cái gồm vợ cả, vợ bé, vợ thứ, thê, thiếp, nàng hầu, nô tì, gái làng chơi, bò lạc, nhẩy dù, đong đưa (swing)… như một vị vua hay ông hoàng Ả Rập có một bầy cung nữ. Tiếng Ả Rập gọi là harem. Từ harem có gốc nghĩa là cấm, chỗ (cung) cấm, nhất là cấm phái nam đến gần ngoại trừ hoạn quan. Theo biến âm h=c như răng hàm = răng cấm,  harem có har- , ham = cấm.

Tôi không nói đùa là loài vật cũng có vụ tống tình và “làm điếm” đâu. Ví dụ loài penguin Vua, có con cái thấy một anh chàng đang đứng canh ổ cho vợ xuống biển kiếm ăn, chị ta tới chài mồi, cho tình rồi khuân các vật liệu làm tổ của anh chàng về nhà xây tổ cho vợ chồng mình.

Con đực lúc nào cũng phải thức tỉnh, nghển cổ cao lên canh chừng harem của mình, đánh đuổi những tên ăn trộm tình.

Một hải sư đực đang ngóc đầu lên canh chừng harem của mình. Những con còn nhỏ có mầu đen (ảnh của tác giả).

Những con đực mới lớn chưa có harem chỉ có một cách là đánh du kích để ăn trộm tình. Chúng cũng có chiến thuật đàng hoàng chồ cho con chúa harem hết “xí quách” mệt nhoài lăn ra ngủ hay lựa các harem có chúa chủ đã luống tuổi, đã cần phải dùng tới … Tam Tinh Hải Cầu Bộ Thận Hoàn” made in China..

Mấy con hải sư non đang nằm phục kích ở vòng ngoài của một harem chờ dịp may đánh du kích vào ăn trộm tình (ảnh của tác giả).

Nhiều khi các chúa động harem đã già đành phải làm ngơ hoặc phải sống mái với bọn trai tráng và kết quả thường là bị mất  mạng  và harem bị lũ trẻ chia nhau chiếm đoạt. Đây quả là luật đào thải của thiên nhiên.

Tại một vài harem thấy lẩn quẩn những con chim biển. Những con chim này báo cho biết có một con cái sắp sinh con. Những con chim này chờ ăn lá nhau của hải sư mới sinh ra.

Những con chim biển đang rình chờ ăn lá nhau của hải sư cái khi sinh con (ảnh của tác giả).

Vì một con hải sư, hải cẩu có thể làm thỏa mãn cho cả một harem hàng mấy chục nàng  nên các vua chúa Trung Hoa và ngay cả các đấng mày râu Trung Hoa (kẻ cả Việt Nam) ngày nay cho rằng ăn gì bổ đó nên cố sằn tìm liều thuốc Tam Tinh Hải Cẩu Bộ Thận Hoàn.

Trong đám du khách Tầu có ông trông thấy mặt mày thểu não khi nhìn thấy những chàng hải sư đầy cường lực. Nghe các bà Tầu nói bi bô mặc dầu không hiểu họ nói gì nhưng cũng đoán là các bà đang nói tới hai cái hạch của những con hải sư đực và so sánh với chồng mình.

Chụp kỷ niệm với hải sư .

Hình cho thấy có một hàng rào ngăn cản không cho du khách đến gần sát vì những con thú này có thể tấn công giết người.

Ở đây cũng có một tộc thể hải cẩu voi nhưng hôm nay chỉ thấy có một con. Hơi thất vọng con hải cẩu voi này ăn no nằm như chết, ngủ phơi bụng dưới nắng ấm. Điều này cũng dễ hiểu vì hải cẩu voi biển lên bờ là lúc để nghỉ ngơi và truyền giống.

Hải cẩu voi (ảnh của tác giả).

Hải cẩu voi được gọi tên theo phần trên cái mõm của con đực dài ra như vòi voi vì thế nên còn được gọi là voi biển. Loài này gần cận với hải sư nên sống cận kề bên nhau được.

Trên đường về chúng tôi ghé tới Puerto Pyramidés.

Đây là một hải cảng với đầy đủ các thú vui và dịch vụ du lịch nhất là dịch vụ đi xem cá voi như thấy trong tấm bưu ảnh ở trên và hình cá voi quảng cáo dưới đây.

Tuy nhiên bãi tắm không đẹp và không được sạch lắm.

Gần tắt nắng, trên đường về, chúng tôi được cho đi xem một vòng thành phố cảng trước khi lên tầu.

 (còn nữa).

About these ads

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: