Bac Si Nguyen Xuan Quang’s Blog

February 24, 2012

TRỐNG BÁCH VIỆT NGƯỜI MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG NGỌC LŨ I (11).

Filed under: Trống Bách Việt Ng. Lũ I (11) — Quang Nguyen @ 7:28 am

TRỐNG NGƯỜI MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG

BÁCH VIỆT NGÀNH VIÊM VIỆT NGỌC LŨ I.

(TRỐNG NHÓM MẶT TRỜI NỌC THÁI DƯƠNG LƯỠNG HỢP  TIỂU VÀ ĐẠI VŨ TRỤ).

(phần 11)

Nguyễn Xuân Quang

 Ý NGHĨA VÀNH CHIM THÚ TRÊN TRỐNG ĐỒNG ÂM DƯƠNG NGỌC LŨ I.

 VẬT TỔ HƯƠU CỦA ĐẠI TỘC VIỆT

Qua tác phầm Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt, Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt và nhiều bài viết khác, chúng ta đã viết rõ hươu là vật tổ cõi thế gian, là hươu Việt  của Bách Việt phía nọc dương Viêm Đế đối ứng với thiên cẩu sói lang phía Thần Nông.

Ở đây chỉ xin nhắc qua vài điểm chính yếu.

Ta đã biết Việt là vọt, nọc, đực, mặt trời nọc tia sáng, mặt trời rạng ngời. Hùng cũng có một nghĩa là con thú đực. Như vậy vật tổ của chúng ta phải có tên mang nghĩa như vậy. Ở cõi Thượng Thế, cõi trời có vật biểu là một loài chim, đó là con chim cắt, chim có mũ sừng, chim Việt. Ở  cõi đất Trung Thế là một loài thứ bốn chân sống trên mặt đất có tên cũng phải có nghĩa nọc, đực, vọt, Việt, đó chính là con hươu, hiêu, con hèo, con nọc, con Cọc, con Hươu Việt.

Hươu Việt, hươu sừng có di thể Sừng (gene) truyền  từ thần mặt trời Viêm Đế họ Khương (Sừng). Truyền thuyết ghi rằng Đế Minh là cháu ba đời thần Mặt Trời Viêm Đế đẻ ra vua đầu tiên thế gian của chúng ta là Vua Hươu Mặt Trời Kì Dương Vương có nhũ danh là Lộc Tục, Hươu Nọc, Hươu Sừng. Viêm Đế có họ là Khương (Sừng), ở thượng thế biểu tượng chính là con chim Sừng, chim mỏ cắt có mũ sừng (hornbill), là con chim Việt. Ở trung thế, cõi đất trần gian, dòng máu, gene Sừng có từ Viêm Đế này truyền xuống nên Đế Minh có biểu tượng là con  mang trời. Đế Minh sinh ra Kì Dương Vương có khuôn mặt chính là con thú bốn chân ở cõi thế gian có sừng là  Kì Mang, Muông Gạc, Mang gạc. Như thế khuôn mặt hươu nai có sừng trên trống Ngọc Lũ I có mang gene sừng từ thần mặt trời Viêm Đế. Như đã thấy ở trên, sừng ba mấu Lửa vũ trụ Càn sinh tạo có một khuôn mặt biểu tượng cho Đế Minh Càn và sừng hai mấu nhọn hay 5 mấu nhọn biểu tượng cho Kì Dương Vương Li thế gian.

Lưu ý

Hươu sừng là thú biểu cho vùng đất dương, đất khô, đất núi. Còn nếu là đất âm có nước là loài thú bốn chân sống được trên đất có nước và dưới nước, ở địa bàn Bách Việt là con cá sấu Việt, Trâu Việt… và  ở cõi nước Hạ Thế là con rắn nước có mào sừng.

Sau đây chỉ xin vắn tắt nhắc lại một hai hình ảnh hươu sừng là thú biểu của cõi đất dương Trung Thế.

.Trước hết là ở trên Cây Tam Thế (Cây Vũ Trụ, Cây Đời Sống) Yggdrasill của Bắc Âu, ta thấy rất rõ cõi trên Thượng Thế ứng với vòm ngọn cây có biểu tượng là con chim ưng, Trung Thế ứng với cành cây là con Hươu Sừng và Hạ Thế ở gốc cây là con rắn độc đang lè lưỡi đỏ ra.

 Cây Tam Thế (Cây Vũ Trụ, Cây Đời Sống) Yggdrasill của Bắc Âu (Nordic).

.James Churchward cũng đã nói tới hình bóng con hưou Keh là thủy tổ loài người trong những tác phẩm viết về một lục địa cổ mà ông gọi là Continent of Mu (Mu chính là Việt ngữ Mụ. Mẹ) tức là Đất Mẹ (Motherland) ở vùng biển Đông Nam Á (lúc đó còn dính liền với Đông Nam Á) mà ông cho đó là cái nôi của nền văn minh của con người. Ông đã diễn tả sự sáng thế bằng hình chính tay ông vẽ dưới đây:

Hươu Keh là con người đầu tiên của loài người (James Churchward) mang khuôn mặt Kì Dương Vương.

Theo ông, truyền thuyết Đông Á cổ cho rằng con hươu Keh là con người đầu tiên của nhân loại. Hình vẽ cho thấy trong quá trình sáng thế từ biển nước Vũ Trụ nhô lên mô đất nguyên khởi (tương tự như Primevial Mound của Ai Cập cổ), trong có Trục Thế Giới hình chữ T (cũng là Cây Vũ Trụ, Cây Tam Thế, Cây Đời Sống). Núi Trụ Thế Gian là một phần của Trục Thế Giới nên Núi Trụ cũng biểu tượng cho cõi đất thế gian vì thế mà phần nằm ngang của Trục Thế Giới biểu tượng cho cõi bằng mặt đất trên đó có hình cây và thú. Trên mặt đất con hươu Keh xuất hiện đầu tiên. Con hươu này có sừng là hai cọc nhọn không có đâm nhánh tương tự như cặp sừng của con hươu sủa trên trống Phú Xuyên. Hươu Keh đứng trên hai chân mang hình bóng con người đầu tiên.

Hươu Keh chính là hình bóng Kì Dương Vương (xem dưới).

Bây giờ ta thử xem hươu sủa mang gạc có phải là con thú Việt bốn chân tức con Hươu Việt sống trên mặt đất ở cõi Trung Thế hay không?

Theo truyền thuyết vua tổ cõi thế gian của Việt Nam là Kì Dương Vương, vị vua của nước đầu tiên Xích Quỉ, Người Đỏ, tức Người Mặt Trời của chúng ta.

Xin nhắc lại Xích là Đỏ. Quỉ biến âm với Pháp ngữ Qui, Latin Quo (Quo Vadis) có một nghĩa là Kẻ, Người. Quỉ ruột thịt với Kì, Kẻ có một nghĩa là Người. Bằng chứng cụ thể là ở Vân Namhiện nay còn một tộc người tên là Naxi mà người Trung Hoa phiên âm là Nạp Tây. Người Naxi có một thứ chữ viết vẽ hình hay hình tự (pictograph) do các pháp sư tên là Dongba sáng tạo ra dùng đế viết sớ trong tế lễ. Chữ này là thứ chữ vẽ hình sống (live) duy nhất ngày nay còn dùng (xem Hình Tiêu Biểu Tháng 6, 2011). Nguyên gốc nghĩa của Naxi là “Người Đen”. Có giả thuyết cho rằng người này có da ngăm đen nên gọi là ‘Người Đen” (Hắc tộc). Giải tự từ Naxi ta có Nax- đen và Xi là người. Nax (đen) liên hệ với Việt ngữ nắc là đêm như con nắc nẻ là con bướm đêm, với Hán Việt nặc có một nghĩa là kín, bí mật, đen (xã hội kín, bí mật là xã hội đen) như thư nặc danh, với Đức ngữ nacht là đêm. Còn Xi, theo x= s = k như kong (Mekong, Sông Mẹ) = sông, ta có Xi = Kì, Kẻ, người và theo x= q như xoăn = quăn, ta có Xi = Pháp ngữ Qui, Kẻ, Người.

Tóm lại Xích Quỉ là Kẻ Đỏ, Người Mặt Trời còn Naxi là Kẻ Đen.

Kì Dương Vương nghĩa là gì?

1. Kì Dương là Kẻ Dương, Cọc Dương, Cọc Lửa, Nọc Đực, Bộ Phận Sinh Dục Nam.

Kì với nghĩa là kẻ (que, cọc, thước kẻ), ke (bộ phận sinh dục nam.

Trước hết Kì Dương Vương có Kì biến âm với kẻ có nghĩa là que, nọc, cọc như thước kẻ, kè là cọc, cột (cây kè là cây palm có thân như cây cọc, cây cột không có cành)… Kì biến âm với ke có một nghĩa là bộ phận sinh dục nam (Alexandre de Rhodes, từ điển Việt Bồ La). Theo  k = c =que, ta có ke = que (que, cọc, c…c).

Như thế kì là cây, cọc nếu hiểu theo tận cội nguồn của chữ viết nòng nọc vòng tròn-que thì là cọc dương, nọc dương, là bộ phận sinh dục nam. Vậy Kì Dương Vương có một khuôn mặt biểu tượng cho phái nọc nam, cho ngành nọc, ngành mặt trời, ngành Việt (vật nhọn, mặt trời).  Ở đây ta hiểu tại sao Kì Dương Vương là con người Nam đầu tiên và là thần tổ Nam của con Người. Theo duy dương, Nọc dương, bộ phận sinh dục nam sinh tạo ra con người (qua tinh dịch). Thần tổ Nọc Dương đẻ ra loài người.

Đối chiếu với truyền thuyết Ấn giáo đây là khuôn mặt linga của thần Shiva. Thần Shiva có một khuôn mặt là Cọc Lửa, Trụ Lửa ‘Pillar of Fire’. Cọc Lửa của Shiva có một khuôn mặt là Cọc Lửa, Cọc Dương, bộ phận sinh dục nam này của Kì Dương Vương. Về ngôn ngữ học ta cũng thấy rất rõ Shiva có Shi- biến âm với Kì (s=sh= k = c).

Ta có từ đôi Kẻ Sĩ với Kẻ = Sĩ = Kì = Shi. Sĩ có nguồn gốc nguyên thủy là bộ phận sinh dục nam (xem Kẻ Sĩ). Như thế ta có Kì (Dương) = Shi(va) có một nghĩa là bộ phận sinh dục nam, là Linga.

Một lần khi đi du lịch đến Ấn-Độ, tôi đã chứng kiến tận mắt một phụ nữ trẻ vái lạy linga rồi đổ sữa lên đầu linga trông giống hệt như linga đang xuất tinh. Người nữ nầy lấy tay xoa sữa trên đầu linga rồi xoa lên đầu lên mặt mình. Chắc cô ta cầu xin lấy chồng, cầu tự hay cầu mắn sinh, thịnh vượng.

Đây là khuôn mặt tạo hóa sinh tạo này của Kì Dương Vương ở cõi Đất thế gian đội lốt khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa của Viêm Đế ở Thượng Thế.

Lưu Ý

 .Kì Dương Vương với Kì Dương có nghĩa là bộ phận sinh dục nam cũng như các từ Việt có nghĩa là vật nhọn, Hùng có nghĩa là đực…  cũng có nguồn gốc nguyên thủy là gốc nọc, bộ phận sinh dục nam đã khiến nhiều người “cau mặt” hay “sợ hãi”. Với nghĩa bộ phận sinh dục nam này, ta phải hiểu theo nghĩa sinh tạo, tạo hóa sinh ra loài người của ngành nọc nam, mặt trời nam. Thời nguyên sơ cũng như trong các tôn giáo thờ sinh thực khí như chúng ta thờ Nõ Nường, như Ấn giáo thì các bộ giống phái nam nữ có một khuôn mặt là sinh tạo, tạo hóa.

.Trống có một nghĩa là đực cũng hàm nghĩa bộ phận sinh dục nam. Trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn là trống biểu của Hùng Vương lưỡng hợp Chim-Rắn, Tiên Rồng, của Bách Việt nên trống đống hình Cây Nấm Vũ Trụ (Cây Nấm Tam Thế, Cây Nấm  Đời Sống) Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I) cũng mang hình ảnh bộ phận sinh dục nam (cắt bằng đầu để làm mặt trống) và nếu nhìn theo duy âm từ dưới lên có hình âm đạo dạ con).  Trống mang hình dương vật (bằng đấu) thấy rõ nhất ở những trống thô sơ có mặt giống hình vòm cây nấm như trống Thượng Nông (D-IV-1):

 Trống Thượng Nông (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên) có hình dương vật (bằng đầu). Trống Vạn Gia Bá ở Xử Hùng, Vân Nam mà các nhà khảo cổ Trung Quốc cho là cổ nhất cũng có hình dáng như trống này. Rất tiếc trống Thượng Nông này không thử được Carbon 14 phóng xạ để định tuổi.

 2. Kì Dương là Cọc Lửa Thế Gian, Núi Trụ Thế Gian. Núi Trụ Thế Gian, Núi Chống Trời.

Kì với nghĩa là Kẻ (chổ ở, vùng đất dương, đất núi, đất cao).

Cũng với khuôn mặt Cọc Lửa Trụ Lửa này, Kì Dương Vương là Trục Thế Giới ngành nọc lửa dương. Núi Trụ thế gian nằm trong Trục Thế Giới nên Kì Dương Vương Trụ Lửa Trục Thế Giới có một khuôn mặt là Núi Trụ Thế Gian, Núi Trục Thế Gian ngành nọc lửa tức biểu tượng cho núi dương, cõi đất dương, Trung Thế. Ở đây ta thấy Kì = Kẻ với nghĩa Kẻ là chỗ ở, vùng đất, mường… như Kẻ Sặt, Kẻ Mau, Kẻ Trọng.

Với nghĩa là Cọc Dương, Cọc Lửa, Trụ Dương, Kì Dương Vương có nghĩa là vua Nọc Dương, Cọc Lửa, Trụ Lửa thế gian đội lốt thần mặt trời Viêm Đế, Cọc Lửa vũ trụ.

Ta cũng thấy rất rõ Cọc Dương vừa có nghĩa là Bộ Phận Sinh Dục Nam vừa có nghĩa là Núi Cọc, Núi Trụ Thế Gian, Núi Trụ Chống Trời qua hình ảnh Núi Nam Giới ở Hà Tĩnh (Nam giới là “chữ thánh hiền” chỉ Núi Cọc, Núi C…c). Theo truyền thuyết bà Nữ Oa thách ông Tứ Tượng đắp núi thi, nếu ông đắp cao hơn bà sẽ lấy làm chồng. Kết quả ông Tứ Tượng đắp núi thua bà. Nữ Oa đắp một ngọn núi cao ngất trời, đứng trên đó có thể thấy khắp cõi trời đất. Dấu tích còn lại của ngọn núi cao do bà Nữ Oa đắp, dân gian cho là núiNamgiới ở Hà Tĩnh ngày nay… Núi Nam Giới chính là hình ảnh Núi Trụ Thế Gian, Núi Trụ Chống Trời  (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Đối chiếu với truyền thuyết Ấn giáo, Shiva  có biểu tượng chính là linga với khuôn mặt Trụ Lửa cũng có một khuôn mặt Trục Thế Giới nên mới nói là có nguồn gốc sinh ra từ Núi Trụ Thế gian Kalaisha ở Hy Mã Lạp Sơn.

Đối chiếu với truyền thuyết Ai Cập cổ Thần Đất Keb có Ke- = kẻ = ki, cọc, nọc và ke-,như đã nói ở trên có nghĩa là bộ phận sinh dục nam (Alexandre de Rhodes, Từ Điển Việt Bồ La). Vì thế mà thần Đất Keb có bộ phận sinh dục nam mang hình bóng núi Trụ Thế Gian, Núi Chống Trời chống bầu trời là nữ thần Bầu Trời Nut đang uốn cong người thành hình vòm trời.

Thần Đất Keb có bộ phận sinh dục nam cương cứng cố rướng lên tới thân người của thần nữ Bầu Trời Nut mang hình ảnh Cọc Dương (Kì Dương), Núi Trụ Thế Gian, Trụ Chống Trời chống bầu trời của thần Bầu Trời Nut.

Đây là khuôn mặt ở cõi đất thế gian của Kì Dương Vương.

Như thế ta thấy rất rõ ta có thể dùng Kì Dương Vương của chúng ta với Kì Dương có nghĩa là Cọc Dương, Bộ Phận Sinh Dục Nam, Núi Trụ Thế Gian, Trục Thế Giới, Trụ Chống Trời, biểu tượng cho cõi đất Trung Thế này mà giải thích được truyền thuyết về thần Shiva của Ấn giáo và thần Đất Keb của Ai Cập cổ.

3. Kì Dương là Người Dương, Người Nam, Người Mặt Trời.

Với biến âm với Kì = Kẻ và Kẻ có một nghĩa là Người như kẻ nào đó = người nào đó, như Kẻ Sặt… thì Kì Dương là Người Dương, NgườiNam, Người Mặt Trời.

Điểm này được xác thực bởi sự kiện là Kì Dương là Cọc Dương, bộ phận sinh dục nam sinh ra con ngườiNamđầu tiên như đã nói ở trên.

Xác thực bởi truyền thuyết và cổ sử Việt, Kì Dương Vương là vua tổ đầu tiên của nước Xích Quỉ, Người Mặt Trời của chúng ta và cũng là Người đầu tiên của nhân loại.

Xác thực bởi cổ ngữ Đông Nam Á Keh, là con hươu và cũng là con người đầu tiên của nhân loại (James Churchward) như đã thấy qua hình ở trên.

Lưu Ý

 Từ Kẻ chỉ người dương, người nam, người mặt trời, theo duy dương nhìn tổng quát chỉ chung loài người giống như Anh ngữ man là người nam cũng chỉ chung con người.

Nhìn dưới góc cạnh tộc người thì Kẻ chỉ người thuộc tộc nọc, tộc ngành mặt trời thái dương, tộc người ở trên vùng cao, vùng núi, tộc hươu sừng, tộc thuộc đại tộc Kì Dương Vương.  

4. Kì Dương là Mặt Trời Thiên Đỉnh trên đỉnh Trục Thế Giới.

Kì là Kẻ là Nọc, như đã biết Nọc có một nghĩa là mặt trời (Việt Là Gì?). Kì Dương là Cọc Dương là Mặt Trời thái dương. Với nghĩa này, Kì Dương là Mặt Trời Thiên Đỉnh trên đỉnh Trục Thế Giới, chính ngọ, giữa trưa tức vua mặt trời nóng bỏng, chói chang nhất trong ngày.

Ta đã thấy ở trống Kì Việt Phú Xuyên, trên mặt trống tất cả các yếu tố đều mang dương tính và trống có một nghĩa là đực, dương nên ăn khớp trăm phần trăm với khuôn mặt trời thiên đỉnh nóng bỏng chói chang rạng ngời nhất của Kì Dương Vương.

5. Kì Dương là con Cọc, con Hươu Cọc, Con Mang Gạc, Hươu Gạc, Hươu Sừng, Hươu Đực.

Kì = Kẻ với Kẻ có một nghĩa là là con Cọc, con Hươu Sừng, Mang Gạc.

Về ngôn ngữ học ta đã biết hươu, hưu biến âm với hèo (roi, vọt, nọc). Con hươu là con hèo con nọc, con cọc. Ta cũng đã biết con Cọc là con hươu sừng qua trò chơi Bầu Cua Cá Cọc (thường gọi lầm là Bầu Cua Cá Cọp, trên bàn Bầu cua không có con cọp mà chỉ có con Cọc hươu sừng) (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc).

Theo h = k (hết = kết), hèo = kèo và ta có từ đôi kì kèo nghĩa là kì = kèo = hèo = hươu. Con hươu là con Kì, con Kèo, con Cọc.

Ta cũng thấy kì, kẻ biến âm với gốc Hy Lạp ngữ kera-, sừng, với Pháp ngữ cerf, con hươu.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử, như đã biết Việt Kì Dương Vương  có Kì Dương có một nghĩa là con Hươu Đực (dương với nghĩa là đực) hay Hươu Mặt Trời (dương với nghĩa là mặt trời), là vua đầu tiên của nước Xích Quỉ. Kì Dương Vương là Hươu Đực, Hươu Gạc Mặt Trời vì thế mới có nhũ danh là Lộc Tục (Hươu Đục, Hươu Đực). Kiểm chứng với con Hươu Keh của Đông Á cổ có một khuôn mặt là con người đầu tiên của nhân loại ta thấy trăm phần trăm Keh chính là Việt ngữ Kẻ (cọc, người, hươu), chính là Kì Dương Vương với khuôn mặt hươu cọc, hươu sừng, mang gạc, hươu mặt trời, con người đầu tiên của Xích Quỉ, của nhân loại.

Như thế trăm phần trăm mang gạc hươu sửng cervulus muntjac là thú biểu, là thú chủ của Kì Dương Vương. Kì Dương Vương là vua mặt trời thiên đỉnh ở trên đỉnh Núi Trụ Thế Gian, Trung Thế, vị vua đầu tiên của nước Xích Quỉ, Kẻ Đỏ, Người Mặt Trời Bách Việt.

Để cho chắc chắn thêm, ta kiểm chứng với Mã Lai ngữ, một thứ ngôn ngữ ruột thịt với Việt ngữ và vả lại ở Mã Lai-Nam Dương còn có con cháu của những tộc Bộc và Giao Việt, Giao nhân giỏi về sông biển đã đi khắp năm châu bốn biển. Ta cũng thấy họ gọi Hươu sủa barking deer này là Munt’jac, Munt’jak, Mun jak tức Muông gạc, Mang gạc như chúng ta.  Eureka! Tôi đã tìm ra! Hươu sủa muntjac Mã Lai còn có tên là kijang, kijangjan.

Từ kijang là muntjac trong English-Malay Dictionary của R.O. Winstedt, 1920.

 Eureka! Kijang chính là Kì Dương! Kijang Hươu Sủa, barking deer chính là hươu Kì Dương, mang gạc.

Như thế trăm phần trăm Kì Dương Vương có thú biểu bốn chân là con hươu sủa barking deer, mang gạc cervulus muntjac, kijang, Kì Dương. Con thú trên trống Phú Xuyên chính là con hươu này.

Ta đã thấy trống Kì Việt Phú Xuyên có một khuôn mặt chủ là con mang gạc kì dương là trống có một khuôn mặt chủ là Kì Dương Vương.

Kiểm chứng với truyền thuyết và cổ sử Việt ta cũng thấy rõ Mẹ Tổ Âu Cơ, Nàng Lửa, thái dương thần nữ của chúng ta dẫn 50 con lên núi, đất dương thuộc ngành Lửa (Viêm Đế-Đế Minh)-Kì Dương Vương nên có một thú biểu thế gian là con nai sao (nai là con cái).

Điểm này thấy rõ qua truyền thuyết Mường, bà Ngu Cơ (Âu Cơ) có biểu tượng là con hươu sao. Khi tế lễ bao giờ cũng có lá cờ nai sao biểu tượng cho Ngu Cơ và cờ cá chép biểu tượng cho Lạc Long Quân (J. Cuisinier, Les Mường).

Cờ hươu sao biểu tượng của Ngu Cơ của người Mường (nguồn: J. Cuisinier, Les Mường).

Trong Lĩnh Nam Chích Quái, có truyền thuyết nói về một vị Thần Núi Tản Viên có tên là Kỳ Mang, Kỳ Mạng cứu con rắn nước Tiểu Long Hầu con của Lạc Long Quân. Kỳ Mang là Mang Kì, Mang Kẻ, Mang Gạc chính là Mang Gạc Muntjac Hươu Sủa. Mang Sừng cũng có thể hiểu là con Muông Sừng nghĩa là nói chung hươu, dê (Ai Cập cổ lấy dê núi làm vật biểu)… vì thế mà trong truyền thuyết nói rằng Kỳ Mang được dê núi nuôi. Núi Tản Viên có một khuôn mặt là núi Trụ Thế Gian, Núi Trục Thế Giới nên còn gọi là Tam Từng ứng với Tam Thế. Trong Cây Tam Thế (Cây Vũ Trụ, Cây Đời Sống) có Trục Thế Giới. Núi Tản Viên cũng còn gọi là núi Ba Vì biểu tượng của ba vị vương Kì Dương Vương, Lạc Long Quân, Hùng vương. Thần Kỳ Mang là khuôn mặt ứng với Kì Dương Vương,   khuôn mặt Lạc Long Quân thấy qua Tiểu Long Hầu và theo truyền thuyết Mường Tản Viên có một khuôn mặt Hùng Vương.

Tác giả Bình Nguyên Lộc cho biết “Theo sử Tầu nhà Hạ chia nước ra làm 9 châu trong đó có đất Kinh Việt gọi là châu Kinh (cũng còn gọi là châu Kì). Ở phía đông châu Kinh, đất cũng do dân Việt làm chủ, người Trung Hoa gọi là Dương Việt và cho làm thành Châu Dương”, (Nguồn Gốc Mã Lai Củaa Dân Tộc Việt Nam tr.147). Ở chỗ khác ông viết tiếp : «Nhưng khu tứ giác đó, tức bờ Tây sông Hán là đất của ai? Chủ đất ở đó thuộc một chủng mà họ gọi là Việt, lần đầu tiên trong sử của họ. Ở đó có một cái núi mà dân di cư đặt tên là núi Kinh…

Tỉnh Hồ Bắc nằm trong khu tứ giác đó, là đất của chủng Việt”.

Như thế Núi Kinh, Núi Kì, Châu Kì, Kì Việt, Dương Việt thuộc Bách Việt tất phải liên hệ với Kì Dương Vương.

Xin nhắc lại những địa danh trong cổ sử Việt và Trung Hoa ứng với  tứ tượng là Châu Dương (Châu Mặt Trời ứng với Đế Minh, Châu Kì ứng với Kì Dương Vương, Châu Hoan ứng với Lạc Long Quân và Châu Phong ứng với Hùng Vương) (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).   

Từ Việt trong hai chữ Việt Nam hiện nay viết với bộ tẩu là “chậy”. Con hươu là con  thú bốn chân chạy trên mặt đất biểu tượng cho đất dương, dương trần. Con hươu biểu tượng cho đất dương, đốt khô cũng thấy rất rõ qua từ Hán Việt trần (bụi) có chữ lộc (hươu). Con hươu chậy trên đất khô làm bụi tung lên gọi là trần. Rõ ràng con hưou biểu tượng cho cõi dương trần, trần thế.

Chữ tẩu là chạy liên hệ mật thiết với con hươu là loài có nét đặc thù là chỉ có cách chậy để thoát thân (tam thập lục kế, tẩu vi thượng sách). Ta cũng thấy rõ tính chậy này qua câu ví của người Việt “chỉ đường cho HƯƠU CHẠY”. Vậy con vật chậy có (bộ) búa, qua, vật nhọn (sừng) trong chữ Việt viết với bộ tẩu mang một hình bóng con hươu. Việt viết với bộ tẩu phải hiểu là Việt Hươu, Việt Lộc Tục (Hươu Đực, Hươu Dương, Hươu Mặt Trời). VIỆT viết với bộ tẩu CHẠY là VIỆT HƯƠU, là VIỆT KÌ DƯƠNG VƯƠNG. Kì Dương Vương là con người đầu tiên và là vị vua đầu tiên của nước Xích Quỉ của chúng ta ở cõi đất thế gian. Chữ Việt Nam hiện nay viết với bộ tẩu là lấy theo truyền thuyết Kì Dương Vương này. Ngoài ra ta cũng có câu ví nói chuyện con tườu con vượn tức nói hươu nói vượn. Ta có con tườu = con hươu. Tườu biến âm với tiều, tìu, dìu (rìu). Ông tiều phu là ông thợ rìu chặt cây trong rừng. Như vậy con tườu, con tiều là tìu, con dìu, con rìu, con Việt. Rõ như “con cua tám cẳng hai càng một mai hai mắt rõ ràng con cua” Việt có một khuôn mặt là rìu là Hươu.

Gần cận chúng ta, lịch sử của vương triều Lana Lúa Nước ở phía bắc Thái Lan còn ghi chép lại việc vua Mengrai vào thế kỷ 13 khi tuần du đến một vùng rừng núi phía nam, nằm mơ thấy con hươu sủa barking deer và năm con chuột bạch nên đã dời đô từ Chiang Rai về một chỗ mới đặt tên là Chiang Mai (Chiềng Mới, Giềng Mới) lập nên triều Đại Lúa Nước Lana huy hoàng vang bóng một thời, ngày nay còn lại những di tích tường thành. Nằm mơ thấy hươu sủa là điềm lành, được thánh thần phù trợ, đất có hươu sủa xuất hiện là đất lành. Điều này cho thấy rõ hươu sủa là con thú chủ thần thoại hóa thành con nghê, con kì trong cặp kì lân. Người Trung Hoa tin là khi thấy kì lân xuất hiện là có thánh nhân, minh quân ra đời (xem dưới). Vương quốc Lana Lúa Nước ruột thịt với với Lạc Việt Lạc Long Quân con của Kì Dương Vương.

Ngôn ngữ của Lạc quốc Lana Lúa Nước rất ruột thịt với ngôn ngữ cổ Mường Việt, ví dụ tên thủ đô Chiang Mai chính là Việt ngữ Chiềng Mới, Giềng Mới. Giềng là xóm, xóm giềng. Tên nước Lana người Tây phương dịch là “country of rice field” (xứ của đồng lúa). Lana là Cổ Ngữ Mường Việt, La là ló: lúa và na là nà, ruộng lúa nước, nà liên hệ với nã, nác, nước. Lana là xứ trồng Lúa Nước. Họ liên hệ với Lạc Việt, Lạc dân có lạc điền. Lana là một tộc của dân Lạc làm ruộng nước. Lana liên hệ với Lạc Việt nên cũng thờ Hươu Sủa Kinh Dương Vương.

Tóm lại hươu sừng, hươu cọc, hươu đực, hươu mặt trời là vật tổ thú bốn chân của chúng ta ở cõi giữa Trung Thế. Hiển nhiên vật tổ Hươu Việt này cũng mang trọn ý nghĩa trong Vũ Trụ Tạo Sinh Vũ Trụ giáo.

Nhìn dưới diện Tam Thế, Kì Dương Vương với nghĩa là vua Cọc Dương, Cọc Lửa, Trục Thế Giới dương có đủ ba khuôn mặt nọc lửa dương ở Tam Thế ứng với ba phần của Trục Thế Giới dương.

Ở Thượng Thế Cọc Lửa Kì Dương đội lốt Cọc Nóng Viêm Đế và với khuôn mặt bộ phận sinh dục nam mang khuôn mặt sinh tạo, Tạo Hóa. Ở Trung Thế, Cọc Dương mang khuôn mặt Núi Trụ Thế Gian, Núi Trụ Chống Trời, Trụ Trời. Kì Dương Vương tương đương với thần đất Keb của Ai Cập cổ và Shiva của Ấn-Độ.

Kì Dương Vương, Shiva, Keb có khuôn mặt là thần Cọc dương bộ phận sinh dục nam vì thế là vị thần tổ loài người, là thần sinh tạo ra loài người và là con người đầu tiên của ngành nọc lửa (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Ở Hạ Thế cõi Nước là khuôn mặt Cọc Lửa Búa Thiên Lôi của khuôn mặt thần sấm Lạc Long Quân.

Chứng tích thờ vật tổ hươu còn thấy nhiều trong xã hội ta ngày nay. Nhiều làng ở vùng đất tổ miền Bắc trước đây còn thờ hươu. Như đã nói ở trên, vật tổ chính của người Mường là con nai sao biểu tượng cho bà Ngu Cơ (và con cá chép biểu tượng cho Lạc Long Quân).

 Linh Thú Nghê hay Kì.

Mang gạc thần thoại hóa thành con Kì trong cặp kì lân. Nghê là một linh vật đa thú (chimera) có nghĩa là con thú chủ (host) được ghép thêm nhiều phần tượng trưng của nhiều con thú vật tổ của các chi tộc khác (ghép ngoại chủng, xenotransplation) của ngành nọc lửa thế gian. Con thú chủ của Nghê là con hươu sủa, mang gạc muntjac bổn mạng của Kì Dương Vương (xem chương Linh Vật trong Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Nghê và mang gạc munjac có những điểm đặc thù giống nhau là sừng ngắn chỉ chia ra hai mấu nhọn, răng biến thành nanh nhọn, mũi to (mũi kì lân), nhỏ con, thấp, chân ngắn. Hai điểm mấu chốt là cái sừng ngắn chỉ chia hai nhánh và cái răng nanh lòi ra như răng lợn lòi. Trên người con Nghê Kì cũng có nhiều hay ít nhất 4 phần thân thể khác của các thú biểu ứng với tứ tượng của ngành nọc lửa thế gian. Sừng hai mấu biểu tượng cho Lửa Đất  Dương Kì Dương Vương Li, các ngọn lửa bay trên người và chung quanh người biểu tượng cho Lửa vũ trụ Đế Minh Càn, đuôi trâu, mình có vẩy thuộc về Nước dương Lạc Long quân Chấn, tai chó thuộc về Gió dương Hùng vương Đoài…

Hươu sủa muntjac rất hiền, rất nhát, thường đi từng cặp lẻ loi, lông lẫn vào cỏ cây nên hiếm thấy, những điều này ăn khớp với truyền thuyết về Kì-lân có những đặc điểm là “Đi rất êm ái, không dẫm nát cỏ dưới chân, sống bằng cây cỏ, không ăn động vật…. không làm hại người lương thiện… và thánh nhân mới gặp được nó. Mỗi lần thấy nó xuất hiện là có minh quân ra đời, là điềm lành, được thánh thần phù trợ, đất có hươu sủa xuất hiện là đất lành…” (như đã nói ở trên Vua Lana Thái nằm mơ thấy hươu sủa nên dời đô về Chiang Mai. Điều này cho thấy hươu sủa chính là con Kì trong cặp kì lân) (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Ở đây cũng cần nhấn mạnh một điều là hươu sủa, mang gạc là con thú chủ (host)của linh thú nghê hay kì chỉ sống ở địa bàn Đông Nam Á và Nam Đảo không có ở vùng phía bắc Trung Hoa. Điểm này và các điều ta thấy về hươu sủa trong truyền thuyết và cổ sử Việt nhất là con hươu sủa trong cổ sử của Lana Thái liên hệ với Lạc Việt  xác thực linh vật Kì (lân) là gốc của Bách Việt.

Tóm lại Kì Dương với nghĩa Cọc Dương, Nọc Đực, Bộ Phận Sinh Dục Nam, Núi Trụ Thế Gian, Trụ Chống Trời, Người Mặt Trời, Thần Tổ Nam của loài người, Mặt Trời Thiên Đỉnh, Nọc Việt, con Cọc, Hươu Sừng, Mang Gạc, Hươu Mặt Trời, Hươu Việt liên hệ với thần Shiva của Ấn giáo và thần Đất Keb của Ai Cập cổ.

Con hươu sủa, mang gạc là thú biểu của Kì Dương Vương, Vua Nọc Việt thế gian, Vua Mặt Trời Việt thiên đỉnh rạng người, của Người Việt Mặt Trời Xích Quỉ của nhánh Nọc Việt thái dương của họ Hồng Bàng Mặt Trời thế gian của ngành Mặt Trời Viêm Đế.

Vậy ta thấy rất rõ hươu nai ở vành số 8 trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I là vật tổ bốn chân biểu tượng cho cho cõi đất thế gian mang tính chủ của chủng Người Mặt Trời thái dương có trang phục đầu hình chim có góc cạnh.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt hươu nai này là vật tổ của ViệtNamnói riêng và của Bách Việt nói chung tức của Đại Tộc Việt Người Mặt Trời thái dương.

Ta thấy rõ sử đồng của đại tộc Đông Sơn ăn khớp trăm phần trăm với sử miệng và sử sách ViệtNam.

Kết Luận

.Vành chim thú số 8 có những con chim bay là những con chim nông và các con thú là hươu nai mang ý nghĩa biểu tượng trọn vẹn của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo.

.Vì là loài chim nước, các con chim nông bay này là chim biểu của phía nòng âm Khôn, trong khi hươu nai có sừng là thú biểu của phía nọc dương Càn.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt chim nông là chim biểu của phía Thần Nông và hươu nai là thú biểu phía Viêm Đế.

.Các con chim nông đang bay biểu tượng cho cõi thượng thế, cõi trời thế gian mang tính sinh tạo, tạo hóa ăn khớp với truyền thuyết chim nông, chim nang, chim Trứng Vũ Trụ. Trong khi các hươu nai là thú bốn chân mang tính chủ biểu tượng cho cõi giữa Trung Thế. Chim nông là chim nước trong khi hươu sừng mang tính lửa đất. Ở đây chim thú cùng một vành nên có một khuôn mặt lưỡng hợp nòng nọc, âm dương nước-lửa, Trời âm đất dương.

Nhìn dưới diện lưỡng hợp đại vũ trụ thì khuôn mặt chim nông thái âm (nhóm 8 con) mang tính chủ lưỡng hợp với khuôn mặt nai cái (10 con) thái dương mang tính liệt. Nhìn dưới diện lưỡng hợp tiểu vũ trụ thì khuôn mặt thiếu dương (10 con hươu đực) lưỡng hợp với khuôn mặt chim nông thiếu âm (nhóm 6 con).

Như thế ta có lưỡng hợp đại vũ trụ với khuôn mặt nòng âm mang tính chủ và lưỡng hợp tiểu vũ trụ với khuôn mặt nọc dương mang tính chủ.

.Chim chia ra làm hai nhóm. Nhóm 6 con ứng với Khôn dương thiếu âm và nhóm 8 con ứng với Khôn âm thái âm.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, chim nông là chim biểu của ngành nòng Khôn Thần Nông và chia ra hai nhóm 6 con nông Khôn dương Nông Đoài và nhóm 8 con nông Khôn âm Thần Chấn. Chim nông biểu tượng cho Thần Nông chia ra hai nhóm Thần và Nông.

Trong khi hươu nai nhóm 10 con ở nhóm 7 người nhẩy múa ở bán viên dương có khuôn mặt chủ lửa đất Li ứng với Đế và nhóm 10 ở nhóm 8 người nhẩy múa ở bán viên âm có một khuôn mặt là lửa trời Càn âm. Hươu nai biểu tượng cho Viêm Đế và chia ra hai nhóm Viêm và Đế.

Ở đây là trống thế gian ta có lưỡng hợp Nông Đoài và Hươu Li ứng với Nông của Thần Nông với Đế của Viêm Đế, tức lưỡng hợp Đế-Nông.

.Ở đây ta thấy lưỡng nghi Thần Nông chim nông và Viêm Đế hươu đã phân ra làm bốn nhóm ở dạng tứ tượng là Thần, Nông, Viêm và Đế. Điểm này cho thấy vật tổ ở đây có một khuôn mặt chính là dạng  biểu tượng cho sinh tạo ở cõi thế gian ứng với tứ tượng.

Ta cũng thấy rõ khuôn  mặt sinh tạo thế gian này qua sự kiện là lửa trời thế gian tức ánh sáng mặt trời ứng với Đế Minh (Đế Ánh Sáng) Càn ở cõi trời sinh tạo thế gian được biểu tượng bằng một con thú bốn chân sống trên mặt đất là con mang trời có sừng 3 mấu nhọn Càn thay vì phải là một loài chim cắt hay trĩ lửa biểu tượng cho lửa trời thế gian hay ánh sáng. Khuôn mặt thế gian này ăn khớp trăm phần trăm với tộc Người Mặt Trời Thái Dương thế gian và với khuôn mặt thế gian của trống có mặt trời 14 nọc tia sáng.

Khuôn mặt thế gian này ăn khớp trăm phần trăm với tộc Người Mặt Trời Thái Dương thế gian và với khuôn mặt thế gian của trống có mặt trời 14 nọc tia sáng.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt Viêm Đế Thần Nông tách ra thành Viêm, Đế, Thần và Nông  ứng với 4 vị vua tổ của chứng ta là Đế Minh (ứng với Viêm),  Kì Dương Vương (ứng với Đế), Lạc Long Quân (ứng với Thần) và Hùng Vương (ứng với Nông). Với khuôn mặt mang trời Càn Đế Minh có tính phụ, tính liệt, mang tính biểu tượng sinh tạo thì vành vật tổ này là vật tổ của Họ Mặt Trời, Họ Đỏ, Họ Hồng Bàng thế gian của Kẻ Đỏ Xích Quỉ, Người Việt Mặt Trời Thái Dương kể từ Kì Dương Vương trở xuống đúng như truyền thuyết và cổ sử Việt đã nói.

Như thế tóm lại ở cõi tạo hóa, chim nông biểu tượng cho Thần Nông, hươu biểu tượng cho Viêm Đế . Ở cõi thế gian bốn nhóm chim nông và hươu biểu tượng cho bốn vị vua tổ của ViệtNam.

.Chim nông là loài chim nước là chim tổ tối cao về ngành nòng âm của Bách Việt sống ở vùng sông biển, tuyệt nhiên Trung Hoa không có. Trống đồng âm dương Ngọc Lũ I có hình chim tổ nông nước là trống biểu của Bách Việt nói chung và của Việt Nam nói riêng.

(Còn nữa).


Leave a Comment »

No comments yet.

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Theme: Silver is the New Black. Blog at WordPress.com.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.