Bac Si Nguyen Xuan Quang’s Blog

February 24, 2012

TRỐNG BÁCH VIỆT NGƯỜI MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG NGỌC LŨ I (11).

Filed under: Trống Bách Việt Ng. Lũ I (11) — Quang Nguyen @ 7:28 am

TRỐNG NGƯỜI MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG

BÁCH VIỆT NGÀNH VIÊM VIỆT NGỌC LŨ I.

(TRỐNG NHÓM MẶT TRỜI NỌC THÁI DƯƠNG LƯỠNG HỢP  TIỂU VÀ ĐẠI VŨ TRỤ).

(phần 11)

Nguyễn Xuân Quang

 Ý NGHĨA VÀNH CHIM THÚ TRÊN TRỐNG ĐỒNG ÂM DƯƠNG NGỌC LŨ I.

 VẬT TỔ HƯƠU CỦA ĐẠI TỘC VIỆT

Qua tác phầm Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt, Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt và nhiều bài viết khác, chúng ta đã viết rõ hươu là vật tổ cõi thế gian, là hươu Việt  của Bách Việt phía nọc dương Viêm Đế đối ứng với thiên cẩu sói lang phía Thần Nông.

Ở đây chỉ xin nhắc qua vài điểm chính yếu.

Ta đã biết Việt là vọt, nọc, đực, mặt trời nọc tia sáng, mặt trời rạng ngời. Hùng cũng có một nghĩa là con thú đực. Như vậy vật tổ của chúng ta phải có tên mang nghĩa như vậy. Ở cõi Thượng Thế, cõi trời có vật biểu là một loài chim, đó là con chim cắt, chim có mũ sừng, chim Việt. Ở  cõi đất Trung Thế là một loài thứ bốn chân sống trên mặt đất có tên cũng phải có nghĩa nọc, đực, vọt, Việt, đó chính là con hươu, hiêu, con hèo, con nọc, con Cọc, con Hươu Việt.

Hươu Việt, hươu sừng có di thể Sừng (gene) truyền  từ thần mặt trời Viêm Đế họ Khương (Sừng). Truyền thuyết ghi rằng Đế Minh là cháu ba đời thần Mặt Trời Viêm Đế đẻ ra vua đầu tiên thế gian của chúng ta là Vua Hươu Mặt Trời Kì Dương Vương có nhũ danh là Lộc Tục, Hươu Nọc, Hươu Sừng. Viêm Đế có họ là Khương (Sừng), ở thượng thế biểu tượng chính là con chim Sừng, chim mỏ cắt có mũ sừng (hornbill), là con chim Việt. Ở trung thế, cõi đất trần gian, dòng máu, gene Sừng có từ Viêm Đế này truyền xuống nên Đế Minh có biểu tượng là con  mang trời. Đế Minh sinh ra Kì Dương Vương có khuôn mặt chính là con thú bốn chân ở cõi thế gian có sừng là  Kì Mang, Muông Gạc, Mang gạc. Như thế khuôn mặt hươu nai có sừng trên trống Ngọc Lũ I có mang gene sừng từ thần mặt trời Viêm Đế. Như đã thấy ở trên, sừng ba mấu Lửa vũ trụ Càn sinh tạo có một khuôn mặt biểu tượng cho Đế Minh Càn và sừng hai mấu nhọn hay 5 mấu nhọn biểu tượng cho Kì Dương Vương Li thế gian.

Lưu ý

Hươu sừng là thú biểu cho vùng đất dương, đất khô, đất núi. Còn nếu là đất âm có nước là loài thú bốn chân sống được trên đất có nước và dưới nước, ở địa bàn Bách Việt là con cá sấu Việt, Trâu Việt… và  ở cõi nước Hạ Thế là con rắn nước có mào sừng.

Sau đây chỉ xin vắn tắt nhắc lại một hai hình ảnh hươu sừng là thú biểu của cõi đất dương Trung Thế.

.Trước hết là ở trên Cây Tam Thế (Cây Vũ Trụ, Cây Đời Sống) Yggdrasill của Bắc Âu, ta thấy rất rõ cõi trên Thượng Thế ứng với vòm ngọn cây có biểu tượng là con chim ưng, Trung Thế ứng với cành cây là con Hươu Sừng và Hạ Thế ở gốc cây là con rắn độc đang lè lưỡi đỏ ra.

 Cây Tam Thế (Cây Vũ Trụ, Cây Đời Sống) Yggdrasill của Bắc Âu (Nordic).

.James Churchward cũng đã nói tới hình bóng con hưou Keh là thủy tổ loài người trong những tác phẩm viết về một lục địa cổ mà ông gọi là Continent of Mu (Mu chính là Việt ngữ Mụ. Mẹ) tức là Đất Mẹ (Motherland) ở vùng biển Đông Nam Á (lúc đó còn dính liền với Đông Nam Á) mà ông cho đó là cái nôi của nền văn minh của con người. Ông đã diễn tả sự sáng thế bằng hình chính tay ông vẽ dưới đây:

Hươu Keh là con người đầu tiên của loài người (James Churchward) mang khuôn mặt Kì Dương Vương.

Theo ông, truyền thuyết Đông Á cổ cho rằng con hươu Keh là con người đầu tiên của nhân loại. Hình vẽ cho thấy trong quá trình sáng thế từ biển nước Vũ Trụ nhô lên mô đất nguyên khởi (tương tự như Primevial Mound của Ai Cập cổ), trong có Trục Thế Giới hình chữ T (cũng là Cây Vũ Trụ, Cây Tam Thế, Cây Đời Sống). Núi Trụ Thế Gian là một phần của Trục Thế Giới nên Núi Trụ cũng biểu tượng cho cõi đất thế gian vì thế mà phần nằm ngang của Trục Thế Giới biểu tượng cho cõi bằng mặt đất trên đó có hình cây và thú. Trên mặt đất con hươu Keh xuất hiện đầu tiên. Con hươu này có sừng là hai cọc nhọn không có đâm nhánh tương tự như cặp sừng của con hươu sủa trên trống Phú Xuyên. Hươu Keh đứng trên hai chân mang hình bóng con người đầu tiên.

Hươu Keh chính là hình bóng Kì Dương Vương (xem dưới).

Bây giờ ta thử xem hươu sủa mang gạc có phải là con thú Việt bốn chân tức con Hươu Việt sống trên mặt đất ở cõi Trung Thế hay không?

Theo truyền thuyết vua tổ cõi thế gian của Việt Nam là Kì Dương Vương, vị vua của nước đầu tiên Xích Quỉ, Người Đỏ, tức Người Mặt Trời của chúng ta.

Xin nhắc lại Xích là Đỏ. Quỉ biến âm với Pháp ngữ Qui, Latin Quo (Quo Vadis) có một nghĩa là Kẻ, Người. Quỉ ruột thịt với Kì, Kẻ có một nghĩa là Người. Bằng chứng cụ thể là ở Vân Namhiện nay còn một tộc người tên là Naxi mà người Trung Hoa phiên âm là Nạp Tây. Người Naxi có một thứ chữ viết vẽ hình hay hình tự (pictograph) do các pháp sư tên là Dongba sáng tạo ra dùng đế viết sớ trong tế lễ. Chữ này là thứ chữ vẽ hình sống (live) duy nhất ngày nay còn dùng (xem Hình Tiêu Biểu Tháng 6, 2011). Nguyên gốc nghĩa của Naxi là “Người Đen”. Có giả thuyết cho rằng người này có da ngăm đen nên gọi là ‘Người Đen” (Hắc tộc). Giải tự từ Naxi ta có Nax- đen và Xi là người. Nax (đen) liên hệ với Việt ngữ nắc là đêm như con nắc nẻ là con bướm đêm, với Hán Việt nặc có một nghĩa là kín, bí mật, đen (xã hội kín, bí mật là xã hội đen) như thư nặc danh, với Đức ngữ nacht là đêm. Còn Xi, theo x= s = k như kong (Mekong, Sông Mẹ) = sông, ta có Xi = Kì, Kẻ, người và theo x= q như xoăn = quăn, ta có Xi = Pháp ngữ Qui, Kẻ, Người.

Tóm lại Xích Quỉ là Kẻ Đỏ, Người Mặt Trời còn Naxi là Kẻ Đen.

Kì Dương Vương nghĩa là gì?

1. Kì Dương là Kẻ Dương, Cọc Dương, Cọc Lửa, Nọc Đực, Bộ Phận Sinh Dục Nam.

Kì với nghĩa là kẻ (que, cọc, thước kẻ), ke (bộ phận sinh dục nam.

Trước hết Kì Dương Vương có Kì biến âm với kẻ có nghĩa là que, nọc, cọc như thước kẻ, kè là cọc, cột (cây kè là cây palm có thân như cây cọc, cây cột không có cành)… Kì biến âm với ke có một nghĩa là bộ phận sinh dục nam (Alexandre de Rhodes, từ điển Việt Bồ La). Theo  k = c =que, ta có ke = que (que, cọc, c…c).

Như thế kì là cây, cọc nếu hiểu theo tận cội nguồn của chữ viết nòng nọc vòng tròn-que thì là cọc dương, nọc dương, là bộ phận sinh dục nam. Vậy Kì Dương Vương có một khuôn mặt biểu tượng cho phái nọc nam, cho ngành nọc, ngành mặt trời, ngành Việt (vật nhọn, mặt trời).  Ở đây ta hiểu tại sao Kì Dương Vương là con người Nam đầu tiên và là thần tổ Nam của con Người. Theo duy dương, Nọc dương, bộ phận sinh dục nam sinh tạo ra con người (qua tinh dịch). Thần tổ Nọc Dương đẻ ra loài người.

Đối chiếu với truyền thuyết Ấn giáo đây là khuôn mặt linga của thần Shiva. Thần Shiva có một khuôn mặt là Cọc Lửa, Trụ Lửa ‘Pillar of Fire’. Cọc Lửa của Shiva có một khuôn mặt là Cọc Lửa, Cọc Dương, bộ phận sinh dục nam này của Kì Dương Vương. Về ngôn ngữ học ta cũng thấy rất rõ Shiva có Shi- biến âm với Kì (s=sh= k = c).

Ta có từ đôi Kẻ Sĩ với Kẻ = Sĩ = Kì = Shi. Sĩ có nguồn gốc nguyên thủy là bộ phận sinh dục nam (xem Kẻ Sĩ). Như thế ta có Kì (Dương) = Shi(va) có một nghĩa là bộ phận sinh dục nam, là Linga.

Một lần khi đi du lịch đến Ấn-Độ, tôi đã chứng kiến tận mắt một phụ nữ trẻ vái lạy linga rồi đổ sữa lên đầu linga trông giống hệt như linga đang xuất tinh. Người nữ nầy lấy tay xoa sữa trên đầu linga rồi xoa lên đầu lên mặt mình. Chắc cô ta cầu xin lấy chồng, cầu tự hay cầu mắn sinh, thịnh vượng.

Đây là khuôn mặt tạo hóa sinh tạo này của Kì Dương Vương ở cõi Đất thế gian đội lốt khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa của Viêm Đế ở Thượng Thế.

Lưu Ý

 .Kì Dương Vương với Kì Dương có nghĩa là bộ phận sinh dục nam cũng như các từ Việt có nghĩa là vật nhọn, Hùng có nghĩa là đực…  cũng có nguồn gốc nguyên thủy là gốc nọc, bộ phận sinh dục nam đã khiến nhiều người “cau mặt” hay “sợ hãi”. Với nghĩa bộ phận sinh dục nam này, ta phải hiểu theo nghĩa sinh tạo, tạo hóa sinh ra loài người của ngành nọc nam, mặt trời nam. Thời nguyên sơ cũng như trong các tôn giáo thờ sinh thực khí như chúng ta thờ Nõ Nường, như Ấn giáo thì các bộ giống phái nam nữ có một khuôn mặt là sinh tạo, tạo hóa.

.Trống có một nghĩa là đực cũng hàm nghĩa bộ phận sinh dục nam. Trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn là trống biểu của Hùng Vương lưỡng hợp Chim-Rắn, Tiên Rồng, của Bách Việt nên trống đống hình Cây Nấm Vũ Trụ (Cây Nấm Tam Thế, Cây Nấm  Đời Sống) Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I) cũng mang hình ảnh bộ phận sinh dục nam (cắt bằng đầu để làm mặt trống) và nếu nhìn theo duy âm từ dưới lên có hình âm đạo dạ con).  Trống mang hình dương vật (bằng đấu) thấy rõ nhất ở những trống thô sơ có mặt giống hình vòm cây nấm như trống Thượng Nông (D-IV-1):

 Trống Thượng Nông (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên) có hình dương vật (bằng đầu). Trống Vạn Gia Bá ở Xử Hùng, Vân Nam mà các nhà khảo cổ Trung Quốc cho là cổ nhất cũng có hình dáng như trống này. Rất tiếc trống Thượng Nông này không thử được Carbon 14 phóng xạ để định tuổi.

 2. Kì Dương là Cọc Lửa Thế Gian, Núi Trụ Thế Gian. Núi Trụ Thế Gian, Núi Chống Trời.

Kì với nghĩa là Kẻ (chổ ở, vùng đất dương, đất núi, đất cao).

Cũng với khuôn mặt Cọc Lửa Trụ Lửa này, Kì Dương Vương là Trục Thế Giới ngành nọc lửa dương. Núi Trụ thế gian nằm trong Trục Thế Giới nên Kì Dương Vương Trụ Lửa Trục Thế Giới có một khuôn mặt là Núi Trụ Thế Gian, Núi Trục Thế Gian ngành nọc lửa tức biểu tượng cho núi dương, cõi đất dương, Trung Thế. Ở đây ta thấy Kì = Kẻ với nghĩa Kẻ là chỗ ở, vùng đất, mường… như Kẻ Sặt, Kẻ Mau, Kẻ Trọng.

Với nghĩa là Cọc Dương, Cọc Lửa, Trụ Dương, Kì Dương Vương có nghĩa là vua Nọc Dương, Cọc Lửa, Trụ Lửa thế gian đội lốt thần mặt trời Viêm Đế, Cọc Lửa vũ trụ.

Ta cũng thấy rất rõ Cọc Dương vừa có nghĩa là Bộ Phận Sinh Dục Nam vừa có nghĩa là Núi Cọc, Núi Trụ Thế Gian, Núi Trụ Chống Trời qua hình ảnh Núi Nam Giới ở Hà Tĩnh (Nam giới là “chữ thánh hiền” chỉ Núi Cọc, Núi C…c). Theo truyền thuyết bà Nữ Oa thách ông Tứ Tượng đắp núi thi, nếu ông đắp cao hơn bà sẽ lấy làm chồng. Kết quả ông Tứ Tượng đắp núi thua bà. Nữ Oa đắp một ngọn núi cao ngất trời, đứng trên đó có thể thấy khắp cõi trời đất. Dấu tích còn lại của ngọn núi cao do bà Nữ Oa đắp, dân gian cho là núiNamgiới ở Hà Tĩnh ngày nay… Núi Nam Giới chính là hình ảnh Núi Trụ Thế Gian, Núi Trụ Chống Trời  (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Đối chiếu với truyền thuyết Ấn giáo, Shiva  có biểu tượng chính là linga với khuôn mặt Trụ Lửa cũng có một khuôn mặt Trục Thế Giới nên mới nói là có nguồn gốc sinh ra từ Núi Trụ Thế gian Kalaisha ở Hy Mã Lạp Sơn.

Đối chiếu với truyền thuyết Ai Cập cổ Thần Đất Keb có Ke- = kẻ = ki, cọc, nọc và ke-,như đã nói ở trên có nghĩa là bộ phận sinh dục nam (Alexandre de Rhodes, Từ Điển Việt Bồ La). Vì thế mà thần Đất Keb có bộ phận sinh dục nam mang hình bóng núi Trụ Thế Gian, Núi Chống Trời chống bầu trời là nữ thần Bầu Trời Nut đang uốn cong người thành hình vòm trời.

Thần Đất Keb có bộ phận sinh dục nam cương cứng cố rướng lên tới thân người của thần nữ Bầu Trời Nut mang hình ảnh Cọc Dương (Kì Dương), Núi Trụ Thế Gian, Trụ Chống Trời chống bầu trời của thần Bầu Trời Nut.

Đây là khuôn mặt ở cõi đất thế gian của Kì Dương Vương.

Như thế ta thấy rất rõ ta có thể dùng Kì Dương Vương của chúng ta với Kì Dương có nghĩa là Cọc Dương, Bộ Phận Sinh Dục Nam, Núi Trụ Thế Gian, Trục Thế Giới, Trụ Chống Trời, biểu tượng cho cõi đất Trung Thế này mà giải thích được truyền thuyết về thần Shiva của Ấn giáo và thần Đất Keb của Ai Cập cổ.

3. Kì Dương là Người Dương, Người Nam, Người Mặt Trời.

Với biến âm với Kì = Kẻ và Kẻ có một nghĩa là Người như kẻ nào đó = người nào đó, như Kẻ Sặt… thì Kì Dương là Người Dương, NgườiNam, Người Mặt Trời.

Điểm này được xác thực bởi sự kiện là Kì Dương là Cọc Dương, bộ phận sinh dục nam sinh ra con ngườiNamđầu tiên như đã nói ở trên.

Xác thực bởi truyền thuyết và cổ sử Việt, Kì Dương Vương là vua tổ đầu tiên của nước Xích Quỉ, Người Mặt Trời của chúng ta và cũng là Người đầu tiên của nhân loại.

Xác thực bởi cổ ngữ Đông Nam Á Keh, là con hươu và cũng là con người đầu tiên của nhân loại (James Churchward) như đã thấy qua hình ở trên.

Lưu Ý

 Từ Kẻ chỉ người dương, người nam, người mặt trời, theo duy dương nhìn tổng quát chỉ chung loài người giống như Anh ngữ man là người nam cũng chỉ chung con người.

Nhìn dưới góc cạnh tộc người thì Kẻ chỉ người thuộc tộc nọc, tộc ngành mặt trời thái dương, tộc người ở trên vùng cao, vùng núi, tộc hươu sừng, tộc thuộc đại tộc Kì Dương Vương.  

4. Kì Dương là Mặt Trời Thiên Đỉnh trên đỉnh Trục Thế Giới.

Kì là Kẻ là Nọc, như đã biết Nọc có một nghĩa là mặt trời (Việt Là Gì?). Kì Dương là Cọc Dương là Mặt Trời thái dương. Với nghĩa này, Kì Dương là Mặt Trời Thiên Đỉnh trên đỉnh Trục Thế Giới, chính ngọ, giữa trưa tức vua mặt trời nóng bỏng, chói chang nhất trong ngày.

Ta đã thấy ở trống Kì Việt Phú Xuyên, trên mặt trống tất cả các yếu tố đều mang dương tính và trống có một nghĩa là đực, dương nên ăn khớp trăm phần trăm với khuôn mặt trời thiên đỉnh nóng bỏng chói chang rạng ngời nhất của Kì Dương Vương.

5. Kì Dương là con Cọc, con Hươu Cọc, Con Mang Gạc, Hươu Gạc, Hươu Sừng, Hươu Đực.

Kì = Kẻ với Kẻ có một nghĩa là là con Cọc, con Hươu Sừng, Mang Gạc.

Về ngôn ngữ học ta đã biết hươu, hưu biến âm với hèo (roi, vọt, nọc). Con hươu là con hèo con nọc, con cọc. Ta cũng đã biết con Cọc là con hươu sừng qua trò chơi Bầu Cua Cá Cọc (thường gọi lầm là Bầu Cua Cá Cọp, trên bàn Bầu cua không có con cọp mà chỉ có con Cọc hươu sừng) (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc).

Theo h = k (hết = kết), hèo = kèo và ta có từ đôi kì kèo nghĩa là kì = kèo = hèo = hươu. Con hươu là con Kì, con Kèo, con Cọc.

Ta cũng thấy kì, kẻ biến âm với gốc Hy Lạp ngữ kera-, sừng, với Pháp ngữ cerf, con hươu.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử, như đã biết Việt Kì Dương Vương  có Kì Dương có một nghĩa là con Hươu Đực (dương với nghĩa là đực) hay Hươu Mặt Trời (dương với nghĩa là mặt trời), là vua đầu tiên của nước Xích Quỉ. Kì Dương Vương là Hươu Đực, Hươu Gạc Mặt Trời vì thế mới có nhũ danh là Lộc Tục (Hươu Đục, Hươu Đực). Kiểm chứng với con Hươu Keh của Đông Á cổ có một khuôn mặt là con người đầu tiên của nhân loại ta thấy trăm phần trăm Keh chính là Việt ngữ Kẻ (cọc, người, hươu), chính là Kì Dương Vương với khuôn mặt hươu cọc, hươu sừng, mang gạc, hươu mặt trời, con người đầu tiên của Xích Quỉ, của nhân loại.

Như thế trăm phần trăm mang gạc hươu sửng cervulus muntjac là thú biểu, là thú chủ của Kì Dương Vương. Kì Dương Vương là vua mặt trời thiên đỉnh ở trên đỉnh Núi Trụ Thế Gian, Trung Thế, vị vua đầu tiên của nước Xích Quỉ, Kẻ Đỏ, Người Mặt Trời Bách Việt.

Để cho chắc chắn thêm, ta kiểm chứng với Mã Lai ngữ, một thứ ngôn ngữ ruột thịt với Việt ngữ và vả lại ở Mã Lai-Nam Dương còn có con cháu của những tộc Bộc và Giao Việt, Giao nhân giỏi về sông biển đã đi khắp năm châu bốn biển. Ta cũng thấy họ gọi Hươu sủa barking deer này là Munt’jac, Munt’jak, Mun jak tức Muông gạc, Mang gạc như chúng ta.  Eureka! Tôi đã tìm ra! Hươu sủa muntjac Mã Lai còn có tên là kijang, kijangjan.

Từ kijang là muntjac trong English-Malay Dictionary của R.O. Winstedt, 1920.

 Eureka! Kijang chính là Kì Dương! Kijang Hươu Sủa, barking deer chính là hươu Kì Dương, mang gạc.

Như thế trăm phần trăm Kì Dương Vương có thú biểu bốn chân là con hươu sủa barking deer, mang gạc cervulus muntjac, kijang, Kì Dương. Con thú trên trống Phú Xuyên chính là con hươu này.

Ta đã thấy trống Kì Việt Phú Xuyên có một khuôn mặt chủ là con mang gạc kì dương là trống có một khuôn mặt chủ là Kì Dương Vương.

Kiểm chứng với truyền thuyết và cổ sử Việt ta cũng thấy rõ Mẹ Tổ Âu Cơ, Nàng Lửa, thái dương thần nữ của chúng ta dẫn 50 con lên núi, đất dương thuộc ngành Lửa (Viêm Đế-Đế Minh)-Kì Dương Vương nên có một thú biểu thế gian là con nai sao (nai là con cái).

Điểm này thấy rõ qua truyền thuyết Mường, bà Ngu Cơ (Âu Cơ) có biểu tượng là con hươu sao. Khi tế lễ bao giờ cũng có lá cờ nai sao biểu tượng cho Ngu Cơ và cờ cá chép biểu tượng cho Lạc Long Quân (J. Cuisinier, Les Mường).

Cờ hươu sao biểu tượng của Ngu Cơ của người Mường (nguồn: J. Cuisinier, Les Mường).

Trong Lĩnh Nam Chích Quái, có truyền thuyết nói về một vị Thần Núi Tản Viên có tên là Kỳ Mang, Kỳ Mạng cứu con rắn nước Tiểu Long Hầu con của Lạc Long Quân. Kỳ Mang là Mang Kì, Mang Kẻ, Mang Gạc chính là Mang Gạc Muntjac Hươu Sủa. Mang Sừng cũng có thể hiểu là con Muông Sừng nghĩa là nói chung hươu, dê (Ai Cập cổ lấy dê núi làm vật biểu)… vì thế mà trong truyền thuyết nói rằng Kỳ Mang được dê núi nuôi. Núi Tản Viên có một khuôn mặt là núi Trụ Thế Gian, Núi Trục Thế Giới nên còn gọi là Tam Từng ứng với Tam Thế. Trong Cây Tam Thế (Cây Vũ Trụ, Cây Đời Sống) có Trục Thế Giới. Núi Tản Viên cũng còn gọi là núi Ba Vì biểu tượng của ba vị vương Kì Dương Vương, Lạc Long Quân, Hùng vương. Thần Kỳ Mang là khuôn mặt ứng với Kì Dương Vương,   khuôn mặt Lạc Long Quân thấy qua Tiểu Long Hầu và theo truyền thuyết Mường Tản Viên có một khuôn mặt Hùng Vương.

Tác giả Bình Nguyên Lộc cho biết “Theo sử Tầu nhà Hạ chia nước ra làm 9 châu trong đó có đất Kinh Việt gọi là châu Kinh (cũng còn gọi là châu Kì). Ở phía đông châu Kinh, đất cũng do dân Việt làm chủ, người Trung Hoa gọi là Dương Việt và cho làm thành Châu Dương”, (Nguồn Gốc Mã Lai Củaa Dân Tộc Việt Nam tr.147). Ở chỗ khác ông viết tiếp : «Nhưng khu tứ giác đó, tức bờ Tây sông Hán là đất của ai? Chủ đất ở đó thuộc một chủng mà họ gọi là Việt, lần đầu tiên trong sử của họ. Ở đó có một cái núi mà dân di cư đặt tên là núi Kinh…

Tỉnh Hồ Bắc nằm trong khu tứ giác đó, là đất của chủng Việt”.

Như thế Núi Kinh, Núi Kì, Châu Kì, Kì Việt, Dương Việt thuộc Bách Việt tất phải liên hệ với Kì Dương Vương.

Xin nhắc lại những địa danh trong cổ sử Việt và Trung Hoa ứng với  tứ tượng là Châu Dương (Châu Mặt Trời ứng với Đế Minh, Châu Kì ứng với Kì Dương Vương, Châu Hoan ứng với Lạc Long Quân và Châu Phong ứng với Hùng Vương) (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).   

Từ Việt trong hai chữ Việt Nam hiện nay viết với bộ tẩu là “chậy”. Con hươu là con  thú bốn chân chạy trên mặt đất biểu tượng cho đất dương, dương trần. Con hươu biểu tượng cho đất dương, đốt khô cũng thấy rất rõ qua từ Hán Việt trần (bụi) có chữ lộc (hươu). Con hươu chậy trên đất khô làm bụi tung lên gọi là trần. Rõ ràng con hưou biểu tượng cho cõi dương trần, trần thế.

Chữ tẩu là chạy liên hệ mật thiết với con hươu là loài có nét đặc thù là chỉ có cách chậy để thoát thân (tam thập lục kế, tẩu vi thượng sách). Ta cũng thấy rõ tính chậy này qua câu ví của người Việt “chỉ đường cho HƯƠU CHẠY”. Vậy con vật chậy có (bộ) búa, qua, vật nhọn (sừng) trong chữ Việt viết với bộ tẩu mang một hình bóng con hươu. Việt viết với bộ tẩu phải hiểu là Việt Hươu, Việt Lộc Tục (Hươu Đực, Hươu Dương, Hươu Mặt Trời). VIỆT viết với bộ tẩu CHẠY là VIỆT HƯƠU, là VIỆT KÌ DƯƠNG VƯƠNG. Kì Dương Vương là con người đầu tiên và là vị vua đầu tiên của nước Xích Quỉ của chúng ta ở cõi đất thế gian. Chữ Việt Nam hiện nay viết với bộ tẩu là lấy theo truyền thuyết Kì Dương Vương này. Ngoài ra ta cũng có câu ví nói chuyện con tườu con vượn tức nói hươu nói vượn. Ta có con tườu = con hươu. Tườu biến âm với tiều, tìu, dìu (rìu). Ông tiều phu là ông thợ rìu chặt cây trong rừng. Như vậy con tườu, con tiều là tìu, con dìu, con rìu, con Việt. Rõ như “con cua tám cẳng hai càng một mai hai mắt rõ ràng con cua” Việt có một khuôn mặt là rìu là Hươu.

Gần cận chúng ta, lịch sử của vương triều Lana Lúa Nước ở phía bắc Thái Lan còn ghi chép lại việc vua Mengrai vào thế kỷ 13 khi tuần du đến một vùng rừng núi phía nam, nằm mơ thấy con hươu sủa barking deer và năm con chuột bạch nên đã dời đô từ Chiang Rai về một chỗ mới đặt tên là Chiang Mai (Chiềng Mới, Giềng Mới) lập nên triều Đại Lúa Nước Lana huy hoàng vang bóng một thời, ngày nay còn lại những di tích tường thành. Nằm mơ thấy hươu sủa là điềm lành, được thánh thần phù trợ, đất có hươu sủa xuất hiện là đất lành. Điều này cho thấy rõ hươu sủa là con thú chủ thần thoại hóa thành con nghê, con kì trong cặp kì lân. Người Trung Hoa tin là khi thấy kì lân xuất hiện là có thánh nhân, minh quân ra đời (xem dưới). Vương quốc Lana Lúa Nước ruột thịt với với Lạc Việt Lạc Long Quân con của Kì Dương Vương.

Ngôn ngữ của Lạc quốc Lana Lúa Nước rất ruột thịt với ngôn ngữ cổ Mường Việt, ví dụ tên thủ đô Chiang Mai chính là Việt ngữ Chiềng Mới, Giềng Mới. Giềng là xóm, xóm giềng. Tên nước Lana người Tây phương dịch là “country of rice field” (xứ của đồng lúa). Lana là Cổ Ngữ Mường Việt, La là ló: lúa và na là nà, ruộng lúa nước, nà liên hệ với nã, nác, nước. Lana là xứ trồng Lúa Nước. Họ liên hệ với Lạc Việt, Lạc dân có lạc điền. Lana là một tộc của dân Lạc làm ruộng nước. Lana liên hệ với Lạc Việt nên cũng thờ Hươu Sủa Kinh Dương Vương.

Tóm lại hươu sừng, hươu cọc, hươu đực, hươu mặt trời là vật tổ thú bốn chân của chúng ta ở cõi giữa Trung Thế. Hiển nhiên vật tổ Hươu Việt này cũng mang trọn ý nghĩa trong Vũ Trụ Tạo Sinh Vũ Trụ giáo.

Nhìn dưới diện Tam Thế, Kì Dương Vương với nghĩa là vua Cọc Dương, Cọc Lửa, Trục Thế Giới dương có đủ ba khuôn mặt nọc lửa dương ở Tam Thế ứng với ba phần của Trục Thế Giới dương.

Ở Thượng Thế Cọc Lửa Kì Dương đội lốt Cọc Nóng Viêm Đế và với khuôn mặt bộ phận sinh dục nam mang khuôn mặt sinh tạo, Tạo Hóa. Ở Trung Thế, Cọc Dương mang khuôn mặt Núi Trụ Thế Gian, Núi Trụ Chống Trời, Trụ Trời. Kì Dương Vương tương đương với thần đất Keb của Ai Cập cổ và Shiva của Ấn-Độ.

Kì Dương Vương, Shiva, Keb có khuôn mặt là thần Cọc dương bộ phận sinh dục nam vì thế là vị thần tổ loài người, là thần sinh tạo ra loài người và là con người đầu tiên của ngành nọc lửa (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Ở Hạ Thế cõi Nước là khuôn mặt Cọc Lửa Búa Thiên Lôi của khuôn mặt thần sấm Lạc Long Quân.

Chứng tích thờ vật tổ hươu còn thấy nhiều trong xã hội ta ngày nay. Nhiều làng ở vùng đất tổ miền Bắc trước đây còn thờ hươu. Như đã nói ở trên, vật tổ chính của người Mường là con nai sao biểu tượng cho bà Ngu Cơ (và con cá chép biểu tượng cho Lạc Long Quân).

 Linh Thú Nghê hay Kì.

Mang gạc thần thoại hóa thành con Kì trong cặp kì lân. Nghê là một linh vật đa thú (chimera) có nghĩa là con thú chủ (host) được ghép thêm nhiều phần tượng trưng của nhiều con thú vật tổ của các chi tộc khác (ghép ngoại chủng, xenotransplation) của ngành nọc lửa thế gian. Con thú chủ của Nghê là con hươu sủa, mang gạc muntjac bổn mạng của Kì Dương Vương (xem chương Linh Vật trong Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Nghê và mang gạc munjac có những điểm đặc thù giống nhau là sừng ngắn chỉ chia ra hai mấu nhọn, răng biến thành nanh nhọn, mũi to (mũi kì lân), nhỏ con, thấp, chân ngắn. Hai điểm mấu chốt là cái sừng ngắn chỉ chia hai nhánh và cái răng nanh lòi ra như răng lợn lòi. Trên người con Nghê Kì cũng có nhiều hay ít nhất 4 phần thân thể khác của các thú biểu ứng với tứ tượng của ngành nọc lửa thế gian. Sừng hai mấu biểu tượng cho Lửa Đất  Dương Kì Dương Vương Li, các ngọn lửa bay trên người và chung quanh người biểu tượng cho Lửa vũ trụ Đế Minh Càn, đuôi trâu, mình có vẩy thuộc về Nước dương Lạc Long quân Chấn, tai chó thuộc về Gió dương Hùng vương Đoài…

Hươu sủa muntjac rất hiền, rất nhát, thường đi từng cặp lẻ loi, lông lẫn vào cỏ cây nên hiếm thấy, những điều này ăn khớp với truyền thuyết về Kì-lân có những đặc điểm là “Đi rất êm ái, không dẫm nát cỏ dưới chân, sống bằng cây cỏ, không ăn động vật…. không làm hại người lương thiện… và thánh nhân mới gặp được nó. Mỗi lần thấy nó xuất hiện là có minh quân ra đời, là điềm lành, được thánh thần phù trợ, đất có hươu sủa xuất hiện là đất lành…” (như đã nói ở trên Vua Lana Thái nằm mơ thấy hươu sủa nên dời đô về Chiang Mai. Điều này cho thấy hươu sủa chính là con Kì trong cặp kì lân) (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Ở đây cũng cần nhấn mạnh một điều là hươu sủa, mang gạc là con thú chủ (host)của linh thú nghê hay kì chỉ sống ở địa bàn Đông Nam Á và Nam Đảo không có ở vùng phía bắc Trung Hoa. Điểm này và các điều ta thấy về hươu sủa trong truyền thuyết và cổ sử Việt nhất là con hươu sủa trong cổ sử của Lana Thái liên hệ với Lạc Việt  xác thực linh vật Kì (lân) là gốc của Bách Việt.

Tóm lại Kì Dương với nghĩa Cọc Dương, Nọc Đực, Bộ Phận Sinh Dục Nam, Núi Trụ Thế Gian, Trụ Chống Trời, Người Mặt Trời, Thần Tổ Nam của loài người, Mặt Trời Thiên Đỉnh, Nọc Việt, con Cọc, Hươu Sừng, Mang Gạc, Hươu Mặt Trời, Hươu Việt liên hệ với thần Shiva của Ấn giáo và thần Đất Keb của Ai Cập cổ.

Con hươu sủa, mang gạc là thú biểu của Kì Dương Vương, Vua Nọc Việt thế gian, Vua Mặt Trời Việt thiên đỉnh rạng người, của Người Việt Mặt Trời Xích Quỉ của nhánh Nọc Việt thái dương của họ Hồng Bàng Mặt Trời thế gian của ngành Mặt Trời Viêm Đế.

Vậy ta thấy rất rõ hươu nai ở vành số 8 trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I là vật tổ bốn chân biểu tượng cho cho cõi đất thế gian mang tính chủ của chủng Người Mặt Trời thái dương có trang phục đầu hình chim có góc cạnh.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt hươu nai này là vật tổ của ViệtNamnói riêng và của Bách Việt nói chung tức của Đại Tộc Việt Người Mặt Trời thái dương.

Ta thấy rõ sử đồng của đại tộc Đông Sơn ăn khớp trăm phần trăm với sử miệng và sử sách ViệtNam.

Kết Luận

.Vành chim thú số 8 có những con chim bay là những con chim nông và các con thú là hươu nai mang ý nghĩa biểu tượng trọn vẹn của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo.

.Vì là loài chim nước, các con chim nông bay này là chim biểu của phía nòng âm Khôn, trong khi hươu nai có sừng là thú biểu của phía nọc dương Càn.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt chim nông là chim biểu của phía Thần Nông và hươu nai là thú biểu phía Viêm Đế.

.Các con chim nông đang bay biểu tượng cho cõi thượng thế, cõi trời thế gian mang tính sinh tạo, tạo hóa ăn khớp với truyền thuyết chim nông, chim nang, chim Trứng Vũ Trụ. Trong khi các hươu nai là thú bốn chân mang tính chủ biểu tượng cho cõi giữa Trung Thế. Chim nông là chim nước trong khi hươu sừng mang tính lửa đất. Ở đây chim thú cùng một vành nên có một khuôn mặt lưỡng hợp nòng nọc, âm dương nước-lửa, Trời âm đất dương.

Nhìn dưới diện lưỡng hợp đại vũ trụ thì khuôn mặt chim nông thái âm (nhóm 8 con) mang tính chủ lưỡng hợp với khuôn mặt nai cái (10 con) thái dương mang tính liệt. Nhìn dưới diện lưỡng hợp tiểu vũ trụ thì khuôn mặt thiếu dương (10 con hươu đực) lưỡng hợp với khuôn mặt chim nông thiếu âm (nhóm 6 con).

Như thế ta có lưỡng hợp đại vũ trụ với khuôn mặt nòng âm mang tính chủ và lưỡng hợp tiểu vũ trụ với khuôn mặt nọc dương mang tính chủ.

.Chim chia ra làm hai nhóm. Nhóm 6 con ứng với Khôn dương thiếu âm và nhóm 8 con ứng với Khôn âm thái âm.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, chim nông là chim biểu của ngành nòng Khôn Thần Nông và chia ra hai nhóm 6 con nông Khôn dương Nông Đoài và nhóm 8 con nông Khôn âm Thần Chấn. Chim nông biểu tượng cho Thần Nông chia ra hai nhóm Thần và Nông.

Trong khi hươu nai nhóm 10 con ở nhóm 7 người nhẩy múa ở bán viên dương có khuôn mặt chủ lửa đất Li ứng với Đế và nhóm 10 ở nhóm 8 người nhẩy múa ở bán viên âm có một khuôn mặt là lửa trời Càn âm. Hươu nai biểu tượng cho Viêm Đế và chia ra hai nhóm Viêm và Đế.

Ở đây là trống thế gian ta có lưỡng hợp Nông Đoài và Hươu Li ứng với Nông của Thần Nông với Đế của Viêm Đế, tức lưỡng hợp Đế-Nông.

.Ở đây ta thấy lưỡng nghi Thần Nông chim nông và Viêm Đế hươu đã phân ra làm bốn nhóm ở dạng tứ tượng là Thần, Nông, Viêm và Đế. Điểm này cho thấy vật tổ ở đây có một khuôn mặt chính là dạng  biểu tượng cho sinh tạo ở cõi thế gian ứng với tứ tượng.

Ta cũng thấy rõ khuôn  mặt sinh tạo thế gian này qua sự kiện là lửa trời thế gian tức ánh sáng mặt trời ứng với Đế Minh (Đế Ánh Sáng) Càn ở cõi trời sinh tạo thế gian được biểu tượng bằng một con thú bốn chân sống trên mặt đất là con mang trời có sừng 3 mấu nhọn Càn thay vì phải là một loài chim cắt hay trĩ lửa biểu tượng cho lửa trời thế gian hay ánh sáng. Khuôn mặt thế gian này ăn khớp trăm phần trăm với tộc Người Mặt Trời Thái Dương thế gian và với khuôn mặt thế gian của trống có mặt trời 14 nọc tia sáng.

Khuôn mặt thế gian này ăn khớp trăm phần trăm với tộc Người Mặt Trời Thái Dương thế gian và với khuôn mặt thế gian của trống có mặt trời 14 nọc tia sáng.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt Viêm Đế Thần Nông tách ra thành Viêm, Đế, Thần và Nông  ứng với 4 vị vua tổ của chứng ta là Đế Minh (ứng với Viêm),  Kì Dương Vương (ứng với Đế), Lạc Long Quân (ứng với Thần) và Hùng Vương (ứng với Nông). Với khuôn mặt mang trời Càn Đế Minh có tính phụ, tính liệt, mang tính biểu tượng sinh tạo thì vành vật tổ này là vật tổ của Họ Mặt Trời, Họ Đỏ, Họ Hồng Bàng thế gian của Kẻ Đỏ Xích Quỉ, Người Việt Mặt Trời Thái Dương kể từ Kì Dương Vương trở xuống đúng như truyền thuyết và cổ sử Việt đã nói.

Như thế tóm lại ở cõi tạo hóa, chim nông biểu tượng cho Thần Nông, hươu biểu tượng cho Viêm Đế . Ở cõi thế gian bốn nhóm chim nông và hươu biểu tượng cho bốn vị vua tổ của ViệtNam.

.Chim nông là loài chim nước là chim tổ tối cao về ngành nòng âm của Bách Việt sống ở vùng sông biển, tuyệt nhiên Trung Hoa không có. Trống đồng âm dương Ngọc Lũ I có hình chim tổ nông nước là trống biểu của Bách Việt nói chung và của Việt Nam nói riêng.

(Còn nữa).


THÁM DU NAM CỰC (3).

Filed under: Thám Du Nam Cực 3 — Quang Nguyen @ 7:23 am

THÁM DU NAM CỰC

Du ký

(Phần 3).

Nguyễn Xuân Quang

Ngày thứ tư của hành trình.

Ở biển. Tiên đoán biển động vừa phải, trời nhiều mây và có mưa rào.

Đi Nam Cực dù ngày nắng hay mưa lúc nào cũng được nhắc nhở là “phải để một tay tự do”, “một tay cho tầu”, nghĩa là lúc nào cũng chỉ cầm, xách đồ một tay thôi, tay kia luôn luôn phải vịn vào tầu để phòng ngừa tâu nghiêng ngả, chao đảo bất ngờ. Hôm nay biển động, vị thuyền trưởng lại nhắc nhở di chuyển, đi đứng cẩn thận, coi chừng tầu chao đảo. Đã có nhiều người đi Nam Cực bị vỡ đầu, gẫy chân, gẫy tay… Những vật dụng dễ vỡ như máy ảnh, máy điện toán phải để dưới sàn tầu và chặn cứng lại. Để trên bàn khi tầu nghiêng ngả chúng sẽ rơi xuống sàn. Càng tiến gần Nam Cực, thời tiết càng thay đổi bất ngờ, nắng mưa, bão tuyết xẩy ra trong chớp mắt, không thể tiên đoán trước được:

                        Bốn mùa trong một sát na.

 Như đã nói, từ tối qua tầu bắt đầu đi qua và đi vào vùng fjords của Chile. Đảo Chiloe là khởi đầu của miền duyên hải lởm chởm những đảo nhỏ từ miền Trung Chile xuống tới mút tận cùng của Nam Mỹ châu tức tới Mũi Horn. Vùng duyên hải này nguyên thủy là vùng băng hà tan chẩy ra, nước biển ùa vào tạo thành fjords (như đã biết Vùng Hồ Lake District của Chile mà Puerto Montt,Chiloe là cửa ngõ cũng là do băng hà tan ra tạo thành).

  

Vùng duyên hải lởm chởm đầy những đảo nhỏ từ miền Trung xuống đầu mút tận cùng Cape Horn là vùng fjords của Chile.

Tuy nhiên các fjords thật sự thì bắt đầu từ Cửa Reloncavi (vĩ độ 42 độ S) tới Cape Horn (55 độ S).

Tầu đi theo con đường mà các nhà thám hiểm Nam Cực tiên phong đã đi qua hơn năm trăm năm trước.

Fjords của Chile còn nguyên sơ, hoang dại, chưa có người bước chân tới, chưa có người ở với những kiến trúc thiên nhiên mê hồn, trong khi các fjords của Bắc Âu như của Thụy Điển, Na Uy, Đan Mạch cũng rất đẹp nhưng đã có người ở, đã thấy nhân tạo hóa một phần. Dấu vết của người cổ đã tìm thấy ở nhửng hải đảo này. Đây là tộc du mục Alakaluff, ngày nay đã tuyệt chủng.

Những mạng fjords do băng hà tạo ra từ vùng Campos de Hielos (ice field) ở các thung lũng của vùng trung nguyên đan dệt bằng những băng hà thủy triều còn hoạt tính (active tidewater glaciers). Có chi chít những đường kênh hẹp nối thông thương với Thái Bình Dương, tạo thành những hải cảng thiên nhiên an toàn mặc dầu chúng rất biệp lập, hẻo lánh. Mấy hôm nay trời nhiều mây và biển hơi động khiến tôi nghĩ là có thể sẽ có bão. Nhưng tầu đang đi trong những fjords và có nhiểu hải cảng thiên nhiên an toàn nên cũng thấy bớt lo.

Fjord nổi tiếng hôm nay đi qua là kênh biển (sea channel) mà Darwin đã đi qua trước đây.

 Theo lộ trình, hôm nay đi qua kênh biển Darwin.

Đây là con kênh biển chính ở giữa các đảo của quần đảo Chronos (Chronos là tên tộc thổ dân ở đây). Con kênh biển này dẫn đến những cấu tạo thiên nhiên tuyệt vời, thơ mộng, đi qua giữa Công Viên Quốc Gia Đảo Magdalena (Parque Nacional Isla Magdalena).

 

Cửa vào kênh biển Darwin.

 Thiên nhiên quá xanh tươi đã khiến Charles Darwin quá cảm kích nên ông gọi là ‘sa mạc xanh’ (‘green desert’).

Tốc độ băng tan ngày nay ở mức báo động, chỉ hơn một thế kỷ trước đây Darwin còn ghi lại rất nhiều đá băng hơn bây giờ. Điểm này cho thấy rõ bị ảnh hưởng của sự hâm nóng toàn cầu do con người gây ra.

Hôm nay có bài thuyết giảng về hệ sinh thái ở Nam Cực để sửa soạn kiến thức cho du khác khi vào vùng Cận Nam Cực và Nam Cực.

Động vật

-Côn trùng không xương sống bản địa.

Về động vật, bản địa chỉ toàn là loài không có xương sống. Chúng gồm có mối mọt, bọ 6 chân springtail, bọ chét tuyết, nhiều thứ trong các loại này sống ký sinh ở chim và hải cẩu. Loại động vật lớn nhất sống thường trực trên đất Nam Cực là loại “ruồi” không có cánh (wingless midge, Belgica antartica) dài khoảng 1 cm.

Belgica antartica (frozenfly eduarchive.org)

Loại này cũng giống các loài côn trùng khác ở Nam Cực không có cánh vì ở đây gió rất mạnh nên chúng không thể nào bay được, vì thế chúng không cần có cánh nữa cho an toàn và nhẹ người.

Trên lục địa không có nhiều sinh vật, tuy nhiên vùng biển Nam Cực (Southern Ocean) có rất nhiều sinh vật.

-Cá voi

Nam Cực có nhiều cá voi như cá voi Minke (có nhiều nhất, dân số tới nửa triệu con), cá voi Right Nam Cực (nhiều đứng hàng thứ nhì, gọi là ‘right’ vì bơi chậm, vào gần bờ, dễ bắn và có nhiều dầu), cá voi sei (nhiều đứng hàng thứ ba), cá voi đầu to (sperm whale), cá voi lớn nhất là cá voi xanh lam (blue whale), cá voi vây (fin whale), cá voi gù lưng (humpback whale), cá voi hiếu sát (killer whale)…

Kỹ nghệ đánh bắt cá voi để lấy dầu, làm chất nhờn, ăn thịt… đã làm một số loài đang gần tuyệt chủng.

-Hải cẩu

 Vì ở vùng lạnh hải cẩu ở đây là loài có lông. Những loài thật sự là hải cẩu Nam Cực thường thấy là: loài ăn cua ‘crabeater’ (thật ra là ăn tôm krill chứ không ăn cua), hải cẩu báo, Weddell và Ross.

-Các loài chim

Chỉ có một vài loài chim sinh đẻ ở Nam Cực. Có khoảng 45 loại chim sinh đẻ tại vùng quanh Nam cực trong đó có 7 loại băng quyên trong tổng số 17 loại trên toàn thế giới.

-/Băng quyên (penguin)

Lưu ý

Tôi phiên âm penguin là băng quyên có một nghĩa là một thứ chim quyên phần lớn sống ở biển băng tuyết (chúng ta đã có một loài chim quyên là đỗ quyên). Hiện nay có người dịch penguin là chim cánh cụt, theo tôi không chỉnh và nghe có vẻ bình dân giáo dục quá. Cánh của penguin giờ không còn dùng như cánh nữa. Chim penguin không biết bay. Cánh giờ dùng làm hai tay chèo để bơi , vật để bơi, Anh Mỹ gọi là flipper, không gọi là wing. Nếu muốn, nên gọi là chim cánh tay chèo đúng hơn là chim cánh cụt. Tuy nhiên, tôi thích dùng từ phiên âm băng quyên hơn.

Băng quyên thường thấy ở Nam Cực gồm có giống

.Adélie (gọi theo tên vợ nhà thám hiểm người Pháp Dumon d’Urville), mầu đen trắng mắt có vòng tròn trắng bao quanh. Có khoảng 2.5 triệu cặp ở 117 nơi ở Nam Cực và lân cận. Mùa đông chúng ở lại trên đá bằng hay trên băng sơn.

Băng quên Adélie (ảnh của tác giả).

.Giống Quai Cằm (Chinstrap).

Tương tự như Addélie nhưng có một điểm chuyên biệt là có  cái quai như quai nón, quai mũ nối từ cái mũ đen trên đầu quàng xuống dưới cằm ví thế mới gọi là băng quyên quai cằm. Có khoảng 4 triệu cặp, nhiều sau giống macaroni.

.Giống Gentoo

Mỏ mầu cam, có vệt trắng trên và sau mắt. Có khoảng 300.000 cặp. Dân số có nơi suy giảm đáng kể và được xếp vào loại ‘gần nguy kịch’.

Băng quyên Gentoo (ảnh của tác giả).

.Giống Vua (King)

Giống lớn hàng thứ nhì sau giống Hoàng Đế. Có mầu vàng dưới cổ và ngực như cổ áo hoàng bào. Có khoảng 1.5 triệu cặp. Giống này bị khai thác bởi con người trong quá khứ (đem về sở thú,  dân Nga làm thú nhồi bông cho trường học…).

Băng quyên Vua (ảnh của tác giả).

 .Giống Hoàng Đế (Emperor).

Giống tương tự như băng quyên Vua nhưng to, cao hơn và là giống lớn nhất, có con cao tới 1m, nặng 40 kg. Địa khai hóa thạch tìm thấy những bộ xương cao bằng người. Hãy mường tượng ra khi một đoàn băng quyên đế vương này xếp hàng dài đi bộ ta sẽ thấy giống như một đoàn người lữ hành, có khi lầm lũi đi trong bão tuyết (xem film Happy Feet). Hiện nay chỉ còn dưới 200.000 cặp.

-/Các giống chim khác như hải âu (albatrosses), fumar, petrels, kelp gull, skua…

Đích thực loài chim tuyết Nam Cực là giống petrel tuyết (snow petrels) mầu trắng bạch tuyết.

 Chim tuyết snow petrels (ảnh của tác giả).

-Cá Biển Nam Cực

Có khoảng 270 loại. Một số sống được ở vùng nước dưới không độ bởi vì trong máu chúng có những chất glycopeptides chống đông giá (‘antifreeze’). Đặc biệt nhất là loài cá đá băng (ice fish) không có máu đỏ tức không có hồng huyết cầu mà chỉ có máu trắng.

Cá đá băng (ice fi.sh)

Ở những vùng băng giá nồng độ dưỡng khí (oxygen) trong nước đậm đặc hơn có thể đi thằng vào thân cá qua mang cá và da nên không cần có hồng huyết cầu để chuyên chở dưỡng khí.

 Một vài loại cá Nam Cực như cá notothon cẩm thạch (Nohothenia rossii), cá đá băng mackerel (Champsocephalus gunnari) đã bị đánh bắt làm tuyệt chủng.

Một loài cá hiện nay cho là “vàng trắng” (‘white gold’) ở vùng biển Nam Cực, có con dài cả mét. Đây là một món cá cho là trân quí nhất từ Nam Cực. Một món ăn loại cá này trong các tiện ăn sang trọng giá có thể lên tới vài trăm Mỹ kim. Một mẻ lưới bắt được một vài con có thể kiếm tới hàng triệu Mỹ kim. Đây là giống cá răng (Toothfish, dissostichus eleginoides).

 Cá hanh Chile

Ở Mỹ thường gọi là ‘cá hanh Chile’ hay black hake, ‘ cá hanh biển Nam Cực’, ở Anh gọi là ‘cá hanh Úc’, ‘cá băng đá Nam Cực’, ở Tây Ban Nha gọi là ‘bacalao de profondidad’ (‘cod of the deep’), ở Chile và Argentina là austro merluza negra’, ở Pháp là ‘légine austral’, Nhật là ‘mero’, Nga là ‘patagonsky klykack’…

Thả lưới đánh cá loại này bao trùm cả một vùng rộng lớn đưa đến nguy cơ làm các loài chim biển tuyệt chủng vì thế mà cơ quan bảo tồn đời sống hoang dã Nam Cực đang kêu gọi ‘tẩy chay’ ăn cá này!

-Cua 

Nam Cực có nhiều loại cua rất lớn như Cua đế vương (king crab) giống như cua Alaska, cua nhện…

Cua đế vương Nam Cực (hình chụp ở chợ cá Puerto Montt).

-Mực

  Vùng biển Nam Cực có rất nhiều mực. Đặc biệt là giống mực khổng lồ.

Mực khổng lồ Nam Cực. 

-Tôm Nam Cực

gọi là krill là một loài hết sức quan trọng vì là thực phẩm chính của mạng thực phẩm giúp cho sự phát triển mạnh của các loài cá, hải cầu, cá voi và các loài chim biển.

Tôm krill Nam Cực.

Kỹ nghệ xúc tôm của con người (lên tới 400.000 tấn một năm) đã gây ảnh hưởng lớn lên hệ sinh thái ở Nam Cực.

Một chiếc tầu xúc tôm.

Con người chưa dùng tôm krill làm thực phẩm nhưng krill dùng làm thực phẩm nuôi cá hồi. Cá hồi nuôi thường có mầu nhạt vì cá ăn các thực phẩm nhân tạo không có sắc tố hồng, trong khi cá hôi thiên nhiên ăn tôm krill có sắc tố hồng nên có mầu hồng đậm. Vì thế con người nghĩ ra dùng tôm krill làm thực phẩm để cá hồi nuôi có mầu hồng đậm giống như cá hồi thiên nhiên để đánh lừa người tiêu thụ. Kỹ nghệ xúc tôm krill đã làm cạn nguồn lương thực của cá voi (một con cá voi ăn bốn trăm tấn tôm một ngày), băng quyên (penguin), hải cẩu… có nơi các giống này đã tới bờ tuyệt chủng. Vì thế gần đây đã có những qui luật giới hạn lượng đánh bắt tôm này.

-Rêu Cỏ

Có 350 loại địa tiền (lichens) sống trong kẽ đá hay trên mặt đá.

 

Địa tiền (lichen) trên sườn núi.

một trăm loại rêu (moss), một trăm loại rong tảo (algea) trong đó có 20 loại rong tuyết có mầu sắc khác nhau tạo thành các vệt mầu hồng, đỏ, vàng và xanh lá cây trên tuyết nên mới có nhiều loại tuyết như tuyết đỏ, tuyết vàng, tuyết xanh… (riêng tuyết đỏ đôi khi cũng do phân chim băng quyên gọi là guano ăn tôm krill có sắc tố đỏ tạo thành).

Tuyết đỏ hay tuyết máu do rêu rong tạo thành.

Không có cây và bụi chỉ có hai loài cỏ có mạch bản địa (indigemous vacular plants) là  cỏ tóc Nam Cực (antartica hair grass, Deschampsia antartica)  và cỏ trân châu (pearlwort, colobanthus quitensis).

Vùng đảo Cận Nam Cực dĩ nhiên có nhiều rêu cỏ hơn.

Dưới nước có rất nhiều loại rong biển.

…….

 (còn tiếp).

February 17, 2012

TRỐNG NGƯỜI MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG NGỌC LỦ I (10).

Filed under: Trống Bách Việt Ngọc Lũ I (10) — Quang Nguyen @ 7:59 am

TRỐNG NGƯỜI MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG

BÁCH VIỆT NGÀNH VIÊM VIỆT NGỌC LŨ I.

(TRỐNG NHÓM MẶT TRỜI NỌC THÁI DƯƠNG LƯỠNG HỢP  TIỂU VÀ ĐẠI VŨ TRỤ).

(phần 10)

Nguyễn Xuân Quang

  Ý NGHĨA VÀNH CHIM THÚ TRÊN TRỐNG ĐỒNG ÂM DƯƠNG NGỌC LŨ I.

Hươu Trên Trống Đồng Âm Dương và Đồ Đồng Đông Sơn khác.

.Trên Các Trống Khác

-Mang Hươu Trống Miếu Môn I.

Trống này cũng có mặt trời 14 nọc tia sáng là trống thế gian nên có vành chủ chốt nằm gần phía mặt trời là vành diễn tả hai loài thú bốn chân sống được trên mặt đất.

Một loài thấy rất rõ là mang gạc hươu sừng và một loài “thú lạ” mà tôi đã nhận diện ra là con thiên cẩu Sói Lang trời đã khởi đầu thần thoại hóa.

Hai loài thú bốn chân trên Trống Miếu Môn I (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Trống Miếu Môn I cũng là trống có mặt trời 14 nọc tia sáng cùng nhóm với trống Ngọc Lũ I vì thế mà hươu nai ở hai trống tổng quát giống nhau. Tuy nhiên ý nghĩa biểu tượng khác nhau vì mỗi bán viên ở đây có 8 con chia ra làm hai tiểu nhóm 4 con thay vì là hai nhóm 10 con như ở trống Ngọc Lũ I. Số 4 là số Cấn. Số 4 Cấn âm có khuôn mặt dương là Li 5 làm đại diện và hôn phối với Chấn. Như thế theo duy dương những con hươu này mang khuôn mặt là hươu Li dòng nước Chấn. Cả hai nhóm đều có 4 con cho thấy khuôn mặt Li mang tính chủ so với khuôn mặt Càn. Điểm này cũng giống như ở trống Ngọc Lũ I hai nhóm đều có 10 con, số 10 là số Khảm hôn phối với Li.

Nhóm hươu có cả hươu đực và cái cho thấy có sự hiện diện của lưỡng hợp nòng nọc, âm dương ngay cả trong một đại tộc. Bán viên dương là nhóm có con đực đi với 4 con hươu Càn thế gian/Li. Và bán viên âm có 4 con cái đi với 4 con hươu phía Đoài.

Trong 8 con thì 7 con là cái và chỉ có 1 con đực. Điểm này cho thấy khuôn mặt âm mang tính chủ.

Ở đây cũng như ở trống đồng âm dương Ngọc Lũ I những con hươu cái có sừng diễn đạt theo ý nghĩa biểu tượng. Điều này dễ hiểu vì loài thú đi cùng vành được thể điệu hóa rất nhiều trông rất “lạ”, hoàn toàn mang ý nghĩa biểu tượng. Trống này đã hơi muộn.

Ta cũng thấy rất rõ trong 8 con thì có 7 con là nai cái? Tại sao lại 7? Số 7 là số Càn, lửa thái dương. 7 con nai cái  thái dương Càn mang nghĩa biểu tượng là mặt trời Mặt Trời Nàng Thái dương, Thái dương thần nữ. Khuôn mặt này mang tính chủ yếu.

Từ đây ta kiểm chứng lại, ta thấy cũng đúng là nai cái (con cuối đàn) ở nhóm 6 người nhẩy múa ở bán viên âm trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I có một khuôn mặt là Càn âm, ứng với thái dương thần nữ Tổ Âu Cơ.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, ta cũng thấy hươu nai ở đây ứng với hươu Li/Càn ngành Nọc Lửa thái dương Viêm Đế, Kì Dương Vương với  tộc hươu Li thuộc ngành Mẹ Tổ Âu Cơ thái dương thần nữ tức nhánh Hùng Vương Lửa Núi mang tính chủ. Điều này ăn khớp trăm phần trăm với Mẹ Tổ Âu Cơ ở cõi trời sinh tạo có một khuôn mặt là Nàng Lửa, Nữ Thần thái dương OII, Tốn và ở cõi đất thế gian có một khuôn mặt là lửa đất thế gian tức núi Cấn, có thú biểu là con nai sao cái còn thấy trong truyền thuyết Mường.

Ta thấy rất rõ ở các con mang ở đây giống hươu nai ở trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I, có khác là chi tiết của cặp sửng.

 Những con mang trên Trống Miếu Môn I (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

.Sừng mang có 3 mấu nhọn là ba hào dương III, Càn.

.8 con mang với số 8 là số Khôn hôn phối với Càn. Rõ ràng mang có một khuôn mặt Càn.

Như thế tóm lại 8 con mang trên trống Trống Miếu Môn I này thuộc ngành nọc lửa, mặt trời thái dương với khuôn mặt lửa thế gian thiếu dương Li mang tính chủ. Với 7 con cái cho biết khuôn mặt thuộc dòng lửa thế gian nữ thái dương là chính yếu.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, 8 con mang biểu tượng cho ngành nọc lửa mặt trời Viêm Đế thái dương, với khuôn mặt Kì Dương Vương lửa thế gian Li mang tính chủ và nhánh Hùng Vương theo Âu Cơ  thái dương thần nữ lên núi là khuôn mặt chính yếu.

Đây chính là khuôn mặt thiếu dương Li lửa đất thế gian (Càn thế gian) tức Đế của Viêm Đế tương hợp với khuôn mặt Tốn 14 nọc tia sáng của trống Miếu Môn I ứng với phía Lửa, Núi Âu Cơ.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, ta thấy hươu nai ở đây ứng với hươu Li dòng An Dương Vương Lạc Long Quân mang tính chủ trong khi hươu Li ở trống Ngọc Lũ I thuộc dòng thái dương dòng Kì Dương Vương mang tính chủ.

-Mang gạc (muntjac)  trên trống Phú Xuyên.

Mang sủa, mang gạc muntjac thể điệu hóa trên trống Phú Xuyên.

Ta đã biết những con thú trên trống Phú Xuyên là những con hươu sủa (barking deer) hay mang gạc cervulus munjac (xem trống Kì Việt Phú Xuyên).

Trống Phú Xuyên cũng thuộc nhóm trống thái dương có mặt trời 14 nọc tia sáng nên con mang, con hươu này mang tính âm dương thuộc nhóm những con hươu, mang trên hai trống trống Ngọc Lũ I và trống Miếu Môn I. Ở đây mặt trống chỉ có bốn con mang sủa ứng với  tứ tượng cho thấy trống Phú Xuyên chỉ là trống biểu của một tộc hươu sủa duy nhất mà thôi. Điểu này thấy rất rõ là khoảng không gian giữa các tia sáng mặt trời có hình thái đơn gồm 4 nọc mũi mác chồng lên nhau hay hình tháp nhọn có sọc biểu tượng cho Li. Đúng lý ra phải là 5 nọc mũi mác, có thể người làm trống dùng số 4 có ý muốn nói đây là Cấn tức núi âm non, khuôn mặt âm của Li, ứng với non Âu Cơ?

Sự sai sót này cũng có thể xẩy ra vì như đã nói ở trên trống này hơi muộn, hình hươu sủa cũng đã có khuynh hướng thể điệu hóa, thần thoại hóa. Trống Phú Xuyên có thể là trống biểu của tộc hươu trong nhóm trống nọc thái dương.

Ngoài ra các trang trí trên mặt trống hoàn toàn mang dương tính cho thấy tộc hươu ở đây mang tính thuần dương tức biểu tượng cho tộc nọc lửa ngành nọc mặt trời thái dương. Vì là trống thế gian nên là tộc lửa thế gian, đất dương Li.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, ta thấy trống này là trống biểu của tộc lửa đất, núi dương Kì Dương Vương của nước Văn Lang Hùng Vương, ngành nọc thái dương Viêm Đế.

Tóm lại con thú trên trống Phú Xuyên là con hươu sủa mang gạc thái dương, cervulus muntjac, kijang, kì dương vật tổ của Bách Việt, thú biểu của Kì Dương Vương.

Trống Phú Xuyên là trống Kì Việt Kì Dương Vương của ngành nọc dương mặt trời thái dương Viêm Đế.

-Mang gạc (muntjac) trên Trống Sangeang, Nam Dương.

Trên thân trống Sangeang, Đông Nam Dương có hình mang gạc có thân trống giống con chó, có sừng có hai mấu. Đây chính là con mang sủa, mang gạc muntjac, kijang.

Mang gạc sừng hai mấu nhọn thái dương trên trống Sangeang ở Nam Dương.

So sánh hình này với hình hươu sủa muntjac trong thiên nhiên ta thấy vóc dáng y hệt nhau.

-Người Hươu Trên trống Thành Vân.

Trên trống Thành Vân có mặt trời có 10 nọc tia sáng là trống thiếu dương Li/Khảm có hình người thể điệu hóa là người của tộc đất dương Li được diễn tả theo motif hình “người chim-sừng hươu” có hai sừng có chấm nọc dương.

Trống Thành Vân (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Những hình người thuộc tộc đất dương thiếu âm Li thể điệu hóa tối đa trở thành các motifs hình hươu trên trống Thành Vân có hình hai sừng có chấm nọc dương.

Kiểm chứng lại ta thấy rất rõ:

Như đã nói ở trên trống này có 10 nọc tia sáng là trống thuộc nhóm thiếu dương Khảm-Li.

Khoảng không gian giữa các tia sáng mặt trời hình núi tháp vách kép có sọc Li (xem chương Ý Nghĩa Cực Âm Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á ).

Vành chim có 10 chim bay với số 10 là Khảm thế gian hôn phối với Li. Trên người chim cũng có hình núi tháp, mắt “vòng tròn có chấm” Li, mỏ to nhọn, ngắn có bờm nọc que lửa, Núi Trụ Thế Gian Li. Tổng cộng có 28 người, số 28 là số Cấn tầng 4. Cấn là non, núi âm, có Li núi dương là đại diện (Li số 5 là số dương của Cấn số 4)…

Đây là những người tộc hươu nai Li. Ta cũng thấy trống có 10 nọc tia sáng Khảm thế gian hôn phối với Li thế gian. Vành cò bay cũng có 10 Khảm Li. Điểm này thấy rõ giống ở trống đồng âm dương Ngọc Lũ I cũng có hai nhóm 10  Khảm hôn phối với hươu Li.

-Trống Nam Trung Hoa

Trong chuyến viếng thằm Nam Trung Hoa tôi đã thấy một  trống muộn Nam Trung Hoa trên mặt trống có 4 tượng hình hươu thay vào chỗ 4 tượng cóc/ếch.

Các Đồ Đồng Đông Sơn Khác.

 Không phải chỉ trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I có hươu mà còn thấy trên nhiều đồ đồng Đông Sơn khác.

 .Thạp đồng Hợp Minh (Yên Bái).

 Ở dưới phần thân thạp có vành mang gạc sừng hai mấu nhọn.

Thạp đồng Hợp Minh (Yên Bái), hình vẽ của Hà Nguyên Điềm (Hà Văn Phùng, Di tích Hợp Minh Yên Bái, một sưu tập sáng giá thuộc văn hóa Đông Sơn, Khảo Cổ Học,4- 1995,  tr.26).

Thạp là vật dùng trong mai táng cho thấy rõ mang gạc hươu nai có một khuôn mặt tái sinh hằng cửu của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo.

.Rìu Thờ Đông Sơn

Trên một chiếc rìu thờ Đông Sơn có hình hươu sừng, mang kì có hai mấu hình chữ V, đây là nét đặc thù của mang gạc Muntjac. Rìu này có khắc đủ cả ba vật biểu mang kì của Kì Dương Vương, sấu Việt Giao long của Lạc Long Quân và chó sói Lang Việt của Hùng Lang, có một khuôn mặt biểu tượng cho ba cõi thế gian (ba con vật tổ đều là loài bốn chân).

 

Rìu thờ Đông Sơn hay Rìu Việt.

Lưu ý theo chiều dương đọc từ dưới lên (hướng lên phía mặt trời) ta có thứ tự chó sói biểu tượng cho cõi trời (khí gió) mang gạc biểu tượng cho cõi đất và giao long biểu tượng cho cõi nước.

.Thạp Việt Khê

“Trên chiếc thạp đồng tìm được ở Việt Khê có hình người hóa trang thành nai nhẩy múa” (Văn Tân, Thời Đại Hùng Vương, tr.230).

Hình người hóa trang thành người hươu nhẩy múa trên thạp đồng Việt Khê (Charles Higham fig. 4.22).

Đây là hình ảnh Kẻ-hươu, Người-Hươu, Xích Quỉ con dân Lộc Tục, Hươu Đục, Kì Dương Vương Kẻ Chàng, Chàng Hươu…

.Đèn Đông Sơn sừng hươu.

Một chiếc đèn thờ Đông Sơn có hình sừng hươu hai mấu nhọn hươu sủa, muntjac.

 Đèn thờ Đông Sơn hình sừng hươu tại Viện Bảo Tành Lịch Sử Việt Nam ở Hà Nội (ảnh của tác giả).

.Gạc hươu

Ngoài ra những vật khảo cổ học đáng giá nữa mà các nhà khảo cổ học không biết ý nghĩa của nó gọi là những

chiếc gạc. Những cái gạc này có thể làm bằng gốm, sành hay kim loại. Đây là chiếc gạc, chiếc sừng biểu tượng của vật tổ hươu của chúng ta. Gạc này là một thứ nêu thờ để hồn thần tổ tộc Sừng mặt trời đậu xuống, dùng làm gậy lễ, gậy hộ mạng, quyền trượng… Ví dụ trong một ngôi mộ cổ tìm thấy một cặp “móc sắt”. Những vật này mang hình ảnh những chiếc gạc, sừng hươu sủa hai mấu nhọn.

Cặp sừng  mang gạc (BEFEO).

Tóm lại những con hươu trên trống đồng âm dương và trên đồ đồng Đông Sơn là những con thú mang ý nghĩa biểu tượng mang trọn ý nghĩa Vũ Trụ thuyết, Dịch. Riêng những con hươu trên trống Ngọc Lũ I, những con hươu đực có hai loại sừng mang biểu tượng cho ngành Lửa gồm hai đại tộc Càn thế gian và Li thái dương ứng với Viêm Đế, Đế Minh và Kì Dương Vương. Riêng những con cái mang biểu tượng  Lửa âm nữ, ứng với con hươu sao cái vật biểu của Mẹ Tổ Âu Cơ của Mường Việt.

Hươu là vật tổ thế gian của Kì Dương Vương của Đại tộc Người Mặt Trời thái dương Việt Xích Quỉ, ngành mặt trời Viêm Đế-Thần Nông thái dương.

(còn tiếp).

 

THÁM DU NAM CỰC (2).

Filed under: Thám Du Nam Cực (2) — Quang Nguyen @ 7:48 am

THÁM DU NAM CỰC

Du ký

(Phần 2).

Nguyễn Xuân Quang

 Ngày thứ hai ở biển. Trời nhiều mây, gió mạnh, biển động vừa phải, nhiệt độ 59 F (15 C).

Đi Nam Cực có những ngày dài ở biển thường gây ra chứng buồn nản và sợ chỗ kín (nằm trong phòng nhiều) gọi là claustrophobia. Nên có một điểm đáng khen là những ngày ở biển, ngoài những hoạt động thường lệ của tuần du biển, tầu này tổ chức thêm rất nhiều sinh hoạt khác suốt 24 giờ trên 24 giờ, bao che đủ mọi mặt với những bài diễn thuyết về khám phá Nam Cực, về ẩm thực (dậy nấu ăn), giải trí (có những buổi hòa nhạc cổ điển, tân nhạc đủ loại, những lớp dậy khiên vũ), kỹ thuật (có những lớp dậy về các program của Microsoft do Microsoft bảo trợ với phòng học trang bị thật đầy đủ) và về giữ gìn sức khỏe (lớp học về tiết thực, khí công…). Tôi có dịp ôn lại Window 7.

Ngày hôm sau chúng tôi đến cảng Puerto Montt, Chilevào lúc 7 giờ 30 sáng. Thời tiết tiên đoán trời nhiều mây, gió mạnh, có mưa rào, nhiệt độ 64 F, 18 C.

Puerto Montt là một hải cảng (Tây Ban Nha ngữ puerto là hải cảng) thuộc tỉnh Llanquihue (phát âm là yang-kee-way), địa phận Vùng Hổ (Los Lagos, Lake District).

Puerto Montt cách thủ đô Santiago của Chile 700 dậm về phía Nam.

Hải cảng này thành lập vào năm 1853 dưới chính sách thuộc địa của người Đức. Puerto Montt mặc dầu sinh sau đẻ muộn, lúc đầu chỉ là một làng đánh cá với một cộng đồng nhỏ được đặt tên để vinh danh tổng thống Chile lúc ấy là Manuel Montt nhưng Puerto Montt đã phát triển mạnh và nhanh so với các vùng lân cận là nhờ cộng đồng Đức, vị trí chiến lược ở đầu tận cùng của vùng Thung Lũng Miền Trung Chile.

Kỹ nghệ nuôi cá hồi trong các fjord (Puerto Montt là nơi khởi đầu vùng fjord của Chile) và ven biển Thái Bình Dương cũng đã đóng góp một phần vào sự phát triển nhanh nhất của Puerto Montt sau này. Puetto Montt được coi là Thủ Đô Cá Hồi của Chile vì là kỹ nghệ nuôi cá hồi lớn nhất thế giới (Na Uy đứng hàng thứ nhì).

Ngày nay Puerto Montt là thủ đô của Vùng Hồ (Lake District) của Chile, là điểm mốc phía Nam của vùng hồ này.

 

Vùng Hồ có 12 hồ lớn và 12 hồ nhỏ có nguồn gốc từ băng hà tan ra (lưu ý sông, khe, lạch, hồ nước ngọt do băng hà tan ra tạo thành không gọi là fjord, phải có nước mặn, nước biển mới gọi là fjord).

Nơi đây được cho là “đầu cuối những nẻo đường”, là điểm  tận cùng của đường đất hay đường xe lửa. Puerto Montt là điểm mút cuối cùng của phần đường trên lục địa (continental portion) của con đường Cái Quan Xuyên Mỹ  Châu Pan America Highway (gần Pargua), con đường ngoạn mục này dài hơn 16.000 dậm chậy từ Alaska cho tới mút tận cùng phía nam của đảo Chiloe. Nằm giữa Vùng Hồ là 6 ngọn núi lửa, ngọn cao nhất là Villarica, cao 9.000 bộ. Nhưng nổi tiếng đẹp hơn là ngọn núi lửa Osorno.

Núi Osorno.

Núi cao 8.500 bộ, chóp phủ tuyết vạn niên là nơi tĩnh dưỡng, vui chơi mùa đông của dân Chile. Orsono làm gợi nhớ tới núi Phú Sĩ của Nhật Bản.

Vì có nhiều núi lửa nên như đã nói ở trên, Chilel là vùng có động đất hàng ngày. Lần trước khi đến Chile, khi rời cảng Puerto Montt một hai ngày qua Argentina thì xẩy ra trận động đất 8.8 độ Richter.

Puerto Montt là của ngõ đến hồ Llangquihue, hồ lớn thứ nhì của Chile sau hồ General Carrera và là chỗ được viếng thăm nhiều nhất của cả nước Chile. Puerto Montt cũng là cửa ngõ để tiếp cận quần đảo Chiloevà miên Tây Patagonia. Sông Bio Bio là ranh giới phía Bắc của phần đất Patagonia của Chile. Là một hải cảng chính, Puerto Montt cũng thường được coi là thủ đô của vùng Patagonia.

Lần thăm viếng Chile-Argentia-Brazil trước đây bằng đường bộ chúng tôi cũng đã ghé Puetto Montt và vùng hồ nổi tiếng Lake District này.

Hồ Llanquihue.

Khách sạn của chúng tôi ngay bên bờ hồ.

Khách sạn bên bờ hồ.

Các tỉnh lớn quanh hồ Llanquihue gồm  có Osomo,Valdivia,  là Puerto Varas, tỉnh kỹ nghệ Llanquihue, Puerto Octay và thành phố văn hóa Fruttilar. Đây là những nơi nghỉ mát bên bờ hồ nổi tiếng từ năm 1800.

Puerto Varas.

Vì là thuộc địa của Đức, Pueto Montt có một cộng đồng lớn người Đức. Họ đến lần đầu tiên vào năm 1852.

Những di dân Đức thích vùng này nên chọn nơi này lập nghiệp đã tạo ra một quê hương mới theo sắc thái của quê hương cũ của họ. Puerto Montt vì thế là một thị trấn đổ theo khuôn đúc Bavaria ở Đức.

Truyền thống Đức thấy rõ qua ngôi nhà thờ cổ bằng gỗ đỏ alerce (xem dưới) xây dựng năm 1856  và những ngôi nhà kiểu bánh ‘gingerbread’ và món bánh trái cây kuchen (fruit pies) nổi tiếng.

Ta có thể tìm hiểu về lịch sử của di dân người Đức qua Bảo Tàng Viện Thuộc Địa Đức ở đây.

Đức giáo hoàng Pope John Paul III đã một lần viếng thăm nơi này.

Chỉ cách 30 dậm về phía Đông của Puerto Montt là công viên Quốc Gia Alerce Andino với núi non hùng vĩ và băng hà mà tác phẩm trọng yếu là Hồ Chapo. Alerce là giống cây thông địa phương sống được vài ngàn năm giống như cây Sequoia ở California.

Ở bên kia công viên là rặng núi biên giới với Argentina, vùng hồ của Argentina mà chúng tôi đã ghé thăm Bariloche ở vùng hồ đó.

Vì đã đến Puerto Montt và Vùng Hồ, nên lần này chúng tôi chỉ chọn đi du ngoạn ở những nơi còn lại chưa đi.

Buổi sáng sớm chúng tôi xuống cảng thăm phố.

Phố cảng chỉ có một con phố chính. Đúng như tiên đoán thời tiết sáng nay có mưa rào.

 

Phố cảng chính.

Dĩ nhiên phố phải có những cửa hàng bán đồ thủ công nghệ, đồ lưu niệm. Nhưng đến đây không thể bỏ qua không ghé thăm chợ cá.

 Cua đế vương Nam Cực (ảnh của tác giả)

Chile là một dải đất hẹp dài chạy dọc theo rặng Andes bên bờ Thái Bình Dương nên có rất nhiều hải sản. Đến đây phải nếm những món ăn hải sản tuyệt với của nghệ thuật nấu ăn Chile. Lần trước  chúng tôi có một bữa ăn nhớ đời với những món cá, cua tôm, sò nghêu, bào ngư, cầu gai, bạch tuộc, caviar cá hồi…

Xế trưa, rất may trời nắng ráo. Trên con đường đi tìm bản sắc Việt, Bách Việt qua văn hóa các thổ dân châu Mỹ, họ  vốn đến từ Đông Nam Á, tôi viếng thăm Trung Tâm Văn Hóa Thổ Dân và khu rừng mưa ở đảo Chiloe.

Đảo Chiloe.

Chiloe khởi đầu là một bến cảng quan trọng và là nơi cố thủ của lực lượng thực dân Tây Ban Nha.

Có giả thuyết cho rằng tên Chile có nguồn gốc từ tên Chiloe này.

Vì Puerto Montt là địa đầu của vùng fjord Chile nên Chiloe là nơi phát xuất các cuộc thám hiểm xuống Nam cực qua các fjord. Charles Darwin đã ghé đây vào mùa hè 1834-1835. Đây là khởi điểm của cuộc thám hiểm eo biển Magellan do Fuerte Bullnesin tổ chức năm 1843.

Đảo Chiloe nằm cách biệt với đất liền nên còn lưu giữ lại được nhiều chứng tích của văn hóa thổ dân vùng này. Có rất nhiều truyền thuyết, thần thoại, truyện dân gian của thổ dân còn giữ được chính thống hay đã pha trộn với văn hóa Tây Ban Nha.

Trung Tâm Thiên Nhiên và Văn Hóa Chiloe.

 Trung tâm văn hóa này diễn tả lại văn hóa thổ dân sống ở đảo Chiloe và rừng mưa Patagonia. Trung tâm gồm có:

-Vườn thảo mộc rừng mưa với tất cả các lọai cây thiên nhiên trong vùng gồm cả các cây trái thổ dân dùng làm thực phẩm và dược thảo.

Vì là rừng mưa nên có nhiều loại rêu moss và dương xỉ (fern). Đặc biệt tại đây có loại rêu moss sphagnum thường dùng để trồng lan. Dân tại đây thâu hoạch loại này đem xuất cảng.

 Chile xuất cảng loại sphagnum này cho dân trồng lan thế giới (ảnh của tác giả).

Trước khi đi chúng tôi đã được cảnh báo phải coi chừng một giống ruồi rất độc hại thích cắn người.

Ruồi rừng mưa (ảnh của tác giả).

-Trung tâm văn hóa thổ dân.

Dựa vào những khám phá ở di chỉ khảo cổ học ở Monte Verde cho thấy quần đảo Chiloe đã có người ở từ 12.000-11.000 (TTL). Tộc người đầu tiên ở đây được tin là tộc Chonos, những người đi biển sống theo sóng nước (sea nomads). Những con thuyền của họ gọi là dalca. Điểm lý thú là từ thuyền dalca gần âm với Việt ngữ đánh cá.

Thổ dân Chiloe (ảnh của tác giả).

Về sau khoảng 100 năm trước khi người Tây Ban Nha tới có thêm tộc Huilliche, một nhánh người Mapuche tới từ đất liền và ở bờ Đông của đảo, những người này làm ruộng và đánh cá.

Như đã viết trong bài Rìu Việt ở Nam Mỹ Châu, tộc thổ dân Mapuche ruột thịt với Cổ Việt Đông Nam Á, đã nhờ có thiên nhiên hùng vĩ, hiểm trở với rặng Andes giống như rặng Trường Sơn của Việt Nam, là tộc duy nhất bất khuất đã kháng cự lại được đế quốc Inca và người Tây Ban Nha thực dân. Họ đã kháng cự lại người Tây Ban Nha hơn ba trăm năm. Họ là tộc thổ dân Mỹ châu duy nhất không bị đánh bại bởi thực dân da trắng. Mapuche có mang dòng máu và văn hóa cổ Việt (xem bài viết Rìu Việt ở Nam Mỹ) nên giống người Việt đã bất khuất kháng cự lại giặc Tầu và người Pháp. Người Mapuche sống rải rác xuống tới vùng đồng cỏ Patagonia và đến tận vùng Cận Nam Cực của Nam Mỹ châu.

Một người Mapuche giống hệt người Việt Nam.

-Thần Thọai.

Chiloe có rất nhiều thần thoại và truyền thuyết của Chonos và Mapuche.

Theo thần thoại Chiloe, nguồn gốc tạo sinh ra quần đảo này do trận chiến ác liệt giữa hai con Rắn Đất Ten Ten Vilu (Ten là Đất, Vilu là Rắn) và Rắn Nước Co Co Vilu (Co là Nước). Lưu ý là các tộc nước thường có thần tổ là một loài rắn như Lạc Long Quân (Âu Cơ-Lạc Long Quân là Chim-Rắn, Tiên Rồng).

-Pincoya

Vị nữ thần tối cao của Chiloe là Pincoya, nữ thần biển. Thần có tóc tơ vàng (blond) buông dài, đẹp tuyệt trần, đầy gợi cảm và nhân ái.

 Nữ thần Biển Pincoya (ảnh của tác giả).

Nàng khỏa thân và mượt mà biểu tượng cho sự sung mãn của các loài sống ở biển. Theo một truyền thuyết thì nàng là con của Hải Vương Millalobo với một người đẹp trần gian Huenchula. Có em gái là Sirena chilota (một thứ người cá) và em trai là Pincoy (và cũng là chồng nàng). Ba người  thường đưa các thủy thủ bị chết đắm lên chiếc thuyền ma Caleuche (xem dưới).

-Trauco

Trauco (ảnh của tác giả)

Trauco là nhân vật thần thoại sống trong rừng ở Chiloe có ma lực khủng khiếp quyến rũ phái nữ trẻ và trung niên. Theo truyền thuyết thì vợ Trauco là Fiura là mộ mụ phù thủy rất xấu xí (vì thế trauco đi tìm phái nữ trẻ đẹp). Trauco luôn luôn cầm một cái rìu đá để chặt cây rừng. Cây rìu biểu tượng cho tính cường dương của hắn (ăn khớp với Việt ngữ bổ, búa là b…). Không một người nữ nào mà hắn chú ý tới thóat khỏi sự quyến rũ tới ăn nằm với hắn. Phái nam ở Chiloe rất sợ Trauco vì ánh mắt chết người của hắn. Đàn bà độc thân mà mang bầu thường được cho là do Trauco. Điều này giúp cho đàn bàn bà con gái chửa hoang không bị… thị phi…

-Invunche (Tây Ban Nha ngữ) hay imbunche

Quỉ giữ cửa hang phù thủy invunche (ảnh của tác giả).

Theo truyền thuyết Invunche là một bé trai bị bắt cóc hay bị cha mẹ bán cho phù thủy hay pháp sư. Tên này biến đứa trẻ thành một quái nhân mọc đầy lông, bị bẻ chân, người bị vặn ra sau, lưỡi chẻ đôi như lưỡi rắn…

Lão dùng invunche làm quái vật gác của hang của lão.

- Thuyền ma Caleuche

Đây là một huyền thoại phổ thông của Chiloe.

Thuyền ma Caleuche (ảnh của tác giả).

Theo truyền thuyết Caleuche là một chiếc thuyền ma khổng lồ thả buồm trong vùng biển Chiloe về đêm. Thuyền rực rỡ ánh đèn, rộn rã tiếng cuời, đang tưng bừng trong buổi dạ tiệc. Thuyền chợt hiện, chợt chìm sâu xuống nước biến mất. Những người bị chết vì đắm thuyền tầu được ba chị em Nữ Thần Pincoya đưa lên tầu. Người chết khi lên con tầu này sẽ hiện trở lại sống như lúc còn sống. Thủy thủ đoàn của con tầu ma là những ngư phủ hay thủy thủ bị bắt cóc làm nô lệ và bị biến thành những invunche.

…….

-Trang trại canh tác.

Thổ dân ở đây cũng như các vùng núi Andes có món ăn no bụng chính là khoai mà chúng ta gọi sai là khoai Tây. Có hàng trăm loại khoai.

 Khoai ở đây cũng như sò hến bán theo đơn vị thùng gọi là almud (ảnh của tác giả).

Nhiều giống khoai gọi là Tây hiện nay trồng trên khắp thế giới có nguồn gốc bản địa tại đây.

Về gia súc ở đây có loại gà Mapuche đẻ trứng mầu xanh lam. Như đã nói trong bài Rìu Viêt ở Nam Mỹ và Đa Đảo, trong cuộc khai quật tại El Arenal ở bờ biển đảo Mocha của Chile, các xương gà được tìm thấy cùng với xương người.  Khảo cứu DNA xương gà El Arenal này cho thấy chúng liên hệ với với gà ở Đa Đảo. Chúng cũng gần tương hợp (match) giống với DNA của gà Rapa nui ở đảo Easter. Gà không phải là loài có bản quán tại châu Mỹ mà nguồn gốc xa thẳm từ Đông Nam Á, tại đây chúng được thuần hóa thành gia cầm. Gà mái Mapuche đẻ trứng mầu xanh lam là loài gà tiền Tây Ban Nha họ hàng với gà ở vùng nhiệt đới châu Á (www.allempires.net/polynesians-in-the-america…).

Gà mái Mapuche đẻ trứng mầu xanh lam là loài gà tiền Tây Ban Nha họ hàng với gà ở vùng nhiệt đới châu Á.

 …….

Sau khi viếng thăm công viên văn hóa thổ dân xong, chúng tôi dùng cơm trưa tại đây.

Thức ăn Chiloe gồm có các món của thổ dân Chonos và Huilliches. Món nổi tiếng là món curanto, paila marina (canh hải sản) và pulmay. Món ăn có nhiều hải sản, thịt và khoai. Thức ăn nấu bằng lò đất và thịt nướng asado (barbecues).

Món ăn no bụng của thổ dân là khoai. Khoai luộc nghiền ra làm bánh như bánh đúc khoai của chúng ta gọi là chapalele.

Dĩ nhiên không thể không có món cá hồi ahumado vì như đã nói ở trên Puerto Montt là thủ đô cá Hồi của thế giới.

Cá hồi xông khói và nướng bắng củi gỗ thơm.

Cá hồi nướng củi thơm và bánh đúc khoai chapalele (ảnh của tác giả).

Cá hồi Thái Bình Dương ở đây nướng thật ngon, chưa bao giờ tôi dùng món cá hồi ngon như vậy.

Rươu táo Chicha là loại rượu thông dụng ở Chiloe. Rượu vang Chile cũng rất nổi tiếng. Chile là quốc gia sản xuất rượu vang đứng hàng thứ 4 trên thế giới.

Chúng tôi trở về, vừa lúc tầu sửa soạn rời bến. Tối nay tầu bắt đầu đi qua vùng fjord của Chile.

(còn tiếp).

 


February 10, 2012

THÁM DU NAM CỰC (1).

Filed under: Thám Du Nam Cực (1) — Quang Nguyen @ 8:15 am

 

THÁM DU NAM CỰC

 Du ký

(Phần 1).

Nguyễn Xuân Quang

Đi Nam Cực nổi tiếng là gặp nhiều rủi ro và nguy hiểm.

Đây quả là một chuyến đi đầy mạo hiểm và phải có máu hải hồ, có chút ít can đảm. Một chuyến du lịch đầy thám hiểm. Một chuyến thám du Nam Cực. Đúng với cái tên Antartica Explorer.

Đi Nam Cực còn nguy hiểm hơn Bắc Cực mà chúng tôi đã đi. Vì thế chúng tôi để chuyến đi Nam Cực về phía cuối trong danh sách các nơi muốn đi ngao du. Ưu tiên đi trước là những nơi khác tương đối dễ dàng, thoải mái và ít nguy hiểm hơn. Đi những nơi khác vài khi chỉ gặp những nhân tai như vì tình hình chính trị bạo loạn, bất ổn, vì luật rừng ở một số quốc gia còn độc tài, vì tệ trạng xã hội… Đi Nam Cực nguy hiểm hơn vì thiên tai bất ngờ. Hên xui may rủi tùy theo tính khí của trời đất.

Vì tính cách đầy mạo hiểm chúng tôi phải lên kế hoạch và sửa soạn thật kỹ. Hoạch định gần một năm trước.

Phải chọn đi vào mùa hè nắng ấm ở Nam Cực (lúc này nhiệt độ trung bình ở bờ lục địa khoảng 41-59 độ F hay 5-15 độ C. Mùa đông nhiệt độ trong nội địa trung bình khoảng từ -112 tới -130 độ F hay -80 tới -90 độ C.

Mùa hè, tuyết biển tan không phải dùng tầu phá đá băng (ice breaker).

Đi thám du Nam Cực có vài cách. Thông thường nhất là đường tuần du biển (oceanic cruise), bằng máy bay và bằng tầu ngầm (trước đây, tôi muốn đi bằng tầu ngầm vào mùa đông băng tuyết do cơ quan du lịch Nga tổ chức, dĩ nhiên bà xã không chịu đi vì sợ… tầu Nga ọp ẹp quá, chỉ sợ không trồi lên mặt nước trở lại được!). Ngay vào mùa nắng ấm, lác đác cũng chỉ có vài ‘tua’ đi Nam Cực.

Đi tuần du biển có hai ngả. Một ngả khởi hành lên tầu đi từ tỉnh Valparaiso của Chile đi xuống, qua mũi Horn (Cabo de Hornos, Cape Horn), qua hải đạo Drake (Drake passage) để qua Đại Tây Dương đi ngược lên tới bến cuối cùng là thủ đô Buenos Aires của Argentina.

Lộ trình khởi hành từ cảng Valparaiso, Chile.

Ngả thứ nhì đi ngược lại.

Chúng tôi chọn ngả đi từ Valparaiso đi xuống. Ngả này được cho là “thuận buồm xuôi gió” hơn là đi ngược lên. Lộ trình thám du Nam Cực cũng thay đổi tùy theo tính cách mạo hiểm và tài chính. Ít nguy hiểm hơn, ít tốn tiền hơn hết là chỉ đi vòng qua Mũi Horn qua hải đạo Drake (Drake passage) mà không đi xuống quần đảo Nam Cực, không đi qua những ngóc ngách, qua những con đường hẻm fjord  tức những khe, rạch biển băng hà cũ  giờ đã tan đầy bất trắc (nhưng dĩ nhiên ngoạn mục hơn) và không đổ bộ lên Nam Cực (riêng tiền đổ bộ tốn thêm 3.900 Mỹ kim một người).

Chúng tôi chọn con đường dài đi qua quần đảo Nam Cực.

 

Lộ trình đi giữa quần đảo Nam Cực.

Du lịch Nam Cực hiện nay được Hiệp Ước Quốc Tế giới hạn và kiểm soát chặt chẽ (đây là một lý do số lần viếng thăm bị giới hạn). Vì đi luồn lách vào các khe rạch biển băng tan fjord nên chỉ có những tầu nhỏ mới được phép đi vào (fjord là những băng hà cũ ở giữa hai rặng núi, hai vách núi tan ra và có nước biển vào). Tầu nhỏ nên độ rủi ro nguy hiểm càng tăng cao trước những thiên tai cuồng nộ ở Nam Cực. Tầu đi vào các vùng này bắt buộc phải dùng nguyên liệu sạch như diesel ít gây ra ô nhiễm môi trường.

Vì tầu nhỏ và dễ gặp sóng to gió lớn, bão tố nên phải chọn phòng ở thật tốt. Lần đi Bắc Cực năm rồi, chúng tôi gặp hai trận bão phải bỏ hai bến là Warnemunde để ghé Berlin, Đức và Christiana ở Na Uy.  Mặc dầu thuyền trưởng đã né tránh tâm bão nhưng chúng tôi cũng đã nếm thế nào là “lắc lư con tầu đi” trong dông bão biển. Nằm “Rock and Roll”, trong phòng như nằm trong một chiếc thùng phuy lăn long lóc mà phía ngoài sóng gió đập vào hai bên tầu như có người cầm búa tạ đập vào hai bên thùng phuy nghe muốn long óc luôn. Lúc đó, mới thấy những thuyền nhân boat people đi trên những con tầu nhỏ như chiếc lá tre giữa lòng đại dương quả thật là dũng cảm, sống chết vì hai chữ tự do.

Đi Bắc Cực gặp bão, tôi nghĩ bụng đi Nam Cực cũng khó lòng tránh khỏi.

Lần đi Bắc Cực chúng tôi đi tầu Princess, một tầu khá lớn chở được bốn năm ngàn người mà còn lắc lư con tầu đi, lần đi Nam Cực này với tầu nhỏ, nếu gặp dông bão thì có thể lắc lư mà con tầu… không đi. Phải sửa soạn kỹ và chuẩn bị tinh thần.

Vì thế phải chọn phòng ở ngay trọng tâm giữa tầu.  Dĩ nhiên phải trả giá cao và phải nhanh tay mới còn phòng. Các phòng ở phía mũi và đuôi tầu khi gặp dông bão sẽ nhồi lên hụp xuống, nhấp nhô như lặn hụp. Phòng ở các tầng cao, gió lớn thổi tạt nghiêng qua, ngả lại, chao đảo. Các phòng ở tầng thấp gần các tầng có giải trí, du hí thì cả đêm được nghe đàn địch hát ca. Còn xuống tầng thấp nữa gần buồng máy thì phải nghe tiếng máy chạy ngày đêm…

Cuối cùng các điều kiện đều được vừa ý, chúng tôi quyết định lên đường. Trả tiền xong, một thời gia sau chúng tôi mới khám phá ra chuyến đi vừa ý này của mình xuống tới Nam Cực nhằm vào dịp tết Nhâm Thìn. Thế là chúng tôi sẽ ăn một cái Tết Nam Cực. Một cái Tết Trắng (xem Hình Tiêu Biểu Tháng 2, thơ Tết Trắng nam Cực). Một cái tết xa nhà, xa mãi tận chóp cuối địa cầu, ở rốn địa cầu, ở cuống địa cầu.

Trước khi lên đường chúng tôi lo giỗ tết trước để tổ tiên ông bà không buồn lòng và phù hộ cho.

Như đã nói ở trên, khởi hành chuyến thám du từ cảngValparaiso của Chile. Tại sao lại khởi hành tại Valparaiso?

Valparaiso là một trong những hải cảng quan trọng và một trung tâm văn hóa ở vùng Tây Nam Thái Bình Dương của Chile.  

 Hải cảng Valparaiso nhìn từ trên đồi cao.

Mặc dầu Santiago hiện là thủ đô chính thức của Chile nhưng Valparaiso là nơi Quốc Hội Chile đã được thành lập vào năm 1990. Năm 2003, Quốc Hội Chile tuyên bố Valparaiso là Thủ Đô Văn Hóa của Chile và là nơi tọa lạc của Bộ Văn Hóa. 

 Quốc Hội Chile (ảnh của tác giả). 

Vào hậu bán thế kỷ 19,Valparaiso giữ một vai trò địa lý chính trị quan trọng. Đây là nơi dừng chân bắt buộc của tất cả tầu bè đi giữa Đại Tây Dương và Thái Bình Dương băng qua eo biển Magellan và Mũi Horn. Valparaiso đóng góp một quan trọng đặc biệt trong sự hỗ trợ và tiếp tế cho phong trào Tìm Vàng ở California (California Gold Rush), 1848-1868 vì đây là một hải cảng lớn. Đây chính là lý do chuyến thám du Nam Cực này đã dùng cảng này làm nơi khởi hành.

Valparaiso suy đồi, tàn tạ sau khi có kênh đào Panama, thuyền tầu xuyên Thái Bình Dương-Đại Tây Dương không còn phải đi qua Mũi Horn nữa, không cần phải ghé lại Valparaiso. Vài năm gần đây Valporaiso vươn dậy. Các tuần du biển thám hiểm Nam Cực đã đóng góp không nhỏ vào sự vực dậy cho Valporaiso.

Chúng tôi đã tới Valparaiso lần trước trong chuyến đi thăm Chile-Brazil-Argentina nên lần này chúng tôi lấy chuyến máy bay từ Los Angeles tới Valparaiso vào sáng sớm để chỉ lấy tua đi thăm lại thành phố này thêm một lần nữa, rồi chiều lên tầu ngay mà không cần ở lại chơi thành phố này lâu hơn.

Valparaiso ở miền trung Chile, cách thủ đô Santiago 120 dậm về hướng Tây Bắc.

Valparaiso thường hay bị động đất. Ở Chile động đất mỗi ngày, chỉ khác là cường độ mạnh hay yếu mà thôi. Tiên đoán là có thể sẽ có động đất tới 9.5 xẩy ra ở Chile.

Lần trước khi chúng tôi vừa rời Valparaiso, vượt qua rặng núi Andes tới vùng hồ Bariloche của Argentina thì trận động đất 8.8  ngày 27 tháng hai năm 2010 xẩy ra. Valparaiso cũng bị thiệt hại trong trận động đất này.

Valparaiso đã từng là Hòn Ngọc Thái Bình Dương với những kiến trúc độc đáo, không phải chỉ là của Tây Ban Nha mà còn pha trộn nhiều nét đặc thù của kiến trúc Âu châu khác như Pháp, Đức, Anh… Chính nhờ cái độc đào này mà Valparaiso được cho là Địa Điểm Di Sản Thế Giới năm 2003. Sau đây là một vài kiến trúc độc đáo của Valparaiso.

 Một tòa nhà cổ ở công trường Sotomayor (ảnh của tác giả).

 

 Một biệt thự cổ (ảnh của tác giả).

Một ngôi nhà thường dân cổ (ảnh của tác giả).

Dĩ nhiên ngày nay Valporaiso cũng có những kiến trúc tân kỳ, những nhóm rừng bê tông chọc trời. Đặc biệt là còn giữ lối kiến trúc “tân cổ giao duyên:

 

 Kiến trúc tân cổ giao duyên: một tòa cao ốc tân kỳ xây trong lòng một tòa nhà cổ (ảnh của tác giả).

Thành phố xây trên sườn đồi nhìn xuống Thái Bình Dương.

Khu dân cư đầy màu sắc trên sườn đồi cao (ảnh của tác giả).

Những con đường hẹp cả ngàn bậc cấp lên núi và những con hẻm lát đá cuội như một thứ mê cung. Ở những con hẻm triển lãm đầy nhựng graffiti chữ và tranh. Ngoài những graffiti làm ngứa mắt, ở đây có nhiều tác phẩm graffiti rất mát mắt.

 Một con hẻm có graffiti tranh vẽ, tác giả đang chỉ vào tên Valparaiso (ảnh Michelle Mai Nguyễn).

 

Nàng tiên và chim bói cá (ảnh của tác giả).

Con chim bói cá của nàng tiên trong bức tranh graffiti này cùng loài với con chim bói cá trên cọc nhọn cuộc đời của nhà thơ Du Tủ Lê trong bài Khúc Thụy Du.

Chim đa đa? (ảnh của tác giả).

Trên nắp cống, thùng rác cũng có nghệ thuật.

Một tác phẩm hội họa trên nắp cống (ảnh của tác giả)

Hội họa trên thùng rác (ảnh của tác giả).

Ở đây còn giữ lại được một hệ thống xe cáp (funicular elevators) độc đáo, tiếng Tây Ban Nha gọi là ascensores.

Xe cáp thang máy.

 Độc đáo vì có độ dốc dựng đứng và được xếp vào danh sách 100 báu vật lịch sử có nguy cơ tuyệt chủng nhất.

Valparaiso đã vang bóng một thời, đã huy hoàng vào một thời vàng son, lúc đó được mệnh danh là một Tiểu San Francisco (giống như San Franciso là một cảng lớn quan trọng, thành phố trên sườn đồi, có đủ các khu phố của các sắc dân di cư Âu châu như đồi Ý Italia Hills, cửa ngõ của thời đổ xô đi tìm vàng Gold Rush ở California. Cái tên Cựu Kim Sơn là Núi Vàng Cũ…).

Người Tây Ban Nha là người đầu tiên đến đây vào năm 1536 trên con tầu Santiaguillo. Đây là lý do thủ đô hiện nay có tên làSantiago. Diego de Almagro được coi là người Âu châu đầu tiên khám phá raChile. Ông cho chiếc tầu Santiaguillo chở người và vật liệu cho cuộc thám hiểm của mình dưới quyền điểu khiển của Juan de Saaveda sinh quán ở Valparaiso de Amiba tạiCuenca, Tây Ban Nha. Ông này đã lấy tên quê quán của mìnhValparaisođặt cho nơi này.

Vào thời vàng son, các di dân Âu châu ùa tới Valparaiso. Họ đem theo văn hóa, kiến trúc, ẩm thực của quê hương họ.

Những cộng đồng di dân lớn đến từ Anh, Đức và Ý tạo dựng nên những vùng riêng rẽ của dân tộc họ. Ngày nay những vùng này được bảo tồn thành Khu Lịch Sử Quốc Gia hay ‘Zonas Tipicas’.

Thổ dân đến đây sống đầu tiên có lẽ là người Pincunches. Tài liệu khác lại cho rằng người Changos du mục đánh cá giữa Caldera vàConcepcionlà những người đầu tiên. Tôi đã truy tìm ra sự liên hệ của tộc thổ dân Mapuche sống ở Chile nhất là vùngPatagonia với người cổ Việt Đông Nam Á. Tại Bảo Tàng Viện Fonck ở đây, tôi đã tìm thấy Cây Rìu Việt của Bách Việt. Người Mapuche giống như người Đa Đảo (Polynesia) gọi rìu thờ giống rìu Việt là toki. Rìu toki củaMaori,New Zealandgọi là wahaika giống như rìu toki của người Mapuche  và rìu Việt Đông Sơn (xem Rìu Việt Ở Nam Mỹ Châu).

Ngoài ra trong bảo tàng viện này tồi cững tìm thấy cây rìu  tia chớp hay búa rìu thiên lôi hình chữ Y, rìu nhà trời, rìu phán xét mà những người thuyền trưởng trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I cầm ở tay phải (xem Ý Nghĩa Hình Người, Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á)

Rìu chữ Y thấy ở các đảo Thái Bình Dương như Fiji, đa đảo (ảnh của tác giả).

Người thuyền trưởng ngồi ở mũi thuyền tay cầm rìu sấm sét, phán xét hình chữ Y  thấy trên  trống đồng âm dương Ngọc Lũ I.

Bảo Tàng Viện Fonck lưu trữ nhưng tài liệu về thổ dân Nam Mỹ đặc biệt là ở đảo Easter, nằm trực diện ở ngoài khơi Valparaiso, nơi có những tượng hình người đặc biệt gọi là Moai của người Rapa  Nui. Trước bảo tàng viện có một tượng Moai chính gốc mang từ đảo Easter về.

Tượng Moai đem từ đảo Easter về.

Ngày nay đã có những bằng cứ chứng minh là người Rapa Nui có gốc từ Đa Đảo đến đảo Easter.

Có dịp tôi sẽ viết về thổ dân Rapa Nui ở đảo Easter này.

……

Buổi chiều chúng tôi lên tầu.

Chiếc tầu Ms Veendam thuộc cỡ nhỏ chỉ chở được hơn một ngàn du khách và vài trăm thủy thủ đoàn (cỡ nhỏ mới được phép đi vào các con hẻm băng hà). Cũng hơi yên tâm là vì nhỏ nên tầu có trang bị hệ thống cân bằng.

Tiện đây xin nhẩy ra lề bài viết nhắc lại một chút về ngôn ngữ học. Tầu có tên là Ms Veendam, Nàng Veendam. Tầu thuyền có giống cái. Anh ngữ Ship, tầu thuyền, có giống cái thường dùng đại danh từ she. Một lần một du khách hỏi một viên thuyền trưởng tại sao ship lại có giống cái. Ông thuyền trưởng này trả lời là thủy thủ coi thuyền như một người đẹp và sống chết với thuyền tầu của mình. Dĩ nhiên thủy thủy thủ thường mơ tới đàn bà, sống trong tuởng tượng với cả những nàng người cá. Thật ra ông ta không hiểu Dịch và Việt ngữ. Thuyền tầu có giống cái là theo nòng nọc, âm dương, theo Dịch.

Thuyền tầu ruột thịt với nước, theo Dịch, nước có một khuôn mặt thuần âm, thái âm nên ship có giống cái. Theo s=g (như sừng = gừng, củ gừng có tên gọi theo hình dáng giống sừng), shi- = ghe. Ghe nguyên thủy làm bằng cách khoét ra từ một thân cây tức thuyền độc mộc (dug-out).   Ghe có hình cái khe nên biểu tượng cho bộ phận sinh dục nữ như thấy qua câu ca dao:

        Khôn thì ăn cháo, ăn chè,

        Dại thì ăn đếch, ăn đác, ăn ghe, ăn đồ.

                                        (ca dao).

 Điều này cũng cho thấy ghe, ship có giống cái. Theo gh=k, ghe = khe, ke, kẽ chỉ bộ phận sinh dục nữ.

Theo chuyển hóa k= gh  như ké = ghé, kê = ghế (cái đòn kê để ngồi là dạng nguyên thủy của cái ghế ngày nay), ta có ke = ghe. Ghe là ke là kẽ, là khe.  Ghe chỉ bộ phận sinh dục nữ nên ta có từ “ghế” tiếng nói trại đi của từ “gái”. Con ghế có ghe. Phi Luật Tân Tagalog ngữ “gay” là ghe biến âm với “gái”, theo g=c, gay = cây. Rõ ràng ghe, “gay” là thuyền độc mộc khoét từ một khúc cây và liên hệ đến gái, bộ phận sinh dục nữ. Nếu muốn chửi rủa ai thì đem biếu ba chén chè và hai quả cau. Ba chè nói lái lại là “ghe bà”. Cho ăn ba chè là cho ăn “ghe bà”. Hai quả cau biểu tượng hai trái “nang” (cổ ngữ Việt Mường nang là cau như mo nang; nang cũng có nghĩa là trứng) của phái nam (Tiếng Việt Huyền Diệu).

Từ cổ của ghe là nốc, ngày nay chỉ thuyền nhỏ, còn dùng ở miền bắc Trung Việt:

        Ăn thì cúi chốc, kéo nốc thì than.

                                (Tục ngữ).

Ăn thì cắm đầu xuống ăn, còn kéo thuyền thì than.

Nguyên thủy nốc cũng làm từ một thân cây khoét rỗng. Nốc liên hệ với Anh ngữ “nog” (cái chốt bằng khúc cây) “log” (thân cây). Nốc là ghe cũng có nghĩa là bộ phận sinh dục nữ. Theo n=l, nốc = lốc, lốc cũng chỉ bộ phận sinh dục như thấy qua câu ca dao:

        Cô lô cô lốc,

        Một nghìn ghính ốc đổ vào lồn cô.

Thật ra phải viết là “cô lô cô nốc” mới đúng. Từ hiện kim “lốc” là dạng nam hóa của nốc (giống như lõ của nõ) vô nghĩa. Như thế nguyên thủy nốc là thuyền độc mộc.

Cổ ngữ Việt cũng có từ  “dốc”, đốc chỉ thuyền. Trong Từ Điển Việt Bồ La có từ “dốc” chỉ cơ quan sinh dục đàn bà. Theo n=d như này = đây, ta có nốc = dốc, đốc. Đốc cũng chỉ cơ quan sinh dục đàn bà như thấy qua từ “mồng đốc” chỉ  hạt tình (clitoris).  Mồng đốc là cái mồng thịt ở cái đốc, cái nốc phái nữ.

Như thế ta thấy một nhóm chỉ bộ phận sinh dục nữ qua các từ có nghĩa là ghe, nốc liên lạc với nước mang tính thái âm, thuần âm.

Điều rất thú vị là không những các từ cổ Việt chỉ bộ phận sinh dục nữ còn có nghĩa là ghe, nốc mà trong ngôn ngữ của người Ainu (Hà Di), thổ dân sống ở Nhật Bản có từ chỉ bộ phận sinh dục nữ cũng có nghĩa là ghe, nốc. Ainu ngữ “chip” chỉ ghe, thuyền. Ta thấy rất rõ “chip” liên hệ với Anh ngữ “ship” (ghe thuyền, theo c=s). Ngoài ra Ainu ngữ “chip” cũng dùng như một tiếng lóng chỉ âm đạo: “chip, a slang word for the vagina” (Rev. John Batchelor, Aini-English-Japanese Dictionary, Tokyo, 1905). Người cổ Việt đã gặp người Ainu “trong phòng the” cách đây hàng mấy ngàn năm. Nên biết là cái nốc, cái độc mộc có thể đi khắp bốn biển sang tới tận Madagascar (ngày nay thuyền độc mộc còn dùng nhiều ở đảo này, ngôn ngữ Magdagascar liên hệ với tiếng Mã-Nam Dương và Nam Á) thì thuyền độc mộc hay cái “nốc” của phái nữ cổ Việt sang tới đất Nhật Bản cũng là chuyện không có gì đáng ngạc nhiên cả.

Việt ngữ nốc (thuyền nhỏ) ruột thịt với nác là nước (nốc cũng có nghĩa là uống như nốc cạn ly tượu). Nước là thái âm, nòng, nữ có giống cái nên tầu thuyền có giống cái.

Còn Dam liên hệ với Hòa Lan. Tầu này của Hòa Lan, cùng hãng có tầu Ansterdam, Roterdam… Dam liên hệ với Anh ngữ dam, Việt ngữ đầm. Hòa Lan là vùng đất thấp Pay-Bas, đầm lầy.

Khoảng 5 giờ tầu nhổ neo với một party ra khơi.

(còn nữa).

TRỐNG BÁCH VIỆT NGỌC LŨ I (9)

Filed under: Trống Bách Việt Ngọc Lũ I (9) — Quang Nguyen @ 6:02 am

TRỐNG NGƯỜI MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG

BÁCH VIỆT NGỌC LŨ I.

(TRỐNG NHÓM MẶT TRỜI NỌC THÁI DƯƠNG LƯỠNG HỢP  TIỂU VÀ ĐẠI VŨ TRỤ).

(phần 9)

Nguyễn Xuân Quang

 Ý NGHĨA VÀNH CHIM THÚ TRÊN TRỐNG ĐỒNG ÂM DƯƠNG NGỌC LŨ I.

 

 

Vành chim thú trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I.

 HƯƠU NAI Ở VÀNH SỐ 8.

Như đã biết, vành số 8 là chim thú. Chim là chim nông còn thú hiển nhiên thấy rõ là hươu nai.

Lưu Ý

Xin nhắc lại một chút về từ vựng. Cần phân biệt ba từ hươu, nai, mang (mễn).

.Con đực gọi là hươu, hưu, hiêu, biến âm với hèo, kèo có nghĩa là cọc tức con có hai vật nhọn, hai cọc nhọn là hai từsừng vì thế Việt ngữ cổ gọi là hươu đực là hươu nọc, con cọc, hươu sửng (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc).

. Con cái gọi là nai: con nai cái là con nái, con cái (Tiếng Việt Huyền Diệu).

.Mang cũng chỉ hươu nai như mang gạc (cervulus munjac), kì mang. Mang biến âm với muông có một nghĩa là con thú, con vật, Mường ngữ là moong. Con hươu được coi là vật tổ của thú bốn chân và người sống trên mặt đất như cổ ngữ Đông Á keh là con hươu Kẻ, Kì (Cọc) và cũng là con người đầu tiên trêm mặt đất giống như vua tổ thế gian của chúng ta là Kì Dương Vương có nhũ danh là Lộc Tục (Hươu Đục, Hươc Đọc, Hươu Nọc). Anh ngữ deer vốn gốc chỉ chung tất cả loài thú bốn chân ngành nọc dương trong khi panther, báo chỉ chung lo ài thú bốn chần ngành nòng dương (pan- là tất cả,  Hy Lạp ngữ -ther là thú). Vì thế mang có mang nghĩa sinh tạo. Điểm này thấy rõ mang cũng có một nghĩa là có bầu (có mang, mang thai, cưu mang, bụng mang dạ chửa). Tôi dùng từ mang chỉ loài hươu nai mang nghĩa sinh tạo, tạo hóa thú biểu ở cõi trời thế gian.

Vì thế xin lưu ý trong những bài viết về Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo nhất là về trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn, tôi dùng từ hươu chỉ con hươu đực có sừng, mang gạc. Từ nai chỉ con cái. Từ mang hàm nghĩa sinh tạo, tạo hóa chỉ loài biểu tượng cho khuôn mặt sinh tạo tạo hóa cõi trên, cõ trời thế gian. 

Hươu là loài thú bốn chân sống trên cạn, trên đất khô có sừng nhọn biểu tượng chính choo họ nọc, lửa, thái dương Đất Li ngành nọc thái dương Càn Li. Vì là thú bốn chân sống trên mặt đất nên khuôn mặt lửa đất Li mang tính chủ yếu, tính trội, còn khuôn mặt lửa trời Càn là Càn thế gian, Cõi Trời dương thái dương thế gian. Thú hươu biểu tượng cho lửa vũ trụ Càn mang nhiều tính cách tượng trưng và mang tính sinh tạo, tạo hóa, nghĩa là một loài mang (mễn).

Hươu biểu tượng chính cho Cõi Giữa đất thế gian thấy rõ qua hình ảnh hươu ở Cõi Giữa trên Cây Vũ Trụ Yggdrasill của Bắc Âu.

 Cây Vũ Trụ Yggdrasill của Bắc Âu.

Dĩ nhiên, cũng giống như chim nông ở cùng nhóm, cùng vành, hươu nai, mang trọn vẹn ý nghĩa triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh của Vũ Trụ giáo.

Hươu Nai Trong Vũ Trụ giáo

Chỉ xin nhắc sơ qua những điểm chính (xem thêm Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

-Hư vô , Vô Cực.

Con hươu nai mang tính sinh tạo, bầu trời là một loài mang mễn. Mang có một nghĩa là cái bọc, cái bầu, có một khuôn mặt biểu tượng cho hư vô, vô cực của ngành nọc dương (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc). Sừng hươu tìm thấy chôn theo người chết trong các ngôi mộ cổ.

-Thái Cực

Mang cũng có một nghĩa là “cái bầu, cái bọc sinh tạo” như có mang, cưu mang, mang thai. Vì thế mang mễn có một khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa. Nhìn dưới dạng nhất thể là Thái Cực.

Mang có một khuôn mặt sinh tạo thái cực.

-Lưỡng nghi

-Cực Dương

Mang có nghĩa là chiếc gai nhọn, nọc nhọn (thảo mang) vì thế mang mới chỉ con hươu là con vật có sừng, nọc nhọn. Mang biến âm với măng, cái mầm tre hình nọc nhọn, gai nhọn. Mang với nghĩa vật nhọn này biểu tượng cho nọc, dương, lửa.

Như đã biết hươu, hưu, hiêu biến âm mẹ con với hèo là kèo, kẻ, cọc là con thú có sừng biểu tượng cho dương, nọc, lửa, mặt trời, cực dương.

Hươu tương đương với các con vật có sừng như dê (có một khuôn mặt là thần mặt trời) của Ai Cập cổ, con bò Nandi biểu tượng cho của Shiva Ấn-Độ có một biểu tượng là linga.

-Cực âm

Ở cõi tạo hóa, theo duy âm, thuần âm, âm nữ, với nghĩa cái bọc, dạ con  sinh tạo, con mang cái biểu tượng cho cực nòng, âm, mẹ… Việt ngữ nai biến âm mẹ con với nái (cái), có gốc na- liên hệ với ná, nạ, nái, nàng, nương, nòng, nác, nước…  Con nai sao cái là thú biểu của Âu Cơ trong truyền thuyết Mường (xem dưới).

-Tứ Tượng:

Tượng Lửa Trời Càn thế gian

Mang gạc có một khuôn mặt biểu tượng cho lửa trời cõi thế gian. Con mang này mang biểu tượng lửa thái dương. Đây là loài mang đỏ “red deer”, sừng có ba mấu nhọn Càn.

Tượng Lửa Đất Đá Li thế gian

Như đã biết Việt ngữ hươu, hiêu, hiu là con hèo, con kèo, con nọc, con cọc nên hươu có một khuôn mặt biểu tượng cho lửa đất, đất dương, Núi Trụ thế gian. Điều này thấy rõ qua sư kiện ở Đông Nam Á hươu được cho là biểu tượng của đất khô, núi dương. Truyền thuyết và cổ sử Việt  có núi Kì. Kì Dương Vương là vua tổ đất thế gian của Bách Việt.

Tượng Lửa Nước thế gian

Thú biểu dòng lửa nước là con mang nước gọi theo danh từ động vật học là “Chinese water  deer” (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Tượng Gió thế gian.

Theo dòng hươu là con hươu gió, có thể là con hươu khoang hay đuôi bông lau như đuôi ngựa mang biểu tượng gió.

-Trục Thế Giới

Hươu có một khuôn mặt biểu tượng cho Trục Thế Giới. Kì Dương Vương có một khuôn mặt Trục Thế Giới. Như đã nói ở trên Kì Dương Vương Hươu Mặt Trời tương đương với bò Nandi của Shiva, với dê mặt trời của thần đất Keb của Ai Cập cổ có một khuôn mặt Trục Thế Giới.

Núi Tản Viên có một khuôn mặt là Trục Thế Giới của Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) vì thế còn có tên là Núi Tam Từng. Kì Mang (con mang sừng, mang gạc) là một vị thần ở Núi Tản Viên cứu sống lại Tiểu Long Hầu (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

-Cây Đời, Sự Sống

Tam Thế biểu tượng bằng Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống). Cây này sinh ra sự sống, muôn sinh. Như đã biết mang là sinh đẻ. Mang có một nghĩa là sinh tạo.

Con mang là con thú tổ sinh ra loài muông thú trong đó có cả con người nguyên khởi trên mặt đất. Mang biến âm với muông còn có một nghĩa chỉ chung các loài thú. Điều này giống hệt Anh ngữ deer (mang hươu), có nghĩa gốc chỉ chung tất cả các loài thú. Điều này cho thấy mang hươu được coi là con vật tổ của các loài thú sống trên mặt đất này, kể cả con người. Điểm này ăn khớp trăm phần trăm với truyền thuyết cho rằng hươu mang hình bóng con người đầu tiên trên mặt đất như  thấy qua từ Đông Á cổ kek có nghĩa là con hươu và cũng là con người đầu tiên trên mặt đất (James Churchward). Kek biến âm với kẻ, có một nghĩa là người (xem dưới). Điều này cũng đúng trăm phần trăm khi đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt. Kì Dương Vương là vua Hươu Nọc Mặt Trời có nhũ danh là Lộc Tục (Hươu Đực), vua tổ thế gian đầu tiên của chúng ta, lập ra nước Xích Quỉ (Kẻ Đỏ).

-Tái Sinh, Hằng Cửu.

Như đã nói ở trên, Kì Mang, thần núi Tản Viên là khuôn mặt mang gạc, hươu sừng đã cứu tử hoàn sinh Tiểu Long Hầu, con cháu dòng Lạc Long Quân.

Người Trung Hoa diễn tả sự sống hằng cửu vĩnh cửu theo nghĩa duy tục là sống lâu, tuổi thọ. Ông Thọ của Trung Hoa thường đi với con hươu có ý nghĩa là trường thọ, hằng cửu.

Tóm lại hươu mang trọn ý nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo của ngành nọc dương ở Cõi Giữa thế gian, Trung Thế.

Hiểu tổng quát như thế rồi, bây giờ ta hãy khảo sát hươu nai ở vành số 8.

 Số 8 là số Khôn tầng 2 thế gian như thế chim thú ở vành này có khuôn mặt Khôn hôn phối với Càn tức khuôn mặt sinh tạo tạo hóa. Do đó ta thấy ngay hươu nai ở vành 8 này có một khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa tức có một khuôn mặt mang mễn. Vì là thú bốn chân sống trên mặt đất nên khuôn mặt sinh tạo là của cõi đất trần gian và khuôn mặt này mang tính phụ (khuôn mặt chính ở cõi trên phải là chim mang tính lửa vũ trụ Càn).

Như đã biết, ở vành số 8 này, mỗi bán viên dương và âm đều có một nhóm chim và một nhóm hươu nai.

Bán viên dương của nhóm 7 người nhẩy múa có nhóm chim 6 con và nhóm hươu 10 con trong khi bán viên âm  nhóm 6 người nhẩy múa có nhóm chim 8 con và nhóm hươu cũng 10 con.

Mỗi nhóm có 10 con với số 10 là số Khảm tầng 2 hôn phối với Li tầng 2, thế gian. Cả hai nhóm đều có 10 con cho thấy trống này diễn tả hai khuôn mặt âm dương, ngoại nội của đại tộc hươu tức Li thế gian.  Ta cũng thấy rất rõ hươu nai có khuôn mặt nòng nọc, âm dương khác nhau vì mỗi nhóm có 5 con hươu đực đi xen kẽ với 5 con nai cái. Như vậy nhìn ở diện đất thế gian, qua hai con số Khảm 10 ta có  số 10 Khảm ở bán viên âm là Khảm âm hôn phối với Li âm tức Li ở vùng đất âm và số 10 Khảm dương ở bán viên dương hôn phối với Li tức Li ở vùng đất dương. Nhìn theo Tam Thế, ta suy ra mười nhóm hươu nai ở bán viên dương nhóm 7 người nhẩy múa có khuôn mặt chủ là Li thế gian đất Dương và ở 10 con ở bán viên âm nhóm 6 người nhẩy múa có khuôn mặt chủ là Li vũ trụ tức Càn thế gian (lúc này hươu có tên là mang, mang gạc, mang kì). Ta nghĩ ngay ra lá các con nai cái mang tính Càn âm thế gian (Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt ứng Mẹ Tổ Âu Cơ thái dương thần nữ mang tính sinh tạo đẻ bọc trứng thế gian).Khuôn mặt chủ của hươu là đất dương Li ứng với số 5. Số 5 là số trục của 9 con số từ 1 tới 9 và ma phương có số trục 5 là ma phương trục 5/15 (ma phương trục của 9 ma phương có số ở tâm là các số từ 1 tới 9). Ma phương 5/15 có số ở tâm là 5 và tổng số các chi là 15 (hành Thổ của Trung Hoa, ở  số 5 tâm ma phương 5/15 cho thấy rõ Li 5 có khuôn mặt chính là núi trụ thế gian, đất dương thế gian, trục thế giới).

Ta hãy kiểm chứng những khuôn mặt của hươu nai này qua ma phương 5/15 này

 

 Ma phương trục 5/15.

 Theo ma phương 5/15 này, ta thấy ngay đường chéo 2-5-8 có Khảm 2 có hai khuôn mặt là Li 5 và  Khôn 8. Khôn hôn phối với Càn. Như thế đúng như đã nói ở trên, ở đây ta thấy rõ hai nhóm 10 con hươu Khảm có một con mang tính chủ Li ở cõi đất thế gian và một nhóm mang tính chủ Càn hôn phối với Khôn tức ở cõi sinh tạo, tạo hóa mang tính phụ.

Ta sẽ tìm hiểu xem sao.

1. Nhóm hươu nai ở bán viên dương 7 người nhẩy múa.

 Nhóm 10 con hươu đực nai cái đi với nhóm 6 chim nông ở nhóm 7 người nhẩy múa trên bán viên dương (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Vì ở bán viên dương và đi với chim nông âm thái dương nên nhóm 10 con hươu nai này mang tính  thiếu dương (vì lưỡng hợp tiểu vũ trụ với 6 con nông mang tính thiếu âm).

Bây giờ ta hãy nhận diện tỉ mỉ những con thú này.

.Sừng

Những hươu đực nai cái ở đây đều có sừng.

Điểm này cho thấy rõ hươu đực nai cái ở đây diễn tả theo ý nghĩa mang tính biểu tượng vì trong thiên nhiên hầu hết nai cái không có sừng ngoại trừ loài tuần hươu “reindeer” con cái mới có nhưng sừng của loài tuần lộc to và dẹp, có nhiều mấu nhọn không giống loài hươu ở đây. Rõ ràng hươu cái có sừng ở đây mang một ý nghĩa biểu tượng. Như đã nói ở trên, thú mang ý nghĩa biểu tượng không nhất thiết phải giống hệt thú trong thiên nhiên.

Ta cũng thấy rõ thêm ý nghĩa biểu tượng này qua số mấu nhọn (nhánh) của sừng. Ta thấy con hươu dẫn đầu nhóm này có sừng bên phải có 5 mấu nhọn. Trong khi sừng trái có 3 mấu nhọn. Những con còn lại có con hai sừng đều có 3 mấu và đa số còn lại có một sừng hai mấu sừng kia có 3 mấu. Trong thiên  nhiên không có loài hươu nào có hai loại sừng khác nhau.

Con đầu đàn sừng phải có 5 mấu nhọn. Số 5 là số Li, lửa đất, đất dương, thiếu dương.

 Hươu đực dẫn đầu nhóm ở bán viên dương có nhóm 7 người nhẩy múa (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên). 

Trong khi sừng trái có 3 mấu nhọn. Theo duy dương, ba mấu nhọn, ba nọc nhọn là ba hào dương, Càn.

 Khuôn mặt Li mang tính chủ vì ở sừng bên phải tức phía dương. Càn ở sừng bên trái là Càn âm mang tính phụ.

Con hươu dẫn đầu nhóm 10 con ở bán viên này có khuôn mặt Li-Càn của ngành nọc thái dương thế gian và có khuôn mặt Li mang tính chủ.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là tộc Người Mặt Trời Li Kì Dương Vương ngành nọc thái dương thế gian Viêm Đế. Như thế chúng ăn khớp với đại tộc Người Mặt Trời (Bách Việt) ở vành số 6.

Kiểm chứng với ma phương 5/15 như đã nói ở trên con hươu này có khuôn mặt chủ hôn phối Li-Khảm và khuôn mặt phụ tương hòa Càn-Khảm.

Con cuối cùng của nhóm là con nai cái

Con cuối cùng của nhóm là con nai cái có sừng phải ba mấu nhọn Càn và sừng trái hai mấu nhọn Khảm-Li.

      Con cuối cùng ở bán viên dương có nhóm 7 người nhẩy múa là nai cái, có sừng phải có 3 mấu nhọn và sừng trái hai mấu.

 Vì ở sừng phải nên khuôn mặt Càn mang tính chủ. Nhưng Càn ở đây là Càn âm thế gian tức Li âm vì ở cuối đàn và là nai cái so với Li của con hươu đực đầu đàn.

Đối chiếu với ma phương 5/15 ta cũng thấy theo duy âm Khảm tương giao với Càn Khôn âm.

Như thế qua cặp sừng ta thấy rõ con hươu được dẫn đầu có khuôn mặt Li-Càn với Li mang tính chủ và con nai cái cuối đàn có khuôn mặt Càn-Li với Càn mang tính chủ. Nhóm này là hươu nai thú biểu của ngành nọc thái dương Càn Li ứng với Viêm Đế.

Vì hai sừng đều có 3 mấu nhọn Càn nên khuôn mặt Càn mang tính chủ. Trong hai Càn này có một Càn âm thế gian tức Li âm (vì là con cái) mang tính phụ vì ở cuối đàn và là nai cái so với Li của con hươu đực đầu đàn.

Đối chiếu với ma phương 5/15 ta cũng thấy theo duy âm Khảm tương giao với Càn Khôn âm.

.Mõm

Trên mõm tất cả hươu nai đều có chữ nòng nọc mũi mác  > thái dương. Những con hươu nai này đều thuộc ngành mặt trời thái dương. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là ngành Viêm Đế thái dương. Ngay cả các con nai cái cũng thuộc ngành mặt trời thái dương

.Mắt

Những con hươu nai này có con mắt dương diễn tả bằng chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình vòng tròn đơn có chấm. Ta thấy những con hươu lửa, đực mang tính chủ.

Điểm này cũng ăn khớp trăm phần trăng với hươu nai ngành nọc thái dương.

.Thân

Ở thân hươu nai có viết chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình nọc que hai bên có đánh dấu bằng hai hai hàng nọc chấm mang nghĩa lửa, thái dương sinh tạo cho biết chúng là những con hươu nai ngành nọc thái dương.

Đa số những con còn lại có sừng phải 2 mấu Khảm hôn phối với Li và sừng trái 3 mấu Càn trời và Càn thế gian Li.

Như vậy ở bán viên dương này, hươu nai biểu tượng cho ngành nọc thái dương Càn-Li và có khuôn mặt chủ là thiếu dương Li, lửa đất, đất dương diễn tả bằng con dẫn đầu có sừng phải 5 mấu Li.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là ngành nọc thái dương Viêm Đế có khuôn mặt Đế Li Kì Dương Vương mang tính chủ.

 2. Nhóm hươu nai ở bán viên âm 6 người nhẩy múa với 8 con nông.

Tổng quát ta cũng thấy giống như ở bán viên dương có nhóm 7 người nhẩy múa. Có khác là những chi tiết mang tính nòng nọc, âm dương khác nhau thấy rõ nhất qua cặp sừng.

Nhóm 10 hươu nai ở bán viên dương có nhóm 6 người nhẩy múa và 8 con nông.

Con đầu đàn sừng phải có 2 mấu nhọn. Số 2 là Khảm hôn phối với Li. Sừng trái có 4 mấu nhọn. Số 4 là số Cấn, non (núi âm), Li âm.

 

 Con hươu đầu đàn ở bán viên âm có nhóm 6 người nhẩy múa có sừng phải hai mấu và sừng trái 4 mấu nhọn.

Nhưng vì ở bán viên âm nên Li là Li âm, lửa đất âm (núi âm, tức non). Li âm thấy rõ qua sừng phải hai mấu Khảm-Li (Li qua hôn phối với Khảm âm) trong khi ở nhóm dương ta có Li dương thấy rõ qua sừng phải có 5 mấu nhọn Li (Li trực tiếp không qua hôn phối). Hai sừng đều có số mấu nhọn âm (số 2 và số 4 là số chẵn, số âm) cũng cho biết tính âm của Li này. Đây là con hươu đực đại diện của phía âm.

Ta cũng thấy khuôn mặt thái dương thần nữ Âu Cơ đội lốt mặt trời Đế Minh, Viêm Đế tức Càm âm. Vậy Cấn Âu Cơ  có một khuôn mặt Càn âm. Như thế con nai này có khuôn mặt Li-Cấn/Càn âm.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, đây là khuôn mặt âm của hươu Kì Dương Vương đại diện cho nai Âu Cơ.

Nai sao là một thú biểu đất thế gian của Mẹ Tổ Âu Cơ. Điểm này thấy rõ nhất qua văn hóa Mường. Thầy mo Mường ngày nay khi tế lễ vẫn cắm hai bên bàn thờ hai lá cờ. Một lá vẽ hình con nai sao biểu tượng cho Âu Cơ. Người Mường vẽ nai sao thú biểu của Âu Cơ có hai sừng đàng hoàng. Một lá cờ vẽ hình con cá chép biểu tượng cho Lạc Long Quân (xem hình).

 

Cờ tế nai sao biểu tượng của Ngu Cơ của người Mường (nguồn: J. Cuisinier, Les Mường).

Hai sừng được cắm thêm vào đầu con nai ở đây trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I và trên lá cờ tế Mường chỉ mang một nghĩa biểu tượng là hai nọc nhọn, hai dương tức thái dương. Những con nai cái ở đây và trên lá cờ tế Mường là những con nai thái dương dòng nọc lửa, mặt trời thái dương.

Lưu ý là sừng của con nai sao trên lá cờ cũng có 4 mấu nhọn như sừng trái của con đầu đàn nhóm này. Số 4 là số chẵn số âm và số 4 là số Cấn (non, núi âm) vì con nai sao này là vật biểu của bà Ngu Cơ có một khuôn mặt là non (nên bà dẫn 50 con lên núi là vậy). Nai sao Cấn Ngu Cơ hôn phối với Chấn con cá chép nước-dương Lạc Long Quân. Đốm sao cũng mang âm tính đi với phái nữ vì sao sáng về đêm. Cổ Việt gọi sao là Nàng Sáng. Ta cũng thấy các thần nữ thường có biểu tượng là ngôi sao sáng như Venus có biểu tượng là sao mai.

Con cuối đàn ở bán viên âm này là con nai cái. Con nai này có hai hình vẽ khác nhau trong hai tài liệu của Phạm Huy Thông và của  Nguyễn Văn Huyên.

Theo Phạm Huy Thông, con nai này có sừng phải là một nọc que thật dài, rất cường điệu,

 Nai cái cuối đàn ở bán viên âm (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

 mang nhiều dương tính có một khuôn mặt Nọc Lửa thái dương thế gian, Núi Trụ thế gian, Li đất thế gian.  Sừng trái có 3 mấu Càn. Ở nai cái, ở cuối đàn và bán viên âm Càn ở sừng trái mang tính chủ.

Theo Nguyễn Văn Huyên, thì con nai cuối đàn này có sừng bên phải có 3 mấu nhọn Càn.

                              Con nai cái cuối đàn 10 con ở bán viên âm nhóm 6 người nhẩy múa theo  Nguyễn Văn Huyên sừng phải có 3 mấu nhọn.

 Đây là Càn âm vì là nai cái và ở bán viên âm (ứng với Mẹ Tổ Âu Cơ thái dương thân nữ). Sừng trái có 2 mấu nhọn Khảm-Li.

Ta thấy theo hình vẽ của Nguyễn Văn Huyên  thì nai cái cuối đàn có Càn âm mang tính chủ ở sừng phải ăn khớp với khuôn mặt Li âm của con hươu đực đầu  đàn. Nhóm này là nhóm hươu nai biểu tượng cho Li âm thế gian đất non và Càn âm, mặt trời âm nữ. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, đây là khuôn mặt Li âm non và Càn âm thái dương thần nữ của Mẹ Tổ Âu Cơ.

Như vậy ở bán viên âm này, hươu nai có biểu tượng cho Li Càn phía âm. Khuôn mặt chủ là con nai cái cuối đàn có khuôn mặt Càn-Li nòng âm.

Khuôn mặt Càn này hôn phối với khuôn mặt thái âm Chấn 8 con nông ở cùng bán viên âm có nhóm 6 người nhẩy múa này.

Mỗi nhóm hươu nai này có con đầu Li và con cuối Càn mang tính chủ đại điện cho hai đại tộc của ngành nọc thái dướng Càn Li. Ta có thể suy ra 8 con hươu nai còn lại là 4 cặp biểu tượng cho 4 tộc ứng với tứ tượng dương và âm (8 tượng ứng với bát quái).

Tóm lược lại hai nhóm hươu nai ở hai bán viên âm dương trên vành số 8 này:

.Là những con thú mang tính biểu tượng, là thú biểu nọc thái dương thế gian của Người Mặt Trời thái dương. Hươu đực là thú biểu của nọc dương nam và nai cái là thú biểu của nọc âm, nữ. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là thú biểu của Bách Việt, phía nam là Kì Dương Vương và về phía nữ là Mẹ Tổ Âu Cơ.

Ở bán viên dương những khuôn mặt hươu nai có khuôn mặt chủ là thiếu dương Li, lửa đất, đất dương diễn tả bằng con dẫn đầu có sừng phải 5 mấu Li. Hai nhóm hươu nai đều có 10 con tức số Khảm thế gian cũng cho biết khuôn mặt Li hôn phối với Khảm mang tính chủ. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là Li Kì Dương Vương hôn phối với Thần Long Khảm.

Nhóm hươu nai thiếu dương Li mang tính chủ này lưỡng hợp dưới dạng tiểu vũ trụ với nhóm chim nông 6 con thiếu âm ở cùng trên bán viên dương có nhóm 7 người nhẩy múa.

.Ở bán viên âm những khuôn mặt hươu nai có khuôn mặt chủ là Càn phía âm diễn tả bằng con nai cuối đàn có sừng trái ba mấu nhọn Càn. Nhóm hươu nai mang tính chủ Càn này lưỡng hợp dưới dạng đại vũ trụ với nhóm chim nông 8 con thái âm ở cùng trên bán viên âm có nhóm 6 người nhẩy múa.

.Thú có cả hươu đực và nai cái cho thấy khuôn mặt nữ còn được tôn trọng và giữ một khuôn mặt nòng nọc, âm dương  đề huề. Điểm này cũng cho thấy và xác thực một lần nữa trống đồng là trống nòng nọc, âm dương.

Hai khuôn mặt cái đực của hươu sừng ở đây ăn khớp với hai khuôn mặt Chấn Đoài của hai nhóm 8 và 6 chim nông bay. Nhóm 10 hươu Li và nhóm 6 con nông Đoài ở cùng một bán viên theo giao hòa thiếu dương thiếu âm cõi tiểu vũ trụ và nhóm 10 hươu Càn với nhóm 8 con nông Khôn Chấn ở cùng một bán viên theo giao hòa thái dương thái âm cõi đại vũ trụ.

Như đã thấy ở trên phần chim nông, vành nông hươu qua nhóm 6 con bổ nông và 10 con hươu mang dương tính của ngành thái dương diễn tả chim thú biểu của trời và đất vùng đất dương theo dạng thiếu âm thiếu dương ở Cõi Giữa nhân gian Tiểu Vũ Trụ và qua nhóm 8 con bồ nông và 10 con hươu mang dương tính của ngành thái dương diễn tả Nước-Lửa vũ trụ, khôn càn theo dạng thái âm thái dương ở Cõi trên Tạo Hóa, Đại Vũ Trụ.

.Mỗi nhóm hươu nai này có con đầu Li và con cuối Càn mang tính chủ đại điện cho hai đại tộc của ngành nọc thái dướng Càn Li. Ta có thể suy ra 8 con hươu nai còn lại là 4 cặp biểu tượng cho 4 tộc ứng với tứ tượng dương  và âm (8 tượng ứng với bát quái).

.Vành chim thú này là những biểu tượng của chủng người vũ trụ, họ Người Mặt Trời thái dương. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là họ Bách Việt Người Mặt Trời thái dương, ngành Viêm Đế-Thần Nông thái dương, sinh ra từ quả bầu vũ trụ. Chim Nông bay đẻ ra Trứng Vũ Trụ có một khuôn mặt chính biểu tượng cho cõi sinh tạo, tạo hóa, Thượng Thế. Hươu nai bốn chân sống trên mặt đất có một khuôn mặt chính biểu tượng cho cõi đất thế gian, Trung Thế.

.Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, những con hươu này mang hình bóng thú biểu của  Kì Dương Vương  đội lốt Viêm Đế họ Khương (Sừng). 10 con mang tính dương của ngành dương ở bán viên dương mặt trống là thú biểu của Đế Kì Dương Vương (Đế Li mang tính chủ) và 10 con của ngành dương ở bán viên âm mặt trống là thú biểu của Viêm Càn Đế Minh phía âm ứng với Thần Nông thái dương.

So sánh với chim nông như trên đã biết chim nông biểu tượng cho Khôn thế gian Thần Nông chia ra là hai nhóm: nhóm 8 con biều tượng cho Thần Nước dương Chấn và nhóm 6 con biểu tượng cho Nông khí gió Đoài.

Như vậy chim nông và hươu ở vành số 8 biểu tượng cho Viêm Đế-Thần Nông thái dương (vì thế hai loài này mới để chung cùng trên một vành)

(còn tiếp).

XÓA NÓI NGỌNG N/L

Filed under: Xóa Ngọng N/L — Quang Nguyen @ 4:49 am

 

 “XÓA NGỌNG N/L”

 Nguyễn Xuân Quang

Gần đây các diễn đàn trên mạng ở trong nước và hải ngoại nổ ra những cuộc tranh luận về hiện tượng “Xóa Ngọng N/L” (“Nói Ngọng Nờ Ngắn và Lờ Dài”). Cuộc tranh luận này có nguồn gốc từ Việt Nam. Vào đầu tháng 11/2011, tại Việt Nam, Sở Giáo dục-Đào Tạo thành phố Hà Nội tiến hành chủ trương lên kế hoạch xóa nói «ngọng» L/N tại 13 huyện ngoại thành Hà Nội trong năm học 2011-2012. Hiện tượng “nói ngọng N/L” bây giờ tràn làn ở Việt Nam vì có hiện tượng nông thôn hóa thành thị và vì các vùng quê ngày trước giờ đã thống lĩnh các đô thị lớn, ngay cả thủ đô Hà Nội, vốn được coi là có tiếng nói thanh lịch, chuẩn nhất Việt Nam.

Vấn đề nói lẫn lộn âm N với L này tôi đã đề cập trong tác phẩm Tiếng Việt Huyền Diệu nhưng dưới cái nhìn nghiêng nhiều về ngôn ngữ học. Ở đây để góp mặt vào cuộc tranh luận hiện nay, tôi xin góp ý về vấn đề được cho là Ngọng N/L này dưới các diện khác nữa.

Những câu hỏi cần bàn tới là có phải thật sự là nói Ngọng N/L không?  Tại sao còn nhiều nơi ở ViệtNamvà trên thế giới nói lẫn lộn N với L? Tại sao thích nói âm N hơn âm L? Tại sao phải “xóa” nói ngọng?  Có nên xóa không? Xóa như thế nào? Dựa vào những tiêu chuẩn nào để xóa?

1. Nói Lẫn Lộn N/L hay Nói Ngọng L/N?

Thật vắn tắt, theo tôi dùng từ ngọng (N/L) không chỉnh vì:

-Ngọng hiểu theo nghĩa thông thường hiện nay là từ dùng để chỉ những trường hợp lẻ loi thấy ở khắp các nơi, các vùng không riêng rẽ ở một vùng nào cả. Ngọng thường hay áp dụng cho trẻ em và về phương diện y học, ngọng có thể là một chứng rối loạn về ngôn ngữ cần phải trị liệu (speech therapy). Ta có từ ngọng nghịu. Theo qui luật từ đôi, ta có ngọng ruột thịt với nghịu. Nghịu biến âm với nhịu (nói nhịu). Nói ngọng, nói nghịu, nói nhịu có thể có nguồn gốc bệnh lý.

Ở đây hiện tượng nói lẫn lộn giữa N/L thấy ở cả một vùng rộng lớn, mọi người người đều nói như vậy. Họ nói theo một thứ tập quán đặc thù của vùng đó. Trẻ em khi học nói, phát âm như vậy và được mọi người trong gia đình, làng xã chấp nhận vì chúng nói theo tiếng nói của mẹ, của “quê hương” các em. Các nhà ngữ học gọi đây là thổ ngữ (một vùng nhỏ ít người) hay phương ngữ (một vùng lớn nhiều người).

Nói lẫn lộn N/L không những thấy ở nhiều vùng ở Bắc Việt Nam mà còn thấy trong nhiều nơi nhất là trong đại tộc Bách Việt như thấy ở trong một vài tộc người Quảng Đông, Hẹ (Triều Châu) …  ví dụ như nông (nông nghiệp) còn đọc là nung4 lung4 (giọng Quảng Đông), lung2 nung2 (Hẹ), long5 (Mân Nam/Đài Loan) … Giọng Hẹ (ở Phúc Kiến, bờ biển Quảng Đông … thuộc Mân Việt cổ đại) có khuynh hướng lẫn lộn l/n rõ nét nhất trong các phương ngữ  Trung Quốc hiện nay (Nguyễn Cung Thông, email trả lời một vị tên Lan). Tác giả Đỗ Ngọc Thành có sở trường về tiếng Nôm Bách Việt trong blog Nhạn Nam Phi (nhannamphi.com) cũng đề cập tới hiện tượng nói lẫn lộn N/L này trong tiếng Nôm Bách Việt (ở Nam Trung Hoa).    : “Lạm” là “Lam” hay “nam” tức là “Năm”, “L” và “N” thường là biến âm, ngày nay màu “Lam” tiếng Triều Châu là “Nam”. Rất nhiều nơi ở Quảng, Triều, Việt thường lẫn lộn “L” và “N”   (Đỗ Ngọc Thành, Việt Nhân Ca).

Điểm quan trọng nhất là dân một số vùng ở Bắc Việt họ nói được cho là “nói ngọng” N/L mà nhiều trường hợp họ lại nói đúng nghĩa và chúng ta “không ngọng” lại là nói sai (xem dưới).

Hơn nữa qui ước chữ quốc ngữ ngày nay chỉ mới có vài trăn năm mới đây, những âm N/L có từ thượng cổ. Không nói theo ký âm chữ quốc ngữ của các giáo sĩ Tây phương là nói ngọng?

Trước hết ta thử xem đây là hiện tượng nói lẫn lộn N/L hay đây là một hiện tượng nói ngọng?

Đây không thể nói là ngọng hay nói sai qui uớc chữ quốc ngữ hiện nay mà ta nên dùng từ nói lẫn lộn N/L. Tại sao?

 Tại sao có sự nói lẫn lộn N và L

Trước tiên, ta hãy đi tìm âm N và L khác nhau như thế nào?

.Về thời gian âm N là âm cổ hơn âm L.

Về xã hội học, loài người nguyên thủy theo mẫu hệ sau đó chuyển qua phụ hệ và xã hội loài người hiện nay phần lớn theo phụ quyền cực đoan. Ngôn ngữ loài người thời mẫu hệ nói nhiều theo âm mẹ, nữ, nòng, âm. Có nhiều bằng chứng âm N là âm mẹ, nữ, nòng, âm. Ví dụ các từ cổ chỉ phái nữ  có N như nạ là mẹ (chờ được nạ thì má đã sưng), là mẹ (áng ná là cha mẹ), Thái ngữ là mẹ, người nữ. Cùng gốc na ta có nàng, nường, Hán Việt nữ, Anh ngữ nany (vú em, người giữ trẻ em), nun (bà sơ), nurse (y tá)… Bằng chứng rất rõ và cụ thể nhất là mẫu tự N của linh tự Ai Cập cổ diễn tả nước.

 Mẫu tự N sóng nước của linh tự Ai Cập cổ.

 Các từ dùng trong linh tự Ai Cập cổ thường không viết nguyên âm, các nhà Ai Cập học kiện nay lấy nguyên âm e để đọc những từ viết bằng mẫu tự linh tự. Vì thế thật sự mẫu tự N của linh tự Ai Cập cổ có thể phát âm theo bất cứ nguyên âm nào cũng được không nhất thiết phải là âm e. N có thể phát âm là Na (Nă, Nâ), Ne (Ne), No (nô, nơ), Ni Nu (Nư) và tất cả đều có nghĩa là Nước. Điểm này thấy rõ trong Việt ngữ:

-gốc na là nước như nalưới liên hệ với nước (na biến âm với Hán Việt la là lưới như thiên la địa võng), là ruộng nước, ruộng phù sa ven sông, là nước (ngày nay nói lã, nước lã), nả (vật đựng cá hình quả bầu; vật đựng cá liên hệ với nước) và nạ là loài thủy quái, chúa tể cõi nước (ruột thịt với naga)…

-cổ ngữ  ne là nước, Việt ngữ ne ne là loài chim nước (ngày nay nói là le le). Bà Vụ Tiên với Vụ Tiên có nghĩa là con Le Le, có mạng Khôn có một khuôn mặt thái âm là nước ở cõi trên và là vợ của Đế Minh tức Đế Ánh Sáng cháu ba đời của thần mặt trời Viêm Đế có một khuôn mặt lửa vũ trụ thái dương (Đế Minh lửa thái dương Càn nên hôn phối với Vụ Tiên thái âm Khôn nước). Hawaii vẫn giữ âm cổ ne ne này. Con chim biểu (state bird) của tiểu bang Hawaii là con ngỗng trời, họ gọi là ne ne. Con vịt trời ne ne, le le  Vụ Tiên của Việt Nam bay ra ngoài Hawaii trở thành con ngỗng trời ne ne (nên nhớ ngôn ngữ Hawaii có một phần ngôn ngữ từ Nam Đảo vượt đại dương tới, mà ngôn ngữ Nam Đảo liên hệ với ngôn ngữ Việt nên ngôn ngữ Hawaii liên hệ với Việt ngữ là chuyện tất nhiên).

-Việt ngữ là nước bùn.

-nò (vật bắt cá) (Chồng chài vợ lưới con câu, Con trai đứng đó, nàng dâu ngồi nò). Vật đánh cá liên hệ với nước.

-nờ là vật đánh cá (hiện nay nói là lờ). Vật đánh cá liên hệ với nước.

…..

Nước là âm (lửa là dương). Âm N mang tính âm, nước, mẹ.

Ngược lại âm L mang tính dương, lửa, cha (xem Tiếng Việt Huyền Diệu).

.Trong chữ viết nòng nọc vòng tròn-que chữ L do hai nọc que ghép lại và thấy rõ nhất qua chữ lamda của Hy Lạp. Hai nọc là hai hào dương, thái dương. L mang tính dương, lửa, ngược với N. Rõ nữa chữ L trong linh tự Ai Cập cổ diễn tả bằng con sư tử (lion) loài mãnh thú mang dương tính (xem hình ở trên).

Lửa có các âm cổ là la, lá, lu…  (như lấp lánh, lập lòe, lung linh… có gố la, lá)/ Anh ngữ light, ánh sáng, lửa (lighter, máy lửa, hộp quẹt, mồi lửa), Tây Ban Nha ngữ luz, ánh sáng, Latin lux, ánh sáng có gốc Phạn ngữ luk, lửa. Ta thấy rất rõ Việt ngữ lửa ruột thịt với Phạn ngữ luk.

Như thế N mang tính âm, tính mẹ, nước. Thời mẫu quyền khởi thủy con người dùng tiếng nói của mẹ, của vú. Do đó ta mới nói là ngôn ngữ mẹ, tiếng nói của mẹ (mother tongue), ta nói hai ngôn ngữ chị em mà không nói là ngôn ngữ cha hay hai ngôn ngữ anh em. Từ ngôn ngữ có giống cái như Pháp ngữ nói la langue.

Như vậy âm N mang tính âm và là âm cổ hơn âm L. Người cổ Việt dùng nhiều âm N ngày nay chúng ta chuyển qua âm L.

Về chữ viết nòng nọc vòng tròn-que  thì chữ N trong mẫu tự ABC hiện nay (vốn là con cháu của chữ viết nòng nọc vòng tròn-que, xem chương Chữ Nòng Nọc trong Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á) là dạng dương hóa của chữ S nằm (giống dấu ngã). Chữ S là do hai chữ nòng OO chuyển động mở ra thành hình sóng nước chữ S nằm. Hai nòng OO là hai hào âm thức thái âm có một khuôn mặt là Nước.

.Về quá trình biến âm thì âm N giản dị có trước âm L.

Tác giả Nguyễn Cung Thông trong một điện thư trả lời cho một vị tên Lan cũng đã xác nhận: «Vấn đề phụ âm đầu lưỡi mà chị nói đến như l/r (A) là những phụ âm đòi hỏi khả năng liên hợp lưỡi, môi, họng … và là những phụ âm cuối cùng trong quá trình đắc thụ ngôn ngữ (language acquisition)».  Âm L khó đọc và nói khổ công hơn âm N. Điểm này giải thích tại sao các em bé đang tập nói thường nói ngọng từ N thành L mà ít nói ngọng từ L thành N. Các bé này nói nhiều âm N vì nói theo tiếng mẹ, nói theo phản xạ, nói N vì dễ dàng như một thứ «bẩm sinh» trong khi nói L cần phải có khả năng liên hợp lưỡi, mội họng và phải cần có sự can thiệp nhiều của não bộ. Điểm này cũng giải thích là khi lớn lên trẻ em tự nhiên hết nói ngọng vì khi đó óc đã giúp nói được L hay  khoa ngôn ngữ trị liệu (speech therapy) chữa được chứng nói ngọng N/L ở trẻ em Việt đang học nói.

 .Về tầm nguyên nghĩa ngữ ta cũng thấy âm N là âm cổ có trước âm L.

NÕ/LÕ

Tiếng cổ Việt nõ chỉ bộ phận sinh dục nam như “nõ nường” (nọc nòng). Nõ là cây cọc, cây nọc như đóng cọc mít cho mau chín gọi là đóng nõ mít. Âm cổ nõ tiến hóa thành âm kim . Trong từ Điển Việt Bồ La của Alexandre de Rhodes có từ “lô, “con lô: cơ quan sinh dục của đàn ông” và từ “lõ”: “làm dương vật cương lên như khi con vật giao cấu. Blỏ cùng một nghĩa”. Có phương ngữ nói con lỏ, c…c lỏ (dấu hỏi).

Hiển nhiên lõ, lỏ, lô là biến âm của nõ. Lõ trong tiếng Việt hiện nay chỉ vật gì đâm ra như cây cọc nhọn ví dụ mũi lõ, c…c lõ hay lõ c…c. Lõ biến âm với nõ (cọc), nỏ, ná vật bắn mũi nhọn (tên). Đúng ra phải nói “mũi nõ” là cái mũi đâm ra trông như cây nõ, cây cọc nhọn. Con muỗi là con mũi gọi theo chiếc vòi nhọn hút máu đặc thù của nó. Từ c…c  cũng cùng nghĩa với nõ (Quân tử có thương thì đóng cọc, Hồ Xuân Hương). Còn từ lõ, lỏ, lô vô nghĩa.

 NÒNG, NỒN/LÒNG, L…N

Như đã biết nòng là nường, bộ phận sinh dục nữ, ngày nay ta có từ l…n  biến âm với lồng là dạng âm kim của nồng, nòng, nường ( xem chương Ý Nghĩa Những Từ Thô Tục trong Tiếng Việt Huyền Diệu và trong bacsinguyenxuanquang.wordpress.com ).

NÒNG VÒNG/LÒNG VÒNG

Ta có từ ghép điệp nghĩa “lòng vòng” (lòng = vòng), thật ra cổ Việt nói là “nòng vòng” vì nòng có nghĩa là vòng tròn (theo n=v như níu = víu, ta có nòng = vòng), nòng biến âm với  nang là cái bọc tròn, con nòng nọc là con có thân hình vòng tròn, có đuôi hình nọc, chữ nòng nọc là loại chữ viết có hai chữ cái là chữ có hình vòng tròn (O) và hình que (I). Nói “nòng vòng” là nói vòng tròn, nói vòng vo. Còn nói “lòng vòng” không thể hiểu là nói vòng quanh như… cỗ lòng (!). Nếu cho rằng lòng (ruột) cũng có nghĩa là vòng vì lòng cuộn thành những vòng tròn trong bụng thì cũng không đúng vì nguyên thủy lòng (ruột) cũng nói là “nòng”, chứng tích là  Mường ngữ “nòo” là lòng ruột.

NOÒ = LÒNG

Như vừa nói Mường Việt cổ ruột nói là nòo, ngày nay chúng ta nói lòng.

 NỌNG/LỌNG (THÒNG)

Ta có từ “nọng” có nghĩa là “cổ” như thấy qua câu tục ngữ “Đầu trọng nọng khinh” có nghĩa là cái đầu hay thịt đầu thì coi trọng còn cái cổ hay thịt cổ thì coi khinh. Ngày nay ta có từ “thòng lọng” chỉ sợi dây tròng cổ. Thật ra theo nguyên thủy nói là “thòng nọng”. Theo biến âm th=tr như tháng = trăng (một tháng là một trăng, một nguyệt, một month là một moon), ta có thòng = tròng. Thòng nọng là vật, dây tròng cổ. Như thế phải nói “ngọng” (!) là thòng nọng mới đúng vì mới có nghĩa. Còn “lọng” trong “thòng lọng” vô nghĩa. Thòng lọng không thể hiểu là sọi dây tròng cây lọng, chiếc tán (parasol) (xem thêm Giống Đực Giống Cái Trong Việt Ngữ).

 NỌ/LỌ

Nọ biến âm với nỏ, nõ có nghĩa là không, chẳng (xem Những Từ Phủ Định Trong Việt Ngữ). Ngày nay thường dùng lọ. Từ lọ cũng mang nghĩa phủ định.

         Lọ là thét mắng cặp rèn,

        Một lời xía cạnh, bằng ngàn roi song.

Nọ, nõ ruột thịt với Anh ngữ no (không). Lọ không có nghĩa.

NỐC/LỐC

Nốc là thuyền đò và cũng chỉ bộ phận sinh dục nữ. Nốc cũng biến thành lốc như thấy qua câu ca dao:

        Cô lô cô lốc,

        Một nghìn ghính ốc đổ vào l..n. cô.

 Thật ra phải viết là “cô lô cô nốc” mới đúng. Từ hiện kim “lốc” vô nghĩa (xem Dịch Lý và Việt Ngữ)..

NÒNG/LÒNG (SÚNG)

Tiếng Việt cổ nòng là cái bao, cái bọc, cái túi, phần rỗng, bộng như cái bụng, cái xoang, vật hình ống rỗng như âm đạo vì thế  phần ống dài của súng gọi là “nòng súng”. Súng tiếng cổ gọi là “ống” vì thủy tổ của súng là ống thổi mũi tên (ống xì đồng) như thấy qua từ ghép điệp nghĩa “súng ống” (súng = ống). Tiếng Tày-Thái  gọi súng là “ống” (Diệu Tần, 2000, tr.168). Ngày nay chúng ta thường nghe nói “lòng súng” hiểu theo nghĩa ruột súng.

NÃ/LÃ

Nã có gốc “na” có nghĩa là nước, nước ngọt (xem Gốc Chữ Trong Việt Ngữ) mang âm tính biểu tượng cho âm. Ngày nay chúng ta nói lã (nước) với lã vô nghĩa.

NẠT/LẠT

Nạt là không mặn vì có nhiều nác, nước. Ngày nay ta nói lạt, nhạt.

NUỘC/LUỘC

Nuộc là nấu chín chỉ bằng nác, nước không cho thêm cái gì khác vào. Ngày nay ta nói luộc.

……

-TẠI SAO NGƯỜI VIỆT NGÀY NAY CÓ KHUYNH HƯỚNG NÓI L NHIỀU HƠN N?

Tại sao ngày nay người Việt có khuynh hướng nói nhiều âm L hơn âm N? Ngoài những lý do vừa nói, là vì  những lý do sau đây, thứ nhất là theo ‘dòng chẩy’ của biến âm lịch sử từ N qua L, thứ đến ảnh hưởng của các ngôn ngữ mang dương tính cực đoan liên hệ với Việt ngữ như Hán Việt, Ấn Âu ngữ (qua cách ký âm theo âm nghiêng về dương tính của Ấn Âu ngữ của các nhà sáng tạo ra chữ quốc ngữ).

Biến Âm Lịch Sử Từ N Qua L

Trong ngôn ngữ Việt cũng như trong ngôn ngữ loài người có hiện tượng biến âm từ âm cổ qua âm kim, từ âm gốc  qua âm cành nhánh, từ âm mẹ qua âm con, từ ngôn ngữ này qua ngôn ngữ khác. Trong Việt ngữ như:

-chuyển từ âm cổ b  qua âm kim m, chẳng hạn như trước đây các cụ thường dùng bồ hôi, bồ hóng, thuốc bồi, bóng nước (cá voi phun nước)…, ngày nay chúng ta dùng mồ hôi, mồ hóng, thuốc mồi, móng nước…

-chuyển từ âm cổ b qua âm kim v như bó ngựa = vó ngựa, con bọp = con vọp (con trăn)…

-chuyển từ d qua nh như  dìn = nhìn, dòm = nhòm, nom; dè dẹ = nhè nhẹ

……

Dĩ nhiên cũng có hiện tượng biến âm lịch sử giữa N và L. Vì như đã biết âm N là âm cổ, là một âm nòng ( âm, mẹ, nước) dùng nhiều thời mẫu quyền và âm L là âm kim, một âm nọc (dương, mẹ, cha). Vì tiếng Việt có mang tính nòng nọc, âm dương (Tiếng Việt và Dịch) nên tôi còn gọi hiện tượng này là hiện tượng nam hóa, dươngb hóa âm N thành âm L (xem Hiện Tượng Nam Hóa Trong Tiếng Việt).

Xin lưu tâm:

Hiện tượng biến âm lịch sử hay nam hóa từ N qua L thường thường là hai từ đều có nghĩa cùng gốc nghĩa như nhau, chỉ khác nhau ở tính cổ và kim, âm và dương mà thôi.

Xin đưa ra một vài ví dụ:

 NÁC/LÁC

Từ lác đác chỉ mưa lưa thưa vài giọt nước. Lác biến âm với với nác là nước. Lác ở đây vẫn có nghĩa là nước, liên hệ với nước. Darlac là vùng có hồ nước, ở Đà Lạt có hồ Lac. Theo qui luật từ đôi của tôi, qua từ lác đác, ta có lác = đác. Mường ngữ đác, đắc, Môn ngữ đak là nước. Đác biến âm với đước, cây đước là cây mọc dưới đác, dưới nác, dưới nước.

.NÁC/LÁC

Cỏ nác là loại cổ mọc dưới nác, dưới nước, miền Bắc gọi là cói. Ngày nay nói là cỏ lác. Ở đây lác vẫn có nghĩa là nước, liên hệ với nước.

NÀNG/LÀNG

Thời mẫu hệ ngày xưa người cổ Việt gọi ngôi nhà cộng đồng là nhà nàng (nhà nạ, ná… nhà mẹ, nhà cái), ngày nay chúng ta theo phụ hệ nên gọi là nhà làng (nhà thanh niên, phái nam, nhà đực). Từ làng chính là biến âm của từ lang. Ngày nay nhà làng chính là nhà lang. Người Mường ngày nay vẫn còn gọi ngôi nhà công đồng là nhà lang, trong khi chúng ta ngày nay gọi là nhà đình. Từ đình chính là biến âm của từ đinh (con trai như tráng đinh, thành đinh) cùng nghĩa với từ lang.

………

Hiện tượng biến âm lịch sử hay nam hóa N thành L này cũng thấy giữa Việt ngữ và các ngôn ngữ mang dương tính cực đoan như Ấn Âu ngữ và Hán ngữ.

-Ấn Âu ngữ và Việt ngữ

-Nọc/Lộc/Log

Log chỉ khúc gỗ, thân cây, phần thân cây đã chặt bỏ hết cành lá: backlog, khúc cây lớn phía sau lò sưởi.

.log = lộc, thường hiểu theo nghĩa lệch là lá non như đâm chồi nẩy lộc, hái lộc đầu xuân (mùa xuân cây thường ra lá non, ra lộc và lộc cũng có nghĩa là lộc may mắn vì thế mới hái lộc để có lộc. Lộc may mắn chính là lucky, xem chữ này). Tuy nhiên lộc cũng còn có nghĩa là thân cây trơ trụi lá như log, đến mùa xuân lại đâm chồi nẩy lộc như thấy qua bài ca dao:

            Bồng bồng cái lộc ra hoa,

            Một đàn vợ lính chẩy ra thăm chồng…

Từ lộc ở đây phải hiểu là thân cây trơ trụi lá tức log. Cây mới ra hoa. Có những loài cây mùa đông rụng hết lá chỉ còn thân cây lộc, log và đến mùa xuân lại ra hoa rồi mới ra lá như hoa đào, hoa mơ, hoa mận. Vì thế cái lộc ra hoa chỉ các lọai cây này. Còn hiểu lộc là lá non, theo tôi, không đúng. Lá non làm sao mà ra hoa được.

Log biến âm Việt ngữ lộc, nọc.

-Nọc/ Nog/Lock (khóa) có gốc từ Việt ngữ nọc, là dạng biến âm, nam hóa của nọc. Lock ruột thịt với log với nog (nọc cài cửa, cây chốt, cây ngạc bằng gỗ). Nog chính là Việt ngữ nọc. Khóa nguyên thủy chỉ là một cây nọc cài, cây then cài.

Như thế lock là biến âm của nog, Việt ngữ nọc.

.Ne/Lait

Như đã nói ở trên, Việt ngữ ne là nước biến âm với Pháp ngữ lait /le/, sữa. Sữa là nước vú, địa danh Dakto có nghĩa là Nước Vú, tức Sữa.

…….

.Giữa thuần Việt và Hán Việt.

Nang/Lang

Quả cau, Mường Việt cổ gọi là quả “nang”; “mo nang” là cái bao bọc hoa cau. Nang có một nghĩa là “trứng”. Quả cau, quả “nang” hình trứng, khi bổ đôi trông giống quả trứng luộc bổ dọc. Mã Lai ngữ nang chỉ cau như đảo Pinang hay Penangđảo Cau. Người Trung Hoa không ăn trầu cau, nguyên thủy trong ngôn ngữ của họ không có từ chỉ cau nên họ biến âm từ “nang” của Việt Mường cổ thành “lang”,  gọi cau là “binh lang”. Trong truyện Trầu Cau, Lang sinh chết biến thành cây cau vì Hán Việt Lang có nghĩa là cau, Tân Sinh chết biến thành tảng đá vôi (Tân có gốc Ta- là đá). Nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu trong bản nhạc Truyện Trầu Cau cho Lang sinh chết biến thành tảng đá là sai.

Nọc/Lộc

Hán Việt lộc là con hươu chính là con nọc tức con hươu (con đực, con sừng) của Việt ngữ. Con hươu được gọi tên theo chiếc sừng. Việt ngữ hươu, hiêu, hươu là con hèo (nọc), Mường ngữ hẻo là húc (bằng sừng). Anh ngữ hươu đực là hart = gạc (h=g, hồi = gồi), Pháp ngữ cerf, hươu = kẻ, nọc (c=k).

Con nọc (hươu cọc, hươu sừng) biến âm qua Hán Việt là lộc (hươu sừng). Cổ Việt nọc, cọc là con hươu nọc, hươu sừng. Trò chơi Bầu Cua hiện nay thường gọi sai là Bầu Cua Cá Cọp vì không có con cọp mà phải gọi là Bầu Cua Cá Cọc vì có con hươu cọc (xem Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc).

Nõ/Lỗ

Thời An Dương Vương chế được cái nỏ bắn ‘liên xạ”, bắn được nhiều mũi tên liên tục, người chế “nỏ  thần“ được gọi là Cao Lỗ. Ngày nay còn các địa danh như thôn Phù Lỗ, Kim Lỗ, Lỗ Khê ở vùng Cổ Loa. Rõ ràng Hán Việt Lỗ là dạng nam hóa của từ Nỏ.

 Nác/Lạc

Từ “nác” (nước) Hán Việt hóa thành Lạc, nước dương, nước lửa như thấy qua từ dầu lạc là chất lỏng để đốt đèn. Dầu lạc là “nước lửa”, nước dương ép ra từ đậu lạc (đậu phụng). Ruộng nác (ruộng nước) là ruộng Lạc, Lạc điền. Dân làm ruộng nác là dân Lạc.  Lạc Long Quân là vua Rồng Nước dương (nước biển là một thứ nước dương) vì  thế mà Lạc Long Quân có một khuôn mặt là Thần Biển. Cũng xin nhắc lại Lạc Long thuộc dòng âm, nước nên gọi là Quân chứ không gọi là Vua, Vương như Kinh Dương Vương, Hùng Vương (Nguyễn Xuân Quang, Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt, 1999).

Na/La

Việt ngữ na là lưới: quả na là quả lưới vì vỏ có mắt lưới. Miền Trung Namgọi sai là măng cầu, mãng cầu, thật ra phải gọi là mạng cầu tức thứ quả hình cầu tròn có vỏ hình mạng lưới. Na biến âm Hán Việt la, lưới (thiên la địa võng).

……

-Ảnh Hưởng của Hán Việt

Như đã biết có hiện tượng nam hóa khi chuyển từ âm N Việt qua âm L Hán Việt như thế Hán Việt có thể  đóng một vai trò trong khuynh hương nói L nhiều hơn ngày nay.

-Ảnh Hưởng của Ấn Âu Ngữ

Xã hội Tây phương theo phụ quyền cực đoan vì theo

Thiên Chúa giáo ngày nay nói nhiều vần L hơn N như đã thấy có sự chuyển âm N Việt ngữ qua âm L Ấn Âu ngữ ở trên, nên Ấn Âu ngữ có thể giữ một vai trò trong khuynh hướng nói L nhiều hơn trong Việt ngữ ngày nay.  Thêm một điểm nữa là các tu sĩ Tây phương khi ghi âm tiếng Việt đã vô tình dùng âm L của họ hay nói để ký tự các âm N cổ của Việt ngữ.

CÓ NÊN SỬA HAY KHÔNG?

 1.   không nên

 Như đã thấy đây không phải là nói ngọng mà là một thổ ngữ, một phương ngữ. Ta phải bảo tồn vì:

-N là âm cổ, một địa khai, một hóa thạch ngôn ngữ (language fossil),  phải bảo tồn cổ ngữ để tìm hiểu biến âm lịch sử trong Việt ngữ, ngôn ngữ thế giới và giữa Việt ngữ và ngôn ngữ loài người.

-là một phần văn hóa cổ của những vùng đó.

-âm N là âm mẹ cho biết những vùng nói nhiều âm N còn giữa truyền thống mẫu hệ từ ngày xưa.

-âm N là âm vùng sông nước cho biết các tộc còn nói nhiều âm N thuộc về ngành nòng, nước ứng với Thần Nông, Lạc Long Quân. Trong Bách Việt các tộc còn nói lẫn lộn N/L thuộc dòng nòng âm, nước tức Bộc Việt (Bộc hiểu theo nghĩa Bọc, túi nang, Nòng). Các vùng ở Bắc Việt Nam còn nói lẫn lộn có thể là các tộc thuộc Bộc Việt, bằng chứng thấy rõ nhất là người Hẹ là một thứ Bộc Việt họ nói lẫn lộn N/L rõ nhất, nhiều nhất…

-âm N còn giữ gốc cổ, âm cổ còn thấy rõ nghĩa ngay, còn có nghĩa sẽ giúp nhiều trong việc nghiên cứu về tầm nguyên nghĩa ngữ trong ngôn ngữ Việt.

…..

 2.   Nên sửa

  Tuy nhiên cũng có những khía cạnh cần phải sửa:

-vì phải theo đà tiến hóa của ngôn ngữ loài người, xã hội hiện nay là xã hội phụ quyền cực đoan nên âm của tiếng nói cũng phải nam hóa, nghĩa là N nam hóa thành L. Chúng ta khó lội ngược dòng lịch sử biến âm. Chúng ta phải nói theo những tiến hóa về cơ thể học của những phần có liên hệ tạo ra tiếng nói như lưỡi, môi, họng hộp âm thanh… (những phần này của người cổ khác người kim hiện nay).

-phương ngữ cũng nói sai vì tiếng nói đã bị sai lệch  của một vài địa phường khi đã rời xa vùng kinh đô có tiếng nói chuẩn.

-vì có khuynh hướng nói theo phản xạ, nói theo dễ dãi, theo tập quán nhiều khi quen miệng, nói bừa bãi, âm L nào cũng nói N nên nói sai nghĩa ví dự lửa mang dương tính phải nói là lửa thay vì nói nửa. Nói nửa sẽ lầm lẫn với nửa (half).

Nói sai thì cần phải sửa lại theo tiếng nói chuẩn.

Như thế ta thấy vừa nên và vừa không nên sửa. Vậy cách hay nhất là phải sửa chọn lọc.

 SỬA CHỌN LỌC DỰA VÀO NHỮNG QUI TẮC NÀO?

 -Phải giữ lại thổ ngữ, phương ngữ, không thể xóa ngọng N/L một cách toàn diện.

-Phải có một tiêu chuẩn về N/L.

-Sửa theo tính nòng nọc, âm dương.

Chỉ sửa những phần sai của âm N và L dựa vào tính nòng nọc, âm dương của Việt ngữ.

-Sửa theo nghĩa ngữ.

Phải sửa theo nghĩa ngữ nguyên thủy ví dụ nếu N có nghĩa còn âm L vô nghĩa thì lấy theo âm N và ngược lại ví dụ mũi nõ thay vì mũi lõ.

Phải có một ủy ban ngôn ngữ học truy tìm tính nòng nọc, âm dương và nghĩa gốc của các từ có âm N và L trong Việt ngữ và lấy đó làm tiêu chuẩn để sửa.

-Phải sửa theo hai chiều, phải công bằng, thiểu số

nói âm N theo thổ ngữ, phương ngữ của họ mà đúng

nghĩa thì đa số cũng phải theo ví dụ nên nói mũi nõ hơn là mũi lõ. Không thể lấy thịt đè người, cả vú lấp miệng em, dùng bạo quyền bắt người đúng phải nói theo luật rừng của đa số kẻ sai. Ngược lại nếu họ nói sai nghĩa thì họ phải theo đa số.

-Sửa theo đa số, luật đám đông.

Trong trường hợp tìm không ra được tính nòng nọc, âm dương và nghĩa ngữ, ta nên sửa theo luật đa số, luật của đám đông hay luật chuẩn được coi của tiếng nói hiện hành, đó là tiếng nói Hà Nội quí phái thanh lịch ngày xưa.

Những âm N hay L đã được dùng phổ quát trong quần chúng Việt đã thành nếp, thành ngữ pháp “ miệng“

(đa số bầu“ bằng miệng“) mà ta không tìm ra nghĩa gốc hay chưa tìm ra được nghĩa gốc thì ta dùng theo đám đông. Các người nói phương ngữ N hay L khi ra khỏi địa phương phải nói theo âm của đám đông dùng chuẩn nhưng khi về quê quán vẫn phải giữ thổ ngữ hay phương ngữ của mình. Cả nước nói cái nồi, thì khi ra khỏi làng xã họ phải sửa phải nói là cái nồi vì gần cả nước nói như thế, khi về quê quán muốn nói cái lồi cũng chẳng ai khó chịu vì cả làng cả tổng nói như thế và vì đó là một nét văn hóa đã có từ ngàn xưa của đất mẹ mình.

-Khi viết liên hệ với vấn đề học viện (viêt chính tả, đi thi, làm đơn từ xin việc, văn bản ngoại giao, kinh tế…) bắt buộc phải viết đúng theo ngữ pháp qui định, chuẩn về các từ có âm N và L.

-Sửa sai bắt buộc trong các trường hợp đặc biệt:

.trẻ em ở vùng không nằm trong phương ngữ hay bị trở ngại về ngôn ngữ.

.Các nhà mô phạm, dậy học, các xướng ngôn viên truyền thông, các nhà ngoại giao, lãnh đạo phải sửa sai.

.khi viết phải sửa N, L theo ngữ pháp, chính tả chuẩn.

Như đã nói ở trên, khi cần thì phải sửa theo ngữ pháp chuẩn đã được chấp thuận do một ủy ban nghiên cứu dựa vào tính nòng nọc, âm dương và nghĩa ngữ của các từ có âm N và L.

 ….

Dù gì thì ta cũng phải giữ thái độ “có học“ với các người nói phương ngữ cổ vì có những âm họ nói vẫn giữ đúng âm của tổ tiên Việt từ ngàn năm trước và vẫn giữ đúng nghĩa của âm đó. Họ là những địa khai, hóa thạch ngôn ngữ sống của tiếng Việt và cũng là những địa khai, hóa thạch quí giá cho các ngành khảo cứu khác.

Không nên chế riễu, nhái tiếng một cách mù quáng vì “chửi cha không bằng pha tiếng“, trong trường hợp chúng ta nói L vô nghĩa, chúng ta tự chửi cha mình vậy.

 

 

February 3, 2012

TRỒNG BÁCH VIỆT NGỌC LŨ I (8).

Filed under: Trống Bách Việt Ngọc Lũ I (8) — Quang Nguyen @ 6:01 am

 TRỐNG NGƯỜI MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG

BÁCH VIỆT NGÀNH VIÊM VIỆT NGỌC LŨ I.

(TRỐNG NHÓM MẶT TRỜI NỌC THÁI DƯƠNG LƯỠNG HỢP  TIỂU VÀ ĐẠI VŨ TRỤ).

(phần 8)

Nguyễn Xuân Quang

 Ý NGHĨA VÀNH CHIM THÚ TRÊN TRỐNG ĐỒNG ÂM DƯƠNG NGỌC LŨ I.

   

 Vành chim thú trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I.

Như ở trên ta đã thấy vành chủ yếu thứ 6 trên mặt trống đồng âm dương Ngọc Lũ I diễn tả cảnh sinh hoạt nhân sinh của ngành Người Mặt Trời nọc thái đương thuộc chủng Người Tiểu Vũ Trụ, sinh ra từ quả bầu vũ trụ.

Vành số 6 là số lão âm, âm thái dương cũng cho biết những người này mang tính mặt trời nọc, lửa thái dương mang tính chủ. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt thuộc họ Bách Việt nhánh Viêm Việt, đại tộc Kì Việt mang tính chủ ngành mặt trời Viêm Đế.

Vành giới hạn số 7

Vành này là vành sóng chuyển động vòng tròn có chấm (đọc theo chiều dương tức thiếu dương) hay chấm vòng tròn (đọc theo chiều âm tức thiếu âm) có tiếp tuyến. Tiếp tuyến ở đây mang nghĩa chuyển động, vận hành, sinh tạo, không có nghĩa là nước. Tiếp tuyến có tiếp điểm ở phía trên vòng tròn đi xuống nối với tiếp điểm ở dưới của vòng tròn kế tiếp nghĩa là tiếp tuyến dương. Ta đã biết chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình vòng tròn có chấm có nhiều nghĩa, ở cõi tiểu vũ trụ có thể có nghĩa là thiếu dương hay thiếu âm. Với tiếp tuyến dương ở đây mang nghĩa thiếu dương Li. Kiểm chứng lại ta cũng thấy vành này giống vành thiếu dương Li nằm trong cùng sát mặt trời ở vùng các vành sinh tạo tứ hành. Thêm nữa, vành này là vành số 7 tức số Càn mang dương tính nhiều hơn là vành giới hạn cũng có sóng chuyển động chấm vòng tròn có tiếp tuyến ở vành thứ 9. Số chín là số Chấn mang âm tính. Do đó vòng tròn có chấm ở vành này mang nghĩa là thiếu dương Li.

Lưu ý

Ở đây vành giới hạn là vành sóng chuyển động vòng tròn có chấm hay chấm vòng tròn có tiếp tuyến trong khi ở các trống khác vành giới hạn là vành có chấm nọc cho biết thuộc phía nọc thái dương hay là vành trống không cho biết thuộc phía nòng thái âm. Vành giới hạn ở đây cho biết thuộc phía thiếu dương hay thiếu âm.

Vành giới hạn số 7 này mang nghĩa thiếu dương cho biết vành chim thú số 8 mang tính thiếu dương Li mang tính chủ nghĩa là những con hươu mang tính chủ.

Điểm này cũng cho thấy khuôn mặt thế gian hươu Li tức Xích Quỉ Kì Dương Vương mang tính chủ.

 Vành số 8 chim thú

Kế tới là vành chim và thú số 8. Chim thú trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I mang khuôn mặt biểu tượng tức chim thú biểu, vật tổ nghĩa là ta phải hiểu theo ý nghĩa biểu tượng trong Vũ Trụ giáo.

Loài vật, chim thú trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn cũng như các yếu tố khác như người, nhà, trống… đều mang trọn vẹn ý nghĩa triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh của Vũ Trụ giáo.

Những loài vật dùng làm biểu tượng hay mang ý nghĩa biểu tượng không nhất thiết phải giống y chang những loài tương ứng có trong thiên nhiên, ví dụ con quạ vàng kim ô, biểu tượng cho mặt trời, con rùa vàng kim qui biểu tượng cho nước dương, biển (Lạc Long Quân có một khuôn mặt Thần Biển Kim Qui giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa), trong thực tế không có quạ vàng hay rùa mầu vàng kim loại. Con quạ ba chân biểu tượng cho mặt trời lửa thái dương (Càn), trong thực tế không có con quạ nào có ba chân.

Số 8 là số Khôn tầng 2 thế gian như thế chim thú ở vành này có khuôn mặt Khôn hôn phối với Càn tức khuôn mặt sinh tạo tạo hóa. Do đó ta thấy ngay chim ở vành 8 này mang tính Khôn dương thế gian tức thiếu âm mang tính chủ và thú mang tính Càn thế gian tức thiếu dương mang tính chủ.

Lưu ý

Số vành và tính chất của vành trên các trống đồng nòng nọc, âm dương chính thống đều mang ý nghĩa ăn khớp với ý nghĩa nòng nọc, âm dương của trống, của trang trí các vành. Ví dụ trống Ngọc Lũ I này, mặt trống có 16 vành. Số 16 là số Khôn tầng 3 (0, 8, 16) mang tính thái âm thế gian, cho biết trống có khuôn mặt càn khôn sinh tạo, tạo hóa phía nòng âm. Người trên trống này thuộc chủng người tiểu vũ trụ con của tạo hóa đại vũ trụ  ngành mặt trời thái dương có khuôn mặt chủ là người đất dương thế gian. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là người Xích Quỉ Kì Dương Vương ngành Viêm Việt Viêm Đế họ Hồng Bàng Viêm Đế-Thần Nông thái dương.

Ở vành số 8 này, mỗi bán viên dương và âm đều có một nhóm chim và một nhóm hươu.

Bán viên dương của nhóm 7 người nhẩy múa có nhóm chim 6 con và nhóm hươu 10 con trong khi bán viên âm  nhóm 6 người nhẩy múa có nhóm chim 8 con và nhóm hươu cũng 10 con.

1. Nhóm chim ở bán viên dương 7 người nhẩy múa.

Nhìn tổng quát, chim, nhất là chim bay, biểu tượng cho Cõi Trên, Cõi Trời, Bầu Trời. Trong Vũ Trụ giáo, chim mang trọn ý vẹn nghĩa của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, của dịch ở Thượng Thế, Cõi Trên, Cõi Trời.

Ở thượng thế, cõi trời, tạo hóa, Đại tộc Việt sống ở vùng sông biển có chim nông và chim cắt là hai vật tổ tối cao biểu tượng cho Tạo Hóa, Sinh tạo ở Cõi Trên, Vũ Trụ, Bầu Trời Thế Gian. Chim cắt là chim Việt phía nọc, lửa, mặt trời và chim nông là chim Bộc (hiểu theo nghĩa Bộc là Bọc, túi, nang) phía nòng, nước, không gian (Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt, Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt, sẽ nhắc lại sơ qua ở dưới).

Như đã nói ở trên ở vành số 8 những con chim bay này chia ra làm hai nhóm: một nhóm 6 con và một nhóm 8 con cho thấy hai nhóm mang tính âm dương khác nhau.

a. Nhóm 6 con trên bán viên dương nhóm 7 người nhẩy múa.

Kiểm chứng lại ta cũng thấy rất rõ nhóm 6 con này ở vị trí ngay dưới nhóm 7 người nhẩy múa trên bán viên dương của mặt trống.

 

Nhóm 6 con chim ở ngay dưới nhóm 7 người nhẩy múa trên bán viên dương (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Vậy nhóm 6 con chim là những con chim mang tính âm thái dương (số 6 là số lão âm, âm thái dương). Chim âm thái dương đi với nhóm 7 người dương thái dương thuộc đại tộc lửa vũ trụ Càn thái dương (7 là số Càn).

Những con chim bay này có mỏ to, đầu to, đuôi ngắn. Chim có cái túi, cái nang dưới mỏ.

Chin nông trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I.

Con đầu tiên cái túi che hết chiều dài cái mỏ. Cái túi là nang, nông. Chim này là chim nang, chim nông. Trong thiên nhiên, chim nông cũng mỏ to, đầu to, đuôi ngắn. Trên hình khắc cũng giống như trong thực tế mỏ dài hơn nửa chiều dài cổ. Hình chim có túi dưới cổ Trên trống Ngọc Lũ I cũng bay ở thế liệng chứ không vỗ cánh, đầu rụt về phía sau, mỏ hạ xuống phía cổ. Đây chính là những nét đặt thù của chim nông: “the birds fly with the head drawn back and bill resting on the front of the neck” [Chim nông khi bay đầu rút về phía sau, mỏ tựa xuống phía trước cổ (Jan Hanzák and Jiri Formánek, The Illustrated Encyclopedia of Birds, tr.47)]. Chim nông chân ngắn nên khi bay không thấy chân, giống như hình chim ở đây.

Một mấu chốt chính nữa là những con chim này có con mắt âm diễn tả bằng chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình vòng tròn kép đồng tâm có chấm. Hai vòng tròn là hai nòng âm, thái âm có một nghĩa là nước. Con chim này phải là loài chim nước giống như chim nông là loài chim nước chân có màng như chân vịt.

Có tác giả như Goloubev cho rằng các con chim bay trên trống Ngọc Lũ I này là chim cắt hornbill [Goloubev, 1929:1932a; and 1940 dẫn lại (Kempers, p.172)]. Điều này không đúng, chim cắt là chim dương con mắt phải là con mắt dương tức “vòng tròn có chấm” và thường có mũ sửng trên đầu như thấy ở trống đồng nòng nọc, âm dương Duy Tiên (xem trống này). Điểm thứ hai là những con chim này ở vành số 8 Khôn tầng hai thế gian có một khuôn mặt thái âm nước nên có khuôn mặt chính là âm, nước tức chim nông.

Con chim ở đây phải thuộc về loài chim ngành Khôn, theo duy âm là con chim biểu tượng cho Khôn âm, tức chim nước, chim nông. 

Lưu ý ở mỏ chim có chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) >, mang nghĩa, lửa thái dương. Những con chim nông ở đây thuộc ngành thái dương. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là ngành Thần Nông thái dương.

Ở cổ chim có viết chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình nọc que cong như đuôi diều bay trong gió (nọc que cong mang âm tính) nên chim có thể có một khuôn mặt Khôn dương thiếu âm gió mang tính chủ.

Như đã nói ở trên, chim nông ở trên trống đồng nòng nọc, âm dương phải mang trọn vẹn ý nghĩa của Vũ Trụ Tạo Sinh của Vũ Trụ giáo về phía nòng âm.

.Chim nông biểu tượng hư vô, vô cực.

Ở tầng Vô Cực chim nông biểu tượng cho cõi hư vô. Theo biến âm n=kh (nỏ = khỏ, Pháp ngữ non = Việt ngữ không), ta có nông = không. Chim nông có một khuôn mặt biểu tượng cho hư không, vô cực. Vì vậy mà trên các thạp đồng dùng trong mai táng như thạp đồng Hợp Minh (xem dưới) có khắc hình chim nông với một nghĩa là giúp cho hồn người chết trở về hư vô, hằng cửu.

.Chim nông biểu tượng cho nhất thể thái cực, Trứng Vũ Trụ.

Ở tầng Tạo Hóa, sinh tạo chim nông mang nghĩa sinh tạo tạo hóa thấy rõ qua tên chim nông là chim nang với nang có một nghĩa là trứng. Trứng có nòng nọc, âm dương mang nghĩa sinh tạo.

Chim nông có hai khuôn mặt nòng nọc, âm dương. Nhìn theo duy âm tức nhìn theo cái túi, cái nang dưới mỏ là chim nông mang âm tính nòng. Nhìn theo duy dương tức nhìn theo cái mỏ to, lớn mang dương tính nọc. Vì thế ở những đồ đồng Đông Sơn muộn ta thấy chim nông được diễn tả có mỏ hình nọc tam giác,  mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) ví dụ như là ở giữa hai hình thuyền  trên thạp đồng Hợp Minh cũng có hai con chim bay từ dưới nước lên trời có mỏ loại này. Hai con chim ở đây mặc dù có mỏ rìu nhưng bay từ mặt nước giữa hai chiếc thuyền lên trời phải là hai con chim nông, không thể là chim cắt được (xem dưới).

Cũng chính vì chiếc mỏ nhìn theo duy dương được dùng làm biểu tượng cho bổ, búa, rìu này mà triết gia Hy Lạp Aristotle đã đặt tên chim là pelican dựa vào gốc Hy Lạp pelekusax, cây rìu, cây búa, cây bổ (cùng gốc nghĩa với pelekos, chim gõ kiến).

Người Tây phương theo duy dương đặt tên pelican theo mỏ ax. Chúng ta theo duy âm nghiêng nhiều về mẫu hệ, sống ở vùng sông nước gọi theo cái nang là chim nông. Vì thế nhìn dưới diện nhất thể, tức nhìn theo cả túi và mỏ là một, chim nông mang lưỡng tính bổ-nông. Chim nông nhất thể mang tính sinh tạo, tạo hóa, đẻ ra Trứng Vũ Trụ (như đã nói ở trên nông biến âm với nang có một nghĩa là trứng). Mẹ Tổ Âu Cơ có di thể (gene) trứng này hay nói một cách khác đội lốt Mẹ chim Nông Vũ Trụ, Trứng Vũ Trụ nên mới sinh ra bọc Trứng Thế Gian Trăm Lang Hùng.

Chim nông tên Hán Việt là đường nga là loài chim chân có màng cùng loài ngỗng có tên Hán Việt là nga. Đối chiếu với truyền thuyết Ai Cập cổ, con Ngỗng Great Crackle sinh ra Trứng Thế Gian như thế con Nông đường nga sinh ra Trứng Vũ Trụ là điều đáng tin cậy vì truyền thuyết và cổ sử Việt tương đồng với Ai Cập cổ (xem Sự Tương Đồng Giữa Ai Cập Cổ và Cổ Việt).

Chim nông biểu tượng cho sinh tạo, tạo hóa cũng thấy trong các huyền thoại Tây phương. Chim nông là biểu tượng cho đấng sinh tạo, theo duy âm là mẹ hiền cao cả thiêng liêng đã xả thân mình để nuôi con. Gặp hoàn cảnh khó khăn chim nông mẹ đã mổ rách ngực mình để lấy máu nuôi con.

Chim nông mổ rách ngực lấy máu nuôi con trở thành biểu tượng cho Chúa Jesus (nguồn: Uliss Androvandi trong Ornithologae, Bologna, 1600).

Vì thế mà chim nông đã trở thành biểu tượng của đấng Christ trong Thiên Chúa (Jake Page and Eugene S. Morton, Lords of the Air, The Smithsonian Book of Birds tr. 36).

.Chim nông biểu tượng cho lưỡng nghi.

Nhìn dưới diện lưỡng nghi tức nòng nọc, âm dương đã tách ra thành hai cực nòng nọc, âm dương riêng rẽ, tức nhìn túi nang và mỏ riêng biệt thì chim nông có hai khuôn mặt biểu tượng cho cực âm nông (theo túi dưới mỏ) và cực dương bổ (theo mỏ lớn).

Ở tầng Lưỡng Nghi chim nông, chim nang Trứng Vũ Trụ tách ra hai cực: cực dương Nọc, lửa, mặt trời ngành nòng thái dương ứng với tròng đỏ của Trứng Vũ Trụ  và cực âm Nòng, nước, không gian.

Ở tầng lưỡng nghi này có thể dùng chim nông đực và cái hay với các chi tiết diễn tả theo nòng nọc, âm dương để diễn tả hai cực.

 

Hình chim nông đực bên phải được diễn tả có có bờm lớn, đỏ rất cường điệu mang dương tính, mỏ túi xịên thẳng nét hợp với mỏ tạo thành hình rìu, cổ đỏ, thẳng đứng hình nọc mang dương tính, thân bầu tròn. Trong khi con cái bên trái có bờm nhỏ, túi nang cong hợp với mỏ thành hình túi, cổ trắng, cong chỉ có vệt hồng, người thuôn dài mang âm tính. Trong túi mỏ hai con chim có con cá xác thực đây là chim nông.  Chim nông ở đây người tròn, đuôi ngắn giống như hình chim nông trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I (kỷ vật tác giả mua trong chuyến thám du Nam Cực).

 Lưu ý

Chim nông là chim nước nên nòng nọc, âm dương là của phía nòng âm Khôn. Ở cõi tiểu vũ trụ, phía cực dương nọc là dương của âm tức thiếu âm có một khuôn mặt là bổ nông và phía cực âm là âm của âm là thái âm có một khuôn mặt bồ nông.

.Chim nông biểu tượng cho tứ tượng.

Nhìn dưới diện  tứ tượng, chim nông cũng có bốn loại ứng với tứ tượng, Bốn Nguyên Sinh Động Lực Nguyên Khởi Chính, về vật thể là Nước, Khí, Lửa, Đất. Đó là tượng Lửa thái dương (có thể là loài hay được diễn tả bằng cổ hoặc mỏ đỏ), tượng Đất thiếu dương (có thể là loài hay được diễn tả bằng cổ hoặc mỏ vàng hay nâu), tượng Gió thiếu âm (có thể là loài hay được diễn tả bằng cổ hoặc mỏ trắng) và tượng Nước (có thể là loài hay được diễn tả bằng cổ hoặc mỏ đen). Trong chữ viết nòng nọc vòng tròn-que, cái nang dưới cổ chim được diễn tả theo những hình đa giác mang tính nòng nọc, âm dương khác nhau ứng với  tứ tượng ví dụ như thấy rõ ở đuôi thuyền trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I  (xem dưới).

Đi vào chi tiết, giống như ở nhóm 6 người, ta suy ra trong 6 con chim này có hai con là đại biểu cho hai phía âm dương, ngoại nội và còn bốn con còn lại ứng với Tứ Tượng của dòng nòng Khôn thái dương (xem phần Người ở trên và chương Ý Nghĩa Hình Người Trên Trống Đồng).

b. Nhóm 8 con trên bán viên dương nhóm 6 người nhẩy múa.

Ta suy ra ngay nhóm 8 chim nông ở vị trí dưới nhóm 6 người nhẩy múa trên bán viên âm của mặt trống là những con chim nông nước thái âm (số 8 là số  Khôn, âm thái âm).

Ta cũng thấy hai khuôn mặt âm dương khác nhau của hai nhóm chim này ăn khớp hai khuôn mặt cái đực của những con hươu ở cùng vành số 8 này (xem dưới).

Điểm đáng tiếc là chỉ có hình vẽ chi tiết nhóm 6 con chim nông như thấy ở trên nhưng không có hình vẽ chi tiết nhóm 8 con nên không biết có gì khác nhau chuyên biệt giữa hai nhóm chim này không.

Theo suy luận thì vì có hai nhóm 6 mang tính thiếu âm gió và 8 mang tính thái âm nước thì các con chim này phải có hai loại chim nông gió bổ nông và chim nông nước bồ nông.

Tôi hy vọng một ngày nào được nhìn tận mắt cả hai nhóm chim này ngay trên hiện vật là trống trống Ngọc Lũ I hay có thêm được hình vẽ chi tiết của 8 con còn lại để giải đọc chi tiết từng con chim một.

Tóm tắt lại, những con chim bay ở vành số 8 trên trống Ngọc Lũ I là những con chim nông Khôn cõi trên thế gian ngành thái dương (có thêm khuôn mặt đội lốt Tạo Hóa cõi thượng thế). Những chim Khôn này chia ra làm hai nhóm: nhóm 6 con là nông thiếu âm Khôn dương và nhóm 8 con là nông thái âm Khôn âm.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt những con nông này là chim nông Khôn Nước-Gió của ngành âm ứng với Thần Nông thái dương đất dương thế gian. Nhóm 8 con biểu tượng cho Thần Nước dương Chấn và nhóm 6 con biểu tượng cho Nông khí gió Đoài.

Nhóm chim nông Thần Nông này đi với hai nhóm hươu Càn Li ứng với Viêm Đế đất dương thế gian (xem dưới).

.Chim nông ở đuôi thuyền:

Đuôi thuyền trên trống Ngọc Lũ I và các trống họ hàng như trống Hoàng Hạ có hình đầu chim. Đầu chim này có con mắt âm “hai vòng tròn đồng tâm có chấm” và cái túi dưới mỏ đã thể điệu hóa thành hình đa giác cho thấy đây là đầu chim nông.

Ví dụ ở đuôi thuyền số 6 trên trống Ngọc Lũ I dưới đây có đầu chim nông.

Đuôi thuyền đầu chim nông của thuyền số 6 này có con mắt âm hai vòng tròn đồng tâm có chấm và túi nang hình tháp có phụ đề với nhiều đường sọc song song nghiêng âm là chim nông nước dòng Li dòng nòng âm. Bờm chim có những sợi lông dài như tia sáng mang dương tính Càn dòng âm nước. Đầu chim nông này diễn tả nhánh Li-Càn của dòng nòng, nước.

Túi nang dưới cổ hiệp (accord) với tính âm dương của con thuyền có hình dạng khác nhau ở mỗi đuôi thuyền ví dụ ở đuôi thuyền số 1 có hình mũi mác, hình búa mỏ chim, mỏ rìu mang dương tính tối đa. Đây là con chim bổ nông dòng nước.

 

Đầu chim bổ nông hình búa rìu ở đuôi thuyền số 1 trên trống Ngọc Lũ I.      

Lưu ý là sau đuôi những con thuyền hình chim nông có cây cọc khắc những hình đầu chim cắt có con mắt dương “vòng tròn có chấm”. Chim nông đi cặp với chim cắt ở dạng lưỡng hợp thiếu âm-thiếu dương ở cõi tiểu vũ trụ (vì ở đuôi thuyền nên là tiểu) (xem chương Hình Thuyền Trên Trống Đồng).

Như thế con chim ở đuôi thuyền chắc chắn trăm phần trăm là chim nông vì hôn phối với chim cắt ở cây trụ ngay sau đuôi thuyền theo dạng hôn phối tiểu vũ trụ thiếu âm bổ nông với thiếu dương bồ cắt. Trong khi ở mũi thuyền có dạng lưỡng hợp đại vũ trụ thái âm đầu rắn nước há miệng với chim rìu, chim cắt thái dương lao vào miệng rắn (xem chương Hình Thuyền Trên Trống Đồng).

Chim nông thấy trên trống đồng âm dương và đồ đồng Đông Sơn khác.

Không phải chỉ trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I có chim nông mà chim tổ nông còn thấy trên nhiều trống và các đồ đồng Đông Sơn khác.

a. Trống đồng Hoàng Hạ.

.Ở tang trống, bên thuyền có hình hai con chim mỏ phình to như cái túi, cái nang đứng trên một vật nổi.

Có tác giả cho đây là hai con chim tha mồi nên mỏ phình to như cái nang, cái túi. Quan sát kỹ ta thấy rõ một điểm không còn tranh luận, không còn chối cãi nữa là hai con chim này đang ở thế đạp mái. Con sau đứng trên lưng con trước ở vị thế đạp mái.

Đây chắc chắn không phải là hai con chim đang tha mồi. Theo sự hiểu biết của chúng tôi, không có loài chim nào vừa tha mồi vừa đạp mái! Đang tha mồi nuôi con thì đâu đã “nghĩ” đến chuyện đẻ thêm lứa con nữa. Còn nói tha mồi để ăn thì vừa đạp mái vừa ăn chỉ có nước chết vì sặc thức ăn. Đây là hai con chim đang đạp mái, chim mỏ có túi, chỉ có thể là hai con chim mỏ nông không thể nào là loài chim gì khác. Người nghệ sĩ tuyệt vời nào đó đã cho ta một cái “chìa khóa vàng” để nhận diện ra loài chim này là động tác đạp mái (xem giải đọc trống đồng Hoàng Hạ).

Hai con chim này có mắt âm là vòng tròn kép có chấm giữa và trên người có phụ đề hai vòng tròn kép. Vòng tròn kép đồng tâm có một nghĩa là thái âm nước. Đây là loài chim nước. Con chim nước mỏ có túi nang là con chim nông. Những chấm nọc dương có nghĩa lửa, thái dương cho biết những con chim nông này thuộc ngành nọc mặt trời thái dương. Tóm lại tổng quát chim có con mắt âm hai vòng tròn đồng tâm có chấm là chim nông Khôn nước ngành dương.

Ta cũng thấy rõ chim này đứng bên thuyền ở tang trống là chim nước. Vật nổi mà chim nông đứng ở trên có “phụ đề” hình sóng chuyển động cho biết vật nổi này nằm trên sóng nước và hai con chim là loài chim nước, ăn khớp với chim nông trăm phầm trăm.

Lưu ý con đực đang đạp mái có mỏ túi hình rìu mũi nhọn nọc trong khi con mái mỏ nang hình túi nòng, trong có các chấm nọc mang nghĩa thái dương.

.Ở phía đuôi thuyền có hình hai đầu chim. Đuôi thuyền hình đầu chim có con mắt âm hai vòng tròn có chấm cho biết con chim này là chim nước, dưới mỏ có túi nang hình thể điệu hóa thành hình thang có mũi nhọn mang dương tính trong có hai nọc que lửa, thái dương. Vậy đây là đầu con chim có nang O mang dương tính thái dương II tức thái dương của nòng âm O, Khôn thái dương hay quẻ Đoài vũ trụ khí gió IIO. Ta cũng thấy IIO = dương I và thiếu âm khí gió IO tức khí gió dương (Đoài vũ trụ).

Mỏ lớn trong có đánh dấu các chấm nọc dương cho biết mỏ mang tính nọc dương. Như thế đây là đầu con chim bổ nông.

Sau đuôi thuyền hình đầu chim bổ nông này có hình một đầu chim khác. Đầu chim thứ hai này có con mắt dương chỉ có một vòng tròn có chấm cho biết đây là con chim dương lửa. Mỏ lớn trên có bờm như sừng.  Đây là đầu chim cắt.

Như thế ở đuôi thuyền có dạng lưỡng hợp tiểu vũ trụ  thiếu âm bổ nông với thiếu dương bồ cắt. Trong khi đầu thuyền có hình chim rìu thái dương lao vào mũi thuyền hình đầu rằn thái âm há miệng ở dưới dạng lưỡng hợp đại vũ trụ thái dương với thái âm (xem trống đồng âm dương Hoàng Hạ).

b. Chim nông trên trống Hòa Bình

Ở vùng nước tại phần phình tang trống Hòa Bình có những con chim nông đứng.

Trng Hòa Bình nhìn ngang (Nguyễn Văn Huyên).

 Chủ điểm của tang trống là những con chim đậu trên mặt đất. Những con chim đứng ở vùng nước này bắt buộc trăm phần trăm phải là loài chim nước. Chim đứng cho thấy chim biểu tượng cho cõi trời của đất thế gian chứ chim không bay nên không biểu tượng cho cõi trên, vũ trụ. Vậy đây là loài chim nước đất thế gian. Mắt chim chỉ có một vòng tròn là mắt dương. Chim có mỏ rất lớn mang dương tính nhưng đầu mỏ tròn không nhọn mang âm tính tức dương của ngành nòng âm, nước.

Chân chim thấp lè tè như vịt, chim đứng bụng thấy sát mặt đất, hai cánh xoải rộng ăn khớp với chim nông.

Những con chim này là con chim nông.

Trên cổ và người chim có các hình nọc chấm mang ý nghĩa nọc, lửa, mặt trời nguyên tạo cho biết chim thuộc ngành nọc thái dương.

Những con chim nông này mang tính dương tức nông khí gió hay là chim bổ nông.

c. Chim trên trống Phú Xuyên.

-Chim ở tang trống.

.Chim và thuyền trên thân trống Phú Xuyên (Nguyễn Văn Huyên).

Chủ điểm của tang trống là hai hình thuyền và hình chim.

Sau con thuyền có 3 người có một hình chim đứng. Chim đứng sau thuyền phải là loài chim nước. Chim nước có mỏ dài nhọn mang dương tính nọc (có một nghĩa là vật nhọn như bổ, búa). Đuôi ngắn, thân to, chân thấp. Chim mang vóc dáng của chim bổ nông.

Chim ở đây không thấy cái túi dưới mỏ chỉ có mỏ mang dương tính cường điệu là con bổ nông bởi vì trống này là trống nọc, lửa Kì Việt mang dương tính cực đại.

Chim đứng sau đuôi thuyền cũng mang âm tính (đuôi thuyền là âm, đầu thuyền là dương, thuyền trên trống đồng thường chuyển động theo chiều dương, chiều mặt trời) cũng cho biết chim thuộc đại tộc nọc thiếu âm (thái dương của nòng âm).

Một hai yếu tố nữa hỗ trợ cho thấy chim này là chim bổ nông thiếu âm là thuyền này có 3 người là thuyền của tộc thiếu âm gió Đoài (số 3 là số Đoài). Số 1 con chim là số lẻ số dương cũng cho biết chim mang khuôn mặt dương của ngành nòng tức thiếu âm.

Ở thuyền 4 người có hai hình chim đứng.

Hình thuyền có 4 người.

 Lưu ý 4 người với số 4 là số chẵn, số âm và 2 chim với số 2 cũng là số chẵn, số âm ta thấy ngay thuyền mang âm tính tức thuộc về nòng Khôn. Như thế một con Khôn dương tức thiếu âm gió và một con Khôn âm tức thái âm nước.

Chim đứng ở đầu mũi thuyền là loài chim nước có mỏ dài nhọn mang dương tính cường điệu, cổ ngắn, chân ngắn, đuôi ngắn có các sọc nước. Đây là con bồ nông thái âm (đứng phía dương đầu mũi thuyền và thuyền mang tính thái âm).

Trên người có những chấm nọc cho biết chim là con đực, ngành lửa, thái dương.

Chim đứng ở đuôi thuyền chỉ khác chim đứng ở mũi thuyền là có đuôi dài hình lông chim biểu tượng cho khí gió. Đây là dạng thể điệu hóa để diễn tả tính chất gió thiếu âm.

Hai con chim này diễn tả hai khuôn mặt nòng nọc, âm dương của ngành nòng Khôn.

Nhìn tổng ta thấy chim mang biểu tượng cho khuôn mặt nọc, lửa thiếu âm Đoài và nọc, lửa thái âm Chấn của ngành nọc âm. Trong khi trên mặt trống hươu sủa mang gạc biểu tượng cho nọc, lửa thiếu dương Li và cò bay biểu tượng cho nọc, lửa thái dương Càn.

Ta thấy rất rõ ở vùng đất, trống này biểu tượng cho nọc thái dương Càn, nọc thiếu dương Li ngành nọc dương ứng với nọc mặt trời Viêm Đế và vùng nước biểu tượng nọc thái âm Chấn, nọc thiếu âm Đoài ngành nọc âm ứng với nọc mặt trời Thần Nông (xem trống Kì Việt Phú Xuyên).

Lưu ý

Ở đây là trống thuần dương Kì Việt nên chim nông có một khuôn mặt dương nhìn theo cái mỏ lớn dài nhọn mang dương tính nên chim không có túi nang dưới mỏ.

-Chim trên thân trống.

.Chim trên thân trống Phú Xuyên.

Thân trống có 8 ô, trong 6 ô có hình chim đứng, còn hai ô bỏ trống.

Ở đây hình vẽ hai con chim cũng mang dáng dấp hình chim đứng trước và sau thuyền. Một con xòe cánh, xòe đuôi như muốn bay diễn tả tính động mang dương tính và bay liên hệ với khí gió có thể là con bổ nông thiếu âm còn con kia đứng yên tĩnh mang âm tính là con bồ nông thái âm. Hai con chim này cũng diễn tả hai khuôn mặt nòng nọc, âm dương của Khôn.

d. Chim nông trên các đồ đồng Đông Sơn khác.

Hình bóng con nông cũng thấy rất nhiều trên các đồ đồng đông sơn khác.

Xin kể ra đây một ví dụ điển hình nhất là thạp đồng Hợp Minh (Yên Bái), trên nắp có bốn tượng chim nông và  ở thân thạp, vành số 8 có hàng chim nông mỏ hình rìu, hình búa, hình bổ tức chim bổ nông.

 

 Chim bổ nông trên thạp đồng Hợp Minh  (Yên Bái), hình vẽ của Hà Nguyên Điềm (Hà Văn Phùng,  Di tích Hợp Minh Yên Bái, một sưu tập sáng giá thuộc văn hóa Đông Sơn, Khảo Cổ Học, 4- 1995,  tr.26).

Vành chim nông ở thạp này mang vóc dáng y hệt các con nông trên trống Hòa Bình chỉ khác có chiếc mỏ tận cùng bằng hình nọc tam giác, mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói), hình mỏ rìu.  Ở phần giáp ranh giữa hai mối khuôn đúc có khắc hai chim nhỏ đang bay chúc xuống phía dưới trong tư thế phóng người xuống nước, đặc biệt nhất là cái mỏ hình mũi tên, tam giác, vật nhọn như chiếc bổ, chiếc búa chim. Nhưng rõ nhất là ở giữa hai hình thuyền cũng có hai con chim loại này bay từ dưới nước lên trời.

 

Hai con chim bổ nông bay từ mặt nước lên giữa hai thuyền trên thạp đồng Hợp Minh.

Hiển nhiên ta thấy đây là chim bổ nông nước. Hai con chim ở đây mặc dù có mỏ rìu nhưng bay từ mặt nước giữa hai chiếc thuyền lên trời phải là hai con chim nông, không thể là chim cắt được. Như đã nói ở trên, vì nhìn theo duy dương được dùng làm biểu tượng cho bổ, búa, rìu này mà triết gia Hy Lạp Aristotle đã đặt tên chim là pelican dựa vào gốc Hy Lạp pelekus là ax, chiếc rìu.

Những con chim bổ nông ở thạp này mang biểu tượng Cõi Trời âm của Cõi Âm Nước mang nghĩa sinh tạo, tái sinh, hằng cửu đối với những hồn người chết chôn trong thạp hay giúp đưa những linh hồn họ về Cõi Trời. Chim nông đẻ ra trứng hư không, vũ trụ. Thạp là vật dùng làm quan tài chôn những phần hay tro than người chết (dĩ nhiên là của giới vương quyền), cũng có hình trứng sinh tạo, một hình thức trống cõi âm. Đây là bọc, trứng hư không, vũ trụ. Con người được chôn trong trứng hư không vũ trụ để trở về với hư không vũ trụ, để được sống hằng cửu hay tái sinh.

Lưu ý

.Con chim bổ nông ở đây có mỏ bổ, búa rìu mang dương tính nên tác giả làm thạp khắc con mắt dương “vòng tròn có chấm” thay vì con mắt âm vòng tròn kép có chấm.

.Chim nông được nhìn dưới hại diện nòng nọc, âm dương theo cái túi nang và cái mỏ rìu là một ví dụ điển hình cho thấy tất cả những yếu tố của văn hóa Bách Việt lưỡng hợp Chim-Rắn, Tiên Rồng như vật tổ, nhân vật truyền thuyết và cổ sử Việt, vân vân… phải được nhìn dưới lăng kính trọn vẹn của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, Việt Dịch nòng nọc, âm dương hay ít nhất cũng phải được nhìn ở dưới diện lưỡng hợp nòng nọc, âm dương, Chim-Rắn, Tiên Rồng.   

e. Tượng đồng chim nông.

Ngoài ra còn có nhiều tượng đồng Đông Sơn hình chim nông.

Chim Nông Là Vật Tổ Của Bách Việt

Qua tác phầm Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt, Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt và nhiều bài viết khác, chúng ta đã viết rõ chim nông là vật tổ cõi thượng thế của Bách Việt phía nòng âm Thần Nông đối ứng với chim cắt phía Viêm Đế.

Ở đây chỉ xin nhắc qua vài chứng tích chính yếu.

.Chim nông đẻ ra Trứng Vũ Trụ, tiền thân của chim Âu Cơ sinh ra bọc trứng thế gian trăm lang Hùng. Như đã nói ở trên Nông biến âm với Nang có một nghĩa là Trứng. Chim nông có một khuôn mặt là chim đẻ ra Trứng Vũ Trụ.

Mã Lai ngữ chim nông gọi là undan. Ta thấy undan gần cận với Phạn ngữ anda, trứng. Mã Lai ruột thịt với Bách Việt.

Chim nông ngày nay thuộc họ dạng con nông đã xuất hiện cách đây từ hàng 100 triệu năm lên tới tận thời khủng long. Chim nông là loài chim ngày nay còn mang hình thù cổ quái của các loài khủng điểu ngày xưa.

Về chim học (ornithology) con nông là loài chim sống ở vùng sông hồ nước ngọt và bờ biển. Vì thế chim nông đích thực là chim tổ của Bách Việt sống ở vùng sông biển. Trung Hoa sống ở vùng khô, không có chim nông, họ lấy vật tổ là con chim lửa, chim phượng.  Trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn có vật tổ chim nông là trống của Bách Việt.

Vật tổ chim nông còn thấy chứng tích qua:

1. Sử Miệng Ca dao “Ngàn Năm Bia Miệng”

.Chim nông là vật tổ đứng hàng đầu như thấy qua bài đồng dao nói về vật tổ chim của chúng ta:

Bổ nông là ông bồ cắt,

Bồ cắt là bác chim di,

Chim di là dì sáo sậu

Sáo sậu là cậu sáo đen

Sáo đen là em tu hú

Tu hú là chú bồ nông.

Bài hát có thể có nhiều dị bản nhưng dù là bản nào đi nữa thì bao giờ con nông cũng được xếp lên trên hết. Câu hát mở đầu này là câu mở đầu cổ sử Việt Nam về phương diện vật tổ chim. Điểm này cho thấy vật tổ chim nông đã được ghi vào ngàn năm bia miệng ca dao và là vật tổ chim tối cao của chúng ta (Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt).

.Con nông là vật tổ không được ăn thịt.

Con nông được tôn thờ như một vật tổ, được coi như một thứ hèm (theo qui luật biến âm h=k như hơi = khói, ta có hèm = khem có nghĩa là kiêng khem, kiêng kÿ tức taboo) không được ăn thịt còn thấy qua câu ca dao:

 Con cò con vạc, con nông,

Ba con cùng béo, vặt lông con nào?

Vặt lông con cốc cho tao,

Hành răm mắm muối cho vào mà thuôn.

Con nông vật tổ đẻ ra Trứng Vũ Trụ Tạo Hóa Thần Nông cho dù có ‘béo’ cũng không được ăn thịt, vật tổ là một taboo, một thứ cấm kỵ. Ở đây ta cũng thấy con cò con vạc cũng không được ăn thịt như thế cò vạc cũng là những vật tổ (xem phần nói về cò). Con cốc không phải là vật tổ của chúng ta nên ăn thịt được cho dù không thấy nói đến nó có béo hay không.

.Vật tổ chim Trứng của người Mường.

Trong bài hát tế “Đẻ Đất Đẻ Nước” của người Mường, có đoạn nói đến:

 Trời với đất còn dính làm một

……

Chưa có chim tráng, chim trủng.

Trương Sỹ Hùng Bùi Thiện cắt nghĩa chim tráng là loại diều hâu, không hiểu loài diều hâu gì vì nhiều loại. Chim trủng là loại chim hay kêu về tháng 2,3, kêu hai tiếng một não nuột (tập I tr. 732). Đây là giải thích theo ngày nay. Theo câu Trời với đất còn dính làm một, có nghĩa là khi trời đất còn trong trứng nước, còn là quả trứng vũ trụ thì chim ‘tráng’ là chim ‘chàng’, chim đục, chim rìu, chim cắt và chim ‘trủng’ là chim ‘trứng’, chim nang, chim nông. Chim trủng là chim trứng tức là con Nông đẻ ra Trứng Vũ Trụ (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

 2. Sử Đồng Đông Sơn

Như đã nói ở trên.

Chắc chắn còn nhiều di tích về con nông nữa trong văn hóa ViệtNamvà Bách Việt…

Như thế vật tổ chim tối cao tối thượng của chúng ta là con NÔNG. Con Nông là chim Trứng. Con Nông đẻ ra Trứng Vũ trụ. Vật tổ con Nông còn ghi lại trong sử miệng ca dao và trong sử đồng Đông Sơn như thấy ở trống đồng âm dương Ngọc Lũ I này. Đây là vật tổ chuyên biệt và đặc thù của chúng ta.

Kết Luận

.Những con chim bay ở vành số 8 trên mặt trống đồng âm dương Ngọc Lũ I là những con chim nông.

Ở nhóm 7 người nhẩy múa ở bán viên dương có nhóm 6 con nông. Sáu con này là những con nông âm thái dương (số 6 là số âm thái dương) tức dương của âm, thiếu âm ứng với gió dương Đoài vũ trụ.  Nhóm 6 con nông bay mang dương tính khí gió bổ nông này đi với nhóm 7 người nhẩy múa ở bán viên dương ăn khớp trăm phần trăm. Trong khi ở nhóm 6 người nhẩy múa ở bán viên âm có nhóm 8 con chim nông bổ mang âm tính (số 8 là số Khôn tầng 2) nước bồ nông cũng ăn khớp theo tính nòng nọc, âm dương trăm phần trăm.

.Các con chim nông này đang bay biểu tượng cho cõi thượng thế, cõi trời thế gian mang tính sinh tạo, tạo hóa ăn khớp với truyền thuyết chim nông, chim nang, chim Trứng Vũ Trụ.

.Vì là loài chim nước, các con chim nông bay này là chim biểu của phía nòng âm Khôn. Như đã nói ở trên chim cũng ở vành số Khôn 8 ăn khớp trăm phần trăm.

.Chim chia ra làm hai nhóm. Nhóm 6 con ứng với Khôn dương thiếu âm và nhóm 8 con ứng với Khôn âm thái âm.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, chim nông là chim biểu của ngành nòng Khôn Thần Nông và chia ra hai nhóm Khôn dương Nông và Khôn âm Thần.

.Trên mỏ chim có chữ nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) > cho thấy chim mang tính thái dương.

.Nhóm nông 6 con thiếu âm mang tính chủ vì ở bán viên dương, trên trống nọc mặt trời thái dương thế gian có 14 nọc tia sáng, ở cổ có chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình nọc que cong như đuôi diều gió và ở mỏ có chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình mũi tên thái dương.

.Những con chim nông trên mặt trống đồng âm dương Ngọc Lũ I còn theo chính thống hay còn tôn trọng nòng, âm hãy còn có cái nang ở dưới mỏ trong khi ở các trống muộn hơn cái nang đã thể điệu hóa hay đã hoàn toàn theo duy dương diễn tả theo cái mỏ lớn, mỏ rìu.

.Chim nông là loài chim nước là chim tổ tối cao về ngành nòng âm của Bách Việt sống ở vùng sông biển, tuyệt nhiên Trung Hoa không có. Trống đồng âm dương Ngọc Lũ I có hình chim tổ nông nước là trống biểu của Bách Việt nói chung và của Việ tNam nói riêng.

(còn tiếp).

HÌNH TIÊU BIỂU THÁNG HAI, 2012: TẾT TRẮNG NAM CỰC.

Filed under: 34 Hình T.B. Tháng 02-2012 — Quang Nguyen @ 5:54 am

HÌNH TIÊU BIỂU THÁNG HAI, 2012

TT TRNG NAM CC

Năm nay chúng tôi ăn Tết Nhâm Thìn, một cái Tết Trắng, ở Nam Cực (đón xem du ký Thám Du Nam Cực khởi đăng từ số tới).

Tết này ở rn địa cu,

Cột mốc Nam Cực South Pole (ở góc phải của hình).

Nam cực Anh ngữ phổ thông là South Pole. Pole cũng có nghĩa là cây cọc, sào, cột vì thế ở ngay “rốn” địa cầu tức tâm của chóp tận cùng Nam Cực có cắm mốc một cây cọc. Tới đây, chậy vòng quanh cây cột mốc này là ta đã đi được vòng quanh quả đất mà chỉ mất có một phút thôi.

Tết châu Nam Cc, trng mu tuyết pha.

Hình vệ tinh Nam Cực cho thấy 

98% lục địa Nam Cực bao phủ bởi đá băng, tuyết.

Trng mung lung, trng bao la,

Trng băng sa mc, băng hà, băng sơn.

 

Băng hà Amalier có mầu lơ xanh da trời đậm .

Lục địa Nam Cực được coi như một sa mạc băng tuyết. Mưa rất ít, là lục địa khô nhất.

Băng hà: dòng sông băng đá.

Băng sơn: núi băng vỡ ra từ những bãi đá  băng (ice shelf) hay từ băng hà, trôi trên mặt biển. Phần nhô khỏi mặt nước chỉ bằng 1/9 của cả khối băng (8 phần ở dưới nước) vì thế Anh ngữ có câu ‘tip of the iceberg’.

Rét t vũ tr khai ngun,

Lnh t thiên c gi còn ct da.

Nam Cực là lục địa lạnh nhất. Mùa đông vùng trong nội địa có thể xuống tới cực tiểu là -80 tới -90 độ C (-112 tới -130 độ F).

Mùa hè vùng duyên hải có thể lên tới cực đại là 5 tới 15 độ C (41 tới 59 độ F.)

Bn mùa trong mt sát na.

Nng pha lê, nng chói lòa, cháy da.

 

 Nắng pha lê ròn tan ở Nam Cực nhưng dễ làm lòa mắt, bỏng da (ảnh của tác giả).

Nắng Nam Cực dễ làm lòa mắt (snow blindness), bỏng da vì mặt tuyết phản chiếu lại tất cả các tia UV của nắng chiếu xuống mặt tuyết.

Bi kim cương bay là đà,

Màn mây lp lánh như là muôn sao.

Những màn mây là đà mặt tuyết có chứa những tinh thể tuyết, đá băng lóng lánh dưới ánh nắng trông như màn bụi kim cương (cũng tương tự như những đốm tinh thể đá băng lấp lánh dưới ánh nắng trên mặt tuyết băng gọi là ‘chó nắng’ sun dog’ và  về đêm dưới ánh trăng gọi là moon dog). 

Dông gm, bão thét, gió gào.

Nam Cực là lục địa gió bão nhất. Vì là sa mạc nên gió bão khủng khiếp nghiêng trời, lệch đất, lật úp thuyền tầu, xẩy ra rất bất ngờ.

Mưa phùn sương bi, mưa rào tuyết khô.

Mưa tuyết nặng hạt bắt đầu rơi. Lưu ý mặt tác giả đã bị cháy nắng .

Bụi sương đông lạnh bay trong gió thành mưa phùn bụi sương. Tuyết “hạt to” rất khô rơi như mưa rào nặng hạt gọi là snow shower.

Cu vng đông đặc, nối b

Hai bên dòng đặc xanh lơ băng hà.

Cầu vồng có lần một đầu ở ngay lan can tầu như nối vào bờ, tưởng chứng giơ tay ra  nắm lấy được (ảnh của tác giả).

Cầu vòng trong băng giá như đông lạnh lại, xuất hiện rất lâu mới tan biến mất. Có lần cầu vồng sát thành tầu, tác giả tưởng chừng như nắm lấy được.

Băng hà có mầu xanh lơ đậm rất tinh khiết (xem hình băng hà Amalier ở trên). Nước đá, tuyết có mầu trắng vì không khí trong các tinh thể nước đá phản chiếu tất cả các làn sóng ánh sáng trắng. Trong băng hà không khí bị nén chặt lại chỉ còn một ít bọt không khí phản chiếu rất ít ánh sáng, giúp ánh nắng đi sâu vào trong băng đá. Các tinh thể đá hấp thu các ánh sáng ở phía đầu mầu đỏ sáu lần nhiều hơn ở phía đầu mầu xanh lơ của quang phổ. Vì thế chỉ còn có ánh sáng xanh lơ phản chiếu lại mắt chúng ta.

Đêm ba mươi trng nõn nà,

Muôn đom đóm tuyết ngc ngà bay bay.

Giao tha mà vn còn ngày.

Giao thừa vào lúc hoàng hôn ở Nam Cực (ảnh của tác giả).

Mt tri đêm lnh, mt mày tím thâm.

Mặt trời lặn xuống biển băng giá càng lúc mặt trông càng tím thâm

Na trăng vng vc rt rm.

 Trăng Nam Cực lúc giao thừa hình bán nguyệt đứng thẳng như bổ dọc, chia đôi rất cân đều, trông đúng là “vầng trăng ai xẻ làm đôi” . Nửa trăng càng về sáng càng vằng vặc như trăng tròn đêm rằm (ảnh của tác giả).

Ánh quang nam cc đầu năm đón chào.

Ánh quang Nam Cực gọi là Southern light (aurora australis) sinh ra bởi gió mặt trời (solar winds) tạo ra những ráng muôn mầu rực rỡ, chuyển động, nhẩy múa ngoạn mục, mê hồn.

Đêm tr tch, vng trên cao,

Ngân hà chuyn động, rì rào sóng lay.

Tinh sương, chim tuyết tung bay,

Vén màn mù đặc m ngày tân niên.

Chim tuyết trắng (ảnh của tác giả).

Tìm nhau mt đám băng quyên (penguin),

T tình, tình t trên thuyn băng trôi.

Chim băng quyên Adelie (ảnh của tác giả).

Tôi phiên âm penguinbăng quyên có một nghĩa là một thứ chim quyên phần lớn sống ở biển băng tuyết (chúng ta đã có một loài chim quyên là đỗ quyên). Hiện nay có người dịch penguin là chim cánh cụt, theo tôi không chỉnh. Cánh của penguin giờ không còn dùng như cánh nữa. Chim penguin không biết bay. Cánh giờ dùng làm hai tay chèo để bơi , vật để bơi, Anh Mỹ gọi là flipper, không gọi là wing. Nếu muốn, nên gọi là chim cánh tay chèo đúng hơn là chim cánh cụt. Tuy nhiên, tôi thích dùng từ phiên âm băng quyên hơn.

Ăn no, vác bng ra phơi,

Ng vùi hi cu mc tri, mc trăng.

 

Một con hải cẩu ngủ vùi dưới nắng hưởng đời thần tiên ở Vịnh Thiên Đường (ảnh của tác giả).

Tic xuân ti đin tuyết băng,

Lâu đài băng sơn (ảnh của tác giả).

Băng sơn thiên hình vạn trạng. Có cái trông như một cung điện, lâu đài băng.

Món gì cũng được nu bng băng sơn.

Ỡ đây, chúng tôi ăn một cỗ tết truyền thống Việt Nam thật thần tiên đầy mộng tưởng. Các món cỗ tết đều nấu bằng thực phẩm trắng mầu bạch tuyết và làm theo khuôn hình băng sơn.

Bánh chưng vuông, bánh dy tròn,

Băng sơn bánh chưng vuông, bánh dầy tròn làm bằng nếp trắng bạch tuyết (ảnh của tác giả).

Tht đông, dưa giá, mui dòn hành chua,

Băng sơn thịt đông (ảnh của tác giả).

Mt gng, mt bí, ht dưa,

Băng sơn mứt bí (ảnh của tác giả).

Ko đường, kem sa, bánh da… trng trong.

Mảng băng kẹo đường (ảnh của tác giả).

Tráng miệng bằng bánh cà rem (ice cream cake) ‘Eskimo’ (ảnh của tác giả).

đây tri đất tinh ròng,

Là nơi tiên cnh, non bng, thiên thai.

Trời biển Nam Cực tinh khiết vô cùng. Biển trong như biển gương (ảnh của tác giả).

V đây ta lt hình hài,

Vt đi lp v trn ai con người.

Tâm thanh tnh, xác thnh thơi.

Cái Ta-Tri Đất, Đất Tri-cái Ta.

                        ————————-

 

TT TRNG NAM CC

Nguyn Xuân Quang

 

Tết này rn địa cu,

Tết châu Nam Cc, trng mu tuyết pha.

Trng mung lung, trng bao la,

Trng băng sa mc, băng hà, băng sơn.

Rét t vũ tr khai ngun,

Lnh t thiên c gi còn ct da.

Bn mùa trong mt sát na.

Nng pha lê, nng chói lòa, cháy da.

Bi kim cương bay là đà,

Màn mây lp lánh như là muôn sao.

Dông gm, bão thét, gió gào.

Mưa phùn sương bi, mưa rào tuyết khô.

Cu vng đông đặc, nối bờ,

Hai bên dòng đặc xanh lơ băng hà.

 

Đêm ba mươi trng nõn nà,

Muôn đom đóm tuyết ngc ngà bay bay.

Giao tha mà vn còn ngày.

Mt tri đêm lnh, mt mày tím thâm.

Na trăng vng vc rt rm.

Ánh quang nam cc đầu năm đón chào.

 

Đêm tr tch, vng trên cao,

Ngân hà chuyn động, rì rào sóng lay.

Tinh sương, chim tuyết tung bay,

Vén màn mù đặc m ngày tân niên.

Tìm nhau mt đám băng quyên (penguin),

T tình, tình t trên thuyn băng trôi.

Ăn no, vác bng ra phơi,

Ng vùi hi cu mc tri, mc trăng.

 

Tic xuân ti đin tuyết băng,

Món gì cũng được nu bng băng sơn.

Bánh chưng vuông, bánh dy tròn,

Tht đông, dưa giá, mui dòn hành chua,

Mt gng, mt bí, ht dưa,

Ko đường, kem sa, bánh da… trng trong.

 

đây tri đất tinh ròng,

Là nơi tiên cnh, non bng, thiên thai.

V đây ta lt hình hài,

Vt đi lp v trn ai con người.

Tâm thanh tnh, xác thnh thơi.

Cái Ta-Tri Đất, Đất Tri-cái Ta.

 

                       

 

 

 

TẾT TRẮNG NAM CỰC (thơ).

Filed under: Tết Trắng Nam Cực — Quang Nguyen @ 5:47 am

TT TRNG NAM CC

Nguyn Xuân Quang

(xem minh họa bằng hình ảnh trong Hình Tiêu Biểu Tháng Hai, 2012).

Tết này rn địa cu,

Tết châu Nam Cc, trng mu tuyết pha (1).

Trng mung lung, trng bao la,

Trng băng sa mc, băng hà, băng sơn (2).

Rét t vũ tr khai ngun,

Lnh t thiên c gi còn ct da (3).

Bn mùa trong mt sát na.

Nng pha lê, nng chói lòa, cháy da (4).

Bi kim cương bay là đà,

Màn mây lp lánh như là muôn sao (5).

Dông gm, bão thét, gió gào (6).

Mưa phùn sương bi, mưa rào tuyết khô (7).

Cu vng đóng đặc, nối bờ

Hai bên dòng đặc xanh lơ băng hà (8).

Đêm ba mươi trng nõn nà,

Muôn đom đóm tuyết ngc ngà bay bay.

Giao tha mà vn còn ngày.

Mt tri đêm lnh, mt mày tím thâm.

Na trăng vng vc rt rm (9).

Ánh quang nam cc đầu năm đón chào (10).

Đêm tr tch, vng trên cao,

Ngân hà chuyn động, rì rào sóng lay..

Tinh sương, chim tuyết tung bay,

Vén màn mù đặc m ngày tân niên.

Tìm nhau mt đám băng quyên (penguin),

T tình, tình t trên thuyn băng trôi (11).

Ăn no, vác bng ra phơi,

Ng vùi hi cu mc tri, mc trăng.

Tic xuân ti đin tuyết băng (12),

Món gì cũng được nu bng băng sơn (13).

Bánh chưng vuông, bánh dy tròn,

Tht đông, dưa giá, mui dòn hành chua,

Mt gng, mt bí, ht dưa,

Ko đường, kem sa, bánh da… trng trong.

đây tri đất tinh ròng,

Là nơi tiên cnh, non bng, thiên thai.

 V đây ta lt hình hài,

Vt đi lp v trn ai con người.

Tâm thanh tnh, xác thnh thơi.

Cái Ta-Tri Đất, Đất Tri-cái Ta.

                        ————————-

                     

Chú Thích

 

1. Tới  98% lục địa nam Cực bao phủ bởi nước đá, băng tuyết.

2.- Lục địa Nam Cực được coi như một sa mạc băng tuyết. Mưa rất ít, là lục địa khô nhất.

 -Băng hà: dòng sông băng giá.

-Băng sơn: núi băng giá vỡ ra từ những bãi đá băng (ice shelf) hay từ băng hà trôi trên mặt biển. Phần nhô khỏi mặt nước chỉ bằng 1/9 của cả khối băng.

3. Nam Cực là lục địa lạnh nhất. Mùa đông trong nội địa có thể xuống tới cực tiểu là -80 tới -90 độ C (-112 tới -130 độ F).

Mùa hè  vùng duyên hải nhiệt độ có thể lên tới cực đại là 5 tới 15 độ C (41 tới 59 độ F.)

4. Nắng Nam Cực dễ làm lòa mắt,bỏng da vì mặt tuyết phản chiếu lại tất cả các tia UV rơi xuống mặt tuyết.

5. Những màn mây là đà mặt tuyết có chứa những tinh thể tuyết, đá băng lóng lánh dưới ánh nắng trông như màn mây bụi kim cương.

6. Nam Cực là lục địa gió bão nhất. Vì là sa mạc nên gió bão khủng khiếp nghiệng trời, lệch đất, lật úp thuyền tầu, xẩy ra rất bất ngờ.

7. -Bụi sương đông lạnh bay trong gió thành mưa phùn bụi sương. Tuyết “hạt to” rất khô rơi như mưa rào gọi là snow shower.

8. -Cầu vòng trong băng giá như đông lạnh lại, xuất hiện rất lâu mới tan biến mất. Có lần cầu vồng sát thành tầu tác giả tưởng chừng như nắm được trong tay.

 -Băng hà có mầu xanh lơ đậm rất tinh khiết. Nước đá, tuyết có mầu trắng vì không khí trong các tinh thể nước đá phản chiếu tất cả các làn sóng ánh sáng trắng. Trong bằng hà không khí bị nén chặt lại chỉ còn một ít bọt không khí phản chiếu rất ít ánh sáng, giúp ánh nắng đi sâu vào trong băng đá. Các tinh thể đá hấp thu các ánh sáng ở  phía đầu mầu đỏ sáu lần nhiều hơn ở phía đầu mầu xanh lơ của quang phổ. Vì thế chỉ còn có ánh sáng xanh lơ phản chiều lại mắt chúng ta.

9. Trăng Nam Cực lúc giao thừa hình bán nguyệt đứng thằng như bổ dọc, xẻ làm đôi rất cân đúng như ‘vầng trăng ai xẻ làm đôi’, càng về sáng càng vằng vằng vặc như trăng tròn đêm rằm.

10. Ánh quang Nam Cực gọi là Southern light (aurora australis) sinh ra bởi gió mặt trời (solar winds) tạo ra những ráng muôn mầu rực rỡ, chuyển động, nhẩy múa ngoạn mục, mê hồn. Màn trình diễn ánh sáng Nam Cực của trời đất ở đây còn huy hoàng gấp ngàn lần pháo hoa đầu năm.

11. Tôi phiên âm penguin là băng quyên có một nghĩa là chim quyên băng tuyết (chúng ta đã có một loài chim quyên là đỗ quyên). Hiện nay có người dịch penguin là chim cánh cụt, theo tôi không chỉnh. Cánh của penguin giờ không còn dùng như cánh nữa. Chim penguin không biết bay. Cánh giờ dùng làm hai tay chèo để bơi, vật để bơi, Anh Mỹ gọi là flipper, không gọi là wing. Nếu muốn, theo tôi nên gọi là chim cánh tay chèo đúng hơn là chim cánh cụt. Tuy nhiên tôi thích dùng từ phiên âm là băng quyên hơn.

12. Băng sơn thiên hình vạn trạng. Có cái trông như một cung điện, lâu đài băng.

13. Ở đây chúng tôi ăn cỗ tết truyền thống Việt Nam rất thần tiên đầy mộng tưởng. Các món cỗ tết đầu nấu bằng thực phẩm trắng mầu bạch tuyết và đúc khuôn hình băng sơn.

 

Older Posts »

Theme: Silver is the New Black. Blog at WordPress.com.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.